Thư viện

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 3 (Năm 1946 – Tháng 12)

Tháng 12, ngày 3

Chiều, mặc dù ốm mệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn tiếp ông J.Xanhtơny. Cùng dự có các ông Hoàng Minh Giám và Hoàng Hữu Nam. Người cho rằng Pháp phải chịu trách nhiệm về các vụ xung đột ở Hải Phòng và Lạng Sơn. Người đề nghị: các Uỷ ban hỗn hợp đã được tổ chức sẽ tiếp tục công việc trước đây; thành lập hai ban đặc biệt để giải quyết vấn đề về quân sự và thuế quan. Cuối cùng, Người đề nghị các lực lượng Pháp và Việt Nam trở về các vị trí chiếm đóng cũ trước khi xảy ra các vụ xung đột.

Tối, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến ở và làm việc tại làng Vạn Phúc, Hà Đông.

– J. Xanhtơny: Câu chuyện về một nền hoà bình bị bỏ lỡ, Nxb. Công an nhân dân, 2003, tr. 297-299.

– Philippe Devillers: Paris – Saigon – Hanoi, Gallimard/Julliard, Paris, 1988, p.267.

– Tư liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tiếp tục đọc

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 3 (Năm 1946 – Tháng 11)

Tháng 11, ngày 1

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục dự họp Quốc hội.

Cùng ngày, nhân kỷ niệm ngày sinh lần thứ 60 của Chủ tịch nước Trung Hoa dân quốc Tưởng Giới Thạch, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ và nhân dân Việt Nam gửi điện mừng, “kính chúc Ngài vạn thọ vô cương” 1).

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 429.

Tiếp tục đọc

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 3 (Năm 1946 – Tháng 10)

Tháng 10, ngày 4

Bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh giới thiệu về Binh pháp Tôn Tử với nhan đề Phương pháp đánh giữ và tiến thoái, ký tên Q.Th., đăng trên báo Cứu quốc, số 365. Người phân tích những quan điểm của Tôn Tử trong cách tiến công và thoái lui, và rút ra kết luận: “Phương pháp dụng binh là phương pháp thiên biến vạn hoá. Tuỳ theo thời cơ, theo địa điểm, theo tình hình bên địch, người làm tướng lúc bày thế trận này, lúc bày thế trận khác”, “muốn được thắng trận, phương pháp đánh giữ và tiến thoái phải luôn luôn biến đổi hợp với thời cơ, hợp với tình hình trên mặt trận. Nhanh như chớp, biến hoá như thần, đó là bí quyết của phép dụng binh”.

– Báo Cứu quốc, số 365, ngày 4-10-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 316, 318.

Tiếp tục đọc

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 3 (Năm 1946 – Tháng 9)

Tháng 9, ngày 1

17 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp kiến ông Hisinien, phóng viên báo Trung Hoa ở Hội nghị 21 nước Đồng minh, đến thăm.

18 giờ, Người tiếp ông bà M. Tơrivơ (M.Trives) cùng con gái đến thăm.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tiếp tục đọc

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 3 (Năm 1946 – Tháng 8)

Tháng 8, ngày 1

9 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nhà văn Lui Cuxtếch (Louis Custex).

11 giờ 30, Người tiếp đại tá công binh Phataxâyny (Fattaceiny), người phụ trách lính thợ Việt Nam tại Pháp.

20 giờ, Người tiếp và mời cơm ông Ph. Bi-u.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh

Tiếp tục đọc

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 3 (Năm 1946 – Tháng 7)

Tháng 7, ngày 1

8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp một số chị em Việt kiều. Khi được biết họ chuẩn bị may tặng Người một bộ quần áo, vì thấy bao giờ Người cũng chỉ mặc một bộ quần áo vải vàng, Người không đồng ý. Hoạ sĩ Vũ Cao Đàm đến xin được vẽ và nặn tượng Người.

13 giờ, Người tiếp các nhà văn, nhà thơ Pháp: bà E.Tơriôlê (E.Triolet) và các ông L.Aragông (L.Aragon), Giăng Risa Blốc (Jean Richard Bloch), Lêông Mútxinác (Léon Moussinac), P.Emmanuen (Pierre Emmanuel)… Cùng dự có các ông Phạm Văn Đồng, Dương Bạch Mai, Nguyễn Mạnh Hà, Hoàng Minh Giám, Nguyễn Văn Huyên.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lư­u tại Viện Hồ Chí Minh.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 43-44.

Tháng 7, ngày 2

Ngày đầu tiên trong Chương trình chính thức đón tiếp Chủ tịch Hồ Chí Minh của Chính phủ Pháp, vào hồi 11 giờ 50, Bộ trưởng Bộ nước Pháp hải ngoại Mariuýt Mutê cùng các quan chức cao cấp trong Chính phủ Pháp tới Khách sạn Roayan Môngxô đón Chủ tịch Hồ Chí Minh đến gặp Thủ tướng Gioócgiơ Biđôn (Georges Bidault) tại Dinh Thủ tướng, 14 phố Xanh Đôminic (Saint Dominique). Lễ đón tại khách sạn diễn ra rất long trọng, có lính bồng gươm trần đứng hai bên làm hàng rào danh dự. Từ khách sạn đến Dinh Thủ tướng, xe của Người đi giữa đội môtô bảo vệ, dẫn đầu là xe của Cảnh sát trưởng Pari. Hai bên hè đường, nhiều quãng dân chúng tụ tập rất đông vẫy tay chào.

Đến Dinh Thủ tướng, nghi lễ đón tiếp càng trọng thể hơn. Quốc ca hai nước Việt và Pháp nổi lên hùng tráng để đón chào. Sau khi duyệt binh xong, Chủ tịch Hồ Chí Minh theo sự hướng dẫn của Bộ trưởng Mutê vào phòng khách gặp Thủ tướng Biđôn. Thủ tướng Biđôn xuống tận chân cầu thang đón tiếp. Hai vị quốc trưởng chào mừng, chúc tụng lẫn nhau, rồi vào phòng khách gặp gỡ riêng. Cuộc tiếp xúc diễn ra chừng mươi phút, sau đó hai người từ biệt. Chủ tịch Hồ Chí Minh ra về, nghi lễ vẫn như lúc đi cho tới khách sạn.

13 giờ 30, ông J. Xanhtơny tới khách sạn đón Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự tiệc chiêu đãi do Thủ tướng Pháp mời. Nghi lễ vẫn long trọng như buổi sáng. Trước khi vào phòng tiệc, Chủ tịch Hồ Chí Minh có cuộc tiếp xúc riêng với Thủ tướng Pháp trong ít phút. Tới dự buổi tiệc có đủ mặt tân cựu Thủ tướng và các vị Bộ trưởng. Trong buổi tiệc, sau diễn văn chào mừng của Thủ tướng Biđôn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc đáp từ cảm ơn Chính phủ và nhân dân Pháp đã đón tiếp Người rất ân cần, nồng nhiệt. Khi nói đến hội nghị giữa hai nước sắp tới, Người tin tưởng hội nghị có thể sẽ gặp nhiều khó khăn, song “sự thành thật và lòng tin cẩn lẫn nhau sẽ san phẳng được hết thảy những trở ngại”. Người nhắc lại một nguyên tắc đạo đức mà triết lý phương Đông và phương Tây đều tán dương: “Điều mà mình không muốn thì đừng làm với người khác”1).

Sau bữa tiệc, Thủ tướng Biđôn tiễn Người ra tận cửa Dinh Thủ tướng và chụp một bức ảnh chung.

15 giờ 50, Người tiếp Thủ tướng Pháp Gioócgiơ Biđôn đến đáp lễ tại Khách sạn R. Môngxô. Hai bên nói chuyện chừng mươi phút. Sau khi Thủ tướng ra về, một số quan chức Pháp còn ở lại uống trà và đàm đạo.

Cùng ngày, sau khi trao đổi với đại diện Chính phủ Pháp về binh sĩ Việt Nam ở Pháp muốn trở về Tổ quốc, được sự nhất trí của hai bên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho các binh sĩ Việt Nam ở Pháp thông báo chín điều đã thoả thuận với Chính phủ Pháp và khuyên anh em: phải giữ kỷ luật tử tế; phải đoàn kết, phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau; về đến nhà phải giúp ích Tổ quốc, phải ủng hộ Chính phủ; phải ăn ở cho xứng đáng với một người công dân của nước Cộng hoà Dân chủ Việt Nam.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lư­u tại Viện Hồ Chí Minh.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 44-48.

– Võ Nguyên Giáp: Những chặng đư­ờng lịch sử, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr.477.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 264-268.

Tháng 7, ngày 3

10 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng tướng Giăngtilom (Gentilhomme), tướng Rơve (Revers) tới đặt vòng hoa trước mộ chiến sĩ vô danh tại Khải hoàn môn và ký tên vào Sổ Vàng của khu lưu niệm.

11 giờ, Người đi đặt vòng hoa trước mộ binh sĩ Đông Dương chết trong Chiến tranh thế giới thứ nhất tại nghĩa trang Nôgiăng xuya Mácnơ (Nogent sur Marne), ngoại ô Pari. Đón người tại đây có Bộ trưởng Bộ nước Pháp hải ngoại Mariuýt Mutê. Vòng hoa của Người mang dòng chữ: “Hồ Chí Minh ai điếu các chiến sĩ Việt Nam”. Người nói với kiều bào có mặt tại đó, đại ý: Người Việt Nam phải đoàn kết làm cho nước nhà hoàn toàn vinh quang, sánh vai với các nước trên thế giới, xây dựng hạnh phúc cho Tổ quốc, cho nhân loại để khỏi phụ lòng những người đã vì nước thiệt mạng. Người chết đã vậy, còn các kiều bào ở Pháp nên xử sự thế nào để người Pháp hiểu biết và quý mến mình.

13 giờ 15, Người cùng ông J.Xanhtơny đi dự tiệc chiêu đãi do Bộ trưởng Bộ nước Pháp hải ngoại Mariuýt Mutê tổ chức tại Khách sạn Grisông (Grichon), cùng dự còn có Bộ trưởng Varen (Varenne) – cựu Toàn quyền Đông Dương. Sau buổi tiệc, Người cùng J.Xanhtơny tham quan Cung điện Vécxây.

20 giờ 30, Người dự buổi dạ hội do Chính phủ Pháp tổ chức tại rạp Ôpêra, nhà hát lớn nhất và nổi tiếng nhất của Pari và nước Pháp. Cùng dự có Thủ tướng Gioócgiơ Biđôn và phu nhân.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 48-51.

Tháng 7, ngày 4

8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nữ phóng viên báo Les Etoiles và một số phóng viên các báo khác.

10 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng ông J.Xanhtơny viếng mộ liệt sĩ bị phát xít Đức bắn trên đồi Valêriêng (Valérien). Người xúc động nói: “Trông thấy nghĩa sĩ Pháp vì độc lập và tự do mà bị người Đức tàn sát, lại nghĩ đến nghĩa sĩ Việt cũng vì độc lập, tự do mà cũng bị người khác tàn sát, khiến cho người ta thêm nỗi cảm động, ngậm ngùi. Quyền độc lập, tự do ở nước nào cũng vậy, đều do xương máu của các nghĩa sĩ và sự đoàn kết của toàn quốc dân mà xây nên. Vậy nên, những người chân chính yêu chuộng độc lập, tự do của nước mình, thì cũng phải kính trọng độc lập, tự do của dân tộc khác”.

11 giờ, Người đến thăm Khách sạn Anhvaliđơ (Hotel des Invalides), nơi dùng làm Bảo tàng Quân đội. Lão tướng Rốt (Rotz), Giám đốc Bảo tàng cùng đội quân danh dự ra đón chào, hướng dẫn Người xuống thăm mộ danh tướng Pháp Napôlêông Bônapáctơ (Napoléon Bonaparte).

12 giờ 30, Người về đến Khách sạn Roayan Môngxô.

13 giờ 15, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng ông J.Xanhtơny đi dự tiệc chiêu đãi do Đô đốc Đácgiăngliơ mời tại Khách sạn Rítz (Ritz). Cùng dự có cả những nhân vật từng là quan chức cao cấp ở Đông Dương như hai cựu Toàn quyền Đông Dương A.Varen và A.Xarô.

17 giờ, Người dự cuộc đón tiếp chính thức do Hội đồng thành phố Pari tổ chức tại Toà Thị chính. Đô đốc Đácgiăngliơ chủ toạ buổi lễ. Cùng dự có các ông Mariuýt Mutê, A.Varen, J.Xanhtơny và nhân dân Pari. Đáp lại
lời chào mừng của ông Thị trưởng Pari Vécnhon (Vergnolles), Chủ tịch Hồ Chí Minh cảm ơn nhân dân Pari và ông Thị trưởng đã dành cho Người sự đón tiếp trọng thể và thân mật. Người nói đại ý: Người bao giờ cũng yêu mến Thủ đô nước Pháp, nơi thâu góp những tinh hoa trí thức và văn hoá mà hiện nay vẫn đang có sức hấp dẫn đối với Việt Nam. Người kính trọng nhân dân Pari, những người luôn luôn phấn đấu cho những tư tưởng độ lượng bao dung và cấp tiến. Dân tộc Việt Nam cũng đang ra sức phấn đấu để bảo vệ và thực hiện những lý tưởng nhân dân Pari hằng theo đuổi…

Trước khi ra về, Người viết lưu niệm vào cuốn Sổ Vàng của thành phố.

20 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh mở tiệc chiêu đãi Thủ tướng Gioócgiơ Biđôn, các bộ trưởng, các vị giữ trọng trách trong Quốc hội Pháp và các tướng lĩnh. Chủ khách thân mật chuyện trò. Tới tận nửa đêm, tiệc mới tan.

Cùng ngày, Người gửi điện chúc mừng Philíppin tuyên bố Độc lập 2). Điện mừng có đoạn:

“Nhiều dân tộc khác không may mắn bằng Phi Luật Tân 3) còn đang tranh đấu chống đế quốc để giành quyền độc lập. Nhưng hết thảy các dân tộc cũng đã trải qua những nỗi đau đớn chung, rồi đây sẽ liên hợp với nhau để tiến tới một nền hoà bình lâu bền và một nền dân chủ chân chính.

Nước Việt Nam quốc gia tự do, mong mỏi sự hợp tác đó sẽ thành công rực rỡ.”

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lư­u tại Viện Hồ Chí Minh.

– Diễn văn của Hồ Chí Minh, lưu tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I (bản đánh máy tiếng Pháp).

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 51-56.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 269.

Tháng 7, ngày 5

8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn của phóng viên Camben (Campbell), đại diện báo New York Times.

9 giờ 30, Người tiếp Đoàn nghị sĩ Angiêri đến chào mừng và tỏ tình đoàn kết với nhân dân Việt Nam.

10 giờ 30, Người tiếp ông bà thân sinh ra thiếu tá Mỹ Điuây đã chết tại Đông Dương.

12 giờ 15, Người dự bữa cơm trưa do ông bà Rôxenphen (Rosenfeld) 4) mời. Cùng dự có cựu Thủ tướng Lêông Blum (Léon Blum) và nghị sĩ Quốc hội Luyxi (Lussy).

17 giờ, Người tiếp nhà báo Bácbê Raymông đến thăm.

18 giờ, Người tiếp đoàn đại biểu nhóm nghị sĩ trong Liên đoàn dân chủ Angiêri đến thăm và trao đổi về vấn đề Liên hiệp Pháp.

20 giờ, Người tiếp các đại biểu Tổng Liên đoàn lao động Pháp và Tổng thư ký Liên đoàn lao động thế giới. Các đại biểu thông báo Liên đoàn lao động thế giới đã công nhận Công đoàn Việt Nam là hội viên.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 57-60.

Tháng 7, ngày 6

Hội nghị Pháp – Việt khai mạc tại Phôngtennơblô, Chủ tịch Hồ Chí Minh là thượng khách của Chính phủ Pháp nên không tham dự Hội nghị.

Sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh họp số anh em tuỳ tùng để thảo chương trình làm việc trong tuần lễ tới (tiếp đón, chiêu đãi, tham quan).

11 giờ, Người tiếp tướng Giăngtilom đến chào mừng.

13 giờ, Người mời cơm sáu đại biểu Công giáo Việt Nam ở Pari, một nhà khảo cổ Việt kiều tại Brúcxen (Bruxelles, Bỉ). Ông bà Nguyễn Mạnh Hà cũng có mặt trong buổi tiếp.

19 giờ 30, cơm chiều xong, Người cùng ba anh em tuỳ tùng đi xem phim tại rạp “Abbé Grégoire”. Bộ phim nhan đề: “Người đàn ông đội mũ tròn”.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 60-63.

Tháng 7, ngày 7

13 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp và mời cơm tướng Raun Xalăng cùng em trai và con trai. Người nói về nạn đói, nạn dốt ở Việt Nam, đồng thời cũng nói về lòng hăng hái, hy sinh của nhân dân ta trong việc tiễu trừ hai nạn đó và những tệ nạn xã hội khác như rượu chè, thuốc phiện, thói xa hoa lãng phí.

21 giờ, Người dự Hội pháo hoa của nhân dân thành phố Vécxây tổ chức chào mừng Người.

23 giờ 30, Người về đến khách sạn.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 64-65.

Tháng 7, ngày 8

6 giờ 40, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm vườn Lúcxămbua, nhưng chưa đến giờ mở cửa. Người tranh thủ đến thăm Phái đoàn đàm phán Việt Nam ở Khách sạn Xanhtơ Annơ.

13 giờ, Người mời cơm thân mật ông bà Maran (Maranne), cựu Chủ tịch quận Xen; ông Côxtơ (Cost), nghị sĩ Quốc hội; vợ chồng nhà văn Lêô Pônđét và ông bà Nguyễn Mạnh Hà.

16 giờ, Người dự tiệc trà do ông bà Đô đốc Mítxốp (Missoffe) mời.

21 giờ, Người mời cơm Phái đoàn đàm phán Pháp và Việt Nam.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 65-66.

Tháng 7, ngày 9

8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp ông Tơrivơ (Trive), Giám đốc Nhà máy Xi măng và Nhà máy Điện, nước ở
Bắc Bộ.

9 giờ, Người tiếp ông bà Xaravan (Saravanne), nghị sĩ người Ấn Độ trong Quốc hội Pháp đến thăm.

15 giờ, Người tiếp tướng Lơbri (Lebry) đến thăm.

19 giờ, Người dự tiệc trà do ông bà J.Xanhtơny mời. Cùng dự có hai đoàn đại biểu Việt – Pháp.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 66.

Tháng 7, ngày 10

8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nhà báo Clôđơ Bécna 5) (Claude Bernard) đến chào.

9 giờ 30, Người tiếp phóng viên Mỹ Rốt (Roth) đến phỏng vấn.

13 giờ, Người mời cơm ông bà J.Xanhtơny, bà thân sinh ra ông J.Xanhtơny và A.Xarô – nguyên Toàn quyền Đông Dương.

15 giờ, Người tiếp Luật sư Báptixtơ (Baptiste) đến thăm.

20 giờ 30, Người tiếp và mời cơm 12 nhà tư bản, trong đó có các ông Tumiarơ (Thoumyre), Tơrivơ và một số chuyên gia Pháp về kinh tế Việt Nam. Hai bên nói chuyện về phương thức hợp tác Pháp – Việt trong tương lai.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lư­u tại Viện Hồ Chí Minh.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 66-67.

Tháng 7, ngày 11

8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp phóng viên báo Le Monde và một số Việt kiều.

9 giờ, Người tiếp đại biểu Công đoàn các nhà giáo Pháp, cùng trao đổi về nền văn hoá Việt Nam và văn hoá Pháp, hai bên đều mong muốn Việt Nam mau chóng độc lập và hợp tác bình đẳng, thân thiện.

13 giờ, Người tiếp và mời cơm tướng Gioăng.

18 giờ, Người dự buổi đón tiếp do Hội hữu nghị Pháp – Việt 6) tổ chức tại dinh Tơrôcađêrô. Sau lời chào mừng của ông Giuýtxtanh Gôđa, Chủ tịch Hội hữu nghị Pháp – Việt và Nhà bác học – bà J.Quyri, Người đã phát biểu:

“Tôi không tìm cách giấu nỗi cảm động của tôi trong lúc này. Tôi thật sự sung sướng quá chừng, nhận được dấu hiệu cụ thể của tình thân thiện của nước Pháp. Nỗi sung sướng này không gì mạnh bằng, có lẽ trừ nỗi vui sướng khi tôi được chào mừng một ngày gần đây, sự thực hiện chính thức tinh thần thân thiện giữa hai dân tộc chúng ta (…). Các ngài cũng nhận thấy rằng lòng mong ước mạnh nhất của tôi, sự quan tâm nhất của nước Cộng hoà Việt Nam, nguyện vọng tha thiết của dân tộc Việt Nam là thực hiện được tình thân thiện Pháp-Việt. (…) Nước Pháp của cuộc Đại cách mạng 1789, nước Pháp của cuộc kháng Đức, của cuộc giải phóng, đã tượng trưng hơn bao giờ hết lý tưởng tự do, dân chủ. Và nước Việt Nam chiến đấu giành độc lập chỉ là theo những lý tưởng dân chủ mà dân tộc Pháp là người tiên phong”.

Cùng dự buổi gặp mặt, phía Pháp có đại biểu Chính phủ như Bộ trưởng Gay, Bộ trưởng Tôrê, Bộ trưởng Tilông, các đại biểu trí thức như Ph.Giuốcđanh, Aragông, bà V.Vayăng Cutuyariê, ông bà Quyri (Curie)…, ngoài ra còn có đại biểu giới báo chí, các nghị sĩ thuộc địa trong Quốc hội Pháp. Phía Việt Nam có Trưởng đoàn Phạm Văn Đồng cùng các thành viên trong đoàn đàm phán tại Hội nghị Phôngtennơblô.

19 giờ 30, Người đến dùng cơm tại nhà một kiều bào.

20 giờ 45, Người đến thăm ông Mariuýt Mutê.

22 giờ 30, Người đến gặp và trao đổi với Thủ tướng Gioócgiơ Biđôn tại Ke Đoócxay (Quai d’Orsay), đến 24 giờ mới về.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 67-69.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 270-271.

– Bài diễn văn của Hồ Chủ tịch, bản đánh máy tiếng Pháp, lưu tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I.

Tháng 7, ngày 12

9 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp các trí thức Việt kiều đến chào, trong đó có các ông Trần Hữu Tước, Trần Bá Huy… Các bác sĩ, dược sĩ Việt kiều bày tỏ ý định mở xưởng bào chế thuốc để giúp anh em trong nước sang du học tại Pháp. Người khen ngợi và căn dặn, đại ý: Bây giờ Chính phủ còn nghèo, các cán bộ cao cấp còn làm việc không hưởng lương nên không giúp gì được về tài chính. Vậy dù to hay nhỏ cũng nên lập xưởng nhưng phải tính toán chu đáo. Sau đó, Người cùng anh em chụp ảnh kỷ niệm.

13 giờ, Người ăn cơm trưa với ông bà Giuýtxtanh Gôđa.

18 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đại biểu các báo Pháp và báo nước ngoài. Người tuyên bố lập trường của Việt Nam tại Hội nghị Phôngtennơblô là:

1- Việt Nam đòi quyền độc lập. Độc lập nhưng không phải là tuyệt giao với Pháp, mà ở trong Liên hiệp Pháp, vì như thế lợi cho cả hai nước. Về mặt kinh tế và văn hoá, Việt Nam vui lòng cộng tác với Pháp.

2- Việt Nam tán thành Liên bang Đông Dương, với Cao Miên 7) và Ai Lao 8) nhưng quyết không chịu có Chính phủ Liên bang.

3- Nam Bộ là một bộ phận của nước Việt Nam. Không ai có quyền chia rẽ, không lực lượng nào có thể chia rẽ.

4- Việt Nam sẽ bảo hộ tài sản của người Pháp. Nhưng người Pháp phải tuân theo luật lao động của Việt Nam và Việt Nam giữ quyền mua lại những sản nghiệp có quan hệ đến quốc phòng.

5- Nếu cần đến cố vấn thì Việt Nam sẽ dùng người Pháp trước.

6- Việt Nam có quyền phái đại sứ và lãnh sự đi các nước.

Người khẳng định lại một lần nữa quan điểm của Chính phủ Việt Nam về vấn đề Nam Kỳ: “Nam Kỳ là đất Việt Nam. Đó là thịt của thịt Việt Nam, máu của máu Việt Nam” và nói tiếp: “Tôi tin nước Pháp mới. Tôi có gặp nhiều người Pháp  hữu trách, họ đều hiểu chúng tôi. Về phần chúng tôi, chúng tôi rất thực thà. Chúng tôi mong rằng người khác cũng thật thà với chúng tôi. Chúng tôi quyết không chịu hạ thấp chúng tôi. Mà chúng tôi cũng không hạ thấp nước Pháp. Chúng tôi không muốn đẩy người Pháp ra khỏi Việt Nam. Nhưng chúng tôi nói với họ: Các người hãy phái đến nước chúng tôi những kỹ sư, những nhà khoa học, những vị giáo sư, phái đến những người họ biết yêu chuộng chúng tôi. Nhưng chớ phái qua những người muốn bóp cổ chúng tôi.

