Thư viện

81 ngày đêm rực lửa tại Thành cổ Quảng Trị năm 1972 (Bài 2)

Bài II: Người anh hùng và trận đánh huyền thoại

QĐND –  Đường về xã Quỳnh Hoàng, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, đã láng nhựa nhẵn thín. Xã có 16 xóm với gần 2.800 hộ. Nhà xây kiên cố đã chiếm hơn 90%. Sản lượng bình quân đầu người đã đạt 1000kg thóc/năm. Khung cảnh yên bình, no ấm đang bao trùm lên Quỳnh Hoàng.

Nhân dân địa phương cũng như tuổi trẻ ở đây không bao giờ quên nỗi vất vả gian khổ, sự hy sinh xương máu của cha, anh trong các cuộc chiến đấu chống giặc, cứu nước. Với miền Nam, Đảng bộ và nhân dân Quỳnh Hoàng luôn thực hiện khẩu hiệu “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Một số gia đình có hai đến ba con nhập ngũ và đều trở thành liệt sĩ. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, hơn 1.200 con em của xã Quỳnh Hoàng, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình lên đường bảo vệ Tổ quốc, trong đó có 167 là liệt sĩ. Đặc biệt, trong một con ngõ nhỏ, dài khoảng 300 mét, nối liền hai thôn An Trực và Đồng Trực của xã Quỳnh Hoàng, đã xuất hiện 3 Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, đó là: Nguyễn Thế Thao, Nguyễn Công Dị (tức Hồng Quân) và Nguyễn Hồng Thế. Chuyện này xưa nay thật hiếm có.

Anh hùng Nguyễn Thế Thao sinh năm 1944, dân tộc Kinh. Sau hai năm trong quân ngũ, tháng 3-1964, anh chuyển ra công tác tại Khu gang thép Thái Nguyên. Tháng 6-1967, Thao tái ngũ, cùng đơn vị sang làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào.

Bộ đội chiến đấu trong Thành cổ Quảng Trị. Ảnh tư liệu.

… Đầu tháng 3-1972, hoàn thành nhiệm vụ quốc tế giúp bạn Lào, đơn vị chuyển về nước, tham gia chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị. Sau một thời gian nghỉ ở Nghệ An, với cương vị Tiểu đoàn trưởng, Nguyễn Thế Thao đã cùng đồng đội góp phần viết nên trang chiến sử huyền thoại trong những ngày hè rực lửa ở Quảng Trị. Trận đánh của đơn vị làm kẻ thù bị bất ngờ, khiếp đảm, kinh hoàng là trận Đồi Cháy.

Điểm cao này nằm ở phía đông nam làng Như Lệ, xã Hải Lệ, huyện Hải Lăng, đã bị địch đốt cháy trụi, do một đơn vị lính thủy đánh bộ ngụy chiếm giữ. Chúng rất huênh hoang, cho đây là cứ điểm bất khả xâm phạm. Tại đây, chúng cho xây dựng nhiều lô cốt, được bao bọc bởi nhiều hàng rào thép gai xen với các bãi mìn. Địch gọi Đồi Cháy là “con mắt của thị xã Quảng Trị”, đồng thời chọn nơi này làm bàn đạp, lấn dũi các địa bàn giải phóng khác. Hơn nữa, từ đây, chúng có thể phát hiện và ngăn chặn lực lượng, phương tiện, hàng hóa của ta từ Bắc vào thị xã Quảng Trị.

Trước đó, đơn vị bạn đã tiến công Đồi Cháy 3 lần nhưng không diệt được cứ điểm trên. Với Tiểu đoàn 6, Bộ chỉ huy Mặt trận B5 giao: “Trong hai ngày, phải giải quyết xong Đồi Cháy”. Mọi người ý thức được rằng, trận này cầm chắc sự ác liệt, hy sinh. Nhưng không ai tỏ ra lo sợ. Trong đầu họ chỉ có một suy nghĩ, đó là làm thế nào để bảo đảm bí mật, bất ngờ, chắc thắng?

Sau khi đi trinh sát trận địa, một phương án táo bạo, độc đáo được Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thế Thao cùng Ban chỉ huy tiểu đoàn vạch ra: Thay vì đánh địch vào lúc nửa đêm, gần sáng như phương án của đơn vị bạn trước đây đã thực hiện, Tiểu đoàn 6 sẽ đánh địch từ khoảng 17 giờ trở đi. Đây là thời điểm chúng lơ là, mất cảnh giác nhất. Ngày 8-9-1972, đơn vị bí mật đưa 300 quân của 3 Đại đội 9, 10, 11 áp sát Đồi Cháy và chỉ cách địch khoảng 70 mét. Việc giấu quân ở cự ly này là rất thích hợp bởi vừa tiện cho xung phong tiêu diệt mục tiêu, vừa tránh được hỏa lực sát thương bằng pháo binh và không quân của địch.

Cán bộ, chiến sĩ của 3 đại đội đã vùi mình trong cát gần một ngày trời: Nhịn đói, nhịn khát, không dám ho… Chỉ một sơ suất nhỏ thì địch sẽ phát hiện được ngay và gây thương vong cho tiểu đoàn. Đến 3 giờ chiều, máy bay của chúng nhiều lần đến giội bom quanh Đồi Cháy nhưng quân ta vẫn an toàn vì ở rất gần địch.

Bộ đội chiến đấu trong Thành cổ Quảng Trị. Ảnh tư liệu.

Đúng 17 giờ 25 phút ngày hôm sau, lợi dụng lúc bọn địch đang nấu cơm chiều, sau những loạt hỏa lực phủ đầu, các chiến sĩ từ trong lòng đất, nhất tề bật lên như trận gió lốc. Tiếng hô xung phong vang động một vùng. Súng B41 nhả đạn. Các khẩu AK nhả đạn. Hàng loạt lựu đạn tới tấp quăng về phía địch. Kẻ thù bị tấn công bất ngờ nên rất hoảng loạn. Tuy nhiên, sau ít phút choáng váng, chúng bắt đầu phản công. Mũi đột kích của Đại đội 9 nhanh chóng chọc thủng tuyến phòng thủ vòng ngoài song bị chững lại ở lưng đồi, vì pháo của địch trùm lên Đồi Cháy. Từ trên cao, một ổ 12,8mm quét chéo xuống sườn đồi khiến quân ta không tiến lên được. Trước tình huống phức tạp, ác liệt, Hoàng Đăng Miện trườn lên, tìm vị trí thuận lợi, rồi bỗng đột nhiên đứng vụt dậy, giương khẩu B41, bóp cò! Sau tiếng nổ đanh, ổ 12,8mm của địch câm bặt (nếu nằm bắn, đạn sẽ vọt qua mục tiêu, không tiêu diệt được chúng). Các chiến sĩ tiếp tục tràn lên tiêu diệt kẻ thù. Miện đang lắp tiếp vào đầu súng quả đạn mới thì một vầng sáng chớp lóe trước mặt anh. Hoàng Đăng Miện đã anh dũng hy sinh.

Sau hai lần xung phong, đến 19 giờ ngày 9-9-1972, toàn bộ 160 tên địch bị tiêu diệt. Ta làm chủ hoàn toàn Đồi Cháy. Do có cách đánh bí mật, bất ngờ, táo bạo của Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thế Thao và đồng đội, “con mắt của thị xã Quảng Trị” như tướng ngụy Bùi Thế Lân thường rêu rao ở Đồi Cháy, đã bị “chọc mù”.

Với thành tích đặc biệt xuất sắc trong trận này, Nguyễn Thế Thao và liệt sĩ Hoàng Đăng Miện, người bị thương trong cả hai lần xung phong, vẫn xông lên tiêu diệt địch, được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vào ngày 23-9-1973. Như vậy là, trong trận Đồi Cháy, Đại đội 9, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 165, Sư đoàn 312 có hai cán bộ, chiến sĩ được phong tặng Anh hùng; mang lại niềm tự hào lớn cho đơn vị.

Về với đời thường, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Đại tá Nguyễn Thế Thao, hiện ở số nhà 194, đường Hoàng Văn Thái, Hà Nội. Đận đầu năm 2012, tôi đã gặp anh tại Hội nghị thành lập Ban tổ chức kỷ niệm 40 năm Chiến dịch Quảng Trị (1972-2012) ở Hội trường Bảo tàng Phòng không – Không quân. Nguyễn Thế Thao là Trưởng ban tổ chức Lễ kỷ niệm lớn này. Trước các đồng chí, đồng đội, anh xúc động nói: “…Cách đây 40 năm, Chiến dịch mùa hè năm 1972 và Chiến dịch phòng ngự Quảng Trị 1972 là chiến dịch kéo dài nhất, ác liệt nhất, mật độ bom đạn cao nhất. Từ mặt trận Quảng Trị đến trận “Điện Biên Phủ trên không” và Hội nghị Pari là bản Anh hùng ca về chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, mà thắng lợi đó đã mở toang khu giới tuyến, cánh cửa ngăn cách hai miền Nam – Bắc, tạo ra cục diện mới rất thuận lợi cho chiến dịch toàn thắng mùa xuân năm 1975.

Thắng lợi huy hoàng nhưng cũng có nhiều hy sinh, tổn thất: Hàng chục nghìn cán bộ, chiến sĩ và nhân dân vĩnh viễn nằm lại trên chiến trường. Đau thương thật là vô hạn. Đã 40 năm qua rồi mà cảnh tượng bi hùng ấy ngỡ như ngày hôm qua. Những cảm xúc luôn đau đáu trong lòng khiến ai nấy còn sống trở về càng gần gũi, giúp đỡ nhau hơn trong cuộc sống đời thường. Hơn nữa, nhiều vấn đề tồn đọng sau chiến tranh cần được giải quyết như việc quy tập hài cốt liệt sĩ, chăm lo các gia đình chính sách còn gặp khó khăn, thiếu thốn.

Xuất phát từ những suy nghĩ đó, Ban tổ chức Lễ kỷ niệm 40 năm Chiến dịch Quảng Trị được thành lập và bắt đầu hoạt động…”.

Cùng ở trong Ban chỉ đạo và Ban tổ chức Lễ kỷ niệm trên, tôi có dịp gặp gỡ, trò chuyện với Đại tá Nguyễn Thế Thao. Nhỏ nhẹ, khiêm nhường, không ồn ào mà thầm lặng, sâu sắc là bản tính của anh. Qua tâm sự, Thao cho biết: Trong trận tập kích sân bay Thầm Lửng ở Lào, như trên đã nói, anh bị thương nặng. Song không hiểu sao, bản thân vẫn còn sống. Thật kỳ lạ. Thao bị ngất nhiều lần và khi tỉnh lại, sờ vào đâu trên cơ thể cũng có máu. Cảm giác đầu tiên là khát. Anh quờ quạng xung quanh chẳng có gì uống được; thoáng nghĩ, phải cố bò về hang đá, chỗ sở chỉ huy đơn vị. Thao vừa thở vừa lê lết trên đất đá lởm chởm, khét mùi thuốc súng. Anh bò tới cửa hang thì đồng đội phát hiện được, vội dìu anh vào. Thao lại ngất xỉu…

Điều trị lành vết thương, Thao tiếp tục trở về đơn vị chiến đấu. Từ Tiểu đoàn trưởng, anh lần lượt được đề bạt lên làm Trung đoàn phó, Trung đoàn trưởng rồi Lữ đoàn trưởng, Sư đoàn phó. Hòa bình lập lại, Nguyễn Thế Thao về Hà Nội giám định sức khỏe mới biết, mảnh đạn M79 quái ác của địch đã xuyên từ vai trái, thấu phổi của anh. Mảnh đạn đó vẫn găm ở đỉnh phổi trái và không thể mổ để lấy ra được vì đúng chỗ động mạch phổi. Gần 40 năm qua, những lúc thời tiết thay đổi, Thao phải ôm ngực, đau đớn, mồ hôi vã ra, hai mắt tối sầm. Vết thương khiến anh trở thành thương binh nặng với tỷ lệ thương tật tới 81%.

Đại tá Nguyễn Thế Thao tiếp tục tâm sự với tôi. Anh rủ rỉ, hóm hỉnh nói về “thời hiện tại” của mình:

– Tôi bị thương thế này, tưởng “ế” rồi kia đấy! Nhưng may “ông giời” thương, đến năm 1982, khi gần 40 tuổi vẫn lấy được vợ. Bà xã lại là bác sĩ cơ đấy, cùng quê Quỳnh Phụ, Thái Bình. May hơn nữa là chúng tôi sinh được hai cháu, đủ cả “nếp”, “tẻ” và đều đã tốt nghiệp đại học.

Những năm cuối thời kỳ bao cấp, cuộc sống của hai vợ chồng vất vả lắm. Lúc đầu, nhà cửa chưa có, vợ con phải đi trú nhờ Trạm khách 354 của quân đội, rồi ra ở cái “tổ tò vò” cạnh đường Điện Biên Phủ. Khi ấy tôi luôn nghĩ đồng đội, nhiều người cũng còn khó khăn, không lẽ bản thân mang cái “danh hiệu Anh hùng”, cái “máu thương binh” ra để đòi hỏi chăng? Thôi thì, anh em sống được, mình cũng sống được. Mãi sau này, hồi ở Lữ đoàn 144, đơn vị lấp mấy cái ao rau muống, chia cho mỗi cán bộ mấy chục mét vuông, mình mới có chỗ “an cư”. Được cái vợ tôi có việc làm ổn định ở Bệnh viện Thanh Nhàn, hai cháu ngoan hiền, sau khi tốt nghiệp đại học đều đã có việc làm, trong đó cháu thứ hai cũng theo bố mang nghiệp nhà binh (cháu thứ hai nhà anh Thao đã tốt nghiệp Học viện Kỹ thuật quân sự).

Tôi thành thật chúc mừng Đại tá Nguyễn Thế Thao. Quả nhiên anh có được “cái kết có hậu”. Nguyễn Thế Thao vì giữ “chức” Phó ban liên lạc Sư đoàn 312 nên đã cùng đồng đội làm nhiều việc như: Tổ chức thăm hỏi đồng đội lúc ốm đau, giúp đồng đội làm kinh tế, hoàn tất hồ sơ cho hơn hai chục cán bộ, chiến sĩ bị thương ở chiến trường, làm thủ tục công nhận thương binh, dẫn các đoàn đại biểu thăm lại chiến trường xưa và viếng những Nghĩa trang liệt sĩ ở Quảng Trị…

Những công việc ấy giúp Đại tá, Anh hùng Nguyễn Thế Thao luôn được gần gũi đồng đội, tri ân đồng đội, những người đã ngã xuống trong những trận đánh huyền thoại để đất nước mãi mãi trường tồn.

—————–

Bài 1: Khí phách kỳ diệu

Bài 3: Vang danh Vĩnh Định

Ghi chép của CHI PHAN
qdnd.vn

81 ngày đêm rực lửa tại Thành cổ Quảng Trị năm 1972 (Bài 1)

Bài I: Khí phách kỳ diệu

QĐND – Qua các cuộc chiến tranh vệ quốc, cùng với biết bao vùng đất quả cảm, kiên cường của đất nước, tỉnh Quảng Trị huyền thoại là minh chứng hùng hồn cho đỉnh cao khí phách và trí tuệ Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Bắt đầu từ trưa ngày 30-3-1972, sau hai cuộc tiến công bất ngờ và quả cảm, với binh chủng hợp đồng quy mô lớn của quân ta, ngày 2-5-1972, thị xã Quảng Trị được giải phóng, sau 18 năm, bị Mỹ-ngụy chiếm đóng. Trong chiến dịch này, ta đã đánh tan tập đoàn phòng ngự mạnh nhất của địch ở Quảng Trị. Hơn ba vạn quân giặc bị loại khỏi vòng chiến đấu; 178 máy bay, 11 tàu chiến, 320 xe tăng, 237 khẩu đại bác và nhiều vũ khí đạn dược của địch bị phá hủy hoặc lọt vào tay Quân giải phóng.

Sau những giờ phút hoàn hồn, để lấy lại tinh thần và nhằm gây sức ép với ta tại Hội nghị Pa-ri, họp lại vào ngày 13-7-1972, đã nhiều lần trì hoãn, địch dốc toàn bộ lực lượng, mở cuộc phản kích, tái chiếm Quảng Trị, mà mục tiêu số 1 là chiếm lại tòa Thành cổ. Chúng gọi tên cuộc hành quân này là “Lam Sơn 72” và bắt đầu từ ngày 28-6-1972.

Địch huy động máy bay phản lực, bình quân mỗi ngày 150-170 lần (có ngày 220 lần), 70-90 lần chiếc B-52; 12-16 tàu khu trục hạm và tuần dương hạm, thuộc Hạm đội 7; 2 sư đoàn dự bị chiến lược là sư dù và sư thủy quân lục chiến, một liên đoàn biệt động, 4 trung đoàn thiết giáp (mỗi trung đoàn có 79 xe tăng và xe bọc thép), cùng hàng chục tiểu đoàn khác.

Đây là cuộc hành quân cực kỳ tàn bạo mà kẻ thù không từ một hành động tội ác nào: Ném đủ các loại bom bi, bom 7 tấn, bom điều khiểu bằng la-de; bắn đủ các loại pháo chụp, pháo khoan; thả chất độc hóa học, hơi độc và hơi ngạt… Số bom đạn chúng ném xuống đây khoảng 328 nghìn tấn, tương đương với sức công phá của 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống hai thành phố Hi-rô-si-ma và Na-ga-sa-ki (Nhật Bản), năm 1945.

