Thư viện

Lời dặn của Bác đã đi sâu vào hàng vạn trái tim

Chúng tôi về Nông trường Đông Hiếu vào một chiều cuối năm, Giám đốc Nông trường ông Thiếu Văn Anh tiếp chúng tôi thân tình và cởi mở, ông nói rất vui: “Cán bộ công nhân viên nông trường Đông Hiếu cũng như người dân Phủ Quỳ đang nô nức chuẩn bị lễ kỷ niệm lớn nhân 50 năm ngày Bác Hồ về thăm nông trường”.

Ngày ấy, về thăm Nông trường Đông Hiếu – một trong những lá cờ đầu trong sản xuất nông nghiệp của miền Bắc, Bác đã đi thăm các cơ sở sản xuất của nông trường, gặp gỡ nói chuyện thân tình với hơn một vạn cán bộ và nhân dân huyện Nghĩa Đàn.

Mọi người còn nhớ mãi lời dặn dò của Bác: “Mỗi một công nhân, mỗi một cán bộ cần đề cao tinh thần làm chủ, làm chủ nước nhà, làm chủ nông trường… Các nông trường có nhiệm vụ đoàn kết và tìm cách giúp đỡ đồng bào địa phương, vì vậy đồng bào địa phương cần đoàn kết với nông trường học tập cách lao động của nông trường xây dựng hợp tác xã cho tốt. Đời sống xã viên ngày càng ấm no, thế là XHCN”.

Đã 5 thập kỷ trôi qua, Nông trường Đông Hiếu cũng đã trải qua biết bao thăng trầm, vượt qua nhiều khó khăn thách thức vươn lên phát triển bền vững theo lời Bác dặn. Trong cơ chế nền kinh tế thị trường nghiệt ngã, cán bộ và công nhân viên đoàn kết phấn đấu không mệt mỏi gặt hái được nhiều thành tích đáng phấn khởi.

Qua việc chuyển đổi cơ chế mới, xóa bỏ quan liêu bao cấp, hiện nay nông trường thực hiện kinh doanh sản xuất bằng hình thức khoán đất cho người lao động. Với tổng diện tích quản lý 1.300 ha đã giao cho hơn 400 gia đình công nhân.

Đến năm 2010, tổng sản phẩm xã hội đạt hơn 400 tấn mủ cao su và gần 300 tấn cà phê, chưa kể các sản phẩm cam, mía và chăn nuôi… Ước đạt giá trị trên đất xấp xỉ hơn 22 tỷ đồng.

Nông trường đang tổ chức 8 đội sản xuất, trong đó nhiều đội làm kinh tế giỏi như đội Đồng Quang, với sản lượng kinh doanh cây cao su và cà phê gần 100 ha nhiều năm đạt và vượt chỉ tiêu.

Ông Nguyễn Xuân Lương, đội trưởng đội Đồng Quang cho biết: “Các gia đình công nhân trong đội Đồng Quang không còn gia đình nào nghèo đói mà phần đông là kinh tế khá giả. Ngoài nguồn thu từ cà phê, cao su còn có các khoản thu khác như trồng mía, chăn nuôi cũng ngót nghét 50 triệu đồng/năm”.

Chúng tôi đi tham quan khu vực sản xuất, trước mắt hiện ra những cánh rừng cao su xanh ngát, mênh mông, phía Bắc nông trường những vùng cà phê trĩu quả nối nhau hút tầm mắt.

Gặp ông Phan Minh Hảo, công nhân nông trường thuộc đội Đồng Quang, ông nói: “Trước đây, công nhân chúng tôi thích trồng cà phê. Cây cà phê trồng trên đất đỏ Phủ Quỳ thơm ngon ít nơi sánh kịp. Đến mùa thu hoạch, các thương gia từ Buôn Mê Thuột ra thu mua đưa vào Đắc Lắc, cà phê Đông Hiếu trở thành thương hiệu cà phê Tây Nguyên. Nhưng trồng cà phê không kinh tế bằng cây cao su. Tuy nhiên, trồng cao su vốn lớn hơn, nhưng hiện nay kinh tế gia đình đã khá hơn, các gia đình công nhân nhận đất khoán của nông trường đang chuyển hướng sang trồng cây cao su. Cây cao su có chu kỳ kinh tế kéo dài trên dưới 50 năm nhất định sẽ đem lại lợi nhuận kinh tế lớn hơn”.

Ông nói tiếp: “Hiện nay vấn đề người dân bức xúc là tại vùng trồng cà phê, cao su có nạn tranh mua cướp bán do một số đầu nậu ôm hàng. Đã lắm lúc xảy ra tranh chấp, xô xát phải gọi lực lượng công an tới mới giải quyết được…”.

Trao đổi về việc đảm bảo an ninh trật tự tại Đông Hiếu, lãnh đạo nông trường cho biết: “Để làm kinh tế tốt phải gắn liền với việc làm tốt công tác an ninh trật tự để bảo vệ cây trồng tại nông trường cho công nhân có điều kiện thâm canh. Chúng tôi thường xuyên mời Công an huyện về mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho anh em bảo vệ cũng như xây dựng lực lượng công nhân làm nhiệm vụ dân phòng. Biết kết hợp với Công an xã Đông Hiếu và Công an huyện để xây dựng mạng lưới đảm bảo ANTT, cũng như phát động người dân tự nguyện tố giác tội phạm thì địa bàn mới trong sạch, công nhân và nông dân mới yên tâm lao động sản xuất”.

Nhờ lấy dân làm gốc, địa bàn Nông trường Đông Hiếu gần đây đã đẩy lùi được tệ nạn trộm cà phê, cam và mủ cao su… Bên cạnh đó, nông trường còn tổ chức cho các gia đình công nhân cam kết với chính quyền địa phương “nói không với ma túy và các tệ nạn xã hội”. Nhờ vậy, tuy là trung tâm buôn bán thương mại nhưng khu vực Đông Hiếu hiện tại ANTT khá lành mạnh.

Dẫu biết rằng thời kỳ đất nước mở cửa, hội nhập kinh tế toàn cầu hóa, bên cạnh những thành tích đã đạt được, Nông trường Đông Hiếu vẫn còn những việc làm phải trăn trở với lời căn dặn của Bác trước lúc Người đi xa.

Lê Hoa

congannghean.vn

Một số bài học qua tác phẩm “sửa đổi lối làm việc”

(Nhân Dân) – Năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết cuốn “Sửa đổi lối làm việc”, tổng hợp và vạch rõ những căn bệnh bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân có thể làm ảnh hưởng đến uy tín và danh dự, thậm chí phá hỏng cả sự nghiệp vẻ vang của Ðảng ta.

Theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một Nhà nước do Ðảng Cộng sản lãnh đạo là Nhà nước kiểu mới, khác về bản chất và tổ chức so với Nhà nước của các giai cấp bóc lột. Ðó là Nhà nước của dân, do dân, vì dân và nhân dân là người chủ thực sự. Ðảng Cộng sản cầm quyền là lực lượng chính trị lãnh đạo Nhà nước cùng toàn thể xã hội. Ðảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Ðảng có trách nhiệm vạch ra đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn để lãnh đạo Nhà nước và nhân dân cùng thực hiện, nhưng đồng thời, Ðảng cũng phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về tất cả những kết quả đúng – sai, thành công – thất bại theo định hướng mà Ðảng đã đề ra.

Hiểu rõ bản chất và vai trò lãnh đạo của Ðảng nên từ năm 1947, Người đã viết cuốn Sửa đổi lối làm việc để xây dựng cách lãnh đạo và lề lối làm việc, làm cẩm nang cho cán bộ đảng viên trong điều kiện Ðảng cầm quyền. Sau khi tổng hợp và vạch rõ những căn bệnh bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân có thể làm ảnh hưởng đến uy tín và danh dự, thậm chí phá hỏng cả sự nghiệp vẻ vang của Ðảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ đảng viên, trước hết là lãnh đạo chủ chốt thật sự có đức, có tài, tiêu biểu cho trí tuệ,danh dự, lương tâm của Ðảng Cộng sản. Qua thực tiễn hoạt động và những thành quả cách mạng đã đạt được, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên một số bài học mà chúng ta cần nghiêm túc nghiên cứu, áp dụng sáng tạo trong hoàn cảnh Ðảng ta đang kiên trì và nghiêm túc thực hiện nhiệm vụ then chốt là xây dựng Ðảng, vững mạnh trên cả ba mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức.

1- Có cán bộ tốt, việc gì cũng xong:

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém. Ðó là một chân lý nhất định”. Ngay từ khi chính quyền cách mạng nhân dân được thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời những nhân sĩ, học giả, trí thức của xã hội cũ ra làm việc và tham gia vào công tác chính quyền. Tất cả những ai có chuyên môn, cần dùng vào lĩnh vực nào nếu có nhiệt tâm đều được trọng dụng. Bên cạnh việc đào tạo và rèn luyện đội ngũ cán bộ cần kiệm liêm chính, chí công vô tư làm công bộc cho dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi các ngành các cấp và địa phương tìm và tiến cử nhân tài để kiến quốc. Nhờ sự góp sức đồng lòng của toàn dân, toàn quân mà cuộc kháng chiến trường kỳ của ta thắng lợi vẻ vang và sự nghiệp cách mạng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Ðảng từng bước phát triển bền vững. Ngày nay, các thế hệ cán bộ của chúng ta được đào tạo cơ bản, đầy đủ, chính quy với số lượng đông đảo thường xuyên nhưng thực tế chất lượng cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, không ít cán bộ lãnh đạo sa vào tham nhũng, lãng phí, quan liêu khiến nhân dân bất bình, giảm lòng tin. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Trong các ngành hoạt động của chúng ta, nào chính trị, kinh tế, nào quân sự, văn hóa, chắc không thiếu những người có năng lực, có sáng kiến như A. Nhưng vì cách lãnh đạo của ta còn kém, thói quan liêu còn nồng cho nên có những người như thế cũng bị dìm xuống, không được cất nhắc. Muốn tránh khỏi sự hao phí nhân tài, chúng ta cần phải sửa chữa cách lãnh đạo. Thí dụ: Bắt buộc cán bộ trong mỗi ngành phải thiết thực báo cáo và cất nhắc nhân tài”.

2- Chính sách thì đúng, cách làm thì sai:

Những đường lối, chính sách của Ðảng và Nhà nước ban hành hoàn toàn đúng, nhưng xuống đến các địa phương thì bị thực hiện sai lệch hoặc thực hiện không đến nơi đến chốn, đánh trống bỏ dùi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận xét nguyên nhân của sự việc là vì chúng ta không xét đến nguyên nhân cơ bản: trách nhiệm và năng lực của những người thi hành chính sách, một điều rất đơn giản: “Tức là vô luận việc gì, đều do người làm ra, và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả”. Như vậy, những người cụ thể điều hành và chỉ đạo chính sách thực tế ở cơ sở cũng quan liêu, không kiểm tra, kiểm soát sát sao, mà cũng có thể do chủ quan, kế hoạch không ăn khớp với hoàn cảnh, lý thuyết áp dụng chéo chân, cốt lấy thành tích cho xong chuyện, kết quả là công sức, tiền của, chất xám, thời gian đổ vào đầu tư đều phí phạm. Thí dụ, khẩu hiệu dạy tốt – học tốt của ngành giáo dục. Chủ trương thì đúng nhưng thực tế là rất nhiều trường chạy đua lấy thành tích cao, lấy tiếng trường điểm nên đối phó, nâng điểm, chữa điểm, dễ dãi trong thi cử và ghi học bạ theo yêu cầu cho nên học sinh mất gốc, giáo viên biến chất. Thậm chí tại một trường PTTH chuẩn của thành phố Hà Nội, người ta còn sửa điều cuối trong 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên, nhi đồng thành: Tăng cường rèn luyện sức khỏe để phục vụ cho phong trào thể dục thể thao nhà trường! Ngoài ra, một số địa phương cũng chạy theo thành tích, tất cả vì thành tích và danh hiệu cho nên thi đua ồ ạt, đã thiếu kinh nghiệm lại thêm nóng vội kết quả cố đấm ăn xôi, xôi lại hỏng. Cũng vì thế nên Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Bất kỳ việc gì, chúng ta phải bắt đầu từ gốc, dần dần đến ngọn, từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, chớ nên tham mau, tham nhiều trong một lúc”.

3- Phải nâng cao sáng kiến và lòng hăng hái:

Trong tiến trình phát triển của cách mạng nước ta, trải qua các cuộc kháng chiến trường kỳ anh dũng, chúng ta đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu và sản xuất, phát huy nhiều sáng kiến và khích lệ tinh thần hăng hái cống hiến của quân và dân ta. Trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì dường như những sáng kiến và sự hăng hái không bằng thời kỳ trước. Cũng có nhiều cá nhân và tập thể doanh nghiệp đưa ra nhiều công trình, phát minh trong lĩnh vực khoa học, công nghệ vì nhu cầu thực tế và phát triển kinh doanh nhưng trong các cơ quan hành chính sự nghiệp thì phần nhiều ý tưởng tự phát chứ chưa phải tự giác. Muốn phát huy được sáng kiến và lòng hăng hái thì phải đầu tư điều kiện phát triển về cả tinh thần và vật chất mà trong đó, như Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch rõ rằng, chính cách lãnh đạo không được dân chủ và công tác tư tưởng không được tích cực là nguyên nhân cản trở sáng kiến và làm nguội nhiệt tình. Hiện tượng này cụ thể là: “Ðối với những người lãnh đạo, các đảng viên và các cán bộ dù có ý kiến cũng không dám nói, dù muốn phê bình cũng sợ, không dám phê bình. Thành thử cấp trên với cấp dưới cách biệt nhau… Trên thì tưởng cái gì cũng tốt đẹp. Dưới thì có gì không dám nói ra”. Chính vì những ấm ức, bức xúc để bụng nên cán bộ không thoải mái hăng hái đưa ra sáng kiến, họ sẽ dùng nhiều thời gian vàng ngọc xả bớt những chán nản dồn nén, sinh ra hiện tượng không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng và nhiều thói xấu khác nữa. Ðể giải quyết triệt để hiện tượng này thì cấp trên cũng nên thỉnh thoảng trưng cầu ý kiến phê bình của cấp dưới và đồng thời người lãnh đạo: “Phải biết cách phê bình sáng suốt, khôn khéo, như chiếu tấm gương cho mọi người soi thấu những khuyết điểm của mình, để tự mình sửa chữa”. Khi đã thoải mái, hăng hái rồi ắt sẽ có sáng kiến. Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng cho rằng hai chữ sáng kiến không nên sử dụng một cách mênh mông không thiết thực, chỉ nêu ra để đấy hoặc không khả thi, làm không mang lợi chỉ thêm tốn tiền của công sức tập thể sẽ trở thành tối kiến. Chúng ta cũng nên xác định rằng: “Sáng kiến không phải cái gì kỳ lạ. Nó chỉ là kết quả của sự nghiên cứu, suy nghĩ trong những hoàn cảnh, trong những điều kiện rất tầm thường, rất phổ thông, rất thiết thực”. Cách hữu hiệu nhất để phát huy sáng kiến và lòng hăng hái là mở rộng dân chủ, khuyến khích cán bộ đảng viên ham học hỏi, nghiên cứu sáng tạo và lãnh đạo cần phải khen ngợi đúng người đúng việc.

Ðại hội toàn quốc lần thứ X của Ðảng đã thống nhất quyết tâm tạo chuyển biến rõ rệt về công tác xây dựng Ðảng, để Ðảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đoàn kết nhất trí, gắn bó mật thiết với nhân dân, có phương thức lãnh đạo khoa học, có đội ngũ cán bộ đảng viên đủ phẩm chất và năng lực. Chính vì vậy, trong giai đoạn cách mạng quan trọng này, chúng ta càng phải đi sâu nghiên cứu những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh để áp dụng vào quá trình đổi mới và hội nhập, đặc biệt là một số bài học trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc của Người sẽ giúp cán bộ đảng viên càng hiểu rõ trách nhiệm của mình, ra sức rèn luyện và phấn đấu để: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Ðảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

haugiang.gov.vn

“Trồng cây” và “trồng người” theo lời Bác Hồ dặn

Bác Hồ trồng cây đa tại xã Vật Lại, Ba Vì, Hà Nội, mùa xuân 1969.

(TCTG) – Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây; Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”, và không chỉ quan tâm đến việc “trồng cây” để “ích nước lợi nhà”, Người còn luôn quan tâm đến việc “trồng người” – đó là chăm lo, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau.

1. Vì lợi ích mười năm – phải “trồng cây”

Hiểu rõ sự gắn bó mật thiết giữa con người với môi trường sống, nên Bác Hồ đặc biệt quan tâm tới việc “trồng cây gây rừng” và Người luôn coi đây là một trong những vấn đề chiến lược, góp phần quan trọng vào việc nâng cao đời sống và bảo vệ cuộc sống của nhân dân. Trồng cây theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngoài việc để nhân dân chuẩn bị lấy gỗ làm nhà ở, để sản xuất, v.v..còn có một ý nghĩa thiết thực là bảo vệ môi trường tự nhiên.

Ngày 28-11-1959, Người viết bài Tết trồng cây và “đề nghị tổ chức một ngày Tết trồng cây” để thiết thực “lấy thành tích chúc mừng Đảng 30 mươi tuổi”. Người từng nói: trồng cây “tốn kém ít mà ích lợi nhiều”, cho nên “tất cả nhân dân miền Bắc mỗi người phụ trách trồng một hoặc vài ba cây và săn sóc cho tốt” và “mỗi Tết trồng được độ 15 triệu cây”, thì sau mươi năm, “nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp hơn, khí hậu sẽ điều hoà hơn, cây gỗ đầy đủ hơn. Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân ta”. Sáng 6/1/1960, Lời kêu gọi toàn dân hưởng ứng một tháng Tết trồng cây của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng được đăng trên báo Nhân dân và một số tờ báo khác, trong đó, Người kêu gọi mỗi người hãy trồng ít nhất một cây và phải chăm sóc tốt. Đợt trồng cây này gọi là Tết trồng cây và là Tết trồng cây đầu tiên do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động. Mùa xuân năm sau, ngày 5-2-1961, Người trồng cây ở Vườn hoa Thanh niên cùng các đại biểu dự Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Lao động thành phố Hà Nội. Ngày 20-2-1961, về thăm Pác Bó (Cao Bằng) sau hai mươi năm xa cách, sau khi dự cuộc mít tinh của nhân dân Huyện Hà Quảng tổ chức bên bờ suối Pác Bó, thăm một số gia đình có công với cách mạng, thăm lại hang Cốc Bó, Người trồng một khóm trúc bên bờ suối làm kỷ niệm…

Không chỉ viết về Tết trồng cây, Người còn nhấn mạnh rằng: Trồng cây phải là một kế hoạch kinh tế lâu dài và liên tục của Nhà nước. Trên tinh thần đó, để trồng cây đạt hiệu quả thiết thực chứ không chỉ là phong trào, thì các cấp bộ, ngành “phải có kế hoạch, có hướng dẫn, tìm thêm hạt, ươm thêm giống… phải làm đúng khẩu hiệu “trồng cây nào tốt cây ấy”(1), để “phong cảnh của ta cũng thật sự là non sông gấm vóc, tươi đẹp vô cùng”. Không chỉ có vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ rõ: muốn cho Tết trồng cây trở thành một tục lệ tốt đẹp trong đời sống tinh thần của nhân dân ta, trở thành một nét đẹp truyền thống mỗi dịp đầu xuân, theo Người: “Tết trồng cây cũng như mọi việc khác, các cấp uỷ Đảng phải lãnh đạo cụ thể và chặt chẽ thì sẽ thành công”(2). Tuy nhiên, trong khi thường xuyên nhắc nhở chính quyền, đoàn thể các cấp phải “khéo vận động” nhân dân trồng cây để lấy gỗ làm nhà, làm củi đun, Người cũng không quên nhấn mạnh: tất cả mọi người đều phải lo “bảo vệ rừng, cấm phá rừng” để bảo vệ môi trương sinh thái, chắn gió bão, chống xói mòn, lụt lội…Theo lời Người, điểm đặc biệt là phong trào “trồng cây” sẽ thu hút tất cả mọi người – từ các cụ phụ lão đến các em nhi đồng đều có thể hăng hái tham gia, thì phong trào “bảo vệ rừng, cấm phá rừng” cũng sẽ thu hút được sự tham gia của toàn xã hội.