Việt Nam cần nước Pháp. Nước Pháp cũng cần Việt Nam. Chỉ có lòng tin cậy lẫn nhau và sự cộng tác thật thà bình đẳng, thì mới đi đến kết quả thân thiện giữa hai nước”.

Trong cuộc họp báo này, Người đã trả lời nhiều câu hỏi của các nhà báo.

Một nhà báo hỏi: Nếu Nam Kỳ từ chối không sáp nhập vào Việt Nam, Chủ tịch sẽ làm như thế nào? Người nói:

“Nam Kỳ cùng một tổ tiên với chúng tôi, tại sao Nam Kỳ lại không muốn ở trong đất nước Việt Nam? Người Baxcơ (Basques), người Brơtôn (Breton) không nói tiếng Pháp mà vẫn là người Pháp. Người Nam Kỳ nói tiếng Việt Nam, tại sao lại còn nghĩ đến sự cản trở việc thống nhất nước Việt Nam?”.

20 giờ, Người mời cơm các ông Lêông Blum, Rôxenphen, Luyxi.

Cùng ngày, Người gửi thư cho Chính phủ Pháp phản kháng việc quân đội Pháp chiếm đóng Phủ Toàn quyền cũ ở Hà Nội và chiếm đóng Tây Nguyên.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lư­u tại Viện Hồ Chí Minh.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 69-71.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 272-273.

– Philippe Devillers: Paris – Saigon – Hanoi, Gallimard/Julliard, Paris, 1988, p.196-199.

Tháng 7, ngày 13

Sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp kiều bào đến thăm.

13 giờ, Người dự cơm trưa do Đô đốc Bácgiô (Barjot) mời.

15 giờ 15, Người tiếp và trả lời phỏng vấn của bà Rôxenphen, đại diện báo Phụ nữ. Người nêu lên truyền thống anh hùng, đảm đang của phụ nữ Việt Nam và quyền lợi cho họ: bình đẳng như nam giới, có quyền ứng cử và bầu cử vào cơ quan chính quyền.

16 giờ 30, Người tiếp phóng viên tuần báo Grégvire.

20 giờ, Người dùng cơm với gia đình ông Bộ trưởng Quốc phòng E.Misơlê (Michelet).

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lư­u tại Viện Hồ Chí Minh.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 72-73.

Tháng 7, ngày 14

9 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự Lễ Quốc khánh lần thứ 157 của Pháp.

Trưa, Người viết thư cảm ơn Thủ tướng Pháp. Trong thư có đoạn: “Trong lúc mà nhân dân Pháp và nhân dân Việt Nam đương tìm cách để thực hành sự cộng tác thật thà và thân thiện, ngày 14 tháng 7 lại càng có ý nghĩa đặc biệt đằm thắm cho hai nước chúng ta”.

21 giờ, Người đến Nhà thờ Xacrê Cơ (Sacré Coeur), (công trình kiến trúc rất nổi tiếng của Pháp xây dựng từ năm 1876 trên đồi Môngmáctơrơ), để cùng dân chúng ngắm kinh thành Pari trong đêm pháo hoa mừng ngày Quốc khánh.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lư­u tại Viện Hồ Chí Minh.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 73-74.

Tháng 7, ngày 15

6 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạo chơi trong rừng Bulônhơ.

12 giờ, Người về thăm quê của Lêô Pônđét, cách Pari 30 km, theo lời mời của gia đình nhà văn. Khi qua quê hương ông J.Đagherơ (J.Daguèrre), người phát minh ra máy chụp ảnh, đại biểu dân làng ra đón và cảm ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận lời làm Hội trưởng danh dự của Hội kỷ niệm ông J.Đagherơ.

15 giờ, Người từ biệt gia đình nhà văn Lêô Pônđét về Pari.

17 giờ, Người tiếp và trả lời phỏng vấn của một số phóng viên.

21 giờ, Người cùng ông Phạm Văn Đồng và một số đại biểu trong Phái đoàn Việt Nam dự mít tinh do kiều bào ta tổ chức tại Cung Muytuyalitê (Palais des Mutualités). Có khoảng hơn 2000 người tới dự. Người tặng Việt kiều lá cờ Việt Nam và một bài thơ, khuyên kiều bào đoàn kết, ủng hộ Tổ quốc và Chính phủ.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lư­u tại Viện Hồ Chí Minh.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 74-77.

Tháng 7, ngày 16

Sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Luật sư M.C. Blôngcua.

10 giờ, Người đi xem triển lãm nhà ở của người Mỹ tại Cung điện lớn (Grand Palais).

11 giờ, Người xem triển lãm tranh và đồ thêu, thăm lại ngôi nhà số 7 ngõ Côngpoăng.

16 giờ, Người tiếp và trả lời phỏng vấn của bà Xôniê Côranhtơ (Saunier Corinthe), đại biểu tuần báo l’Action.

20 giờ, Người mở tiệc chiêu đãi các vị chánh, phó công an cục trưởng, chánh, phó cảnh sát trưởng và đại biểu binh lính, cảnh sát, công chức để cảm ơn họ đã bảo vệ và giúp đỡ Người từ khi đến Pháp.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lư­u tại Viện Hồ Chí Minh.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 77-78.

Tháng 7, ngày 17

10 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng J.Xanhtơny, Mítxốp, ông bà Hentơrích, anh em tuỳ tùng, những người hộ vệ và hai thiếu nhi Việt kiều đi thăm vùng Noócmăngđi (Nordmandie).

16 giờ, đoàn nghỉ tại Khách sạn Noócmăngđi, thăm bãi biển Puốcvin (Pourville), Cuaxơnen (Coursenelles) và bãi biển Avrăngsơ (Avranches), nơi quân Đồng minh đổ bộ năm 1944.

Tối, đoàn đến làng Enhơvin (Aignervilles) và nghỉ tại nhà ông J.Xanhtơny.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lư­u tại Viện Hồ Chí Minh.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 78-80.

Tháng 7, ngày 18

7 giờ 15, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp gỡ các thầy giáo và hơn 20 học sinh của làng Enhơvin đến chào mừng. Sau đó, Người đi xem bãi biển Grigơvin (Grigueville).

10 giờ, Người đến thị trấn Xanh Lô, nơi bị chiến tranh tàn phá tới 95%, cách Grigơvin 35 km. Sau đó, đoàn thăm Vilơbôcagiơ (Villersbocage), Tiery Háccua (Thiery Harcourt), Phalăngđơ (Falandes)… đều là những nơi trước kia phồn thịnh nhưng nay tan hoang vì bom đạn.

12 giờ, Người đến Lơ Panh ô Navrơ (Le Pin au Navre), thăm Nông trường nuôi ngựa giống của Chính phủ.

16 giờ, Người rời Nông trường, về tới Pari lúc 18 giờ.

19 giờ, Người đi ăn cơm khách do Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Pháp Môrít Tôrê mời.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lư­u tại Viện Hồ Chí Minh.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 80-82.

Tháng 7, ngày 19

8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp và cùng ăn sáng với nữ văn sĩ Ximon Tiery (Simonne Thiery).

10 giờ, Người tiếp và trả lời phỏng vấn của ông Rôxenphen về Hội nghị Phôngtennơblô.

17 giờ, Người tiếp bác sĩ Bubiêng (Bơutbien) đến thăm.

20 giờ, Người cùng ba đại biểu trong phái đoàn dự tiệc trà do Bộ trưởng Quân khí Tilông mời.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lư­u tại Viện Hồ Chí Minh.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 82.

Tháng 7, ngày 20

8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Rămbê (Rember), phóng viên báo Franc – Tireur.

10 giờ 30, Người tới thăm gia đình Nhà bác học J.Quyri (Joliot Curie).

11 giờ 30, Người đến thăm ông Ph. Giuốcđanh – Tổng thư ký Hội hữu nghị Pháp-Việt.

13 giờ, Người mời cơm ông bà Đuymen-Bộ trưởng Lễ tân, ông bà Pơti.

17 giờ, Người tiếp nhà tư bản Côblăng (Coblentz).

20 giờ, Người tiếp Đoàn đại biểu phụ nữ các giới đến thăm, có các bà Đô đốc Bácgiô, bà Giáo sư Lănggiơvanh (Langgervin), bà Gôđa (vợ ông Chánh hội trưởng Hội hữu nghị Pháp-Việt), bà Phó Chủ tịch Quốc hội Braun, bà Giáo sư Giôliô Quyri, bà Xanhtơni, bà vợ Bộ trưởng Tilông…

Cùng ngày, Người gửi điện về Chính phủ Việt Nam: “Uỷ ban Chính trị họp, vấn đề ngoại giao là đầu đề của bản thuyết trình của ông Banhđê (Bindet). Thái độ của Pháp tiến bộ hơn ở Hội nghị Đà Lạt. Vấn đề ngoại giao đã giao cho một tiểu ban xét rồi sẽ đem ra thảo luận tại Uỷ ban Chính trị hôm thứ ba, 23. Đã nhận được điện văn và các điện văn trước. Ở đây mấy hôm nay không có tin tức gì ở bên nước nhà” 9).

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lư­u tại Viện Hồ Chí Minh.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 83-84.

– Báo Cứu quốc, số 308, ngày 2-8-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 274.

Tháng 7, ngày 21

8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đại biểu ban biên tập báo Le Canard Enchainé.

10 giờ, Người tiếp đại biểu thanh niên tham dự Đại hội Thanh niên thế giới tổ chức tại Pari và nói chuyện về thanh niên Việt Nam.

13 giờ, Người tiếp và mời cơm ông Lôrăngti (Laurentie), Chánh văn phòng Bộ nước Pháp hải ngoại.

15 giờ, Người tiếp nhà văn Liên Xô Ilia Êrenbua (Ilia Erhenbourg) đến thăm.

15 giờ 15, Người cùng đại biểu quân sự các nước Anh, Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc dự ngày Hội Quân giới Pháp tại sân bay Vilacublay (Villacoublay) theo lời mời của Bộ trưởng Hàng không Pháp Tilông.

20 giờ, Người mời cơm Đô đốc Lơmonniê (Lemonnier), tướng Rơve (Revers), Đô đốc Bácgiô, Valanh (Valin)…

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lư­u tại Viện Hồ Chí Minh.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 84-86.

Tháng 7, ngày 22

8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp một số chị em Việt kiều đến thăm.

10 giờ, Người tiếp một cố đạo người Âu sắp sang Việt Nam để theo dõi tình hình giáo dục của Nhà chung.

12 giờ, Người tiếp nhà báo Đanien Ghêranh (Daniel Guérin).

15 giờ, Người tiếp Rôxenphen.

17 giờ, Người nhận một máy vô tuyến truyền hình do ông Luydê (Luizet), Trưởng Ty Công an gửi đến.

20 giờ, Người tiếp nhân viên cao cấp sứ quán Trung Hoa đến chào.

22 giờ, Người cùng nhân viên trong đoàn xem phim ở rạp Montparnasse chiếu bộ phim “Ngày hội thể thao ở Mátxcơva”.

Cùng ngày, Người gửi thư cho Bộ trưởng Bộ nước Pháp hải ngoại Mariuýt Mutê, thông báo sẽ về nước vào thượng tuần tháng 8 – 1946. Người tỏ ý tiếc rằng: “Nếu nước Pháp không thừa nhận nền độc lập của Việt Nam, đó sẽ là một thiệt hại cho nước Pháp và cho cả nước Việt Nam nữa. Song đối với nước Pháp, sự thiệt thòi sẽ là vĩnh viễn, còn đối với Việt Nam, thất bại đau đớn của sự hợp tác mà Việt Nam mong muốn sẽ buộc chúng tôi chỉ còn biết trông vào sức của mình mà thôi, để tìm cách thoả mãn những nguyện vọng của nhân dân mình…”.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lư­u tại Viện Hồ Chí Minh.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 86-87.

– Viện quan hệ quốc tế Bộ Ngoại giao: Hồ Chí Minh với công tác ngoại giao, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1990, tr.108.

Tháng 7, ngày 23

8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp và cùng ăn sáng với nhà báo Pháp Đuyxa (Dussart).

10 giờ, Người tiếp Giáo sư Pôn Muýt (Paul Mus).

13 giờ, Người mời cơm J.Xanhtơny và đoàn tuỳ tùng.

15 giờ, Người đi xem “Nhà trưng bày người bằng sáp” 10).

20 giờ, Người cùng Bộ trưởng Mariuýt Mutê dự bữa cơm chiều do J.Xanhtơny mời.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lư­u tại Viện Hồ Chí Minh.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 88.

Tháng 7, ngày 24

8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Luật sư Phan Nhuận, đến thăm.

9 giờ, Người đi thăm ông Bộ trưởng Pie Cốt (Pierre Cot).

10 giờ, Người đến thăm Chủ tịch Quốc hội Pháp
V. Ôriôn vừa mổ mắt.

11 giờ, Người thăm Phó Chủ tịch Quốc hội Pháp
J. Đuyclô.

13 giờ, Người mời nhà tư bản Côblăng và một đại diện báo đối lập để giải thích rõ thiện chí của Việt Nam.

15 giờ, Người làm việc với Phái đoàn Việt Nam.

18 giờ, Người đến thăm ông bà Brắccơ (Braque), đảng viên Đảng Xã hội Pháp, và ông Báptixtơ.

Cùng ngày, nhiều báo Pháp đã đăng trả lời phỏng vấn của Hồ Chí Minh về mối quan hệ chính trị, kinh tế, quân sự và văn hoá giữa Việt Nam và Pháp. Người nói: “Nước Pháp thừa nhận Việt Nam độc lập, và cùng chúng tôi gây mối quan hệ mới trên cái nền tin cậy và tự do, thì nước Pháp sẽ thấy danh dự của mình, tinh thần của mình và áp lực của mình ở Việt Nam thêm nhiều lắm. Mà như thế thì vững vàng, chắc chắn hơn là lấy chiến tranh hoặc sức mạnh hoặc tham mưu, để ép chúng tôi ký điều ước này, điều ước nọ”.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lư­u tại Viện Hồ Chí Minh.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 88-91.

– Báo Cứu quốc, số 427, ngày 6-10-1946.

Tháng 7, ngày 25

8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp bác sĩ Blăngtơrơ (Blantreux), đến chào.

10 giờ, Người tiếp ông Brắccơ.

13 giờ, Người đi ăn cơm khách do ông Rôxenphen mời.

16 giờ, Người đến gặp ông Lêông Blum.

20 giờ, Người tiếp và mời cơm ông Tumiarơ (Thoumyre), Tổng thư ký Hội Kinh tế Pháp – Đông Dương.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lư­u tại Viện Hồ Chí Minh.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 91-92.

Tháng 7, ngày 26

9 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm Phôngtennơblô. Quan chức thành phố và đại biểu của hai phái đoàn ra đón Người.

13 giờ, Người đến Khách sạn Aigle Noir, dùng cơm với một số đại biểu của hai phái đoàn.

15 giờ, Người thăm nơi ở và nơi làm việc của hai Phái đoàn đàm phán Việt Nam và Pháp. Sau đó, Người cùng Phái đoàn Việt Nam ra bãi cỏ ngồi chơi, chụp ảnh, kể chuyện.

19 giờ 40, Người lên đường về Pari.

Cùng ngày, báo La Liberté đăng bài của Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn phóng viên báo này. Người nêu nhiệm vụ cấp bách của cách mạng Việt Nam là diệt giặc đói và giặc dốt; mong muốn xây dựng mối quan hệ Việt – Pháp thật thà bình đẳng, bởi vì, “Nước Pháp cần đến chúng tôi. Chúng tôi cũng cần đến nước Pháp. Vấn đề chính là nước Pháp làm thế nào mua được tấm lòng của 20 triệu dân Việt Nam tự do. Muốn như vậy thì không nên tìm cách “lừa gạt” chúng tôi, không nên sinh chuyện lôi thôi vô ích”.

Cũng cùng ngày, báo Cứu quốc, số 302 đưa tin: Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa gửi điện về cho Chính phủ, báo tin đã nhận được 1,5 triệu phrăng của đồng bào ta ở Numêa (Nouméa) (thuộc Tân Đảo) gửi về giúp Tổ quốc.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lư­u tại Viện Hồ Chí Minh.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 92-95.

– Báo Cứu quốc, số 302, ngày 26-7-1946.

Tháng 7, ngày 27

7 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm anh em lính thợ Việt Nam ở Tốccơvilơ (Tocqueville) và Đigalơ (Digalle). Người đến mà không báo trước. Sau khi đi thăm phòng ăn, phòng ngủ, Người nói chuyện với mọi người, khuyên anh em phải thương yêu, đùm bọc, đoàn kết và luôn luôn hướng về Tổ quốc.

10 giờ, Người tiếp các ông Bécna (Becnard), Rôbe Đănggiê (Robert Danger), Phêluýt (Félut) đại diện các báo Le Canard Enchainé France Soir.

12 giờ, Người gặp Thủ tướng Gioócgiơ Biđôn tại Ke Đoócxay.

15 giờ, Người tiếp một số Việt kiều đến thăm.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lư­u tại Viện Hồ Chí Minh.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 100-101.

Tháng 7, ngày 28

10 giờ 30, nhận lời mời của ông bà Raymông Ôbrắc (Raymond Aubrac), cựu Uỷ viên Cộng hoà ở Mácxây, nghị sĩ Quốc hội Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh chuyển về ở tại gia đình ông bà ở 190 đường Pari, Xoadi xu Môngmôrăngxi (Soisy sous Montmorency), quận Xen ê Oarơ (Seine et Oire) 11) cách Pari 10 km.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lư­u tại Viện Hồ Chí Minh.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 7, ngày 29

Chủ tịch Hồ Chí Minh nghỉ ở nhà. Người đọc sách báo, nói chuyện với ông bà chủ nhà và các cháu nhỏ trong gia đình.

16 giờ, Người nhận lời mời của Chính phủ Pháp, dự khai mạc Hội nghị Hoà bình của 21 nước Đồng minh, họp tại Điện Luýchxămbua (trụ sở của Thượng nghị viện).

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lư­u tại Viện Hồ Chí Minh.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Báo Nhân dân chủ nhật, ngày 20-5-1990.

Tháng 7, ngày 30

Sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi dạo trong rừng Môngmôrăngxi.

12 giờ 30, Người tới dự bữa cơm cùng gia đình đại tá Bécna. Cùng dự có ông Piát (Piat), chủ bút báo Le Combat. Ông Bécna đã biếu Chủ tịch Hồ Chí Minh cuốn sách quý viết về Đông Dương.

15 giờ 15, Người về Khách sạn Roayan Môngxô nghỉ.

16 giờ, Người tiếp ông bà Raymông Guyô (Raymond Guyot), đến thăm tại Khách sạn.

17 giờ, Người đến thăm Bộ trưởng Mariuýt Mutê.

 – Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 7, ngày 31

11 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Đô đốc Muydơliê (Muselier).

16 giờ, Người tới thăm bà Ăngđrê Viôlít (André Violis) 12).

17 giờ, Người tới thăm Giáo sư Lănggiơvanh, một nhà khoa học nổi tiếng.

19 giờ, Người dự tiệc do Mác Ăngđrê mời tổ chức tại nhà.

Cùng ngày, Người còn tiếp phóng viên báo Le Combat, dự sinh nhật của ông Raymông Ôbrắc và tặng ông bức hoạ “Mẹ con” của nghệ sĩ Vũ Cao Đàm tặng Người.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 434, ngày 13-12-1946.

– Báo Nhân dân chủ nhật, số 8, ngày 18-2-1990.

Khoảng tháng 7

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần gặp gỡ Phera Ápba (Ferhat Abbas), nghị sĩ Angiêri, tại quán cơm Risơliơ, phố Risơliơ (Richelieu).

– Thông báo tin tức, ngày 2-8-1946 (nguồn riêng của Chính phủ Pháp).

– Henri Azeau: Ho Chi Minh, Dernière chance, Flammarion, Paris, 1968, p.189.

 _________________________

1) Nguyên văn tiếng Hán: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”.

2) Ngày 4 tháng 7 năm 1946, Philíppin đã tuyên bố độc lập sau khi được Hoa Kỳ trao trả chủ quyền quốc gia.

3) Phi Luật Tân: Philíppin (BT).

4) Rosenfeld là nhà báo nổi tiếng, chỉ đạo 20 tờ báo ở các tỉnh của Pháp. Vợ ông là luật sư, cả hai người đều nhiệt tình ủng hộ phong trào đòi độc lập của Việt Nam.

5) Clôđơ Bécna nguyên là đại tá quân đội Pháp ở Việt Nam từ lâu, lúc đó đã gần 80 tuổi nhưng vẫn mạnh khoẻ. Ông là người hiểu rõ Việt Nam và rất ủng hộ phong trào độc lập của Việt Nam.

6)Hội hữu nghị Pháp-Việt do những người Pháp có danh tiếng đứng ra tổ chức để ủng hộ Việt Nam độc lập. Các hội viên không chia đảng phái, tôn giáo, giai cấp. Ai đồng tình với Việt Nam là được vào Hội.

7) Cao Miên: Campuchia (BT).

8)  Ai Lao: Lào (BT).

9) Tính đến ngày 20-7-1946, Chính phủ Việt Nam đã gửi sang cho Phái đoàn ta ở Pháp 52 bức điện, nhưng ta chỉ nhận được 10 bức.

10) Ở đây người ta lấy sáp nặn thành tượng những người có danh tiếng. Tượng to bằng người thật, áo quần cũng thật, xem giống như hệt.

11) Một quận cũ của Pháp, có thị trấn là Phôngtennơblô.

12) Nhà báo nổi tiếng, đã sang Việt Nam điều tra về tội ác của thực dân Pháp. Sau khi về nước bà đã viết cuốn Đông Dương kêu cứu.

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 3 (Năm 1946 – Tháng 6)

Tháng 6, ngày 1

Sáng sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Pêgu (Rănggun) đi Cancútta (Ấn Độ).

11 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Cancútta. Đại biểu Toàn quyền Anh và Lãnh sự Pháp ra sân bay đón, đưa Người và Đoàn về nghỉ tại Khách sạn Phương Đông.

Chiều, Người tới đáp lễ Toàn quyền Anh, tiếp các phóng viên báo Anh, báo Ấn Độ và các Việt kiều tới thăm.

Tối, Người dự tiệc do Tổng lãnh sự Pháp ở Cancútta chiêu đãi.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 12-13.

Tháng 6, ngày 2

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện về cho Chính phủ. Toàn văn bức điện như sau: “Chúng tôi đã tới Cancútta được bình yên cả, sau một đêm ngủ ở Pêgu (Rănggun). Hôm tới, chúng tôi sẽ lại lên đường. Chúng tôi nhờ Chính phủ cảm ơn đồng bào ta và các bạn người Pháp đã tiễn chúng tôi ở Gia Lâm. Tôi gửi những cái hôn cho các cháu”.

11 giờ, Người đến thăm chính thức Thống đốc xứ Bănggan (Bengale).

Tối, Người thăm câu lạc bộ của kiều dân Pháp.

– Báo Cứu quốc, số 257, ngày 4-6-1946.

– Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr.458.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 12-13.

Tháng 6, ngày 3

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Sanđécnago 1) (Changdernagor) theo lời mời của Tỉnh trưởng tỉnh này.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn một tờ báo lớn ở Cancútta về Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp. Người nói: “Thực là một sự mỉa mai nếu lại đặt cho Đông Dương một viên toàn quyền, song tôi hy vọng rằng cuộc đàm phán chính thức ở Pari sẽ có kết quả tốt… Việt Nam không có tham vọng gì về đất đai của hai nước láng giềng. Hiện giờ, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và hai nước đó chưa có, nhưng rồi thế nào cũng phải có”. Về cuộc xung đột Pháp – Xiêm, Người nói: “Việc đó thuộc thẩm quyền của Pháp” và khẳng định Việt Nam rất có cảm tình với Ấn Độ.

Chiều, Người mở tiệc chiêu đãi lãnh sự và các vị quan chức Pháp ở Cancútta và Sanđécnago.

Bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh Gửi Trại nhà nghèo tỉnh Quảng Ngãi in trên báo Quyết Thắng, cơ quan của Việt Minh Trung Bộ, xuất bản tại Thuận Hoá (Huế), số 47, ngày 3-6-1946 với nội dung sau:

“Tôi vừa tiếp được bức ảnh thêu và phong thư.

Trước hết, tôi cám ơn tấm lòng thân ái của anh em đối với tôi. Hai là tôi phải khen rằng anh em thêu rất khéo. Bức thêu đó đã chứng tỏ rằng: Thủ công nghệ của nước ta mai sau chẳng những có thể tranh đua mà lại có thể tranh giải nhất của thủ công mỹ nghệ trong thế giới. Ba là tôi mong anh em sẽ cho tôi biết cách tổ chức và đời sống của anh em trong trại. Bốn là tôi ao ước rằng: nhờ sự cần kiệm của anh em, Trại nhà nghèo sẽ mau tiến bộ thành Trại nhà khá, rồi dần dần thành Trại nhà giàu làm kiểu mẫu cho anh em khác.

Chúc anh em gắng sức và mạnh khoẻ

Thân ái

Ký tên

Hồ Chí Minh”

– Báo Cứu quốc, số 258 và 259, ngày 5 và 6-6-1946.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 14.