Thanh niên, sinh viên nhập ngũ vào chiến đấu tại mặt trận Quảng Trị năm 1972. Ảnh tư liệu.

Trong lịch sử chiến tranh thế giới, chưa hề có một cuộc hành quân nào mà mục tiêu chủ yếu chỉ đánh vào một tòa Thành cổ, có chu vi 2.080m, rộng chưa đầy 3km2, khiến đối phương có thể huy động một lực lượng hải, lục, không quân đông và sử dụng một khối lượng chất nổ khổng lồ như vậy.

Chính trong chiến dịch phản kích mang tính hủy diệt đó của kẻ thù, Thành cổ Quảng Trị đã mở đầu trang sử vô cùng oanh liệt, hào hùng bằng cuộc chiến đấu cực kỳ gian khổ, hiểm nguy và dũng cảm qua 81 ngày đêm mùa hè rực lửa, rung chuyển cả nước và toàn cầu từ ngày 28-6-1972 đến ngày 16-9-1972.

Lực lượng ta ở vòng trong thị xã, lúc đầu có Trung đoàn 48, Sư đoàn 320B và hai tiểu đoàn bộ đội địa phương. Khi cao điểm, có thêm Trung đoàn 95, Sư đoàn 325 và Tiểu đoàn 8 của Trung đoàn 64. Chỉ huy sở của Mặt trận thị xã đặt tại hầm trong dinh Tỉnh trưởng ngụy, bên bờ sông Thạch Hãn. Lực lượng vòng ngoài có Sư đoàn 320B ở cánh Đông, Sư 308 ở cánh Nam, cùng các đơn vị xe tăng, pháo cao xạ và lực lượng du kích các xã phụ cận. Các chốt quan trọng như: Long Quang, nhà thờ Trí Bưu, ngã ba Long Hưng, trường Bồ Đề, ngã ba Cầu Ga… là những nơi, quân ta bất chấp mọi nguy hiểm, gian khổ, hy sinh, kiên quyết đập tan các đợt phản kích của địch. Đặc biệt, trong Thành cổ Quảng Trị, là tiêu điểm ác liệt nhất và cũng là nơi thể hiện tinh thần chiến đấu phi thường, huyền thoại, cực kỳ dũng cảm, hy sinh của quân dân ta. Tại đây, trung bình, một chiến sĩ phải hứng chịu hơn 100 quả bom và 200 quả đạn pháo. Có ngày như ngày 25-7-1972, kẻ thù bắn vào Thành Cổ 5.000 quả đạn. Bốn dãy tường thành ở bốn phía đông, tây, nam, bắc, dày 12m, đều bị vỡ dần; đến một viên gạch nơi đây cũng không còn nguyên vẹn.

Cuộc chiến đấu ở đây diễn ra như một huyền thoại. Và cách đánh địch nhiều khi cũng vượt ra khỏi những quy ước thông thường: Súng cối 60mm, được các chiến sĩ kẹp nách, bắn ứng dụng liên tục mấy chục quả một lần; lựu đạn sau khi rút chốt, phải tính toán sao cho khi nó vừa bay tới mục tiêu là nổ. Có lúc, chiến sĩ bò sát miệng hầm của địch rồi mới tung lựu đạn vào. Trong một trận đánh, có chiến sĩ bắn tới 14 quả đạn B40, diệt 32 tên địch. Tại mặt trận, nhiều chiến sĩ bị thương một, hai, thậm chí ba lần, vẫn chiến đấu, không chịu về tuyến sau. Các chiến sĩ bộ binh, công binh, quân y, thông tin, đều cầm súng đánh địch. Bằng tính kỷ luật tuyệt vời, tinh thần dũng cảm, ý chí ngoan cường và sự hy sinh vô bờ, ai nấy kiên quyết giữ vững trận địa trong suốt 81 ngày đêm. Đó là 81 ngày đêm lịch sử bi tráng, ác liệt, hào hùng, đầy hy sinh và mãi mãi bất tử.

Đại đội 1, Tiểu đoàn 25 vận tải, Sư đoàn 320B nhận thấy, nếu chỉ dùng sức người mang vác vũ khí vào thị xã và dùng võng cáng thương binh ra, với quãng đường dài hàng chục cây số, dưới làn bom đạn của máy bay, pháo mặt đất và pháo hạm của địch thì khá vất vả, hiểm nguy mà hiệu quả thấp. Còn như dùng thuyền, vận chuyển qua sông Thạch Hãn, sẽ được nhiều hơn. Ban chỉ huy đại đội bàn bạc và thống nhất với phương án của Đại đội trưởng Nguyễn Thanh Mai (sau này, đồng chí là giảng viên của Học viện Lục quân Đà Lạt), vận động địa phương cho dùng thuyền máy của bà con ngư dân đi sơ tán, để lại ở các thôn, xóm ven sông, làm phương tiện vận chuyển. Được cấp trên chuẩn y, các chiến sĩ khẩn trương tìm những chiếc thuyền có máy móc còn tốt và một số thùng dầu ma-dút để chạy máy.

Nhớ lại những ngày ấy, các chiến sĩ không thể quên sự giúp đỡ tận tình, có hiệu quả và tình cảm chân thành của nhân dân cũng như du kích bốn thôn: Nhĩ Hạ, Vĩnh Quang, Mai Xá, Lâm Xuân… Những chiếc thuyền đánh cá, đầu máy xe tải nhỏ, máy bơm nước, máy xay xát thóc gạo, các thùng nhiên liệu chạy máy… đều là tài sản lớn mà bà con chắt chiu, dành dụm trong nhiều năm để làm ăn sinh sống. Nhưng khi bộ đội xin được trưng dụng thì ai cũng sẵn sàng ủng hộ và nói: “Mấy chú từ miền Bắc vô đây chẳng tiếc máu xương để giải phóng cho bà con, thì tụi tôi tiếc chi các thứ đó…”.

Thôn Nhĩ Hạ có o Hồng, du kích, mới 17 tuổi, mặt tròn, da trắng, mắt bồ câu. Hồng đang dẫn đường cho bộ đội thì bị pháo địch bắn dữ dội. Một số chiến sĩ mới vào chiến trường, chưa quen trận mạc nên hốt hoảng, lúng túng. Giữa lúc ấy, o bình tĩnh hướng dẫn anh em xuống trú ẩn vào các hố bom vừa nổ, bảo toàn lực lượng.

Có thuyền và nhiên liệu chạy máy, phân đội vận tải thủy của đơn vị được thành lập, kèm theo một tổ bảo đảm kỹ thuật mà nòng cốt là mấy chiến sĩ quê ở hai huyện Giao Thủy và Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Ngay trong 5 đêm đầu tiên, đơn vị đã vận chuyển được 8 tấn vũ khí vào thị xã Quảng Trị và đưa gần 100 thương binh về tuyến sau an toàn. Nhưng rồi địch phát hiện ra, nên cuộc chiến ác liệt trên sông Thạch Hãn bắt đầu…

Để tìm diệt thuyền tiếp tế của ta, đêm đêm, chúng cho máy bay thả đèn dù sáng rực và rải bom từ trường trên sông, nhiều nhất là đoạn từ cầu Quảng Trị, thôn Nhan Biều đến căn cứ Ái Tử. Với ánh sáng đèn dù, các chiến sĩ cứ nghe tiếng máy bay và tiếng nổ “bụp” trên trời, liền cho thuyền đã ngụy trang, tắt máy, áp sát vào bờ; đợi đèn dù tắt, máy bay đi xa, lại tiếp tục công việc. Nhưng đối phó với bom từ trường thì không dễ, bởi bom chìm sâu dưới lòng sông, rất khó phát hiện. Nếu thuyền đi qua, tác động của chân vịt, bom sẽ phát nổ, gây thương vong, nhấn chìm vũ khí, đạn dược.

Thời gian đầu, bom từ trường của địch đã phá hủy nhiều thuyền của ta và làm hàng chục cán bộ, chiến sĩ hy sinh. Đồng chí Phạm Vụ, Chính trị viên đại đội, dẫn một tổ đi tìm kiếm thi hài đồng đội để chôn cất, đã phải thu nhặt từng mảnh thi thể liệt sĩ bị bom địch hất lên bờ sông. “Cái khó ló cái khôn”, phải tìm cách chế ngự sự hiểm nguy này.

Đơn vị cử một tổ được tăng cường ba chiến sĩ công binh của Sư đoàn 320B và có du kích địa phương giúp đỡ, thực hiện rà phá bom từ trường bằng phương pháp thủ công: Dùng dây ni-lông, buộc các thùng đạn đại liên của địch (cách 5m một thùng), với độ sâu từ 1,5 đến 2m, có cây chuối làm phao; rồi chăng ngang sông và kéo xuôi dòng chảy để kích cho bom nổ. Trong quá trình rà phá bom, anh chị em phát hiện nhiều thi thể bộ đội ta hy sinh trong lúc vượt sông sang Thành cổ Quảng Trị, trôi theo dòng nước khiến anh chị em sục sôi căm thù giặc. Đêm đêm, khi đưa thuyền ngang qua các đoạn sông có bom từ trường, để hạn chế thương vong, ta tắt máy, chỉ để một người trên thuyền cầm sào giữ hướng, số còn lại, buộc dây vào mũi thuyền, lội theo mép nước, kéo qua đoạn nguy hiểm.

Trong 81 ngày đêm diễn ra chiến dịch bảo vệ thị xã, Thành cổ Quảng Trị, thì có đến gần 40 đêm, thuyền của Đại đội 1, vận chuyển vũ khí, đạn dược, thương binh cho các đơn vị bộ đội. Thường thì, mỗi đêm từ một đến ba chiếc qua sông và hầu như, đêm nào cũng có đồng đội hy sinh. Khó khăn, gian khổ và hiểm nguy như vậy, nhưng với khẩu hiệu “Đoàn Quang Sơn còn thì thị xã, Thành cổ Quảng Trị còn”, “Đại đội 1 còn thì Đoàn Quang Sơn còn được cung cấp vũ khí, đạn dược”. Anh em trong đơn vị đã đoàn kết một lòng, kiên quyết vượt qua mưa bom, bão đạn của quân thù để đưa những chuyến hàng tới đích.

Trong 81 ngày đêm, ngược xuôi dòng Thạch Hãn làm nhiệm vụ, một phần ba số quân của Đại đội 1 đã mãi mãi hóa thân vào dòng sông đầy máu lửa. Cùng với những con thuyền, hài cốt liệt sĩ của đơn vị còn nằm dưới lòng sông này. Linh hồn của các anh trở thành hồn thiêng sông nước.

… Đò lên Thạch Hãn ơi… chèo nhẹ

Đáy sông còn đó, bạn tôi nằm

Có tuổi hai mươi thành sóng nước

Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm

(Thơ Lê Bá Dương)

Cuộc chiến đấu anh hùng trong 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị, kết thúc bằng thất bại của một đội quân xâm lược đông hơn 5 vạn tên, với thừa thãi vũ khí, bom đạn hiện đại, một lần nữa làm sáng ngời chân lý: Kẻ thù dù có vũ khí tối tân đến đâu cũng phải khuất phục trước những con người có ý chí kiên cường, một lòng chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Đúng như cố Tổng bí thư Lê Duẩn tôn vinh về cuộc chiến đấu trong Thành cổ Quảng Trị: “Chúng ta đã chịu được không phải chúng ta là gang thép; vì gang thép cũng chảy với bom đạn địch; mà chúng ta là những con người thực sự, con người Việt Nam với truyền thống hàng nghìn năm, đã giác ngộ sâu sắc trách nhiệm trọng đại trước Tổ quốc, trước thời đại”.

Thành cổ cùng với thị xã Quảng Trị đã được Nhà nước ta tuyên dương danh hiệu: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Lập nên những chiến công vang dội đó, nơi đây đã thấm đẫm máu của 18 nghìn cán bộ, chiến sĩ, đồng bào Quảng Trị và cả nước. Dưới lớp cỏ non Thành cổ, ngã ba Long Hưng, được gọi là “ngã ba bom”, “ngã ba lửa”, dòng sông Thạch Hãn… bao nhiêu người con yêu nước đã mãi mãi nằm lại. Đời đời, con cháu luôn luôn tưởng nhớ một thời máu lửa, một thời oanh liệt, hào hùng mà cha anh đã làm tất cả để đánh đuổi giặc ngoại xâm, đem lại cuộc sống hòa bình, tươi đẹp như hôm nay.

————-

Bài II: Người anh hùng và trận đánh huyền thoại

Ghi chép của CHI PHAN
qdnd.vn

Tìm đồng đội trên tuyến lửa 1C (Tiếp theo và hết)

Bài 3: Điều không thể mất

QĐND – “Trở lại Tám Ngàn, chúng tôi rủ nhau xuống bờ sông, nơi xảy ra chiến trận năm xưa, tôi là người còn sống sót, đốt vài nén nhang xin tạ tội cùng các anh chị, vì chúng tôi không làm tròn trách nhiệm đưa các anh chị về nghĩa trang yên nghỉ”.

(Xin gián đoạn nhật ký của chị Minh Tâm để kể câu chuyện này cho bạn đọc rõ. Tháng 10-1969, Minh Tâm cùng các đảng viên trong đơn vị từ đất Hà Tiên sang đất bạn họp chi bộ cuối tháng. Họp xong thì được lệnh bất ngờ: Địch xuất hiện, các đảng viên ở lại để dẫn đường cho quân chủ lực đi từ Núi Dài về lộ Cái Sắn. Thật bối rối, vì dự định ban đầu chỉ là chuyến đi họp ngắn ngày, các đồng chí nữ chỉ chuẩn bị vài bộ trang phục. Nhưng vì nhiệm vụ, các chị tự làm công tác tư tưởng rồi chấp hành lệnh ngay. Xong chuyến đưa quân ấy, trên đường trở về căn cứ của đơn vị, Minh Tâm và đồng đội rơi vào ổ phục kích. Sau tiếng mìn nổ, Minh Tâm và Út Hòa dạt vào bờ nên không bị địch phát hiện. Trải qua hơn 20 ngày nhịn đói, nhịn khát, tự xác định phương hướng, hai nữ TNXP đã tìm về đơn vị trong niềm vui khôn tả của mọi người. 8 đồng đội của họ đã hy sinh trong đợt này).

Ngày 5 tháng 8 năm 1997

Các anh Sư đoàn 4 cho một vỏ máy và cử đồng chí Sư đoàn phó chính trị (Phó sư đoàn trưởng về chính trị) cùng đi với chúng tôi về rừng tràm Hà Tiên. Nay thì chẳng còn một cụm tràm nào, chỉ toàn là đồng trống, nhiều con kinh xẻ dọc, xẻ ngang, phải nhờ những người dân sống nơi ấy dẫn đường.

Gần 10 giờ sáng, theo chỉ dẫn của địa phương, chúng tôi lội lên đồng tìm được bờ đìa 3 cây gáo. Đó là điểm để dừng chân hằng đêm của chúng tôi trên đường công tác, cũng là nơi chôn cất các đồng đội của tôi. Tìm hiểu, bờ đìa này vẫn còn nguyên vẹn, chưa có dấu vết đào bới. Bởi vì, dân đồn nơi ấy có ma, họ thường thấy bóng người con gái quẩn quanh dưới gốc 3 cây gáo này.

Chị Minh Tâm (đứng giữa) cùng đồng đội trở lại Tràm Ba Đương (Kiên Giang) tìm kiếm hài cốt liệt sĩ Sáu Thiện năm 2004. Ảnh: Minh Nghĩa.

Bới cỏ tìm, vẫn còn 3 gốc gáo. Đúng rồi! Chỉ còn xác định chôn ở chỗ nào mà thôi.

Quan sát xung quanh: Đằng kia là Gộc Xây, phía trước là sông Vĩnh Tế, bên kia là đường xe thồ… tự nhiên nước mắt tôi trào ra không sao ngăn được. Đã hơn hai mươi năm rồi mới được trở lại nơi đây, được khóc cho đồng đội của mình…

Đốt ít nén nhang, đem bánh cúng… Đứng lặng nhìn làn khói hương nghi ngút, tôi hình dung về những đồng đội của mình…

Tạm biệt nơi đây, chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình.

Hướng tới của chúng tôi là tìm đến Ngã Tư Đầu Trâu – một địa danh năm xưa các đơn vị TNXP đặt để gọi với nhau, vẫn còn lưu đến bây giờ. Tôi nhớ rất rõ, nơi ấy có một nền đất cao và một cây ô môi lớn: Nơi chôn cất 3 đồng đội có tên là: Việt Phương, Thông, anh Hai Quang.

Ngày Thông hy sinh, trận địa bị lộ, trực thăng quần bắn, đổ quân. Anh Sáu Thiện, Liên đội phó ra lệnh rút, sáu anh em vừa tới công sự nổi chui vào. “Cán gáo” quần sát đọt tràm, các anh lo quan sát trên trời, bộ binh luồn đi phía sau tới, leo lên nắp công sự ta mới phát hiện được. Lúc ấy ta và địch sát nhau, máy bay không quần nữa. Mấy anh em vừa bắn vừa chạy thoát khỏi vòng vây. Tìm lại đủ cả, các anh chỉ lo cho tôi, vì hôm ấy chỉ có tôi là nữ.

