Thư viện

Học và làm theo Bác trong công tác tuyên truyền

Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1959 (ảnh Bảo tàng Lịch sử Việt Nam)

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tuyên truyền cách mạng là một hoạt động thống nhất trên ba mặt: Thứ nhất là nhận thức về mục đích và vai trò của tuyên truyền. Thứ hai là phương pháp tuyên truyền. Thứ ba là yêu cầu đối với người làm công tác tuyên truyền. Cả ba mặt luôn luôn thống nhất với nhau, liên hệ tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó nhận thức về mục đích đóng vai trò chủ đạo, chi phối trực tiếp đến mọi phương pháp hoạt động tuyên truyền. Quá trình từ nhận thức đến phương pháp tuyên truyền đều thông qua con người cụ thể. Do đó, người tuyên truyền đóng vai trò có ý nghĩa quyết định.

Trong suốt hành trình từ “người đi tìm đường” trở thành “người dẫn đường” cho cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã dành nhiều công sức, trí tuệ và sự quan tâm đến công tác tuyên truyền cách mạng. Người xem đó là công cụ quan trọng để tạo ra lực lượng mới hùng mạnh cho cách mạng.

Về mục đích tuyên truyền, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh đó là “đem một việc gì đó nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó là tuyên truyền thất bại” và mục đích của tuyên truyền là giải thích lập luận, chứng minh để “dân hiểu, dân nhớ, dân tin, dân làm theo”.

Về đối tượng tuyên truyền, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trước hết, người tuyên truyền phải nắm vững đối tượng được tuyên truyền. Nếu “người tuyên truyền không điều tra, không phân tích, không nghiên cứu, không hiểu biết quần chúng, chỉ gặp sao nói vậy, bạ gì viết nấy, nhất định thất bại”. Người cũng lưu ý rằng, “Dân chúng không nhất luận như nhau, trong dân chúng cũng có nhiều tầng lớp khác nhau, ý kiến khác nhau, có lớp tiên tiến, có lớp lưng chừng, có lớp lạc hậu”. Đối với mỗi tầng lớp đối tượng, Người yêu cầu phải có phương thức tuyên truyền thích hợp và phải chú trọng ưu tiên cho lớp đối tượng có trình độ nhận thức, trình độ văn hóa thấp. Vì đối tượng này hiểu được thì các đối tượng khác cũng nắm bắt dễ dàng.

Về công tác chuẩn bị nội dung tuyên truyền. Người tuyên truyền phải chuẩn bị nội dung tuyên truyền thật chu đáo. Bởi theo Người, làm được như vậy sẽ tránh được lối nói ba hoa, rỗng tuếch, cẩu thả, lặp lại, nhàm chán. Người từng cảnh báo: “Trước khi nói không sắp sửa kỹ càng. Lúc ra nói hoặc lắp lại những cái người trước đã nói. Hoặc lắp đi lắp lại những cái mình đã nói rồi. Lúng túng như gà mắc tóc. Thôi đi thì trẽn, nói nữa thì chán tai”. Người căn dặn: “Khi viết xong một bài báo, một bản báo cáo hoặc thảo một bài diễn văn nhất định phải đọc lại vài lần. Mình tự phê bình bài viết của mình, hỏi ý kiến đồng chí khác. Những câu những chữ thừa vô ích bỏ đi. Rửa mặt phải kỳ sát ba lần mới sạch, viết văn diễn thuyết cũng phải như vậy”. Để nội dung bài nói, bài viết có chất lượng, Bác yêu cầu người tuyên truyền phải chịu khó “nghe”, “thấy”, “xem” và “ghi chép”. Khi chuẩn bị nội dung phải suy nghĩ cho chín, sắp đặt cho cẩn thận, và nên nhờ chính những người thuộc đối tượng được tuyên truyền xem và cho ý kiến. Người yêu cầu cụ thể: “Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng; Phải luôn dùng những lời lẽ, những thí dụ đơn giản, thiết thực và dễ hiểu; Phải tự hỏi nói cho ai nghe, viết cho ai xem; Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết; Trước khi nói phải sắp đặt cho cẩn thận, phải suy nghĩ cho chín chắn. Sau khi viết rồi phải xem đi xem lại ba bốn lần. Nếu là một tài liệu quan trọng phải xem đi xem lại chín mười lần”.

Đối với người làm công tác tuyên truyền, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải có cách tuyên truyền phù hợp với đối tượng, với hoàn cảnh, cách nói, cách viết phải ngắn gọn, bởi lẽ “người lính đánh giặc, người dân đi làm không cho phép xem lâu”, cho nên “viết ngắn từng nào tốt chừng ấy”. Tuy vậy, “ngắn gọn nhưng không phải là cụt đầu, cụt đuôi, mà phải có đầu có đuôi” và “không nhất thiết cái gì cũng phải ngắn mới tốt”. Phù hợp với đối tượng là phải gắn liền với những đối tượng cụ thể. Tuyên truyền cho đồng bào miền núi phải khác với đồng bào miền xuôi; tuyên truyền cho đồng bào các tôn giáo phải khác với đồng bào không theo tôn giáo. Với các đối tượng phải tìm cho ra các đặc thù. Ví như, với đồng bào miền núi thì phải nói ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo. Nội dung tuyên truyền phải cụ thể, thiết thực “Một là gì, hai là gì, rồi ba, bốn, năm là gì? Làm như thế nào” và “… không nên nói trên trời dưới đất, nào là khách quan, chủ quan, nào là tích cực và tiêu cực, không đâu vào đâu cả”. Đồng thời phải nắm, phải thu phục cho được các già làng, trưởng bản. Nếu đạt kết quả thì tiếng nói của người tuyên truyền có sức nặng hơn, việc tuyên truyền vận động sẽ có kết quả hơn.

Người tuyên truyền phải học cách tuyên truyền của quần chúng. Đó là sự kết hợp của việc học trong sách vở, học trong thực tiễn công tác. Xuất phát từ quan điểm “Dân là gốc của tuyên truyền”, Người cho rằng, cách tuyên truyền phù hợp và có hiệu quả nhất với dân chính là cách tuyên truyền của chính nhân dân. Bằng cách đó, dân dễ hiểu, dễ nhớ nên sẽ tin và sẽ làm theo. Người từng cho rằng : “Cách nói của dân chúng rất đầy đủ, rất hoạt bát, rất thiết thực mà lại rất đơn giản. Anh em đi tuyên truyền chưa học được cách nói đó, cho nên khi nói, khi viết khô khan, cứng nhắc, không hoạt bát, không thiết thực”. Người cũng đã từng phê phán những cán bộ “không chịu học hỏi quần chúng, cứ đóng cửa lại mà làm, ngồi ỳ trong phòng giấy mà viết, cứ tưởng cái gì mình làm cũng là đúng, mình viết cũng là hay”. Riêng với những cán bộ được cử lên công tác ở miền núi, Người cũng căn dặn là cần phải học cả tiếng nói của dân tộc để tuyên truyền với đồng bào dân tộc đó. Như thế sẽ gây được mối thiện cảm bền lâu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, muốn nâng cao hiệu quả tuyên truyền thì người tuyên truyền phải là người hiểu biết rộng, đặc biệt là nhận thức sâu việc mình tuyên truyền. Không những có đủ kiến thức lý luận mà phải có vốn sống phong phú; không những giỏi về nghiệp vụ chuyên môn mà còn phải có trình độ văn hóa cao. Người tuyên truyền giỏi phải là người biết tổ chức quần chúng, người thức tỉnh và tập hợp quần chúng. Một yêu cầu không kém phần quan trọng là người tuyên truyền phải có vốn sống về thơ ca, nhạc họa thì tác dụng và hiệu quả tuyên truyền sẽ là rất lớn. Điều Bác hằng quan tâm trăn trở là đạo đức của người tuyên truyền. Nếu thiếu điều này, thì sẽ mất đi sự đồng tình, ủng hộ của quần chúng. Vì vậy mà không những không đạt được mục đích tuyên truyền mà còn ngược lại. Yêu cầu của Bác về đạo đức của người cán bộ tuyên truyền cũng rất cụ thể: Một là phải lễ độ. Lễ độ ở đây không phải là “gọi dạ bảo vâng”, mà theo Bác thì: Nếu một cán bộ tuyên truyền vào làng bản có cả người già, phụ nữ, trẻ em mà cất tiếng lên là “Các đồng chí” …điều đó tuy không vô phép nhưng không hợp với hoàn cảnh nên chướng tai, các cụ già sẽ không bằng lòng. Hai là, người cán bộ phải biết hòa mình với quần chúng, sống như họ đang sống, nói cái họ chưa hiểu, chịu khó, chịu khổ, khéo ở, siêng làm. Ba là, phải luôn nêu cao ý thức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Và cuối cùng là phải có tác phong quần chúng. Mà theo Người thì, “thấy dân làm việc gì, bất kỳ to nhỏ, ta cũng ra tay làm giúp”, “thái độ phải mềm mỏng, đối với các cụ già phải cung kính, với anh em phải khiêm tốn, với nhi đồng phải thân yêu, với mọi người phải thành khẩn”.

Học và làm theo những lời Người dạy nhất định những người làm công tác tuyên truyền ngày nay sẽ hoàn thành một cách xuất sắc và có hiệu quả nhiệm vụ đầy vẻ vang mà Đảng giao phó./.

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Thông điệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục, vẹn nguyên giá trị thời đại

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt coi trọng đến sự nghiệp trồng người của nước nhà, ảnh TL

Nghiên cứu di sản Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay cần phải đặt trong xu thế của thời đại. Từ lúc ra đi tìm đường cứu nước cho đến tận cuối đời, Hồ Chí Minh luôn trả lời được những câu hỏi của dân tộc và đáp ứng yêu cầu của thời đại, nên di sản của Người vẫn giữ nguyên giá trị thời đại. Thông điệp của Người về giáo dục là một ví dụ điển hình.

Không phải ngẫu nhiên mà ngày 5-6-1911 Hồ Chí Minh lại quyết định đi sang nước Pháp, tới các nước phương Tây mà lại không đi theo cách nghĩ và cách làm của các bậc cha chú như Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Hoàng Hoa Thám. Trước khi ra nước ngoài, Hồ Chí Minh đã có những tư duy mới mẻ, độc lập, tự chủ, sáng tạo. Người không chấp nhận suy nghĩ cho rằng chỉ bằng nhiệt huyết yêu nước, lòng căm thù bọn xâm lược và khát vọng độc lập, tự do là có thể đánh bại quân xâm lược. Tư duy của Người cũng hoàn toàn xa lạ với kiểu “đồng văn, đồng chủng”. Suy nghĩ và hành động của Người với ý chí dù chỉ một mình cũng quyết tâm sang Pháp, nơi có khoa học – kỹ thuật phát triển, nơi tôi luyện những khái niệm về cách mạng, tiến bộ, dân chủ, tự do, bình đẳng, bác ái… cho thấy ngay từ lúc đó Hồ Chí Minh đã muốn hiểu biết, khám phá thế giới theo tinh thần “muốn đánh Pháp phải hiểu nước Pháp, muốn hiểu Pháp phải học chữ Pháp”, phải có trí tuệ để nghiên cứu, tìm hiểu đối tượng.

Thông điệp của Người là muốn đánh kẻ thù thì phải hiểu kẻ thù. Chính vì vậy khi được cha cho học trường Pháp – bản xứ ở Vinh, rồi trường Tiểu học Đông Ba, trường Quốc học Huế, Người rất tích cực học tập. Những ngày trước khi ra nước ngoài, Hồ Chí Minh đã có ý định xin vào học trường Kỹ nghệ thực hành ở Sài Gòn. Người quyết định sang Pháp không phải để chống lại nước Pháp mà để tìm hiểu, nghiên cứu văn hóa, văn minh Pháp, lấy cái đó làm “vũ khí” trí tuệ để chống lại bọn thực dân xâm lược trên đất nước mình.