– Tạp chí Lịch sử Đảng, số 12-2005, tr. 66.

Tháng 6, ngày 4

Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Cancútta tới Agra (Agra) và về nghỉ ở khách sạn.

16 giờ, Người đến thăm Nhà thờ đạo Hồi và những thắng cảnh nổi tiếng của thành phố: lâu đài Đêli Két (Delhi Cate) được xây dựng từ thế kỷ 17, lăng Hoàng hậu Tai Mahan.

Tối, Người dự tiệc chiêu đãi do các quan chức địa phương mời.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr.469.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 15.

Tháng 6, ngày 5

10 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Agra đến Carasi (Karachi, nay thuộc Pakixtan). Tổng đốc người Anh ra sân bay đón và mời Người về nghỉ tại Phủ Tổng đốc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện về cho Chính phủ: “Đến Carasi 12 giờ ngày 5 tháng 6. Tôi vẫn khoẻ. Tướng Xalăng và tôi là thượng khách của Chính phủ ở đây. Tôi lại khởi hành buổi sáng thứ ba.

Hồ Chí Minh”.

Chiều, Người thăm khu trung tâm thành phố.

Tối, Người dự tiệc chiêu đãi do Thống đốc Carasi mời.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr.469.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 15-16.

Tháng 6, ngày 6

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Habanha (Habangna, Irắc). Người nghỉ lại ăn cơm trưa rồi lên đường đi tiếp.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr.469.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 16-17.

Tháng 6, ngày 7

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Cairô (Cairo), Thủ đô Ai Cập. Đại diện Sứ quán Pháp ra sân bay đón và mời Người về nghỉ tại Sứ quán.

Người gửi điện về cho Chính phủ: “Ngày 7 tháng 6, đến Lơke 2). Tất cả đều như thường. Cho chúng tôi biết ngày khởi hành của hai đại biểu và tin tức trong nước. Gửi cho phái đoàn ngoại giao. Chuyển lời chào thân ái của tôi tới các vị Uỷ viên Pháp, tướng Lơcléc và Valuy”.

Cùng ngày, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Đặt kế hoạch tác chiến, ký tên Q.Th., đăng trên báo Cứu quốc, số 260. Tác giả lược dịch phương pháp dùng binh của Tôn Tử và bổ sung thêm cho phù hợp với điều kiện chiến tranh mới, từ việc đặt ra kế hoạch cho đến đường lối chiến lược, chiến thuật. Về chiến lược, chiến thuật, tác giả đã chỉ ra 12 điểm chủ yếu và bí quyết của các nhà quân sự. “Nhưng trong việc quân, những việc bất trắc thực là thiên biến vạn hoá và thường xảy ra luôn luôn. Phải biết tuỳ cơ ứng biến, không thể bắt chước mà bảo được. Chiến thuật cốt yếu để được thắng lợi là phải áp dụng thuật giả trá và tuyệt đối giữ bí mật”.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 17.

– Báo Cứu quốc, số 260, ngày 7-6-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 250-253.

Tháng 6, ngày 8

Tại khách sạn nhỏ của Pháp tại Cairô, trước lúc dùng bữa sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với tướng R. Xalăng: “Tôi vừa mới quay lưng đi, người ta đã nặn ra cái Chính phủ Nam Kỳ. Tôi vừa được biết tin này qua báo chí và đài phát thanh ở Cairô. Tôi được biết, vào lúc 9 giờ sáng ngày 1 tháng 8 ông Xêđin (Cao uỷ Pháp ở Nam Bộ) đã đọc một bức thư của Đô đốc Đácgiăngliơ, chế tạo ra cái Chính phủ này, có bác sĩ Thỉnh làm Chủ tịch và đại tá Xuân làm Phó Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Quốc phòng. Tại sao không báo cho tôi biết tin này trước khi tôi lên đường? Thật là một âm mưu phi pháp. Tướng quân này, các ông đừng biến Nam Bộ thành một thứ Andát Loren 3) mới, nếu không chúng ta sẽ đi tới cuộc chiến tranh trăm năm đấy. Ông hãy làm ơn đưa tôi quay trở lại Hà Nội”.

Tướng R. Xalăng đề nghị Chủ tịch cứ đi Pháp, vì ở đó “người ta” đang chờ Người để “thanh toán các vấn đề”. Một lát sau, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói tiếp với R. Xalăng: Thôi được, tôi tin ông vì ông là một sĩ quan. Tôi biết ông coi trọng chúng tôi và ở Pháp tôi cũng nhiều bạn.

Sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Viện Khảo cổ Ai Cập, xem “Thành phố ma” 4) và Kim tự tháp.

Chiều, Người dự tiệc chiêu đãi do Sứ quán Pháp mời. Cùng dự có Đô đốc Amanrích (Amalrich), Giáo sư Giughê (Jouguet), tướng Raun Xalăng, Nhà bác học Briôtông (Brioton)…

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Lê Kim: Bác Hồ tiếp xúc với tình báo phương Tây, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2000, tr. 111-112.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 17-20.

Tháng 6, ngày 9

Sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận được điện của Chính phủ Pháp từ Pari, đề nghị Người đến Can (Cannes) nghỉ tạm, chờ Chính phủ mới của Pháp thành lập sẽ đón Người về Pari.

Người đi thăm Kim tự tháp Xêkhera (Sekherat).

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 21-22.

Tháng 6, ngày 10

Sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận được điện của Chính phủ Pháp cải chính bức điện ngày 9-6, đề nghị Người đến Biarít (Biarritz 5), Pháp) chờ Pháp lập Chính phủ mới.

Trong thời gian chờ đợi ở Cairô, Người cùng một số anh em trong đoàn đi thăm thành phố, xem các hiệu sách. Có lần khi vào nghỉ ở một hàng giải khát, một người đến xin được chụp ảnh Người.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 22.

Tháng 6, ngày 11

Sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Cairô đi Angiêri.

Người điện về cho Chính phủ: “11 giờ, rời Cairô. Tất cả đều như thường. Từ khi rời Hà Nội không được biết tin tức gì cả. Đánh điện cho biết ngay 6).

Chào thân ái

Hồ Chí Minh”.

Chiều, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Bixcra (Biskra, Angiêri). Tỉnh trưởng người Pháp ra đón Người. Tại đây, Người thăm vườn cây chà là của một quý tộc địa phương.

Cùng ngày, Người đến Biarít.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr.470.

– Báo Cứu quốc, số 269, ngày 18-6-1946.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 22-23.

Tháng 6, ngày 12

Chủ tịch Hồ Chí Minh nghỉ tại Khách sạn Pale (Palais). Người điện về cho Chính phủ ta:

“Thứ tư ngày 11 chúng tôi tới Biarít, gặp Mạnh Hà, Trần Ngọc Danh, Bửu Hội và nhiều đại biểu của các đoàn thể kiều bào. Chúng tôi ở đây vài ngày để đợi Chính phủ Pháp thành lập. Nhắc những vị đại biểu còn thiếu đi ngay và cho chúng tôi biết ngày đi. Cho biết tin trong nước.”

Trong ngày, Người tiếp J.Xanhtơny, đại diện Ngoại trưởng Pháp và ông Quận trưởng Bayon đến chào.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr.470.

– Báo Cứu quốc, số 266, 268 và 269 ngày 14, 17 và 18-6-1946.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 23.

Tháng 6, ngày 13

Sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi dạo trên bãi biển khoảng 1 giờ, sau đó tiếp đại biểu Việt kiều từ nhiều nơi ở Pháp đến Biarít chào mừng Người. Nhiều người quyên tiền nhờ Chủ tịch chuyển giúp về nước.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cảm ơn Việt kiều đã quyên góp ủng hộ đất nước và nhận điện của nhiều Việt kiều các nước Pháp, Anh, Mỹ, Tân Đảo… gửi tới chúc mừng.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr.470.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 24.

Tháng 6, ngày 14

Sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi dạo trên bãi biển, sau đó tiếp kiều bào, nhân sĩ đến thăm.

Tổng Công hội Pháp gửi điện chúc mừng Người và khẳng định tinh thần đoàn kết của những người lao động Pháp đối với nhân dân Việt Nam. Người nhận được thư chúc mừng của ông Giuýtxtanh Gôđa (Justin Godart), Chủ tịch Hội hữu nghị Việt – Pháp.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chối trả lời phỏng vấn của Hãng Thông tấn Pháp AFP vì Chính phủ mới của Pháp chưa thành lập. Người chỉ nói qua về những nguyên tắc cụ thể để có thể đem lại kết quả cho cuộc đàm phán, về ảnh hưởng của văn hoá Pháp trên thế giới, và kết luận: “Dùng văn minh mà chinh phục người ta thì bền vững hơn dùng súng đại bác”.

Cùng ngày, hai bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Noi gương anh em Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu (ký bút danh Q.T.) và Phương pháp tác chiến (ký bút danh Q.Th.) đăng trên báo Cứu quốc, số 266.

Trong bài Noi gương anh em Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu, Người biểu dương những việc làm tốt của Tự vệ chiến đấu thành Hoàng Diệu về các mặt sinh hoạt, học tập, công tác và khen ngợi: “Anh em Tự vệ chiến đấu thành Hoàng Diệu đáng làm gương cho không những tự vệ các địa phương mà cho cả các hạng thanh niên”.

Bài Phương pháp tác chiến giới thiệu cách đánh trong Binh pháp Tôn Tử: phải đánh thật nhanh để thắng nhanh… nhưng đánh thật nhanh không phải là hấp tấp vội vàng mà quên cả cơ mưu, phải vừa nhanh vừa có mưu cơ mới quyết định được thắng lợi… “Cho nên người làm tướng có mưu trí bao giờ cũng lo lắng đến lợi, đến hại. Lo đến lợi mới có đủ tin tưởng làm trọn được nhiệm vụ. Lo đến hại mới tìm mưu kế để giải trừ được gian nguy”.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lư­u tại Viện Hồ Chí Minh.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 14-15.

– Võ Nguyên Giáp: Những chặng đư­ờng lịch sử, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr.470.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 254-255.

Tháng 6, ngày 15

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận được tin Đô đốc Đácgiăngliơ từ Sài Gòn trở về Pari.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao l­ưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 25.

Tháng 6, ngày 16

Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm vùng ngoại ô Biarít, đến gần biên giới Pháp – Tây Ban Nha, thăm động Luốcđơ (Lourdes) và một vài nơi khác.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao l­ưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 25.

Tháng 6, ngày 17

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng J.Xanhtơny, tướng Raun Xalăng, Pơti (Petit) đại biểu Quốc hội kiêm Thị trưởng Biarít đi thăm phong cảnh miền núi Pirênê và thị trấn Xanh – Giăng đơ Luyz (Saint-Jean de Luz), dự ngày hội của dân làng Xarơ (Sare), xem đánh cầu Pơlốt (Pelote). Sau cuộc múa hát, đánh cầu do nhân dân địa phương tổ chức để chào mừng, Người dự tiệc rượu cùng các quan chức trong vùng, chụp ảnh với các em thiếu nhi.

Trả lời phỏng vấn của Hãng Thông tấn Pháp AFP, Người nói: “Tôi rất tin cậy ở kết quả của cuộc Hội nghị Pháp – Việt này. Hai nước Pháp – Việt xa nhau không phải vì văn hoá, lý tưởng, mà chỉ vì quyền lợi của một vài cá nhân. Mục đích của Pháp là tự do, bình đẳng, bác ái, nếu Pháp thi hành đúng thì chắc chắn sẽ mua được tình thân thiện của Việt Nam”.

Cùng ngày, Người nhận được điện chúc mừng của Hội hữu nghị Pháp – Việt 7).

– Báo Cứu quốc, số 269, 270 và 271, ngày 18, 19 và ngày 20-6-1946.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao l­ưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 26-27.

Tháng 6, ngày 18

Sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng J.Xanhtơny đặt vòng hoa trước Đài kỷ niệm chiến sĩ trận vong tại Biarít nhân kỷ niệm ngày tướng Sáclơ đờ Gôn (Charles de Gaulle) ra lời hiệu triệu kháng chiến.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao l­ưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 271, ngày 20-6-1946.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 27.

Tháng 6, ngày 19

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đại biểu Chính phủ Pháp, nhân viên trong Phái đoàn Việt Nam và hoạ sĩ Việt kiều  Mai Trung Thứ đi thăm đồng bằng phía bắc Biarít. Đến Ôxơgo (Hossegor), Người xuống xe đi bộ thăm khu rừng ven đường chừng 30 phút.

Buổi trưa, Người nghỉ tại Len (Leen).

16 giờ, Người đi xem suối nước nóng ở xứ Đax, thăm thành phố rồi trở về Khách sạn Pale.

Cùng ngày, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Tại sao hợp tác xã chưa thấy xuất hiện ở thôn quê (ký bút danh Q.Th.), đăng trên báo Cứu quốc, số 270. Theo tác giả, có tình hình đó là do:

1. Những tri thức phổ thông chưa được phổ cập ở thôn quê. Khác với các nước, ở nước ta, những tri thức về hợp tác xã đối với chúng ta đến nay vẫn còn rất mới lạ. “Chúng ta chưa hiểu rõ lợi ích của hợp tác xã thế nào và cách thức tổ chức thế nào nên không dám bạo dạn đứng ra khởi xướng lập hợp tác xã”.

2.  Thiếu cán bộ hoạt động: Người hành nghề kinh doanh ít, lại không thạo tính toán, chỉ làm theo lối buông trôi, gặp chăng hay chớ.

Để phổ cập hợp tác xã thôn quê, cũng theo tác giả, những điều kiện cần thiết là:

1. Cổ động tuyên truyền: xuất bản sách báo nói về hợp tác xã phát cho dân quê; Chính phủ cử người xuống các  địa phương giảng giải cho dân chúng hiểu rõ lợi ích và cách thức tổ chức hợp tác xã.

2. Mở lớp huấn luyện cán bộ chuyên về hợp tác xã.

3. Làm thí điểm. “Chỉ khi nào dân chúng thấy lợi ích của hợp tác xã đã hiển nhiên thì khi đó phong trào hợp tác xã mới có thể sôi nổi, bồng bột được”.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao l­ưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 27-28.

– Báo Cứu quốc, số 270 và 271, ngày 19 và 20-6-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 259-260.

Tháng 6, ngày 20

Sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm làng chài Hanđay (Handaye) gần Biarít, cùng anh em trong đoàn đi thuyền và câu cá.

Chiều, Người tiếp Bộ trưởng Quân giới Tilông (Tillon) và ba nghị sĩ Pháp đến Biarít chào mừng. Người mời họ ăn cơm chiều và nghỉ lại đến sáng hôm sau.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao l­ưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 28.

Tháng 6, ngày 21

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm bờ biển Biarít.

Cùng ngày, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh giới thiệu về Binh pháp Tôn Tử với nhan đề: Vấn đề quân nhu và lương thực, ký tên Q.Th., đăng trên báo Cứu quốc, số 272. Trích dẫn và phân tích những câu nói của Tôn Tử về vấn đề cung cấp quân nhu và lương thực trong chiến tranh, tác giả rút ra kết luận: “Về quân sự, quân nhu và lương thực rất quan trọng. Có binh hùng, tướng giỏi, nhưng thiếu quân nhu, lương thực không thể thắng trận được. Nếu việc cung cấp lương thực, quần áo, thuốc men, súng ống, đạn dược cho quân đội ngoài mặt trận không làm được đầy đủ chu đáo, binh sĩ bị hãm vào vòng thiếu thốn, sẽ mất hết tinh thần chiến đấu… Cho nên, người làm tướng giỏi phải tìm hết mưu kế để cướp lấy lương thực của quân địch”.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 28-29.

– Báo Cứu quốc, số 272, ngày 21-6-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 261-263.

Tháng 6, ngày 22

12 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Khách sạn Pale đi Pari. Quan chức địa phương tổ chức tiễn Người trọng thể.

13 giờ, máy bay cất cánh tại sân bay Pácmơ Biarít (Parme Biarritz), trên cắm quốc kỳ hai nước Việt Nam và Pháp.

16 giờ 10 phút, máy bay hạ cánh xuống sân bay Lơ Buốcgiê (Le Bourget). Nhà ga sân bay được trải thảm nhung đỏ, treo cờ Việt Nam và Pháp. Bộ trưởng Bộ nước Pháp hải ngoại Mariúyt Mutê (Marius Moutet), Bộ trưởng Lễ tân đại diện Chính phủ Pháp, J. Đuymen (Jacques Dumaine), các tướng lĩnh đại diện các quân, binh chủng, đại biểu các đảng, đoàn thể, trên một nghìn Việt kiều và nhân dân Pari đã đón Chủ tịch Hồ Chí Minh tại sân bay. Sau lễ chào cờ, Người cùng đại diện Chính phủ Pháp đi duyệt đội danh dự. Trước khi lên ôtô, Người nói trước máy ghi âm của phóng viên Hãng Thông tấn Pháp AFP: “Tôi rất lấy làm bằng lòng được đặt chân lên đất của một nước đã chịu đau khổ nhiều vì lý tưởng và tự do. Cảm ơn Chính phủ và dân chúng Pháp tiếp đãi tôi một cách long trọng. Mong sau này hai dân tộc Pháp và Việt Nam cộng tác một cách bình đẳng, thật thà và thân thiện”.

Đoàn xe đưa Người về Khách sạn Roayan Môngxô (Royal Monceau) nằm trên đại lộ Ôsơ (Hoche), gần Phủ Tổng thống Pháp. Đi dẫn đường và hộ vệ có nhiều xe ô tô và xe mô tô của Cục Công an Pari và Bộ Nội vụ. Hai bên đường từ trường bay về khách sạn, cách mấy chục thước lại có một cảnh binh đứng canh, cấm xe cộ và người qua lại. Dân chúng đứng hai bên đường xem rất đông, nhiều lúc họ vỗ tay và hoan hô tỏ tình thân thiện.

Tại khách sạn cũng có lính danh dự đứng chào và canh gác. Trước khách sạn có treo một lá cờ đỏ sao vàng rất lớn.

17 giờ, Người tiếp nhà báo Raymông Bácbê (Raymond Barbé) đến chào.

20 giờ, Người tiếp A.Mácty (A.Marty), đại diện Trung ương Đảng Cộng sản Pháp đến chào.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lư­u tại Viện Hồ Chí Minh.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chí Minh 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 29-31.

Tháng 6, ngày 23

6 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi dạo trong khu rừng Bulônhơ (Boulogne).

12 giờ, Người tiếp tướng Gioăng (Juin), Tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp đến chào.

13 giờ, Người ăn trưa với Phái đoàn Việt Nam và ba đại biểu lính chiến Việt Nam.

16 giờ, Người tiếp một số trí thức Việt Nam tại Pháp, phần nhiều là thầy thuốc, kỹ sư và một vài hoạ sĩ, ai cũng náo nức muốn về để giúp Tổ quốc.

17 giờ 15, tại Khách sạn Roayan Môngxô, Người mở tiệc trà đón hơn 50 thiếu nhi Việt Nam ở Pari cùng cha mẹ các cháu đến chào. Người trao lá cờ của nhi đồng Hoàng Diệu (Hà Nội) cho em Trương Hồng Quân, 12 tuổi, đại diện nhi đồng Việt Nam tại Pari. Người cùng các em trò chuyện và chụp ảnh kỷ niệm.

20 giờ 30, Người dùng cơm tại quán Lơ Tôngcanh (Le Tonkin) số 63 Ke đờ la Tuốcnen (Quai de la Tournelle), Pari.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chối mọi cuộc phỏng vấn của giới báo chí.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lư­u tại Viện Hồ Chí Minh.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 32-33.

Tháng 6, ngày 24

6 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi dạo trong rừng Bulônhơ.

8 giờ, Người tiếp khoảng 100 đại biểu kiều bào Nam Bộ đến chào mừng và nghe thông báo tình hình nước nhà.

9 giờ 30, Người gặp đại biểu trí thức Nam Bộ tại Pháp.

13 giờ, Người tiếp Bộ trưởng Mariúyt Mutê và J.Xanhtơny cùng một số nhân viên cao cấp trong Chính phủ Pháp.

15 giờ 30, Người tiếp phóng viên Medoa (Maisoi).

16 giờ, Người tiếp đại tá Tuytănggiơ (Tutenges) đến thăm.

17 giờ, Người tiếp ông Trần Đức Thảo, Việt kiều tại Pháp.

18 giờ, Người tiếp Đô đốc Đácgiăngliơ đến chào.

19 giờ, Người tiếp Ban lãnh đạo Hội hữu nghị Pháp – Việt đến chào 8).

Cùng ngày, Người còn tiếp Luật sư Giôê Noman (Joé Nordman), Chủ tịch Công đoàn báo chí Pháp và nhận được nhiều thư, điện chúc mừng của kiều bào ở khắp nơi gửi đến.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lư­u tại Viện Hồ Chí Minh.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 32-34.

Tháng 6, ngày 25

6 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đoàn đến thăm và đặt vòng hoa tại mộ ông Khánh Ký trong nghĩa trang Tioa Paridiêng (Thiois Parisien).

10 giờ, Người gặp ông Trần Đức Thảo.

11 giờ, Người gặp ông Hoàng Kim Phượng, Việt kiều người Thanh Hoá.

13 giờ 30, Người tiếp hơn 100 đại biểu chiến binh, công binh Việt kiều.

15 giờ 15, Người làm việc với Phái đoàn Việt Nam tham dự cuộc đàm phán.

16 giờ, Người tiếp phóng viên báo L’Humanité Dimanche đến chụp ảnh.

17 giờ 10, tại Khách sạn Roayan Môngxô, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp 84 đại biểu các báo Pháp và báo nước ngoài. Người nói: “Từ khi tới Pháp, ở Biarít thăm Baxcơ và cho tới khi đến Pari, tôi được Chính phủ đón tiếp long trọng, nhân dân Pháp và các nhà báo chào mừng nồng nhiệt. Tôi rất cảm ơn. Hôm nay, tôi chưa thể tuyên bố gì, để đợi Chính phủ Pháp tiếp chính thức”. Sau đó, Người mời các phóng viên dự tiệc trà. Trước khi tiệc tan ( hồi 18 giờ), Người cầm những bông hoa trên bàn tiệc tặng mỗi nữ phóng viên một bông, còn lại một bông, Người tặng cho nam phóng viên nhiều tuổi nhất.

18 giờ 30, Người tiếp và mời cơm các lãnh tụ Đảng Cộng hoà bình dân (M.R.P) gồm các ông Mác Ăngđrê (Max André), Môrixơ Suman (Maurice Schuman) – Chủ tịch Đảng, Phrăngxixcơ Gay (Francisque Gay) – Bộ trưởng, Étmông Misơlê (Edmond Michelet) – Bộ trưởng, Côlanh (Colin), Goócte (Gortais), Đơbây (Debay), Amôri (Amaury), và Ternoa (Terrenoir). Phía Việt Nam có các ông Phạm Văn Đồng, Nguyễn Mạnh Hà.

21 giờ 15, tiệc tan, nhưng Tổng thư ký M.R.P và ông Anbe, Tổng biên tập một tờ báo, còn nán lại trò chuyện với Người đến 22 giờ.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 34-35.

Tháng 6, ngày 26

7 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm “đột kích” anh em trong Phái đoàn Việt Nam ở Khách sạn Xanhtơ Annơ (Sainte Anne) và Khách sạn Luvrơ (Louvre).

10 giờ 20, Người tiếp các đại biểu Liên đoàn ái hữu người Việt Nam ở Liông (Lyon), Pari, Boócđô (Bordeaux), Tuludơ (Toulouse) và các tỉnh khác đến chào và thông báo với Người về tình hình kiều bào ta ở Pháp.

13 giờ, Người mời cơm ông bà P.Cốt (P.Cot).

17 giờ, Người tiếp Luật sư Mác Clanhvin Blôngcua (Max Clainville Bloncourt) đến thăm.

20 giờ, Người tiếp và mời cơm các yếu nhân Đảng Xã hội Pháp (S.F.I.O): bà Mácty Cápgra (Marty Capgras); ông Bộ trưởng Ăngđrê Philíp (André Philip), ông Bộ trưởng Mariúyt Mutê (Marius Moutet), nghị sĩ Sáclơ Luyxi (Charles Lussy), và các uỷ viên Trung ương Ru (Roux), Xtiblơ (Stible), v.v.. Có bốn đại biểu trong Phái đoàn Việt Nam cùng dự.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lư­u tại Viện Hồ Chí Minh.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 35-36.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng.

Tháng 6, ngày 27

6 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi dạo trong rừng Bulônhơ và thăm lâu đài Selô (Chaillot). Phóng viên báo Point de vue xin được chụp ảnh.

13 giờ, Người đến dự cơm trưa với gia đình ông J.Xanhtơny. Một số chuyên gia kinh tế người Pháp chuyên nghiên cứu về Việt Nam cùng dự.