Tiếp đó, cứ mỗi dịp xuân về, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại dành thời gian trồng cây ở Hà Nội và các địa phương, và viết bài cổ vũ cho Tết trồng cây. Trong những năm đồng bào miền Nam còn đang phải đấu tranh để tiến hành cuộc cách mạng giải phóng, Người từng nhắc: mỗi cây chúng ta trồng ở miền Bắc không chỉ có ý nghĩa với riêng miền Bắc, mà là “trồng cây cho cả đồng bào miền Nam nữa”. Trước Tết Kỷ Dậu 1969, Người đã viết bài báo cuối cùng về Tết trồng cây, đăng báo Nhân dân ngày 5-2-1969. Trong đó, Người kêu gọi: “Năm nay, chúng ta thi đua trồng cây cho thật tốt, phải đảm bảo trồng cây nào tốt cây ấy, tổ chức “một Tết trồng cây quyết thắng giặc Mỹ xâm lược”. Ngày mồng một Tết Nguyên đán năm 1969, như bao xuân trước, mặc dù không được khoẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn đi thăm cán bộ chiến sĩ Quân chủng phòng không không quân tại sân bay Bạch Mai. Buổi trưa cùng ngày, Người đi thăm, chúc Tết nhân dân và trồng cây đa khai xuân cuối cùng trên đồi Vật Lại, Ba Vì, Hà Tây.

Từ khi chuẩn bị phát động Tết trồng cây, cho đến khi qua đời (1959-1969), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết nhiều bài về Tết trồng cây, cổ động nhân dân tích cực tham gia phong trào trồng cây, góp phần bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường và bản thân Người cũng trồng nhiều cây. Gần 43 năm sau khi Người ra đi và 53 năm sau bài viết đầu tiên của Người có nội dung về Tết trồng cây, phong trào Trồng cây đầu xuân theo tinh thần “Mùa xuân là Tết trồng cây, làm cho đất nước càng ngày càng xuân” như Người mong muốn và phát động, đã mang lại những lợi ích thiết thực về môi sinh, môi trường. Biết bao cây non nhân dân ta và chính Người trực tiếp đã trồng trong những Tết trồng cây mỗi dịp đầu xuân đang trường tồn cùng thời gian, làm đẹp thêm cho làng quê, cho công viên, đường phố, để đất nước Việt Nam 4 mùa đều tươi xanh.

2. Vì lợi ích trăm năm – phải “trồng người”

Cùng với “trồng cây”, với tầm nhìn xa trông rộng của một vĩ nhân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm chiến lược “trồng người”. Từng nói: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”(3), nên Người chỉ rõ sự cần thiết phải chăm lo, bồi dưỡng thế hệ trẻ (thanh niên, thiếu niên, nhi đồng), để phục vụ sự nghiệp cách mạng. Ngay từ năm 1925, khi còn đang bôn ba nơi hải ngoại, Hồ Chí Minh khi đó là Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Hỡi Đông Dương đáng thương hại, Người sẽ chết mất, nếu như đám thanh niên già cỗi của người không sớm hồi sinh”. Và khi về đến Quảng Châu – Trung Quốc, Người đã xúc tiến thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (6-1925), tập hợp những thanh niên Việt Nam yêu nước vào một tổ chức thống nhất, giáo dục đạo đức cách mạng và trang bị cho họ những nguyên lý về Đảng, về các tổ chức, các đoàn thể, về phương pháp đấu tranh cách mạng,v.v.. của chủ nghĩa Mác – Lênin, và lựa chọn những hạt nhân cốt cán trong thanh niên vào Cộng sản đoàn; ra báo Thanh Niên làm phương tiện tuyên truyền hữu hiệu… Hơn 20 năm sau, lớp thanh niên yêu nước được Người chăm lo bồi dưỡng, trở thành đội ngũ cán bộ cốt cán đó đã góp sức làm nên thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Tháng Tám năm 1945.

Tuy nhiên, hành trình đi đến một nước Việt Nam độc lập, tự do, hòa bình và thống nhất còn đầy gian truân, thử thách, đòi hỏi Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và toàn dân ta phải từng bước vượt qua khó khăn về mọi mặt. Trọng trách mới đặt lên vai thế hệ trẻ Việt Nam những yêu cầu mới khi đất nước vừa giành được độc lập, tự do đã phải bước vào cuộc chiến tranh nhân dân trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Bởi vậy, dù bộn bề công việc quốc gia, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn thường xuyên quan tâm vấn đề giáo dục trí lực, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; nắm vững khoa học kỹ thuật; bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, nâng cao trình độ lý luận Mác-Lênin, đặc biệt là việc giáo dục đạo đức cách mạng cho thế hệ trẻ, giúp họ có đầy đủ những điều kiện để trở thành người công dân tốt, người chủ tương lai xứng đáng của đất nước.

Coi đạo đức là cái gốc của người cách mạng, Người yêu cầu: Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Tuy nhiên, “đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”(4), nên yêu cầu mỗi thanh niên phải thường xuyên trau dồi đạo đức cách mạng để trở thành người cách mạng chân chính. Không phải ngẫu nhiên, tại buổi lễ khai mạc Trường Đại học Nhân dân Việt Nam, ngày 19-1-1955, Người lại nói: “Nhiệm vụ của thanh niên không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì. Mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà?”. Theo Người, thanh niên cần phải chống tâm lý tự tư, tự lợi, chỉ lo lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình; chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc, chống thói xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay; chống lười biếng, xa xỉ; chống kiêu ngạo, giả dối, khoe khoang, vì đó là những thói xấu kìm hãm chí tiến thủ của thanh niên. Và Người dạy thanh niên phải luôn luôn trau dồi đạo đức cách mạng, khiêm tốn và giản di, chống kiêu căng, tự mãn, lãng phí, xa hoa, phải thực hành tự phê bình và phê bình nghiêm chỉnh để giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Quan tâm đến vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ, đặc biệt là giáo dục đạo đức tại các nhà trường, Người còn phát biểu: “Tôi xem chương trình giáo dục cho đến hết lớp 10, phần đức dục rất thiếu sót, chỉ có mười dòng”(5), và sau đó chỉ rõ: “Nội dung giáo dục cần chú trọng hơn nữa về đức dục”(6) và “không ngừng bồi dưỡng đạo đức cách mạng”.

Khẳng định vị thế của thanh niên một cách toàn diện, thấy rõ thanh niên “là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai”, Hồ Chí Minh yêu cầu, đòi hỏi thanh niên phải tự giác rèn luyện, không ngừng học tập, gương mẫu xung phong trong mọi công việc. Cũng theo Người, thanh niên chỉ có thể là những người thừa kế sự nghiệp cách mạng của cha anh một cách vững vàng, nếu họ là những người có tài và có đức, được rèn luyện và trưởng thành trong thực tiễn. Vì thế, đức và tài, phẩm chất và năng lực phải được kết hợp hài hòa, cân đối và toàn diện, để mỗi thanh niên có thể tự phấn đấu hoàn thiện mình, hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang mà Tổ quốc và nhân dân giao phó.

Trăn trở về chiến lược “trồng người”, trước khi đi xa, trong bản Di chúc lịch sử, Người căn dặn: “Đoàn viên thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”(7).

3. Tiếp tục thực hiện những lời dạy của Người về “trồng cây” và “trồng người”

Người đã đi xa, nhưng thực hiện tư tưởng và khát vọng của Người, một đất nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất vẫn kiên định mục tiêu: Độc lập dân tộc và CNXH mà Người và Đảng ta đã chọn. Cũng như Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời, trong bao năm qua, Đảng và Nhà nước không chỉ quan tâm đến việc “trồng cây” mỗi dịp xuân về, trồng cây trong kế hoạch phủ nhanh đồi trọc, bảo vệ môi sinh, môi trường, thiết thực phát triển kinh tế, chống biến đổi khí hậu, v.v.. mà còn đặc biệt quan tâm đến việc “trồng người”. Cùng với việc khẳng định: “Sự nghiệp đổi mới thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường XHCN hay không, phần lớn phụ thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên; công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng”, các văn kiện Đại hội Đảng, các Nghị quyết và gần đây nhất là Văn kiện của Đảng tại Đại hội lần thứ XI (1-2011) đã nêu rõ quan điểm “đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội”(8) để xây dựng nên những con người Việt Nam có nhân cách, có lý tưởng, trí tuệ, đạo đức, lòng tự tôn dân tộc (9).

Tiếp tục Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị, và ghi nhớ lời Người căn dặn, tuổi trẻ cả nước với tinh thần: “Không có việc gì khó; Chỉ sợ lòng không bền; Đào núi và lấp biển; Quyết chí ắt làm nên” đã phát huy truyền thống của đoàn viên, thanh niên Việt Nam, không chỉ luôn rèn chí, nỗ lực luyện tài, mà còn sôi nổi hưởng ứng phong trào Tết trồng cây mỗi dịp Xuân về, tham gia tích cực vào các phong trào Giờ Trái đất (tiếng Anh: Earth Hour) – một sự kiện quốc tế hàng năm do Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (World Wildlife Fund) tổ chức; trồng cây xanh và nhặt rác trên bờ biển; Cuộc thi sáng tác phim ngắn về Biến đổi khí hậu dành cho sinh viên do Báo Sinh Viên Việt Nam và Phái đoàn Liên minh Châu Âu (EU) tại Việt Nam tổ chức nhằm hưởng ứng Chương trình “Những ngày châu Âu 2011”… nhằm tích cực bảo vệ trái đất trước vấn đề tác động của hiệu ứng nhà kính và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.

Cùng với thời gian, những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “trồng cây” và “trồng người” lúc sinh thời vẫn còn nguyên giá trị thời sự. Từ những gì Người trăn trở, những điều đã nói và cả những việc Người đã làm tận tâm, tận lực, có thể thấy rõ rằng: trước những thách thức mới của thiên nhiên, việc trồng cây, gây rừng, bảo vệ cây, bảo vệ rừng… phải trở thành ý thức thường trực của mỗi người dân, để cây xanh không chỉ làm cho đất nước tươi đẹp, mà còn thiết thực xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế. Đồng thời, trước những yêu cầu mới của xu thế toàn cầu hóa và hội nhập, việc nâng cao tri thức, trình độ về mọi mặt và giáo dục rèn luyện đạo đức cách mạng cho thế hệ thanh niên thời đại Hồ Chí Minh “vừa hồng vừa chuyên” không chỉ là thiết thực thực hiện tâm nguyện của Người, làm theo tấm gương của Người, mà đó còn là một trong những nhiệm vụ cấp bách, quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, và toàn quân ta vì một nước Việt Nam: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh trong hành trình phát triển./.

TS. Văn Thị Thanh Mai

(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.10, tr.110
(2) Báo Nhân dân, số 2839, ngày 30-12-1961
(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr. 167
(5) Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, Nxb. CTQG, H, 1996, t. 8, tr.105
(6) Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, Sđd, t. 8, tr. 444
(7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2000, t.12, tr.510
(8), (9) , Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, H, 2011, tr. 216, 126

Theo Tạp chí Tuyên giáo
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Học tập phong cách sống giản dị và tiết kiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh chăm vườn rau muống trong khu Phủ Chủ tịch (6-1957). ( Ảnh: Ảnh tư liệu )

Tấm gương đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, một lòng vì dân, vì nước, cùng với tính giản dị vĩ đại và sự khiêm tốn cao độ của Người được cả thế giới ca ngợi và khâm phục.

Con người Hồ Chí Minh, từ lúc làm một thợ ảnh bình thường ở ngõ hẻm Compoint nước Pháp đến khi làm Chủ tịch nước Việt Nam, vẫn sống một cuộc đời thanh bạch, giản dị, tao nhã từ câu nói, tác phong đến vật dụng, tư trang hàng ngày, từ bữa ăn đến cách sống hòa mình với nhân dân.

Thời kỳ hoạt động cách mạng ở Pác Bó (Cao Bằng), lãnh tụ Hồ Chí Minh cũng như các đồng chí khác phải ăn cháo bẹ, rau măng ròng rã. Khi đi công tác, ngoài những đồ đạc cần thiết mang theo, Người cho làm món thịt rang mặn Việt Minh theo công thức một thịt – một muối – một ớt. Như vậy đi tới đâu chỉ cần thổi cơm, tìm thêm rau xanh nấu canh, rồi bỏ “thịt” của nhà ra ăn là xong bữa. Cách nấu nướng như vậy rất tiện, cần nghỉ chỗ nào cũng được, khỏi phải vất vả mua bán ở dọc đường, lại tiết kiệm.

Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, trở về Thủ đô Hà Nội làm việc ở Bắc Bộ Phủ, Bác cùng ăn cơm gạo đỏ, muối vừng với anh em văn phòng, bảo vệ, lái xe… mà không có sự ưu tiên nào khác. Tháng 6-1946, Bác sang thăm Pháp với tư cách khách mời của Chính phủ Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh ở khách sạn, nhưng ngủ trên sàn, ăn sáng vào lúc sáu giờ, và tự giặt quần áo… Các đồng chí cùng đi thấy ngạc nhiên vì giữa thủ đô Pa-ri hoa lệ mà Bác vẫn giữ những thói quen ở trong nước. Nhưng sau đó thì ai cũng hiểu rằng, Bác muốn cho tất cả cùng theo Bác để tự kiềm chế mình trước mọi cám dỗ của cuộc sống xa hoa. Ðồng thời, Bác cũng nhắc nhở mọi người rằng, nước ta còn nghèo, mà cái nghèo thì không phải dễ dàng nhanh chóng khắc phục, còn phải chịu đựng nó lâu dài, vậy thì sống giản dị, tiết kiệm là thói quen tốt, cần rèn luyện thường xuyên. Sự giản dị, phong thái ung dung ấy của Bác bắt nguồn từ một thế giới quan và nhân sinh quan cách mạng. Nó kết hợp nhuần nhị những nét cao đẹp của tính cách dân tộc với đạo đức cộng sản. Nó có sức thu hút mạnh mẽ tình cảm mọi người và qua đó Bác càng trở nên vĩ đại.

Quay lại chiến khu, nơi chở che cho Bác suốt những năm dài kháng chiến trên chiến khu Việt Bắc, là mái lán đơn sơ của cây rừng Việt Nam. Vượt qua những gian nan thiếu thốn, ở nơi đâu Bác cũng tạo nên một không khí bình thản, tự tại, một cuộc sống đầm ấm tình đồng chí. Lán của Bác ở, diện tích bằng khoảng hai chiếc chiếu, được làm bằng vật liệu sẵn có chung quanh như tre, luồng hoặc nứa, đủ cho Bác kê chiếc bàn nhỏ làm việc. Vật dụng trong lán chỉ có một chiếc ghế bằng gỗ tạp đủ để cái máy chữ, vài cuốn sách, tài liệu cần thiết, những thứ đồ dùng vặt như bút giấy, hòn đá cuội luyện gân tay… Di chuyển đến bất kỳ địa điểm nào, Bác cũng trồng rau, nuôi gà để cải thiện cuộc sống kham khổ.

Cuối năm 1953, được tin quân và dân miền Nam thắng trận ở U Minh, Ðồng Tháp Mười, Tây Nguyên, Bác quyết định mở tiệc khao quân bằng món thịt gà luộc (được chặt ra làm 20 miếng đều nhau vừa đủ số người trong cơ quan), canh cải xanh, rau muống xào tỏi, xôi nếp, cơm tẻ đều là sản phẩm cơ quan tăng gia.

Kháng chiến thắng lợi, trở về Thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh không ở trong ngôi nhà Toàn quyền cũ vì tự nhủ mình là Chủ tịch một nước nghèo, chưa có quyền hưởng thụ. Bác quyết định chọn cho mình ngôi nhà của một người thợ điện, nơi mà mùa hè thì nhiệt độ cao hơn hẳn chung quanh, thiếu ánh sáng. Năm 1958, Trung ương quyết định xây nhà cho Bác, nhưng Bác đề nghị chỉ nên làm một căn nhà nho nhỏ theo kiểu nhà đồng bào dân tộc ở Việt Bắc, giống như ngôi nhà Người đã từng ở trong những năm kháng chiến.

Khác hẳn với công trình kiến trúc đồ sộ, bề thế như Phủ Chủ tịch và các ngôi nhà xây dựng bằng những nguyên liệu bền vững như sắt, thép, xi-măng,… trong khu vực, ngôi nhà sàn của Bác được xây dựng bằng gỗ dổi bình thường, hai tầng, chung quanh có mành che, tầng dưới để thoáng. Tầng trên chỉ có những đồ dùng rất quen thuộc: chiếc giường đơn trải chiếu cói, cái tủ nhỏ, bộ bàn ghế, trên bàn để đèn, lọ hoa, chiếc máy thu thanh, cái quạt nan, mấy quyển sách. Trước nhà là một vườn hoa nhỏ, trồng nhiều loại hoa thơm. Phía ngoài là hàng rào dâm bụt gợi nhớ hình ảnh quê hương Nghệ An, nơi Bác sinh ra và lớn lên. Trong hồ nước trước nhà sàn, Bác nuôi cá vừa cải tạo môi trường sống trong lành, cải thiện bữa ăn hàng ngày, vừa là một cách thư giãn thú vị sau giờ làm việc. Nhà sàn của Bác hòa hợp với thiên nhiên là thế đấy! Nó tạo ra nét bình dị gần gũi với mọi người dân Việt Nam ở khắp mọi miền Tổ quốc.

Không chỉ nơi ở đơn sơ, đồ dùng sinh hoạt hàng ngày của Bác cũng thật giản dị. Ðôi dép cao-su, Bác dùng đến mòn vẹt phải đóng đinh bao lần, đã theo Bác trên những nẻo đường Pác Bó, Ðiện Biên, trở về Thủ đô Hà Nội rồi lại theo Người đi thăm các nước anh em. Ðôi dép đã góp phần tạo nên huyền thoại về một vị Chủ tịch nước dân chủ nhất thế giới như lời báo chí Ấn Ðộ đã từng ca ngợi. Rồi bộ quần áo lụa nâu, bộ quần áo ka-ki, đôi tất vá đến hai, ba lần. Chỉ khi đi ra nước ngoài Bác mới mặc áo sơ-mi và mới đồng ý may bộ quần áo dạ đen.