Những tháng năm hoạt động ở nước ngoài, Người tiếp tục thực hiện ý định về việc khám phá, học tập, tiếp thu trí tuệ của thời đại. Người đã có đơn gửi Tổng thống nước Pháp từ Mác-xây, đề ngày 15-9-1911 xin vào học trường Thuộc địa (với lá đơn này, các thế lực thù địch đã có hành động xuyên tạc xấu xa mục đích tìm đường cứu nước chân chính của Nguyễn Tất Thành và đã bị các nhà sử học chân chính của nước Pháp và nhiều nhà nghiên cứu bóc trần).

Cùng với hoạt động thực tiễn, Hồ Chí Minh tích cực nghiên cứu lý luận, tiếp thu có chọn lọc văn minh Âu, Mỹ. Bằng sự trải nghiệm của bản thân, Hồ Chí Minh thấy rằng muốn làm cách mạng thành công phải “trồng người”, huấn luyện, đào tạo cán bộ. Từ những năm hai mươi, phát hiện ra sự hạn chế về tư duy lý luận của những người yêu nước Việt Nam, Hồ Chí Minh đã chú trọng công tác đào tạo cán bộ, rồi gửi những học viên ưu tú tiếp tục được đào tạo ở nước ngoài tại trường quân sự Hoàng Phố (Quảng Châu, Trung Quốc) và trường Đại học phương Đông (Mát-xcơ-va, Liên Xô).

Khi Đảng ra đời, Hồ Chí Minh cùng Đảng lãnh đạo dân tộc đấu tranh giành chính quyền về tay nhân dân. Trong thời gian ngắn trên đường về nước, được tin hơn 40 thanh niên các dân tộc Cao Bằng, vì bị đế quốc Pháp khủng bố đã vượt biên giới sang Quảng Tây (Trung Quốc), Hồ Chí Minh nghĩ ngay tới việc tổ chức một lớp huấn luyện cho anh em, sau đó đưa họ trở về củng cố và mở rộng phong trào ở Cao Bằng. Lớp học đã được tổ chức tại làng Nậm Quang (Tĩnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc). Các tài liệu huấn luyện được tổ chức biên soạn thành cuốn sách nhan đề: Con đường giải phóng. Thông điệp và việc làm của Hồ Chí Minh về đào tạo, huấn luyện cán bộ cho cách mạng có ý nghĩa to lớn cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh – con người đã từng là thầy giáo và có ba mươi năm lăn lộn ở ngoài nước, hiểu rõ ý nghĩa sâu xa và vai trò to lớn của tri thức – đã xác định sự nghiệp bảo vệ nền độc lập dân tộc và kháng chiến là cuộc đấu tranh chống lại ba kẻ thù: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Thông điệp của Người ngay trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ (3-9-1945) là: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Và Người đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ. Hàng loạt sắc lệnh liên quan tới giáo dục được Hồ Chí Minh ký như Sắc lệnh về việc thành lập Nha bình dân học vụ (6-9-1945); Sắc lệnh về việc thiết lập một Quỹ Tự trị cho trường Đại học Việt Nam (10-10-1945); Sắc lệnh về việc thành lập Hội đồng Cố vấn học chính (10-10-1945); Sắc lệnh về việc thiết lập một ban đại học Văn khoa tại Hà Nội (10-10-1945)…

Sau cuộc Tổng Tuyển cử bầu Quốc hội, cùng với việc ra đời của nhiều bộ, Bộ Giáo dục cũng được thành lập… Để thực hiện nhiệm vụ của Nha Bình dân học vụ là cấp tốc xóa nạn mù chữ trong nhân dân, ngày 4-10-1945, Hồ Chí Minh đã có lời hiệu triệu “Chống nạn thất học”. Người nhấn mạnh: “Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này là nâng cao dân trí”. Người kêu gọi:“Muốn giữ vững nền độc lập, Muốn làm cho dân mạnh, nước giàu, mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”.

Điều thú vị là Hồ Chí Minh cho rằng xóa bỏ nạn mù chữ là tạo nên một phong trào giáo dục đại chúng. Người chỉ ra rằng học đọc và học viết có thể được tiến hành bất cứ ở đâu, dùng than, mặt đất hoặc lá chuối làm bút và giấy. Ai cũng có thể học được. Đặc biệt sự chú trọng của Người đối với tình trạng bất bình đẳng về điều kiện sống và về thế giới cho đến nay vẫn mang tính toàn cầu và đúng với mọi lứa tuổi. Chúng ta có thể thấy tinh thần của thông điệp đó được phản ánh đầy đủ trong báo cáo mới đây về phổ cập giáo dục cho tất cả mọi người mang tên “Tiếp cận những người bị gạt sang bên lề xã hội”.

Năm 1955, kỷ niệm 10 năm Bình dân học vụ, Hồ Chí Minh đưa ra một thông điệp: Dốt thì dại, dại thì hèn. Vì không chịu dại, chịu hèn, cho nên thanh toán nạn mù chữ là một trong những nhiệm vụ cấp bách và quan trọng của nhân dân các nước dân chủ mới. Trong giai đoạn nhân dân miền Bắc bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, khi bàn về nhiệm vụ giáo dục, Hồ Chí Minh nhấn mạnh phương châm giáo dục “học đi đôi với hành”, nội dung giáo dục ở từng cấp học tiểu học, trung học, đại học phải góp phần giải quyết nhiệm vụ của từng giai đoạn lịch sử, phù hợp với lứa tuổi.

Đó phải là một nội dung toàn diện về văn hóa, đạo đức, ngoại ngữ, giáo dục thể chất, chuyên môn. Đại học phải đi sâu nghiên cứu lý luận, góp phần giải quyết được những vấn đề lớn của cách mạng Việt Nam. Về phương pháp giáo dục, Hồ Chí Minh chú trọng tự học, học suốt đời, học từ thực tiễn, học nhân dân, học bạn, học thầy, càng tiến bộ càng phải học.

Giáo dục theo quan điểm Hồ Chí Minh không chỉ nhằm nâng cao dân trí, giữ nền độc lập, xây dựng đất nước mà còn là một yếu tố cần thiết cho việc xóa nghèo, giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em, kiềm chế sự phát triển dân số, đạt được sự bình đẳng giới và bảo đảm phát triển bền vững, hòa bình và dân chủ. Trong Di chúc, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: kế hoạch xây dựng lại đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế. Phát triển công tác vệ sinh, y tế. Sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân, như phát triển các trường “nửa ngày học tập nửa ngày lao động”.

Theo bà Ka-thơ-rin Mu-lơ Ma-rin, Trưởng Đại diện Văn phòng UNESCO tại Hà Nội, từ khi được thành lập vào năm 1946, UNESCO đã đi đầu trong nỗ lực xóa bỏ nạn mù chữ trên toàn cầu với những chương trình như giáo dục cho mọi người. Điều này đã được Hồ Chí Minh nêu lên từ năm 1945 khi Người trở thành Chủ tịch Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bốn trụ cột của giáo dục đã có trong di sản Hồ Chí Minh là: Học để biết, ngụ ý cung cấp những công cụ nhận thức cần có để hiểu biết thế giới và những điều phức tạp của nó một cách tốt hơn, và để có nền tảng đủ và phù hợp để học tập trong tương lai. Học để làm, có nghĩa là cung cấp các kỹ năng giúp các cá nhân tham gia một cách có hiệu quả vào nền kinh tế và xã hội toàn cầu. Học để làm người, có nghĩa là cung cấp những khả năng tự phân tích và kỹ năng xã hội để giúp các cá nhân phát huy đầy đủ nhất tiềm năng của mình về mặt tâm lý – xã hội, về tình cảm cũng như thể chất, để trở thành một “con người toàn diện” về mọi mặt. Học để chung sống, ngụ ý là hướng các cá nhân vào những giá trị tiềm ẩn trong các nguyên tắc dân chủ, sự hiểu biết giữa các nền văn hóa, tôn trọng và hòa bình ở mọi cấp bậc xã hội và quan hệ giữa người với người nhằm giúp cho các cá nhân và các xã hội cùng sống trong hòa bình và hòa thuận.

Xu hướng của thế giới toàn cầu hóa hiện nay là học suốt đời, là giáo dục đại chúng, giáo dục cho mọi người. Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã thấy được trở lực trên con đường phát triển nhanh, bền vững là nghẽn về giáo dục. Đảng ta xác định: Yêu cầu cấp bách trong thời kỳ chiến lược tới là tái cấu trúc nền kinh tế, trong đó một nội dung quan trọng là chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu theo bề rộng, dựa vào sự gia tăng vốn đầu tư và nguồn chất lượng thấp hiện nay sang kết hợp hợp lý giữa tăng trưởng theo bề rộng với tăng trưởng theo chiều sâu trên cơ sở áp dụng các tiến bộ về khoa học công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và kỹ năng quản lý hiện đại.

Từ buổi khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (9-1945), Hồ Chí Minh đã nói: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Quan điểm của Hồ Chí Minh cách đây hơn 65 năm đã nói trước được điều mà ngày nay thế giới đang rất quan tâm, đó là nguồn nhân lực chất lượng cao. Và Việt Nam đang trở lại với tư tưởng của Người khi Đảng ta khẳng định cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục là quốc sách hàng đầu.

Nhận thức được vai trò của giáo dục với ý nghĩa “quốc sách hàng đầu” là điều có ý nghĩa rất quan trọng, nhưng biến nó thành hiện thực mới là điều có ý nghĩa quyết định nhất./.

Theo PGS.TS Bùi Đình Phong
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Thực hiện lời dặn của Bác Hồ về con người và chính sách xã hội đối với con người

Bác Hồ với học sinh trường trung học Trưng Vương (Hà Nội) nǎm1956

(TCTG)- Chăm lo cho con người, để con người được giải phóng hoàn toàn là hạt nhân, đồng thời cũng là mục tiêu cuối cùng, sâu thẳm nhất trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh nói riêng. Vì vậy, một trong những lời dặn lại đầy tâm huyết của Chủ tịch Hồ Chí Minh là vấn đề con người và chính sách đối với con người.

Lời dặn “đầu tiên là công việc đối với con người”

Trong suốt cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi quyết sách, mỗi việc Người làm đều toát lên tình thương yêu vô hạn, sự tôn trọng, thái độ bao dung và lòng tin yêu con người.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người vừa tồn tại với tư cách cá nhân, vừa là thành viên của gia đình và của cộng đồng, nên định nghĩa về con người của Hồ Chí Minh thật đặc biệt: “Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người”(1). Suốt hành trình đi khắp năm châu, bốn biển, ôm ấp một hoài bão lớn lao về giải phóng dân tộc mình, góp phần giải phóng loài người, Người đã khởi đầu từ cái cụ thể tưởng như nhỏ nhất, để rồi tạo dựng một công trình vĩ đại mang ý nghĩa thời đại, ý nghĩa lịch sử. Đó là đặt niềm tin vào con người, vào nhân dân và dân tộc mình, nâng niu trân trọng từng cá nhân con người; không quản ngại khó khăn, nhẫn nại thức tỉnh, giác ngộ, dìu dắt đồng bào, tiếp đó là giúp đỡ họ, đào tạo họ, cổ vũ và động viên họ trực tiếp tham gia sự nghiệp cách mạng, “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” để đấu tranh giải phóng dân tộc và giải phóng chính bản thân mình.

Người luôn thấu hiểu sâu sắc rằng, giải phóng con người, đem lại lợi ích cho con người chính là tạo ra động lực vô cùng lớn lao cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trong quan niệm của Hồ Chí Minh: Con người cụ thể là những người dân Việt Nam lao động nghèo khổ bị áp bức cùng cực dưới ách thống trị của phong kiến, đế quốc; là dân tộc Việt Nam đang đắm chìm trong đêm trường nô lệ và mở rộng hơn là những người nô lệ mất nước – “người cùng khổ”. Đồng thời, Người cũng nhấn mạnh rằng quyền cơ bản nhất của mỗi con người là quyền được sống, được sung sướng, được tự do, mà trước hết hết là cần có ăn, có mặc, có nhà ở, được chữa bệnh và được học hành. Những nhu cầu tối thiểu cũng là những quyền tối thiểu đối với con người ấy luôn luôn được đặt ra như một mục tiêu phấn đấu của bất cứ xã hội nào muốn đem lại hạnh phúc thật sự cho con người.