20 giờ, Người tiếp đại biểu Đảng Cộng sản Pháp: bà Braoong (Braun), Phó Chủ tịch Quốc hội; nghị sĩ P.Vayăng Cutuyriê (P. Vaillant Couturier); ông bà M.Casanh (M.Cachin); ông M.Tôrê, Phó Chủ tịch Chính phủ; J.Đuyclô (J.Duclos), Phó Chủ tịch Quốc hội; các uỷ viên Trung ương A.Mácty (A.Marty); Lêông Môve (Léon Mauvais); Bộ trưởng Xây dựng Ph.Bi-u (F.Billoux); Bộ trưởng Quân khí C.Tilông (C.Tillon)… Cùng tiếp khách có các ông Hoàng Minh Giám và Phạm Huy Thông.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư cho Bộ trưởng Bộ nước Pháp hải ngoại Mariúyt Mutê, phản kháng việc quân đội Pháp chiếm đóng Phủ Toàn quyền cũ ở Hà Nội.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lư­u tại Viện Hồ Chí Minh.

– Nhật ký làm việc của Hồ Chủ tịch 4 tháng ở Pháp, Đỗ Đình Thiện ghi, bản gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 36-37.

– Bản đánh máy bức thư (tiếng Pháp), lưu tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, phông PTT, HS.1514.

Tháng 6, ngày 28

Sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi dạo trong vườn Xanh Clu (Saint Clou).

12 giờ, Người tiếp tướng Gioăng và tướng Đơvedơ (Devèze) đến thăm.

20 giờ, Người tiếp Đoàn đại biểu Phụ nữ quốc tế 9) đến thăm. Các đại biểu đã thông báo với Người: trong cuộc họp cùng ngày, Liên đoàn Phụ nữ dân chủ thế giới đã công nhận Hội Phụ nữ Việt Nam là hội viên. Người nói với các đại biểu vài nét về những thành tích, những hy sinh, nỗ lực của phụ nữ Việt Nam trong cuộc chiến đấu giành chính quyền cũng như bảo vệ và xây dựng đời sống mới.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lư­u tại Viện Hồ Chí Minh.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 38-39.

Tháng 6, ngày 29

Sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi dạo trong rừng Vanhxen (Vincennes).

12 giờ, Người đi dự cơm trưa tại gia đình Đô đốc Đácgiăngliơ. Cùng dự có các ông Phạm Văn Đồng, Hoàng Minh Giám, Nguyễn Mạnh Hà và một số người bạn Pháp.

20 giờ, Người tiếp Thư ký Liên đoàn thể dục, thể thao và lao động Henri Grexanh (Hanri Gressin) và đại biểu các tổ chức thanh niên Pháp như Thanh niên Công giáo, Thanh niên dân chủ, Thanh niên cộng hoà, Thanh niên hướng đạo và đoàn đại biểu Hội Thanh niên thế giới gồm có người Mỹ, Anh, Đan Mạch… Các đại biểu hỏi thăm tình hình thanh niên Việt Nam. Với mỗi câu hỏi, Người đều trả lời hai lần, một lần bằng tiếng Anh và một lần bằng tiếng Pháp. Các đại biểu đề nghị được gọi Người là BÁC HỒ và thông báo: Hội Thanh niên thế giới đã công nhận thanh niên Việt Nam gia nhập Hội.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lư­u tại Viện Hồ Chí Minh.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 40-41.

Tháng 6, ngày 30

6 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi dạo trong Vườn hoa Môngxô ở gần khách sạn.

12 giờ, Người mời cơm một số đại biểu dự Hội nghị Phôngtennơblô.

15 giờ 30, Người đi xem Viện Bảo tàng Nhân chủng (Museé de l’homme).

19 giờ, Người tới nhà ông Ty (Việt kiều) ăn cơm, rồi tới thăm nhà ông Lưu Đĩnh.

– ĐH. Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, bản sao lư­u tại Viện Hồ Chí Minh.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 42.

Cuối tháng

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp một số nhà tư bản đại diện cho các xí nghiệp công nghiệp, thương mại của Pháp ở Đông Dương. Người nói đến tình trạng thiếu kỹ sư và chuyên gia các ngành mà Việt Nam rất cần và mong muốn cuộc đàm phán tại Phôngtennơblô sẽ đạt kết quả tốt đẹp.

– Henri Azeau: Ho Chi Minh, Dernière chance, Flammarion, Paris, 1968, p.126.

______________________________________

1) Sanđécnago là thuộc địa của Pháp trước đây, cách Cancútta khoảng 60 km.

2) Lơke: tức Cairô, Thủ đô Ai Cập (BT).

3) Vùng đất của Pháp tiếp giáp với Đức, bị chia cắt sau chiến tranh Pháp – Phổ năm 1871, mãi đến 1919 mới được hợp nhất lại với Pháp.

4) Tên gọi một nghĩa trang gần thành phố, có nhà cửa, đường sá, nhưng suốt ngày vắng lặng, chiều mọi người mới đến cúng vái.

5) Biarritz: Thủ phủ của Pirênê Átlăngtích (Pyrénée Atlantique) ở miền Nam nước Pháp, gần biên giới Pháp – Tây Ban Nha.

6) Báo Cứu quốc, số 269, ngày 18-6-1946, đưa tin: ngày 15-6, phía Pháp mới trao lại cho Chính phủ Việt Nam bức điện của Hồ Chủ tịch đánh ngày 5-6 mà họ đã nhận được ngày 10-6. Chính phủ Việt Nam đã nhiều lần đánh điện, nhưng Hồ Chí Minh không nhận được.

7) Nội dung bức điện có đoạn: “Hội hữu nghị Pháp – Việt gửi Cụ Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Cộng hoà Việt Nam những lời chào thân ái và kính cẩn, và mong ước sắp được đón tiếp ở kinh thành Pari nhà ái quốc đã thực hiện được cuộc chiến đấu chống Nhật xâm lược và cộng tác vào cuộc chiến thắng của nền dân chủ”.

8) Đoàn gồm Chủ tịch Hội Giuýtxtanh Gôđa, Tổng thư ký Phrăngxix Giuốcđanh (Francis Jourdain); giáo sư, đại biểu Quốc hội Pôn Rivê (Paul Rivet); Giáo sư Paiê (Paillet); tướng Pơti; Hội trưởng Liên đoàn nhà báo Pháp Bâyê (Bayet); đại biểu phụ nữ Pháp, bà Côtông (Cotton); đại diện báo L Humanité Dimanche, P.Blốc.

9) Đoàn gồm: Ricôn (Ricole), Thư ký Trung ương Hội Phụ nữ Pháp; Bácgiônê (Barjonet), Uỷ viên Trung ương Hội; Xpotix (Sportice), đại biểu Quốc hội Angiêri; Giắckiê (Jacquier), Luật sư Hanđô (Handoo), đại biểu người Ấn Độ trong Liên hợp quốc; đại biểu Mỹ I.Uylis (Irène Willish) và đại biểu Mỹ da đen Maxơn (Mason); đại biểu Quốc hội Nga Alếchxanđrôvxkaia và đại biểu Tây Ban Nha Đôlorex (Dolorèz)…

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 3 (Năm 1946 – Tháng 5)

Tháng 5, ngày 1

Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi nhân ngày Quốc tế Lao động 1-524Lời kêu gọi có đoạn:

“Ở nước ta lần này là lần đầu mà đồng bào ta, anh chị em lao động ta, được tự do đón tiếp ngày 1 tháng 5. Vậy nên nó có ý nghĩa đặc biệt sâu xa hơn nữa.

Đối với chúng ta nó là một ngày để tỏ cho thế giới biết rằng ngày này chẳng những là ngày tết lao động, mà nó còn là ngày toàn dân đoàn kết. Đoàn kết để giữ vững tự do dân chủ. Đoàn kết để kiến thiết nước nhà. Đoàn kết để xây dựng một đời sống mới”.

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo một số việc về y tế, nội vụ, tài chính và bàn tiếp về dự án Sắc lệnh tổ chức Quân uỷ hội.

– Báo Cứu quốc, số 229, ngày 1-5-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 219.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 2

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 56B tạm hoãn thời hạn những việc đăng ký quyền cầm cố ở các phòng trước bạ và điền thổ trên toàn cõi Việt Nam, kể từ ngày 23-9-1945 đến ngày 31-12-1946.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 3

Bài viết Hồng quân với Liên Xô (ký bút danh Q.Th) của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đăng trên báo Cứu quốc, số 230, giới thiệu về những chiến công oanh liệt của Hồng quân Liên Xô. Theo tác giả, sở dĩ Hồng quân Liên Xô thu được những chiến công như vậy, ngoài tinh thần chiến đấu dũng cảm còn do những nguyên nhân:

1. Hồng quân Liên Xô “biết phép chiến đấu”.

2. Hồng quân Liên Xô “đã được hưởng thụ một nền văn hoá và giáo dục tốt đẹp”.

3. Quân dân nhất trí.

4. Quân đội Liên Xô có những vị chỉ huy tối cao sáng suốt và đủ tài đức.

Bài báo kết luận: “Chúng ta đương tổ chức quân đội quốc gia, chúng ta phải rút kinh nghiệm quý báu trong lịch sử kiến thiết quân đội của Liên Xô”.

8 giờ 30, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo về tình hình Phái đoàn Việt Nam ở Đà Lạt hàng ngày sẽ khai hội hồi 11 giờ, các điện của Đà Lạt sẽ tuỳ từng vấn đề để gửi cho các bộ. Hội đồng bàn về đường sắt, về quân sự và tài chính, chế độ công chức… và trình Chủ tịch dự thảo Sắc lệnh tổ chức các bộ.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 57, quy định mỗi bộ của Chính phủ Việt Nam, Bộ trưởng và Thứ trưởng có một văn phòng, các Nha có thể có một cơ quan thanh tra và một Ban Cố vấn. Những quy định cụ thể về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan trong bộ và nhân viên được ghi rõ trong 14 điều của Sắc lệnh này.

– Sắc lệnh số 58, quy định cụ thể về tổ chức, nhiệm vụ của các cơ quan thuộc Bộ Nội vụ.

– Sắc lệnh số 59, cử các vị Huỳnh Thúc Kháng (đại biểu Chính phủ), Bùi Bằng Đoàn (thanh tra hành chính), Vũ Trọng Khánh (thẩm phán) vào Hội đồng Phúc thẩm đặt tại Bộ Nội vụ (theo điều 10, Sắc lệnh số 40, ngày 29-3-1946 về việc bảo vệ tự do cá nhân).

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 221-223.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 4

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Anh chị em giáo viên Bình dân học vụ. Thư Người viết: “Anh chị em là đội tiên phong trong sự nghiệp chống nạn mù chữ. Anh chị em chịu cực khổ khó nhọc, hy sinh phấn đấu, để mở mang tri thức phổ thông cho đồng bào, để xây đắp nền văn hoá sơ bộ cho dân tộc.

Anh chị em làm việc mà không có lương bổng, thành công mà không có tiếng tăm. Anh chị em là những người “vô danh anh hùng”. Tuy là vô danh nhưng rất hữu ích. Một phần tương lai của dân tộc nước nhà nằm trong sự cố gắng của anh chị em”.

Người mong rằng, lòng hăng hái và sự nỗ lực của các giáo viên bình dân học vụ sẽ sớm mang lại kết quả vẻ vang: đồng bào ai cũng biết đọc, biết viết. “Cái vinh dự đó thì tượng đồng, bia đá nào cũng không bằng”.

– Báo Cứu quốc, số 231, ngày 4-5-1946.

– Bút tích bức thư, lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 220.

Tháng 5, ngày 6

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo về Phái đoàn Việt Nam ở Đà Lạt đã đạt được thoả thuận: hai Chính phủ cử  ra một ban để nghiên cứu nhằm xây dựng một không khí tốt đẹp, xoá bỏ sự thù địch. Sau đó, Hội đồng Chính phủ nghe thông báo tình hình quân sự giữa Việt Nam và Pháp, một số công việc thuộc nội vụ như báo chí, quảng cáo và thảo luận một số việc về kinh tế như đổi giấy bạc, khai thác mỏ…

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 60, về việc Uỷ ban kháng chiến toàn quốc được Quốc hội công nhận ngày 2-3-1946 nay đổi thành Quân sự uỷ viên Hội. Những quy định cụ thể về tổ chức, nhiệm vụ, chức năng của Quân sự uỷ viên Hội được ghi rõ trong các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7 của Sắc lệnh này.

– Sắc lệnh số 61, về tổ chức của Bộ Quốc dân kinh tế gồm: một văn phòng, các phòng sự vụ, một Ban Thanh tra, một Ban Cố vấn kinh tế và năm Nha chuyên môn.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 8

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe thông báo và bàn về vấn đề tài chính, trong đó có việc Lư Hán đã gửi cho Chủ tịch Hồ Chí Minh hai quyển sổ quyên góp cho Trung Hoa. Người đã quyên 50.000đ quốc tệ và mỗi Bộ trưởng quyên 10.000đ quốc tệ. Hội đồng cũng nghe báo cáo về Phái đoàn Việt Nam ở Đà Lạt và việc Hội nghị Đà Lạt sẽ bế mạc ngày 11 tháng 5, về tình hình người Trung Hoa nhập cảng hàng hoá, về tình hình hộ đê…

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 62 và 63 ấn định tổ chức của Bộ Canh nông gồm: một văn phòng, các phòng sự vụ và bốn nha chuyên môn và cử một số cán bộ thuộc bộ này.

– Sắc lệnh số 64, quy định nhiệm vụ của Nha Lao động Trung ương được thành lập trong Bộ Xã hội (theo Sắc lệnh số 36, ngày 27-3-1946).

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 9

9 giờ, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp gần 50 đại biểu thuộc đủ các lứa tuổi, các giới của các dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang, Hà Giang. Các đại biểu đã biếu Người khoai, ngô, mật ong, vải… của địa phương. Người nâng cốc chúc các đại biểu mạnh khoẻ, sống lâu, hô hào con cháu đoàn kết giúp Chính phủ và động viên chị em phụ nữ, hỏi thăm tình hình xoá nạn mù chữ, khuyên đồng bào nên gắng sức học tập cho biết chữ và đoàn kết chặt chẽ. Người nhắc các đại biểu lần sau không nên mang cho nhiều quà, vừa tốn công vừa tốn của.

Người tự tay tặng mỗi đại biểu một tấm huy hiệu có in hình của Người và chụp ảnh kỷ niệm với các đại biểu.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tặng Đội tự vệ chiến đấu thành Hoàng Diệu gói chè của đồng bào Hà Giang mới biếu Người.

– Báo Cứu quốc, số 236, ngày 10-5-1946.

Tháng 5, trước ngày 10

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Liên đoàn Công giáo và Nhà Dục anh 1) Công giáo tỉnh Thái Bình. Sau khi cảm ơn đồng bào Thái Bình đã tặng nhiều nông sản địa phương nhân dịp Người thăm Thái Bình ngày 28 tháng 4, Người viết:

“Trong các vật kỷ niệm, cái khung ảnh bằng lụa do Nhà Dục anh Công giáo thêu, và Liên đoàn Công giáo biếu tôi, làm cho tôi đặc biệt cảm động… Tôi cảm ơn và xin chúc toàn thể đồng bào Công giáo luôn luôn mạnh khoẻ, để phụng sự Tổ quốc, phụng sự Chúa Trời”.

– Báo Cứu quốc, số 236, ngày 10-5-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 224-225.

Tháng 5, ngày 10

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo và bàn về các vấn đề tổ chức các bộ, việc tiếp tế gạo, một số vụ Việt Nam Quốc dân Đảng từ Đồng Mỏ (Lạng Sơn) kéo xuống uy hiếp Bắc Giang.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 65, tạm thời hoãn thu thuế trực thu cho các tỉnh từ Khánh Hoà vào Nam cho đến khi có lệnh mới.

– Sắc lệnh số 66, cử một số cán bộ cho Bộ Ngoại giao.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 13

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo tình hình quân đội Pháp khủng bố ở miền Nam Trung Bộ, và lời yêu cầu của chủ Hãng Xi măng ở Huế và Hãng Sifa ở Vinh muốn Chính phủ tạo điều kiện thuận lợi cho họ sản xuất. Người nhắc Bộ Canh nông chú ý vấn đề nhân lực để kịp gặt lúa ở nông thôn.

10 giờ, Người cùng Hội đồng Chính phủ tiếp Phái đoàn Việt Nam đi dự hội nghị trù bị Việt – Pháp ở Đà Lạt về.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Hoan nghênh phái bộ Hội nghị trù bị. Tuy kết quả chưa đủ, nhưng phái bộ đã làm cho nước Pháp và ngoại quốc biết rõ rằng người nước ta biết tranh đấu, biết công tác và biết đoàn kết….”

Sau khi nghe phái đoàn báo cáo quá trình đàm phán, Người nói: “Phải tiếp tục tranh đấu tại Hội nghị Pari!”.

Buổi tối, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các vị bộ trưởng mời cơm phái đoàn.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 67, cử một số cán bộ cho Bộ Quốc dân kinh tế.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Hoàng Xuân Hãn: Một vài ký vãng về Hội nghị Đà Lạt, Tập san Sử Địa (Sài Gòn), tháng 10-1971.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 14

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ nghe phái đoàn đi dự Hội nghị Đà Lạt thông báo cuộc đàm phán với Pháp về các vấn đề:

– Ngoại giao của nước Việt Nam;

– Liên bang Đông Dương;

– Liên hiệp Pháp quốc;

– Trưng cầu ý kiến dân chúng.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện đến Đô đốc Đácgiăngliơ đề nghị chuyển lời cảm ơn của Quốc hội và Chính phủ Việt Nam tới Chính phủ Pháp đã đón tiếp niềm nở Phái đoàn Quốc hội Việt Nam và “ao ước rằng những cuộc thương thuyết sau này tại Pari cũng sẽ thân mật như thế để mưu sự thịnh vượng chung cho cả hai dân tộc”.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 68, bổ sung một số điểm vào các điều 43, 45 trong Sắc lệnh số 77, ngày 21-12-1945, về việc đặt Uỷ ban hành chính khu phố; cách tiến hành bầu cử, ứng cử và tổ chức Uỷ ban hành chính khu phố được nêu rõ trong điều 2, 3 của Sắc lệnh này.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 239, ngày 14-5-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 226.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 15

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ, tiếp tục nghe phái đoàn đi dự Hội nghị Đà Lạt thông báo công việc của Tiểu ban Kinh tế và Tiểu ban Văn hoá trong cuộc đàm phán với Pháp.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Khoảng giữa tháng

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm đoàn cán bộ miền Nam ra Bắc đang ở tại nhà ông Bộ trưởng Bộ Giáo dục. Người hỏi thăm sức khoẻ của đoàn và tình hình Nam Bộ. Khi biết chiến trường Nam Bộ rất cần súng, Người nói: “Thế nào Trung ương và Chính phủ cũng có súng gửi về Nam. Nhưng nước ta còn nghèo, các cô các chú về, phải đánh Pháp cho giỏi, cướp lấy súng của nó dùng thì cái vốn đó mới nhiều”.

Người hỏi chuyện từng người và căn dặn đồng chí Nguyễn Thị Định 2) “Cô ở ngoài này học tập một thời gian rồi lại về tiếp tục kháng chiến với bà con. Người cách mạng phải học suốt đời, học lý luận, học quần chúng, học thực tế. Người không học thì như đi ban đêm không có đèn, không có gậy, dễ vấp té, có phải thế không?”.

– Nguyễn Thị Định: Không còn đường nào khác, Nxb. Văn học giải phóng, 1976, tr.46.

Tháng 5, ngày 16

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ tiếp tục nghe phái đoàn đi dự Hội nghị Đà Lạt thông báo công việc của Tiểu ban Quân sự.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 69 ấn định mức thuế điền thổ ở Bắc Bộ và thuế đồn điền như: ruộng, đất hạng nhất, 1 mẫu ta (3.600m2), nộp 12 đồng một năm; ruộng hạng 3, 1 mẫu ta, nộp 8 đồng một năm; đất hạng 5, một mẫu ta, nộp 0,10 đồng một năm; ruộng, đất đồn điền hạng nhất, 1 mẫu tây (10.000m2), nộp 20 đồng một năm.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 17

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn việc tổ chức Nha tiếp tế (thuộc Bộ Kinh tế), việc chuyên chở muối, vấn đề giấy bạc 500 đồng và tình hình quân sự ở một số địa phương.

Cùng ngày, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhan đề Binh pháp Tôn Tử, ký bút danh Q.Th., đăng trên báo Cứu quốc, số 242. Người phân tích “nguyên lý thứ nhất” trong 10 nguyên lý cơ bản của Binh pháp Tôn Tử là: “Phải biết xét đoán trước”, tức là trước trận đánh, người cầm quân phải biết mình, biết người, biết thiên thời địa lợi. Có như vậy mới nắm chắc được phần thắng trong lúc chiến tranh.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 242, ngày 17-5-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 227-229.

Tháng 5, ngày 18

18 giờ, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Đoàn đại biểu Chính phủ Pháp do Đô đốc Đácgiăngliơ dẫn đầu 3) đến chào. Trong buổi tiếp, khi nâng cốc chào mừng ông Cao uỷ, Người nói: “Thủ đô nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mới lấy làm sung sướng được tiếp đón các vị đại diện của nước Pháp mới. Sau cuộc hội thương tại vịnh Hạ Long, Hội nghị trù bị tại Đà Lạt và cuộc giao hảo của phái bộ Quốc hội Việt Nam với Quốc hội Pháp tại Pari, hôm nay, với việc ngài đến thăm Hà Nội, cuộc bang giao Pháp – Việt chắc chắn sẽ có bước phát triển mới”.

19 giờ 45, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến đáp lễ tại nơi ở của tướng Valuy, nơi nghỉ của Đô đốc Đácgiăngliơ.

– Báo Cứu quốc, số 244, ngày 20-5-1946.

– Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1976.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Từ Đà Lạt đến Paris, Nxb. Hà Nội, 1996, tr. 34.

Tháng 5, ngày 19

Sáng, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh lần lượt tiếp các vị trong Thường vụ và trong Chính phủ, các đoàn đại biểu tới chúc thọ Người.

Nhớ lại kỷ niệm ngày sinh nhật của Người năm 1946, Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể:

“Tiếng trống ếch rộn ràng trước cửa Bắc Bộ phủ. Các cháu đã tới. Bác Hồ ra đón các cháu vào. Hơn một chục em bé gái, trai thay mặt cho toàn thể thiếu nhi nội ngoại thành đến chúc thọ Bác. Trong các em, có em hằng ngày vẫn phải đi bán báo, có em là trẻ mồ côi ở Trường trẻ mồ côi Hàng Bột. Các em đua nhau gắn huy hiệu Măng mọc thẳng lên áo Bác, tặng Bác những chữ “i”, “t” tượng trưng cho phong trào Bình dân học vụ, những tập sách nhỏ in Điều lệ và bài hát của Hội Nhi đồng cứu quốc.

Quà của Bác Hồ cho các cháu bé năm đó là một cây bách tán. Bác trỏ cái cây nhỏ lá rất xanh, trồng trong chậu, nói:

– Bác có cây này tặng các cháu. Mai sau cái cây này sẽ mọc một trăm cái tán. Các cháu về chăm cho cây lớn, cây tốt thế là các cháu yêu Bác lắm đấy!

Các em vui mừng hát một bài cảm ơn Bác. Khi các em vừa khênh chậu cây bách tán đi ra thì một đoàn hơn năm chục anh, chị bước vào phòng… Đây là những người thay mặt cho miền Nam đang chiến đấu tới chúc thọ Bác.

Sau khi nghe lời chúc mừng của các anh, các chị, Bác nói:

– Tôi xin cảm ơn các anh, các chị Nam Bộ đã đến chúc thọ tôi. Thật ra, các báo ở đây đã làm to cái ngày sinh của tôi, chứ tuổi năm mươi sáu chưa có gì đáng được chúc thọ, cũng hãy còn như là thanh niên cả, mà trước các anh, các chị, trước cảnh êm vui ở Bắc đây, tôi thật lấy làm xấu hổ vì trong Nam chưa được thái bình.

Hai giọt lệ chảy trên gò má Bác…

Lát sau, Ban vận động Trung ương Đời sống mới vừa được thành lập tháng trước… đến chúc thọ Bác. Nhân được gặp Bác, các đại biểu đề nghị Bác nêu ra cho cuộc vận động một khẩu hiệu. Bác nói:

– Các chú muốn có một khẩu hiệu ư? “Cần kiệm liêm chính”, “Chí công vô tư”. Khẩu hiệu đó!

Một đại biểu thưa với Bác khẩu hiệu này đã quá quen thuộc, xin Bác một khẩu hiệu mới cho hợp với cuộc vận động Đời sống mới.

Bác cười rồi nói:

– Hàng ngày ta phải ăn cơm, uống nước, phải thở khí trời mà sống. Những việc đó, ngày xưa ông cha ta phải làm, bây giờ chúng ta phải làm, con cháu ta sau này cũng phải làm. Vậy ăn cơm, uống nước và thở khí trời để đem lại cuộc sống cho con người thì đó là những việc không khi nào trở thành cũ cả. “Cần kiệm liêm chính”, “Chí công vô tư” đối với Đời sống mới cũng như vậy”.