Quen nếp sống giản dị, đồ ăn thức uống của Bác cũng không cầu kỳ. Bác dạy cán bộ rằng, tiết kiệm của cải tức là quý trọng sức lao động của con người. Nếu làm ra mà tiêu phí, ăn xài hết thì việc lao động đó không có ý nghĩa, không thể làm được việc gì lớn. Bữa ăn thường ngày của Bác trong Khu Phủ Chủ tịch cũng không quá ba món: Một bát canh, một món xào hoặc thịt luộc, cá quả hoặc cá bống kho gừng và không thể thiếu hương vị quê nhà là cà dầm tương hoặc đường ớt. Quý trọng công sức của nhân dân, trong bữa ăn, Bác không bao giờ để thừa, lãng phí. Ðặc biệt, bữa ăn, Bác thường tự mình sắp xếp gọn gàng bát đĩa trên bàn để các đồng chí phục vụ đỡ vất vả khi thu dọn. Khi đi thăm các địa phương, Bác bảo anh em phục vụ chuẩn bị cơm mang theo, hễ lúc nào thuận tiện thì dừng lại ăn cơm. Với Bác, thăm các địa phương, đơn vị là để nắm tình hình thực tế và góp ý, nhắc nhở về các công việc, chứ không phải xuống dự tiệc tùng, gây tốn kém. Có tỉnh nọ, mặc dù đã được báo trước là Bác có mang cơm theo, nhưng vẫn sắm sửa cỗ bàn thịnh soạn. Khi được mời, Bác kiên quyết không ăn mà còn phê bình rất nghiêm khắc.

Có thể dẫn ra nhiều câu chuyện về cách ăn uống tiết kiệm của Bác, thậm chí vào dịp liên hoan chào mừng Ngày thành lập Ðảng cũng chỉ có bát cơm, món xào, tô canh và đĩa cá. Bác thường nói khi mời cơm khách: “Chủ yếu là thật lòng với nhau”. Trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc năm 1965, Bác cương quyết đề nghị nhà bếp cho ăn cơm độn ngô như tất cả những người dân khác.

Trong tình hình kinh tế, chính trị của ta hồi đó, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh hoạt bình thường như cán bộ và nhân dân chứng tỏ Bác hiểu rất rõ, rất sát tình hình đời sống vật chất của nhân dân và cán bộ, đồng thời thể hiện tấm lòng chân thành của Bác, tấm lòng của một lãnh tụ muốn cùng chịu gian khổ với dân. Nhận xét về nếp sống giản dị của Bác, một tờ báo Pháp đã viết: “Sự ăn ở giản dị đến cực độ, như một nhà ẩn sĩ, đó là một đức tính rõ rệt nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một tuần lễ ông nhịn ăn một bữa, không phải là để hạ mình cho khổ sở, mà là để nêu một tấm gương dè xẻn gạo cho đồng bào đặng làm giảm bớt nạn đói trong nước. Hết thảy mọi người chung quanh đều bắt chước hành động đó của ông…”.

Như vậy, nếp sống giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đơn thuần là tiết kiệm mà mang ý nghĩa rất cao đẹp. Người tiết kiệm nhưng không ki bo, keo kiệt, không lãng phí, phô trương. Ngày 15-7-1969, Charles Fournio – nhà báo Pháp cuối cùng được phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chứng kiến và kể rằng: “Khi nghe nói đến những dự kiến tổ chức mừng thọ Người 80 tuổi (vào ngày 19-5 sang năm), Hồ Chủ tịch đã tỏ ý không tán thành tất cả mọi biểu hiện chú ý đặc biệt đến Người và nói rõ là không được bày vẽ gì nhân dịp này, chừng nào còn cần thêm tiền để làm nhà trẻ, trường học, bệnh viện và thư viện”.

Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị, để học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên cần rèn luyện, tu dưỡng mình, việc tưởng dễ nhưng lại rất khó. Dễ vì cách sống của Bác rất bình thường, đơn giản nếu quyết tâm thì ai cũng làm được. Còn khó vì nếu không có tâm trong sáng, không có chí hướng, không có nghị lực, không có lòng yêu thương con người thật sự thì không thể làm theo Bác Hồ được.

Xã hội ngày nay đã phát triển hơn nhiều so với thời kỳ đất nước trong chiến tranh và bao cấp, mức sống chung của người dân đã được nâng lên rõ rệt. Nên dù không cần phải đi dép cao-su, mang cơm nắm khi đi công tác như Bác Hồ, thì mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta cũng không nên lãng phí, xa hoa, tiệc tùng, tiêu hoang công sản khi thi hành nhiệm vụ, gây phản cảm cho dư luận và tạo dựng hình ảnh xấu trong nhân dân. Vì vậy, thiết nghĩ để việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thật sự có kết quả thì mỗi chúng ta đều phải tự giác, tích cực điều chỉnh từ cách sống tiết kiệm và giản dị hàng ngày.

Theo Bùi Kim Hồng
Giám đốc Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Học và làm theo Bác, cho “lòng ta trong sáng hơn”

(TCTG) – Cách đây 5 năm, đầu xuân Đinh Hợi vào ngày thành lập Đảng, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã phát động Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Ngay từ những ngày đầu, Cuộc vận động đã nhận được sự hưởng ứng sôi nổi, nhiệt tình của đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân
Qua mỗi năm, nội dung học tập và các hình thức tổ chức hoạt động tập thể nối tiếp nhau được tổ chức, tạo nên những phong trào có dấu ấn sâu đậm trong dư luận xã hội, mang lại những kết quả bước đầu đầy ấn tượng, đặc biệt là về nhận thức, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng.

Qua thực hiện Cuộc vận động, nhận thức chung trong xã hội về sự cần thiết phải học tập, rèn luyện đạo đức theo tư tưởng, tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày càng đầy đủ và đúng đắn hơn. Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường đầy biến động, tác động đến lối sống của mỗi người, mỗi gia đình và xã hội, chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn lời dạy của Bác “đạo đức không phải là cái gì từ trên trời rơi xuống, nó do rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà có, giống như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Với cán bộ, đảng viên, những người đã tuyên thệ dưới cờ Đảng, nguyện phấn đấu hy sinh vì lý tưởng của Đảng của dân tộc qua cuộc vận động thêm một lần được ôn lại lời dạy của Bác: “Làm cách mạng là công việc to tát. Người cách mạng phải có đạo đức. Nếu không có đạo đức, tự mình tham ô, hủ hóa thì làm nổi việc gì”. Với Đảng, với những người cộng sản chân chính đã có nhiều đóng góp cho cách mạng, từng trải qua những chặng đường đầy gian lao, thử thách, bao “uy vũ không khuất phục”, có dịp để suy ngẫm thêm quan niệm Hồ Chí Minh về rèn luyện đạo đức suốt đời. Đó là: “Một Đảng, một dân tộc và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, được mọi người yêu mến, kính phục, không có nghĩa là hôm nay vẫn được mọi người tôn trọng, nếu như lòng dạ không trong sáng nữa, sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Tổng kết 4 năm triển khai Cuộc vận động, Ban Chỉ đạo Trung ương đã báo cáo những kết quả bước đầu quan trọng của Cuộc vận động với Đại hội lần thứ XI của Đảng. Đại hội đã đánh giá cao kết quả của Cuộc vận động, nhất là trong việc hình thành nhận thức mới về việc rèn luyện đạo đức và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, từ đó yêu cầu phải đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành công việc thường xuyên quan trọng trong Đảng và xã hội. Thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, ngày 14-5-2011 Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Chỉ thị 03-CT/TW về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Nội dung việc học tập và làm theo lần này là tiếp tục những nội dung đã thực hiện trong Cuộc vận động, đồng thời có mở rộng và làm sâu sắc hơn, đặc biệt thêm điểm mới là học tập và làm theo phong cách của Bác.

Học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là học tập tư tưởng đạo đức mang đậm những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, kết hợp với tư tưởng đạo đức tiên tiến nhất của thời đại, đạo đức cách mạng, đạo đức cộng sản. Đó là tư tưởng đạo đức vì con người, cho con người, vì nước vì dân, trung với nước, hiếu với dân, yêu thương, quý mến, kính trọng nhân dân. Tư tưởng đạo đức đó thể hiện một cách sống động trong tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, trong sáng, giản dị, thật sự khiêm tốn…, xuyên suốt cuộc đời của Người.

Nội dung học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh là một nội dung mới, có ý nghĩa thiết thực đối với mỗi chúng ta trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là trong thực hiện giải pháp đột phá cải cách hành chính. Phong cách là sự kết hợp giữa tư tưởng đạo đức, phương pháp và lối sống của mỗi người được thể hiện ra bên ngoài. Phong cách có liên quan chặt chẽ với đạo đức. Đạo đức được thể hiện qua phong cách, qua phong cách có thể đánh giá được tư tưởng đạo đức, nhân cách của một con người. Phong cách Hồ Chí Minh thể hiện tư tưởng đạo đức, nhân cách, phương pháp làm việc của Người, là một chỉnh thể, tạo thành một hệ thống với những thể hiện quan trọng nhất là phong cách tư duy, phong cách làm việc, phong cách diễn đạt, phong cách ứng xử, phong cách sinh hoạt .v.v.

Phong cách tư duy Hồ Chí Minh là tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo. Độc lập, tự chủ là sẵn sàng từ bỏ những cái cũ đã qua thực tiễn kiểm nghiệm là sai, những cái cũ lạc hậu, lỗi thời, những cái cũ đã đúng trước kia nhưng nay không còn phù hợp, để tìm tòi, đi tới những cái mới mang tính thời đại, trả lời được những câu hỏi mà cuộc sống đang đặt ra. Sự sáng tạo ở Hồ Chí Minh là luôn xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn để tìm tòi, phát triển lý luận, tìm ra cái mới phù hợp với quy luật khách quan của cách mạng Việt Nam, góp phần bổ sung, phát triển, làm phong phú thêm nhận thức về các quy luật phát triển chung của xã hội và thời đại. Tư duy đó luôn hướng tầm nhìn ra thế giới, không ngừng nâng cao trình độ văn hóa, làm giàu trí tuệ của mình bằng những kiến thức rất phong phú, sâu rộng.

Phong cách làm việc của Hồ Chí Minh bao gồm nhiều nội dung, chủ yếu là tác phong quần chúng, tác phong tập thể – dân chủ, tác phong khoa học.

Tác phong quần chúng được thể hiện qua niềm tin yêu và tôn trọng con người; sự sâu sát quần chúng, chú ý lắng nghe ý kiến và giải quyết những kiến nghị chính đáng của quần chúng; sẵn sàng tiếp thu phê bình của quần chúng và sửa chữa khuyết điểm của mình. Tác phong tập thể – dân chủ Hồ Chí Minh là luôn luôn tạo ra không khí sôi nổi, hoạt bát, phấn khởi, hăng hái và đầy sáng tạo trong tập thể. Người chỉ ra những hệ lụy của làm việc không tập thể, không dân chủ trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm cho “nội bộ của Đảng âm u”, “uất ức mà hóa ra oán ghét, chán nản”, cấp trên cấp dưới cách biệt nhau, quần chúng xa rời cán bộ, đảng viên… Tác phong khoa học Hồ Chí Minh tập trung ở những điểm chủ yếu như: làm việc đi sâu, đi sát cơ sở, có điều tra nghiên cứu, nắm việc, nắm người, nắm tình hình cụ thể… Biết sàng lọc những thông tin sai lệch, những báo cáo dối trá, những phương án thiếu trung thực. Biết sử dụng bộ máy, những người cộng sự, những cơ quan giúp việc. Thường xuyên đặt ra chương trình, kế hoạch sát hợp, thiết thực; thường xuyên kiểm tra việc thực hiện của cấp dưới và quần chúng…

Phong cách diễn đạt Hồ Chí Minh là cách nói, cách viết trong sáng, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm, có sức cuốn hút mạnh mẽ đối với người nghe, người đọc. Người đặt ra bốn vấn đề khi nói và viết là: Nói, viết cái gì?; Nói, viết cho ai?; Nói, viết để làm gì?; Nói, viết như thế nào? Đây là những vấn đề có tính nguyên tắc, định hướng cho việc nói và viết của mỗi người, nhất là đối với người lãnh đạo. Mặc dù công việc rất bận nhưng Hồ Chí Minh đã viết hơn 2.000 bài báo với hơn 100 bút danh khác nhau. Đặc trưng cơ bản trong cách nói, cách viết của Hồ Chí Minh là: chân thực, ngắn gọn, rõ ràng, trong sáng, giản dị, dễ hiểu, đi thẳng vào vấn đề, không màu mè, lắt léo, quanh co… Người căn dặn phải chống các bệnh hay nói chữ, ham dùng chữ, sính dùng chữ nước ngoài, thậm chí không hiểu cũng dùng; chống “thói ba hoa”…

Phong cách ứng xử Hồ Chí Minh là sự ứng xử trên một bình diện văn hóa cao. Đối với nhân dân, bạn bè, đồng chí, anh em thì tự nhiên, bình dị, cởi mở, chân tình, vừa chủ động linh hoạt lại vừa ân cần, tế nhị, tự nhiên, làm cho bất cứ ai được gặp Người đều cảm thấy không khí chan hòa, ấm cúng, thoải mái, không e ngại, sợ sệt, không còn sự cách biệt giữa lãnh tụ và quần chúng, giữa vĩ nhân với bình dân. Trong quan hệ với mọi người, Hồ Chí Minh luôn luôn thể hiện thái độ yêu thương, quý mến, trân trọng, khiêm nhường, sự khoan dung, độ lượng với con người. Chính vì vậy mà sức cuốn hút, cảm hóa, cảm phục, ngưỡng mộ và thôi thúc mọi người hướng tới Người, hướng tới cái chân, thiện, mỹ trong cuộc sống, trong công tác, học tập, trong xây dựng và phát triển…

Phong cách sống, sinh hoạt Hồ Chí Minh có nhiều nét đã trở thành huyền thoại không những đối với nhân dân Việt Nam mà còn đối với cả thế giới. Đó là sự giản dị, thanh đạm, thanh cao trong sinh hoạt hàng ngày; là cách sống chừng mực, điều độ, ngăn nắp, yêu lao động, quý trọng thời gian, không ham muốn danh lợi riêng cho mình. Đó là tình thương yêu con người quyện với tình yêu thiên nhiên, tạo nên tinh thần lạc quan của người chiến sỹ, kết hợp chặt chẽ với những rung động say mê của một tâm hồn nghệ sĩ.

Phong cách Hồ Chí Minh là sự kết hợp một cách nhuần nhuyễn của tư tưởng, đạo đức, phương pháp, nhân cách, lối sống Hồ Chí Minh, thể hiện một cách tự nhiên trong cuộc sống của Người, để Người trở thành sự toàn vẹn, với một cuộc sống trọn vẹn. Phong cách Hồ Chí Minh thể hiện cuộc đời của Người, không cần đến bất cứ sự trang sức nào. Người không phải cố ý sống khác đời để mọi người ca ngợi, mà phong cách của Người xuất phát từ một triết lý nhân sinh là lấy khiêm tốn, giản dị làm nền; lấy chừng mực đức độ làm chuẩn; lấy trong sạch thanh cao làm vui; lấy gắn bó với con người, với thiên nhiên làm niềm say mê vô tận.

Học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, mỗi tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên cần phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trên vị trí công tác. Trên cơ sở trung thành, kiên định với mục tiêu lý tưởng của Đảng, của cách mạng, lợi ích quốc gia, dân tộc và nhân dân, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giải quyết những vấn đề thực tiễn đang đặt ra trong giai đoạn mới, góp phần tạo nên những động lực mới cho sự phát triển đất nước.

Học tập và làm theo phong cách làm việc Hồ Chí Minh, cần thực sự sâu sát quần chúng, tin yêu và tôn trọng quần chúng, chú ý lắng nghe ý kiến và giải quyết những kiến nghị chính đáng của quần chúng, sẵn sàng tiếp thu phê bình của quần chúng và sửa chữa khuyết điểm của mình. Thực hiện và phát huy dân chủ, trước hết là dân chủ trong Đảng, trong tổ chức sinh hoạt Đảng. Có tác phong làm việc khoa học, hiệu quả, hợp tác; có chương trình, kế hoạch sát hợp, thiết thực. Nói và viết dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm, có sức cuốn hút mạnh mẽ đối với người nghe, người đọc; duy trì kỷ luật phát ngôn.

Học tập phong cách ứng xử Hồ Chí Minh, xây dựng cho mình cách ứng xử có văn hóa với nhân dân, bạn bè, đồng chí, anh em. Xuất phát từ thái độ yêu thương, quý mến con người, trân trọng con người, khoan dung, khiêm nhường, độ lượng với con người để có sự ứng xử tự nhiên, bình dị, cởi mở, chân tình với mọi người. Xây dựng thái độ ứng xử với tự nhiên, môi trường đúng đắn, trách nhiệm, cùng toàn Đảng, toàn dân xây dựng môi trường sinh thái trong sạch, bền vững.

Học tập phong cách sinh hoạt Hồ Chí Minh, xây dựng lối sống giản dị, thanh cao, điều độ, ngăn nắp, yêu lao động, quý trọng thời gian; tinh thần lạc quan, tự trọng và tôn trọng cộng đồng, xã hội.

Học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh để mỗi chúng ta tự phấn đấu, vươn lên, tự làm cho mình trở lên tốt đẹp, hoàn thiện hơn, làm việc có hiệu quả hơn.

Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh những năm qua mang lại cho chúng ta một nhận thức mới, giản dị nhưng rất quan trọng là học tập và làm theo Bác là công việc của mỗi người và mọi người.

Với mỗi người, khi trăn trở, vật lộn với cuộc sống làm cho chúng ta đôi khi sao lãng việc rèn luyện đạo đức. Với toàn xã hội, sự tập trung quá mức vào các mục tiêu kinh tế, đặc biệt là tốc độ tăng trưởng để khắc phục nguy cơ tụt hậu, đuổi kịp các nước trong khu vực…, với bối cảnh kinh tế thị trường như một cơn lốc ập đến, tình trạng lệch chuẩn, loạn chuẩn trong xã hội ngày càng gia tăng. Tình trạng xem thường, không đánh giá đúng, hoặc không coi trọng vấn đề giáo dục đạo đức, chạy theo lối sống thực dụng, vị tiền… đã dẫn đến những trả giá… Và Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh hơn bốn năm qua đã góp phần mang đến sự thay đổi trong nhận thức, dù không phải là mới, được nhiều người chấp nhận: học tập và rèn luyện về đạo đức trước hết là của mỗi người, vì chính mình và phải luôn nêu gương về đạo đức. Sự trả giá nào đó trong những cuộc đời, gia đình và xã hội làm cơ sở để mọi người càng thấy rõ hơn “tính di truyền xã hội” của đạo đức, ý nghĩa và trách nhiệm trong sự nêu gương. Bác Hồ dạy, ông bà nêu gương cho con cháu, cha mẹ nêu gương cho con, anh chị nêu gương cho em, đảng viên nêu gương cho quần chúng. Đó là sự khẳng định về một nguyên tắc thực hành đạo đức, đồng thời xác định rõ trách nhiệm tự mình rèn luyện đạo đức của mỗi người.

Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, bên cạnh sự cố gắng tự thân của mỗi người, rất cần sự hỗ trợ, nâng đỡ của tập thể để mỗi người tự vươn lên cùng tập thể. Đứng trước những bão táp, mưa sa của cuộc sống vận động với tốc độ của âm thanh, ánh sáng thời công nghệ số, mỗi người đều cần đến một chỗ dựa từ tập thể. Việc đưa nội dung học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào sinh hoạt thường xuyên của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể, cơ quan, đơn vị là một biện pháp quan trọng. Duy trì sinh hoạt thường xuyên, trong sinh hoạt định kỳ có nội dung trao đổi, thảo luận về học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác trong tập thể, phát hiện những vấn đề nảy sinh về đạo đức, lối sống để chấn chỉnh, phát hiện những việc tốt, người tốt, nêu gương những điển hình tiên tiến để học tập và noi theo… Hàng năm có tiến hành sơ kết, tổng kết, đánh giá, chú trọng công tác thi đua khen thưởng, động viên, khuyến khích kịp thời để các điển hình tiên tiến ngày càng nhiều thêm, nảy nở như hoa mùa xuân. Tổ chức đảng, chính quyền cấp trên chú trọng công tác kiểm tra, giúp cơ sở thực hiện đúng định hướng và có hiệu quả thiết thực.

Trong thực hiện Chỉ thị lần này cần chú trọng hơn nữa đến việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ, đặc biệt trong các nhà trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Bác Hồ đã dạy “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ”. Điều ấy đang được thể hiện trong mục tiêu “dạy chữ, dạy người, dạy nghề” của ngành giáo dục. Dạy chữ luôn luôn là quan trọng hàng đầu. Nhưng trong điều kiện cách mạng công nghệ và “thời của Internet”, không thể và không cần đưa hết tri thức của nhân loại hiện có vào các chương trình đào tạo, đặc biệt là trong các trường phổ thông. Một số môn học có thể được giảm tải, tích hợp, chuyển thành môn tự chọn theo các định hướng nhất định…, để dành thời gian cho dạy người và dạy nghề. Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị yêu cầu xây dựng các chương trình giáo dục đạo đức theo tư tưởng, tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh cho các cấp học, bậc học. Thực hiện “đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo” nêu trong Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, đưa nội dung giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh vào chính khóa là thực hiện lời dạy của Người, đó là “giáo dục thế hệ trẻ, đào tạo thế hệ cách mạng cho đời sau là việc làm rất quan trọng và rất cần thiết”.

Bước vào năm mới, vào thời kỳ phát triển mới của đất nước, của dân tộc, mỗi người trong chúng ta hãy tự mình học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, học tập và làm theo Bác cho “lòng ta trong sáng hơn”./.

Theo Tạp chí Tuyên giáo
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là tiền đề tạo mọi thắng lợi

Trên cơ sở nhiệm vụ chính trị của ngành, Đảng ủy Sở Giao thông- Vận tải  chỉ đạo các Chi bộ, tổ chức đoàn thể… triển khai Cuộc vận động  “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” một cách tích cực, nghiêm túc, có hiệu quả. Gắn Cuộc vận động vào từng nhiệm vụ, lĩnh vực chuyên môn cụ thể và mỗi cán bộ, đảng viên, công nhân viên phải tự xây dựng cho mình một phong cách học tập tấm gương đạo đức của Bác với tinh thần cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư…

Để thực hiện Cuộc vận động  có chiều sâu, trở thành nền nếp trong mỗi cán bộ, đảng viên, công nhân viên, ngay sau khi Tỉnh ủy phát động Cuộc vận động, Đảng ủy Sở thành lập Ban chỉ đạo Cuộc vận động, nhằm triển khai, kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện tấm gương của Bác ở mỗi lĩnh vực chuyên môn cụ thể. Đảng ủy tổ chức Hội nghị quần chúng lấy ý kiến tham gia đóng góp vào dự thảo báo cáo đánh giá thực trạng đạo đức, lối sống của cán bộ, công nhân viên chức toàn Đảng bộ. Qua đó, ban hành, niêm yết chuẩn mực đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công nhân viên trong toàn cơ quan. Đảng ủy còn tổ chức 3 hội nghị quán triệt nội dung Cuộc vận động cho toàn thể cán bộ, đảng viên, quần chúng. 100% đảng viên xây dựng bản tự phê bình, kiểm điểm và chương trình học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nhiều ý kiến đánh giá của quần chúng về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, từ đó rút kinh nghiệm những mặt chưa được và tiếp tục phát huy những mặt tích cực. Cuộc vận động đã trở thành nội dung quan trọng, định kỳ trong các kỳ sinh hoạt Đảng hàng tháng ở mỗi Chi bộ cũng như toàn Đảng bộ.

Các phong trào thi đua, học tập, làm theo tấm gương đạo đức của Bác nhận được sự hưởng ứng tích cực ở mỗi phòng, ban chuyên môn như: Phong trào lao động, sáng tạo hiệu quả, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; phong trào phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao; các phong trào sưu tầm sách, báo, tạp chí về Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hóa, văn nghệ ca ngợi chủ đề về Bác… Thông qua các phong trào này, từ đảng viên đến quần chúng đều tự ý thức bản thân và có trách nhiệm phấn đấu, vươn lên. Kết quả thiết thực đạt được từ các phong trào trên là đã thực hành được tiết kiệm, chống lãng phí, tạo thêm nguồn thu nhập chính đáng cho mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng, với mức thu nhập tăng 33% theo lương hàng tháng. 2 đề tài khoa học về sáng kiến cải tiến trong công tác đào tạo lái xe và sáng kiến sử dụng bột bê tông màu tham gia dự thi cấp tỉnh. 1 đồng chí đạt giải trong cuộc thi kể chuyện về Bác do Đảng ủy cấp trên phát động. Cơ quan, công sở gọn gàng, sạch đẹp, văn minh, lịch sự.

Kết quả lớn nhất mà ngành Giao thông đạt được trong quá trình triển khai, học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đó chính là sự ghi nhận của tỉnh và nhân dân trong việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn xây dựng, quản lý đường sá, cầu cống. Hệ thống giao thông của Bắc Ninh hiện nay đã khác xa so những con đường rải cấp phối đồi và những tuyến đường đất liên xã, liên thôn lầy lội, bụi bẩn khi mưa, nắng của những ngày đầu mới tái lập tỉnh. Giờ đây, các tuyến Quốc lộ qua địa bàn tỉnh đều được xây dựng khang trang, hiện đại, hệ thống đường tỉnh, đường huyện, đường liên xã, đường giao thông nông thôn và đường đô thị cơ bản được rải nhựa, bê tông hóa. 40 cây cầu và hàng nghìn cống thoát nước được xây mới.

Cùng với đó là dịch vụ vận tải cũng có bước phát triển vượt bậc với mạng lưới vận tải công cộng khép kín. Tất cả các địa phương trong tỉnh đều có xe buýt đi qua và nối liền với các tuyến xe buýt của các tỉnh lân cận như Hà Nội, Hải Dương, Bắc Giang, không những đáp ứng nhu cầu đi lại thuận tiện cho nhân dân mà còn góp phần đáng kể trong công tác bảo đảm ATGT, nhằm giảm thiểu tai nạn giao thông. Đặc biệt, Sở đang triển khai thực hiện Quy hoạch phát triển giao thông, vận tải đến năm 2020 với quy mô hoàn chỉnh mạng lưới giao thông, vận tải khang trang, hiện đại, không những phục vụ đắc lực nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội trước mắt mà còn đáp ứng về lâu dài. Đây sẽ là hướng mở để nhanh chóng đưa Bắc Ninh trở thành tỉnh công nghiệp trong tương lai gần.

Bài, ảnh: Giang Ninh

baobacninh.com.vn

Câu chuyện nhỏ – Bài học lớn

(ĐCSVN) – Qua những câu chuyện về Bác, mỗi chúng ta đều cảm nhận được ý nghĩa nhân sinh sâu sắc thể hiện trong từng lời nói, cử chỉ của Người để từ đó cùng nhau tu dưỡng, rèn luyện theo gương Bác Hồ kính yêu.

Những câu chuyện về Bác – đó là những câu chuyện tuy ngắn gọn nhưng lại vô cùng sâu sắc, khắc hoạ rõ nét và sinh động chân dung một con người – một vị lãnh tụ thiên tài nhưng rất đỗi giản dị, thanh cao với tình yêu thương bao la dành cho con người. Tư tưởng và tấm gương đạo đức của Bác là tài sản vô giá cho thế hệ hôm nay và mai sau học tập, noi theo. Nhận thức được điều đó, Ban Thường vụ Đảng uỷ cơ quan Bộ Nông nghiệp – Phát triển nông thôn (NN – PTNT) đã coi việc “Kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” không chỉ là một hoạt động để hưởng ứng Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mà quan trọng hơn, mỗi câu chuyện còn là một bài học để từng cán bộ, đảng viên, công chức, người lao động soi mình, để tự tu dưỡng, rèn luyện, góp phần tích cực vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của cơ quan.

Kể chuyện về Bác – đó là việc tưởng như đơn giản nhưng thực tế lại rất khó, bởi ai ai trong chúng ta cũng biết và cũng có thể kể một vài câu chuyện về Người. Nhưng kể cho hay, cho diễn cảm và quan trọng hơn để câu chuyện có sức lan toả đối với người nghe thì không phải ai cũng làm được. Trong bối cảnh sáp nhập Bộ NN – PTNT và Bộ Thuỷ sản, công việc bộn bề nhất là về cơ cấu tổ chức, bộ máy, cán bộ… còn nhiều việc phải giải quyết song Ban Thường vụ Đảng uỷ cơ quan Bộ NN – PTNT vẫn xác định huy động sự tham gia của toàn thể cán bộ, đảng viên, người lao động trong cơ quan tham dự cuộc thi “Kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, coi đây là “điểm nhấn” vừa cụ thể nhưng cũng hết sức sinh động để thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động. Tuy nhiên, để việc triển khai có ý nghĩa thực sự ở 71 tổ chức cơ sở đảng với 3.132 đảng viên trong toàn Đảng bộ không phải là một việc dễ dàng, nó đòi hỏi lãnh đạo Đảng uỷ phải có sự chỉ đạo sâu sát và kiên quyết ngay từ đầu. Với tinh thần đó, Ban Thường vụ Đảng uỷ cơ quan Bộ NN – PTNT đã có những văn bản chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể kịp thời tới cơ sở. Các đồng chí là thành viên Ban Tổ chức, Ban Giám khảo được phân công đã xuống từng đơn vị giải đáp những thắc mắc, giám sát việc triển khai thực hiện. Hệ thống tư liệu về cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những câu chuyện về Người cũng được lãnh đạo Đảng uỷ chuẩn hoá và cung cấp đầy đủ. Để thống nhất phương thức tổ chức Hội thi “Kể chuyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn Đảng bộ, Ban Thường vụ Đảng uỷ cơ quan Bộ NN – PTNT đã chỉ đạo Đảng bộ Cục Bảo vệ thực vật tiến hành làm điểm để các đảng bộ, chi bộ trực thuộc dự, cùng rút kinh nghiệm đồng thời triển khai có hiệu quả ở cơ quan, đơn vị mình. Điều đặc biệt là Hội thi “Kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” ở các đảng bộ, chi bộ trực thuộc Đảng bộ cơ quan Bộ NN – PTNT đều diễn ra với tinh thần “Câu chuyện nhỏ – Bài học lớn”, tiết kiệm triệt để, tránh bệnh phô trương, hình thức nhưng vẫn đảm bảo sự hấp dẫn. Một điểm khá sáng tạo tại các Hội thi “Kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” của Bộ NN – PTNT là Ban Tổ chức đã coi khán giả không chỉ là những người đi xem, cổ vũ mà còn là những… người trong cuộc. Những câu nói, những hình ảnh về Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn liền với ngày tháng vẻ vang của dân tộc, những tác phẩm của Người, những địa điểm mà Bác đã từng gắn bó trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng cũng được Ban Tổ chức biên tập thành những câu hỏi giành cho khán giả. Chính điều đó đã góp phần tạo không khí sôi nổi, thu hút một lượng lớn khán giả tham dự trong mỗi cuộc thi. Những câu trả lời của khán giả cùng với phần trình bày sáng tạo, kết hợp hài hoà với hình ảnh, âm nhạc của các thí sinh đã biến những buổi thi thành những ngày hội, những buổi sinh hoạt chính trị đầy ý nghĩa.

Nhưng liệu qua việc tổ chức Hội thi “Kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã đủ để mỗi cán bộ, đảng viên hiểu rõ về Bác? Câu trả lời chắc chắn là chưa. Bởi hiệu ứng mà Hội thi “Kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đem lại như chúng ta thấy trong thời gian qua là vô cùng to lớn. Song nó cũng đòi hỏi phải có một quá trình, có một thời gian cần thiết để kịp “khắc sâu” trong lòng mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân, cụ thể hoá thành hành động, thành những chuẩn mực đạo đức hàng ngày. Vậy phải làm sao để tiếp tục thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” có hiệu quả? Mỗi đơn vị, mỗi tổ chức cơ sở đảng sẽ có những bước đi, cách làm khác nhau. Riêng Đảng bộ cơ quan Bộ NN – PTNT đã chỉ đạo để tiếp tục thực hiện Cuộc vận động bằng một hình thức khá sáng tạo. Đó là: xây dựng kế hoạch để cử lần lượt từng đảng viên tìm hiểu, nghiên cứu các câu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, liên hệ thực tiễn công tác sau đó kể lại trong các buổi sinh hoạt chi bộ. Đây là yêu cầu bắt buộc đối với từng đảng viên và trong thời gian qua đã được thực hiện rất nghiêm túc. Đảng uỷ Bộ NN – PTNT cũng đặt ra kế hoạch: hàng năm, vào dịp 19/5, cấp uỷ sẽ tổ chức lấy phiếu điều tra đối với cán bộ, đảng viên, người lao động tại cơ quan, đơn vị về những câu chuyện hay, thể hiện sâu sắc tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã được các đảng viên kể tại chi bộ. Bên cạnh đó, Ban Thường vụ Đảng uỷ cũng khuyến khích cán bộ, đảng viên trong cơ quan sưu tầm những câu nói hay, những câu chuyện đặc sắc về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh để làm tài liệu giáo dục đồng thời thường xuyên phát hiện, biểu dương và nhân rộng các điển hình tiên tiến trong các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ về “làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mà trọng tâm là các phẩm chất: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Những khẩu hiệu, panô với nội dung thực hiện văn minh nơi công sở gắn với những chuẩn mực đạo đức mà Hồ Chủ tịch đã nêu cũng đang được khẩn trương hoàn tất.

Đồng chí Nguỵ Thị Tiến Cừ – Phó Bí thư thường trực Đảng uỷ cơ quan Bộ NN – PTNT, đồng thời là Phó Ban chỉ đạo Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” khi trao đổi với chúng tôi đã cho biết: Cuộc vận động diễn ra mới được 1 năm, trong quá trình triển khai, đã nhận được sự hưởng ứng của đông đảo cán bộ, đảng viên trong cơ quan, qua đó đã thu được kết quả bước đầu rất đáng phấn khởi, được cấp trên đánh giá cao. Trong thời gian tới, Đảng uỷ cơ quan Bộ NN – PTNT sẽ có nhiều hoạt động, nhiều cách làm hưởng ứng Cuộc vận động một cách sáng tạo và hiệu quả hơn nữa và đó cũng chính là những bông hoa “Người tốt – Việc tốt” của cán bộ, đảng viên toàn ngành kính dâng lên Bác.

Minh Châu

cpv.org.vn

Học tập, làm theo tình cảm của Bác Hồ đối với thanh niên

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh có cuộc sống rất giản dị, khiêm nhường, song cũng rất vĩ đại; Người không những là nhà cách mạng lỗi lạc mà còn là một con người giàu lòng nhân ái, có sức lôi cuốn, cảm hóa sâu sắc.

Những câu chuyện kể về Người, cho thấy trong đời, ai đó dù chỉ một lần được tiếp xúc, gặp gỡ, được sống bên Người đều có thể học tập và nhớ mãi cảm xúc khó quên, kỷ niệm tình người nồng ấm của Bác. Đối với các thế hệ thanh niên, nét tâm lý tình cảm đặc biệt đó ở Người dành cho cũng vô cùng sinh động. Có thể nói cả cuộc đời và sự nghiệp giáo dục cách mạng của Người, là hết lòng chăm lo cho sự tiến bộ, hạnh phúc và tương lai của các thế hệ trẻ Việt Nam.

Trước lúc đi xa về với tổ tiên, thế giới người hiền, Người đã không quên viết Di chúc dặn lại: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ, Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”1.

Tiếp tục thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; thiết nghĩ, người làm công tác thanh niên ngày nay cần phải bắt đầu từ những kinh nghiệm, những nét tâm lý tình cảm của Bác Hồ đến với họ. Để truyền lại cho thanh niên những tri thức, giá trị văn hóa đạo đức của Bác cần nghiên cứu và vận dụng tốt những yêu cầu sau.

Khi nói và viết cho thanh niên phải xuất phát trên cơ sở cảm xúc, tình cảm chân thật, phù hợp với nhân cách tuổi trẻ.

Theo Bác Hồ, người đi tuyên truyền xây dựng phong trào thanh niên phải là người hơn ai hết phải có năng lực am hiểu về tâm-sinh lý thanh niên; phải làm sao hòa nhập vào họ, bằng một cảm xúc thực sự tự đáy lòng mình. Hiểu biết và yêu mến thanh niên nên khi tiếp xúc, giao lưu với họ, Người thường có phong thái tự nhiên, thân tình cởi mở. Trong những lời dạy của Người bao giờ cũng tạo cho người nghe một cảm xúc, một niềm tin yêu, lạc quan hướng tới tương lai. Với một cảm xúc tươi trẻ, phấn khởi Người nói: “Là người theo dõi tổ chức thanh niên từ bước đầu chỉ có 8 cháu, ngày nay trông thấy có hàng triệu đoàn viên, thanh niên… phát triển mơn mởn như hoa mùa xuân… Vì vậy, Bác rất tự hào sung sướng thấy mình như trẻ lại, thấy trong tương lai của dân tộc ta vô cùng vững chắc và vẻ vang”. Thực tiễn hoạt động cách mạng, Người đã khéo léo thể nghiệm về vai trò và quy luật, yếu tố tình cảm; vừa là điều kiện vừa là phương tiện đồng thời là nội dung giáo dục rất quan trọng đối với thanh niên. Người viết: “phải xuất phát từ tình cảm cách mạng, tình yêu thương con người… Có như thế, mới tìm ra cái đúng cái hay”. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên “cần phải đi vào đời sống, hiểu rõ tâm lý của các lớp thanh niên và giúp đỡ họ giải quyết các vấn đề một cách thiết thực”.

Nói và viết cho thanh niên cần phải chú ý gắn liền với những nội dung có tính định hướng tư tưởng, giáo dục các giá trị đạo đức, tình cảm và lý tưởng cách mạng cho thanh niên.