Không chỉ tìm đường, chỉ lối và lãnh đạo họ tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh còn luôn quan tâm đến nhu cầu, lợi ích của con người với những nhu cầu chính đáng ở mọi nơi, mọi lúc, trong mọi hoàn cảnh. Ngay sau ngày tuyên bố Việt Nam độc lập, chính vị Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Chúng ta phải làm ngay: 1. Làm cho dân có ăn. 2. Làm cho dân có mặc. 3. Làm cho dân có chỗ ở. 4. Làm cho dân có học hành”(2). Mục tiêu đó tiếp tục được xác định ngay cả trong hoàn cảnh cả nước tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp: “Chương trình nội chính của Chính phủ và của quân dân ta chỉ có 3 điều mà thôi: a) Tăng gia sản xuất để làm cho dân ai cũng đủ mặc đủ ăn. b) Mở mang giáo dục để ai nấy cũng đều biết đọc, biết viết. c) Thực hành dân chủ để làm cho dân ta ai cùng được hưởng quyền dân chủ tự do”(3).

Giá trị của tự do, độc lập, định hướng của nhà nước dân chủ nhân dân do Hồ Chí Minh sáng lập và dày công xây dựng là tiến tới để thực hiện thắng lợi các mục tiêu đó. Bởi theo lời Người, nếu nước được tự do, độc lập mà người dân không được hưởng hạnh phúc, hưởng những quyền cơ bản của con người, thì độc lập, tự do cũng chẳng có nghĩa lý gì. Trên tinh thần đó, Hồ Chí Minh luôn đề cao những quyền cơ bản của con người, nhưng Người không dừng ở việc đề cao quyền cá nhân cực đoan theo quan điểm tư sản, mà chỉ rõ quyền cá nhân chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở thực hiện quyền của dân tộc.

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp tục tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng, cả dân tộc Việt Nam đồng hành trong 21 năm trường kỳ chống đế quốc Mỹ xâm lược. Cũng trong hành trình gian khó ấy, Hồ Chí Minh có một niềm tin lớn lao ở sức mạnh sáng tạo của quần chúng nhân dân, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng, nên đã kêu gọi, cổ vũ đồng bào và chiến sĩ cả nước cùng đồng thời vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam. Vẫn luôn đau đáu niềm suy tư vì con người, trước khi trở về với cõi vĩnh hằng, Hồ Chí Minh dặn lại trong Di chúc: “Ngay sau khi cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi, công việc toàn Đảng toàn quân và toàn dân ta phải ra sức làm là mau chóng hàn gắn vết thương nghiêm trọng do đế quốc Mỹ gây ra trong cuộc chiến tranh xâm lược dã man”, đồng thời “phải có kế hoạch để xây dựng lại thành phố và làng mạc đẹp đẽ, đàng hoàng hơn trước chiến tranh. Khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế. Phát triển công tác vệ sinh, y tế. Sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân… Công việc trên đây là rất to lớn, nặng nề, và phức tạp, mà cũng rất vẻ vang. Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”(4).

Còn “đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong …), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cách sinh”.

Đối với các liệt sỹ, mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta.

Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sỹ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ bị đói rét”(5).

Tiếp tục thực hiện lời dặn của Hồ Chí Minh về chăm lo cho con người

Khẳng định sự nghiệp cách mạng mà chúng ta đang tiến hành sau chiến tranh là xóa bỏ cái cũ để xây dựng cái mới, cải tạo xã hội cũ để xây dựng một xã hội mới, Hồ Chí Minh chỉ rõ công việc phải làm đầu tiên là “đối với con người”. Công việc to tát, lớn lao ấy xuất phát từ lòng dân, phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân, vì nhân dân và hợp với thời đại, bởi không chỉ quan tâm và chăm lo đến những cán bộ, binh sĩ, dân quân du kích, thanh niên xung phong, các gia đình liệt sĩ, cha mẹ vợ con của thương binh, liệt sĩ… mà còn quan tâm cả đến những nạn nhân của chế độ xã hội cũ, như trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu…

Thực hiện lời căn dặn của Người, Đảng, nhà nước đã từng bước đề ra các chính sách xã hội chăm lo cho con người, nhất là các đối tượng chính sách có một cuộc sống ngày càng được nâng cao về cả vật chất và tinh thần. Trong những năm qua, các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể đã thực hiện tốt Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng. Các ngành, các cấp đã thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội, trợ cấp xã hội, cứu tế xã hội để trợ giúp những người yếu thế và dễ bị tổn thương như người tàn tật, người già cô đơn, trẻ em mồ côi lang thang cơ nhỡ, giúp đỡ những người bị thiệt hại nặng do thiên tai, địch họa hoặc rủi ro trong cuộc sống… Thông qua các hình thức, các chương trình, cả nước đã phát huy truyền thống tương thân, tương ái trong cộng đồng, đoàn kết để giúp nhau vượt qua khó khăn, xóa đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống.

Công tác thương binh, liệt sỹ, thực hiện chính sách hậu phương quân đội cũng đã được triển khai toàn diện, thực hiện đồng bộ và đạt hiệu quả thiết thực. Một số lượng lớn các văn bản pháp luật quy định về chế độ, chính sách đối với công tác thương binh, liệt sỹ, chính sách hậu phương quân đội và người có công với cách mạng, với gia đình hạ sĩ quan, binh sĩ tại ngũ và các lực lượng làm nhiệm vụ trên những địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo,v.v… đã được triển khai và thực hiện có hiệu quả.

Công tác tìm kiếm, cất bốc, quy tập hài cốt liệt sĩ được thực hiện khẩn trương và có kết quả cao. Các đơn vị quân đội đã tìm kiếm, cất bốc, quy tập được trên 910.000 hài cốt liệt sỹ về an táng trong gần 3.000 Nghĩa trang liệt sỹ, bảo đảm đúng nghi thức quân đội; trong đó, nhiều hài cốt đã xác minh được tên, tuổi… Những việc làm đầy tình nghĩa đó đã góp phần giữ ổn định, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sỹ và các đối tượng chính sách. Một mặt, tạo động lực quan trọng để xây dựng quân đội vững mạnh trong tình hình mới, mặt khác góp phần ổn định chính trị – xã hội, củng cố quốc phòng – an ninh.

Đặc biệt, với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, cả nước đã có nhiều việc làm phong phú, thiết thực, để chăm sóc thương binh, gia đình liệt sỹ. Cuộc vận động toàn dân ủng hộ xây dựng quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” được khơi dậy và ngày càng phát triển mạnh. Nhiều phong trào được xã hội hoá, nổi bật nhất là phong trào phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, người có công với cách mạng, làm mới và sửa chữa nhà tình nghĩa, tu sửa nghĩa trang liệt sỹ, tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa, thăm hỏi, tặng quà các gia đình có công với cách mạng…

Con người và chính sách xã hội với con người trong Nghị quyết Đại hội XI

Thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc, Đảng ta luôn chăm lo cho con người, coi con người là trung tâm, là động lực của sự phát triển, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Chính sách xã hội đúng đắn, công bằng vì con người là động lực mạnh mẽ phát huy mọi năng lực sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp chặt chẽ, hợp lý phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách; phát triển hài hoà đời sống vật chất và đời sống tinh thần, không ngừng nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội về ăn, ở, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng cao thể chất, gắn nghĩa vụ với quyền lợi, cống hiến với hưởng thụ, lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và cộng đồng xã hội. Tạo môi trường và điều kiện để mọi người lao động có việc làm và thu nhập tốt hơn”(6). Đồng thời Cương lĩnh cũng nhấn mạnh: “Nhà nước tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người. Quyền và nghĩa vụ công dân do Hiến pháp và pháp luật quy định. Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ công dân”(7).

Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020 cũng khẳng định việc mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người; coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển; “phải bảo đảm quyền con người, quyền công dân và các điều kiện để mọi người được phát triển toàn diện”(8). Trong chính sách xã hội đối với con người, Đảng ta đã đề ra mục tiêu: “Đến năm 2020, chỉ số phát triển con người (HDI) đạt nhóm trung bình cao của thế giới, tốc độ tăng dân số ổn định ở mức khoảng 1%, tuổi thọ đạt bình quân 75 tuổi, đạt 9 bác sỹ và 26 giường bệnh trên một vạn dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, lao động qua đào tạo đạt trên 70%, đào tạo nghề chiếm 55% tổng lao động xã hội”, “Tỉ lệ hộ nghèo giảm bình quân 1,5-2%/năm; phúc lợi xã hội, an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe cộng đồng được bảo đảm. Thu nhập thực tế của dân cư gấp khoảng 3,5 lần so với năm 2010; thu hẹp khoảng cách thu nhập giữa các vùng và nhóm dân cư. Xoá nhà ở đơn sơ, tỉ lệ nhà ở kiên cố đạt 70%, bình quân 25 m2 sàn xây dựng nhà ở tính trên một người dân”(9); “thực hiện tốt chính sách khám, chữa bệnh cho các đối tượng chính sách, người nghèo, trẻ em và người dân tộc thiểu số, chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi”(10) và “có chính sách để phát triển mạnh nhà ở cho nhân dân, nhất là cho các đối tượng chính sách và người có thu nhập thấp”(11).

Làm được như vậy, sẽ không chỉ làm thỏa lòng mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà còn góp phần tạo sự đồng thuận trong xã hội, tiến tới xây dựng thành công một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững vàng hội nhập quốc tế/.

Theo tuyengiao.vn
Đỗ Hoàng Linh – Phó Giám đốc Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Nhớ lời Bác dặn: “Học lấy cái bằng làm người”

Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang tích cực triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Trang tin điện tử Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trân trọng đăng bài viết dưới đây của Thiếu tướng Tiến sĩ Đặng Nam Điền, Bí thư Đảng uỷ, Chính uỷ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác giáo dục, đào tạo, Người đã khẳng định mọi công việc từ to đến nhỏ có thành công hay không yếu tố con người vẫn là quyết định. Trong cuốn Sổ vàng truyền thống Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương tại Chiến khu Việt Bắc năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Học để làm người, làm việc, làm cán bộ”. Khi Bác đến thăm thầy và trò Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Người đã chỉ rõ: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần phải có những con người xã hội chủ nghĩa”. Trước lúc đi xa, trong Di chúc để lại, điều đầu tiên, Người vẫn giành tình cảm thương yêu cho đồng bào, đồng chí, cho các cháu thiếu niên và nhi đồng yêu quý….Phải chăng đây chính là cái gốc của đạo đức mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã suốt đời hy sinh cống hiến, trở thành tấm gương mẫu mực cho các thế hệ người Việt Nam học tập và noi theo.

Mỗi người chúng ta đều thấy rõ ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, lời nói luôn đi đôi với việc làm. Theo thống kê của Bảo tàng Hồ Chí Minh, trong 15 năm từ 1955 đến 1969, trên cương vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Người đã có hơn 700 lần đi cơ sở. Người đến các địa phương, các công trường, nhà máy, xí nghiệp, các đơn vị bộ đội, công an, trường học và các cơ quan…

Hình ảnh một vị Chủ tịch nước tuy tuổi đã cao nhưng vẫn sắn quần lội ruộng cùng nông dân, đến bên bờ ruộng thăm hỏi nhân dân thu hoạch, trao đổi về mùa vụ với người ngư dân ngay tại bãi biển, kiểm tra tình hình sản xuất trong xưởng máy, động viên bộ đội tại trận địa, đến thăm học sinh, sinh viên tại giảng đường… lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của từng người dân bình thường nhất, động viên kịp thời từng gương tốt, phê bình góp ý cho cán bộ, lãnh đạo ngay tại địa bàn… đấy không phải chỉ là tác phong sâu sát mà còn là thái độ “yêu dân, kính dân”, “gắn bó máu thịt với nhân dân”.