Cũng trong buổi sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp phóng viên Hãng Thông tấn Pháp AFP tại Hà Nội. Về tình hình Hội nghị trù bị Đà Lạt, Người nói:

“Một cách trung thực, thành thực, và đôi khi tàn bạo, đại biểu của hai nước đã nói rõ lập trường của mình, đó là một phương pháp hay, vì như vậy, bây giờ chúng ta hiểu nhau hơn trước. Về một vài điểm, hai bên đã thoả thuận. Vẫn còn có những sự bất đồng ý kiến. Nhưng cuộc Hội nghị này chỉ là một cuộc Hội nghị trù bị. Nhiệm vụ của cuộc Hội nghị Ba Lê 4) là chuẩn y sự thoả hiệp thực hiện ở Đà Lạt và dung hoà các quan điểm xung đột nhau. Các cuộc xung đột ý kiến không đến nỗi không giải quyết được. Hai dân tộc phải thoả thuận với nhau để thực hiện một cuộc hợp tác thân thiện. Chúng ta đã đặt một nền tảng chắc chắn cho các cuộc đàm phán sau này”.

– Báo Cứu quốc, số 244 và 245, ngày 20 và 21-5-1946.

– Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1976.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Từ Đà Lạt đến Paris, Nxb. Hà Nội, 1996, tr. 35-37.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 233.

Tháng 5, ngày 20

8 giờ 30, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh báo cáo trước Hội đồng: trong mấy ngày qua, Người gặp và nói chuyện với Đô đốc Đácgiăngliơ, nhưng phần nhiều chỉ nói về chính trị chung chung và chỉ quyết định được một việc là phái đoàn của ta sẽ lên đường ngày 31 tháng 5 đi Pari dự cuộc đàm phán chính thức. Tiếp đó, Hội đồng bàn vấn đề thưởng, phạt trong việc hộ đê; nghe báo cáo về tình hình gia đình ông Vĩnh Thuỵ và quyết định cần có mọi biện pháp đảm bảo an toàn và thực hiện các ý muốn của Cố vấn.

Trong ngày, sau khi đọc xong cuốn Phương pháp và cách thức dạy học vỡ lòng chữ quốc ngữ, do Nha Bình dân học vụ xuất bản, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết vào trang đầu cuốn sách:

“Anh chị em giáo viên bình dân học vụ cố gắng đọc kỹ sách này, rồi tận tâm dạy bảo đồng bào thất học, làm cho nạn mù chữ chóng hết.

Thế là làm tròn một nhiệm vụ thiêng liêng của mình đối với Tổ quốc.

Ngày 20 tháng 5 năm 1946

Hồ Chí Minh”.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 234.

Tháng 5, ngày 22

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ thảo luận các vấn đề: dự án Sắc lệnh tổ chức các cơ quan y tế; giải quyết xung đột giữa các đảng phái ở các tỉnh; kiểm soát xuất nhập cảng; việc Trung Hoa xin xuất 2000 tấn gạo; vấn đề Pháp định mở nhà Thông tin ở Hà Nội. Hội đồng Chính phủ quyết định lập một Uỷ ban nghiên cứu đặc biệt các vấn đề sẽ đàm phán ở Pari, gồm sáu người: Chủ tịch Hồ Chí Minh và các ông Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Tường Tam, Phan Anh, Võ Nguyên Giáp, Vũ Hồng Khanh.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 70 về việc lập tại Bắc Bộ một Uỷ ban hộ đê Trung ương có nhiệm vụ nghiên cứu kế hoạch chống nạn lụt và kiểm soát việc bảo vệ đê điều. Uỷ ban sẽ do Chủ tịch Uỷ ban hành chính Bắc Bộ hoặc người đại diện chủ toạ và gồm những nhà chuyên môn hoặc đủ kinh nghiệm do Chủ tịch Uỷ ban hành chính Bắc Bộ cử ra. Sắc lệnh còn ấn định những thể lệ đặc biệt để thưởng người có công và phạt người phạm tội được ghi rõ trong các điều 2, 3, 4, 5.

– Sắc lệnh số 71 ghi rõ Quân đội của nước Việt Nam là một Quân đội quốc gia. Quân đội quốc gia về ngành Lục quân chỉnh đốn theo bản quy tắc kèm theo Sắc lệnh này gồm 2 tiết, 6 chương với 62 điều.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 23

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cám ơn Quốc hội, Chính phủ, các tổ chức tôn giáo, các cơ quan đoàn thể và đồng bào cả nước cùng bè bạn nước ngoài đã chúc mừng nhân ngày sinh của Người. Bức thư có đoạn:

“Nhân dịp này, tôi xin hứa với đồng bào rằng từ đây về sau, cũng như từ đây về trước, tôi sẽ ra sức phấn đấu để giữ quyền tự chủ của nước nhà, quyền tự do của dân tộc, quyền dân chủ của đồng bào.

Tôi xin hứa với bạn hữu các nước rằng tôi sẽ dùng tinh thần lực lượng nhỏ mọn của tôi để giúp vào xây đắp mối tình thân thiện giữa các dân tộc”.

– Báo Cứu quốc, số 249, ngày 25-5-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 238.

Tháng 5, ngày 24

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ, nghe báo cáo về công việc của Đoàn Quốc hội ở Pháp, việc dàn xếp tình hình ở Bắc Giang và Vĩnh Yên, việc bộ đội của Việt Nam Cách mệnh đồng minh hội đã hợp nhất với bộ đội Chính phủ, việc Việt kiều ở Thượng Hải về nước.

Cùng ngày, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh giới thiệu về Binh pháp Tôn tử, dưới nhan đề Muốn biết người phải thế nào? (ký bút danh Q.Th.), đăng trên báo Cứu quốc, số 248. Bài báo phân tích tầm quan trọng của việc dùng gián điệp trong chiến tranh.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 72 về việc bãi bỏ Sắc lệnh số 57 ký ngày 10-11-1945 (về việc cấm sản xuất, tàng trữ, đài tải, tiêu thụ và mua bán rượu ta).

– Sắc lệnh số 73 cử cán bộ cho Bộ Canh nông.

– Sắc lệnh số 74 cử cán bộ cho Bộ Giao thông công chính.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 248, ngày 24-5-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 235-237.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 26

6 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Anh, Chủ tịch Quân uỷ hội Võ Nguyên Giáp và nhiều cán bộ quân sự cấp cao rời Hà Nội đi dự Lễ khai giảng Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn tại Sơn Tây. Tại buổi lễ, sau lời chúc mừng của Bộ trưởng Phan Anh và Giám đốc nhà trường Hoàng Đạo Thúy, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với anh em học viên. Người nói: Anh em có nhiều giai cấp, tư tưởng khác nhau, trước hết phải đoàn kết, đoàn kết thực thà.  Phải có kỷ luật về cả tinh thần lẫn vật chất. Phải noi gương anh dũng của anh em binh sĩ hồi khởi nghĩa để làm gương cho các lớp về sau. Các anh em cần làm được như lời Tôn Trung Sơn đã nói: “Những người thanh niên tốt muốn làm việc to chứ không muốn làm quan lớn”.

Sau khi trao tặng nhà trường lá cờ “Trung với nước, hiếu với dân”, Người căn dặn: “Trung với nước, hiếu với dân là bổn phận thiêng liêng, là mục đích của anh em, một trách nhiệm nặng nề nhưng cũng là vinh dự của người chiến sĩ trong đạo quân quốc gia đầu tiên của nước ta”.

Trước khi về Hà Nội, Người thăm hỏi các đại biểu Phụ lão cứu quốc Sơn Tây, nhận quà biếu của các cụ và Cô nhi viện. Tại Uỷ ban hành chính Sơn Tây, Người nói chuyện với thanh niên và đồng bào.

Tối, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự Lễ khai mạc Đại hội thanh niên Hà Nội.

– Báo Cứu quốc, số 250, ngày 27-5-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 239.

– Chủ tịch Hồ Chí Minh với Thủ đô Hà Nội, Sở Văn hoá thông tin Hà Nội, 1985, tr.13.

Tháng 5, ngày 27

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ. Hội đồng quyết định Cụ Huỳnh Thúc Kháng tạm thay Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian Người đi vắng và bàn vấn đề kiều bào ở Thượng Hải về nước, kiều bào ở Lào, vấn đề giảm thuế cho những tỉnh khó khăn và thu thuế hàng hoá của Pháp.

 – Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 29

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ, quyết nghị Chính phủ ký những Sắc lệnh về việc cử phái đoàn Việt Nam đi Pháp; cử người phụ trách Bộ Quốc phòng trong lúc ông Phan Anh và ông Tạ Quang Bửu vắng mặt; thiết quân luật và giới nghiêm; tuyên dương các binh sĩ có công; tổ chức Bộ Tài chính;… Hội đồng còn nghe báo cáo về tình hình mâu thuẫn giữa các đảng phái ở địa phương.

Cũng tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh giới thiệu về cấp bậc mới của ông Vũ Đình Huỳnh – thành viên của Đoàn Việt Nam sắp đi Pháp. Người nói: “Anh Vũ Đình Huỳnh, Thư ký riêng của tôi, aide camp particulier (nguyên văn tiếng Pháp của Bác). Trước đây ta phong cho Huỳnh chức đại uý, đi đường gặp quan tư của Pháp phải chào, nay tôi nhân danh Chính phủ phong cho anh Huỳnh chức đại tá, colonel, như thế anh Huỳnh chỉ phải chào có một Xalăng thôi”.

Cùng ngày, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam25 (gọi tắt là Hội Liên Việt) tiến hành đại hội thành lập. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được đại hội bầu làm Hội trưởng danh dự.

Cũng cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng tướng R. Xalăng đến Trường Trung học Anbe Xarô là nơi trú quân của Sư đoàn thiết giáp số 2 của Pháp tại Hà Nội. Đứng trước các sĩ quan chỉ huy và binh lính tập trung tại sân trường, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:

“Tôi đi Pháp, tới đất nước tươi đẹp, Tổ quốc của các bạn. Tôi sẽ nói với các bà mẹ, các chị, các em và những người yêu của các bạn rằng các bạn đều khoẻ mạnh, đều là những người lính xứng đáng với danh dự của nước Pháp”.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 75 quy định tổ chức Bộ Tài chính gồm: Văn phòng Bộ, các phòng sự vụ, các nha chuyên môn, các cơ quan phụ thuộc, Nha Thanh tra tài chính và Ban Cố vấn chuyên môn. Cách tổ chức cụ thể của văn phòng các ban… được ghi rõ trong các điều 2, 3, 4, 5, 6, 7 của Sắc lệnh.

– Sắc lệnh số 76 sửa đổi điều 2 Sắc lệnh số 77 ngày 21-12-1945 về cách tổ chức chính quyền nhân dân ở thị xã, thành phố.

– Sắc lệnh số 77 ấn định quyền hạn của Chủ tịch Chính phủ Dân chủ Cộng hoà được phép ban hành lệnh thiết quân luật khi tình thế nghiêm trọng. Quy định cụ thể được ấn định trong các điều 2, 3, 4, 5 của Sắc lệnh.

– Sắc lệnh số 78 ấn định biểu thuế điền thổ từ ngày 1-1-1946, cho toàn hạt Trung Bộ cả người Việt Nam và người nước ngoài.

– Sắc lệnh số 79 về việc trong năm 1946 giảm 15% thuế biểu thuế điền thổ ấn định trong Sắc lệnh số 78 ngày 29-5-1946, cho nhân dân các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên.

– Sắc lệnh số 80 bổ nhiệm Chánh văn phòng Bộ Canh nông.

– Sắc lệnh số 81 ấn định danh sách đoàn Việt Nam
đi Pari.

– Sắc lệnh số 82 về việc uỷ nhiệm các ông: Huỳnh Thúc Kháng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ thay Chủ tịch Chính phủ đi vắng, ký những công văn thường hàng ngày và chủ toạ họp Hội đồng Chính phủ; Cù Huy Cận thay ông Hoàng Minh Giám, Thứ trưởng Bộ Nội vụ đi vắng; trong khi Phan Anh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đi vắng, các ông Võ Nguyên Giáp, Chủ tịch Quân sự Uỷ viên Hội và Vũ Hồng Khanh, Phó Chủ tịch Quân sự Uỷ viên Hội, tạm thay.

– Sắc lệnh số 82B về việc bổ nhiệm Cục trưởng Giao thông công chính.

– Sắc lệnh số 83 về việc bổ nhiệm một số cán bộ Bộ Nội vụ.

– Sắc lệnh số 84 quy định bắt đầu từ 1-1-1948, tại tất cả các thành phố, các tỉnh lỵ kể cả ngoại ô trong toàn cõi Việt Nam, cấm sử dụng các xe kéo (xe tay) bất cứ của tư nhân hay cho thuê.

Ngoài các thành phố, tỉnh lỵ, lệnh trên đây sẽ thi hành kể từ ngày 1-1-1949.

– Sắc lệnh số 84B về việc tuyên dương công trạng, hoặc có thể thưởng “Huy chương Quân công” cho các chiến sĩ và những người ngoài quân đội bị tử thương, tử trận hoặc lập được chiến công anh dũng trong khi chiến đấu giành độc lập cho nước Việt Nam.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Hoàng Quốc Việt: Con đường theo Bác, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1990, tr. 208.

– Lê Kim: Bác Hồ tiếp xúc với tình báo phương Tây, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2000, tr. 101.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Vũ Đình Huỳnh: Tháng Tám cờ bay, in trong Bác Hồ sống mãi với chúng ta, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 130.

Tháng 5, ngày 30

7 giờ 30, trời mưa to, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự cuộc mít tinh của đồng bào tổ chức tại Việt Nam học xá để tiễn Người sang Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp. Tại cuộc mít tinh, Người nói: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân… Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ đeo đuổi một mục đích là làm cho ích quốc lợi dân. Vậy nên lần này, tôi xin hứa với đồng bào rằng: Tôi cùng anh em đại biểu sẽ gắng làm cho khỏi phụ lòng tin cậy của quốc dân”. Người căn dặn đồng bào ra sức giúp cho cuộc đàm phán có kết quả bằng cách:

“1- Đoàn kết chặt chẽ, tránh mọi sự chia rẽ;

2- Ra sức cần kiệm, cho khỏi nạn đói khó;

3- Ra sức gìn giữ trật tự, tuyệt đối tuân theo mệnh lệnh của Chính phủ;

4- Đối với các kiều dân hữu bang, phải tử tế ôn hoà”.

Với ngoại kiều ở Việt Nam, Người khuyên nên “tương kính thương thân, thành thật hợp tác, êm ấm thuận hoà, thực hiện chữ “Tứ hải giai huynh đệ” 5).

11 giờ, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp các phóng viên ở Hà Nội. Người căn dặn các nhà báo phải làm tròn nhiệm vụ tranh đấu cho nước nhà, hướng dẫn dư luận đồng bào và giữ thái độ của các cơ quan ngôn luận là ôn hoà, đúng đắn.

12 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn vấn đề cử người thay ông Nguyễn Tường Tam, Trưởng Phái đoàn Việt Nam đi Pari.

Chiều, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp các ông Nguyễn Văn Tố và Bùi Bằng Đoàn, thay mặt Quốc hội, đến chúc Người sức khoẻ trước khi lên đường sang Pháp để giành quyền tự chủ hoàn toàn cho nước nhà.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 85 về việc cử ông Đặng Việt Châu giữ chức Chánh Văn phòng Bộ Nội vụ.

– Sắc lệnh số 86 về việc cử ông Phạm Văn Đồng làm Đoàn trưởng Phái đoàn Việt Nam sang Pari thay ông Nguyễn Tường Tam vì mắc bệnh không đi được.

– Sắc lệnh số 87 về việc cử ông Đào Thiện Thi, kỹ sư Nông học, giữ chức Tổng thanh tra các Nha của Bộ Canh nông.

– Sắc lệnh số 88, hạn chế việc giết thịt gia súc ở Bắc Bộ.

– Sắc lệnh số 89 về việc Chính phủ Việt Nam tạm thời giành quyền tìm kiếm mỏ.

– Sắc lệnh số 90 ấn định những khu mỏ thuộc quyền sở hữu của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

– Báo Cứu quốc, số 254, ngày 31-5-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 240-241.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Cuối tháng

Tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp các ông Tạ Quang Bửu, Trần Duy Hưng và các đại biểu trong Bộ Tổng uỷ viên Hướng đạo đến báo cáo về công việc của Hội và đề nghị Người làm Hội trưởng danh dự Hội Hướng đạo Việt Nam26.

– Báo Hướng đạo thẳng tiến, số 3, ngày 10-6-1946.

Khoảng cuối tháng

Chủ tịch Hồ Chí Minh làm thơ hoạ lại bài thơ của Nguyễn Hải Thần 6) tặng Người trước khi sang Pháp. Toàn văn bài thơ như sau:

“Gặp gỡ đường đời anh với tôi,

Đường đời gai góc phải chia hai.

Đã sinh tai mắt, sinh đầu óc.

Há bỏ thân yêu, bỏ giống nòi.

Trách kẻ đưa thân vào miệng cọp,

Tôi đành ghé đít cưỡi đầu voi.

Tàn cờ mới biết tay cao thấp,

Há phải như ai, cá thấy mồi!”.

– Báo Lao động, số Tết Mậu Thìn (1988).

Tháng 5, ngày 31

Sáng sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư Gửi đồng bào Nam Bộ. Người  khuyên đồng bào Nam Bộ hãy bình tĩnh và hứa với đồng bào rằng “Hồ Chí Minh không phải là người bán nước”, đồng thời khẳng định: “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi!”.

Người còn viết thư trả lời Hội trưởng Hội Hướng đạo Việt Nam, đồng ý nhận làm Hội trưởng danh dự của Hội và chúc anh em trong Hội luôn luôn sẵn sàng “Phụng sự Tổ quốc”.

6 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Phái đoàn Việt Nam đến sân bay Gia Lâm. Người cùng với ông Phạm Văn Đồng, tướng Valuy và tướng Xalăng duyệt đội quân danh dự của Việt Nam và Pháp, khen ngợi đội quân danh dự của quân đội Pháp và mong rằng hai quân đội Việt, Pháp thân thiện với nhau.

Trước lúc lên máy bay, Chủ tịch Hồ Chí Minh nắm tay Cụ Huỳnh Thúc Kháng và nói: “Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở Cụ cùng anh em giải quyết cho. Mong Cụ “dĩ bất biến ứng vạn biến” (lấy cái không thay đổi để đối phó với muôn sự thay đổi)”. Sau đó, Người nói với các thành viên trong đoàn công tác sang Pháp trước những đại biểu đưa tiễn: “Anh em chúng ta mang trọng trách quốc gia, trước mặt quốc dân đồng bào, chúng ta phải thề dù gặp gian lao thế nào, chúng ta cũng phải nhất tâm đoàn kết để làm tròn nhiệm vụ đối với Tổ quốc”. Tất cả đồng thanh hô: “Xin thề!”.

7 giờ 45, hai chiếc máy bay Dakota kiểu Mỹ từ từ cất cánh. Một chiếc chở Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với các ông Phạm Văn Đồng, Hoàng Minh Giám, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện và hai thư ký riêng của Người là Vũ Đình Huỳnh, Đỗ Đình Thiện. Phía Pháp có tướng Xalăng, Đarây, đại uý Cácchiê, v.v.. Một chiếc chở phái bộ đi dự Hội nghị Phôngtennơblô27.

Trước đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi điện cho Đô đốc Đácgiăngliơ. Toàn văn bức điện như sau: “Tôi xin cảm ơn Ngài đã săn sóc về việc khởi hành sang Pháp của tôi và tôi thành thực cảm ơn Ngài đã viết thư chúc tôi trong lúc tôi lên đường. Tôi sẽ hy vọng và quả quyết rằng cuộc đàm phán chính thức ở Ba Lê sẽ được tốt đẹp và nhờ đó hai dân tộc Pháp-Nam sẽ cộng tác một cách chặt chẽ”.

Cùng ngày, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh giới thiệu về Binh pháp Tôn Tử dưới nhan đề Phương pháp dùng gián điệp (ký bút danh Q.Th.), đăng trên báo Cứu quốc, số 254. Tác giả đã phân tích về hai vấn đề: Đối với gián điệp phải thế nào và Dùng gián điệp phải thế nàotrong phép dụng binh của Tôn Tử, từ đó rút ra kết luận: “Vậy người làm tướng phải biết dùng người có mưu trí làm gián điệp cho mình. Đó là bí quyết trong phép dụng binh. Vì có căn cứ vào báo cáo xác thực của người gián điệp mới đủ tài liệu bày mưu, tính kế và định đường lối tiến thoái được. Đặt được kế hoạch xác đáng tức là biết mình, biết người, đánh trăm trận được trăm trận”.

Cùng ngày, Người tới Miến Điện (nay là Myanma).

– Báo Cứu quốc, số 254 và 255, ngày 31-5 và 1-6-1946.

– Báo Le Monde, ngày 6-6-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 242-247, 249.

– Báo Hướng đạo thẳng tiến, số 3, ngày 10-6-1946.

– Võ Nguyên Giáp: Những năm tháng không thể nào quên, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1974, tr. 280-281.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Hồ Chủ tịch ở Pháp năm 1946, Nxb. Hà Nội, 1995, tr. 10-11.

 _______________________________________

1) Nhà nuôi trẻ mồ côi.

2) Đầu năm 1946, tại Đại hội Phụ nữ tỉnh Bến Tre, đồng chí Nguyễn Thị Định được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành tỉnh Hội; khoảng tháng 5-1946, đồng chí được cử ra Bắc để báo cáo tình hình miền Nam sau Hiệp định Sơ bộ 6-3 và xin chi viện cho Nam Bộ.

3) Đoàn đại biểu Chính phủ Pháp còn có tướng Valuy, đại tá Crơpanh (Crepin), thiếu uý La Mơnăngđie (La Menandière). Phía Việt Nam có Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng và các ông Nguyễn Văn Tố, Vũ Hồng Khanh, Võ Nguyên Giáp.

4) Ba Lê: Pari (BT).

5) Bốn biển đều là anh em.

6) Toàn văn bài thơ của Nguyễn Hải Thần như sau:

“Gặp gỡ đường đời anh với tôi,

Hai vai gánh nặng cả hai vai.

Tuy riêng Nam Bắc, riêng bờ cõi,

Cùng một ông cha, một giống nòi.

Nhỡ bước đành cam thua nửa ngựa,

Thà hơn miệng thế nói mười voi.

Mấy lời trân trọng ông ghi nhớ,

Nước ngược, buông câu khéo mất mồi!”.

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 3 (Năm 1946 – Tháng 4)

Tháng 4, ngày 1

8 giờ 15, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo và bàn về vấn đề đàm phán giữa hai bộ tham mưu Việt – Pháp; việc binh sĩ Việt Nam ở Thượng Hải yêu cầu về nước, việc phản đối Pháp và Mỹ đặt đường hàng không Niu Oóc – Hà Nội, Pari – Hà Nội mà không hỏi ý kiến Chính phủ ta.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 3

8 giờ 15, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo về vấn đề Ngân hàng Đông Dương phát hành giấy bạc 100 đồng và đình chỉ việc đổi giấy bạc 500 đồng. Hội đồng quyết định nếu phát hành giấy bạc 500 đồng phải được sự đồng ý của Chính phủ Việt Nam. Hội đồng không tán thành việc ký khoản ước tạm thời về thư tín và hàng không giữa Trung Hoa và Việt Nam.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 42 quy định quyền bất khả xâm phạm đối với những người giữ chức Bộ trưởng hay Thứ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban hành chính, đại biểu Quốc hội, nếu không được phép của các cơ quan có thẩm quyền cao nhất của Nhà nước. Trong trường hợp có đơn tố giác thì chuyển về cho các cơ quan có thẩm quyền cao nhất và sẽ đưa ra Toà Thượng thẩm nơi phát giác và Toà Thượng thẩm xử chung thẩm.

– Sắc lệnh số 43 về việc lập tại Hà Nội, Thuận Hoá, Sài Gòn, một “Hội đồng phân định thẩm quyền giữa Toà án Quân sự, Toà án đặc biệt và Toà án thường”.

– Sắc lệnh số 44 cử bà Đoàn Tâm Đan và các ông Nguyễn Quang Oánh, Trần Huy Liệu, Dương Đức Hiền, Vũ Đình Hoè, Nguyễn Tấn Gi Trọng, Nguyễn Huy Tưởng, Đỗ Đức Dục, Phạm Biểu Tâm vào Ban Trung ương vận động đời sống mới.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 4

8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội đồng Chính phủ họp bất thường để thông báo việc Người gặp Đô đốc Đácgiăngliơ và sau hai lần sửa chữa, phía Pháp đã chịu thảo một thông báo gần đúng với ý của ta; việc đại diện Chính phủ Pháp J.Xanhtơny yêu cầu mở cuộc thương thuyết trù bị giữa Việt Nam và Pháp ở Đà Lạt.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 5

8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo và bàn về việc thống nhất quân đội, đào tạo quân đội, tiếp tế quân nhu, việc ra Sắc lệnh cấm dùng giấy bạc của Ngân hàng Đông Dương phát hành sau ngày 6 tháng 3, việc tổ chức ngày Đại hội Thanh niên, v.v..