Đặc trưng tâm lý thanh niên, là nét tâm-sinh lý của lứa tuổi đầu đời, tuổi nhân cách đã và đang trưởng thành. Đây là lứa tuổi sôi nổi, nhạy cảm, nhu cầu thẩm mĩ cao, ôm ấp nhiều ước mơ, hoài bão, có sức khỏe và cảm xúc mạnh; dễ đến với cái mới, ham thích khám phá; có tâm hồn vô tư trong sáng, không ngại khó khăn, gian khổ, hy sinh. Trong cuộc sống họ thường tự khẳng định, đề cao vai trò, vị trí của mình; mong được xã hội, người xung quanh tin tưởng, thừa nhận như một thành viên tích cực. Mặt khác, những hạn chế của lứa tuổi này, xu hướng nói chung, phẩm chất thói quen ứng xử và các thuộc tính tình cảm chưa ổn định; do vốn kinh nghiệm, kỹ năng sống còn ít; nhãn quan về chính trị, lý tưởng nghề nghiệp thường chưa thật chín muồi, tâm trạng dễ thay đổi, chán nản…

Trong phương hướng, nhiệm vụ trong công tác thanh niên, cần tăng cường giáo dục tình cảm cách mạng và các giá trị cho họ; nhất là những chuẩn mực giá trị đạo đức, lý tưởng của Đảng cho họ. Nhà giáo dục Xô viết nổi tiếng A.x. Ma-ca-ren-cô viết: “Giáo dục tính cách Bôn-sê-vích chân chính là giáo dục tình cảm con người. Tôi tin rằng nếu chúng ta không giáo dục một cách đúng đắn thì cũng có nghĩa chúng ta chẳng giáo dục gì cả”.

Nặng tình yêu quê hương, đất nước và đặc biệt đối với lớp trẻ, nên chúng ta thường thấy trong các lời nói của Người, chan chứa tình cảm thân thương; nó như thắp sáng ngọn lửa tình cảm cách mạng, niềm tin và ý chí vươn lên cho tuổi trẻ. Tết Nguyên đán (1945-1946), trong một cảm xúc mới; Bác nói: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ, Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”. Do đó, nhà giáo dục cần phải khéo léo lồng ghép nội dung bồi dưỡng tình cảm cách mạng cho thanh niên; thông qua các phong trào hoạt động của tuổi trẻ hình thành thế giới quan, niềm tin vào mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc, gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Nói và viết đúng những vấn đề bức thiết, nguyện vọng, nhu cầu của thanh niên hiện nay.

Ngày nay thế hệ trẻ không ngừng được phát triển trên nhiều lĩnh vực, họ xứng đáng với lời khen ngợi của Bác Hồ “Đoàn viên, thanh niên ta nói chung là tốt… có chí tiến thủ”. Nhận thức đúng chân lý đó, không chỉ giúp cho chúng ta bỏ được mặc cảm về những hạn chế lớp trẻ, mà còn có được cái nhìn đúng đắn, niềm tin về họ và nêu cao hơn tinh thần trách nhiệm đối với thanh niên. Tâm lý chung của nhà giáo dục và của người lớn như Người chỉ rõ: “Nếu so với thanh niên lớp trước trong đó có cả Bác thì thanh niên ta ngày nay sung sướng hơn nhiều”; song “một bộ phận khá đông thanh niên chưa hiểu thấu rằng tất cả lao động có ích cho xã hội đều là vẻ vang, vì vậy họ chưa thiết tha yêu nghề, thường “đứng núi này, trông núi nọ”… Thanh niên ta cần phải hiểu rằng: bất kỳ công việc gì, mà ra sức khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ, đều là vẻ vang, đều là anh hùng”.

Bằng tình cảm chân tình, trên sự nắm bắt, hiểu được quy luật tình cảm, vận dụng sáng tạo trong thực tiễn, người đi giáo dục phải xem xét toàn diện về thanh niên mới tìm ra cái đúng cái hay và có cách làm sáng tạo, khéo léo, có sức thuyết phục lôi cuốn họ. Cán bộ Đoàn phải là người luôn đi đầu, gương mẫu, quan tâm đời sống tình cảm thanh niên, hiểu rõ cả tâm – sinh lý của họ, nhiệt tình giúp họ giải quyết các vấn đề một cách cụ thể, hiệu quả. Nguyện vọng bức thiết của đa số thanh niên hiện nay là vấn đề học hành, nghề nghiệp, việc làm. Để đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng bức thiết đó, đòi hỏi cán bộ, đảng viên cần phải thấm nhuần và làm theo lời dạy của Bác. Nêu cao vai trò gương mẫu, nói phải đi đôi với làm. Thường xuyên quan tâm, có chính sách, biện pháp giúp thanh niên có động cơ, thái độ đúng đắn và nhiệt tình cách mạng. Không ngừng tự học, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận và năng lực công tác.

Đại tá Ths Đào Văn Trường

1- Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia HN, 1999, tr26.

baobacninh.com.vn

“Học tập và làm theo lời Bác là tâm nguyện suốt đời”

Chân thành, cởi mở và không ngại khó khăn, luôn có cách làm sáng tạo, hiệu quả trong mọi phong trào- đó là hình ảnh người cựu TNXP, cựu chiến binh Nguyễn Thanh Khiết, 62 tuổi, thôn Tử Nê (Minh Đạo, Tiên Du). Ông là tấm gương tiêu biểu tích cực trong cuộc vận động “Học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, hình ảnh bộ đội cụ Hồ “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường” trong bài thơ “Núi đôi” của Vũ Cao đã gieo vào tâm trí chàng thanh niên trẻ Nguyễn Thanh Khiết một hình tượng lý tưởng thúc giục ông làm đơn tình nguyện nhập ngũ năm 1965. Không đủ sức khỏe ông quay sang làm đơn cùng hơn 200 thanh niên của quê hương Tiên Sơn lên đường vào đơn vị TNXP Quyết Thắng, tham gia làm các con đường giao thông huyết mạch như quốc lộ 1A, đường đi cầu Treo, cầu Cài, đường ngầm Cầu Lường, đường xuống các bến phà Bố Hạ, Lục Nam (Bắc Giang), Đáp Cầu và Cầu Phao… Mặc dù tuổi đời còn rất trẻ, chàng TNXP Nguyễn Thanh Khiết hồi đó đã cùng đồng đội quyết tâm “sống bám cầu đường, chết kiên cường dũng cảm”. Sau đó, ông được đơn vị cử đi học tại trường THCN Đường sắt 3 năm. Đúng dịp chuẩn bị nhận công tác mới, có đơn vị bộ đội về tuyển quân, ông lại làm đơn tình nguyện, xung phong đi bộ đội và huấn luyện tại Đoàn 4, Bộ Tư lệnh thông tin.

Qua hơn 20 năm quân ngũ ở cương vị nào ông cũng tâm niệm lời dạy thiêng liêng của Bác Hồ đối với TNXP: “Không có việc gì khó/Chỉ sợ lòng không bền/ Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên” và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Ông được tham dự Đại hội Đoàn toàn quân lần thứ 3 ở Hà Nội, được vào Phủ Chủ tịch, được nghe đồng chí Vũ Kỳ (thư ký riêng của Bác Hồ) kể những mẩu chuyện xúc động về Bác.

Mang tinh thần của TNXP và bộ đội cụ Hồ ông trở về quê hương, gia đình và tham gia công tác xã hội. Nghỉ hưu được 20 năm thì 19 năm tham gia công tác tại địa phương, ông cùng vợ con tăng gia sản xuất, làm thêm nghề phụ, từng bước đưa cuộc sống gia đình ổn định và phát triển. Vẫn phong thái trẻ trung và lòng nhiệt huyết với các phong trào, người TNXP năm xưa nay là Phó Chủ tịch Hội cựu TNXP huyện Tiên Du, Chủ tịch Hội CCB xã Minh Đạo với bao thành tích đáng nể. Đặc biệt ông đã đưa phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” lan tỏa trong quần chúng.

Bản thân ông đã nhận thức được tư tưởng và tấm gương đạo đức của Bác, luôn kính trọng và ghi nhớ công ơn to lớn của Bác đối với dân tộc. “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người là biện pháp quan trọng để mỗi cán bộ, đảng viên sửa chữa, khắc phục tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống, giữ vững lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng”.- ông Khiết chia sẻ. Ông đã dành nhiều thời gian, công sức sưu tầm, tìm hiểu các câu chuyện về Bác, ra tận Bảo tàng Hồ Chí Minh để xin tư liệu, lựa chọn những câu chuyện mà mình ấn tượng nhất để xây dựng đề cương, tích cực luyện tập kể chuyện về tấm gương đạo đức của Bác. Bằng tình cảm tha thiết và kính trọng của mình, ông dự thi ở các cấp đều đạt giải cao: Giải nhất cụm 38, Nhất huyện Tiên Du, Nhất tỉnh Bắc Ninh và giải 3 khu vực I các tỉnh phía Bắc tại vòng thi sơ khảo toàn quốc, mang niềm vinh dự tự hào cho quê hương. Đặc biệt, năm 2009 vừa qua, ông vinh dự là đại biểu tham dự Hội nghị đại biểu cựu TNXP tiên tiến toàn quốc, Đại hội thi đua CCB gương mẫu toàn quốc lần thứ 5… Ông đã được Ban Tuyên giáo Trung ương và các cấp, hội khen thưởng, ghi nhận có nhiều thành tích xuất sắc trong các phong trào thi đua nhiều năm liền.

Nay tuổi đã ngoài 60, với cương vị Chủ tịch Hội nhiều năm liền, ông Khiết đã cùng tập thể chăm lo xây dựng Hội vững mạnh, đi đầu trong các phong trào VHVN-TDTT của địa phương cũng như tham gia các cuộc vận động ủng hộ nghĩa tình như quỹ “Vì người nghèo”, quỹ khuyến học, ủng hộ hội viên CCB có hoàn cảnh khó khăn… “Tôi luôn tự nhủ, khi nào còn sức lực, còn trí tuệ thì còn cống hiến, vì học tập và làm theo gương Bác là tâm nguyện suốt đời tôi”.

Bài: Thu Huyền

baobacninh.com.vn

“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” gắn liền với xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư

Tổng kết 4 năm thực hiện cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Đảng bộ xã Đông Cứu được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen, đó là kết quả phấn đấu vươn lên không ngừng của toàn Đảng bộ và nhân dân Đông Cứu trong nhiều năm qua.

Để có thành tích này, ngay từ khi triển khai Chỉ thị 06-CT-TW của Bộ Chính trị về cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Đảng uỷ đã xây dựng kế hoạch thành lập Ban chỉ đạo xã cũng như Ban chỉ đạo của 10 Chi bộ cơ sở, xây dựng chương trình hành động thực hiện các giá trị chuẩn mực đạo đức Hồ Chí Minh; tổ chức học tập, quán triệt các chuyên đề về tấm gương đạo đức của Bác cho toàn Đảng bộ và các đoàn thể nhân dân. Trên cơ sở học tập, thảo luận, xây dựng các tiêu chí cụ thể cho cán bộ đảng viên, đoàn viên, hội viên.

Từ ngày triển khai cuộc vận động đến nay, Đông Cứu được đánh giá là một đơn vị điển hình tiên tiến trong việc triển khai sâu rộng cuộc vận động và thực hiện làm theo có hiệu quả thiết thực. Ở mỗi chuyên đề từng cán bộ, đảng viên đều có những chương trình hành động cụ thể cho bản thân cũng như gia đình mình làm theo Bác, thực hiện theo chương trình viết thu hoạch, kiểm điểm ở từng đơn vị gắn với nhiệm vụ được giao. Cán bộ, đảng viên đi đầu gương mẫu trong mọi hoạt động xã hội ở nông thôn, nói và làm theo nghị quyết của Đảng, đó là nền tảng tạo ra sức mạnh đại đoàn kết toàn dân.

Đông Cứu khéo kết hợp cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”. 6 nội dung cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa được cụ thể hóa thành các giá trị chuẩn mực đạo đức Hồ Chí Minh, được đông đảo nhân dân đồng tình hưởng ứng tạo sự lan tỏa rộng khắp thành phong trào xã hội.

Trên lĩnh vực kinh tế: tốc độ tăng trưởng hàng năm là 12%, hoàn thành dồn điền đổi thửa ở 6/6 cơ sở, tạo năng lực mới cho sản xuất, năng suất lúa ổn định 64 tạ/ha/vụ, hệ số sử dụng đất là 2.5  lần. Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, ổn định đàn gia cầm 40.000 con/năm, là địa phương có nhiều mô hình chăn nuôi gia cầm năng động, cung cấp con giống cho nông dân trong vùng. Toàn xã có 31,4 ha chăn nuôi thuỷ sản theo mô hình trang trại cho hiệu quả kinh tế cao, có 29 ha rừng cảnh quan rừng đã được phủ xanh. Đẩy mạnh phát triển kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, ai giỏi nghề gì làm nghề đó, thu hút 16,6% lao động nông nghiệp làm ngành nghề phụ tạo thu nhập cao. Xã không còn hộ đói, hộ nghèo chỉ còn dưới 10% theo tiêu chuẩn mới. 100% các thôn có đường bê tông, có hệ thống điện chiếu sáng ban đêm, có tổ vệ sinh môi trường hoạt động nền nếp.

Trường học đạt chuẩn quốc gia ở cả 3 khối lớp, xã-thôn có quỹ khuyến học, nhiều dòng họ có quỹ khuyến học. Hàng năm vào năm học mới xã tổ chức phát thưởng cho các thầy cô giáo và các học sinh đạt loại giỏi cấp huyện, tỉnh cũng như tổ chức tốt lễ dâng hương tại đền Thái sư Lê Văn Thịnh để phát huy truyền thống hiếu học. Địa phương không có trẻ em bỏ học, trẻ em mắc tệ nạn xã hội, 100% trẻ em trong độ tuổi được đến trường, liên tục từ năm 2005 đến nay trường Mầm non, trường Trung học cơ sở đạt tiên tiến xuất sắc.

Tỉ lệ sinh con thứ 3 ngày càng giảm, chất lượng dân số ngày càng tăng, tỉ lệ phát triển dân số hàng năm là 0,7%. Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân được chú trọng, trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia, cộng tác viên dân số, y tế ở thôn làm tốt công tác tuyên truyền chăm sóc sức khoẻ cộng đồng nên ở Đông Cứu chưa hề xảy ra dịch bệnh.

Phong trào đền ơn đáp nghĩa và các hoạt động xã hội nhân đạo ở Đông Cứu ngày càng được tăng cường, 100% hộ gia đình chính sách có cuộc sống ổn định, hộ nghèo được quan tâm hỗ trợ vốn học nghề cũng như về khoa học kỹ thuật giúp họ vươn lên trong cuộc sống.

Phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh chính trị ở Đông Cứu thực sự có bước phát triển bền vững, các vụ vi phạm trên địa bàn đều được giải quyết dứt điểm đúng thẩm quyền. Đã xử lý 151 vụ, lập hồ sơ giáo dục tại cộng đồng 14 đối tượng, đưa đi cai nghiện tập trung 8 đối tượng, xây dựng 2 mô hình điểm phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội ở Bảo Tháp và Cứu Sơn. Công an xã liên tục nhiều năm đạt đơn vị Quyết thắng.

Thực hiện tốt quy chế dân chủ nên xã không có khiếu kiện đông người, khiếu kiện vượt cấp. Các mâu thuẫn nhỏ trong cộng đồng đều được hoà giải thành ở cơ sở thôn xóm, số việc chuyển lên xã trong 4 năm qua đã hòa giải thành 20/24 việc; án dân sự chuyển giao về xã hoàn thành 100% số việc.

Kinh tế phát triển, an ninh nông thôn ổn định bền vững là tiền đề quan trọng nâng cao chất lượng đời sống văn hóa xây dựng nông thôn mới. Việc cưới, việc tang, tân gia, mừng thọ và lễ hội thực sự theo đúng quy ước thôn làng, đúng theo lời dạy tiết kiệm của Bác. Cán bộ đảng viên thật sự gương mẫu đi đầu trong các phong trào thi đua yêu nước. Các thiết chế văn hóa ở Đông Cứu ngày càng được tăng cường, 100% khu dân cư đều có nhà sinh hoạt cộng đồng, có hệ thống loa truyền thanh thôn xã cũng như có nhiều loại hình câu lạc bộ cùng nhóm sở thích, 6/6 thôn đều có đội bóng đá thiếu niên. Toàn xã có 90% số hộ đạt chuẩn văn hóa, 5/6 đạt Làng văn hóa.

Nhờ xác định tốt phát triển kinh tế gắn với nâng cao đời sống văn hóa là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt nên từ khi triển khai cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Đảng bộ xã Đông Cứu luôn đạt Trong sạch vững mạnh tiêu biểu. Đó chính là kết quả của sự sáng tạo, gắn bó hữu cơ giữa cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” với xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư.

Lê Ba

baobacninh.com.vn

Nội dung học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ kính yêu của dân tộc ta, đã hiến dâng tất cả tình cảm, trí tuệ và cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Người đã để lại tài sản vô giá là tư tưởng và tấm gương đạo đức trong sáng, mẫu mực, cao đẹp, kết tinh những giá trị truyền thống của dân tộc, của nhân loại và thời đại. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác là niềm vinh dự và tự hào đối với mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người Việt Nam.

Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là nhiệm vụ rất quan trọng và thường xuyên, qua đó để giáo dục, rèn luyện mình, xứng đáng là đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam, là “người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.

1. Thực hiện chuẩn mực đạo đức Hồ Chí Minh “Trung với nước, hiếu với dân” cần quán triệt những nội dung của chủ nghĩa yêu nước trong giai đoạn mới; phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới đất nước, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển.

Tư tưởng và phẩm chất đạo đức tiêu biểu của Hồ Chí Minh là tinh thần yêu nước nồng nàn, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, toàn tâm, toàn ý cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Từ quyết tâm “ dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng quyết giành cho được tự do, độc lập”, để rồi phấn đấu cho “ đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”, để nước ta “ sánh vai với cường quốc năm châu”. Học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh chúng ta cần:

– Mỗi người cần nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn những hy sinh to lớn của ông cha để chúng ta có non sông, Tổ quốc Việt Nam độc lập, tự do, thống nhất trọn vẹn hôm nay. Nâng cao tinh thần yêu nước, tự hào về truyền thống anh hùng của dân tộc là lương tâm và trách nhiệm của mỗi người Việt Nam chân chính. Trung với nước ngày nay là trung thành vô hạn với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, nền văn hóa, bảo vệ Đảng, chế độ, nhân dân và sự nghiệp đổi mới, bảo vệ lợi ích của đất nước.

– Trung với nước, hiếu với dân ngày nay là luôn luôn tôn trọng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân dưới cả ba hình thức: làm chủ đại diện, làm chủ trực tiếp và tự quản cộng đồng; hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, giải quyết kịp thời những yêu cầu, kiến nghị hợp tình, hợp lý của dân; khắc phục cho được thói vô cảm, lãnh đạm, thờ ơ trước những khó khăn, bức xúc… của nhân dân.

– Trung với nước, hiếu với dân ngày nay thể hiện ở ý chí vươn lên quyết tâm vượt qua nghèo nàn, lạc hậu, góp phần dựng xây đất nước phồn vinh, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, theo kịp trình độ các nước phát triển trong khu vực và thế giới; thực hiện bằng được mong ước của Bác Hồ kính yêu: “xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.

– Trung với nước, hiếu với dân là phải luôn luôn có ý thức giữ gìn đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết trong Đảng, trong cơ quan, đơn vị; kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng trước mọi mưu đồ của các thế lực thù địch, cơ hội hòng chia rẽ dân tộc, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, chia rẽ Đảng với nhân dân. Đoàn kết là yêu nước, chia rẽ là làm hại cho đất nước. Mọi biểu hiện cục bộ, bản vị là trái với tinh thần yêu nước chân chính.