Hàng năm Tết đến, Xuân về chúng ta ai ai cũng háo hức chờ nghe thơ chúc Tết của Người, nhưng với Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ có làm thơ Tết mà còn lo có Tết cho mọi nhà, vì vậy mà trước giao thừa năm nào Người cũng có những chuyến thăm tất niên, trong nh÷ng đối tượng được Người đến bao giờ cũng có những gia đình nghèo. Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn đến với những người dân nghèo cần có sự quan tâm đúng lúc cũng như Bác muốn nhìn thấu đáo tới một sự thật để khẳng định trách nhiệm của Đảng cầm quyền: Không chỉ chăm lo đến đường lối chính sách mà Đảng còn phải chăm lo đến tương cà, mắm muối cho dân. Hễ dân đói là Đảng có lỗi, dân rét là Đảng có lỗi, dân còn bệnh tật là Đảng có lỗi….

Nhớ câu chuyện cảm động do đồng chí Nguyễn Lương Bằng kể lại: Khi chuẩn bị viết tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng: Cán bộ đảng viên là cái gương để quần chúng soi vào, cho nên dân ta mới có câu nói “đảng viên đi trước, làng nước theo sau!” muốn làm được điều đó thì cán bộ đảng viên phải tu dưỡng rèn luyện để khổ mấy cũng chịu được, nhưng sướng mấy cũng phải chịu được. Người còn nói tiếp: Bác rất lo khi đã có chính quyền rồi, có điều kiện kinh tế khác thời kháng chiến rồi cán bộ dễ bị sa ngã, dễ quan liêu, tham nhũng, hư hỏng, đó là những cán bộ đảng viên không chịu được “sướng” đấy. Vì vậy, kinh tế càng phát triển, đời sống càng được nâng cao thì càng phải chống chủ nghĩa cá nhân, càng phải rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng. Càng phải tôn trọng và gắn bó máu thịt với nhân dân, phải giữ gìn và xứng đáng là những tấm gương để quần chúng nhân dân soi vào. Nói đi đôi với làm, chúng ta thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự là con người như vậy. Vì sao trong tủ quần áo của Người chỉ với mấy bộ kaki, có chiếc đã sờn cổ, sờn tay dùng để hội họp và tiếp khách, vài bộ quần áo phụ để đi thăm đồng bào? Vì sao vị Chủ tịch không chịu diện những đôi giầy da bóng lộn mà quen với đôi dép cao su vẹt gót? Vì sao không ô không lọng mà đi đâu cũng với chiếc mũ “cát” quen thuộc? Không thích kỷ đài, không ưa khẩu hiệu đến đâu cũng quan tâm đến chỗ ăn, chỗ ở, nơi vệ sinh, thăm hỏi để thấm tận tâm tư chứ không xã giao sáo rỗng? Vì sao trọn đời cống hiến hy sinh mà vẫn một mực chối từ những tấm Huân chương rất xứng đáng của Quốc hội và của các quốc gia khác trao tặng? Vì Tổ quốc chưa được độc lập hoàn toàn, nhân dân còn đói khổ, đất nước ta còn nghèo lắm thì không ai được tự cho mình cái đặc quyền đặc lợi, không ai được tự cho mình cái quyền sống trên sự đau khổ của đồng bào mình.

Năm 1960, khi đoàn 72 sinh viên khóa đầu tiên tốt nghiệp Đại học lên báo cáo kết quả học tập với Quốc hội. Sau khi nghe báo cáo, động viên khen ngợi, thay mặt Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Các cô, các chú đã cã bằng Đại học rồi, bây giờ hãy về bệnh viện, trường học, nhà máy, công trường để học lấy cái “bằng làm người” nữa. Có như vậy mới phục vụ nhân dân và đất nước được lâu dài”. Những lời Bác dặn năm xưa, mỗi chúng ta cùng suy ngẫm để mãi mãi noi gương học tập và làm theo lời Người./.

Tháng 11, năm 2011
Đặng Nam Điền

bqllang.gov.v

Xuất xứ của 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên, nhi đồng

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất yêu quý thiếu niên, nhi đồng. Không chỉ yêu quý, Bác còn rất quan tâm giáo dục các em. Bác nói thiếu nhi là người chủ tương lai của nước nhà, cho nên cần phải sớm rèn luyện đạo đức cách mạng cho thiếu nhi. Nhiều thế hệ thiếu niên, nhi đồng Việt Nam luôn ghi nhớ 5 điều Bác dạy. Vậy 5 điều Bác dạy thiếu nhi có xuất xứ như thế nào ?

Cách đây tròn 46 năm, vào năm 1961, nhân Lễ kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Đội Thiếu niên Tiền phong Việt Nam (15/5/1941 – 15/5/1961), theo đề nghị của Trung ương Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi một bức thư cho thiếu niên, nhi đồng. Bảo tàng Hồ Chí Minh hiện còn lưu giữ bản thảo của bức thư đó. Trong thư Bác căn dặn: “Các cháu cũng tham gia đấu tranh bằng cách thực hiện mấy điều sau đây:

Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào
Học tập tốt, lao động tốt
Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt
Giữ gìn vệ sinh,
Thật thà, dũng cảm”.

Nhưng trong cuốn sổ Giải thưởng Bác Hồ là loại sổ dành riêng để thưởng cho giáo viên và học sinh có thành tích xuất sắc trong học tập năm học 1964 – 1965 thì 5 điều Bác dạy trên đây lại được in hoàn chỉnh là:

“Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào
Học tập tốt, lao động tốt
Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt
Giữ gìn vệ sinh thật tốt,
Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm”.

(Chữ “thật tốt” và chữ “khiêm tốn” được bổ sung vào 2 câu cuối, nên mỗi câu đều có 6 chữ).

Đồng chí Vũ Kỳ, thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho biết: Sở dĩ như vậy vì gần đến cuối năm 1965, để chuẩn bị phần thưởng cho giáo viên và học sinh vào cuối năm học, Bác thấy 5 điều Bác dạy thiếu niên, nhi đồng từ năm 1965 trở về trước, 3 câu đầu mỗi câu có 6 chữ còn 2 câu cuối mỗi câu chỉ có 4 chữ, như vậy không cân đối. Bác đã suy nghĩ và bổ sung thêm cho mỗi câu đủ 6 chữ.

Đặc biệt, ở câu thứ 5, Bác thêm chữ “Khiêm tốn” vì từ năm 1965 trở đi, đế quốc Mỹ bắt đầu mở rộng chiến tranh, ném bom bắn phá miền Bắc, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Mỗi người làm việc bằng hai để đền đáp cho đồng bào miền Nam ruột thịt” nên xuất hiện ngày càng nhiều gương “Người tốt việc tốt” ở mọi lứa tuổi. ở miền Bắc xuất hiện nhiều gương thiếu nhi dũng cảm cứu người, cứu hàng; ở miền Nam xuất hiện nhiều gương dũng sỹ diệt Mỹ. Nhưng Bác không muốn các em tự kiêu, mà muốn các em khiêm tốn, vì đức khiêm tốn sẽ giúp các em tiến bộ mãi. Bác còn đánh giá rất cao đức khiêm tốn ở các em. Bác nói: “ở nước Mỹ, người ta giết nhau chỉ vì đồng bạc giấy, thế mà ở Việt Nam ta các cháu bé đã biết sống như thế nào… Có cháu lên 6 tuổi cùng bạn đi chơi, bạn nó sảy chân ngã xuống ao, nếu chạy về gọi người lớn thì bạn chết mất, cháu liền bám vào bụi cỏ bờ ao, nhoai cái chân nhỏ xíu ra, miệng bảo bạn “bám vào đây, bám vào đây”. Cháu tuy nhỏ tuổi mà biết thương bạn như vậy. Thương bạn, thông minh và dũng cảm, cháu lại khiêm tốn nữa, cứu được mạng người mà không khoe khoang. Văn minh chiến thắng bạo tàn. Xã hội ta văn minh hơn xã hội Mỹ từ những việc làm của các cháu bé như vậy”.

Và 5 điều Bác dạy thiếu niên, nhi đồng đã được phổ biến rộng khắp trong các trường học ở Việt Nam. Nghe theo lời dạy của Người, thiếu niên, nhi đồng Việt Nam hăng hái thi đua tham gia phong trào “Hai tốt”, phong trào “Thiếu nhi làm nghìn việc tốt”. Chính những đóng góp nhỏ bé của các em đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và sự nghiệp dựng xây đất nước.

Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới đất nước, 5 điều Bác dạy thiếu niên nhi đồng vẫn là bài học thuộc lòng quý giá để mỗi em ghi nhớ, học tập, rèn luyện và noi theo.

Theo Hà Nội mới

bqllang.gov.vn

Tôi học Bác từ những chuyện nhỏ nhất!

“Tôi được học Bác từ những chuyện rất là nhỏ nhưng không thể nào quên được. Nhiều lắm, mênh mông lắm. Thực sự mà nói, tôi cảm nhận Bác như là một ông tiên”.

Ông Phạm Ngọc Toản ở xã Tam Nghĩa, huyện Núi Thành, Quảng Nam là một trong số rất ít cán bộ miền Nam được cử đi học lớp đào tạo Công an nhân dân Việt Nam khóa 1 tại căn cứ Việt Bắc. Sau khi phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ, ông được chọn lựa vào đội ngũ những người cận vệ trung thành bảo vệ Bác Hồ cho đến lúc Bác đi xa.

Năm nay đã hơn 82 tuổi, dù đã bị căn bệnh tai biến hành hạ hơn 10 năm trời, nhưng ông vẫn còn rất minh mẫn. Bên ly nước chè xanh trong căn phòng khách nhỏ gọn gàng, đơn sơ dưới cái nắng gay gắt giữa mùa hè của đất Quảng Nam, ông nhớ lại. “Đầu năm 1953, tôi có quyết định ra Việt Bắc học trường công an. Nghe tin thế, tôi rất vui sướng vì tin chắc rằng đến Việt Bắc nhất định sẽ được gặp Bác Hồ, lúc đó được gặp Bác Hồ là ước mơ đến cháy bỏng của biết bao người.

Trong 15 năm ở gần Bác Hồ, tôi chỉ được ở gần Bác thôi, như là người hàng xóm của Bác chứ không phải như người trong nhà. Bởi vì có một số anh em được trực tiếp, tiếp cận bảo vệ Bác, còn tôi chỉ bảo vệ vòng ngoài. Bác đi đâu, chúng tôi lo đường đi chỗ đến cho Bác. Tôi có may mắn là trong nhiều năm luôn là người trực tiếp đi chuẩn bị những nơi Bác đến thăm. Bác cũng đến những nơi mà không ai ngờ nhất. Bác luôn quan tâm đến mọi người dù những việc nhỏ nhất. Có lần Bác đến thăm một cơ quan, trong lúc lãnh đạo cơ quan đang chuẩn bị đón Bác ở trên hội trường được trang hoàng rất sạch đẹp. Nhưng khi chúng tôi đưa đến, Bác yêu cầu đưa Bác ra phía sau trước. Thế là Bác xuống bếp ăn, xuống nhà vệ sinh, xuống thăm khu tập thể… Khi thăm xong thấy mặt Bác không vui. Ngay sau đó, Bác cho gọi lãnh đạo cơ quan ấy, cho gọi Chủ tịch Công đoàn và Bí thư Đoàn thanh niên và đề nghị cho giải quyết ngay vấn đề vệ sinh và hẹn sau 5 ngày phải báo cáo cho Bác biết”.