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 45, quy định các cuộc lạc quyên, xổ số lấy tiền hay lấy đồ vật đều cấm hẳn, trừ khi được Chính phủ Trung ương cho phép. Các quy định cụ thể được ghi trong các điều 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 trong Sắc lệnh này.

– Sắc lệnh số 46, về việc cấm lưu hành các loại giấy bạc phát hành sau ngày 6-3-1946, nếu không được Chính phủ thừa nhận. Các loại giấy bạc lưu hành trái phép sẽ bị tịch thu. Các loại giấy bạc bị cấm lưu hành sẽ được quy định trong nghị định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 7

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 47 về việc Bộ Ngoại giao ta tách ra làm Nội bộ và Ngoại bộ. Nội bộ gồm những cơ quan ở trụ sở của Bộ. Ngoại bộ gồm các sứ bộ và lãnh sứ bộ. Cách tổ chức và nhiệm vụ của các cơ quan Nội bộ được quy định trong các điều 2,3,4 của Sắc lệnh này. Chế độ Ngoại bộ sẽ do một Sắc lệnh riêng quy định.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 8

8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe thư của ông J.Xanhtơny yêu cầu cho lập nhiều trụ sở để giải quyết các vấn đề liên quan tới Pháp; bàn việc thương thuyết với Pháp để bảo vệ tính mệnh, tài sản của người Việt Nam ở Lào và tình hình quân sự.

Cuối buổi họp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc giấy mời của tỉnh Phú Thọ mời Chính phủ lên dự Lễ giỗ Tổ Hùng Vương.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 9

8 giờ, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đại biểu các khu tự vệ thành Hà Nội. Người khen ngợi anh em tự vệ đã hăng hái tham gia nhiều công việc giúp đỡ nhân dân và Chính phủ, đồng thời nêu một số nhược điểm trong công tác của các đội tự vệ, nhắc nhở anh em cẩn thận trong việc dùng súng, kiên trì và không được chán nản, cần ôn hoà và có kỷ luật. Người nhấn mạnh câu: “Một sự nhịn là chín sự lành”, và nêu rõ ba nhiệm vụ của tự vệ lúc này là:

1. Củng cố và phát triển tổ chức.

2. Nghiên cứu chính trị để nhận rõ đường lối. “Hiểu rõ đường lối chính trị thì công tác đúng”.

3. Quân sự hoá sinh hoạt đoàn thể tự vệ, nghĩa là hoạt động phải có quy củ.

14 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng đến Trường Thể dục ở đường Cột Cờ để viếng các binh sĩ và Trưởng quan Trung Quốc tử trận hay vì bệnh tật, tai nạn mà bỏ mình. Buổi lễ do tướng Lư Hán chủ trì. Vòng hoa của Người mang dòng chữ: “Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Chính phủ kính hiếu”.

– Báo Cứu quốc, số 211, ngày 10-4-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 213.

Tháng 4, ngày 10

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thơ tặng các cháu nhi đồng toàn quốc:

“Bác mong các cháu cho ngoan,

Mai sau gìn giữ giang san Lạc – Hồng.

Sao cho nổi tiếng Tiên – Rồng,

Sao cho tỏ mặt nhi đồng Việt Nam”.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 48, về việc thiết lập trong toàn cõi Việt Nam một Đảm phụ đặc biệt gọi là Đảm phụ Quốc phòng thu trong niên khoá 1946. Đảm phụ Quốc phòng thu của các công dân Việt Nam từ đúng 18 tuổi trở lên đến đúng 65 tuổi, bất phân nam nữ, trừ những trường hợp được miễn (như người nghèo khổ hoặc tàn tật không kế sinh nhai; các chiến sĩ tại ngũ trong quân đội Việt Nam; cha mẹ, vợ chồng các liệt sĩ hoặc tử sĩ, các thương binh).

– Báo Cứu quốc,  số 239, ngày 14-5-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 214.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 11

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Điền chủ Nông gia Việt Nam, kêu gọi nên lập các Hợp tác xã nông nghiệp vì đó “là một tổ chức có lợi to cho nhà nông”, “là một cách làm cho nhà nông đoàn kết, làm cho nhà nông thịnh vượng”, “giúp cho nhà nông đạt đến mục đích, đã ích quốc lại lợi dân”. Bức thư có đoạn:

“Việt Nam ta là một nước sống về nông nghiệp. Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc. Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn.

Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh. Nông dân muốn giàu, nông nghiệp muốn thịnh, thì cần phải có hợp tác xã”.

16 giờ, tại Việt Nam học xá, Người dự Lễ giỗ Tổ Hùng Vương.

– Báo Cứu quốc, số 229, ngày 1-5-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 215-216.

– Chủ tịch Hồ Chí Minh với Thủ đô Hà Nội, Sở Văn hoá thông tin Hà Nội, 1985, tr.12.

Tháng 4, ngày 13

20 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh tới thăm lớp Bình dân học vụ tại khu 21 Trường Hoài Đức, phố Hàng Trống (Hà Nội). Người xem sách vở, ân cần hỏi thăm anh chị em giáo viên và học viên. Sau đó, Người gặp Trưởng khu 21, hỏi về tình hình Bình dân học vụ và khen ngợi giáo viên đã tận tâm dạy học không lương và nói: “Anh chị em giáo viên Bình dân học vụ là những người vô danh anh hùng, anh hùng không tên tuổi, không ai biết đến”.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 50 về tổ chức các cơ quan Bộ và thuộc Bộ Giao thông công chính, được quy định cụ thể trong 23 điều của Sắc lệnh này.

– Báo Cứu quốc, số 217, ngày 17-4-1946.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 15

10 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ để tiếp phái đoàn Quốc hội Việt Nam được cử sang Pari chào Quốc hội Pháp; nghe báo cáo về quân sự; về phái đoàn ta đi Trùng Khánh và vấn đề cho các hợp tác xã vay tiền để sản xuất nông nghiệp.

16 giờ, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp Phái đoàn đi dự Hội nghị trù bị Việt – Pháp tại Đà Lạt22, dặn dò mọi việc trước khi Đoàn lên đường vào ngày 16-4-1946.

Người dặn phải chuẩn bị thận trọng về mọi mặt vì hội nghị này sẽ có ảnh hưởng lớn về sau.

Người nêu những nguyên tắc của Chính phủ đề ra:

1. Hết sức đoàn kết từ ý kiến đến hành động.

2. Hết sức cẩn thận.

3. Giữ bí mật.

4. Trước lúc tuyên ngôn gì với đại biểu Pháp, phải thảo luận trước.

5. Sau khi thảo luận với đại biểu Pháp một vấn đề gì, lúc về phải cùng nhau kiểm thảo lại để xem lẽ mình thắng hay bại ở chỗ nào.

6. Mỗi khi thảo luận nên chia làm ba nhóm: xung phong, hậu thuẫn và trù bị. “Phải có người đấm, người xoa”.

7. Mình chỉ xướng ra những vấn đề quan trọng. Ngoài ra để đại biểu Pháp nêu vấn đề.

8. Khi gặp vấn đề gì hai bên chưa thoả thuận được với nhau thì để nó tách ra, chứ đừng nói để hỏi ý kiến Chính phủ, vì nếu làm như vậy thì sẽ thắt Chính phủ vào việc đàm phán này.

Chủ tịch Hồ Chí Minh kết luận: “Cần căn cứ vào Hiệp định sơ bộ để đi đến cộng tác thực thà với Pháp”.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Phạm Khắc Hoè: Những bài học tôi đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy bảo. Báo Đại đoàn kết, số Đặc biệt, tháng 5-1990.

– Hoàng Xuân Hãn: Một vài ký vãng về Hội nghị Đà Lạt, Tập san Sử Địa (Sài Gòn), tháng 10-1971.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Từ Đà Lạt đến Pari, Nxb. Hà Nội, 1996, tr. 46-47.

Tháng 4, ngày 16

5 giờ 30 sáng, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng ông Huỳnh Thúc Kháng tiễn phái đoàn đi dự Hội nghị trù bị Đà Lạt. Sau đó, Người gặp phái đoàn Quốc hội Việt Nam do ông Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn, chuẩn bị sang Pháp. Người căn dặn: “… phái đoàn có ba việc cần phải làm là đoàn kết, cẩn thận, làm cho người Pháp hiểu ta để gây tình hữu nghị giữa hai dân tộc”.

– Báo Sự thật, số 32, ngày 20-4-1946.

– Hoàng Xuân Hãn: Một vài ký vãng về Hội nghị Đà Lạt, Tập san Sử Địa (Sài Gòn), tháng 10-1971.

– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Từ Đà Lạt đến Pari, Nxb. Hà Nội, 1996, tr. 49.

Tháng 4, ngày 17

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo về việc 600 quân Pháp từ Hải Phòng kéo lên Hà Nội đêm 15 tháng 4 mà không cho phía Việt Nam biết trước và việc lính Pháp gây rối ở Ga Hà Nội làm cho nhiều người bị thương. Sau đó Hội đồng bàn về vấn đề quản lý việc nấu rượu, vấn đề giấy bạc của Ngân hàng Đông Dương và vấn đề ngoại giao với Pháp.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 51-SL về thẩm quyền của các toà án Việt Nam đối với mọi người, bất cứ quốc tịch nào trên toàn cõi Việt Nam. Thẩm quyền của các toà án và sự phân công giữa các nhân viên của toà án được ấn định trong 3 chương, 43 điều trong Sắc lệnh này.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 19

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về Dự án Ngân sách lương thực của quân đội, vấn đề lập Nha Dân tộc thiểu số và vấn đề tài chính.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tổ chức tại Plâycu23. Thư có đoạn:

“Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Êđê, Xêđăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau… Chúng ta phải thương yêu nhau, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta.

Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta”.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 217-218.

Tháng 4, ngày 22

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ thông báo một số tin thu thập được qua các báo, trong đó báo Trung Hoa nói về việc nghiên cứu một Hiệp định Thương mại Hoa – Việt – Pháp, báo của ta đính chính lại là Hiệp định Thương mại Hoa – Việt và đề nghị Bộ Kinh tế sẽ chuẩn bị việc này, Bộ Canh nông sẽ lập ngay Nha Kiều vụ. Hội đồng còn nghe báo cáo về việc xung đột giữa quân đội Trung Hoa và quân đội Pháp chiều ngày 21 tháng 4, công việc của Phái bộ Đà Lạt đã làm và bàn về dự án Sắc lệnh tổ chức Quân sự Uỷ viên hội.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 52 quy định về việc những công dân Việt Nam muốn thành lập các hội hoặc đoàn thể mà mục đích không phải để chia lợi tức, không làm đồi bại phong tục, hại đến trật tự chung, hoặc đến sự an toàn của quốc gia. Sắc lệnh quy định thể thức xin lập hội (hoặc đoàn thể) trong 15 điều.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 24

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ nghe thông báo về tin phía Pháp bắt ông Phạm Ngọc Thạch trong phái đoàn ta ở Hội nghị trù bị Đà Lạt, việc quân đội Pháp định đóng ở Điện Biên Phủ, việc quân đội Trung Hoa thoả thuận tỷ giá giữa tiền Quan Kim và tiền Đông Dương và thông qua danh sách các thẩm phán do Bộ Tư pháp đề cử.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 53-QP, về việc bổ nhiệm người giữ chức Chính trị Cục trưởng thay ông Hoàng Đạo Thuý đi giữ công vụ khác.

– Sắc lệnh số 54, về việc cho phép in các tem bưu điện có chân dung Bảo Đại và Nam Phương hoàng hậu, ngoài chữ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, có hai chữ Dân sinh và số phụ thu 3 đồng. Số phụ thu này sẽ nộp vào Quỹ “Cứu tế quốc gia”.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, trước ngày 25

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp phóng viên Hãng Thông tấn Pháp AFP. Người kêu gọi người Pháp phải thi hành đúng Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3 và tuyên bố: “Nước Việt Nam, một quốc gia không thể nhận những quyết nghị của một Chính phủ chỉ huy như chế độ toàn quyền Đông Dương cũ”.

– Báo Cứu quốc, số 224, ngày 25-4-1946.

Tháng 4, ngày 25

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm thị xã Sơn Tây.

Cùng ngày, Người tiếp tướng Gioăng tới thăm.

– Chủ tịch Hồ Chí Minh với Thủ đô Hà Nội, Sở Văn hoá thông tin Hà Nội, 1985, tr.13.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 26

8 giờ 30, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo cho Hội đồng biết tướng Gioăng đi công cán ở Trung Hoa, ngày 25 tới Hà Nội, có đến thăm Người và Chính phủ Việt Nam. Sau đó, Hội đồng nghe báo cáo về tình hình phái đoàn ta ở Đà Lạt, tình hình nhân sự của Bộ Giáo dục, tình hình kinh tế, xã hội, ngoại giao, về tổ chức văn phòng các bộ.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 27

Sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp hai phái viên Hãng Vô tuyến điện Pari đến xin thu thanh ý kiến của Người và ba bài hát: Tiến quân ca, Diệt phát xít, Hồ Chí Minh muôn năm để gửi về Pháp. Người nói: “Tôi gửi lời chào thân ái dân tộc Pháp. Mặc dầu có những trở lực hiện thời, tôi tin rằng sự hợp tác dân tộc Pháp và Việt sẽ đi đến kết quả vì hai dân tộc cùng theo đuổi lý tưởng chung: Tự do, Bình đẳng, Bác ái”.

– Báo Cứu quốc, số 227, ngày 29-4-1946.

Tháng 4, ngày 28

10 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng ông Huỳnh Thúc Kháng, ông Lê Văn Hiến và một số vị khác về Thái Bình sự Lễ khánh thành đê Mỹ Lộc và Hưng Nhân.

– Báo Cứu quốc, số 228, ngày 30-4-1946.

Tháng 4, ngày 29

8 giờ 30, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo việc Hội giúp binh sĩ bị nạn ở Huế mời Người ra làm Hội trưởng danh dự và các Bộ trưởng làm Hội viên danh dự của Hội. Hội đồng tán thành. Người đề nghị Chính phủ thông tư cho các địa phương nên tỏ lòng biết ơn đối với các chiến sĩ. Sau đó, Hội đồng bàn vấn đề tha chính trị phạm, vấn đề gặt chiêm và chống phá rừng và đề nghị Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi công nhân Việt Nam nhân kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1-5.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 56, về việc bãi bỏ Đạo dụ số 69 ngày 31-10-1941 và quy định công nhân các công sở, tư sở, xí nghiệp trong toàn quốc đều được nghỉ việc ngày Quốc tế Lao động 1-5 và được hưởng lương như ngày làm việc. Những quy định cụ thể về cách trả lương những trường hợp không thể ngừng nghỉ ngày đó được ghi rõ trong các điều 3,4,5 của Sắc lệnh này.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

–  Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, đầu tháng

Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm thị xã Bắc Ninh (tỉnh Bắc Ninh), thị xã Bắc Giang (tỉnh Bắc Giang).

– Hồ Chí Minh với Hà Bắc, Ty Văn hoá Hà Bắc xuất bản, 1972, tr.18.

Tháng 5, đầu tháng

Hàng ngày, từ 6 giờ đến 8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh ngồi đọc báo tại một phòng làm việc trong Bắc Bộ phủ để các hoạ sĩ Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Thị Kim vẽ ảnh chân dung và nặn tượng Người. Trong lúc làm việc, các nghệ sĩ đã trao đổi với Người về nghề nghiệp.

– Nguyễn Thị Kim kể, Lê Hoàng ghi: Người nặn tượng, in trong cuốn Bác Hồ với văn nghệ sĩ, Nxb. Tác phẩm mới, Hà Nội, 1985, tr.61-65.

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 3 (Năm 1946 – Tháng 3)

Tháng 3, ngày 1

Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp ông J.Xanhtơny để trao đổi về vấn đề quân Pháp ở miền Bắc, vấn đề Nam Bộ và vấn đề thành phần Chính phủ mới của Việt Nam.

– Amiral d’Argenlieu: Chronique dIndochine 1945-1947, Albin Michel, Paris, 1985, p.182.

Tháng 3, ngày 2

9 giờ, tại Nhà hát thành phố Hà Nội, kỳ họp thứ nhất của Quốc hội Khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà19 đã long trọng khai mạc.

Đọc diễn văn khai mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu bật ý nghĩa lịch sử của Quốc hội lần này, sau đó, thay mặt Chính phủ liên hiệp lâm thời, Người đề nghị Quốc hội mở rộng số đại biểu thêm 70 người là đại diện của Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mệnh đồng minh Hội vì “trong lúc toàn thể đồng bào đương tranh đấu thì những đồng chí cách mạng Việt Nam ở hải ngoại không có thì giờ tham gia vào cuộc Tổng tuyển cử của nhân dân ta” và để Quốc hội ta “tỏ cho thế giới, cho toàn dân biết là chúng ta đoàn kết nhất trí” (Quốc hội biểu quyết tán thành).

Sau khi nghe báo cáo công việc Chính phủ đã làm trong sáu tháng qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trao quyền lại cho Quốc hội để tổ chức Chính phủ mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh được Quốc hội nhất trí bầu làm Chủ tịch Chính phủ kháng chiến và giao nhiệm vụ đứng ra tổ chức Chính phủ mới.

10 giờ, đọc báo cáo trước Quốc hội về việc thành lập Chính phủ kháng chiến20, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rõ sở dĩ việc tổ chức Chính phủ mới được nhanh chóng như vậy là vì “Chính phủ này ra mắt gồm có các đại biểu các đảng phái và các anh em không đảng phái, trước đây đã thương lượng và thoả thuận với nhau”. Tiếp đó, Người giới thiệu thành phần của Chính phủ kháng chiến 1), Tối cao Cố vấn đoàn và Kháng chiến uỷ viên hội.

Được Quốc hội thông qua, Chính phủ kháng chiến, Tối cao Cố vấn đoàn và Kháng chiến uỷ viên hội tuyên thệ nhậm chức: “Trước bàn thờ thiêng liêng của Tổ quốc, trước Quốc hội, thề xin cương quyết lãnh đạo nhân dân kháng chiến, thực hiện nền dân chủ cộng hoà Việt Nam, mang lại tự do hạnh phúc cho dân tộc. Trong công việc giữ gìn nền độc lập, chúng tôi quyết vượt mọi nỗi khó khăn dù phải hy sinh tính mệnh cũng không từ”.

Trước khi kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá I bế mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu cảm ơn các đại biểu, “chúng ta cùng hứa với nhau rằng: Quốc hội họp lần này là Quốc hội kháng chiến, mà Chính phủ cử ra là Chính phủ kháng chiến. Tôi mong rằng Quốc hội họp lần sau sẽ là Quốc hội thắng lợi, mà Chính phủ cũng sẽ là Chính phủ thắng lợi”.

– Báo Cứu quốc, số Đặc biệt, ngày 3-3-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 189-196.

– Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Văn phòng Quốc hội: Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946-1960, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 68-80.

Tháng 3, ngày 4

8 giờ 45, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp đầu tiên của Chính phủ liên hiệp kháng chiến bàn về các vấn đề: Nguyên tắc họp của Hội đồng Chính phủ; Tuyên ngôn của Chính phủ liên hiệp kháng chiến; Chính sách đối với Pháp; Quyền hạn của Bộ Quốc phòng và Uỷ ban kháng chiến. Hội đồng Chính phủ quyết định Chính phủ chuẩn bị kháng chiến, đồng thời đàm phán với Pháp trên nguyên tắc Việt Nam độc lập và cử một tiểu ban nghiên cứu những điều kiện của ta trong đàm phán. Tiểu ban này gồm: Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chủ tịch và Phó Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến.

14 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập họp bất thường Hội đồng Chính phủ thông báo về việc Người cùng với Nguyễn Tường Tam gặp các vị trong quân đội Quốc dân Đảng Trung Hoa và Mỹ để đảm bảo sự ủng hộ của họ nếu Chính phủ ta ký kết gì với Pháp. Người Trung Hoa đồng ý. Người Mỹ nói họ cũng đồng ý nếu Pháp bằng lòng, nhưng còn phải hỏi ý kiến Chính phủ Mỹ. Trong phiên họp này, Hội đồng quyết định sẽ gửi một công điện cho Chính phủ Trung Hoa và công bố trên báo thái độ của Việt Nam đối với Hiệp ước Pháp – Hoa, đối với nhân dân Trung Quốc và Hoa kiều. Sau đó, Hội đồng đã cử một số vị phụ trách ứng phó với công việc trong lúc tình hình khẩn trương theo những nguyên tắc mà Chính phủ đã định, gồm: Hồ Chí Minh, Nguyễn Tường Tam, Phan Anh, Võ Nguyên Giáp và Vũ Hồng Khanh. Việc đàm phán với đại diện của Pháp, Chính phủ cử Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao phụ trách.

Chiều, Chủ tịch Hồ Chí Minh họp báo với các phóng viên Việt Nam bác bỏ những tin bịa đặt, đồn đại về cuộc đàm phán Việt – Pháp nhằm gây hoang mang, kích động quần chúng. Người cũng nhắc nhở dân chúng không nên nghe những tin đồn đó, mà phải luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu và kháng chiến đến cùng.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh trao đổi với ông J.Xanhtơny về vấn đề Nam Bộ và một số vấn đề khác trong quan hệ Việt – Pháp.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 177, ngày 5-3-1946.

– Amiral d’Argenlieu: Chronique dIndochine 1945-1947, Albin Michel, Paris, 1985, p.183.

Tháng 3, ngày 5

Chủ tịch Hồ Chí Minh về làng Hậu Ái (nay thuộc xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, Hà Tây) dự Hội nghị bất thường Ban Chấp hành Trung ương Đảng bàn về chủ trương thương lượng với Pháp.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Thiệu Bách Xương (sĩ quan trong quân đội Tưởng Giới Thạch) một bản kiến nghị nhờ chuyển cho phía Pháp 2).

Bản kiến nghị nêu rõ: Nếu ký Hiệp định giữa Pháp và Việt Nam thì cần phải có đại biểu của Đồng minh chứng kiến và thông báo những yêu cầu của phía Việt Nam như sau:

1. Yêu cầu Chính phủ Pháp công nhận Việt Nam là một nước tự do, có Chính phủ, Quốc hội, tài chính, quân đội riêng, tất cả trong phạm vi của Liên bang Đông Dương.

2. Chính phủ Pháp yêu cầu Chính phủ Việt Nam chấp nhận một đội quân Pháp (gồm một vạn năm nghìn lính Pháp và một vạn lính Việt Nam, số lính Việt Nam do Chính phủ Việt Nam cung cấp), tổng số quân đội là hai vạn năm nghìn người.

3. Số phận của Nam Kỳ do nhân dân Việt Nam bỏ phiếu quyết định.

4. Nhà đương cục Pháp nên chủ động ký một Hiệp định ngừng chiến tạm thời giữa Pháp và Việt Nam.

5. Mọi vấn đề (thứ yếu) khác sẽ được thảo luận và giải quyết trong cuộc đàm phán chính thức.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp các nhà thương lượng người Pháp.

Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc rất khuya với ông J. Xanhtơny. Người muốn Việt Nam độc lập và có quan hệ thân thiện với Liên hiệp Pháp. Hai người có bất đồng lớn về vấn đề Nam Bộ.

– Lịch sử Cảnh vệ công an nhân dân Việt Nam (1941-1954), Nxb. Công an nhân dân, 2002, tr.76.

– Lăng Kỳ Hàn: Tại Hà Nội tiếp thụ Nhật Bản đầu hàng nội mạc, tr.106 (bản Trung văn).

– Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr.372.

– David Halberstam: Ho, Randan House/Alfred A.Knopf, New York, 1987, p.85.

Tháng 3, ngày 6

8 giờ 30, tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp Hội đồng Chính phủ, nghe báo cáo về công tác ngoại giao với Pháp và vấn đề Dự thảo nội dung Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3. Hội đồng đã ký vào một biên bản đặc biệt tán thành ký Hiệp định đình chiến và mở cuộc đàm phán chính thức với Chính phủ Pháp với điều kiện Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một quốc gia tự do và Chính phủ Việt Nam bằng lòng để quân đội Pháp thay thế quân đội Trung Hoa. Hội đồng uỷ quyền cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và Vũ Hồng Khanh thay mặt Chính phủ ký Hiệp định trên với đại biểu Pháp.

12 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ trưởng Hoàng Minh Giám gặp J.Xanhtơny và L.Pinhông tiếp tục tranh luận về những điều khoản của Hiệp định Việt-Pháp. Đến 13 giờ 30 những điều khoản của Hiệp định đã đạt được. Hai bên hẹn gặp lại nhau hồi 16 giờ 30 cùng ngày để ký kết chính thức.

16 giờ 30, tại số nhà 38 phố Lý Thái Tổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cùng với J.Xanhtơny đại diện Chính phủ Cộng hoà Pháp ký vào bản Hiệp định Việt – Pháp (Hiệp định Sơ bộ 6-3)21. Hiệp định khẳng định nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là quốc gia tự do, có Chính phủ, Quốc hội, quân đội, tài chính của mình; việc hợp nhất ba Kỳ do nhân dân Việt Nam trực tiếp giải quyết. Phát biểu với những người dự Lễ ký kết, Người nói: “Chúng tôi không thoả mãn vì chưa giành được hoàn toàn độc lập, nhưng chúng tôi sẽ giành được độc lập hoàn toàn..”..