Khi tìm đến những người biết chỗ cây ô môi thì họ bảo rằng cây ô môi đã bị đốn từ lâu, các ngôi mộ đã lạn mất rồi! Mùa này nước lên cao quá, họ không dẫn đến đó được, hẹn lại mùa khô. Đành phải chờ! Chúng tôi nhờ họ tìm giùm, nếu gặp xin báo theo địa chỉ gửi lại.

Gần 2 giờ chiều, chúng tôi về đến Trung đoàn 30 thuộc Sư đoàn 4. Cơm nước xong, chúng tôi trao đổi với Ban chỉ huy Trung đoàn một vài nơi nữa cần tìm. Các đồng chí hứa sẽ giúp theo yêu cầu. Các anh còn nói: Ngày xưa, nơi đây là địa bàn của các anh chị, còn nay là của chúng tôi.

Qua ít phút chuyện trò làm quen, các đồng chí kể cho chúng tôi nghe vừa qua đơn vị lao động đào gặp được 12 hài cốt trên cùng một bờ đìa, còn lượm được vài chiếc kẹp bồ câu bằng vỏ máy bay; đơn vị đã đưa về Nghĩa trang Hòn Đất. Chúng tôi biết ngay đó là nơi chôn 16 người ở Liên đội 2. Như vậy còn lại 4 người nữa, nhờ các đồng chí cố gắng tìm tiếp.

Sáng ngày 6 tháng 8 năm 1997

Mưa rất to. Khi dứt hột, chúng tôi chia tay với các đồng chí Trung đoàn 30, quay về trụ sở Sư đoàn 4.

Sáng ngày 7 tháng 8

Chúng tôi chia tay nhau tại thị xã Kiên Giang.

Suốt sáu ngày, từ lúc đi cho đến khi về, có lẽ trời cũng cảm thông với nỗi đau vì đồng đội của chúng tôi, nên cứ đổ mưa dầm…

Minh Tâm viết nhật ký tại tuyến đường 1C năm 1971. Ảnh do nhân vật cung cấp.

Chuyến đi này, dù chưa đạt được mục đích cuối cùng, chúng tôi cũng cảm thấy mãn nguyện phần nào. Vì đã hơn hai mươi năm rồi, niềm mơ ước mong manh này mới được thực hiện.

Chúng tôi luôn khắc ghi tình cảm của các anh Hà, Giang, Thống và các đồng chí Sư đoàn 4, Trung đoàn 30 đã nhiệt tình giúp đỡ để chúng tôi hoàn thành tốt một phần ước nguyện.

Từ chuyến đi này, chúng tôi tâm đắc chỉ có tình đồng đội mới thấu hiểu được niềm đau, nỗi khổ với nhau. Và tình đồng chí, đồng đội thật sâu nặng và lâu bền…

(Bẵng đi khá lâu, công cuộc tìm kiếm đồng đội hy sinh trên tuyến lửa 1C không được chị Minh Tâm viết tiếp vào nhật ký. Những chuyến đi của chị và đồng đội đã cuốn hết thời gian và sức lực, chị chỉ còn kịp ghi ngày tháng và một số cột mốc đáng nhớ trên hành trình tìm đồng đội. Theo đề nghị của chúng tôi, chị lần giở cuốn sổ và kể lại).

Mãi tháng 6-2000, tôi và Tuyết Thu mới có điều kiện lên Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Cần Thơ xin hỗ trợ kinh phí đi quy tập hài cốt Sáu Bé, vì Sáu Bé vốn người Cần Thơ. Họ giới thiệu sang Tỉnh đội Cần Thơ (Bộ CHQS tỉnh Cần Thơ – PV) vì Tỉnh đội là cơ quan báo tử. Tỉnh đội cử một cán bộ đi cùng chúng tôi, nhưng kế hoạch công tác đi trong ngày. Từ Cần Thơ đến nơi chôn cất Sáu Bé đã gần 12 giờ trưa. Lần trước đi tìm, chỉ xác định được khu vực vì khi đó đang mùa mưa. Nay trời khô ráo nhưng đã hơn 20 năm, chỗ này chẳng còn chút dấu vết gì của ngày xưa, muốn tìm chắc phải mất thời gian. Chúng tôi phải trở về trong ngày nhưng bụng tự nhủ nhất định không bỏ cuộc, phải tìm được đồng đội mình về.

Đến cuối tháng 5-2001, đồng chí Tuyết Thu đề xuất với anh Năm Đoàn, nguyên Liên đội trưởng TNXP đường 1C đang ở tại TP Hồ Chí Minh, có thêm đồng chí Cao Long Phiêu đi tìm một chuyến, kinh phí hoàn toàn tự lực. Chuyến đi kéo dài một tuần lễ này, tại Hòn Đất, chúng tôi đã tìm ra nơi Sáu Bé nằm, mấy anh em bàn nhau cất bốc về luôn.

Tiếp đó, chúng tôi qua kênh Vĩnh Điều, tìm đến nơi đồng chí Võ Hồng Láng hy sinh. Đồng chí Hồng Láng thuộc Đại đội TNXP Nguyễn Việt Khái II, bị biệt kích phục kích trên sông Vĩnh Tế. Đồng chí bị thương nặng, bị giặc bắt về đồn Vĩnh Gia nhưng đã chấp nhận hy sinh, không khai báo gì cho giặc (Võ Hồng Láng về sau được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân – PV). Khi Hồng Láng hy sinh, địch bắt dân đem chôn cùng đồng chí Cường và một đồng chí bộ đội chủ lực. Nhân dân trong vùng đã chôn cất và chăm sóc phần mộ cho đến khi chúng tôi tìm đến.

Sau chuyến đi này, đồng chí Tuyết Thu đi khảo sát tiếp hai, ba chuyến nữa, phát hiện mộ đồng đội của chúng tôi còn ở rất nhiều nơi: Gộc Xây nhỏ, Gộc Xây lớn, bờ đìa Ô Môi, Tràm Ba Đương… Mấy chục năm qua, khu vực đường 1C, máu lửa năm xưa thành nơi hoang vắng. Chỉ có những hộ dân đi làm rẫy thì thi thoảng, vô tình gặp hài cốt liệt sĩ. Điều đó cũng khó trách ai, vì chính chúng tôi, những người đã trực tiếp chôn cất đồng đội mình mà sau biết bao năm mới trở lại, mà trở lại cũng không dễ dàng tìm thấy nơi các anh, các chị nằm xuống. Cũng chính điều này thôi thúc chúng tôi đi nhiều hơn.

Đến ngày 27-7-2002, kỷ niệm 55 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ, được Tỉnh đoàn Kiên Giang đồng ý cùng tổ chức, chúng tôi đã tổ chức quy tập ở hai vị trí có nhiều mộ liệt sĩ nhất là Gộc Xây lớn và Gộc Xây nhỏ. Đợt này, chúng tôi cất bốc 42 hài cốt liệt sĩ, trong đó có 13 đồng chí xác định được tên tuổi, quê quán. Khi đào lên, ba chúng tôi gói từng hài cốt, ghi rõ họ tên, báo cho gia đình các liệt sĩ đã có tên. Khi các gia đình đến nhận, đồng chí Tuyết Thu và Út Mãnh cùng gia đình đưa hài cốt liệt sĩ về tận quê. Nhiều gia đình xúc động nói với chúng tôi: “Nếu không có các em, các cháu thì tôi chẳng bao giờ gặp lại được người thân”. Những tâm sự ấy là lời động viên để chúng tôi vượt qua bao thủ tục rườm rà, bao khó khăn về vật chất và tinh thần để tiếp tục công việc của mình. Hàng trăm hài cốt của đồng đội nằm lại trên tuyến lửa 1C đã được Tuyết Thu, Út Mãnh và nhiều đồng chí khác công phu, kiên trì quy tập về. Một Đoàn cựu TNXP đi quy tập hài cốt đồng đội được thành lập. Tôi bận công tác Hội nên không tham gia được, Tuyết Thu và Út Mãnh tiếp tục tham gia và có nhiều đóng góp lớn cho nghĩa cử cao đẹp ấy. Đến nay, phần lớn hài cốt của đồng đội hy sinh trên tuyến lửa 1C, rải rác khắp mấy chục địa điểm từ địa bàn Hà Tiên – Vĩnh Tế – Ba Hòn kéo dài xuống lộ Cái Sắn – Kiên Giang đã được quy tập về các nghĩa trang, nhiều người trở về với quê hương, bản quán, người thân. Đó là điều khiến mỗi chúng tôi như được an ủi, vỗ về mỗi dịp tháng 7 mênh mang khơi gợi ký ức máu lửa, khiến chúng tôi như sống lại một thời đã sống quên mình cho độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc.

———-

Bài 1: Nơi sắt thép cũng bị nung chảy
Bài 2: Trở lại Ba Hòn

HỒNG HẢI
qdnd.vn

Tìm đồng đội trên tuyến lửa 1C (Bài 2)

Bài 2: Trở lại Ba Hòn

QĐND – Hành trình đi quy tập hài cốt đồng đội của các nữ TNXP trên tuyến lửa 1C bắt đầu vào năm 1997. Năm đó, các cựu TNXP được tụ họp nhân dịp khánh thành Tượng đài TNXP đường 1C ở Kiên Giang. Tổ 3 người, Minh Tâm, Tuyết Thu và Út Mãnh hết sức vui mừng, gặp lại nhiều đồng đội của mình. Nhớ những đồng đội thân yêu đã vĩnh viễn ra đi, chị và các bạn hẹn nhau cùng đi một chuyến, tìm về góc núi, ven rừng; nơi đồng đội mình đã từng nằm lại trong những ngày chiến tranh ác liệt năm xưa.

Và những trang nhật ký đi tìm đồng đội của chị Lâm Thị Minh Tâm bắt đầu từ đây. Chúng tôi xin giới thiệu cùng bạn đọc nguyên văn những trang nhật ký xúc động này.

14 giờ ngày 2-8-1997

Đúng hẹn, tôi, Thu, Phượng, Thông cùng nhau lên đường.

Ngồi trên chuyến xe đò bon bon về thị xã Rạch Giá trong mưa bão, sao lòng tôi cảm thấy nóng ran, mong cho đến nơi thật nhanh để được nghe kế hoạch của cuộc hành trình.

Đi ngay đợt mưa bão, chắc sẽ rất khó tìm. Song chúng tôi đều nhất quyết ra đi, vì cái lạnh hôm nay đâu bằng cái lạnh của đồng đội mình hơn hai mươi năm qua vẫn còn nằm giữa rừng núi mênh mông, hiu quạnh.

Đến thị xã Rạch Giá hơn 5 giờ chiều, các anh đón chúng tôi tại khách sạn Thanh Niên. Mọi người đã đến đúng hẹn. Hồng Thắm ở TP Hồ Chí Minh cũng đã đến. Cần Thơ năm người, mới có bốn, còn thiếu chị Tám Điền ở Vị Thanh. Chị điện thoại đến, hẹn có mặt trước 7 giờ sáng 3-8.

Hơn 7 giờ sáng, ngày 3-8-1997

Chúng tôi tập trung tại Tỉnh đoàn Kiên Giang chờ chị Tám Điền đến là xuất phát. Rất nhiều người ủng hộ chúng tôi trong chuyến đi này, anh Thống, Bí thư Tỉnh đoàn Kiên Giang, anh Hà, Đài Truyền hình Kiên Giang, anh Giang, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Kiên Giang. Tuy các anh không cùng đơn vị, nhưng đã cùng kề vai, sát cánh với chúng tôi trong những ngày chiến đấu oanh liệt trên đất Ba Hòn năm ấy.

Khu di tích Hòn Đất. Ảnh minh họa/internet.

Kế hoạch đầu tiên ở phía Hòn Đất là tìm nữ đồng chí Sáu Bé, bị biệt kích bắn gần mé biển vùng Hòn Đất. Kế đó, tìm về những cửa hang nơi đơn vị chiến đấu với địch, bị chúng bao vây hơn 5 tháng ở cả Hòn Đất, Hòn Me. Chị Tám Hoa nằm lại nơi đây.

Hơn 9 giờ sáng, chúng tôi đến xã Bình Sơn, huyện Hòn Đất. Các anh Hà, Giang vào báo cáo với xã mục đích của đoàn đi. Được xã nhiệt tình giúp đỡ và cử một cán bộ phụ trách thương binh – xã hội, cho một vỏ máy cùng đi với chúng tôi.

Đã hơn hai mươi năm rồi, cảnh vật hoàn toàn thay đổi, không còn một dấu vết gì của ngày ấy cả. Rừng cây mấm, rá năm nào, thay vào đó là những rẫy bí xanh um, đang mùa nở hoa vàng rực. Muốn tìm lại, nhưng nơi ấy thật khó quá! Chỉ còn cách đi tìm những người sống trước đây, nhờ họ chỉ dẫn chúng tôi.

Xuồng máy đi mấy giờ đồng hồ, hết kinh này đến rạch khác, vẫn chưa tìm được.

Gần 12 giờ trưa, chúng tôi để bớt lại một vài người sức khỏe kém, ở tạm nhà dân, mượn một xuồng máy nhỏ tiếp tục đi. Lúc này chỉ còn có anh Giang, Hà, Thống, chị Tám Điền và tôi.

Đi đến một con rạch nữa, mưa cũng đang trĩu hạt. Chúng tôi mặc áo mưa lên hỏi thăm một nhà dân. Một em nhỏ nhanh lẹ chạy ra chỉ chúng tôi:

– Kìa! Ngang con rạch có gốc me lớn lắm. Hồi mới về ở đây, tối, ai đi qua lại ngang gốc me này cũng đều thấy bóng người con gái mặc đồ đen, còn rất trẻ…

Tuy không tin vào mộng mị, nhưng những điều em nhỏ kể sao trùng hợp quá, tôi mừng thầm là mình tìm đúng nơi rồi. Nghe xong, mấy anh em liền vượt qua chiếc cầu khỉ bắc ngang con rạch nhỏ, đến gốc me. Sau khi hỏi thăm lai lịch của gốc me, tôi hỏi chị chủ nhà:

– Chị ơi! Gần đây có hố bom nào lớn không?

– Có, hố bom lớn lắm ở ngoài kia. Phía trước có hàng dừa là con mương lạn ngày xưa…

Mừng quá, mấy anh em lội ra ngay. Nhìn hố bom vẫn còn nguyên vẹn, nước vẫn trong veo như ngày nào. Lặng nhìn cảnh vật hôm nay, những kỷ niệm ngày nào hiện về trong tôi…

Hôm ấy, vào lúc 10 giờ ngày 12 tháng 4 năm 1971, mấy anh em đang nghỉ trưa, biệt kích vào nổ súng, các anh kịp thời chiến đấu. Khi giặc ồ ạt tràn qua, tôi và Sáu Bé vừa chạy ngang qua hố bom này thì Bé bị trúng đạn, ngã ngửa trên mặt nước hố bom. Tôi cứ ngỡ nó té, liền đứng lại gọi: Bé ơi! Bé! Thấy nó vẫn nằm yên, máu vọt ra đỏ cả một vùng. Tôi biết Bé đã hy sinh. Trên đầu “cán gáo”, trực thăng vũ trang, ngoài biển pháo hạm bắn lên, dưới đất thì bộ binh, không còn đường thoát, mấy anh em chỉ còn kịp chém vè (chạy – PV) vào một đám rán khô, rút chốt lựu đạn chờ chúng đến để cùng “chia”. Bọn này cũng nhát gan, đánh vào xong, rút ra ngay, không dám lùng sục nên mấy anh em hụt chết.

Tan giặc trở về, các anh vớt Bé lên, bộ quần áo đen mặc trong mình, ướt đẫm. Tìm được miếng cao su che tăng, bứt dây rừng bó Bé lại, đem đến chôn cạnh gốc me này. Khi chôn xong mấy anh em quay về đơn vị ở Hòn Đất. Đi mới hơn trăm mét, pháo hạm bắn lên làm bay mất nấm mộ, các anh phải ở lại đắp cho xong mới yên lòng đi tiếp. Từ ấy đến nay tôi mới có dịp trở lại.

Những đặc điểm cần tìm đã có đủ rồi, nhưng chưa đào tìm được vì nước còn cao quá. Chúng tôi đốt ít nén nhang, đem bánh ra cúng để ấm lòng đồng đội trong một chiều mưa bão và hứa với vong linh Bé rằng một ngày không xa, chúng tôi sẽ trở lại đưa Bé về nghĩa trang yên nghỉ và báo cho gia đình biết để viếng thăm. Chúng tôi trở về xã Bình Sơn.