“Trong suốt 15 năm phục vụ Bác Hồ, ông học được gì về đạo đức tư cách của Bác?” – chúng tôi hỏi. Ông Phạm Ngọc Toản trả lời: “Nhiều lắm, mênh mông lắm. Thực sự mà nói, tôi cảm nhận Bác như là một ông tiên. Tôi được học Bác từ những chuyện rất là nhỏ nhưng không thể nào quên được”. Ông kể tiếp:

“Lúc ấy chúng tôi ở tại Văn phòng T.Ư bên này, Bác ở bên Văn phòng Phủ Chủ tịch cách nhau một con đường Hoàng Diệu. Bác thường thức dậy rất sớm (khoảng 5 giờ hoặc 5 giờ 30 phút). Nhiều lần nhìn sang bên chúng tôi, thấy còn để đèn sáng là Bác gọi điện qua nhắc nhở. Bác nói: “Đã sáng tỏ mặt người rồi sao các chú còn để điện? Phải tiết kiệm chứ”.

Tôi đã học được từ Bác chữ kiệm rất nhiều. Ngày ấy, có khoảng thời gian cả nước gặp khó khăn, bì thư mà Bác sử dụng luôn được làm từ giấy báo. Bác nhờ chúng tôi lấy giấy báo đã đọc rồi cắt làm bì thư, chứ Bác không chịu sử dụng phong bì bằng giấy trắng. Những mảnh giấy trắng nếu còn dùng được dù chỉ bé bằng bàn tay, Bác cũng cất lại để dán lên phong bì giấy báo để ghi địa chỉ người nhận, người gửi”.

Ông Toản dừng lại một hồi… Bất chợt, ông lại kể tiếp: “Vào những lúc chúng tôi được ăn cơm cùng Bác, Bác thường bảo cái gì mà mình đã ăn thì phải ăn hết, còn cái gì mà mình không thích thì đừng đụng đũa để dành cho người khác ăn. Đừng có ăn lở dở mỗi đĩa một miếng không hay lắm. Ăn xong rồi Bác bảo phải thu dọn cho ngăn nắp, đĩa ra đĩa, chén ra chén, đũa ra đũa để khi người phục vụ đến người ta bưng cho đỡ bớt thì giờ của người ta. Đó là những chuyện rất nhỏ, còn những chuyện lớn thì ai cũng biết rồi, tôi không cần nói làm chi”.

Sau ngày Bác mất, ông Phạm Ngọc Toản được bổ nhiệm chức vụ Phó hiệu trưởng trường An ninh E1171, là cơ sở đào tạo cán bộ an ninh cho toàn bộ chiến trường miền Nam và sau đó là lãnh đạo trường Công an 5 ở huyện Núi Thành, Quảng Nam và ông về hưu cách đây gần 30 năm với quân hàm thượng tá. Học tập chữ Kiệm của Bác, ông hiện sống rất giản dị, thanh thản với căn nhà nhỏ quây quần bên gia đình và con cháu.

Theo Tấn Tú – Thanh Niên

bqllang.gov.vn

Học tập lời dạy của Bác về thi đua ái Quốc

Trong “Lời kêu gọi về thi đua ái quốc” ngày 11 tháng 6 năm 1948, Bác Hồ đã dạy: “Mục đích thi đua ái quốc là gì ? Là“ Diệt giặc đói khổ, Diệt giặc dốt nát, Diệt giặc ngoại xâm”. Để đạt được 3 mục đích trên, phải “ Dựa vào lực lượng của dân, Tinh thần của dân. Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu nghèo, lớn nhỏ, đều cần phải thi đua.

Sau một năm phát động thi đua ái quốc, Bác Hồ đã chỉ ra những khuyết điểm trong công tác thi đua đó là “ còn nhiều nơi nhân dân, mà trước hết là cán bộ, chưa thật hiểu rõ ràng ý nghĩa của phong trào thi đua ái quốc.

Tưởng lầm thi đua là một việc khác với những công việc hàng ngày. Tưởng lầm thi đua chỉ nhất thời. Nhiều nơi đặt những kế hoạch thi đua không sát với hoàn cảnh, không sát với địa phương. Nơi thì đặt kế hoạch to quá, rồi làm không nổi. Nơi thì ban đầu làm quá ồ ạt, đến nỗi ít lâu sau thì đuối sức đi, không tiếp tục thi đua được. Nơi thì mỗi một đoàn thể, mỗi một ngành đều có một kế hoạch riêng mà kế hoạch thì không ăn khớp với nhau, thành thử “ trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”.

Nhân dân thì bù đầu, không đủ sức mà theo cả các kế hoạch và không biết nên theo kế hoạch nào. Nhiều nơi có kinh nghiệm, hoặc kinh nghiệm thành công hoặc kinh nghiệm thất bại, nhưng không biết trao đổi cho nơi khác, để tránh cái dở, học cái hay của nhau. Nơi thì các ban vận động thi đua chỉ biết làm theo chỉ thị cấp trên. Trung ương gửi chỉ thị thế nào, khu cứ nguyên văn gửi xuống tỉnh, tỉnh cứ nguyên văn gửi xuống huyện, huyện cứ nguyên văn gửi xuống xã, chứ không biết điều tra kỹ lưỡng, áp dụng thiết thực”.

Để “Cùng nhau sửa chữa khuyết điểm”, Bác Hồ đã dạy: “công việc hàng ngày chính là thi đua. Từ trước đến giờ ta vẫn ăn, vẫn mặc, vẫn ở. Nay ta thi đua ăn, mặc, ở cho sạch, cho hợp vệ sinh, cho khỏi đau ốm. Xưa nay ta vẫn làm ruộng, nay ta thi đua làm cho đất ruộng tốt hơn, sản xuất nhiều hơn.

Thi đua là phải trường kỳ, là phải giải thích cho mọi người dân hiểu rõ rằng: thi đua ái quốc là lợi ích của mình, lợi ích của gia đình mình và ích lợi cho làng, cho nước, cho dân tộc. Mọi người dân đều hiểu rõ thì tất cả mọi khó khăn đều giải quyết được, tất cả mọi khuyết điểm đều sửa chữa được”
Hiện các cấp, các ngành và các đoàn thể Mặt trận đã và đang có nhiều phong trào thi đua yêu nước, do vậy cần “ Học tập và làm theo” lời dạy của Bác Hồ về thi đua ái Quốc.

Ngọc Bích

ubmttq.hochiminhcity.gov.vn

Người đảng viên xứng đáng với danh hiệu Bộ đội cụ Hồ

(ĐCSVN) – Trung thực, thẳng thắn và khiêm nhường, đó là những đức tính vốn có trong anh. Sinh ra và lớn lên ở thị xã biên giới nghèo, trong một gia đình công chức bình thường nhưng rất hiếu học. Cả 5 anh, chị em đều là cán bộ, công chức nhà nước. Gia đình anh dư điều kiện để thành lập một chi bộ đảng. Đó là Nguyễn Văn Minh, ủy viên Ban Thường vụ Thị ủy, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Thị xã Hà Giang.

Ấn tượng sâu sắc nhất trong tôi về anh, đó là đợt cùng anh đi tham gia cùng đoàn Đại biểu ứng cử viên Quốc hội khóa XII tiếp xúc, gặp gỡ cử tri tháng 4 năm 2007. Với chất giọng ấm ấp, truyền cảm, anh là người trực tiếp làm công tác tổ chức cho các buổi tiếp xúc, gặp gỡ cử tri, thông qua phong cách và phương pháp điều hành hội nghị, mọi người đều tấm tắc khen. Và cũng trong đợt thi đua chào mừng cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII vừa qua, anh vinh dự được nhận Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh.

Năm 1974, anh xung phong lên đường tòng quân ra tiền tuyến theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc trong đơn vị pháo binh Lữ đoàn 145, Quân khu I. Đơn vị anh đã trực tiếp tiến công vào dinh lũy tổng thống ngụy – Sài Gòn, cùng cả nước giải phóng miền Nam thân yêu, đó là niềm vinh dự đã thôi thúc anh mãi mãi gìn giữ và phát huy phẩm chất cao đẹp – Bộ đội cụ Hồ. Anh được Bộ Quốc phòng tặng Băng khen và Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng 3.

Tròn mười năm quân ngũ, anh chuyển ngành năm 1984 với quân hàm trung úy, trợ lý tham mưu Trung đoàn 4, Sư đoàn 396, Quân khu Thủ đô. Mặc dù đóng quân ngay trên mảnh đất trung tâm kinh tế – chính trị – xã hội của cả nước, song anh vẫn khát khao và mong mỏi được về xây dựng quê hương nơi mảnh đất địa đầu cực Bắc.

Suốt 9 năm trên cương vị cán bộ rồi trưởng phòng tổ chức Lao động thương binh xã hội thị xã, anh luôn trăn trở và quyết tâm thực hiện tốt các chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, giải quyết và thực hiện có hiệu quả đối với công tác thương binh, liệt sỹ, người có công… được đông đảo nhân dân ủng hộ và yêu mến. Để không ngừng phấn đấu vươn lên và không tụt hậu về tri thức so với bạn bè, anh đã theo học và tốt nghiệp Đại học Luật tại chức tại tỉnh và Cao cấp chính trị. Với uy tín và năng lực của mình, anh được cử tri thị xã Hà Giang bầu làm đại biểu Hội đồng nhân dân tròn hai khóa. Từ năm 2000 đến nay, anh đều tham gia Ban chấp hành rồi ủy viên Ban Thường vụ Thị ủy.

Anh tâm sự: “Mình cũng là người lính chiến trường, may mắn hơn bao người khác là được trở về lành lặn, đó là hạnh phúc không có gì so sánh nổi. Mình phải có trách nhiệm quan tâm, tạo điều kiện, hướng dẫn các đối tượng chính sách hoàn tất thủ tục để khỏi thiệt thòi…”. Nhiều trường hợp mất hết giấy tờ, anh đã giúp đỡ, hướng dẫn một cách tận tình, chu đáo họ xin các xác nhận theo đúng quy định của pháp luật. Anh vinh dự được nhận kỷ niệm chương vì sự nghiệp Tổ chức Nhà nước của Bộ Nội vụ trao tặng.

Từ tháng 10 năm 2003 đến nay, anh được bổ nhiệm giữ cương vị Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc thị xã. Đến tháng 1 năm 2005, anh còn đảm nhiệm thêm cương vị Trưởng ban Ban Dân vận Thị ủy. Mặc dù công việc bận rộn, song, anh luôn biết sắp xếp một cách khoa học và biết phát huy trí tuệ của tập thể nên mọi nhiệm vụ đều suôn sẻ và hoàn thành nhiệm vụ được giao. Nhiều năm liền là chiến sỹ thi đua cấp cơ sở, cấp tỉnh; năm 2006 vừa qua, anh vinh dự được nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.

Trong cuộc sống gia đình, anh thực sự là tấm gương sáng cho các con noi theo, hai cháu khỏe mạnh, đều là con ngoan, trò giỏi, cháu ngoan Bác Hồ. Gia đình anh hằng năm đều được tổ dân phố bình bầu là gia đình văn hóa.

Anh là người cán bộ mẫn cán, hết lòng vì nhiệm vụ, anh thật sự xứng đáng là người lãnh đạo cơ quan tập hợp khối đoàn kết nhân dân các dân tộc thị xã Hà Giang trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững ổn định chính trị nơi biên cương của Tổ quốc.

Hải Hà

bqllang.gov.vn

Đồng chí Trương Tấn Sang: Học tập và làm theo Bác phải trở thành tập quán và chuẩn mực văn hoá của Đảng ta, nhân dân ta

Trong hai ngày 20-21/11, Đồng chí Trương Tấn sang, Uỷ viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Phó Trưởng Ban chỉ đạo Trung ương Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã kiểm tra việc thực hiện Cuộc vận động tại Hà Nội. Đồng chí biểu dương đảng bộ, nhân dân thành phố Hà Nội đã nhận thức rõ tầm quan trọng, cũng như mục tiêu trước mắt và lâu dài của Cuộc vận động; từ đó việc triển khai thực hiện được tiến hành nghiêm túc, có nhiều sáng tạo.