18 giờ, tại Bắc Bộ phủ, Người tuyên bố với một số đại diện các báo hàng ngày về Hiệp định Việt – Pháp vừa được ký.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 181 và 182, ngày 7 và ngày 8-3-1946.

– Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr.376-379.

– Philippe Devillers: Histoire du Vietnam de 1940 à 1952, Seuil, Paris, 1952, p.220.

– J. Xanhtơny: Câu chuyện về một nền hoà bình bị bỏ lỡ, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2003, tr. 246-247.

Tháng 3, sau ngày 6

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện đến Thủ tướng Anh báo tin: Ngày 6 tháng 3, một Hiệp định tạm thời đã được ký kết giữa Pháp và Việt Nam. Theo Hiệp định này, nước Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một quốc gia tự do có Chính phủ, quân đội, tài chính của mình và đề nghị Chính phủ Anh cũng công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một quốc gia tự do…

– Amiral d’Argenlieu: Chronique d’Indochine 1945-1947, Albin Michel, Paris, 1985, p.258.

Tháng 3, ngày 7

Sáng, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng, Cố vấn Vĩnh Thuỵ tiếp ông uỷ viên Cộng hoà Pháp J.Xanhtơny, thay mặt Chính phủ Pháp, đến thăm 3). Người đề nghị địa điểm đàm phán Việt – Pháp sắp tới là Pari và tỏ ý muốn sớm được gặp ông Đácgiăngliơ tại Sài Gòn, trước khi sang Pháp.

15 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Cố vấn Vĩnh Thuỵ đến thăm uỷ viên Cộng hoà Pháp J. Xanhtơny tại trụ sở của ông ta.

16 giờ, tại cuộc mít tinh của đông đảo nhân dân Thủ đô trước Nhà hát thành phố, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về Hiệp định Sơ bộ 6-3. Người nói:

 “Nước ta đã độc lập thực sự từ Tháng Tám năm 1945. Nhưng tới nay, chưa một cường quốc nào công nhận nền độc lập của ta. Cuộc điều đình với nước Pháp sẽ mở ra con đường làm cho quốc tế thừa nhận ta. Nó sẽ dẫn ta đến một vị trí ngày càng chắc chắn trên trường quốc tế. Đó là một thắng lợi về mặt chính trị… Đồng bào hãy nên bình tĩnh, đoàn kết, trọng kỷ luật..”..

Cuối cùng, Người im lặng giây lát rồi tuyên bố:

“Tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh, suốt cuộc đời đã cùng đồng bào chiến đấu cho độc lập của Tổ quốc. Tôi thà chết chứ không bao giờ bán nước”.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Giấy uỷ nhiệm cho hai ông Hoàng Quốc Việt và Huỳnh Văn Tiểng vào Nam Bộ với đoàn đại biểu Pháp để giải thích và thi hành Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3.

– Amiral d’Argenlieu: Chronique dIndochine 1945-1947, Albin Michel, Paris, 1985, p.197.

– Báo Cứu quốc,  số 180 và 181, ngày 8 và ngày 9-3-1946.

– Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr.385-388.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 197.

– J. Xanhtơny: Câu chuyện về một nền hoà bình bị bỏ lỡ, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2003, tr. 254.

Tháng 3, ngày 8

8 giờ 15, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo về việc quân đội Trung Hoa xung đột với quân đội Pháp ở Hải Phòng; việc cử ông Phạm Văn Đồng thay mặt Chính phủ đáp máy bay vào Sài Gòn; việc yêu cầu quân đội Trung Hoa chậm rút ở Hà Nội và không cho lính Pháp mang khí giới ở trong thành ra; việc người Pháp chở vũ khí từ trong Nam ra. Sau đó, Hội đồng bàn tiếp các vấn đề thống nhất hành chính quân đội, việc tiếp phòng quân đội Trung Hoa và quân đội Pháp, đàm phán với Pháp ở Pari…

14 giờ, tại phòng Hội đồng Toà thị chính, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập gần 50 cán bộ chỉ huy tự vệ thành Hà Nội nhắc nhở về nhiệm vụ tuyên truyền để dân chúng hiểu và bình tĩnh đối phó với tình hình. Người căn dặn: dù có Hiệp định đình chiến nhưng không phải là đã hết chiến tranh, vì thế phải nhã nhặn với Pháp nhưng không phải là nhu nhược, thụ động, mà trái lại, phải chủ động chuẩn bị bồi dưỡng lực lượng. Sự chuẩn bị đó phải liên tục, nếu không phải kháng chiến thì để kiến quốc.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Công hàm cho nhà cầm quyền Pháp ở Nam Kỳ về việc phái đoàn đại biểu Việt Nam vào Nam Kỳ để giám sát việc thi hành Hiệp định Sơ bộ 6-3. Đồng thời, Người gửi thư cho Đô đốc Đácgiăngliơ, thông báo về đoàn đại biểu của Việt Nam giám sát ngừng bắn đã lên đường vào Nam công tác và “hy vọng rằng quan hệ Pháp – Việt nhờ có tinh thần hiểu biết rộng rãi và chức vụ cao cả của Ngài mà ngày một cải thiện vì hạnh phúc tối thượng của hai dân tộc chúng ta”.

Nghiêm lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đăng trên báo Cứu quốc, số 181, “hạ lệnh cho toàn thể nhân dân và bộ đội phải giúp đỡ cho quân đội Trung Hoa, trong lúc quân đội Trung Hoa thoái triệt. Ai xâm phạm đến tính mạng, tài sản của quân đội Trung Hoa sẽ bị nghiêm trị”.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Công hàm và Bức thư bằng tiếng Pháp, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 181, ngày 9-3-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 198.

Tháng 3, ngày 9

Bản Tuyên cáo cùng dân chúng Pháp và Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh và tướng Lơcléc, đăng trên báo Cứu quốc, số 181. Sau khi nêu rõ lý do việc quân Pháp trở lại đóng từ vĩ tuyến 160N trở ra Bắc, Tuyên cáo kêu gọi “người Pháp và người Việt Nam hãy tuân lệnh những người lãnh đạo của hai nước, thi hành các mệnh lệnh một cách triệt để để cùng xây dựng kinh tế và kiến thiết”.

– Báo Cứu quốc, số 181, ngày 9-3-1946.

Tháng 3, ngày 10

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào Nam Bộ, chiến sĩ ở tiền tuyến và Uỷ ban hành chính Nam Bộ, giải thích về việc ký kết Hiệp định Sơ bộ 6-3 và kêu gọi mọi người đoàn kết, tôn trọng Hiệp định.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 199-200.

Tháng 3, ngày 11

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về vấn đề ngoại giao để công bố hai điều trong Hiệp định Sơ bộ 6-3 cho thế giới biết:

1. Pháp thừa nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một nước tự do.

2. Cuộc đàm phán chính thức Việt – Pháp sẽ tiến hành sau khi Hiệp định Sơ bộ 6-3 được ký kết.

Hội đồng quyết định sẽ cử một phái đoàn đi Trung Hoa để tỏ rõ thiện chí của ta nhờ Trung Hoa giúp Việt Nam, v.v.. Sau đó, Hội đồng bàn về vấn đề nội chính và quân chính.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi sau khi ký Hiệp định Sơ bộ 6-3 gửi Chính phủ và nhân dân thế giới, cùng đồng bào toàn quốc. Lời kêu gọi nêu rõ thiện chí của Chính phủ, đồng thời tố cáo phía Pháp đã có những hành động vi phạm Hiệp định. Người kêu gọi đồng bào trong nước hãy bình tĩnh, sẵn sàng chờ lệnh Chính phủ và “thiết tha kêu gọi nhân dân và Chính phủ cả thế giới, nhất là nhân dân Pháp, hãy ủng hộ chính nghĩa làm sao cho bên phía Pháp thi hành đúng bản Hiệp định Sơ bộ, để đi đến kết quả hoà hảo cho hai dân tộc và bảo vệ nền hoà bình thế giới”.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 201-202.

Tháng 3, ngày 13

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo tình hình quan hệ với Pháp, bàn về việc thi hành Hiệp định Sơ bộ 6-3, vấn đề cử người đi Trung Hoa và đi Pháp (theo đề nghị của Chủ tịch và ông Bộ trưởng Bộ Ngoại giao phải được 2/3 Hội đồng Chính phủ tán thành). Hội đồng quyết định Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ ra một bản tuyên bố nói rõ Pháp đã không theo đúng bản Hiệp định Sơ bộ 6-3 và phải chịu trách nhiệm nếu tình hình xấu xảy ra.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 3, ngày 15

Bài viết Phải đình chỉ ngay những cuộc đánh úp tại Nam Bộ và Nam Trung Bộ (ký bút danh Q.T) của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên báoCứu quốc, số 187, lên án những luận điệu và hành động vi phạm Hiệp định sơ bộ của thực dân Pháp, kêu gọi binh lính Pháp hãy ngừng bắn vào đồng bào, bộ đội Việt Nam, đồng thời kêu gọi các chiến sĩ Việt Nam luôn luôn sẵn sàng và quyết tâm chiến đấu cho giang sơn Tổ quốc, nếu người Pháp định lừa bịp và không thành thực ký kết với ta theo nguyên tắc bình đẳng.

Kết luận, bài báo viết: “Tóm lại, muốn Việt – Pháp đi tới chỗ thoả thuận có lợi cho cả đôi bên, người Pháp phải thành thực từ lời nói cho chí hành động, theo đúng bản Hiệp định đã ký mà đình chỉ ngay những cuộc xung đột ở Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ”.

9 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ thảo luận vấn đề quan hệ với Pháp. Hội đồng quyết định cần lập Hội đồng tham mưu Việt – Pháp để định rõ thời gian, địa điểm, số lượng và đường đi của quân đội Pháp để tránh những cuộc xung đột.

Tại Bắc Bộ phủ, họp mặt với các uỷ viên tuyên truyền các tỉnh Bắc Bộ, Người nêu rõ nhiệm vụ của các báo và các ban tuyên truyền hiện nay là “hướng dẫn lòng yêu nước và chí cương quyết cố giành độc lập hoàn toàn của đồng bào một cách ôn hoà, bình tĩnh, có lợi cho ngoại giao…, cần phải giải thích cho toàn dân hiểu rõ con đường đi của Chính phủ khi ký với Pháp bản Hiệp định Sơ bộ” và nhấn mạnh “Bình tĩnh không phải là nhu nhược, cũng không phải là nhượng bộ, nhưng để tỏ ra rằng dân chúng có kỷ luật, dân chúng cũng như một đội quân. Binh sĩ không biết trọng kỷ luật, tất nhiên đội quân không thành; dân chúng không có kỷ luật, việc làm khó thành công.

Muốn đi đúng thời cuộc, chúng ta nên đặt lý trí lên trên tình cảm. Và muốn nhận định thời cuộc, chúng ta không thể không đứng ở địa vị khách quan”.

Cùng ngày, Người gặp J.Xanhtơny và tỏ ý lấy làm tiếc vì có sự căng thẳng hiện thời. Người đề nghị, để làm dịu tình hình cần nhanh chóng thông báo chính thức ngày lên đường của phái đoàn Việt Nam.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 28 về việc cử ông Tạ Quang Bửu làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 187 và 188, ngày 15 và ngày 16-3-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 203-205.

– Philippe Devillers: Paris – Saigon – Hanoi, Gallimard/Julliard, Paris, 1988, p.155, 171.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 3, ngày 16

Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi nhân dân thi hành đúng bản Hiệp định Sơ bộ Việt – Pháp. Người nhắc nhở “trong lúc hai bên sắp đàm phán, thì cần gây nên một không khí thuận tiện cho sự đàm phán. Vậy tôi mong rằng quốc dân giữ lòng kiên quyết nhưng bình tĩnh, các báo thì bình luận một cách chính đáng, những lời lẽ nên cân nhắc… tuyệt đối phải bảo vệ tính mệnh, tài sản của người Pháp cũng như người Trung Hoa, để tỏ rằng dân ta là một dân tiên tiến, một dân có kỷ luật”… “Chúng ta phải làm đúng bản Hiệp định. Đối với họ tuyệt đối không được xung đột, đồng thời phải gây thiện cảm. Chúng ta phải tỏ cho họ biết rằng dân ta yêu tự do, độc lập, trọng hoà bình, tín nghĩa”.

Cùng ngày, báo Dân Thanh đăng NGHIÊM LỆNH của Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sau đây:

“Trong Hiệp định Sơ bộ, Chính phủ Pháp đã công nhận nước ta là một nước Cộng hoà tự do trong Liên bang Pháp quốc. Chính phủ ta nhận để quân đội Pháp đến thay thế cho quân đội Trung Quốc đóng lại những nơi do Chính phủ ta và đại biểu Pháp đã thoả thuận. Cuộc đàm phán chính thức sắp mở với Chính phủ Pháp. Muốn cuộc đàm phán thi hành cần phải giữ lấy một không khí ôn hoà giữa người Việt với người Pháp. Vì vậy, Chính phủ hạ nghiêm lệnh sau đây:

1. Tuyệt đối cấm chỉ mọi sự khiêu khích đối với những kiều dân và quân đội Pháp.

2. Ai làm tổn hại đến tính mạng và tay sai của kiều dân và quân nhân Pháp sẽ bị nghiêm trị.

Hà Nội, ngày 16-3-1946

Chủ tịch Hồ Chí Minh (đã ký)”.

– Báo Cứu quốc, số 188, ngày 16-3-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 206-207.

– Báo Dân Thanh (94 Hàng Gai, Hà Nội), ngày 16-3-1946.

Tháng 3, ngày 18

8 giờ 15, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo tình hình quân đội Pháp lên Hà Nội vào ngày 18 tháng 3 4); việc liên lạc với bộ đội của các chính đảng ở địa phương để thống nhất quân đội, bàn về vấn đề tiền cho phái đoàn đi Trung Hoa và giải quyết việc biểu tình bất hợp pháp chiều ngày 16 tháng 3, v.v..

17 giờ, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tướng Lơcléc dẫn đầu phái đoàn Pháp, đến chào Người. Tại buổi tiếp, Chủ tịch nghe Uỷ viên Cộng hoà Pháp tại Việt Nam J.Xanhtơny giới thiệu về tướng Lơcléc. Trong tiệc rượu, Người nói: … “Trong cuộc bang giao giữa chúng ta, nếu Anh, Mỹ đã đi trước chúng ta vì đã hứa cho Ấn Độ và Phi Luật Tân (Philíppin) được độc lập, thì chúng tôi cũng có thể tự hào rằng Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946 đã cùng ký kết theo một tinh thần đó. Thực vậy, việc mà nước Pháp mới đã thừa nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tự do là một dấu đầu tiên để đưa nước chúng tôi tới độc lập hoàn toàn một cách chắc chắn (…). Tôi hết lòng hy vọng rằng toàn thể nước Pháp mới và nước Việt Nam mới sẽ nêu ra trước hoàn cầu một cái gương sáng: cái gương hai nước biết cùng nhau giải quyết được hết các vấn đề khó khăn gai góc ngay sau cuộc tổng đảo lộn của hoàn cầu, bằng cách liên hiệp với nhau và hiểu biết lẫn nhau… để mưu hạnh phúc cho cả hai dân tộc và để mưu hoà bình cho thế giới”.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Daniel Hemery: Ho Chi Minh de lIndochine au Vietnam, Decouvertes Gallimard, Paris, 1990, p.95.

– Báo Cứu quốc, số 192, ngày 20-3-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 208-209.

– Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr.404-406.

– J. Xanhtơny: Câu chuyện về một nền hoà bình bị bỏ lỡ, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2003, tr. 258.

Tháng 3, ngày 19

8 giờ 30, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nhà báo Bỉ Hótsen (Houtschen). Người hỏi thăm về tình hình chính trị ở Bỉ và trả lời nhà báo về Hiệp định Sơ bộ Việt – Pháp, việc quân Pháp đến Hà Nội, việc cuộc đàm phán chính thức sắp tới ở Pari và tinh thần dân chúng miền Nam Việt Nam…

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 29, về việc trích hai triệu đồng (2.000.000đ.00) ở ngân sách toàn quốc để Bộ Ngoại giao chi tiêu về những công việc đặc biệt.

– Báo Cứu quốc, số 193, ngày 21-3-1946.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 3, ngày 20

8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo tình hình quân Pháp tới Hà Nội không xảy ra điều gì đáng tiếc. Về tin quân đội Việt Minh và Việt Nam Quốc dân Đảng xung đột, Người nêu ý kiến: Quân uỷ và Bộ Quốc phòng phụ trách dàn xếp các công việc ấy, không bàn chi tiết ở Hội đồng, “miễn là dàn xếp sao cho đại sự thì thành tiểu sự và tiểu sự thì thành vô sự”. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thông báo về việc Pháp muốn mời ta tham gia cuộc duyệt binh ngày 22 tháng 3 tại Hà Nội. Hội đồng quyết nghị Việt Nam sẽ tham gia nhưng sắp xếp để cuộc duyệt binh quy mô nhỏ chừng nào hay chừng ấy và nhất định không để quân Pháp đi qua các phố đông người Việt Nam ở.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận được bức Công hàm của Đácgiăngliơ đề ngày 17-3-1946 do J.Xanhtơny trao lại. Người chấp thuận về thể thức cuộc gặp do Đácgiăngliơ đề nghị trong Công hàm 5).

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Đông, cảm ơn đồng bào đã gửi thư thăm Người. Thư có đoạn: “Tôi luôn nhớ đến những lúc tôi đau ốm, anh chị em săn sóc ân cần như ruột thịt. Vì vậy, người tôi tuy có xa cách nhưng lòng tôi vẫn luôn luôn gần gũi anh em. Tôi chắc rằng cái tình thân ái ấy không bao giờ phai lạt”.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Amiral d’Argenlieu: Chronique dIndochine 1945-1947, Albin Michel, Paris, 1985, p.223.

– Philippe Devillers: Paris – Saigon – Hanoi, Gallimard/Julliard, Paris, 1988, p.172.

– Báo Cứu quốc, số 192, ngày 20-3-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 210.

Tháng 3, ngày 22

8 giờ, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh báo cáo về việc liên lạc giữa Chính phủ và Ban Thường trực Quốc hội, về việc tổ chức kỷ niệm ngày mất của cụ Phan Chu Trinh (ngày 24 tháng 3), và nghe báo cáo về việc duyệt binh, về các địa điểm cho quân Pháp đóng và về tình hình tài chính.

19 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và tướng Lơcléc cùng các đại biểu quân đội Mỹ, Anh; quân đội và đoàn ngoại giao Trung Quốc dự tiệc chiêu đãi do tướng Lư Hán mời trước khi ông ta về nước. Người đã ký tên (bằng chữ Hán) vào tờ thực đơn.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 30, về việc bổ nhiệm chức Giám đốc Việt Nam công an vụ.

– Sắc lệnh số 31 NV/CC, cử ông Phạm Khắc Hoè giữ chức Đổng lý Văn phòng Bộ Nội vụ thay ông Hoàng Minh Giám.

– Sắc lệnh số 32, quy định sửa đổi Sắc lệnh số 17 ngày 31-1-1946, ấn định lại việc phân chia các ngân sách và mục đề ngoài ngân sách của Bình dân Ngân Quỹ tổng cục cho hai cơ quan Nông nghiệp tín dụng và Kinh tế tín dụng.

– Sắc lệnh số 33/QĐ, quy định cấp, bậc, quân phục, phù hiệu, cấp hiệu cho lục quân của toàn quốc, và sử dụng từ ngày Sắc lệnh này được ký.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 197, ngày 25-3-1946.

– Chủ tịch Hồ Chí Minh với Trung Quốc (sách ảnh), Nxb. Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc, Bắc Kinh, 1995, tr. 41.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 3, ngày 23

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Giám mục Lê Hữu Từ, nhờ Giám mục giúp Chính phủ chọn cho một vị linh mục để cùng đi với các đại biểu của Chính phủ vào miền Nam Trung Bộ uý lạo đồng bào.

– Bức thư đăng trên Tập san của Thiên Chúa giáo Sài Gòn, bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 211.

Tháng 3, ngày 24

10 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh hội kiến với Cao uỷ Pháp Đácgiăngliơ trên tuần dương hạm Êmin Béctanh, đậu tại vịnh Hạ Long, theo lời mời của Cao uỷ. Tham dự, về phía Việt Nam có Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Tường Tam, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Hoàng Minh Giám. Về phía Pháp có tướng Lơcléc, Raun Xalăng. Cuộc tiếp đón rất long trọng. Tại tiệc rượu trên tàu, sau khi Đácgiăngliơ tỏ ý hài lòng về mối quan hệ hữu nghị truyền thống giữa Pháp và Việt Nam được lập lại, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:

“Vâng, thưa Ngài Cao uỷ, đúng là những quan hệ hữu nghị, nhưng quan hệ ấy phải trở thành quan hệ anh em”.

Trong cuộc hội đàm, hai bên thoả thuận:

1. Vào trung tuần tháng 4, một phái bộ đại biểu Quốc hội Việt Nam sẽ đi Pháp để tỏ tình thân thiện.

2. Một phái bộ Pháp (khoảng 10 người) sẽ sang Việt Nam, cùng phái bộ Việt Nam chuẩn bị những tài liệu cần thiết.

3. Hạ tuần tháng 5, phái bộ Việt Nam sẽ qua Pháp mở đàm phán chính thức tại Pari.

Sau đó Chủ tịch Hồ Chí Minh duyệt hạm đội theo lời mời của viên Cao uỷ.

Trên máy bay trở về Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với tướng Raun Xalăng: “Nếu Đô đốc muốn đem tàu bè ra để lung lạc tôi thì ông ta đã lầm to. Những tàu đó không thể nào đi ngược các dòng sông của chúng tôi”.

– Báo Cứu quốc, số 199, ngày 27-3-1946.

– Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr. 414-417.

– Amiral d’Argenlieu: Chronique dIndochine 1945-1947, Albin Michel, Paris, 1985, p.229-234.

– Philippe Devillers: Paris – Saigon – Hanoi, Gallimard/Julliard, Paris, 1988, p.173.

Tháng 3, ngày 25

8 giờ 15, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ. Hội đồng nghe ông Nguyễn Tường Tam báo cáo cuộc hội kiến giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với Đácgiăngliơ ở vịnh Hạ Long ngày 24 tháng 3 và thoả thuận về việc đoàn Việt Nam sang Pháp đàm phán. Sau đó, Hội đồng bàn về vấn đề tổ chức hành chính ở những nơi Pháp đóng quân tại Nam Bộ và Nam Trung Bộ, về việc lập Kinh tế uỷ viên Hội ở Bộ Kinh tế.

Cùng ngày, Người tiếp các nhà báo và phát biểu ý kiến về cuộc tranh luận về vấn đề Việt Nam tại Quốc hội Pháp và gửi thư cảm ơn Đô đốc Đácgiăngliơ về cuộc đón tiếp trên tuần dương hạm Êmin Béctanh.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 34, quy định tổ chức của Bộ Quốc phòng gồm: một văn phòng (có bốn phòng sự vụ) và 10 cục chuyên môn (như chính trị, tình báo, quân nhu, quân giới, quân y…). Đồng thời quy định nhiệm vụ của văn phòng, phòng sự vụ, cục, v.v..

– Sắc lệnh số 35, về việc cử các ông: Nguyễn Ngọc Minh, giữ chức Chủ nhiệm Bộ Quốc phòng; Hoàng Đạo Thuý, giữ chức Chính trị Cục trưởng; Vũ Anh, giữ chức Chế tạo Cục trưởng; Vũ Văn Cẩn, giữ chức Quân y Cục trưởng,…

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 3, ngày 26

Chiều, Chủ tịch Hồ Chí Minh mở tiệc chiêu đãi những người có quan hệ trong Bộ Tư lệnh quân đội Trung Hoa dân quốc tại Việt Nam.

– Chủ tịch Hồ Chí Minh với Trung Quốc (sách ảnh), Nxb. Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc, Bắc Kinh, 1995, tr. 41.

– Bảo tàng Hồ Chí Minh: Biên niên sự kiện Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Hà Nội, 2004, tr. 139.

Tháng 3, ngày 27

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo về bộ máy tổ chức Bộ Xã hội, Bộ Ngoại giao; Sắc lệnh bảo đảm tự do cá nhân; Sắc lệnh tạm thời về chế độ báo chí; tình hình tài chính; việc Trung Hoa muốn mua và mượn đường sắt. Vì thấy mỗi bộ tổ chức mỗi khác, Người nêu ý kiến về bộ máy nên có một sơ đồ tổ chức chung cho các Bộ.

Cùng ngày, bài viết Sức khoẻ và thể dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đăng trên báo Cứu quốc, số 199, kêu gọi đồng bào tập thể dục vì: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khoẻ mới làm thành công. Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khoẻ tức là cả nước mạnh khoẻ.

Vậy nên luyện tập thể dục, bồi bổ sức khoẻ là bổn phận của mỗi một người yêu nước”. Người mong “đồng bào ta ai cũng gắng tập thể dục. Tự tôi, ngày nào tôi cũng tập”.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 36, quy định tổ chức bộ máy hành chính của Bộ Xã hội gồm một Văn phòng Bộ và ba Nha chuyên môn (Y tế trung ương, Cứu tế trung ương và Lao động trung ương). Quy định mỗi Nha có một giám đốc điều khiển và nhiệm vụ của mỗi Nha.