– Trung với nước hiếu với dân là phải có tinh thần trách nhiệm cao đối với công việc, có lương tâm nghề nghiệp trong sáng; quyết tâm phấn đấu để thành đạt và cống hiến nhiều nhất cho đất nước, cho dân tộc; quyết tâm xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh. Phải có tinh thần ham học hỏi, phát huy truyền thống hiếu học và quý trọng nhân tài của ông cha ta; biết vận dụng sáng tạo các tri thức khoa học, công nghệ hiện đại, các sáng kiến trong sản xuất, công tác, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Mọi sự bảo thủ, trì trệ, lười học tập, ngại lao động, đòi hỏi hưởng thụ vượt quá khả năng và kết quả cống hiến là trái truyền thống đạo lý dân tộc và trái với tư tưởng yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

– Trung với nước, hiếu với dân yêu cầu mỗi chúng ta phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ cá nhân – gia đình – tập thể – xã hội; quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi. Theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh, yêu nước là sẵn sàng phấn đấu hy sinh cho lợi ích chung, việc gì có lợi cho dân, cho nước, cho tập thể thì quyết chí làm, việc gì có hại thì quyết không làm. Làm việc gì trước hết phải vì tập thể, vì đất nước, vì nhân dân, phải nêu cao trách nhiệm của người lãnh đạo, không tham lam, vụ lợi, vun vén cá nhân…

2. Thực hiện đúng lời dạy: “Cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư ” nêu cao phẩm giá con người Việt Nam trong thời kỳ mới

“Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” là chuẩn mực đạo đức truyền thống trong quan hệ “đối với mình”, được Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa, vận dụng và phát triển phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, trở thành chuẩn mực cơ bản của đạo đức cách mạng. Người là một tấm gương mẫu mực về “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Học tập và làm theo tấm gương của Người, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong giai đoạn hiện nay là:

–  Tích cực lao động, học tập, công tác với tinh thần lao động sáng tạo, có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao; biết quý trọng công sức lao động và tài sản của tập thể, của nhân dân; không xa hoa, lãng phí, không phô trương, hình thức; biết sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn của Nhà nước, của tập thể, của chính mình một cách có hiệu quả.

– Thực hiện chí công, vô tư là kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng. Đối với cán bộ lãnh đạo, đảng viên phải loại bỏ thói chạy theo danh vọng, địa vị, giành giật lợi ích cho mình, lạm dụng quyền hạn, chức vụ để chiếm đoạt của công, thu vén cho gia đình, cá nhân…, cục bộ, địa phương chủ nghĩa. Phải thẳng thắn, trung thực, bảo vệ chân lý, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, bảo vệ người tốt; chân thành, khiêm tốn; không chạy theo chủ nghĩa thành tích, không bao che, giấu giếm khuyết điểm…

– Thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư phải kiên quyết chống bệnh lười biếng, lối sống hưởng thụ, vị kỷ, nói không đi đôi với làm, nói nhiều, làm ít, miệng nói lời cao đạo nhưng tư tưởng, tình cảm và việc làm thì mang nặng đầu óc cá nhân, tư lợi, việc gì có lợi cho mình thì “hăng hái”, tranh thủ kiếm lợi, việc gì không “kiếm chác” được cho riêng mình thì thờ ơ, lãnh đạm. Không làm dối, làm ẩu, bòn rút của công, ăn bớt vật tư, tiền của của Nhà nước và của nhân dân. Phải có thái độ rõ rệt lên án và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, loại trừ mọi biểu hiện vô liêm, bất chính ra khỏi đời sống xã hội.

3. Nâng cao ý thức dân chủ và kỷ luật, gắn bó với nhân dân, vì nhân dân phục vụ

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn đề cao dân chủ và kỷ luật và chính Người là một mẫu mực về tinh thần dân chủ, tôn trọng tập thể, tôn trọng quần chúng nhân dân, luôn luôn quan tâm đến mọi người, gắn bó với nhân dân. Người luôn luôn phê phán “óc lãnh tụ”, phê phán thói “quan cách mạng”, phê phán những biểu hiện quan liêu, coi thường quần chúng, coi thường tập thể, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, coi đó là những căn bệnh khác nhau của chủ nghĩa cá nhân.

– Học tập và làm theo Người, mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt mình trong tổ chức, trong tập thể, phải tôn trọng nguyên tắc, pháp luật, kỷ cương. Mọi biểu hiện dân chủ hình thức, lợi dụng dân chủ để “kéo bè, kéo cánh”, để làm rối loạn kỷ cương, để cầu danh, trục lợi hoặc chuyên quyền, độc đoán, đứng trên tập thể, đứng trên quần chúng…, làm cho nhân dân bất bình, cần phải lên án và loại bỏ.

– Học tập đạo đức Hồ Chí Minh tất cả vì nhân dân, mỗi cán bộ, đảng viên, dù ở bất cứ cương vị nào phải gần dân, học dân, có trách nhiệm với dân. Phải trăn trở và thấy trách nhiệm của mình khi dân còn nghèo đói. Không chỉ sẻ chia và đồng cam, cộng khổ với nhân dân, mà còn phải biết tập hợp nhân dân, phát huy sức mạnh của dân, tổ chức, động viên, lãnh đạo nhân dân phấn đấu thoát khỏi đói nghèo. Nhân dân là người thầy nghiêm khắc và nhân ái, luôn luôn đòi hỏi cao ở cán bộ, đảng viên, đồng thời cũng sẵn lòng giúp đỡ cán bộ, đảng viên hoàn thành nhiệm vụ, phát huy ưu điểm, sửa chữa sai lầm, khuyết điểm.

– Học tập đạo đức Hồ Chí Minh phải rất coi trọng tự phê bình và phê bình. Người dạy cán bộ, đảng viên và mọi người chúng ta: không sợ khuyết điểm, không sợ phê bình, mà chỉ sợ không nhận ra khuyết điểm, sai lầm và không có quyết tâm sửa chữa khuyết điểm, sẽ dẫn đến khuyết điểm ngày càng to và hư hỏng. Tự phê bình phải được coi trọng, được đặt lên hàng đầu, theo tư tưởng Hồ Chí Minh “phải nghiêm khắc với chính mình”. Phê bình phải có mục đích là xây dựng tổ chức, xây dựng con người, xây dựng đời sống tình cảm và quan hệ đồng chí, quan hệ xã hội lành mạnh, trong sáng, có lý, có tình. Phải khắc phục bệnh chuộng hình thức, thích nghe lời khen, (thậm chí xu nịnh), tâng bốc nhau, không dám nói thẳng, nói thật để giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Đồng thời, cần phê phán những biểu hiện xuất phát từ những động cơ cá nhân, vụ lợi mà “đấu đá”, nhân danh phê bình để đả kích, lôi kéo, chia rẽ, làm rối nội bộ.

4. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cần phát huy chủ nghĩa yêu nước gắn chặt với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc trong điều kiện toàn cầu hóa, chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tình đoàn kết quốc tế bắt nguồn từ tình yêu thương đối với con người, với nhân loại và đoàn kết toàn nhân loại vì mục tiêu giải phóng các dân tộc bị áp bức, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Người là hiện thân của chủ nghĩa yêu nước chân chính kết hợp với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Nhờ đó mà nhân dân thế giới kính yêu Người, trao tặng Người danh hiệu nhà văn hóa kiệt xuất trên thế giới, anh hùng giải phóng dân tộc, chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế. Từ chủ nghĩa quốc tế cao cả, Người đã xây dựng nên tình đoàn kết quốc tế rộng lớn của dân tộc ta với các dân tộc trên thế giới, góp phần quan trọng vào những thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta và phong trào cách mạng thế giới.

– Ngày nay, trong điều kiện toàn cầu hóa, việc mở rộng tình đoàn kết quốc tế, hợp tác cùng có lợi, chủ động, tích cực hội nhập là một nguồn lực quan trọng để xây dựng và phát triển đất nước. Đoàn kết quốc tế trong sáng là thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa với tinh thần Việt Nam sẵn sàng là bạn, đối tác tin cậy với các quốc gia trên thế giới, phấn đấu vì độc lập, hòa bình, hợp tác và phát triển

– Đoàn kết quốc tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh là phát huy tinh thần độc lập tự chủ, tôn trọng độc lập, chủ quyền của các nước khác, mở rộng hợp tác cùng có lợi, phấn đấu vì hòa bình, phát triển, chống chiến tranh, đói nghèo, bất công, cường quyền, áp đặt trong quan hệ quốc tế. Khép lại những vấn đề của quá khứ, lịch sử, xoá bỏ mặc cảm, hận thù, nhìn về tương lai, xây dựng tình hữu nghị giữa các dân tộc.

– Học tập và làm theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cần nâng cao tinh thần độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, kiên quyết đấu tranh chống tâm lý tự ty, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi; phê phán các biểu hiện vong bản, vọng ngoại, ảo tưởng trước chủ nghĩa tư bản.

Sự nghiệp đổi mới đất nước đã và đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với sự hình thành và phát triển những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của con người Việt Nam, đồng thời tạo ra những thuận lợi và những thử thách mới đối với mỗi chúng ta trong lĩnh vực đạo đức. Hơn lúc nào hết, hiện nay toàn Đảng, toàn dân ta phải quan tâm đầy đủ đến vấn đề đạo đức, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện những chuẩn mực đạo đức đúng đắn, tiến bộ; đẩy mạnh giáo dục, rèn luyện và tăng cường quản lý đạo đức trong Đảng và trong nhân dân. Kế thừa truyền thống đạo đức tốt đẹp của ông cha, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một trong những biện pháp quan trọng để khắc phục sự suy thoái về đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm lành mạnh nền đạo đức xã hội, góp phần giữ vững sự ổn định chính trị, xã hội, tạo động lực cho sự phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững. Vấn đề cơ bản nhất khi thực hiện cuộc vận động là mỗi người chúng ta phải nhận thức đầy đủ vị trí của vấn đề đạo đức, thường xuyên tự giác, nỗ lực học tập, rèn luyện, tu dưỡng theo gương Bác Hồ vĩ đại.

TB (Theo Tài liệu học tập trong cuộc vận động
“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”)

haugiang.gov.vn

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân

(TCTG)- HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỀ NÂNG CAO Ý THỨC TRÁCH NHIỆM, HẾT LÒNG, HẾT SỨC PHỤNG SỰ TỔ QUỐC, PHỤC VỤ NHÂN    (Tài liệu học tập năm 2009 của Ban Tuyên giáo Trung ương)

Chú dẫn của nhà xuất bản

Hai năm qua, Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã được triển khai sâu rộng trong các tổ chức của hệ thống chính trị và toàn xã hội, làm cho toàn Đảng, toàn dân ta ngày càng nhận thức sâu sắc hơn về những nội dung cơ bản, giá trị tinh thần to lớn của tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Kết quả bước đầu của Cuộc vận động đã tạo ra những chuyển biến quan trọng trong nhận thức, ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Tổ chức học tập tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo các chủ đề là một nội dung quan trọng trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tiếp theo các chủ đề học tập năm 2007, 2008, thực hiện Kế hoạch số 03-KH/BTGTW ngày 14-5-2007 của Ban Chỉ đạo Trung ương, năm 2009, toàn Đảng, toàn dân toàn quân ta sẽ học tập chủ đề: Nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, gắn với Kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của Bác.

Nhằm cung cấp kịp thời tài liệu học tập cho các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuốn sách Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chủ đề năm 2009 – Tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân (Tài liệu học tập năm 2009) do Ban Tuyên giáo Trung ương biên soạn.

Đây là tài liệu được phát hành rộng rãi trong cả nước, giúp cho tất cả cán bộ, đảng viên, công chức nâng cao nhận thức về tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, xây dựng kế hoạch cá nhân làm theo Bác với các nội dung cụ thể và thiết thực, góp phần thực hiện tốt các nhiệm vụ và giải pháp triển khai Cuộc vận động trong năm 2009 do Ban Chỉ đạo Trung ương đề ra.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Tháng 4 năm 2009

Nhà xuất bản chính trị quốc gia

I. SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO Ý THỨC TRÁCH NHIỆM, HẾT LÒNG HẾT SỨC PHỤNG SỰ TỔ QUỐC, PHỤC VỤ NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Trách nhiệm là phần việc được giao, nghĩa vụ phải làm tròn theo cương vị, chức trách của mình. Con người có bao nhiêu vị trí, vai trò, chức năng trong các mối quan hệ xã hội thì có bấy nhiêu trách nhiệm. Đó là trách nhiệm thành viên của mỗi người trong quan hệ gia đình; trong cộng đồng, tổ chức, xã hội; trách nhiệm công dân trong quan hệ với đất nước; trách nhiệm phục vụ nhân dân, là công bộc của dân, của cán bộ, công chức…

Trách nhiệm là một khái niệm kép, vừa thuộc phạm trù đạo đức, vừa thuộc phạm trù pháp luật. Có trách nhiệm chỉ chịu sự phán xét của dư luận, đạo đức. Có trách nhiệm ngoài sự phán xét của dư luận, đạo đức còn chịu sự xét xử của pháp luật. Trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, công chức, chịu sự phán xét của cả dư luận, đạo đức, kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước, trong đó việc nhận thức đúng đắn, tự giác thực hiện có vai trò quan trọng.

ý thức trách nhiệm là sự nhận thức (nông, sâu, đầy đủ hay chưa đầy đủ) về nghĩa vụ phải hoàn thành trong mối quan hệ nhất định. Ngược lại với ý thức trách nhiệm là thái độ vô trách nhiệm. Hồ Chí Minh chỉ rõ trách nhiệm của mỗi người trong các mối quan hệ, nhưng nhấn mạnh trước hết là trách nhiệm với Tổ quốc, với nhân dân. Người thường nhắc nhở mỗi người có 3 trách nhiệm: trước Đảng, trước dân, trước công việc. Trong 3 trách nhiệm đó, trước hết cần có ý thức trách nhiệm cao trước công việc, trước nhân dân để làm thật tốt rồi mới đem kết quả đó mà báo cáo với cấp trên, với Đảng.

Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, cần phải “nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”. Tiếp theo các chủ đề học tập được triển khai trong các năm 2007, 2008, theo kế hoạch toàn khoá, trong năm 2009, chủ đề học tập tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là: Nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân gắn với kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hiện nay. Mục đích của việc học tập là:

1. Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới

Trong phạm vi đạo đức, trách nhiệm mang tính bổn phận mà mỗi tổ chức, cá nhân đều phải tự giác, tự mình thực hiện.

– Dân tộc Việt Nam, với 54 dân tộc anh em hình thành và phát triển trên một miền đất có điều kiện tự nhiên vừa thuận lợi, vừa khắc nghiệt, gắn liền với nền văn minh lúa nước. Vì vậy, ngay từ rất sớm đã hình thành cộng đồng dân tộc thống nhất, dựa trên các cộng đồng làng xã phát triển và khá bền vững. Trong mối quan hệ chặt chẽ và gắn bó qua nhiều đời đó, mỗi thành viên là một bộ phận không tách rời của cộng đồng, có lợi ích chung và có trách nhiệm chung. Đó chính là nguồn sức mạnh của cộng đồng.

– Thực hiện mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển và phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã xác định nhiệm vụ “phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới”. Việc động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, đặc biệt phát huy vai trò nêu gương đi trước, làm trước của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức… có ý nghĩa cực kỳ quan trọng để phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong giai đoạn hiện nay.

2. Phát huy chủ nghĩa yêu nước, tinh thần tập thể, đẩy mạnh tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống, chống chủ nghĩa cá nhân, thực dụng, cục bộ, địa phương…

– Trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, chủ nghĩa yêu nước đã giữ vai trò to lớn, có ý nghĩa quyết định. Lòng yêu nước, bắt nguồn từ yêu nhà, yêu quê hương xứ sở, Tổ quốc, nhân dân, là sức mạnh vô địch… Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát: “Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm cả lũ bán nước và lũ cướp nước”[1]. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta trong giai đoạn hiện nay có cơ hội lớn và thách thức lớn, rất cần phát huy chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, được thể hiện cụ thể trong ý thức trách nhiệm của mỗi người Việt Nam.

– Đối lập với tinh thần tập thể, ý thức trách nhiệm trước tập thể là chủ nghĩa cá nhân, đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích của cộng đồng. Ông cha ta đã ca ngợi những người có công với làng, với nước, dựng đền thờ, tôn vinh là thánh, là thần, là phật hoàng, là thành hoàng…, đồng thời phê phán gay gắt những kẻ phản bội, đầu hàng, những thói hư, tật xấu, chủ nghĩa cá nhân…

– Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, những mặt tiêu cực của toàn cầu hóa, của cơ chế kinh tế thị trường khách quan tác động vào tư tưởng mỗi người, kích thích chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng, làm suy giảm sự cố kết của cộng đồng dân tộc. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch cũng tận dụng điều kiện đó để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, mà khuyến khích lối sống cá nhân, thực dụng, hưởng thụ, vọng ngoại… là một trong những thủ đoạn chủ yếu. Trong điều kiện đó, việc làm rõ trách nhiệm của mỗi cá nhân; trên cơ sở tôn trọng lợi ích và quyền tự do của mỗi cá nhân, tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống, ý thức trách nhiệm của cá nhân trước tập thể, cộng đồng, Tổ quốc và nhân dân có nghĩa to lớn và tác dụng xã hội tích cực.

3. Đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức có phẩm chất đạo đức cách mạng, hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang trong giai đoạn cách mạng mới

– Đảng ta ngay từ khi mới ra đời đã xác định nhiệm vụ tổ chức, lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh giành lại nền độc lập và xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Ngoài mục đích đó, Đảng không có lợi ích nào khác. Chính vì vậy, Đảng đã được nhân dân tin cậy, đi theo, làm nên những thắng lợi vẻ vang trong thế kỷ XX. Đó là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành lại nền độc lập cho dân tộc. Đó là chiến thắng trong các cuộc chiến tranh để bảo vệ nền độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Đó là thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới.

– Trong giai đoạn cách mạng mới, thực hiện nhiệm vụ đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, phải chăm lo xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng phải xác định rõ trách nhiệm của mình trước Tổ quốc và nhân dân. Đó là nhân tố quyết định, bảo đảm thắng lợi của công cuộc đổi mới.

– Công tác xây dựng Đảng trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đồng thời cũng còn nhiều yếu kém, khuyết điểm. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, công chức đã và đang làm giảm sức chiến đấu của Đảng, làm giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng. Việc tổ chức nghiên cứu, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong giai đoạn hiện nay là một giải pháp quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng, góp phần làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, hoàn thành trách nhiệm vẻ vang trước Tổ quốc và nhân dân.

4. Đưa cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đi vào chiều sâu, đẩy mạnh việc làm theo tấm gương đạo đức của Bác trong cán bộ, đảng viên và nhân dân

– Thực hiện Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 07-11-2006 của Bộ Chính trị, trong những năm qua, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã triển khai mạnh mẽ Cuộc vận động và đạt được kết quả bước đầu quan trọng. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là Cuộc vận động lớn, kéo dài nhiều năm, trong đó có sự kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục, nâng cao nhận thức, ý thức tự giác và tổ chức thực hiện làm theo tấm gương đạo đức của Bác. Trong hai năm 2007, 2008, theo Kế hoạch toàn khóa đã ban hành (Kế hoạch số 03-KH/BTGTW ngày 14-5-2007), việc triển khai Cuộc vận động đã đạt được kết quả quan trọng. Nhiệm vụ của những năm sắp tới là kết hợp tiếp tục giáo dục nhận thức theo các chủ đề với tăng cường tổ chức, hướng dẫn việc làm theo tấm gương đạo đức của Bác. Nghiên cứu, quán triệt tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân có ý nghĩa thiết thực và trực tiếp trong thực hiện nhiệm vụ này.