Tham gia đoàn công tác có đồng chí Phạm Quang Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy, Trưởng ban Chỉ đạo Cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” thành phố Hà Nội; đồng chí Vũ Văn Hiến, Uỷ viên T.Ư Đảng, Tổng giám đốc đài truyền hình Việt Nam; đồng chí Nghiêm Đình Vì, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; các đồng chí thường trực Ban chỉ đạo thành phố Hà Nội và bộ phận giúp việc Ban chỉ đạo Trung ương.

Đoàn công tác đã làm việc tại xã Liên Hà, huyện Đông Anh; Công ty cổ phận chế tạo máy điện Việt Nam-Hunggari; Huyện uỷ Đông Anh; Bệnh viện mắt Hà Nội; Sở kế hoạch – đầu tư và Ban chỉ đạo Thành uỷ Hà Nội. Qua kiểm tra cho thấy, thành phố Hà Nội đã tiến hành các bước của Cuộc vận động nghiêm túc, sáng tạo; mỗi cấp uỷ, mỗi đơn vị, xã, phường đều bám sát tinh thần chỉ đạo của cấp trên đồng thời gắn với đặc thù của đơn vị mình. Ở huyện Đông Anh, việc tuyên truyền Cuộc vận động, tổ chức thi kể chuyện về Bác Hồ đều gắn với kể chuyện truyền thống lịch sử địa phương và liên hoan văn nghệ…nên thu hút rất đông quần chúng tham gia. Hội thi kể chuyện về Bác Hồ được tiến hành ở phường, xã và thi liên phường, xã; sau đó thi cấp quận, huyện… tạo nên không khí sôi nổi, khơi dậy niềm tự hào về Bác kính yêu. Các đơn vị như: ngành y tế gắn Cuộc vận động với nội dung nâng cao y đức; ngành giáo dục gắn với nâng chất lượng dạy và học, chống tiêu cực trong thi cử.v.v…Ban chỉ đạo thành phố Hà Nội đã biên tập và phát hành hai cuốn sách “Văn hoá đạo đức Hồ Chí Minh” vừa phổ biến tới các đơn vị trong địa phương vừa gửi tặng Ban chỉ đạo cuộc vận động của các tỉnh, thành phố trong cả nước; những mẩu chuyện về Bác Hồ được ghi âm và gửi cho tất cả các đài truyền thanh xã, phường để phát trên đài định kỳ vào những ngày trong tuần để bà con nhân dân cập nhật. Nhiều phường, xã đã xây dựng “Chương trình truyền thanh về học tập và làm theo gương Bác Hồ.

Trên cơ sở kiểm tra thực tế tại các đơn vị cơ sở, đoàn công tác đã làm việc với Ban chỉ đạo Thành phố Hà Nội. Đồng chí Trương Tấn Sang và đoàn công tác đã nghe đồng chí Phạm Quang Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành uỷ, Trưởng ban và các đồng chí thành viên Ban Chỉ đạo của Hà Nội báo cáo tổng hợp tình hình thực hiện cuộc vận động trên địa bàn trong hơn 8 tháng qua. Nhìn chung, Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trên địa bàn Hà Nội đã trở thành đợt sinh hoạt văn hoá, chính trị sâu rộng, gắn với công tác chỉnh đốn, xây dựng Đảng và các chương trình thi đua khác. Công tác chỉ đạo từ thành phố đến cơ sở được quan tâm đúng mức; bám sát kế hoạch và có sự điều chỉnh phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn. Qua đó, đã kịp thời tháo gỡ những vướng mắc ở một số cơ sở. Mỗi tháng, các cấp uỷ đều kiểm điểm tình hình thực hiện Cuộc vận động về cả hai mặt: nhận thức và chuyển hoá thành hành động. Một quý, cấp uỷ, tổ đảng đều kiểm điểm tình hình thực hiện Cuộc vận động so với quý trước, những việc đã làm được, những hạn chế cần khắc phục. Thông qua các hoạt động “Kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, lấy ý kiến quần chúng góp ý cho đảng viên ở cơ sở đã có tác động tốt, làm chuyển biến tác phong, lề lối làm việc của cán bộ, đảng viên. Thể hiện rõ nhất ở việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong các công sở, sử dụng phương tiện công cộng; thái độ tiếp dân đúng mực; thúc đẩy cải cách hành chính, thực hiện “Một cửa liên thông giữa các sở, ban ngành” tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, cho nhân dân; thái độ phục vụ bệnh nhân được nâng lên bước; công tác trực phòng, chống dịch tả đã bảo đảm đủ 100% quân số trên 24/24 giờ mỗi ngày.v.v…

Qua phân tích, đánh giá tình hình thực hiện Cuộc vận động, đồng chí Trương Tấn Sang biểu dương đảng bộ, nhân dân thành phố Hà Nội đã nhận thức rõ tầm quan trọng, cũng như mục tiêu trước mắt và lâu dài của Cuộc vận động; từ đó việc triển khai thực hiện được tiến hành nghiêm túc, có nhiều sáng tạo. Mỗi cấp ủy, cơ quan, đơn vị đã thấy được tầm quan trọng, tính thiết thực của việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong hệ thống chính trị và toàn xã hội, bước đầu có tác động tích cực đến tình hình thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương, đơn vị. Cuộc vận động ở cấp xã, phường hiện tại đạt hiệu quả tốt; cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân hăng hái tham gia học tập. Phần hạn chế trong thể thức lấy ý kiến quần chúng góp ý cho đảng viên cũng sẽ là kinh nghiệm tốt để Ban chỉ đạo Trung ương Cuộc vận động bổ sung vào việc chỉ đạo. Đối với công nhân viên khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh, đồng chí Trương Tấn Sang yêu cầu Ban chỉ đạo thành phố Hà Nội quan tâm triển khai Cuộc vận động tại khu vực này bằng hình thức thích hợp. Đặc biệt phải chú trọng tuyên truyền, vận động tuổi trẻ tham gia học tập và làm theo Bác Hồ với nhiều chương trình phù hợp với nhà trường, với tuổi trẻ lao động ở khu công nghiệp, khu vực nông thôn. Trước hết, cán bộ, đảng viên phải gương mẫu, tự giác học tập và làm theo tấm gương của Bác, từ đó lôi cuốn quần chúng học tập, noi theo. Việc xây dựng tiêu chuẩn theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh phải có chuẩn mực chung và chuẩn mực riêng đối với từng ngành, cũng như đối với từng người trên từng cương vị công tác cụ thể. Khi xây dựng chuẩn mực đạo đức đối với cán bộ lãnh đạo phải cao hơn so với viên chức; hoặc cán bộ làm ở các sở, ban, ngành phải khác với tiêu chuẩn cán bộ công tác ở phường, xã…Trong công tác tuyên truyền phải chú ý vừa nêu tấm gương đạo đức Bác Hồ vừa biểu dương những gương người tốt, việc tốt đã học tập, làm theo Bác. Bởi vì, học tập Bác không khó bằng làm theo tấm gương của Bác trong mỗi suy nghĩ, công việc hàng ngày và rộng hơn là thực hiện nhiệm vụ mà Đảng, nhân dân giao phó cho cán bộ, đảng viên.

Để tiếp tục thực hiện Cuộc vận động thắng lợi trong thời gian tới, trước mắt cần sơ kết công tác năm 2007, xây dựng các giải pháp thực hiện kế hoạch năm 2008 với chủ đề: “Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí….đồng chí Trương Tấn Sang yêu cầu Ban chỉ đạo thành phố tìm tòi nhiều hình thức tuyên truyền vừa tạo sức thuyết phục, lay động lòng người, vừa gắn với đời sống thực tiễn. Tránh tuyên truyền một chiều chỉ nêu tấm gương đạo đức của Bác mà không nêu điển hình tiên tiến học tập và làm theo theo tấm gương của Bác. Mặt khác, phải tổ chức tốt việc lấy ý kiến quần chúng ở nơi công tác và nơi cư trú về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công chức thật hiệu quả, tránh hình thức. Từ ý kiến của quần chúng phải tiến hành xem xét, sửa chữa ngay những khiếm khuyết của cán bộ, đảng viên để quần chúng tin tưởng vào hiệu quả thiết thực của Cuộc vận động. Đồng chí mong muốn mỗi cán bộ, đảng viên ở Thủ đô là những người đi đầu trong Cuộc vận động này, tạo sự chuyển biến và sức mạnh mới để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng; để Thủ đô trở thành đơn vị điển hình của cả nước về học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác.

Toàn đảng, toàn dân ta đều yêu kính Bác, chúng ta phấn đấu “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh phải trở thành tập quán và chuẩn mực văn hoá của Đảng ta, nhân dân ta”.

TTXVN

bqllang.gov.vn

“Nghĩ về Bác, lòng ta trong sáng hơn!”

Cuộc thi “Tìm hiểu tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam, báo Quân đội Nhân dân, báo Tuổi trẻ, báo Thanh niên, báo Tiền phong và Tổng Công ty Viễn thông quân đội Viettel tổ chức đã trải qua 29 tuần thi trắc nghiệm và 6 tháng thi viết với hơn 50 vạn người tham dự, bao gồm: 400.000 nghìn người tham gia thi trắc nghiệm hàng tuần, hơn 100.000 người dự thi viết hàng tháng…

Hội trường Nhà văn hóa Thanh niên Thành phố Hồ Chí Minh, một trung tâm sinh hoạt văn hoá sôi nổi của tuổi trẻ thành phố Hồ Chí Minh tối 19 – 1 các chỗ ngồi đều chật kín. Phần đông đại biểu đến dự đều là các bạn trẻ. Đây cũng là lần đầu tiên, Lễ trao giải thưởng Cuộc thi “Tìm hiểu tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được tổ chức tại thành phố mang tên Bác.

Theo báo cáo của Ban tổ chức, cuộc thi “Tìm hiểu tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam, báo Quân đội Nhân dân, báo Tuổi trẻ, báo Thanh niên, báo Tiền phong và Tổng Công ty Viễn thông quân đội Viettel tổ chức đã trải qua 29 tuần thi trắc nghiệm và 6 tháng thi viết đã có hơn 50 vạn người tham dự. Số lượng người dự thi tăng dần theo từng tuần, từng tháng, chất lượng các bài viết cũng ngày một nâng cao. Cuộc thi đã thật sự có sức lan tỏa và tạo hiệu ứng mạnh mẽ trong xã hội, tác động sâu sắc đến nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân, trong đó đáng mừng là thế hệ trẻ đã tích cực hưởng ứng “Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Phát biểu tại Lễ trao giải, đồng chí Đào Duy Quát, Tổng biên tập báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Trưởng Ban chỉ đạo cuộc thi nhấn mạnh: “Cuộc thi này cổ vũ động viên nhân dân cả nước có ý thức tự giác tìm hiểu tư tưởng và tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mỗi người đều suy ngẫm về ý nghĩa và tầm quan trọng của đạo đức đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới, đối với cuộc đời và hạnh phúc của mỗi con người. Ở tất cả các xã phường, trường học, lực lượng vũ trang, cơ quan, đơn vị đều dấy lên những hình thức tổ chức học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh sinh động, trở thành một hoạt động công tác tư tưởng hiệu quả, quần chúng giáo dục quần chúng và biến quá trình giáo dục đạo đức rất quan trọng này thành quá trình tự giáo dục của từng người”.