Cơm nước xong hơn 4 giờ chiều, chúng tôi tranh thủ leo vào hang Hòn Me. Mưa liên tục, đất đá trơn trượt, anh Hà, Giang vẫn hăng hái đốt đuốc dẫn chúng tôi lần dò tìm tới những cửa hang, nơi đơn vị các anh, đơn vị chúng tôi chiến đấu ngày nào… Dù thời gian cứ trôi theo năm tháng, tôi vẫn nhớ như in… Đó là những giờ phút cuối cùng, giặc đã vây kín các cửa hang, gọi ta ra hàng. Đơn vị chúng tôi cùng đơn vị các anh phải chiến đấu suốt ngày đêm, giành với địch từng cửa hang, hốc đá, để bảo vệ cho cả tiểu đoàn tân binh miền Bắc mới vào chi viện cho miền Tây. Chỉ còn 25 phút nữa, được lệnh khẩn rút ra khỏi Hòn, Ban chỉ huy Đại đội chúng tôi đang hội ý bàn kế hoạch rút cho an toàn, bỗng nghe một tiếng nổ chát tai, đất đá đổ rào rào. Chúng tôi chạy tới, thì ra, một trái M79 địch bắn lọt vào cửa hang. Hiếu và Tám Hoa bảo vệ nơi ấy bị thương hết. Tám Hoa bị nặng quá, ít phút sau đó chị đã trút hơi thở cuối cùng.

Trong giờ phút khẩn trương quyết liệt này, chỉ còn kịp bó chị lại, để tại nơi ở hằng ngày. Tất cả đơn vị từng người, từng người đi qua cúi đầu chào vĩnh biệt để chị ra đi. Nỗi đau này, kỷ niệm này làm sao xóa nhòa trong tâm trí của chúng tôi. Giờ chúng tôi quyết tìm đến cửa hang, nơi để thi hài của chị thì được biết sau đó địa phương đã đưa ra nghĩa trang Hòn Đất rồi. Chúng tôi cố tìm thăm mộ và khắc tên cho chị.

Gần 6 giờ tối, không còn qua Hòn Đất kịp, chúng tôi tranh thủ đến viếng mộ chị Sứ, người con gái anh hùng trên đất Ba Hòn. Nơi đây, lúc đơn vị chiến đấu là điểm pháo của địch từ Hòn Sóc bắn qua. Xung quanh phần mộ ngày nào cũng bom cày, đạn xới. Hôm nay, ngôi mộ của chị đã được xây dựng khá khang trang. Trời mưa ẩm ướt, đốt cháy được bó nhang để viếng chị thật khó khăn.

Hết một ngày tìm kiếm, đoàn chúng tôi trở về thị xã Kiên Giang. Trên đường qua nghĩa trang Hòn Đất, dù trời đã tối, chúng tôi cũng phải dừng lại, đi tìm người quản lý để biết mộ chị Tám Hoa. Chẳng may người ấy mới tiếp nhận nên không rõ, đành phải nhờ anh Hà, Giang tìm giùm.

Xong nghĩa vụ phía Hòn Đất, chia tay với các anh ở Kiên Giang, em Thông có việc phải quay về, còn lại sáu anh em: Bảy Phi, Tám Điền, Thắm, Thu, Phượng và tôi đi về Hà Tiên – nơi chiến trường đầy gian lao và ác liệt, nhiều kỷ niệm nhất, cũng là nơi nhiều đồng đội tôi đã ngã xuống…

Sáng hôm sau, 4 tháng 8 năm 1997

Xe các anh Đài Truyền hình Kiên Giang đưa chúng tôi về Sư đoàn 4, trong gió mưa tầm tã…

Hơn 10 giờ sáng, đến Ban chỉ huy sư đoàn, anh Năm Núi, Sư phó (Phó sư đoàn trưởng – PV) tiếp chúng tôi. Khi nghe nói mục đích của đoàn đi, anh nói vui: “Đúng nguyên tắc, có giấy giới thiệu hẳn hoi chúng tôi mới tiếp các anh chị, nhưng trước tấm lòng cao quý của anh chị ở thời buổi này, hơn nữa, tìm đồng đội cũng là trách nhiệm chung của mọi người, tôi hứa sẽ hỗ trợ các anh chị đến cùng”. Anh cũng tâm sự với chúng tôi, ngày xưa các anh đã từng kề vai sát cánh với thanh niên xung phong. Các anh chị còn gian khổ hy sinh hơn chúng tôi, nhiều khi chuẩn bị cho trận đánh, các anh chị phải mang vác đạn pháo đến trước. Khi xong trận phải tải thương và thu dọn chiến trường…

Cơm nước xong trời đã xế chiều, mưa vẫn không ngớt. Các anh cho xe đưa chúng tôi đến vàm kinh Chiến Thắng. Nơi này vào năm 1969, đơn vị tôi đưa quân về miền Tây, lúc trở về bị biệt kích gài mìn dưới sông và không kích ở trên đầu doi Tám Ngàn. Khi đoàn ra mìn nổ, biệt kích Mỹ đi pho-ca bao vây 8 đồng đội của tôi chìm xuống dòng sông này, 5 người không thấy thi thể, còn 3 người trôi ra “ấp chiến lược” Vàm Rầy, dân lén vớt lên chôn cất. Chúng tôi tìm đến những người đã an táng các anh chị ngày ấy, họ đều đi vắng, phải ra tới mé biển Vàm Rầy. Khi gặp chúng tôi, nhờ diễn tả lại hình dáng của từng người, tôi biết ngay là chị Ba Cam và Út Mười Lăm. Còn một nam mặc đồ bộ đội, tôi không nhớ rõ là người nào vì quá lâu rồi.

Hỏi thăm xong, chúng tôi nhờ người ấy dẫn đến những nơi vớt từng người và chỗ an táng, thì được biết, ở xã đã đưa các anh, chị về nghĩa trang Hòn Đất cùng đồng chí xã đội phó hy sinh. Chúng tôi đã tìm đến mộ và nhờ những người chăm sóc nghĩa trang khắc tên cho các anh, chị. Còn 5 người không biết trôi dạt đến nơi nào không ai nhìn thấy. Ôi đau xót quá!

——-

Bài 1: Nơi sắt thép cũng bị nung chảy

Bài 3: Điều không thể mất

Hồng Hải
qdnd.vn

Tìm đồng đội trên tuyến lửa 1C (Bài 1)

Bài 1: Nơi sắt thép cũng bị nung chảy

QĐND – “Nhiều đêm gặp lại đồng đội mình trong giấc mơ, khi tỉnh giấc tôi luôn băn khoăn suy nghĩ và thầm ao ước được trở về chiến trường xưa, tìm nơi đồng đội mình đã ngã xuống năm nào, đem niềm an ủi dù rất muộn màng về cho gia đình họ. Đó là bổn phận, là trách nhiệm của những người còn sống hôm nay” – chị Lâm Thị Minh Tâm, Chủ tịch Hội Cựu TNXP thành phố Cần Thơ tâm sự với tôi như vậy.

Tôi biết chị Lâm Thị Minh Tâm đã lâu. Năm 2005, khi Hội Cựu TNXP Việt Nam giới thiệu các gương sáng cựu TNXP, chúng tôi đã rất xúc động khi nghe chị kể chuyện cùng với hai đồng đội (Tô Thị Tuyết Thu, Lê Thị Út Mãnh) thành lập tổ quy tập hài cốt đồng đội hy sinh trên tuyến lửa 1C.

Tuyến lửa 1C là tuyến nào? Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dân tộc ta đã hình thành nên những con đường vận chuyển huyền thoại. Đường 1C có lịch sử oanh liệt, hào hùng không khác gì hai tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển và xuyên Trường Sơn mà sử sách dân tộc đã mãi khắc ghi. Tuyến lửa 1C là đoạn nối tiếp giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ, kéo dài từ biên giới nước bạn Cam-pu-chia qua kênh Vĩnh Tế, Hà Tiên, Hòn Đất… cho đến kênh Cái Sắn (Kiên Giang). Vũ khí và con người từ hậu phương lớn phải đi qua con đường độc đạo này để đến với đồng bào miền Tây. Bao xương máu của lực lượng TNXP đã đổ xuống con đường này, không bút mực nào tả xiết. Đặc biệt hơn, lực lượng TNXP ở tuyến 1C chủ yếu là nữ. Họ đối mặt với lực lượng địch luôn đông gấp bội, với bom, đạn, đói khát và thiếu thốn trăm bề… nhưng tất cả đã không sờn lòng, nản chí, người trước ngã, người sau xông lên, quyết không để vũ khí rơi vào tay giặc và đưa kịp về chiến trường. Điểm khác của tuyến đường 1C với những chiến trường khác là lực lượng TNXP trụ ở đây, dù đánh giặc hay bị giặc càn quét, không được rút đi nơi khác, mà phải kiên gan giữ vững vị trí, dù địch có càn quét, phản kích, đánh bồi, đánh nhồi ngay nơi giặc biết rõ tên từng người, từng công sự. Ta vẫn phải kiên cường tồn tại ở nơi đã “lộ”, bởi đây là tuyến đường vận chuyển độc đạo, không có con đường nào khác. Những cuộc quần thảo khốc liệt giữa ta và địch cũng từ đó mà ra. Có người đã nói ngắn gọn: 1C là nơi sắt thép cũng bị nung chảy, tan ra nhưng con người đã đi qua được.

Minh Tâm là một chiến sĩ TNXP đã có mặt từ ngày đầu và cùng đơn vị bám trụ ròng rã 8 năm trên “tọa độ chết” ấy, cho đến ngày toàn thắng của dân tộc. Ngày 19-5-1967, mới 16 tuổi, chị đã âm thầm trốn nhà nhập ngũ vào Đại đội TNXP Nguyễn Việt Khái III do Tỉnh đoàn Cà Mau tổ chức. Cuộc chiến đấu khốc liệt nơi chiến trường 1C giờ đây là ký ức không thể nào phai mờ trong tâm hồn chị. Khi chúng tôi vào Cà Mau, rồi lần theo địa chỉ của những cựu TNXP cung cấp, tìm được chị ở ngay giữa thành phố Cần Thơ thì chúng tôi rất đỗi vui mừng. Nhưng khi hỏi chị về chuyện cũ, thì vì những lý do riêng, chị lại muốn vùi sâu, chôn chặt những kỷ niệm đó.

Các diễn viên trong vai thanh niên xung phong hoạt động trên tuyến đường 1C trong một cảnh của bộ phim truyện truyền hình Huyền thoại 1C dài 20 tập (kịch bản Anh Động, đạo diễn Nguyễn Thanh Vân, Hãng phim Tây Nam sản xuất). Ảnh minh họa/internet.

Minh Tâm có một cuốn nhật ký, ghi lại rất nhiều sự kiện đã trải qua trong cuộc đời chiến đấu cũng như hành trình đi tìm đồng đội về sau… nhưng chị không muốn tiết lộ. “Nước chảy, đá mòn”, chúng tôi đã kiên trì thuyết phục. Chúng tôi nán lại Cần Thơ, mỗi tuần, đến thăm gia đình chị vài ba lần, nhắc lại những câu chuyện một thời sôi nổi. Rồi theo lời khuyên của chị, tôi đã đi về Hậu Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Cà Mau, Kiên Giang, Vĩnh Long… gặp được rất nhiều cựu TNXP trên tuyến lửa 1C. Trong những câu chuyện mà họ kể, hình ảnh nữ chiến sĩ Minh Tâm gan dạ, dũng cảm lại hiện ra sáng rõ.

Khi chúng tôi trở lại Cần Thơ, dường như cảm động trước tấm lòng của phóng viên Báo Quân đội nhân dân, chị Minh Tâm đã cởi mở hơn rất nhiều. Bao nhiêu tài liệu, hiện vật trong cuộc đời chiến đấu, chị đều cung cấp cho chúng tôi. Rồi chị tâm sự: “Tôi cũng như bao đồng đội TNXP khác có may mắn được trở về với đời thường. Niềm tâm sự đau đáu nhất của tôi là nghĩ về những người đã ngã xuống, còn nhiều lắm, vẫn nằm lại nơi đồng hoang, nước độc. Tôi cũng có một kỷ niệm không bao giờ quên, muốn được kể lại”.

Câu chuyện không bao giờ quên ấy xảy ra vào trung tuần tháng 5-1971. Lần đó, Ban chỉ huy Liên đội TNXP 1 của tuyến đường 1C cử cán bộ xuống triển khai nghị quyết của Đảng ủy về việc chuẩn bị rút ra khỏi Hòn Đất, Hòn Me, trở về gần biên giới Việt Nam – Cam-pu-chia, chuyển hướng hoạt động chủ yếu về phía sông Tiền. Thời gian này, địch tập trung đánh quyết liệt vào Hòn Đất, Hòn Me, căn cứ chính của Liên đội. Khi đó, nhiều cán bộ ở cơ sở bị giặc bắt, chịu không nổi tra tấn, đã khai với địch về đội hình và sự bố trí của Liên đội TNXP 1. Sư đoàn 9 của địch vừa đến thay Sư đoàn 21 nên rất hung hãn chỉ chực lập công. Bọn này có nhiều kinh nghiệm càn quét ở địa hình có nhiều hang núi. Khi còn trên đất bạn Cam-pu-chia, đơn vị của Minh Tâm đã đọ súng với chúng ở Sóc Mẹt. Hang nào muốn xuống đánh, chúng lượm đá chọi thử, nghe xem tiếng đá nông sâu rồi mới đánh. Lực lượng ta lúc đó quá ít, nhiệm vụ phải trụ lại căn cứ Hai Hòn cũng đã xong nên cấp trên quyết định tập trung trụ ở Hòn Me, chuyển hết số thương binh đi rồi rút lui bảo toàn lực lượng.

Đêm chuyển thương binh ở Bệnh xá Hòn Đất thật cảm động. Ngày 15-5-1971, giặc chiếm tất cả các hang hòn. Những tên phản bội dẫn giặc đến từng hang gọi tên anh chị em TNXP ra hàng. Ta không có cách nào đưa thương binh ra được, đành phải cử người bò vào động viên từng thương binh tự bò ra khỏi hang để TNXP đón phía dưới khiêng hoặc dìu đi. Nhiều thương binh bị gãy chân, tay vốn khó cử động, vậy mà trước tình thế đó đã tự bò ra khỏi hang. Đặc biệt nhất là có 3 thương binh bị bệnh não, cứ la hét ầm ĩ, không cách nào đưa đi được. Đơn vị Minh Tâm phải cử một tổ bảo vệ ở lại, tìm đường hầm bí mật đưa 3 thương binh ra. Nhưng bốn bên là giặc dày đặc, lại có bọn phản bội làm tai mắt rình mò, bọn địch đã thiết lập một mạng lưới vây kín các mặt. Các chiến sĩ bảo vệ nọ đã hy sinh cùng 3 thương binh. Còn trong số các thương binh tự bò ra được, có người đi lạc đường, Minh Tâm cùng đồng đội len lỏi trong đêm tối đi tìm, khi gặp được nhau, họ ôm lấy nhau mà rơi nước mắt.

Chiều 17-5-1971, Minh Tâm khắc sâu kỷ niệm đau buồn mà mãi cho đến ngày hôm nay, chị vẫn không sao quên được. Đó là sự hy sinh của người đồng đội Tám Hoa, người đã cùng chị chia sẻ mọi buồn vui trên tuyến đường lửa. Tám Hoa hy sinh đúng vào lúc đơn vị nhận lệnh rút khỏi hang, giữa lúc địch đã vây kín bên ngoài. Không còn thời gian chôn cất bạn, cũng không còn cơ hội mang bạn đi theo, Minh Tâm và đồng đội đã chăm sóc Tám Hoa lần cuối, rồi đặt người đồng đội vào đúng vị trí thường ngày chị vẫn ngủ, làm động tác chào trước lúc rút đi. Minh Tâm ngậm ngùi, lòng trào dâng bao cảm xúc, muốn gọi tên bạn nhưng cổ đã nghẹn lời. Cô thì thầm: “Hoa ơi, Tâm cùng tất cả đồng đội sẽ trả thù cho bạn”.

Cái chết của Tám Hoa chỉ là một trong rất nhiều sự hy sinh diễn ra ngay trước mắt Minh Tâm. Để rồi giờ đây, mỗi khi kỷ niệm ùa về, chị lại đứng ngồi không yên với muôn vàn cảm xúc. Chính vì thế, trên hành trình quy tập hài cốt đồng đội về sau này, việc tìm kiếm hài cốt của liệt sĩ Tám Hoa được chị Minh Tâm đặc biệt chú ý.

“Lần đầu tiên chị làm công tác thương binh, tử sĩ là vào khoảng giữa năm 1968, em ạ! Đó là quãng thời gian chị đang thử thách, chuẩn bị kết nạp Đảng” – chị Minh Tâm bất chợt nhớ lại.

Sống trên tuyến đường 1C, điều khiến các TNXP ngại nhất là thời điểm giao mùa, con đường nửa nước, nửa khô. Mỗi đêm đi công tác, qua mấy chục cây số lội sình, lội nước là điều rất gian khổ, cơ cực. Phải xắn quần để lội sình thì bị cỏ bắc cắt nát ống chân, qua đêm bị mủ sưng tấy, trắng bệch, chị em phải lấy nước gạo xát vào, rồi lại tiếp tục đi. Thời gian này, bộ đội chủ lực từ miền Bắc vào tăng cường cho miền Tây, nối nhau đi qua tuyến đường lửa máu mà đơn vị Minh Tâm phụ trách. Ta càng hành quân nhiều, đường 1C càng bị lộ, có lúc địch đánh ta hy sinh nhiều quá, các nam TNXP đi chôn cất không đủ, phải phân công cả nữ TNXP đi cùng. Lần đầu đi chôn cất đồng đội của Minh Tâm là vào dịp ấy. Đúng hôm chị vừa đi công tác về, được chỉ huy cho biết: Hai TNXP tên là Thim và Nhỏ được cử chở thương binh về miền Tây, mới tới Kinh Bèo thì bị máy bay cán gáo của địch bắn hy sinh hết. Cấp trên cử Minh Tâm phụ trách 4 đồng chí nữa đi chôn cất.