– Năm 2009 là năm toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiến hành tổng kết 40 năm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác. Việc học tập tư tưởng và tấm gương đạo đức của Người về ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân là biểu hiện làm theo Di chúc của Bác một cách thiết thực, góp phần tạo nên sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội, phấn đấu đạt được các mục tiêu do Đại hội X của Đảng đã đề ra.

II. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NÂNG CAO Ý THỨC TRÁCH NHIỆM, HẾT LÒNG, HẾT SỨC PHỤNG SỰ TỔ QUỐC, PHỤC VỤ NHÂN DÂN

1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về sự cần thiết phải nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân

– Trong hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những phẩm chất đạo đức của con người Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: mỗi người đều phải tuân theo đạo đức công dân. Đó là tuân theo pháp luật của Nhà nước, kỷ luật lao động, giữ gìn trật tự chung, đóng góp (nộp thuế) đúng kỳ, đúng số… Đạo đức công dân là hăng hái tham gia công việc chung, bảo vệ tài sản công cộng, bảo vệ Tổ quốc, cần, kiệm xây dựng nước nhà… Người nói, mỗi người đều phải có bổn phận với đất nước. Nước là nước của dân; và dân là chủ của nước. Tổ quốc là Tổ quốc chung. Tổ quốc độc lập thì ai cũng được tự do. Nếu mất nước thì ai cũng phải làm nô lệ.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trách nhiệm công dân trước hết và bao trùm nhất là trách nhiệm với Tổ quốc, với nhân dân. Cơ sở của việc nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh xuất phát từ quan niệm mỗi người đều có trách nhiệm trước Tổ quốc. Khi Tổ quốc lâm nguy thì mọi người đều phải đứng lên. Trong lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến ngày 19-12-1946 Bác viết: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc”[2].

– Đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, Người yêu cầu để làm gương cho nhân dân, phải có đạo đức cách mạng, vì cán bộ, đảng viên là tấm gương của xã hội, phải nêu gương, “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Mỗi cán bộ, đảng viên, cán bộ quản lý, lãnh đạo vừa phải thực hiện đạo đức công dân, vừa thực hiện đạo đức của người cán bộ. Dù công tác ở lĩnh vực nào cũng đều phải có phẩm chất đạo đức. Cấp bậc càng cao càng phải nêu gương về đạo đức.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân[3]. Người viết: “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất. Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc. Ra sức học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ”[4].

Cơ sở của trách nhiệm phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức là “dân là chủ và dân làm chủ”. Chính phủ, cán bộ là công bộc của dân. Nhà nước là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Việc gì hại đến dân thì Chính phủ phải hết sức tránh. Việc gì lợi cho dân thì Chính phủ phải ra sức làm.

– Đối với cán bộ, đảng viên của Đảng, cơ sở của ý thức trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân bắt nguồn từ mục đích và bản chất của Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, Đảng ta là đảng của giai cấp công nhân, đồng thời là đảng của nhân dân lao động, của dân tộc. Đảng là đội tiên phong của giai cấp và dân tộc; đại biểu cho lợi ích của giai cấp và dân tộc. Đảng quy tụ những người kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm, tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Đảng lấy dân làm gốc. Đảng cầm quyền, nhưng dân là chủ. Đảng cầm quyền là để bảo đảm cho dân làm chủ. Mọi quyền lực vẫn thuộc về dân. Người dân ủy thác quyền lực đó cho những chức danh cụ thể, kể cả chức vụ Chủ tịch nước.

Trong Lời kết thúc buổi ra mắt Đảng Lao động Việt Nam (3-3-1951), Hồ Chí Minh nói: “Đảng Lao động Việt Nam không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề nguy hiểm đến mấy, nhưng Đảng Lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân”[5].

– Cán bộ, đảng viên, công chức phải phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của quần chúng nhân dân; nhân dân là sức mạnh vô địch.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, sự nghiệp cách mạng là do nhân dân tiến hành. Nhân dân là người làm ra lịch sử. Sức mạnh của nhân dân là vô địch. Không có nhân dân, Đảng, Chính phủ không có lực lượng. Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trên thế giới này không có sức mạnh nào bằng sức mạnh của nhân dân. Có dân là có tất cả. “Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong[6]… Nhiệm vụ phục vụ nhân dân của Đảng là tổ chức và phát huy sức mạnh trong nhân dân để đấu tranh giành lợi ích cho nhân dân, để xây dựng và bảo vệ xã hội mới do nhân dân làm chủ.

2. Nội dung nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh

a) Về ý thức trách nhiệm

– Theo Hồ Chí Minh, ý thức trách nhiệm của mỗi người trước hết thể hiện trong quan hệ với nhiệm vụ được giao, với công việc phải làm.

Khi Đảng, Chính phủ hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, đều phải đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, làm một cách tự giác, theo lương tâm, lương tri, theo nhu cầu nội tâm của cá nhân mình. Nếu làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy…, là không có tinh thần trách nhiệm. Tất cả mọi người, ở mọi địa vị, mọi công tác, mọi hoàn cảnh đều phải có tinh thần trách nhiệm.

– ý thức trách nhiệm biểu hiện trong việc nắm vững đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ; thực hiện đúng đường lối quần chúng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Đảng và Chính phủ đề ra chính sách. Cán bộ phải nghiên cứu, hiểu suốt, thấm nhuần chính sách ấy. Theo chính sách ấy mà điều tra, nghiên cứu, hiểu thấu hoàn cảnh thiết thực của đơn vị mình, địa phương mình. Rồi đặt kế hoạch rõ ràng, tỉ mỉ, thiết thực, để giải thích, tuyên truyền, cổ động quần chúng, làm cho mọi người hiểu thấu và ủng hộ chính sách của Đảng và Chính phủ như là của họ, rồi thi đua thực hiện đầy đủ chính sách ấy. Như thế là làm trọn nhiệm vụ.

Để thực hiện trách nhiệm, phải bàn bạc với quần chúng, hỏi han ý kiến, gom góp sáng kiến của quần chúng. Lãnh đạo quần chúng và hoan nghênh quần chúng phê bình. Người nói, “Tóm lại, phải đi đúng đường lối quần chúng. Thế là có tinh thần trách nhiệmđối với Đảng, đối với Chính phủ, đối với nhân dân”[7].

Bệnh quan liêu, mệnh lệnh, chủ quan, hấp tấp, tự tư, tự lợi là trái hẳn với tinh thần trách nhiệm.

b) Về nội dung hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân

– Mọi người đều phải có trách nhiệm với đất nước. “Các vua Hùng đã có công dựng nước. Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Theo Hồ Chí Minh, Tổ quốc – Đất nước là của tất cả mọi người Việt Nam và nhân dân chính là chủ nhân của đất nước. Tổ quốc và nhân dân có mối quan hệ máu thịt, theo nghĩa “đồng bào”. Khi Tổ quốc lâm nguy thì mọi người phải “đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”[8].

– Phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân là phải đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Cán bộ, đảng viên phải tận tâm, tận lực, tận tình phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Người dạy: Việc gì lợi cho dân, thì phải làm cho kỳ được. Việc gì hại cho dân thì phải hết sức tránh. Mục đích hoạt động của các cấp, các ngành, của mọi cán bộ, đảng viên là nhằm không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân, cả đời sống vật chất và cả đời sống tinh thần. Cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân là tiêu chí số một đánh giá năng lực, khả năng hoàn thành nhiệm vụ của mỗi người, trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau.

– Phục vụ nhân dân là phải quan tâm, chăm lo mọi mặt của đời sống nhân dân, tìm cách thoả mãn các nhu cầu, lợi ích của nhân dân, trước hết là những nhu cầu thiết yếu nhất theo tinh thần: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”[9]. Phải: “Làm cho dân có ăn. Làm cho dân có mặc. Làm cho dân có chỗ ở. Làm cho dân có học hành”2. Phải biết kết hợp các loại lợi ích khác nhau: Lợi ích gần và lợi ích xa, trước mắt và lâu dài; lợi ích của Trung ương và lợi ích của địa phương; lợi ích của các giai cấp, tầng lớp xã hội, làm cho ai cũng cảm nhận được rằng họ đang là đối tượng được phục vụ.

– Phải tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân và xác định vì dân mà làm việc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết: “Nếu ai nói chúng ta không dân chủ, thì chúng ta khó chịu. Nhưng nếu chúng ta tự xét cho kỹ, thì thật có như thế”3. Tôn trọng dân, trước hết là tôn trọng quyền làm chủ của dân, tôn trọng ý kiến của dân. Không được tự cao, tự đại, khinh rẻ dân, chê bai dân. Bởi vì, so với nhân dân thì số đảng viên chỉ là số ít. Cán bộ, đảng viên phải nhận thức đúng đắn rằng Đảng và Chính phủ cũng chỉ mưu giải phóng cho nhân dân, đem lại hạnh phúc, tự do cho dân. Vì vậy, mỗi cán bộ đảng viên cũng phải xác định vừa phụ trách trước Đảng và Chính phủ vừa phụ trách trước nhân dân, “Mà phụ trách trước nhân dân nhiều hơn phụ trách trước Đảng và Chính phủ”[10]. Cán bộ không phụ trách trước nhân dân, tức là không phụ trách trước Đảng và Chính phủ, vì Đảng và Chính phủ cũng chỉ là công bộc của dân.

– Phục vụ nhân dân là hướng dẫn nhân dân tự chăm lo cho đời sống của mình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: Sự hướng dẫn này được thực hiện bằng nhiều con đường khác nhau, chủ yếu là tập trung vào những nội dung cơ bản: Hướng dẫn nhân dân đẩy mạnh tăng gia sản xuất; hướng dẫn nhân dân biết cách thực hành tiết kiệm; hướng dẫn nhân dân phân phối cho công bằng những phúc lợi xã hội theo phương châm “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”[11].

– Phục vụ nhân dân trước hết phải đề ra được các chủ trương, chính sách đúng đắn, vì lợi ích của nhân dân.

Chủ trương, chính sách phải xuất phát từ các điều kiện thực tế và quan tâm tới nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân, ngay cả cấp cơ sở. Người dạy: “Vì vậy, cách tổ chức và cách làm việc nào không hợp với quần chúng thì ta phải có gan đề nghị lên cấp trên để bỏ đi hoặc sửa lại. Cách nào hợp với quần chúng, quần chúng cần, thì dù chưa có sẵn, ta phải đề nghị lên cấp trên mà đặt ra. Nếu cần làm thì cứ đặt ra, rồi báo cáo sau, miễn là được việc”[12].

Về cách làm việc, Hồ Chí Minh nhắc nhở phải nhận thức sâu sắc phương pháp “Từ trong quần chúng ra. Về sâu trong quần chúng”. Việc to, việc nhỏ đều phải phù hợp với lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng, thì mới có thể phục vụ được quần chúng. “Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết. Chúng ta có khuyết điểm, thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”2.

– Phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân phải luôn luôn quán triệt cán bộ là công bộc, là đày tớ của dân.

Hồ Chí Minh dạy: “Làm cán bộ tức là suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân. Mấy chữ a, b, c này không phải ai cũng thuộc đâu, phải học mãi, học suốt đời mới thuộc được”3. Làm đày tớ thì phải học dân, hỏi dân, hiểu dân. “Không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân. Có biết làm học trò dân, mới làm được thầy học dân4.

Đày tớ là phục vụ dân; có cái gì lo thì lo trước dân, có cái gì vui thì vui sau dân. Tự phê bình trước dân và nếu có khuyết điểm thì nhận; đồng thời hoan nghênh nhân dân phê bình mình. ý thức phục vụ nhân dân không phải nằm ở nghị quyết, chỉ thị, kêu gọi, hô hào, nói suông. Người yêu cầu “các vị bộ trưởng nên luyện cho mình có đôi chân hay đi, đôi mắt hay nhìn, cái óc hay nghĩ, không nên chỉ ngồi ở bàn giấy”; hoặc “hội mà không nghị, nghị mà không quyết, quyết mà không làm”.

Tóm lại, nội dung tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh hết sức rộng lớn, sâu sắc. Trước hết là ở nhận thức về Tổ quốc, về nhân dân, về vị trí của cán bộ, đảng viên. Nhận thức đúng sẽ mở đường cho hành động đúng. Nhận thức sai, hành động sai. Hai điểm cốt yếu quan trọng nhất của vấn đề này trong tư tưởng Hồ Chí Minh là dân là chủ, là gốc của nước. Có dân là có tất cả. Cán bộ là đày tớ của dân. Phục vụ dân là nhiệm vụ của mọi cán bộ, công chức, là gốc của mọi công việc.

3. Các giải pháp nâng cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh

a) Các giải pháp về phía Đảng

– Giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức sâu sắc, toàn diện hơn về Đảng.

+ Hồ Chí Minh chỉ rõ: Đảng ta là đạo đức, là văn minh. Văn minh là trí tuệ, là bản lĩnh, là tính nhân văn của một Đảng cách mạng chân chính. Đạo đức chủ chốt của Đảng là quyết tâm suốt đời phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết. “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”[13].

+ Người khẳng định, Đảng ta vĩ đại, lịch sử Đảng là cả một pho lịch sử bằng vàng. Đảng ta vĩ đại vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác. Đảng là mỗi chúng ta. Đảng phải giáo dục cho cán bộ, đảng viên nhận thức được rằng, mỗi cán bộ, đảng viên trong sạch, vững mạnh, có ý thức phục vụ nhân dân tốt thì Đảng trong sạch, vững mạnh.

– Phải xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thực sự có đạo đức cách mạng.

+ Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vai trò quyết định của cán bộ, có cán bộ tốt, việc gì cũng xong. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, mỗi cán bộ, đảng viên càng phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch. Phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân.

+ Phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân là thực hiện nghiêm minh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng.

Phải rà soát lại tất cả những chủ trương, chính sách đã có để kiên quyết chống tư tưởng đặc quyền, đặc lợi trong bộ máy Đảng và Nhà nước. Còn đặc quyền, đặc lợi thì còn có kẽ hở để vi phạm đạo đức cách mạng.

Phải kiểm tra, kiểm soát trong việc thực hiện chính sách của Đảng để biết rõ cán bộ và nhân viên tốt hay xấu; biết rõ ưu điểm, khuyết điểm của các cơ quan và của các mệnh lệnh, nghị quyết. Đặc biệt để chống lại cái thói nghị quyết một đường thi hành một nẻo.

Có hai cách kiểm soát. Một cách là từ trên xuống, tức là người lãnh đạo kiểm soát kết quả của những công việc của cán bộ mình. Một cách là từ dưới lên, tức là quần chúng và cán bộ kiểm soát sự sai lầm của người lãnh đạo. Cách này là cách tốt nhất để kiểm soát các nhân viên.

– Phải giữ nghiêm kỷ luật trong Đảng.

+ Hồ Chí Minh luôn luôn coi kỷ luật đảng là nhất trí về tư tưởng, hành động và xuất phát từ lòng tự giác của đảng viên. Cá nhân phải tuyệt đối phục tùng tổ chức, số ít phục tùng số nhiều, cấp dưới phục tùng cấp trên, địa phương phục tùng Trung ương… Phải giáo dục tư cách, bổn phận đảng viên và rèn luyện tính Đảng.

+ Duy trì kỷ luật Đảng phải có thái độ khen, chê đúng mực đối với các hạng đảng viên, cán bộ. Người dạy: Khi cán bộ có khuyết điểm thì trước hết cần có nhận thức đúng về khuyết điểm. Người đời ai cũng có khuyết điểm. Có làm việc thì có sai lầm. Chúng ta không sợ có sai lầm và khuyết điểm, chỉ sợ không chịu cố gắng sửa chữa sai lầm và khuyết điểm. Sửa chữa sai lầm, trước hết cần dùng cách giải thích thuyết phục, cảm hóa, dạy bảo; song tuyệt nhiên không phải không dùng xử phạt. Khuyết điểm có việc to việc nhỏ. Nếu tất cả không xử phạt thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại. Trong bài Sự nghiệp vĩ đại của Lênin, Người đã nhắc lại câu nói của V.I.Lênin: “Không xử bắn bọn ăn hối lộ mà xử nhẹ như thế, là một việc xấu hổ cho những người cộng sản, những người cách mạng”[14]. Vì vậy, hoàn toàn không xử phạt là không đúng. Mà mắc sai phạm gì cũng dùng đến xử phạt cũng là không đúng.

b) Các giải pháp từ phía cán bộ, đảng viên

Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh vai trò của cán bộ, đảng viên cũng như mối quan hệ giữa cán bộ, đảng viên với tổ chức, với quần chúng. Người nói: hàng trăm người dân mới có một đảng viên. Cần phải hiểu đúng ý nghĩa của vấn đề. Một mặt, sức mạnh to lớn của quần chúng so với đảng viên; mặt khác, đảng viên là người đại biểu ưu tú của dân tộc; là người lãnh đạo và tấm gương để nhân dân noi theo. Do vậy, cán bộ, đảng viên phải có nhận thức và hành động đúng.

– Về nhận thức:

+ Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải nhận thức sâu sắc về tư cách và bổn phận của mình.

Người nói, có những điều tưởng như ai cũng nhận thức đầy đủ cả rồi, nhưng thực tế lại không phải như vậy. Không ai bắt buộc ai vào Đảng. Đó là do sự tự giác, lòng hăng hái của mỗi người mà tình nguyện làm đảng viên, làm chiến sĩ xung phong. Vậy thì, mỗi đảng viên phải xứng đáng là một người trong những người đại biểu của dân tộc. “Làm đảng viên, làm cán bộ là suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân”. “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài”.

+ Người yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên cần phải có “tính Đảng”. Thể hiện ở các điểm sau:

Một là, phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, lên trước hết. Vì lợi ích của Đảng tức là lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc.

Hai là, việc gì cũng phải điều tra rõ ràng, cẩn thận và phải làm đến nơi, đến chốn, không qua loa, đại khái.

Ba là, lý luận và thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau.

Bốn là, phải ráo riết dùng phê bình và tự phê bình.

Năm là, nơi nào sai lầm, ai sai lầm thì lập tức phải sửa chữa, v.v..

Đó là những điều “tối thiểu” mà bất kỳ ai, khi viết đơn vào Đảng cũng đã “thuộc” và hứa trước đảng kỳ. Phải thông qua tu dưỡng như chuyện rửa mặt hằng ngày. Tự giác tu dưỡng, phấn đấu, rèn luyện về mọi mặt là thước đo tinh thần trách nhiệm, ý thức phục vụ nhân dân.

– Về chính trị, tư tưởng:

+ Phải nắm vững đường lối cách mạng của Đảng. Đường lối đó vừa có nội dung xuyên suốt trong toàn bộ tiến trình cách mạng, đồng thời phản ánh thực tiễn của từng giai đoạn. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ quá trình cách mạng Việt Nam từ khi Đảng ra đời.

+ Tu dưỡng về chính trị là phải chống khuynh hướng “tả” và khuynh hướng “hữu”, ngả nghiêng dao động. Điều này hoàn toàn xa lạ với việc nắm vững và kiên định về chiến lược, mềm dẻo về sách lược và hết sức linh hoạt trong sử dụng các biện pháp tiến hành cách mạng theo tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến”.

+ Phải nghiêm túc nghiên cứu, học tập lý luận Mác – Lênin.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, “lý luận cách mạng như cái bàn chỉ nam”, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng, như nhắm mắt mà đi.