Sau 6 tháng tổ chức cuộc thi, Ban tổ chức đã 3 lần trao giải thưởng cho các tập thể, cá nhân đoạt giải ở nhiều địa điểm khác nhau. Nhưng đây là lần đầu tiên, lễ trao giải được tổ chức ở thành phố Hồ Chí Minh, thành phố mang tên Bác. Những người đoạt giải đều đến từ các tỉnh thành khu vực phía Nam. Khán giả có mặt tại Nhà văn hoá thanh niên thành phố Hồ Chí Minh đã lặng đi vì xúc động khi nghe tâm sự của cụ Trình Thị Tán, 71 tuổi, đến từ tổ 14, Khóm Châu Long, phường Châu Phú B, Thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang: “Tôi là giáo viên trong chế độ cũ 13 năm ròng, hằng ngày từng âm thầm nén nỗi đau khi phải chào lá cờ và lãnh tụ của chế độ cũ. Ngày đất nước giải phóng, tôi đã sung sướng biết bao nhiêu khi được tự tay gỡ lá cờ, bức tượng ấy xuống, treo lá cờ đỏ sao vàng và tượng Bác Hồ lên bàn thờ Tổ quốc. Giây phút ấy, tôi tự nói với lòng mình: “Bác Hồ, người Việt Nam đẹp nhất mới xứng đáng ở vị trí này. Về sau, trở thành giáo viên của chế độ mới, tôi luôn dạy học trò của mình, trước hết phải làm theo 5 điều Bác Hồ dạy. Cuộc vận động, cuộc thi với tôi thật ý nghĩa, tôi đã tham gia cuộc thi bằng tình cảm và những trải nghiệm của chính cuộc đời mình”. Cụ Trình Thị Tán cũng là một nhân vật khá đặc biệt của cuộc thi. Cụ đã 6 lần tham gia thi viết và có tới 4 lần đoạt giải.

Khác với lần trao giải ở các địa phương khác, cuộc trao giải tại thành phố Hồ Chí Minh để lại một dấu ấn đặc biệt, đó là sự tham gia đông đảo của các bạn trẻ. Ban tổ chức vui mừng cho biết, so với các địa phương khác trong cả nước, khu vực phía Nam là khu vực có số lượng người tham gia thi trắc nghiệm qua mạng Internet cao nhất. Điều đó chứng tỏ giới trẻ ngày nay rất nhạy bén với công nghệ thông tin nhưng không thờ ơ với các vấn đề chính trị – xã hội như nhiều người thường ngộ nhận. Em Phan Thanh Tú, học sinh lớp 11 cho biết: “Chúng em tham gia thi trắc nghiệm về tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh không phải chỉ là một cuộc chơi “cho vui” mà qua cuộc thi để học tập, nâng tầm nhận thức và hành động của bản thân mình”.

Anh Lê Hoàng Việt Lâm, thiếu uý, giảng viên Khoa Mác – Lênin, Trường Đại học An ninh nhân dân (TP Hồ Chí Minh) là người đã tham gia và giành tới hơn 40 giải thưởng tại các cuộc thi được tổ chức ở Trung ương cho rằng, cuộc thi này là cuộc thi để lại ấn tượng mạnh mẽ nhất trong anh. Bởi lẽ: “Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mà Đảng ta đang phát động có ý nghĩa quan trọng, với sức lan toả rộng lớn đã chứng tỏ tình cảm và trách nhiệm của tất cả mọi người dân Việt Nam đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và vận mệnh dân tộc. Tuy nhiên, giáo dục, học tập về đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh phải đi đến thức tỉnh được lương tâm của mỗi con người, làm cho mỗi người tự mình hình thành được một “toà án lương tâm” đủ sức phán xét thật nghiêm khắc bản thân mỗi người. Làm sao để mỗi người “nghĩ về Bác lòng ta trong sáng hơn” thì cuộc vận động mới có thể đạt được hiệu quả thiết thực”.

Tại buổi lễ, Ban Tổ chức cuộc thi đã trao giải thưởng của các cuộc thi tháng, thi tuần cho 31 bài viết đoạt giải ở khu vực phía Nam. Có 6 giải nhất, 4 giải nhì, 3 giải ba (cuộc thi tuần) và 01 giải nhất, 6 giải ba, 11 giải khuyến khích (cuộc thi tháng). Đặc biệt, có những người đã tham dự rất nhiều lần và đạt nhiều giải thưởng như: trung uý Nguyễn Đình Sơn, giảng viên Khoa lý luận Mác – Lê nin Trường sĩ quan Lục quân 2; bác Trình Thị Tán (71 tuổi), Tổ 14 Khóm Châu Long, phường Châu Phú B, Thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang…

Hà Nguyên Minh

bqllang.gov.vn

Sống tốt, làm giỏi mỗi ngày để theo gương Bác

Sáng 18-2, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức hội nghị sơ kết 1 năm thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Trong năm qua, các cơ sở Đảng đã quán triệt, triển khai sâu rộng cuộc vận động trong toàn Đảng, toàn dân, tạo nên không khí thi đua sôi nổi và đã được những kết quả bước đầu đáng khích lệ.

Qua cuộc vận động, mỗi người đã học được ý chí và nghị lực phi thường; lòng nhân ái, vị tha; đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư… của Bác bằng chính công việc hằng ngày của mình.

Nghị quyết “xuống dân”

Theo ông Nguyễn Tấn Long, Bí thư Đảng ủy phường 9, quận 10, đầu năm 2007, Đảng ủy phường 9 đã tích cực triển khai kế hoạch thực hiện cuộc vận động với 3 giai đoạn then chốt: Tổ chức học tập cho cán bộ, đảng viên, công chức và các đoàn thể nhân dân; lấy ý kiến đóng góp của quần chúng nhân dân; thảo luận ở các chi bộ, cán bộ công chức, các đoàn thể viết thu hoạch cá nhân và đề ra chương trình hành động. Tiếp đó, Đảng ủy ban hành Nghị quyết chuyên đề về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, trong đó có chương trình “xuống dân”.

Để thực hiện việc này, một đoàn công tác (gồm Thường trực Đảng ủy, UBND – HĐND – MTTQ và đại diện người dân) đi xuống từng khu phố để lắng nghe, ghi nhận, phân loại sự việc theo thẩm quyền giải quyết và rút ra kinh nghiệm, đề ra các giải pháp thực hiện trên từng địa bàn dân cư. Tháng 5-2007, khi nghe người dân khu phố 2 phản ánh tình trạng cướp giật, hút chích ma túy tại một số con hẻm trên đường Lý Thái Tổ, đoàn công tác đã yêu cầu công an vào cuộc ngay và chỉ sau một đêm, người dân đã thở phào nhẹ nhõm. Kế đến là bức xúc của người dân khu phố 1 xung quanh việc làm giấy chủ quyền nhà đất, phường 9 đã phối hợp với các ngành chức năng của quận giải tỏa ngay những lo lắng của dân…

Chuyển biến tích cực về tư tưởng, hành động

Ông Trần Trọng Kính, Bí thư Đảng ủy Công ty TNHH một thành viên thuốc lá Sài Gòn (gọi tắt là Công ty Thuốc lá Sài Gòn), phấn khởi khi nói về việc triển khai cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” tại đơn vị.

Theo ông Kính, ngay sau khi thành lập Ban Chỉ đạo cuộc vận động, gồm đại diện Đảng ủy, ban giám đốc, Công đoàn, đoàn thanh niên, hội cựu chiến binh, công ty mở 2 lớp nghiên cứu, quán triệt, học tập một loạt chuyên đề “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh”, “Đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay”, nghiên cứu tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, “Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”; tổ chức các hội thi tuyên truyền với sự tham gia của hơn 3.000 cán bộ, công nhân viên chức – lao động.

Tại hội thi kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh do Đảng ủy Khối Bộ Công nghiệp tổ chức (từ tháng 8 đến tháng 11-2007), đội Công ty Thuốc lá Sài Gòn đã đoạt giải nhất. Đánh giá bước đầu triển khai cuộc vận động, ông Trần Trọng Kính cho rằng cuộc vận động đã tạo sự chuyển biến tích cực về tư tưởng và hành động trong cán bộ, đảng viên, quần chúng; gắn với cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng, với thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, quan liêu và gắn với các mặt công tác của đơn vị.

Đi vào cuộc sống

Cũng như bao đơn vị khác, Trường ĐH Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức cho hơn 300 đảng viên của 28 chi bộ trực thuộc quán triệt Chỉ thị 06-CT/TW của Bộ Chính trị và Hướng dẫn 11-HD/TTVH của Ban Tuyên giáo Trung ương, Kế hoạch 12-KH/TU của Ban Thường vụ Thành ủy TPHCM. Qua cuộc vận động lớn này, trường đã lồng ghép, liên hệ thực tế với những công việc của một trường ĐH có nhiệm vụ đào tạo đội ngũ thầy giáo, cô giáo không chỉ cho Thành phố Hồ Chí Minh mà cho cả các tỉnh phía Nam, thậm chí không ít sinh viên có hộ khẩu ở các tỉnh phía Bắc với cuộc vận động “hai không” do Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo phát động.

Đối với hơn 10.000 sinh viên hệ chính quy, Đảng ủy giao cho Đoàn Thanh niên Cộng sản của nhà trường tổ chức nhiều hình thức phong phú để đưa cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đi vào cuộc sống, làm hành trang cho các em vào đời. Ngoài thi kể chuyện, Đoàn còn phát động sinh viên viết nhật ký “làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Trường ĐH Sư phạm TP đang phát huy những thành quả này để tập thể CB-CNV, giảng viên tiếp tục phấn đấu “làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Vũ Gia – Minh Nam

bqllang.gov.vn

Ấm sáng những ngọn lửa bên Người

Đến ngày lịch sử 3 tháng 2 năm nay, Đảng ta tròn 78 mùa xuân và cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” cũng đi trọn năm đầu triển khai thực hiện.

Đúng vào dịp này năm trước, khi đồng chí Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh thay mặt Bộ Chính trị phát động cuộc vận động sau một thời gian chuẩn bị kỹ lưỡng và làm thí điểm khá công phu ở một số ngành, đơn vị, địa phương, vẫn có không ít người, kể cả cán bộ, đảng viên âu lo, trăn trở.

Bởi chỉ cách đây mấy năm, chúng ta cũng tiến hành cuộc vận động”Xây dựng, chỉnh đốn Đảng” theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Di chúc thiêng liêng của Người và Nghị quyết Hội nghị Trung ương sáu (lần 2) khoá VIII. Dù đã thu được những kết quả đáng khích lệ thì trong sâu xa của tâm nguyện, chưa mấy ai tự bằng lòng.

Những câu chuyện về Người

Chưa bao giờ, một đợt sinh hoạt chính trị – văn hoá gây được cảm xúc mãnh liệt, ấn tượng sâu sắc cho mọi người như các hội thi kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh – một trong những nội dung quan trọng của cuộc vận động được tổ chức trong năm qua. Gọi là hội thi vì sự kiện này thu hút rất nhiều người, đủ mọi thành phần, lứa tuổi, dân tộc, cả tín đồ tôn giáo tham gia.

Ở thủ đô Hà Nội, hội thi lần đầu tiên được tổ chức tại quận Ba Đình – nơi mà hai, ba thế hệ người dân ở đây có may mắn, vinh dự được sống gần Bác những ngày Cách mạng tháng Tám vừa thành công và quãng thời gian 15 năm sau ngày thủ đô được giải phóng. Những chuyện kể về Bác ở hội thi này làm cho hết thảy người nghe đều rưng rưng xúc động. Hội thi cấp cơ sở của xã Dương Hà, huyện Gia Lâm; hội thi cấp quận, huyện ở Đông Anh, Từ Liêm, Long Biên… được tổ chức vào buổi tối, tại đình làng hay sân vận động huyện, thu hút hàng ngàn người đến dự.

Có thí sinh đã tuổi hạc, tóc mây, vậy mà khi kể về Bác vẫn ngập tràn một nỗi niềm kính yêu tha thiết. Chị Cao Thị Oanh – nhân viên Trạm truyền tải điện Thanh Hoá, ra Hà Nội tham dự hội thi do Công ty truyền tải Điện I tổ chức. Chị Oanh kể câu chuyện “Lời Bác dặn trước lúc đi xa” làm cả hội trường mấy trăm người chứa chan nước mắt, không gian tĩnh lặng rồi vỡ oà tiếng vỗ tay khi chị kết thúc.