Đó quả là thử thách lớn đối với cô gái mới 17 tuổi. Nhiệm vụ được giao, Minh Tâm tự củng cố tinh thần rồi lên đường. Đến vị trí quy định thì thi thể 2 đồng đội đã hy sinh mấy ngày rồi, cơ thể bị phân hủy, bốc mùi rất khó chịu. Trước đó, máy bay địch rà qua, lại bắn thêm mấy loạt đạn khiến thi thể của hai đồng chí rã rời, nổi lềnh bềnh trên mặt sình. 5 chiến sĩ TNXP trẻ tuổi vẫn còn sợ ma, không ai dám đi trước nên hè nhau dàn hàng ngang cùng tiến. Vậy mà khi lại gần, thấy đồng đội mình đã hy sinh, lòng thương tiếc trỗi dậy dẹp đi mọi sợ hãi, cả 5 người sát cánh bên nhau tìm cách chôn cất bạn, ngụy trang cẩn thận trước khi trở về đơn vị. Từ lần đầu thử thách ấy, nhiệm vụ chôn cất đồng đội không còn là nỗi sợ hãi của Minh Tâm nữa.

———–

Bài 2: Trở lại Ba Hòn

Hồng Hải
qdnd.vn

Nhà tù Tân Hiệp và cuộc giải thoát táo bạo

Đây là cuộc vượt ngục lớn chưa từng có trong lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta. Giữa những hàng rào dày đặc dây thép gai và họng súng của quân thù, những chiến sĩ Cộng sản tay không đã mưu trí, dũng cảm đứng lên giải thoát 462 tù chính trị trở về với cách mạng, với nhân dân.

“Trung tâm huấn chính” trá hình

Tháng 7-1955, đế quốc Mỹ thay chân Pháp lập ra chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm ở miền Nam, ngoan cố cự tuyệt Tổng tuyển cử, thẳng tay khủng bố, đàn áp phong trào cách mạng miền Nam. Chúng lập ra nhiều nhà tù tại tỉnh Biên Hòa, trong đó có nhà tù Tân Hiệp. Đến tháng 12-1956, chính quyền Ngô Đình Diệm đã bắt giam lại nhà lao Tân Hiệp 1.872 tù nhân, có 79 nữ, số đông là Đảng viên Cộng sản…

Nhà tù Tân Hiệp là một trong 6 nhà tù lớn nhất của Mỹ-ngụy ở miền Nam (Côn Đảo, Phú Quốc, Chí Hòa, Thủ Đức, Phú Lợi và Tân Hiệp). Nhà tù được xây dựng trên địa bàn ấp Tân Hiệp, xã Bình Trước, quận Đức Tu, tỉnh Biên Hòa, nay là phường Tân Tiến thuộc thành phố Biên Hòa.

Toàn bộ khu vực nhà tù nằm trên một khu đất cát hình chữ nhật, địa hình ẩm thấp, có tổng diện tích là 36.000m2. Phía đông nhà tù giáp cụm dân cư Tân Hiệp, phía tây giáp rạch Đồng Tràm, phía nam giáp đường xe lửa Bắc-Nam, phía bắc giáp Quốc lộ 1 (đối diện với Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa).

Đài tưởng niệm cuộc nổi dậy phá nhà lao Tân Hiệp (Biên Hòa). Ảnh: Nguyễn Thành

Nơi đây vào những năm đầu của thế kỷ 20 còn là một vùng đất hoang hóa, rừng đồi lúp xúp, dân cư thưa thớt. Đến khi phát xít Nhật đảo chính thực dân Pháp để độc chiếm Đông Dương ngày 9-3-1945, chúng bắt đầu tiến hành xây dựng một đồn nhỏ do một tiểu đội lính Nhật chốt đóng để bảo vệ chiếc cầu bắc qua rạch Đồng Tràm trên Quốc lộ 1, con đường huyết mạch đi vào Biên Hòa và thành phố Sài Gòn.

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, thực dân Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai và đến tháng 10-1945 chúng tái chiếm lại thị xã Biên Hòa. Trên cơ sở đồn binh nhỏ của Nhật, Pháp củng cố lại, mở rộng thêm và đưa một trung đội lính lê dương đến trấn giữ với nhiệm vụ bảo vệ tuyến đường Quốc lộ 1 và cơ sở nhà thương điên Biên Hòa.

Cũng trên tuyến đường Quốc lộ 1, ở khu vực Hố Nai (cách Tân Hiệp khoảng 2km về phía Đông), từ đầu năm 1946 giặc Pháp cũng thiết lập một trại đóng quân của một đơn vị thiết giáp và một trại giam để giam giữ những cán bộ, chiến sĩ và du kích của ta bị chúng bắt được trong các cuộc hành quân càn quét.

Quy mô chiến tranh ngày càng phát triển, trại giam Hố Nai không đủ sức chứa hết tù nhân, Pháp mở rộng đồn binh Tân Hiệp và biến nó thành trại giam “Tù binh chiến tranh” của tỉnh Biên Hòa. Trại tù này tồn tại cho đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp tháng 7-1954.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, cùng với việc ráo riết xây dựng bộ máy thống trị từ Trung ương tới địa phương, chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm tiến hành khủng bố, bắt bớ, giam cầm số cán bộ chiến sĩ kháng chiến cũ, đồng bào yêu nước và các phe nhóm chính trị, quân sự không ăn cánh với chúng như: Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo.

Một công cụ không thể thiếu được đối với bộ máy phát xít Mỹ-Diệm là hệ thống nhà tù-trại giam. Vì vậy giữa năm 1955, nhà tù Tân Hiệp được chúng cải tạo, mở rộng thành một nhà tù lớn ở miền Nam.

Để che đậy bộ mặt phản động, tránh sự phản ứng tố cáo của Ủy ban kiểm soát và giám sát quốc tế và dư luận tiến bộ trong và ngoài nước, Mỹ-Diệm cải tên nhà tù Tân Hiệp thành cái tên mị dân là “Trung tâm huấn chính Biên Hòa”. Nhưng thực chất đây là địa ngục trần gian. Theo nhiều nhân chứng kể lại, hằng ngày những tên cai ngục dùng nhiều thủ đoạn thâm độc và dã man để tra tấn về thể xác và tinh thần tù chính trị, nhưng không thể khuất phục được ý chí chiến đấu kiên cường của những chiến sĩ cách mạng.

Cuộc vượt ngục dũng cảm

Ngày 2-12-1956, những người tù chính trị ở nhà tù Tân Hiệp đã nổi dậy vượt ngục trở về với cách mạng, với nhân dân.

Trước đó, các Đảng viên Cộng sản đã bí mật liên lạc nhau hình thành các tổ chức Đảng, thành lập Đảng ủy của nhà lao có 5 đồng chí do Nguyễn Trọng Tâm làm Bí thư. Đảng ủy lãnh đạo cuộc vượt ngục, bầu Chỉ huy trưởng là đồng chí Cội, Huyện đội phó Củ Chi, lập 4 đội xung kích gồm những cán bộ, đảng viên khỏe mạnh làm nòng cốt, phân công cụ thể đánh chiếm các mục tiêu.

Thời điểm nổ ra cuộc vượt ngục, nhà tù Tân Hiệp đã được củng cố, xây dựng hoàn chỉnh. Toàn khu vực được bao kín bằng hai lớp kẽm gai và một hệ thống 9 tháp canh lớn, mỗi tháp canh có 3 tên lính gác. Các tháp canh số 1, 3, 5, 7 được trang bị súng trung liên. Cổng trại giam bằng thép dày, rộng 4m, cao 2,4m. Cạnh cổng là đồn canh lớn và kho súng. Nơi đây thường xuyên có một tổ lính bảo an canh gác suốt ngày đêm.

Lúc 17 giờ 45 phút ngày 2-12-1956, cuộc nổi phá nhà tù Tân Hiệp bắt đầu. Sau khi tiếng kẻng của tên lính gác báo cho tù vào trại cũng là hiệu lệnh, 4 đội xung kích với khoảng 120 đồng chí đồng loạt xung phong đánh chiếm các mục tiêu. Khoảng 70 người nhằm kho súng phía trước trại ào tới. Tất cả đều tay không, xông vào đánh giáp lá cà với một trung đội địch, thu 50 khẩu súng, rồi bắn kiềm chế lô cốt số 1 và số 2 để cho các chiến sĩ tù chính trị thoát ra ngoài. Số người chạy ra ngoài cổng như làn sóng lớn, xô đổ cả cổng sắt vốn được làm rất chắc chắn. Sục sôi tiếng hô xung phong, tiếng bước chân rầm rập vượt qua cổng sắt, rồi băng qua Quốc lộ 1, vượt rạch Đồng Tràm tỏa về các hướng tìm cơ sở cách mạng và chiến khu.

Trong những phút đầu, lực lượng xung kích của ta hoàn toàn làm chủ tình hình. Bị tấn công bất ngờ, địch trong nhà tù vô cùng hoảng hốt, chỉ lo bảo toàn tính mạng nên chưa có hành động chống trả. Theo chủ trương của Đảng ủy, ta không giết một tên lính nào nhằm hạn chế sự trả thù của chúng với những người còn lại. Hơn 15 phút sau, bọn địch trong nhà tù mới hoàn hồn, vội vã nổ súng truy đuổi. Súng trung liên ở các lô cốt bắn xối xả ra cổng nhà tù và hướng các tù nhân chính trị đang chạy. Dười làn đạn dày đặc của kẻ thù, nhiều đồng chí trúng đạn bị thương và hy sinh nằm rải rác trước cổng trại, ven bờ suối. Đồng chí Phan Văn Rô là chiến sĩ xung kích dũng cảm đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng; Nhà thơ, nhà báo, người Đảng viên Cộng sản Dương Tử Giang bị thương nặng, cố lết được đến bên bờ suối thì hy sinh, trên tay còn ôm chặt chiếc đàn ghi-ta, người bạn thân thiết và là vũ khí chiến đấu của anh suốt những năm tháng bị giam cầm trong ngục tù.

Trong cuộc vượt ngục này địch đã bắn chết 22 đồng chí và bắn bị thương 6 đồng chí khác. Chúng ta thu được 53 súng, có 2 trung liên, đã giải thoát 462 tù nhân chính trị. Số cán bộ này sau đó về làm nòng cốt xây dựng Đảng ở các tỉnh thành, xây dựng lực lượng vũ trang ở miền Đông Nam Bộ, lập các Đại đội 250, 59, 80… và xây dựng một tiểu đoàn quân chủ lực của tỉnh Long An. Trong số đó, có người sau này trở thành Anh hùng LLVT nhân dân như bí thư Đảng ủy nhà tù Nguyễn Trọng Tâm, có người trở thành cán bộ lãnh đạo như ông Nguyễn Văn Thông, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Biên Hòa.

Cuộc vượt ngục Tân Hiệp là cuộc giải thoát kỳ diệu của những người tù Cộng sản kiên trung bất khuất, mưu trí, sáng tạo, anh dũng tuyệt vời để trở về với đồng đội và nhân dân tiếp tục hoạt động cách mạng cho đến ngày Toàn thắng.

Tháng 10-2009, UBND tỉnh Đồng Nai đã phê duyệt diện tích xây dựng gần 5.200m2, kinh phí hơn 5 tỷ đồng để trùng tu tôn tạo nhà lao Tân Hiệp tại phường Tân Tiến, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, để giáo dục truyền thống vẻ vang cho thế hệ hôm nay và thế hệ trẻ mai sau.

Huỳnh Văn Tám
qdnd.vn

Về bức tranh khắc “Pháp Lan Tây dừ Lưu Nghĩa đại chiến hình đồ” (Cuộc đại chiến giữa quân Pháp và quân của Lưu Vĩnh Phúc)

QĐND – Tạp chí “Những tư liệu lớn có minh họa về Đông Dương của lịch sử một thế kỷ 1843-1944” do Nhà sách Pa -ri xuất bản tháng 10-1995, trang 68-69 có đăng bài viết vào ngày 29-2-1884 kèm một bức tranh quân Pháp đánh thành Sơn Tây (Việt Nam) và một tranh khắc Trung Quốc có nhan đề “Pháp Lan Tây dừ Lưu Nghĩa đại chiến hình đồ” (chiến hình đồ sao bạch bằng vẽ lại, khắc lại) … không đề tác gió, ngày tháng, năm sáng tác.

Bức tranh khắc “Pháp Lan Tây dừ Lưu Nghĩa (Lưu Vĩnh Phúc) đại chiến hình đồ”.

Theo sách “Những tư liệu lớn có minh họa…”, đây là tranh được tờ “Thời báo” (Pháp) có xuất xứ từ Trung Quốc công bố, được phổ biến trong nhiều thành phố ở Trung Quốc khi Sơn Tây thất thủ. Tranh miêu tả quân Pháp với các chiến hạm “đông vô kể” và được sự giúp đỡ của bộ binh, kỵ binh Nhật Bản tấn công Sơn Tây, bấy giờ do Lưu Vĩnh Phúc, Tướng quân Cờ Đen canh giữ, đã đánh lui quân Pháp… Tờ “Thời báo” bình luận có thể đây là “một khoa trương” của quân Cờ Đen chăng?

Lịch sử chiếm đóng Bắc Kỳ qua tài liệu Pháp cho biết: “Ngày 17-12-1883 cờ ba sắc xanh, trắng, đỏ của Pháp đã bay trên thành Sơn Tây sau 3 ngày ác chiến với quân Cờ Đen. Phía Pháp có 320 người bị loại khỏi vòng chiến đấu gồm 80 người chết, 240 người bị thương”. Bài báo không đề cập gì tới sự tham gia của quân Nhật giúp quân Pháp đánh quân Cờ Đen.

Chiến dịch Bắc Kỳ, quân Pháp chiếm Sơn Tây. (tranh vẽ)

Nhưng trên bức tranh, qua các chú thích chữ Trung Quốc (và cả chú thích tiếng Pháp), người đọc có thể nhận biết trên bản vẽ:

Số 3: Quân Cờ Đen của Lưu Nghĩa

Số 6: Quân Cờ Đen

Số 8: Trung quân của quân Cờ Đen

Số 13-14: Quân Cờ Đen

Số 15: Quân Nhật

Số 16: Quân Nhật

Số 19: Kỵ binh Nhật

Số 20: Lính pháo binh Pháp

Số 21: Tàu chiến, thuyền chiến Pháp…

Qua bức tranh này, bên cạnh những sự kiện khác có một thông tin cần kiểm chứng:

– Quân Pháp có thuê quân Nhật đánh thành Sơn Tây không? Nếu có, chỉ có bộ binh hay cả kỵ binh, bao nhiêu người?

Xin bạn đọc và các nhà nghiên cứu cho ý kiến bổ sung.

Thủy Trường
qdnd.vn

Chế độ quân hàm của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc

QĐND – Trước khi thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc đã hai lần dự định thực hành chế độ quân hàm. Nhưng do hoàn cảnh, hai lần dự định ấy đều không thể thực hiện.

Sau khi thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, nhằm tăng cường xây dựng quân đội Trung Quốc chính quy hóa, hiện đại hóa, mùa đông năm 1952, quân đội Trung Quốc đã bắt tay nghiên cứu chế độ quân hàm.

Ngày 26-11-1952, trong báo cáo với Chủ tịch Mao Trạch Đông và Quân ủy Trung ương, Cục Cán bộ Tổng bộ Chính trị đã sơ bộ đệ trình kế hoạch và những vấn đề chuẩn bị thực hành chế độ quân hàm.

Lễ tấn phong quân hàm Nguyên soái nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, năm 1955. Chủ tịch Mao Trạch Đông trao quân hàm cho Nguyên soái Chu Đức.

Năm 1955, quân đội Trung Quốc chính thức thực hiện chế độ quân hàm.

Xây dựng cấp bậc của chế độ quân hàm lần này được dựa trên cơ sở của hệ thống cấp bậc quân hàm truyền thống của Trung Quốc, đồng thời có tham khảo theo chế độ quân hàm của các nước Liên Xô, Triều Tiên.

Chế độ quân hàm đặt 4 cấp 14 bậc, tức Đại nguyên soái nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Nguyên soái nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Đại nguyên soái thực tế không thụ phong); Đại tướng, Thượng tướng, Trung tướng, Thiếu tướng; Đại tá, Thượng tá, Trung tá, Thiếu tá; Đại úy, Thượng úy, Trung úy, Thiếu úy.

Ngày 27-9-1955, Hội nghị lần thứ 22 Quốc hội Trung Quốc đã thông qua Nghị quyết thụ phong quân hàm Nguyên soái nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

Cùng ngày, Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã thụ phong quân hàm Nguyên soái nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cho 10 vị: Chu Đức, Bành Đức Hoài, Lâm Bưu, Lưu Bá Thừa, Hạ Long, Trần Nghị, La Vĩnh Hằng, Từ Hướng Tiền, Nhiếp Vinh Trăn, Diệp Kiếm Anh.