Học lý luận không chỉ củng cố lập trường quan điểm chính trị, nâng cao nhận thức, tầm trí tuệ mà còn là xác lập cơ sở, nền móng vững chắc hoàn thiện nhân cách làm người. Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định: Học chủ nghĩa Mác – Lênin là để biết cách sống với nhau có tình, có nghĩa; tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa giữa con người với con người.

Trong nghiên cứu học tập lý luận phải phê phán thói “khinh lý luận” hoặc lý luận suông. “Đảng phải chống cái thói xem nhẹ học tập lý luận. Vì không học lý luận thì chí khí kém kiên quyết, không trông xa thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả là “mù chính trị”, thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng”[15]. Về bệnh lý luận suông, Người nói: “Dù xem được hàng ngàn hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào một cái hòm đựng sách”[16].

Học lý luận để thấm nhuần tư tưởng cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, từ đó vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, lấy thực tiễn Việt Nam làm điểm xuất phát, lấy cải tạo hiện thực Việt Nam làm mục tiêu.

– Về đạo đức:

+ Phải rèn luyện, tu dưỡng đạo đức trước hết là “trung với nước, hiếu với dân”. Người nói, đạo đức là gốc, là nền tảng của người cách mạng. Điểm xuất phát quan trọng nhất là phải xác định lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì sẽ tiến đến chỗ chí công, vô tư. Mình đã chí công, vô tư thì khuyết điểm sẽ ngày càng ít đi và tính tốt ngày càng thêm. Tu dưỡng đạo đức cách mạng phải toàn diện, trên tất cả các khía cạnh.

+ Phải thường xuyên nuôi dưỡng lòng thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí, đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân. Vì thế mà chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ. Vì thế mà không ham giàu sang, không ngại cực khổ, không sợ oai quyền.

+ Tu dưỡng đạo đức là rèn luyện đức tính ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy. Thấy việc phải thì làm, thấy việc phải thì nói. Là rèn luyện cho đầu óc trong sạch, sáng suốt, có đức tính biết xem người, biết xét việc…

+ Tu dưỡng đạo đức phải rèn luyện đức tính có gan nói, có gan phụ trách, có gan làm việc, có gan tự phê bình, có gan sửa chữa khuyết điểm, có gan chịu đựng khó khăn, chống lại sự vinh hoa, phú quý không chính đáng. Nếu cần thì có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát.

+ Phải rèn đức tính trong sạch, không tham địa vị, không tham tiền tài, ít lòng ham muốn về vật chất. Không ham người tâng bốc mình.

+ Phải rèn luyện đức tính cần, kiệm, liêm khiết, chính trực.

+ Phải tu dưỡng, rèn luyện, đấu tranh bền bỉ hằng ngày, suốt đời.

– Về văn hoá, học vấn, chuyên môn nghiệp vụ:

Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc học văn hoá, nâng cao học vấn là một mặt của chế độ công tác, một biểu hiện của đạo đức cách mạng.

+ Cán bộ, đảng viên phải chịu khó, học tập thường xuyên, mọi nơi, mọi lúc, “học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân”. Học tập suốt đời nhằm thâu thái tri thức, khoa học, kỹ thuật của nhân loại, tăng năng suất công tác, cải tiến công việc.

Người khẳng định, cán bộ, đảng viên không chỉ giỏi về chính trị mà cũng phải giỏi về chuyên môn. Làm nghề gì cũng phải học và làm nghề gì phải thạo nghệ ấy. Không có chuyên môn sẽ dẫn tới bệnh nói suông, lãnh đạo chung chung. Cán bộ chính trị phải biết kinh tế, cán bộ kinh tế phải có chính trị. Đó chính là một biểu hiện của nâng cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

– Về phương pháp công tác, cách lãnh đạo:

Cách lãnh đạo, cách làm việc của cán bộ, đảng viên, hiểu rộng ra là văn hóa lãnh đạo, văn hóa ứng xử. Theo Hồ Chí Minh nói chung có hai cách làm việc: Làm việc theo cách quan liêu và làm việc theo cách quần chúng.

+ Thực hành cụ thể theo cách quần chúng thì phải theo nguyên tắc “Phải đưa chính trị vào giữa dân gian”. Đó là cách làm việc thể hiện được nguyện vọng, tâm tư của quần chúng. Việc gì cũng phải tin vào dân chúng, học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng, theo tình hình thiết thực của dân chúng, theo trình độ giác ngộ của dân chúng và sự tình nguyện của dân chúng…

+ Làm việc theo cách quan liêu cũng gần với kiểu làm việc theo cách quyền lực, xa lạ với cách làm việc quần chúng. Theo Hồ Chí Minh, là cán bộ công chức, dù ít dù nhiều đều có quyền hành “cấp cao quyền to, cấp thấp quyền nhỏ”. Có quyền mà xa dân, làm việc theo kiểu quan liêu, mệnh lệnh, không dân chủ thì sớm muộn nhất định thất bại. Có quyền mà nhận thức đúng đắn rằng quyền lực đó là của dân và nhân dân giao phó quyền lực đó cho mình, thì sẽ làm hết trách nhiệm đối với nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên phải bỏ sạch lối quan liêu, lối chật hẹp, lối mệnh lệnh.

Phong cách và phương pháp công tác có văn hóa của cán bộ, đảng viên là theo đúng đường lối quần chúng, là nguyên tắc, là tình cảm, trách nhiệm của những công bộc của dân.


III. TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỀ NÂNG CAO Ý THỨC TRÁCH NHIỆM HẾT LÒNG, HẾT SỨC PHỤNG SỰ TỔ QUỐC, PHỤC VỤ NHÂN DÂN

1. Tấm gương về ý thức trách nhiệm trước Tổ quốc, Đảng và dân tộc

– Động cơ thôi thúc Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước là trách nhiệm của một người dân mất nước.

Mang theo hoài bão, khát vọng giành độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào, Hồ Chí Minh tự mình quyết tâm đi ra nước ngoài “xem người ta làm thế nào” để trở về cùng đồng bào cứu nước, đấu tranh giành độc lập cho dân tộc. Trong gần 10 năm bôn ba, trải qua biết bao khó khăn của sự kiếm tìm, Người đã hoàn thành trách nhiệm do mình tự đặt ra, đó là tìm thấy chân lý “muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản[17].

– Sau khi tìm được con đường cứu nước, Hồ Chí Minh tự xác định trách nhiệm tuyên truyền, vận động, tổ chức, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc để đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Người đã tập hợp, giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo được những người tiên tiến nhất trong cộng đồng dân tộc, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam để lãnh đạo toàn dân đấu tranh giành độc lập.

– Từ năm 1930 đến năm 1945 là thời kỳ tư tưởng và cuộc sống của Hồ Chí Minh gặp nhiều thử thách, nhưng trong thử thách, Người luôn luôn kiên định mục tiêu và luôn mong muốn, khát khao được hoạt động vì sự nghiệp cứu nước của dân tộc.

+ Hai lần người bị bắt và bị giam trong nhà tù đế quốc. Trong tù, Người xác định “muốn nên sự nghiệp lớn, tinh thần càng phải cao”. Người không ngại sự gian khổ, đau đớn và lo về tính mạng của mình, mà lo cho cách mạng, buồn vì không được hoạt động. Người tâm sự: Đối với người cách mạng, không gì khổ tâm bằng đã không hoạt động được, lại mất liên lạc với đoàn thể lâu ngày.

+ Ngay sau khi về nước, chấp nhận một cuộc sống vô cùng thiếu thốn, gian khổ, Hồ Chí Minh khẩn trương bắt tay vào thực hiện nhiều công việc quan trọng, chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Người vừa xác định trách nhiệm của người lãnh đạo, vừa xác định trách nhiệm cứu quốc là việc chung, ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm. Người xác định trách nhiệm của Người: “Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dầu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề”[18].

– Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, trong 24 năm giữ cương vị là người đứng đầu Đảng và Nhà nước, Hồ Chí Minh đã tự xác định cho mình trách nhiệm vừa là người lãnh đạo cao nhất, vừa là đày tớ của dân.

+ Người nói: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo – là vì mục đích đó… Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc lợi dân”[19].

+ Hồ Chí Minh nhận thức rất rõ vai trò, trách nhiệm của Người trong hệ thống quyền lực. Đó là nhận sự uỷ thác của quốc dân, đồng bào, quyết tâm hoàn thành trách nhiệm được Tổ quốc giao phó “giống như người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra trước mặt trận” nhằm làm cho “nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[20]; xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới…

– Trong tiến trình cách mạng, không tránh khỏi có lúc Đảng phạm sai lầm, khuyết điểm. Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Trung ương và Chính phủ nhận trách nhiệm. Trong Thư gửi đồng bào nông thôn và cán bộ nhân dịp cải cách ruộng đất ở miền Bắc căn bản hoàn thành, sau khi nêu những khuyết điểm, sai lầm của Đảng trong việc đoàn kết nông thôn, việc đánh kẻ địch, việc chấn chỉnh tổ chức, trong chính sách thuế nông nghiệp, Người viết: “Vì sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ có chỗ thiếu cụ thể, thiếu kiểm tra đôn đốc – cho nên khi cải cách ruộng đất đã xảy ra những khuyết điểm, sai lầm… Trung ương Đảng và Chính phủ đã nghiêm khắc kiểm điểm những sai lầm, khuyết điểm ấy và đã có kế hoạch kiên quyết sửa chữa, nhằm đoàn kết cán bộ, đoàn kết nhân dân, ổn định nông thôn, đẩy mạnh sản xuất”[21].

2. Tấm gương hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân

a) “Tổ quốc trên hết”; “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi”

Cả cuộc đời cách mạng của Hồ Chí Minh là hiện thân của tinh thần và quyết tâm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Trong câu trả lời phóng viên báo Granma, Cuba, Người nói: “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi”. Điều đó được chứng minh một cách đầy đủ bằng cả cuộc đời hoạt động của Người.

Sau hơn ba mươi năm lặn lội tìm đường cứu nước, cứu dân, khi chính quyền đã về tay nhân dân, Hồ Chí Minh không hề gợn lên một suy nghĩ nhỏ nào về hưởng thụ. Sau khi giành được độc lập, Người đã cùng Trung ương Đảng, Chính phủ đưa chính quyền nhân dân non trẻ vượt qua bao thác ghềnh, gian khó. Nếm mật, nằm gai, lội suối ngủ rừng, tiếp tục lãnh đạo nhân dân đánh thắng hai cuộc chiến tranh của thực dân, đế quốc. Trong điều kiện hòa bình, với cương vị Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước, Người vẫn giữ gìn lối sống trong sạch, giản dị, vì nước, vì dân.

b) Tất cả vì độc lập, tự do của Tổ quốc; “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”

Trước thời cơ giành độc lập, Người quyết tâm: “dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho kỳ được độc lập dân tộc”.

Sau khi giành được chính quyền và trong suốt 24 năm lãnh đạo đất nước, Người luôn luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc, “dĩ bất biến, ứng vạn biến” để giữ gìn và bảo vệ nền độc lập ấy.

Trước chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Người có sức lan tỏa mạnh mẽ, huy động được sức mạnh của toàn dân tộc chiến đấu vì độc lập, tự do và giành được thắng lợi vẻ vang.

c) Tất cả vì lợi ích của Tổ quốc và nhân dân, không dành riêng cho cá nhân và gia đình

Trả lời các nhà báo nước ngoài, Người nói: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”[22].

Trong bản Di chúc, Người viết: “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”[23].

IV. HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỀ NĂNG CAO Ý THỨC TRÁCH NHIỆM, HẾT LÒNG, HẾT SỰC PHỤNG SỰ TỔ QUỐC, PHỤC VỤ NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

1. Quán triệt tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh “trung với nước, hiếu với dân”, nâng cao nhận thức về ý thức trách nhiệm, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong cán bộ, đảng viên, công chức

– Giáo dục đạo đức trước hết là tác động vào nhận thức, tạo ra ý thức đạo đức đúng đắn, qua đó mỗi người tự giác thực hiện để có hành vi đạo đức phù hợp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên những phẩm chất đạo đức cơ bản của người cán bộ cách mạng, tiêu biểu nhất là “trung với nước, hiếu với dân”. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trước hết cần quán triệt sâu sắc tư tưởng của Người, để vận dụng và làm theo.

– Học tập và làm theo tư tưởng “tận trung với nước, tận hiếu với dân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay là mỗi người phải tuyệt đối trung thành với lợi ích của đất nước, của dân tộc, đặt độc lập dân tộc, chủ quyền và lợi ích quốc gia lên trên hết và trước hết. ý thức hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân của mỗi người phải được thể hiện trong hành động đem hết tài năng, sức lực cống hiến cho độc lập, tự do của Tổ quốc, cho sự phát triển của đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa.

– Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, mỗi cán bộ, công chức phải hoàn thành nhiệm vụ, chức trách của mình theo đúng pháp lệnh công chức. Biểu hiện cụ thể là làm tốt những công việc hàng ngày, nhất là những việc liên quan trực tiếp tới đời sống của người dân.

– Để nâng cao ý thức trách nhiệm, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân cần kiên quyết đấu tranh, phê phán những quan niệm và biểu hiện sai trái. Đó là sự lầm lẫn giữa quyền uy được tổ chức giao phó với quyền lực cá nhân. Sự lẫn lộn đó dẫn tới cơn khát quyền lực, chạy quyền, mua quyền, bán quyền, lộng quyền, cửa quyền, tham quyền cố vị. Khi có quyền mà thiếu lương tâm sẽ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân, đục khoét dân, ăn của đút, “dĩ công vi tư”. Lúc sinh thời Bác Hồ đã cảnh báo: “Cậy thế mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân. Quên rằng dân bầu mình ra là để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân”[24].

2. Cụ thể hóa ý thức trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong từng cơ quan, đơn vị, địa phương

– Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, mỗi người, dù ở cương vị nào cũng cần phải tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức. Người đã có nhiều lời dạy rất cụ thể về đạo đức của các giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội… Những lời dạy của Người đến nay vẫn còn nguyên giá trị và cần được cụ thể hóa trong điều kiện mới.

– Cơ sở để vận dụng, cụ thể hóa những lời dạy của Bác với các giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội là đường lối, quan điểm, giải pháp… đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển và cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020. Đó là đảm bảo quyền làm chủ của dân “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, thực hiện đường lối quần chúng “gần dân, học dân, gắn bó với dân”, “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”, thực hiện được nhiệm vụ của người cán bộ “nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, đảm bảo dân sinh, nâng cao dân trí”. Mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, dù làm việc ở vị trí nào cũng đều cần quán triệt những quan điểm chung đó.

– Cần cụ thể hóa tinh thần trách nhiệm, ý thức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân thànhcác nhiệm vụ trên từng vị trí công tác, từng loại công việc. Thấm nhuần, quán triệt sâu sắc tư tưởng và tấm gương vì nước quên mình, vì nhân dân phục vụ của Bác Hồ để vận dụng, cụ thể hóa nội dung những lời dạy của Bác đối với ngành, địa phương, giới mình trong điều kiện mới, gắn với hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị.

3. Kết hợp chặt chẽ giữa tổ chức, hướng dẫn với động viên, kiểm tra, giám sát việc làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

– Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” hướng vào việc nâng cao vai trò tự giác của mỗi cán bộ, đảng viên trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác. Vì vậy, cần động viên, khuyến khích, hướng dẫn mọi người, đặc biệt là cán bộ, đảng viên, công chức tự giác đề ra chỉ tiêu phấn đấu “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh”. Trong đợt học tập chủ đề “Nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân” của năm nay, mỗi cán bộ, đảng viên, công chức công tác ở mọi cấp, mọi ngành, nhất là các cán bộ lãnh đạo chủ trì, chủ chốt, cần xây dựng kế hoạch của mỗi cá nhân học tập và làm theo Bác với những việc làm cụ thể, định kỳ báo cáo trước chi bộ, cơ quan, đơn vị.

– Để hỗ trợ mỗi cá nhân thực hiện học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, mỗi tập thể đảng, chính quyền, đoàn thể xây dựng các chương trình hành động, giúp đỡ, giám sát và kiểm tra việc tự giác làm theo. Định kỳ yêu cầu các cá nhân báo cáo những việc đã làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

4. Phát huy vai trò nêu gương trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

– Một trong những nguyên tắc thực hành đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh là phải nêu gương về đạo đức. Hồ Chí Minh yêu cầu mọi người đều phải nêu gương về đạo đức. Ông bà nêu gương cho con cháu, cha mẹ nêu gương cho con, anh chị nêu gương cho em, đảng viên nêu gương cho quần chúng… Phát huy vai trò nêu gương trong thực hành đạo đức có ý nghĩa to lớn không chỉ trước mắt mà còn mãi mãi lâu dài về sau.

– Trong phạm vi xã hội, việc nêu gương về đạo đức của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo các cấp, có vai trò đặc biệt quan trọng. Trong tác phẩm Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, nhân dân ta đã có câu nói rất hay và rất đúng là “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Theo yêu cầu đó của dân, trong Đảng và hệ thống quản lý nhà nước, việc lãnh đạo đi trước, làm trước để đảng viên, quần chúng, nhân dân đi sau, làm theo có ý nghĩa rất quan trọng. Việc nêu gương về đạo đức không chỉ là sự vận động mà phải trở thành những quy định, sự ràng buộc trách nhiệm để mỗi người đều tự giác và cần phải thực hiện. Các cấp, các ngành cần chủ động ban hành các quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ lãnh đạo trước nhân viên; cán bộ, đảng viên trước quần chúng.

Mục lục

Chú dẫn của Nhà xuất bản

I. Sự cần thiết nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

II. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân

III. Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân

IV. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong giai đoạn hiện nay

Chịu trách nhiệm xuất bản: Ts. Nguyễn Duy Hùng
Chịu trách nhiệm nội dung: Ts. Hoàng Phong Hà
Biên tập nội dung: TS. Trịnh Đình Bảy, Phí ngọc Nội
Trình bày bìa: Phạm Thuý Liễu
Chế bản vi tính: Nguyễn Thị Hằng
Sửa bản in: Phòng biên tập kỹ thuật
Đọc sách mẫu: Phí Ngọc Nội

CTQG-2009


[1]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.6, tr.171.
[2]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.4, tr.280.
[3]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.7,tr. 480.
[4]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.9, tr.285.
[5]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.6, tr. 185.
[6]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.12, tr.212.
[7]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.6, tr.346.
[8]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.3, tr.557.
[9], 2. Hồ Chí Minh: Sđd, t.4, tr.56, 152. 3. Hồ Chí Minh: Sđd, t.5, tr. 243.
[10]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.5, tr. 294.
[11]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.12, tr.185.
[12], 2. Hồ Chí Minh: Sđd, t.5, tr. 246, 297. 3. Hồ Chí Minh: Sđd, t.12, tr.555. 4. Hồ Chí Minh: Sđd, t.6, tr.89.
[13]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.5, tr.249.
[14]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.6, tr.386.
[15]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.7, tr.234.
[16]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.5, tr.234.
[17]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.9, tr.314.
[18]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.3, tr.198.
[19]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.4, tr.240.
[20]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.4, tr.161.
[21]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.8, tr. 236.
[22]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.4, tr. 161.
[23]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.12, tr.512.
[24]. Hồ Chí Minh: Sđd, t.4, tr. 57.

tuyengiao.vn