Ở Ban Tuyên giáo Trung ương – cơ quan thường trực cuộc vận động, Ban giám khảo hội thi ở đây đã trao giải nhất cho chị Nguyễn Thị Ánh – một nhân viên công nghệ thông tin. Ánh quê Nam Đàn, Nghệ An. Với câu chuyện “Bác Hồ về thăm quê” đã được in trên sách, báo, phát trên sóng phát thanh từ nhiều năm, vậy mà khi kể, chất giọng Nam Đàn cùng sự cảm nhận chân thành, tinh tế của Ánh đã đưa người nghe đến gần như tận cùng của cảm xúc với bao mới mẻ, bất ngờ.

Cuộc thi “Tôi yêu tổ quốc tôi, tôi yêu đồng bào tôi” do Báo Sinh Viên Việt Nam và Hoa Học Trò tổ chức có số lượng thí sinh vượt xa mong đợi ban đầu. Trò Quỳnh Hương đoạt giải nhì với bài viết “Thấy tình yêu trong những áng mây bay”. Theo em, để nói lời yêu với tổ quốc mình, người viết có thể không phải là “một cao thủ văn chương”, nhưng nhất thiết phải là một công dân có trái tim luôn nồng nàn nhiệt huyết.

Với các em, “Tổ quốc có hương”: Mùa hạ hương lúa, mùa thu hương cốm..; “tổ quốc có màu”: Màu xanh của núi, của cây, màu vàng của rơm rạ, màu đỏ của đất Tây Nguyên, màu trắng của muối mặn Sa Huỳnh, Năm Căn; “tổ quốc có vị mặn”: Vị mặn của đất đai, của mồ hôi, nước mắt, cả máu nữa… Em Kim Ngân – người đoạt giải ba cuộc thi, viết: ” Mỗi chúng con là một Việt Nam, một Việt Nam trẻ. Và xin cha mẹ, thầy cô hãy tin, khi nhìn chúng con, bạn bè thế giới đã nhìn thấy tổ quốc mình với những gì giản dị nhất, sinh động nhất, tươi trẻ nhất”.

Hội thi “Chúng em kể chuyện tấm gương đạo đức Bác Hồ” do Trung ương Đoàn TNCSHCM tổ chức lôi cuốn hàng vạn thiếu niên, học sinh tham gia. Tại Hà Nội, có 4 thí sinh là công dân của 4 nước: Đức, Hàn Quốc, Trung Quốc và Bỉ. Bác Hồ trong câu chuyện của các em là người rất mực yêu thương, quý trọng thiếu nhi quốc tế; đi thăm nước nào, Bác cũng dành cho trẻ thơ sự quan tâm đặc biệt. Câu chuyện “Quả táo Bác Hồ” được các em kể có sức truyền cảm lạ kỳ.

Ở thành phố Hồ Chí Minh, Nam Định, Ninh Bình, Đồng Nai, Tây Ninh…, người lên kể chuyện tấm gương đạo đức Cụ Hồ là các chức sắc, tín đồ đạo Phật, đạo Thiên Chúa. Theo họ, Cụ Hồ cũng cao cả, thánh thiện, nhân ái, giàu đức hy sinh như Đức Phật Thích Ca, như Chúa Giêsu. Trong câu chuyện, họ trân trọng nhắc đến câu nói nổi tiếng của Bác Hồ về các đấng tối cao của các tôn giáo.

Ấm sáng những ngọn lửa

Một năm, chỉ là bước khởi đầu của con đường dài rộng. Tuy vậy, cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã đạt được một số kết quả quan trọng. Nhiều cán bộ, đảng viên và người dân hiểu rõ và đầy đủ hơn về tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; về vị trí, vai trò của đạo đức đối với sự phát triển của mỗi cá nhân, gia đình và xã hội; nhận rõ: Đạo đức là “gốc” của mỗi con người, nhất là người cách mạng; cần thường xuyên trau dồi, vun đắp để cái gốc đó ngày một vững vàng.

Ở Bệnh viện Đa khoa Đắc Nông, việc đầu tiên mà tập thể cán bộ, bác sĩ, nhân viên y tế ở đây thực hiện cuộc vận động là học lại, làm tốt hơn 12 điều y đức. Năm qua, bệnh viện tiến hành 3 đợt khám sức khoẻ cộng đồng, cấp thuốc miễn phí cho đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa và một số trạm biên phòng.

Tổ chức Đoàn Thanh niên ở đây thực hiện trên 300 ca mổ cho bệnh nhân nghèo là người già bị đục thuỷ tinh thể và trẻ em bị sứt môi, hở hàm ếch. Bệnh viện phối hợp với Hội Chữ thập Đỏ tỉnh, Uỷ ban Đoàn kết Công giáo tỉnh quyên góp tiền ủng hộ của các doanh nghiệp, cơ quan, người hảo tâm để lập tủ thuốc tình thương, bếp ăn tình thương. Tất cả số bệnh nhân thuộc diện 139 (theo Quy định của Chính phủ) vào bệnh viện được khám – chữa bệnh không mất tiền, được hưởng suất ăn miễn phí 12.000 đồng/người/ngày.

Khi được hỏi: Việc làm nào để lại ấn tượng sâu đậm nhất qua cuộc vận động, Giám đốc Bệnh viện, bác sĩ Nguyễn Mạnh Cường trả lời: Trong năm 2007, có 3 bệnh nhân khi được đưa đến viện đã ở trong tình trạng “thập tử nhất sinh”, người bị vỡ lá lách, người bị vỡ gan, lần khác là sản phụ bị băng huyết nặng sau khi sinh con. Cả ba lần, bệnh nhân đều cần tiếp một lượng máu lớn, trong khi người thân ở xa, chưa đến kịp.

Không chần chừ, một số bác sĩ, y sĩ có cùng nhóm máu với người bệnh đã tự nguyện hiến máu. Lại có những việc nhỏ, rất bình thường, nhưng nếu bệnh viện nào cũng làm được thì hiệu quả cuối cùng là không nhỏ. Đó là quy định: Bác sĩ, y tá, hộ lý không được nhận tiền nong, quà cáp của bệnh nhân khi họ đang khám, điều trị tại cơ sở y tế của mình; không được lạm dụng các xét nghiệm nếu thấy không cần thiết; công khai, minh bạch việc đấu thầu mua sắm trang thiết bị, xây dựng nhà cửa, kho tàng; không bố trí khu chữa bệnh bình dân gần khu chữa trị theo yêu cầu cho người có thu nhập khá, người giàu có…Bệnh viện Việt Đức, Bệnh viện Thanh Nhàn, Trường Đại học Y Hà Nội đi theo hướng này và đã tạo được bước chuyển đáng khen ngợi.

Ở thành phố Hồ Chí Minh, Ban Thường vụ Thành uỷ ban hành Chỉ thị 15 – CT/TU, gắn việc thực hiện cuộc vận động với phong trào Ba xây, ba chống: “Xây tác phong quần chúng – chống quan liêu, cửa quyền; xây tinh thần trách nhiệm – chống tham ô, nhũng nhiễu; xây ý thức cần kiệm – chống lãng phí, xa hoa”. Năm qua, khối cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong các ngành công an, hải quan, thuế, tài nguyên – môi trường đã có sự tiến bộ rõ về tác phong, lề lối làm việc, thái độ ứng xử, cải cách thủ tục hành chính.

Ban Chỉ đạo tỉnh Nghệ An gắn việc thực hiện cuộc vận động với nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh và các phong trào sôi nổi khác: Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư; xây dựng Quỹ Vì người nghèo; giúp đỡ nhân dân vùng bị thiên tai; thi đua lập thành tích kỷ niệm tròn 50 năm Ngày Bác Hồ về thăm tỉnh nhà. Huyện Nam Đàn – quê Bác, ngay từ năm 2004 đã xoá xong toàn bộ nhà tranh cho hộ nghèo, nay tiếp tục quyên góp giúp đỡ các địa phương miền núi.

Đảng bộ các cơ quan dân – chính – Đảng có 20 cơ quan, đơn vị và Đảng bộ khối doanh nghiệp bước đầu có 10 doanh nghiệp đăng ký giúp các xã nghèo của đồng bào dân tộc vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Sự giúp đỡ này bao gồm: Quyên góp tiền giúp đồng bào xoá nhà tranh; tham gia bồi dưỡng cán bộ cơ sở; chuyển giao tiến bộ khoa học, công nghệ; khảo sát đất đai, tiềm năng để xây dựng quy hoạch, kế hoạch sản xuất. Chỉ tính số tiền quyên góp ủng hộ người nghèo, xã nghèo; tu bổ nghĩa trang liệt sĩ; chăm sóc gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh… đã lên tới con số hàng chục tỉ đồng.

Ở Công ty Bảo Việt Nghệ An, mọi người bước vào cuộc vận động bằng nghĩ suy, hành động hết sức tự nhiên, giản dị: Thực hiện cuộc vận động, trước hết là cho doanh nghiệp, vì doanh nghiệp và cho mỗi cán bộ, nhân viên làm việc tại đây. Hình ảnh một doanh nghiệp mạnh, tiếng tăm thơm lành; hình ảnh những cán bộ, nhân viên tươi tắn, lịch thiệp, trung thực, hết lòng với mọi người… sẽ là sức hút mạnh mẽ với bất cứ khách hàng nào.

Qua một năm thực hiện tốt cuộc vận động, doanh thu của công ty đạt gần 55 tỉ đồng, tăng 13,2% so với năm trước. Mỗi tháng, mỗi cán bộ, nhân viên ở đây góp vào Quỹ xã hội, từ thiện ít nhất là 1 ngày lương. Năm 2007, công ty tiếp tục giữ vững danh hiệu Đơn vị thi đua xuất sắc của Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam. Có một doanh nghiệp khác ở tỉnh Quảng Bình – Công ty lâm công nghiệp Long Đại, qua thực hiện cuộc vận động cũng thu được kết quả đáng khích lệ.

Doanh thu cả năm của công ty đạt 91 tỉ đồng, vượt 42% kế hoạch, nghĩa vụ ngân sách vượt 75% kế hoạch, thu nhập người lao động đạt 1,9 triệu đồng/tháng, tăng 20% so với năm trước. Nguyễn Ngọc Sơn – Bí thư Đảng uỷ, Phó Giám đốc Công ty – cho biết: Công nhân chúng tôi học và làm theo tấm gương đạo đức của Bác, bắt đầu bằng các câu chuyện giản dị mà xúc động về Người. Chuyện “Ba chiếc balô” được anh em ở các tổ cơ động bảo vệ rừng hết sức tâm đắc và ghi nhớ.

Mỗi chuyến đi rừng dài ngày, anh em chuẩn bị tư trang, lương thực, thực phẩm và dụng cụ hỗ trợ kỹ càng hơn, kế hoạch chuyến đi được xây dựng chu đáo, thiết thực hơn. Các chuyện kể “Thời gian quý hoá lắm”, “Không có việc gì khó”, “Phải biết bảo vệ từng cành cây” thì ngay cả các cháu nhỏ, các bậc cao niên trong khu tập thể đều thuộc và có thể kể lại một cách mạch lạc, hào hứng. Khi được hỏi: Những tập thể, cá nhân nào đạt thành tích cao trong cuộc vận động, Giám đốc Trần Đức Bá trả lời không phút đắn đo: Là Trần Quang Đảm – Giám đốc Lâm trường Khe Giữa; Phan Thanh Sơn – công nhân Lâm trường Rừng Thông; Nguyễn Đăng Tiếng – Văn phòng công ty; Nguyễn Văn Tiếp – Xí nghiệp khai thác vận tải; Phan Mạnh Hùng – Xí nghiệp chế biến nhựa thông…

Mỗi ngày, lại có thêm những con người, sự việc như đã kể, gần gũi, thân thương lẫn trong muôn mặt đời thường. Ấy là lúc chúng ta thắp sáng một ngọn lửa. Ấy là lúc bên Người, ta toả sáng, ánh sáng giản dị, khiêm nhường.

Theo Nguyễn Thế Kỷ – Lao Động

bqllang.gov.vn