Thủ tướng Quốc vụ viện Chu ân Lai đọc mệnh lệnh và thụ phong quân hàm Đại tướng nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cho 10 người: Túc Dụ, Hoàng Khắc Thành, Đàm Chính, Tiêu Kinh Quang, Vương Thụ Thanh, Trần Canh, La Thụy Khanh, Hứa Quang Đạt, Từ Hải Đông, Trương Vân Dật; Thụ phong quân hàm Thượng tướng cho 55 người; Thụ phong quân hàm Trung tướng cho 175 người; Thụ phong quân hàm Thiếu tướng cho 801 người (trong đó có đồng chí Hồng Thủy -Nguyễn Sơn, người Việt Nam, người nước ngoài duy nhất được phong hàm cấp tướng của Trung Quốc).

Về sau, trong thời gian từ năm 1956 đến năm 1964, lại tiếp tục tấn phong một loạt tướng quân. Đến năm 1965, tổng cộng đã thụ phong quân hàm cấp tướng cho 1.614 người.

Ngày 22-5-1965, Hội nghị Thường vụ lần thứ 9 Quốc hội Trung Quốc khóa 3 đã thông qua “Quyết định về thủ tiêu chế độ quân hàm Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc”, bắt đầu thi hành từ ngày 1-6-1965.

Tháng 3-1980, Chủ tịch Quân ủy Trung ương Đặng Tiểu Bình đề xuất cần thực hiện lại chế độ quân hàm.

“Luật Binh dịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” do Hội nghị Thường vụ lần thứ 2 Quốc hội Trung Quốc khóa 6 họp ngày 31-5-1984 thông qua, đã quy định: “Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc thực hành chế độ quân hàm”.

Tháng 6-1985, Quân ủy Trung ương triệu tập Hội nghị mở rộng, kiên quyết đề xuất cắt đứt thể chế quân hàm đã thực hành từ năm 1965 về trước, “thực hành chế độ quân hàm mới”.

Ngày 1- 7-1988, Hội nghị Thường vụ lần thứ 2 Quốc hội Trung Quốc khóa 7 đã thông qua “Điều lệ Quân hàm Sĩ quan Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc”.

Chế độ quân hàm của hạ sĩ quan, chiến sĩ đồng thời được lập. Chế độ quân hàm mới công bố không lập cấp Nguyên soái, Đại tướng và Đại úy, coi cấp Thượng tướng là quân hàm cao nhất.

Quân hàm sĩ quan thiết lập 3 cấp 11 bậc, tức là Cấp tướng gồm Thượng tướng cấp 1, Thượng tướng, Trung tướng, Thiếu tướng; Cấp tá gồm Đại tá, Thượng tá, Trung tá, Thiếu tá; Cấp úy gồm Thượng úy, Trung úy, Thiếu úy.

Sĩ quan hải quân, không quân quân hàm thêm từ “Hải quân”, “Không quân”.

Sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, trong quân hàm thêm từ “Chuyên môn kỹ thuật”.

Lãnh đạo Quân ủy Trung ương Đặng Tiểu Bình, Dương Thượng Côn chủ động đề xuất bản thân mình không nhận quân hàm, vì thế, bậc Thượng tướng cấp 1 bỏ trống.

Ngày 12-5-1994, Hội nghị Thường vụ lần thứ 7 Quốc hội Trung Quốc khóa 8 thông qua Quyết định về sửa đổi “Điều lệ Quân hàm Sĩ quan Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc”.

Điều lệ Quân hàm sau khi sửa đổi thiết lập 3 cấp 10 bậc, tức Thượng tướng, Trung tướng, Thiếu tướng; Đại tá, Thượng tá, Trung tá, Thiếu tá; Thượng úy, Trung úy, Thiếu úy.

Ngày 10-9-1995, ủy ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc khóa 8 thông qua “Luật Sĩ quan dự bị nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”, quy định quân hàm sĩ quan dự bị thiết lập 3 cấp 8 bậc, tức Thiếu tướng; Đại tá, Thượng tá, Trung tá, Thiếu tá; Thượng úy, Trung úy, Thiếu úy.

“Luật Binh dịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” công bố tháng 12-1998 quy định: Thời gian làm nghĩa vụ quân sự là 2 năm, và không kéo dài thời hạn làm nghĩa vụ nữa. Theo luật này, từ năm 1999 về sau, bỏ quân hàm Hạ sĩ quan và Quân nhân chuyên nghiệp.

Lễ Tấn phong quân hàm Thượng tướng cho 6 sĩ quan cao cấp QGPNDTQ, ngày 23-7-2011. Ảnh tư liệu

Quân hàm biên chế của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, về cơ bản thực hành chế độ một chức vụ biên chế hai bậc quân hàm, “Điều lệnh quân hàm sĩ quan…” sửa đổi do ủy ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc thông qua năm 1994, quy định: Các chức vụ Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương, ủy viên thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng bộ Chính trị biên chế quân hàm là Thượng tướng. Không thụ phong quân hàm Thượng tướng cho Chủ tịch Quân ủy Trung ương.

Biên chế quân hàm cho các chức vụ khác như sau:

Chức Trưởng Đại quân khu: Trung tướng, Thượng tướng;

Chức Phó Đại quân khu: Thiếu tướng, Trung tướng;

Chức Trưởng Quân khu: Thiếu tướng, Trung tướng;

Chức Trưởng Sư đoàn: Đại tá, Thiếu tướng;

Chức Phó Sư đoàn (chức Trưởng Lữ đoàn): Thượng tá, Đại tá;

Chức Trưởng Trung đoàn (Chức Phó Lữ đoàn): Trung tá, Thượng tá;

Chức Phó Trung đoàn: Thiếu tá, Trung tá;

Chức Trưởng Tiểu đoàn: Thượng úy, Thiếu tá;

Chức Phó Tiểu đoàn: Thượng úy, Thiếu tá;

Chức Trưởng Đại đội: Trung úy, Thượng úy;

Chức Phó Đại đội: Trung úy, Thượng úy;

Chức Trung đội: Thiếu úy, Trung úy.

Ngày 23-7-2011, Quân ủy Trung ương nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã tổ chức Lễ tấn phong quân hàm Thượng tướng cho 6 sĩ quan cao cấp là Tôn Kiến Quốc, Hầu Thụ Sâm, Phó tổng tham mưu trưởng; Giả Bình An, Phó chủ nhiệm Tổng bộ Chính trị; Lưu Hiểu Giang, Chính ủy Hải quân; Trương Hựu Hiệp, Tư lệnh Quân khu Thẩm Dương; Lý Trường Tài, Chính ủy Quân khu Lan Châu.

Tính đến ngày 23-7-2011, Quân Giải phóng nhân dân và Bộ đội cảnh sát vũ trang của Trung Quốc đã có 191 sĩ quan cao cấp được phong quân hàm Thượng tướng, quân hàm cao nhất ở Trung Quốc hiện nay.

Vũ Phong Tạo
qdnd.vn

Khám phá trại tù binh Mỹ đầu tiên

QĐND – LTS: Năm 1965, NXB International Publishers New York xuất bản cuốn “Cuộc chiến tranh du kích: tường thuật từ bên trong” của ký giả lão thành Uyn -phrết Bớc -sét (Wilfred Burchett). Độc giả phương Tây rất ấn tượng về chương nói về các tù binh Mỹ thăm vùng giải phóng miền Nam cuối năm 1963.

Chân dung tù binh Mỹ

… Bốn tù binh Mỹ tôi gặp một trong những trại giam lính Mỹ đầu tiên được thiết lập ở Đông Nam á đều là thượng sĩ, và bị bắt tại “Trại huấn luyện lực lượng đặc biệt” Hiệp Hòa đêm 23-11-1963, khi du kích đánh chiếm trại này, phá hủy toàn bộ đồ quân dụng và thu số lượng vũ khí đủ để trang bị cho một tiểu đoàn tăng cường của Quân giải phóng…

Bọn đánh thuê và người yêu nước (Patriots & Mercenaries).

K.Râu -ra-bách (Kenneth Roraback), một cựu binh chiến tranh Triều Tiên, đã phục vụ được 15 năm trong quân đội Mỹ, là người duy nhất còn thức vào lúc trận đánh nổ ra lúc nửa đêm, khi anh ta đang viết thư cho vợ. “Chuyện gì đã xảy ra?”, tôi hỏi. Râu -ra-bách cho hay, đó là một trận đánh đêm được lập kế hoạch chu đáo, tiến hành tốt, chỉ xảy ra trong 15 phút đồng hồ…

“Anh có kịp cầm vũ khí”, tôi hỏi Râu -ra-bách.

“Không còn thời gian”

“Có tổ chức đề kháng không”

Ba tù binh Mỹ còn lại là Cô -ma-chô, một người bang Tếch -dát da ngăm; Mác Clu -rơ, một chuyên gia phá hoại người Mỹ gốc Phi, và Xmít, một quân y sĩ và phụ trách điện đài, đều có nhận định giống như Râu -ra-bách. “Một cuộc tấn công đêm hoàn hảo”, Xmít nói: “Mở đầu là tập kích bằng súng cối… Mọi thứ bùng cháy chỉ trong vài phút, vì trong các boong -ke có thuốc nổ. Sau vài phút, Việt Cộng xuất hiện, họ trói tay tôi rồi đưa lên khỏi hầm”.

Cả bốn tù binh Mỹ này sau khi bị bắt đã trải qua một cuộc di chuyển nhiều tháng trời, chủ yếu là đi bộ, tuy có lúc trên xuồng ba lá, cứ đi dích dắc như vậy cho đến an toàn khu.

Tôi hỏi Râu -ra-bách, các cuộc không kích có cản trở các cuộc hành trình của họ không. “Máy bay Mỹ đã đánh phá không lâu sau cuộc tiến công vào trại huấn luyện Hiệp Hòa xảy ra… Nhờ trời, tôi đã vô sự. Khoảng hai hôm sau, máy bay B26 xuất hiện trên đầu và thực hiện 12 trận ném bom… Nhờ trời, tôi lại bình an vô sự”. Suy nghĩ của tôi chợt trở về với câu chuyện trước đó với ba chiến sĩ đã tiến công rạp Capitol (khách sạn Kinh Đô, cũng gọi là Capital), Sài Gòn: “muôn ngàn người Việt chúng tôi sẵn sàng hy sinh bất kỳ lúc nào, nhưng chúng tôi phải đổi mạng 5, 10 tên xâm lược Mỹ cho mỗi mạng người Việt chúng tôi”.

Chí nhân và cường bạo

Mỗi tù binh Mỹ cam đoan với tôi, rằng họ được đối xử tốt, và từng người trong họ đều nhấn mạnh sự ngạc nhiên về việc này. “Những người áp giải tôi đều cư xử chu đáo kể từ khi tôi bị bắt”, Râu-ra-bách kể. “Tôi đã lo mình sẽ bị bắn ngay, và tôi nghĩ rằng điều này đã thể hiện trên mặt tôi. Khi điều này không xảy ra trong những ngày đầu, tôi nghĩ họ đưa chúng tôi đi xa hơn, rồi sẽ xử bắn”.

“Tại sao anh lại nghĩ mình sẽ bị bắn?”, tôi hỏi. Râu -ra-bách lúng túng một chút, “Tôi nghĩ điều đó là bình thường”, anh ta nói, sau khi yên lặng, “Du kích không có điều kiện để đối xử với tù binh. Nhưng khi họ nhận thấy tôi sợ, họ đã làm mọi thứ để làm tôi nguôi nỗi sợ”.

“Làm sao các anh có thể giao thiệp được với du kích? “. “Không nói được. Nhưng họ vỗ nhẹ vào lưng tôi, xua tay một cách hữu nghị trước mắt tôi, đập khẽ vào tay tôi và luôn làm các cử chỉ để hiểu rằng: Đừng lo lắng”.

Phổ biến chính sách đối với tù hàng binh của MTDTGP cho đại diện Mỹ đi nhận tù binh Mỹ được phóng thích tại bến Tà Xiêm, Tây Ninh (1-1-1969). Ảnh tư liệu

Người ta có thể đoán ra ngay vì sao Râu -ra-bách và các tù binh Mỹ kia lại lo lắng. Đó là vì họ biết bất kỳ du kích nào nếu bị quân đội Mỹ bắt, sẽ nhất định bị tra tấn ngay lập tức. Và lực lượng đặc biệt mà mấy người Mỹ này tham gia vào là một trong những đội quân tàn bạo, hung hãn nhất. Người ta chỉ cần nhìn vào những tấm ảnh in trên bìa, trên trang nhất của các báo chí Mỹ chụp “tù binh Việt Cộng”, là hiểu ngay vì sao Râu -ra-bách và đồng bọn lại lo lắng. Trên bìa tờ Thời báo Niu Y -oóc ra ngày 24-5-1964 chẳng hạn, có ảnh một người Việt mình trần, nằm trên mặt đất, tay bị buộc lên trên đầu bởi một sợi cáp, nối với một chiếc xe tăng Mỹ. ảnh được chú thích vắn tắt là “Việt Cộng” này được kéo bởi chiếc tăng, kể cả qua sông, để buộc người tù binh này “mở miệng”.

Mác Clu -rơ bị thương trong đợt tiến công bởi mảnh đạn cối. “Tôi được sơ cứu ngày hôm sau và các mảnh cối được lấy ra bốn ngày sau đó”, anh ta kể. “Họ đối xử tốt với chúng tôi. Không có điều gì thô bạo. Tôi không bao giờ nghĩ sẽ được đối xử như thế. Điều này thực sự gây sửng sốt”.

“Họ cư xử thật tử tế”, Xmít nói, “nhất là các du kích làm sao có điều kiện trông coi tù binh Mỹ. Họ đã cố làm tốt nhất trong điều kiện hiện có”.

Ca-ma-chô nhận định: ‘Họ đối xử tốt. Nhưng thật khó cho họ khi phải cung cấp cho chúng tôi những thức ăn của Mỹ”. Tôi thật ngạc nhiên nhận thấy những người lính Mỹ này còn tin chắc rằng, người phương Tây không thể sống bằng cơm gạo thay cho bánh mỳ như lương thực chính. Thực phẩm là vấn đề lớn trong trông coi bốn tù binh này.

Chính sách của Mặt trận Dân tộc Giải phóng là giữ các quân nhân Mỹ bị bắt một vài tháng để giải thích cho họ về cuộc đấu tranh của Việt Nam, sau đó thả họ. Tôi nhận thấy, trại giam nhỏ này có vẻ đang sắp xếp để lo liệu cuộc sống cho nhiều tù binh Mỹ hơn, và việc đàm phán (với phía Mỹ) để thả họ trong tương lai chắc sẽ trở thành vấn đề. Quân phục của tù binh được thu giữ, và họ được may đo hai bộ bà ba. Họ được cấp xà phòng và thuốc đánh răng… Họ ở trong các căn nhà lá, có hầm tránh máy bay, và hàng rào tre vây quanh. Các tù binh Mỹ ngủ trên giường tre truyền thống của Việt Nam. Những người phụ trách trại cho hay, “dù có mong muốn đến mức nào, cũng không thể làm được xưởng bánh mỳ trong rừng”, và họ cố gắng thay đổi thực đơn để đáp ứng cái dạ dày Mỹ.

Họ ngạc nhiên khi nhìn thấy tôi lần đầu bước ra từ trong rừng, cứ như là tôi vừa từ sao Hỏa xuống. Vì họ đã sống tách ra khỏi thế giới bên ngoài vài tháng, tôi hỏi họ có câu hỏi gì không, và ngạc nhiên thấy sự quan tâm của họ quả là hạn chế.

Ca-ma-chô hỏi tôi: “ông có tình cờ biết được ai vừa giành chức vô địch quyền Anh hạng nặng thế giới không?”. May mà tôi có nghe đài nên trả lời được câu này. Một nụ cười thật mãn nguyện hiện trên khuôn mặt anh ta…

Tôi hỏi Râu -ra-bách nghĩ gì về cuộc chiến tranh, một khi anh ta đã có vài tháng để suy tư về nó. Sau khi giải thích rằng, là một quân nhân, anh ta không có quyền để thảo luận các vấn đề chính trị, Râu-ra-bách nói: “Đây thật là một bí ẩn. Tôi không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Ai phải, ai trái, ai thắng, ai thua, tức là nhìn toàn cục, tôi chẳng có khái niệm gì”. Các tù binh khác cũng trả lời tương tự. Họ “không có khái niệm” về cuộc chiến tranh này, hoặc vì sao họ lại ở đây. Họ chỉ quan tâm thuần túy đến vai trò “cố vấn” của mình.

Khi tôi hỏi Râu -ra-bách, anh ta duy trì khả năng tư duy thế nào, vì các tù binh không có gì để làm, ngoài giữ cho nơi ăn chốn ở – một căn nhà lá – cho sạch sẽ. Râu -ra-bách trả lời: “Tôi nghĩ về tất cả những gì mình làm khi về nhà. Tôi tưởng tượng là sẽ làm một cái bếp nướng thịt barbecue; sẽ làm những cái giá trong nhà bếp; làm 6 cái mô hình máy bay cho bọn trẻ và ba chiếc đài. Đấy là cách duy nhất tôi duy trì khả năng tư duy”.

Câu hỏi đặt ra là tại sao có những kẻ chẳng hề quan tâm đến lý tưởng tranh đấu, chẳng cần nhận thức vì sao xảy ra cuộc chiến, những người sẵn lòng lao vào những phận sự dữ dằn, khó chịu? Xin hãy nhìn vào đồng lương của họ. Lương cơ bản của Râu -ra-bách là 353USD hằng tháng (năm 1963, khoảng 2000USD hôm nay – ND), khi sang Nam Việt Nam công tác sẽ đạt tới 858USD thu nhập hằng tháng.

Ba “cố vấn” Mỹ còn lại nhận thêm từ 450 đến 500USD tiền phụ cấp (khi sang Việt Nam), điều làm cho họ trở thành những lính đánh thuê có mức thu nhập cao nhất từ trước đến nay, xét theo quân hàm của những quân nhân Mỹ này. Các đối thủ của họ – cán binh của Mặt trận Giải phóng, từ chiến sĩ đến chỉ huy đơn vị, nhận phụ cấp 40 đồng một tháng, bằng 1USD theo tỷ giá chính thức, và chỉ khoảng 40 xen theo giá chợ đen, cũng là thực giá theo thị trường. Nhưng sự khác biệt giữa những người yêu nước và lính đánh thuê trên gợi nhớ câu chuyện con chó săn giải thích cho chủ, vì sao nó không bắt được con mồi nhỏ, sau một cuộc rượt đuổi khủng khiếp: “Con mồi chạy vì cuộc sống của nó, còn tôi (chó săn) chạy chỉ vì bữa trưa thôi”. Người Việt chiến đấu vì sự tồn vong giống nòi, còn lính đánh thuê Mỹ thì vì bữa ăn, đây cũng là lời giải cho sự khác biệt về thắng lợi và thất bại trong loại hình xung đột đang xảy ra ở miền Nam Việt Nam…

W.BớC -SéT

Lê Đỗ Huy (lược dịch)
qdnd.vn

Cột cờ Hà Nội 200 tuổi

QĐND – Năm 1802 Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấy hiệu là Gia Long, lập vương triều Nguyễn, định đô tại Huế. Cũng bắt đầu từ đó, Gia Long hoạch định xây dựng Kinh thành Huế và các đô thị theo kiểu thành Vô-băng của Pháp.

Ở Việt Nam, kiểu thành này xuất hiện đầu tiên ở Gia Định năm 1790, tiếp đó ở Huế, Thăng Long, Sơn Tây, Nam Định, Bắc Ninh, Thanh Hóa, Vinh, Đồng Hới, Quảng Trị v.v.. Trong cấu trúc thành Vô-băng ở nước ta thường có một điểm nhấn kiến trúc quan trọng là Kỳ đài (Cột cờ). Kỳ đài Huế được xây dựng năm 1807 với chiều cao tổng thể là 54,96m, Kỳ đài Nam Định được xây dựng trong 31 năm, từ 1812 đến 1843 cao 23,84m, Kỳ đài Sơn Tây được xây dựng năm 1822… Kỳ đài Thăng Long (lúc này mang nghĩa mới là Hưng Thịnh, năm 1831, dưới thời Minh Mạng mới đổi ra Hà Nội) được xây dựng cùng với thành Vô-băng năm 1805 trên vị trí Hoàng thành xưa. Trong Đại Nam nhất thống chí có đoạn viết về Hoàng thành Hà Nội như sau: “Các cửa thành đều bắc cầu đá qua hào. Mặt trước chính giữa xây Kỳ đài. Bốn phía trên mặt thành xây 24 pháo đài”. Kỳ đài Thăng Long là điểm nhấn kiến trúc nằm trên trục Bắc-Nam, do kiến trúc sư Đặng Công Chất đốc công xây dựng theo thiết kế đã được Gia Long phê từ năm 1805 đến năm 1812 mới hoàn thành.

Cột cờ Hà Nội. Ảnh: TRUNG NGUYÊN

Kỳ đài Thăng Long (từ đây xin gọi là Cột cờ Hà Nội) gồm 3 tầng đế và một thân cột. Các tầng đế hình chóp cụt, nhỏ dần, chồng lên nhau, xung quanh ốp gạch. Tầng 1, mỗi chiều dài 42,5m, cao 3,1m, có 2 cầu thang gạch dẫn lên. Tầng 2, mỗi chiều 27m, cao 3,7m, có 4 cửa. Cửa hướng Đông, trên có đắp hai chữ “Nghênh húc” (đón ánh nắng ban mai); cửa Tây với hai chữ “Hồi quang” (ánh nắng phản chiếu); cửa Nam với hai chữ “Hướng minh” (hướng về ánh sáng); cửa Bắc không đắp chữ. Tầng 3, mỗi chiều 12,8m, cao 5,1m. Trên tầng 3 là thân cột cờ hình trụ 8 cạnh thon dần lên trên. Trong thân trụ cột cờ có cầu thang xoắn ốc với 54 bậc lên tận đỉnh. Để có ánh sáng và thông thoáng, mỗi mặt trên thân cột cờ người ta tạo ra 4-5 hình hoa thị được xếp so le trên mỗi mặt (tổng cộng có 36 hình). Ở vị trí cao nhất, mỗi mặt có một ô hình dẻ quạt. Đỉnh cột cờ được cấu tạo thành một lầu hình bát giác, cao 3,3m, có 8 cửa tương ứng với 8 mặt. Giữa lầu là một trụ tròn, đường kính 0,4m, cao tới đỉnh lầu, là chỗ để cắm cán cờ (8m). Toàn bộ cột cờ cao 33,4m, nếu kể cả trụ treo cờ thì cao 41,4m.

Trong dân gian truyền tụng:
Kỳ đài năm thước vút trời cao
Thông đạt trong tâm có đường vào
Trong sáng muôn nơi dồn cả lại
Trung tâm thiên hạ đẹp biết bao!

Các Cột cờ ở các địa phương không thể vượt độ cao của Cột cờ kinh đô Huế. Dẫu vậy, Gia Long tạo điểm nhấn kiến trúc Cột cờ trong thành-pháo đài trên các tỉnh thành, đặc biệt khu vực Bắc thành (từ Hà-Nam-Ninh trở lên biên giới Việt-Trung) muốn khẳng định uy quyền của mình trên vùng đất dân chúng còn nặng tình với nhà Lê.

Trong những năm 1894-1897, người Pháp đã tiến hành phá hầu hết thành Hà Nội để xây dựng Thủ phủ Đông Dương theo kiến trúc phương Tây. Một vài công trình kiến trúc Hà Nội đã thoát khỏi sự ứng xử thô bạo của người Pháp, trong đó có cửa Bắc, Đoan Môn và Cột cờ. Một bức ảnh xưa nhất do Louis Sadoul chụp năm 1890 còn lại cho ta thấy khu vực vườn hoa tượng đài Lê-nin dưới chân Cột cờ còn là hồ Voi (nơi tắm cho voi) và quân Pháp đang xây dựng doanh trại và Cột cờ Hà Nội được dùng làm đài quan sát.

Cột cờ Hà Nội nằm trên đại lộ Puy-gi-ni-ê, nhưng dân gian thường gọi là đường Cột Cờ. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ta đã chính thức hóa tên gọi thân quen này. Vì thế, nhà thơ Xuân Diệu có câu thơ nhắn nhủ với những người bạn xa gần của mình rằng:

Nhà tôi hai bốn Cột Cờ,
Ai thân thì ghé, ai sơ thì đừng

Cột cờ Hà Nội sừng sững, hiên ngang, kiêu hãnh vươn lên trời xanh, chứng kiến bao kỳ tích của đất nước, của thủ đô Hà Nội kiêu sa. Sau cuộc chiến đấu cầm chân địch suốt 60 ngày đêm cho cuộc rút lui chiến lược của Chính phủ kháng chiến Hồ Chí Minh lên Việt Bắc, Trung đoàn Thủ Đô tạm biệt Hà Nội, ra đi “đầu không ngoảnh lại” và hẹn ngày tái ngộ trên mảnh đất hùng thiêng này.

Ngày 10-10-1954, đoàn quân chiến thắng theo năm cửa ô, trong rừng cờ hoa của người Hà Nội, vào tiếp quản Thủ đô. Chiều hôm đó, cả Hà Nội đổ về khu vực Cột cờ chứng kiến giây phút lịch sử: Lễ thượng cờ Tổ quốc trên đỉnh Cột cờ Hà Nội.

Đúng 15 giờ, sau hồi còi dài từ Nhà hát Lớn thành phố, đoàn quân nhạc cử Quốc thiều theo sự điều khiển của nhạc trưởng Đinh Ngọc Liên, lá cờ Tổ quốc từ từ kéo lên theo nhịp quân hành. Lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên đỉnh Cột cờ Hà Nội. Từ đó trở đi, lá cờ Tổ quốc vẫn hiên ngang tung bay giữa trời đất, trong bão tố mưa sa và cả trong lửa đạn quân thù.

Ngày 7-5-1964, nhân kỷ niệm 10 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, vào lúc 17 giờ 30 phút, thành phố Hà Nội tổ chức trọng thể lễ gắn biển, đổi tên đường Cột Cờ thành đường Điện Biên Phủ. Từ năm 1986, trong bầu không khí đổi mới, được sự chỉ đạo của cấp trên, lá cờ Tổ quốc cỡ 24m2 luôn tung bay trên Cột cờ (trước đó chỉ treo vào dịp lễ, Tết). Trông giữ lá cờ thiêng liêng này là cán bộ, chiến sĩ Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Lá cờ do Xưởng thêu may cờ 67 Hàng Trống sản xuất. Cờ được may bằng loại vải phi bóng sản xuất trong nước. Để chống chọi với gió mạnh trên cao, các đường may phải cần đến 3 lần chỉ, góc cờ được chần hình quả trám. Vì lá cờ có khổ quá lớn nên thợ may khi may xong phần nền đỏ, phải trải ra nền nhà rộng để khoét hình sao trước khi may. Cứ khoảng 2-3 tuần thay một lá cờ. Mỗi năm thay khoảng 20 lá cờ.

Theo cán bộ, chiến sĩ Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam kể lại: Có lần Tổng thống Vê-nê-xu-ê-la, ông Hu-gô Cha-vết đến Hà Nội, khi đi ngang qua Cột cờ đã yêu cầu cho dừng xe và vào thăm. Cán bộ bảo vệ đã hướng dẫn Tổng thống trèo lên đến tận đỉnh Cột cờ để ngắm cảnh thành phố Hà Nội thời mở cửa.

Với sự quan tâm gìn giữ như một báu vật quốc gia, Cột cờ Hà Nội sẽ mãi còn hiên ngang đứng đó để chứng kiến những đổi thay lớn lao của mảnh đất hùng thiêng này, chứng minh cho một chân lý bất di bất dịch: Còn di tích, còn ký ức, còn dân tộc.

PGS.TS Phạm Xanh
qdnd.vn

10 đại văn hào thế giới

QĐND – Theo báo Trung Quốc “Kho Tư liệu”, 10 văn hào nổi tiếng nhất thế giới là: Hô-me (Homer), Đan-tê (Dante), Gớt (Goethe), Bai-rơn (Byron), Sếch-xpia (Shakespeare), Vích-to Huy-gô (Victor Hugo), Ra-bin-đra-nát Ta -go (Rabindranatha Tagore), Lép Tôn -xtôi (Lev Tolstoy), Goóc-ky (Gorky), Lỗ Tấn.

1. Hô -me (Khoảng thế kỷ 8-9 TCN) là nhà thơ khiếm thị Hy Lạp cổ đại, người biên soạn hiệu đính hai bộ sử thi nổi tiếng “I-li-át” (Iliad) và “ô-đít-xây” (Odyssey).

Tác phẩm sử thi của ông là di sản chủ yếu của người Hy Lạp từ thời đại dã man tiến lên thời đại văn minh.

2. A-li-gai-li Đan -tê (Aligaili Dante) (1265-1321) là nhà thơ I -ta-li-a, sinh trưởng trong một gia đình quý tộc sa sút. Tác phẩm tiêu biểu “Thần khúc” của ông đã phản ánh một cách sâu rộng đời sống xã hội và đấu tranh xã hội của nước I -ta-li-a vào cuối thời kỳ trung cổ, hiển thị sự manh nha tư tưởng nhân văn chủ nghĩa, song lại mang đậm sắc thái tôn giáo. Tác phẩm của ông có ảnh hưởng rất lớn đối với văn học châu âu sau thế kỷ 14.

3. Giôn Vôn -gang Phôn Gớt (John Wolfgang Von Goethe) (1749-1832) là kịch tác gia, nhà thơ, nhà tư tưởng quan trọng nhất nước Đức và châu âu từ giữa thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19.

Ngoài các lĩnh vực thi ca, kịch, tiểu thuyết, Gớt còn giành được thành tựu trác việt về các phương diện lý luận văn nghệ, triết học, sử học, thiết kế tạo hình v.v..

Tác phẩm tiêu biểu của ông có “Sự phiền toái của thiếu niên Véc -nơ (Werther)”, “Phao-xtơ” (Faust) và “Prô-mi-tớt-xơ” (Prometheus).

4. Bai-rơn (1788-1824) là nhà thơ Anh quốc.

ông sinh ngày 22-1-1788 trong một gia đình quý tộc sa sút ở Luân Đôn. ông bị thọt một chân bẩm sinh nên rất nhạy cảm với nền chuyên chế áp bức đương thời.

Khi lên 10 tuổi, tước vị và sản nghiệp gia truyền của gia tộc Bai -rơn (Tu viện Vin -ni-út (Vilnius) và những dinh thự khác) thuộc về ông. ông trở thành Huân tước Bai -rơn VI.

Sau khi tốt nghiệp trường công Ha -râu (Harrow), ông học văn học và lịch sử tại trường Đại học Căm -brít-giơ (Cambridge). ông là một học sinh không chăm học, rất ít nghe giảng bài, ngược lại đọc rất nhiều tác phẩm nổi tiếng về văn học, triết học và lịch sử của châu âu và của nước Anh, đồng thời cũng tham gia các hoạt động xạ kích, cờ bạc, uống rượu, săn bắn, bơi lội, đấm bốc v.v..

Tháng 3-1809, là một quý tộc nối dõi, ông vào Viện Quý tộc, tham gia nghị viện và nhiều lần phát biểu ý kiến. Những phát ngôn ấy đều biểu thị rõ ràng lập trường tiến bộ theo chủ nghĩa tự do của Bai -rơn. ông đã ra sức sáng tác nhằm ủng hộ tư tưởng dân chủ của các cuộc cánh mạng nhân dân, suốt đời đấu tranh vì lý tưởng dân chủ, tự do, giải phóng dân tộc. Tác phẩm của ông có ý nghĩa tiến bộ lịch sử và giá trị nghệ thuật quan trọng.

Tác phẩm chủ yếu của ông có “Dị giáo đồ” (Infidels) và “Ha-rôn du ký” (Harrold’s Travels), v.v…

5. Uy-li-am Sếch -xpia (1564-1616), kịch tác gia, nhà thơ vĩ đại của nước Anh thời kỳ phục hưng.

ông sinh ra trong một gia đình thương nhân, từ nhỏ đã say mê sân khấu.

Tác phẩm của ông rất nhiều, hiện còn để lại 37 bộ kịch bản, 2 bộ tác phẩm thơ dài, 154 bài thơ 14 dòng. Tác phẩm tiêu biểu có: Bốn bộ bi kịch lớn “Ham-lét” (Hamlet), “ô -ten-lô” (Othello), “Mác -bét” (Macbeth), “Vua Lia” (Vua Lear); Hài kịch “Nhà buôn thành Vơ -ni-dơ (Venice)”; Chính kịch “Rô-mê-ô và Giu -li-ét”.

Những tác phẩm này đã biểu hiện chủ nghĩa nhân văn tư sản châu âu đầy đủ nhất với trình độ nghệ thuật cao nhất, là đỉnh cao của văn học thời kỳ phục hưng châu âu.

Mác đã ca tụng ông là “Thiên tài sân khấu vĩ đại nhất của nhân loại”.

6. Vích -to Huy-gô (1802-1885), nhà tiểu thuyết, nhà thơ nổi tiếng vĩ đại của nước Pháp thế kỷ 19.

ông sinh ra trong một gia đình sĩ quan quân đội. Khối lượng tác phẩm của ông rất khổng lồ, gồm thi ca, tiểu thuyết, kịch bản và lý luận văn học.

Tác phẩm tiêu biểu có “Nhà thờ Đức Bà Pa -ri” (Notre Dame de Paris), “Những người khốn khổ” (Les Miserables).

Bằng thủ pháp tinh tế, bề rộng cuộc sống và nội dung phong phú, những tác phẩm của ông đã bóc trần và tố cáo mạnh mẽ tội ác của chế độ chuyên chế và giáo hội phản động, đồng cảm với những số phận bi thảm của dân nghèo tận đáy xã hội, phản ánh sâu sắc những sự kiện trọng đại và hiện thực xã hội trong đời sống nước Pháp thế kỷ 19. Tác phẩm của ông đã có ảnh hưởng to lớn đối với các nhà văn thế hệ sau.

7. Ra-bin-đra-nát Ta -go (1861-1941), nhà thơ, nhà tiểu thuyết, kịch tác gia, nhà tản văn, nhà hoạt động xã hội ấn Độ.

ông sinh ra trong một gia đình địa chủ. ông sáng tác hơn 50 tập thơ, 12 bộ tiểu thuyết, hơn 100 truyện ngắn, hơn 20 kịch bản sân khấu.

Tác phẩm tiêu biểu có “Gitanjali”, “Chim bay” (Bird series), “Trăng non”.

Ngoài ra, Ta-go còn công bố nhiều tác phẩm về văn học, triết học, chính trị, du ký, giới thiệu sách, v.v..

Ta-go còn có sở trường về sáng tác ca khúc và hội họa. Nhạc phẩm “ý chí của nhân dân” năm 1950 được lựa chọn là Quốc ca ấn Độ.

Sáng tác của Ta -go chiếm địa vị quan trọng trong lịch sử văn học ấn Độ.

Năm 1913, ông được trao Giải thưởng Nô -ben văn học.

8. Lép Tôn -xtôi (1828-1910), nhà văn vĩ đại nhất nước Nga thế kỷ 19.

ông xuất thân trong một gia đình quý tộc, năm 1840 vào Trường Đại học Kazan, chịu ảnh hưởng tư tưởng khai sáng của Rút -xô (Rousseau), Mông-tét xki -ơ (Montesquieu) v.v..

Từ năm 1851 đến năm 1854, ông làm nghĩa vụ quân sự trong quân đội Cô -ca-dơ (Caucasus) và bắt đầu sáng tác. Từ năm 1854 đến năm 1855, ông tham gia chiến tranh Cơ -ri-mê (Crimean). Cuộc sống quân đội trong mấy năm không chỉ khiến cho ông thấy được sự thối nát của xã hội thượng lưu, mà còn tạo cơ sở vững chắc cho ông sau này miêu tả như thật mọi cảnh tượng chiến tranh trong tác phẩm đồ sộ “Chiến tranh và Hòa bình”.

Tháng 11-1855, ông đến Xanh Pê -téc-bua và gia nhập giới văn học.

Tác phẩm thành danh của ông là “Thời niên thiếu” (1857), phê phán cuộc sống của quý tộc đương thời. Tiểu thuyết “Sáng sớm của một địa chủ” (1856) đứng trên lập trường quý tộc tự do chủ nghĩa đề xuất việc cải cách từ trên xuống dưới.

Sáng tác thập niên 80 của ông có: Kịch bản “Thế lực đen tối” (1886), “Thành quả giáo dục” (1891); Các truyện vừa “Cái chết của I -van In-lích-sơ (Ivan Illich’s)” (1886), “Khúc giao hưởng Cơ -lây (Clay)” (1891), “Hát-xê Mu -rát” (Haase Murat) (1886-1904); Truyện ngắn “Sau vũ hội” (1903). Đặc biệt là tiểu thuyết “Phục sinh” sáng tác 1889-1899 là sự tổng kết về khám phá lâu dài của ông về tư tưởng, nghệ thuật, cũng là một bộ tác phẩm phê phán xã hội nước Nga sâu sắc nhất, toàn diện nhất, mạnh mẽ nhất, trở thành một trong những trước tác bất hủ của văn học thế giới.

Những năm cuối đời, Tôn-xtôi cố gắng sống một cuộc sống bình dân chất phác giản dị. Tháng 10-1910, ông bỏ gia đình ra đi, ngày 7-11-1910 ông ốm chết tại một ga xe lửa nhỏ, hưởng thọ 82 tuổi.

9. Mắc -xim Goóc -ky (1868-1936), nhà văn vô sản vĩ đại, người đặt nền móng cho văn học cách mạng xã hội chủ nghĩa của Liên Xô.

Tác phẩm tiêu biểu của ông có tiểu thuyết tự truyện “Thời thơ ấu” (1855), “Người mẹ”.

Tác phẩm “Người mẹ” của ông đã phản ánh sâu sắc phong trào cách mạng vô sản nước Nga, xây dựng thành công một loạt hình tượng của những người chiến sĩ tiên phong của giai cấp vô sản; là tác phẩm bất hủ đầu tiên của văn học thế giới miêu tả cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản

Lê-nin đánh giá cao “Người mẹ”, nói tác phẩm là “một bộ sách vô cùng kịp thời. Tác phẩm của Goóc -ky là tài sản chung của giai cấp vô sản toàn thế giới, đã đem lại ích lợi khổng lồ cho phong trào công nhân thế giới”.

10. Lỗ Tấn (1881-1936), tên khai sinh là Chu Thụ Nhân, người Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang; Là nhà văn, nhà tư tưởng, nhà cách mạng vĩ đại, một trong những người đặt nền móng cho văn học hiện đại Trung Quốc.

Xuất thân trong một gia đình phong kiến sa sút, ông đã từng học tại Nhật Bản.

Năm 1909 trở về nước, ông làm giáo viên ở Hàng Châu và nhiều nơi khác. Sau Cách mạng Tân Hợi, ông lần lượt nhậm chức trong Bộ Giáo dục tại Nam Kinh, Bắc Kinh, đồng thời giảng dạy tại Trường Đại học Bắc Kinh.

Tháng 5-1918, công bố tác phẩm “Nhật ký người điên”, kịch liệt phê phán đả kích chế độ phong kiến, đặt nền móng cho phong trào văn học mới.

Từ năm 1918 đến năm 1926, ông liên tục sáng tác những truyện ngắn nổi tiếng “Gào thét”, “Bàng hoàng”, v.v..

Từ năm 1927 đến năm 1935, ông đã sáng tác rất nhiều tác phẩm tạp văn, với chủ nhĩa Mác làm tư tưởng chỉ đạo.

Ngày 19-10-1936, Lỗ Tấn ốm nặng rồi từ trần tại Thượng Hải.

ông thường xuyên mặc một bộ áo dài kiểu Trung Quốc rất chất phác giản dị, mái tóc dựng đứng như chiếc bàn chải, bộ râu rậm hình chữ “nhất” kiểu chữ lệ.

Đại văn hào Lỗ Tấn cũng được nhân dân Trung Quốc tôn vinh là “hồn dân tộc”!

Vũ Phong Tạo
qdnd.vn

Chuyện về biệt hiệu “Bầy quỷ đêm”

QĐND – Trong cuộc Chiến tranh cứu nước vĩ đại của nhân dân Liên Xô chống phát xít Đức xâm lược (1941-1945), hàng triệu phụ nữ đã đóng góp nhiều công sức rất to lớn. Không những thay mặt đàn ông làm mọi việc ở hậu phương, họ còn trực tiếp tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Đặc biệt có 3 trung đoàn không quân nữ mà những chiến công của họ không kém giới mày râu. ở đây, xin kể về 1 trong 3 trung đoàn không quân đặc biệt đó: Trung đoàn không quân nữ Ta -man số 46 được mang danh hiệu “Cận vệ”, còn quân thù thì gọi với nỗi khiếp sợ là “ Bầy quỷ đêm”. Và họ rất tự hào về cái tên đó.

Bảo vệ Tổ quốc – nhiệm vụ thiêng liêng

Ngay từ những ngày đầu, khi quân phát xít Đức bội ước tấn công đất nước Xô viết, hàng chục vạn phụ nữ đã nhanh chóng tình nguyện gia nhập các đơn vị quân đội, các đơn vị dân quân tự vệ và các đội du kích trong vùng tạm chiếm. Hưởng ứng lệnh Tổng động viên của ủy ban Quốc phòng Nhà nước đáp ứng lời kêu gọi của Đoàn thanh niên Cộng sản, từ những ngày đầu cuộc chiến đã có hơn 550 nghìn chiến binh thuộc “phái đẹp” đại diện của tất cả các dân tộc trong Liên bang Xô viết vác súng ra trận. Hơn 300 nghìn cô gái khỏe mạnh được sung vào các các đơn vị Quân chủng Phòng không -Không quân, 25 nghìn người đẹp chiến đấu trong các đơn vị Hải quân, hàng chục vạn nữ thanh niên làm thông tin liên lạc, y tế, cứu thương trên các mặt trận. Trong các tổ chức của Đoàn thanh niên Cộng sản đã đào tạo được 222 nghìn chị em “vừa sản xuất vừa chiến đấu” để tiếp sức cho các chiến trường nóng bỏng.

Chỉ huy trung đoàn không quân cận vệ nữ Ta -man số 46 – E.Đ. Béc -xan-xkai-a.

Đặc biệt, nữ giới Xô viết đã tổ chức một đơn vị của riêng mình. Ví như Lữ đoàn bộ binh độc lập tình nguyện nữ số 1, Trung đoàn bộ binh độc lập nữ số 1… Riêng Quân chủng Không quân có 3 trung đoàn độc lập toàn nữ từ chỉ huy cho tới chiến sĩ bảo dưỡng máy. Đó là Trung đoàn Không quân ném bom 125 do Thiếu tá, anh hùng Liên Xô M.M. Ra -xcô-va (1912-1943) chỉ huy; Trung đoàn cận vệ không quân hoạt động tầm xa do Đại tá, anh hùng Liên Xô V.X. Gri -dô-đu-bô-va chỉ huy, Trung đoàn cận vệ không quân số 46 do Trung tá E.Đ. Béc -xan-xkai-a chỉ huy. Các đơn vị này lập được nhiều thành tích xuất sắc trong phối hợp và hỗ trợ các đơn vị chính quy trên các mặt trận nóng bỏng, chiến đấu trực diện với quân thù cũng như quấy phá, tiêu diệt sinh lực nơi hậu cứ của chúng. Họ đã được ghi vào sử sách của nước nhà và được toàn dân Liên Xô ghi nhớ công lao, là niềm tự hào của phái đẹp Xô viết thời bảo vệ Tổ quốc trước sự xâm lăng của quân phát -xít Hít -le.

“Bầy quỷ đêm” – cái tên tự hào

Đó là cái tên mà quân phát xít với nỗi sợ hãi và khâm phục đặt cho Trung đoàn cận vệ nữ không quân Ta -man số 46. Đây có lẽ là một đơn vị không quân duy nhất của phái đẹp trên trần gian này đi đánh quân thù vào ban đêm. Với tinh thần háo hức quyết chiến để bảo vệ Tổ quốc, họ sử dụng tất cả các loại máy bay được giao. Tuy nhiên, họ dùng nhiều cách và cảm thấy “hợp vị” với loại máy bay Po “ra lò” năm 1940: Nhỏ gọn, nhẹ, thậm chí có nhiều bộ phận làm bằng gỗ.

Với vận tốc bay nhỏ (120-140km/giờ), bay thấp, dễ lái, ít ồn…, họ khá dễ dàng tìm được mục tiêu địch. Rất nhiều vị trí đóng quân, kho súng đạn, kho xăng, dầu, sân bãi chứa xe pháo, các bến phà, sở chỉ huy địch… từng được “ăn” … bom của các người đẹp quả cảm này. Ngoài nhiệm vụ ném bom ban đêm, quấy rối các căn cứ địch, chị em của Trung đoàn Ta -man còn chuyên chở vũ khí, đạn dược, thuốc men, thực phẩm, thư báo… cho các đơn vị du kích ở những nơi không thể vận chuyển bằng đường bộ. Ví như họ đã tiếp tế cho các ngư dân làng En -tin-gơ (Entinger) từng chịu khốn khổ, cơ cực do bị quân Đức bao vây nhiều ngày không có lương thực, thực phẩm. Họ đã từng chở quân đổ bộ lên một vùng đất nhỏ ở bán đảo Crưm trong tình thế bị quân Đức phong tỏa bao vây ngặt nghèo. Rồi có lần đêm tối như mực và rét buốt cắt da thịt, họ đã tìm ra được cái sân trường, hạ độ cao xuống gần 30m để thả xuống rất chính xác các thùng lương thực, đạn dược và thuốc men cho một đội du kích trong vòng vây bốn bề của quân thù.

Vào mùa đông giá lạnh, đêm rất dài, Trung đoàn đã thực hiện từ 8 đến 10, có khi 12 đến 15 trận ném bom vào trận địa và cơ sở hậu cần của quân phát -xít. Trong 24 nghìn lượt đánh đêm, Trung đoàn phi công nữ nổi tiếng này đã ném hơn 3000 tấn bom xuống đầu quân thù. Có nhiều trường hợp ngộ nghĩnh, khó tin nhưng là sự thật: Những quả bom termit nhỏ được các chiến sĩ phái đẹp này đặt lên đùi rồi dùng tay đẩy chúng rơi xuống mục tiêu! Loại máy bay Po -2 này bay chậm, chỉ một phi công và một chiến sĩ ném bom. Không phải bom tạ hay bom tấn nhưng nó có hiệu quả lớn là rơi xuống mục tiêu chính xác và thao tác thì thật “thủ công”, khá đơn giản. Do vậy, “bầy quỷ đêm” này làm kẻ thù lo lắng và sợ hãi hằng đêm, thường bị mất ăn, mất ngủ ngay căn cứ của chúng. Để ngăn chặn và đáp trả sự tấn công của “bầy quỷ đêm”, chúng đã điều từ Mặt trận phía Tây hai chiếc máy bay tiêm kích bay đêm Mét -séc-mít “Meccershmitt -110” săn lùng máy bay của trung đoàn này. Vào đêm 1-8-1943, bọn “săn đêm” của phát -xít Đức trong vòng vài tiếng đồng hồ đã chủ động săn tìm và quần nhau với một đội bay của các người đẹp Xô viết. Cuối cùng, nhờ sự vượt trội về kỹ thuật, chúng đã bắn cháy 4 chiếc máy bay ném bom của trung đoàn và 8 nữ phi công anh dũng hy sinh. Đây là một bài học đắt giá cho các phi công nữ nhưng càng làm tăng ý chí và tinh thần chiến đấu của toàn trung đoàn…

Hai điều kiêng kỵ: Chất cồn và đàn ông

Có một chuyện vui đã được kể lại vào những ngày lửa bỏng đó: Trong Trung đoàn phái đẹp này chỉ có độc nhất một vị “mày râu” – chàng kỹ thuật viên vô tuyến. Trong một lần phát quân phục định kỳ, chàng nhận được một bộ đồ lót dành cho… phụ nữ. Thế là, vị “mày râu cô độc” này đã viết đơn yêu cầu ban chỉ huy xin được chuyển đi bất cứ đâu, miễn là không phải tới các đơn vị như “bầy quỷ đêm” này.

Mặc dù là một đơn vị chiến đấu toàn con gái nhưng chỉ sau 2-3 tháng do hiệu quả chiến đấu tốt, họ đã được đặt ngang hàng với các đơn vị giới mày râu. Rồi chỉ sau nửa năm chiến đấu, trung đoàn này là đơn vị đầu tiên trong sư đoàn được nhận danh hiệu “Cận vệ”. Trong suốt cuộc chiến, Trung đoàn phi công Ta -man số 46 này có 32 cô gái hy sinh trong các trận đánh. Các chiến sĩ hy sinh trong các vùng địch chiếm được nhân dân bí mật chôn cất và ghi lên bia mộ: “Tại đây nữ phi công vô danh yên nghỉ”. Trung đoàn có 25 kiều nữ được phong danh hiệu “Anh hùng Liên Xô”, rất nhiều người được thưởng huân, huy chương, cùng các phần thưởng cao quý của Nhà nước Xô viết.

Vị chỉ huy Trung đoàn từ đầu đến cuối là Trung tá ép -àö-ki-a Đa -vư-àö-vna Béc -xan-xkai-a. Trước đó, chị là một phi công giỏi, có bề dày kinh nghiệm từng làm việc trong ngành hàng không dân dụng Xô viết 10 năm. Không kém các vị giới mày râu, Trung đoàn trưởng Béc -xan-xkai-a là một vị chỉ huy cương nghị, dũng cảm, quyết đoán và tài giỏi, nhưng lại là một nhân cách rất nữ tính. Chị luôn là người đầu tiên xông vào những nơi nào phức tạp, khó khăn trong các trận đánh với quân thù. Nhờ vậy mà toàn bộ trung đoàn không ai ngần ngại, chùn bước vào những giờ phút gay go khốc liệt nhất. Béc -xan-xkai-a là chiến sĩ nữ duy nhất trong cuộc chiến được tặng thưởng Huân chương mang tên vị Đại Nguyên soái lừng danh Nga A.V. Xu -vô-rốp.

Với tinh thần toàn tâm, toàn ý dồn hết sức lực chiến đấu bảo vệ Tổ quốc Xô viết, cả trung đoàn không một ai nghĩ tới chuyện riêng tư. Không chỉ những cô gái trẻ mà ngay cả những người chị lớn tuổi trong trung đoàn cũng không sợ “quá lứa nhỡ thì”. Có người lúc đó (thường là các vị chỉ huy còn trai trẻ) đặt vấn đề “làm bạn” thì các kiều nữ cảm ơn và “dịu dàng”… từ chối. “ôi, các bạn, Tổ quốc đang lâm nguy, chúng tôi chưa ai dám nghĩ gì tới điều đó. Chúng tôi đang muốn “biệt lập” để hoàn thành tốt nhiệm vụ, còn “chuyện ấy” thì để sau ngày chiến thắng…”.

Triệu Hải
qdnd.vn