– Sắc lệnh số 37 về việc cử các ông: Bác sĩ Vũ Đình Tụng, Giám đốc Nha Y tế Bắc Bộ, kiêm Giám đốc Nha Y tế  trung ương; bác sĩ Đỗ Xuân Hợp, Chủ tịch cơ quan Cứu tế xã hội Bắc Bộ, kiêm Giám đốc Nha Cứu tế trung ương; và bổ nhiệm Giám đốc Nha Lao động trung ương và Chánh Văn phòng Bộ Xã hội.

– Sắc lệnh số 38, về việc thiết lập trong Bộ quốc gia Giáo dục một Nha Thanh niên và Thể dục gồm một Phòng Thanh niên và một Phòng Thể dục trung ương.

– Sắc lệnh số 39, về việc bổ nhiệm Chánh văn phòng Bộ Quốc phòng.

Cũng trong ngày, Người căn dặn đồng chí Nguyễn Triệu phụ trách công tác bảo vệ tại Bắc Bộ phủ: Một là, tổ chức ngay một lực lượng gồm những anh em trung kiên vừa ở chiến khu về lập thành một tiểu đội, quần áo như dân thường. Khi nào Bác có việc, hoặc ra ngoại thành thì đi theo giúp đỡ. Hai là, cháu là người chỉ huy phải thuộc kỹ lưỡng đường đi lối lại, ngõ ngách ra vào để bố trí kế hoạch tác chiến và hành động lúc có sự cố và phải chủ động đề phòng mọi bất trắc từ bên ngoài cũng như từ trong Bắc Bộ phủ.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 199, ngày 27-3-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 212.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Nguyễn Triệu: Những ngày đầu ở Bắc Bộ phủ, in trong cuốn Bác Hồ sống mãi với chúng ta, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 36-37.

Tháng 3, ngày 29

8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo về vấn đề xin đăng ký thầu những công việc cho phép, vấn đề phản kháng quân Pháp chiếm đóng Sở Tài chính, vấn đề thuế, vấn đề bổ nhiệm nhân viên cao cấp Bộ Canh nông.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 40 về những quy định, luật lệ tạm thời cho phép bắt giam những công dân có hành vi phạm pháp để điều tra, nghiên cứu, truy tố và xét xử; quy định hình phạt và trách nhiệm các cơ quan địa phương. Sắc lệnh gồm 4 tiết với 24 điều.

– Sắc lệnh số 41 về những quy định tạm thời cho chế độ báo chí và xuất bản, gồm 3 mục với 14 điều.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 3

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ một số tài liệu thông qua ông S. L. Nótlingơ trong Đoàn cứu trợ nhân đạo Mỹ, nhân dịp kết thúc công việc ở Việt Nam trở về Mỹ.

– Thư của ông S. L. Nótlingơ gửi Hồ Chí Minh đề ngày 24-8-1968, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

 _________________________________

1) Thành phần của Chính phủ kháng chiến gồm:

1.  Chủ tịch Hồ Chí Minh
2.  Phó Chủ tịch Nguyễn Hải Thần
3.  Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Tường Tam
4.  Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng
5.  Bộ trưởng Bộ Kinh tế Chu Bá Phượng
6.  Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến
7.  Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Anh
8.  Bộ trưởng Bộ Xã hội, kiêm Y tế, Cứu tế và Lao động Trương Đình Tri
9.  Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đặng Thai Mai
10.                 Bộ trưởng Bộ Tư pháp Vũ Đình Hoè
11.                 Bộ trưởng Bộ Giao thông Công chính Trần Đăng Khoa
12.                 Bộ trưởng Bộ Canh nông Bồ Xuân Luật

2) Bản kiến nghị đó được chuyển cho tướng R. Xalăng vào 21 giờ hôm đó.

3) Phía Pháp còn có các ông R. Xalăng và L. Pinhông.

4) Theo thoả ước Pháp – Tưởng, từ ngày 15 đến ngày 31-3-1946, 20 vạn quân Tưởng sẽ rút khỏi miền Bắc Đông Dương, thay vào đó là binh lính Pháp. Ngày 18-3 là ngày 200 xe nhà binh Pháp chở 1.200 binh lính Pháp từ Hải Phòng lên Hà Nội.

5) Đácgiăngliơ đề nghị gặp riêng Chủ tịch Hồ Chí Minh vào ngày 24-3 tại tuần dương hạm Êmin Béctanh gần Hải Phòng với những nghi lễ trọng thể xứng đáng với cương vị Chủ tịch nước. Trong Công hàm, Đácgiăngliơ còn thông báo Chính phủ Pháp cũng mong muốn chính thức mời Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Pháp để đặt quan hệ hữu nghị trên những cơ sở vững chắc giữa hai Chính phủ.

Đácgiăngliơ đề nghị J.Xanhtơny trao ngay Công hàm cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng vì nhận thấy chưa có thời điểm thuận lợi nên J.Xanhtơny và Lơcléc để đến ngày 20 mới trao.

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 3 (Năm 1946 – Tháng 2)

Tháng 2, ngày 1 (30 tháng Chạp Ất Dậu)       

Chiều, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận được một bức thêu (bằng lụa đỏ, thêu bài thơ thất ngôn bát cú, nhan đề Kính tặng các bậc Anh hùng dân tộc) của nữ thi sĩ Ngân Giang.

Người làm hai câu thơ tặng lại:

“Gửi lời cảm tạ Ngân Giang,

Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu”.

Tối, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi chúc Tết gia đình ông Từ Lâm, bán sách cũ ở Cửa Nam; một gia đình nghèo ở ngõ Hàng Đũa 1); một gia đình buôn bán ở phố Phúc Kiến 2); một gia đình công chức ở phố Hàng Lọng3) và thăm Cố vấn Vĩnh Thuỵ.

Gần giờ giao thừa, Người và một nhà báo Mỹ cải trang đến thăm đền Ngọc Sơn cùng bà con Hà Nội đón giao thừa.

– Báo Cứu quốc, số 155 và 156, ngày 5 và ngày 6-2-1946.

Tháng 2, ngày 2 (mồng Một Tết Bính Tuất)

Thư Chúc mừng năm mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên báo Cứu quốc, số 155. Trong thư, Người chúc đồng bào cả nước:

“Trong năm Bính Tuất mới

Muôn việc đều tiến tới

Kiến quốc chóng thành công

Kháng chiến mau thắng lợi”.

Người thay mặt Chính phủ và đồng bào cả nước “chúc các chiến sĩ năm mới mạnh khoẻ và thắng lợi”.

Nhân dịp này, Người thay mặt nhân dân Việt Nam “chào mừng toàn thể anh em Trung Hoa ở đây và ở Trung Quốc, năm mới muôn sự tốt lành”.

7 giờ 30, Người sang nơi làm việc. Trên đường đi, Người ghé thăm và chúc Tết Sở Cảnh sát Trung ương ở phố Hàng Trống.

10 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Nhà hát Thành phố chúc Tết đồng bào. Tại đây, Người đọc lời Chúc mừng năm mới.

Trước khi ra về, Người ra bao lơn Nhà hát vẫy chào đồng bào mít tinh trên Quảng trường.

Trưa, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự tiệc tại Bắc Bộ phủ cùng anh em Vệ quốc đoàn.

14 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm thương, bệnh binh Pháp tại Bệnh viện Đồn Thuỷ (nay là Bệnh viện Quân y 108) và Bệnh viện Phủ Doãn (nay là Bệnh viện Hữu nghị Việt – Đức).

16 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Ấu trĩ viên chia kẹo và ăn Tết cùng các cháu nhi đồng rồi trở lại nơi làm việc.

19 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời cơ quan về nhà.

– Báo Cứu quốc, số 155 và 156, ngày 5 và ngày 6-2-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 169-170.

Tháng 2, ngày 3 (mồng Hai Tết Bính Tuất)

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm “Phiên chợ mười ngày” tổ chức tại Chùa Láng (xã Yên Lăng, huyện Từ Liêm, Hà Nội). Trong buổi gặp gỡ với đông đảo nhân dân mít tinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói về ý nghĩa của “Ngày Nam Bộ kháng chiến”, biểu dương nhân dân Hà Nội đã tích cực hưởng ứng lời kêu gọi của Chính phủ, sốt sắng tham gia phong trào ủng hộ đồng bào Nam Bộ chống Pháp. Người kêu gọi “Hãy đoàn kết muôn người như một, ra sức thực hiện khẩu hiệu “Tấc đất, tấc vàng”, đẩy mạnh tăng gia sản xuất để chống đói và tiếp tế cho bộ đội” và chúc toàn thể nhân dân hưởng Tết độc lập đầu tiên vui vẻ, hạnh phúc và tiết kiệm.

– Báo Cứu quốc, số 156, ngày 6-2-1946.

Tháng 2, ngày 4

8 giờ 30, tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ. Người nêu ý kiến ở Trung Quốc có chi nhánh của Tổng hội Cứu tế quốc tế, Hội Cứu đói của ta nên viết thư cho chi nhánh ấy và cho Hội Hồng thập tự quốc tế. Người nhắc nhở cần chuẩn bị gấp cho kỳ họp đầu tiên của Quốc hội.

Hội nghị còn bàn về vấn đề in sách tuyên truyền để phát hành ở trong nước và một số nước ngoài.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 5

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 19, về việc giải tán Uỷ ban Trung ương Hội Tương trợ và Cứu tế xã hội Bắc Kỳ (Comité Central d’Aide Mutuelle et d’Assistance sociale du Tonkin) và các Chi hội ở các tỉnh. Tài sản của những Hội này giao cho Bộ Cứu tế quản.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 6

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 20, về việc bãi bỏ Sở Kiểm soát tài chính. Nhân viên và tài sản (động sản và bất động sản) của Sở nhập vào Bộ Tài chính.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 7

8 giờ, tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về các vấn đề: ngoại giao, tư pháp, tài chính, cứu đói. Về ngoại giao, Người thông báo Hội nghị Liên hợp quốc có lẽ sẽ bàn về vấn đề “thác trị” nhưng chưa định nghĩa rõ ràng hai chữ ấy và nhắc nhở các thành viên của Hội đồng Chính phủ nên lưu ý và sẽ thảo luận về vấn đề này.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 8

17 giờ, tại một phòng nhỏ trong Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tướng Pháp Raun Xalăng đến cảm ơn Người đã tới thăm binh sĩ Pháp điều trị tại bệnh viện Đồn Thuỷ và Phủ Doãn ngày 2-2 (mồng Một Tết) vừa qua. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với Xalăng:

“Tôi là người bạn trung thành của nước Pháp. Hôm đó là ngày Tết Nguyên Đán. Tôi vui mừng được có dịp bày tỏ tình cảm của tôi đối với nước Pháp. Ngài hãy tin ở tôi. Phần lớn người Đông Dương không bài Pháp. Nhưng rất tiếc, những sự kiện ở Nam Bộ và thái độ của Chính phủ Pháp đang khơi cái hố giữa các ngài và chúng tôi…”.

Về đề nghị của tướng R. Xalăng “để quân đội Pháp vào lập lại trật tự” cho Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:

“Tôi không thể làm như vậy. Nếu làm như vậy, tôi sẽ là kẻ phản quốc – Và Người nói tiếp – Pháp là một nước lớn. Chúng tôi yêu nước Pháp, nhưng không muốn làm nô lệ, chúng tôi muốn sống tự do. Chúng tôi muốn có quan hệ rất nhiều về kinh tế với Pháp. Chúng tôi muốn có những quan hệ rộng lớn nữa về văn hoá. Chúng tôi muốn có những cán bộ chuyên viên kỹ thuật người Pháp trên mọi lĩnh vực. Nhưng chúng tôi phải là chủ nhân trên đất nước chúng tôi…”.

Trước khi chia tay, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với tướng R. Xalăng:

“Tôi biết tướng quân là một người nhân hậu. Buổi chiều nay, chúng ta đã là bạn. Ngày mai có thể chúng ta sẽ là thù. Tôi mong chúng ta vẫn mãi sẽ là bạn”.

– Philippe Devillers: Paris – Saigon – Hanoi, Gallimard/Julliard, 1988, p.130-131.

– Lê Kim: Bác Hồ tiếp xúc với tình báo phương Tây, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2000, tr. 94-98.

Tháng 2, ngày 9

Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp L. Capuýt. Người nêu rõ lập trường của Việt Nam là kiên trì tránh mọi sự đụng độ với nước Pháp mới và kêu gọi Pháp hãy hiểu mong muốn của Người là để đất nước Việt Nam, đàn ông và đàn bà được làm những công dân tự do.4)

– Philippe Devillers: Paris – Saigon – Hanoi, Gallimard/Julliard, 1988, p.131.

Tháng 2, trước ngày 13

Tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp phóng viên báo Pháp Paris – Saigon.

Người chủ động hỏi trước phóng viên Pháp về đời sống chính trị ở Pháp, về phong trào Cộng hoà bình dân và khuynh hướng Hội nghị lập hiến. Về quan hệ Việt – Pháp, Người cho rằng nếu giải quyết được vấn đề chính trị thì mọi việc đều có thể dàn xếp được và kết luận: “Dù rằng nước Pháp đã bị những vết thương sâu, nước Pháp vẫn có thể giúp đỡ chúng tôi, cũng như chúng tôi có thể giúp đỡ nước Pháp trong giới hạn sức lực của chúng tôi. Chúng tôi không thù ghét nước Pháp và dân tộc Pháp. Chúng tôi không hề muốn cắt đứt mối dây liên lạc giữa hai dân tộc. Nhưng chúng tôi muốn rằng nước Pháp có sáng kiến đi trước một bước thành thực”.

Trong buổi tiếp, Người nói bằng tiếng Pháp, thỉnh thoảng xen vào một câu tiếng Anh.

– Báo Cứu quốc, số 171, ngày 23-2-1946.

Tháng 2, ngày 14

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Lời cảm ơn tới nhân dân cả nước, đồng bào các dân tộc thiểu số, kiều bào ở Lào, Xiêm, Trung Quốc và các đoàn thể đã gửi điện, thư và quà chúc Tết Người. “Tiếc vì bận việc không thể cảm ơn từng người, tôi xin tất cả đồng bào nhận lời cảm ơn chung với lòng thân ái của tôi”.

9 giờ, tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về Sắc lệnh tổ chức Toà án Quân sự và giao quyền tư pháp cho Uỷ ban hành chính tại các tỉnh chưa có toà án, và vấn đề cung cấp thuốc ký ninh (chữa sốt rét) cho quân đội.

Cùng ngày, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp các cụ làng Xuân Tảo xin gặp Người để báo cáo kết quả cuộc vận động thực hiện đời sống mới và nhờ chuyển 600 đồng góp vào Quỹ Cứu quốc để ủng hộ các chiến sĩ đang chiến đấu ngoài mặt trận. Người tặng các cụ bức ảnh chân dung có ghi 4 chữ Hán “Xuân Tảo huệ tồn” 5).

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 21, ấn định về tổ chức của Toà án Quân sự thiết lập ở Bắc, Trung và Nam Bộ gồm 16 điều.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 163, ngày 14-2-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 174.

– Ban Thông tin Văn hoá huyện Từ Liêm: Những lần đón Bác, Nxb. Hà Nội, 1984, tr.45.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 15

19 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự Hội nghị liên tịch các đoàn thể bàn về tổ chức Chính phủ liên hiệp chính thức.

– Bản sao Biên bản Hội nghị Trung ương, lưu tại Cục Lưu trữ Trung ương Đảng, phông Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 16

Chủ tịch Hồ Chí Minh có cuộc gặp gỡ với J.Xanhtơny để thảo luận tiếp về những vấn đề chính trị để đi tới Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3. Hai bên đã đồng ý dùng chữ “Chính phủ tự quyết” thay cho chữ “tự do của Chính phủ” và “tự do trong Liên hiệp Pháp”18, lần đầu tiên hé ra khả năng có thể đi đến một thoả hiệp.

Kể từ đầu tháng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các cộng sự đã nhiều lần gặp gỡ J. Xanhtơny để bàn về một thoả hiệp Pháp – Việt nhằm chấm dứt cuộc xung đột giữa hai bên đang có nguy cơ lan rộng. Tuy nhiên những cuộc đối thoại này nhiều lần bị gián đoạn do âm mưu muốn quay trở lại Đông Dương của Pháp.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư đến Tổng thống Mỹ H. Tơruman cảm ơn Tổng thống và nhân dân Mỹ “về sự quan tâm có lợi cho các dân tộc thuộc địa mà các đại diện của Ngài tại tổ chức Liên hợp quốc đã bày tỏ”. Sau khi tố cáo thực dân Pháp, vì muốn lập lại ách thống trị của họ ở Việt Nam, đang tiến hành một cuộc chiến tranh “tàn sát và không thương xót”, một cuộc chiến tranh “trái với những nguyên tắc của luật pháp quốc tế và trái với những cam kết của các nước Đồng minh trong chiến tranh thế giới”, “một mối đe doạ trực tiếp đối với an ninh thế giới”, Người nêu rõ: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi, sau quá nhiều năm chịu sự cướp bóc và tàn phá, mới chỉ đang bắt đầu công cuộc xây dựng. Cần phải có an ninh và quyền tự do”… “An ninh và tự do chỉ có thể được bảo đảm bằng sự độc lập của chúng ta đối với bất kỳ một cường quốc thực dân nào, và bằng sự hợp tác tự nguyện của chúng ta với tất cả các cường quốc khác. Chính là với niềm tin vững chắc này mà chúng tôi yêu cầu Hợp chủng quốc, với tư cách là những người bảo vệ và những người bênh vực Công lý thế giới, thực hiện một bước quyết định ủng hộ nền độc lập của chúng tôi… Chúng tôi sẽ làm hết sức mình để làm cho nền độc lập và sự hợp tác này trở nên có lợi cho toàn thế giới”.

– Philippe Devillers: Paris – Saigon – Hanoi, Gallimard/Julliard, Paris, 1988, p.138-139.

– United States – Vietnam relations 1945 – 1967, U.S. Government printing office, Washington, 1971, p. 95-97.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 175-177.

Tháng 2, ngày 18

8 giờ 45, tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn việc chuẩn bị cho kỳ họp Quốc hội, nghe báo cáo về tình hình quân sự ở miền Nam và bàn vấn đề sinh viên các trường đại học có nguyện vọng tham gia công tác quân sự, tuyên truyền.

Cùng ngày, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tướng Lơcléc, Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Viễn Đông để trao đổi về một cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Pháp.

Cũng cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Công hàm tới Chính phủ các nước Trung Quốc, Mỹ, Liên Xô và Anh. Người vạch rõ âm mưu tái xâm lược của thực dân Pháp đối với Việt Nam, mở đầu bằng sự kiện ngày 23-9-1945 Pháp tấn công Sài Gòn, và khẩn thiết yêu cầu: 1- “Thực hiện tất cả những bước đi thích hợp để bằng sự can thiệp khẩn cấp ngăn chặn cuộc đổ máu đang diễn ra ở Nam Việt Nam, và đi tới một giải pháp cấp bách và hợp lý cho vấn đề Đông Dương… Trong khi tin tưởng chờ đón một biện pháp tích cực của các Chính phủ Oasinhtơn, Mátxcơva, Luân Đôn và Trùng Khánh, chúng tôi đã xác định sẽ chiến đấu tới giọt máu cuối cùng  chống lại việc tái lập chủ nghĩa đế quốc Pháp”; 2- “Đưa vấn đề Đông Dương ra trước tổ chức Liên hợp quốc, chúng tôi chỉ đòi hỏi nền độc lập hoàn toàn, nền độc lập mà cho tới nay đã là một thực tế, và nó sẽ cho phép chúng tôi hợp tác với các quốc gia khác trong việc xây dựng nên một thế giới tốt đẹp hơn và một nền hoà bình bền vững”.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 22, về việc sửa đổi điều 65 của Sắc lệnh số 63/SL, ngày 22-11-1945, về tổ chức các Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính.

– Sắc lệnh số 22B, giao quyền tư pháp cho Uỷ ban hành chính ở những nơi chưa đặt được toà án biệt lập.

– Sắc lệnh số 22C, về việc ấn định những ngày Tết, kỷ niệm lịch sử và lễ tôn giáo, kèm theo Sắc lệnh này, sẽ được coi là những ngày lễ chính thức.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– United States – Vietnam relations 1945 – 1967, U.S. Government printing office, Washington, 1971, p. 98-100.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 178-182.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 19

Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Thông tư về việc đình công:

“Xét rằng trước tình thế nghiêm trọng bây giờ, chúng ta cần phải tập trung toàn lực để chống ngoại xâm.

Xét rằng tổng đình công là một lợi khí chỉ nên dùng để đối phó quân địch, chứ không bao giờ nên dùng để chia rẽ nội bộ.

Tôi, Chủ tịch Chính phủ lâm thời, hạ mệnh lệnh cho toàn thể viên chức và dân chúng phải làm việc như thường, trừ khi có chỉ thị của Chính phủ.

Hà Nội, ngày 19-2-1946

Chủ tịch Chính phủ lâm thời

Hồ Chí Minh”

Cùng ngày, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhan đề Gương sáng suốt của đời sống mới, đăng trên báo Dân quốc, số 136, nêu gương những việc làm tốt của các cụ phụ lão làng Xuân Tảo, làng Đình Bảng (Bắc Ninh), xã Đông Hội (Gia Khánh, Ninh Bình) và họ Nguyễn Thượng ở Thượng Phúc (Thanh Oai, Hà Tây). Kết luận, bài báo viết:

“Ba việc đó, chẳng những đã tỏ lòng vàng ngọc của đồng bào các làng xã kể trên, đồng thời cũng là một gương sáng suốt trong sự thực hành Đời sống mới cho đồng bào cả nước noi theo”.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Thông báo của Chính phủ về việc Chính phủ liên hiệp sẽ thành lập và ra mắt quốc dân.

– Báo Cứu quốc, số 168, ngày 20-2-1946.

– Báo Dân quốc, số 136, ngày 19-2-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 183.

– Bản sao Thông báo, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 21

8 giờ 30, tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ. Người báo cáo về kết quả thương lượng giữa các đảng: trong số 10 bộ, mỗi đảng sẽ giữ hai bộ, còn Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng sẽ do hai người trung lập giữ và sẽ lập một Uỷ ban kháng chiến và một Đoàn Cố vấn.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 23, về việc thống nhất các Sở Cảnh sát với các Sở Liêm phóng toàn quốc thành một cơ quan, đặt tên là “Việt Nam công an vụ”, quy định cách tổ chức và nhiệm vụ của Việt Nam công an vụ.

– Sắc lệnh số 24 NV/CC, về việc cấp một tháng lương (lương chính và các khoản phụ cấp) cho các công chức chính ngạch 6), viên chức công nhật hay làm việc có hợp đồng, xin từ dịch 7) hoặc xin nghỉ giả hạn 8) không lương từ 6 tháng trở lên, tình nguyện dự vào công việc tăng gia sản xuất ở Cao Bằng.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 23

Sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp và đề nghị ông Vĩnh Thuỵ cùng tham gia lãnh đạo Chính phủ mới.

Chiều, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp và trả lời phỏng vấn của các phóng viên về ba vấn đề liên quan đến Hiệp ước  Hoa – Pháp và cuộc đàm phán Việt – Pháp.

Trả lời câu hỏi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có cuộc trực tiếp đàm phán nào giữa đại biểu Pháp với Chính phủ như đài Sài Gòn tuyên bố chưa,Người nói:

“Người Pháp ở đây, tôi đã tiếp nhiều. Và như tôi đã nói là người thành thật muốn tiếp thì tôi tiếp, nhưng thành thật hay không, lại là một chuyện khác. Còn như nói về công khai đàm phán thì một bên có điều kiện gì để so sánh, mặc cả với bên kia, mới là đàm phán, chứ chỉ nói chuyện bông lông không thôi, gọi là đàm phán thế nào được. Cũng như người Pháp trong quân đội, người Pháp nhà báo, hay người Pháp thường, tôi đã gặp nhiều, trong câu chuyện họ hỏi tôi, tôi trả lời, không thể bảo đó là những cuộc đàm phán được… Nếu bao giờ có cuộc đàm phán, Chính phủ cũng không giấu dân vì nước mình chưa phải là một nước ngoại giao bí mật”.

Buổi tối, Người lại gặp Vĩnh Thuỵ và nói rõ ông ta có thể làm Cố vấn cho Chính phủ sắp thành lập.

– Báo Cứu quốc, số 172, ngày 24-2-1946.

– Philippe Devillers: Paris – Saigon – Hanoi, Gallimard/Julliard, Paris, 1988, p.143.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 185-186.

Tháng 2, ngày 24

Tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng bàn về tình hình và chủ trương của Đảng trong giai đoạn mới. Căn cứ vào quyết nghị của Hội nghị, Ban Thường vụ ra chỉ thị Tình hình và chủ trương, phân tích âm mưu của bọn đế quốc và vạch ra những nguyên tắc căn bản cho việc đàm phán với Pháp.

– Tư liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 25

8 giờ 30, tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo về tình hình Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ, về Bản dự thảo nội quy Quốc hội và cử một Uỷ ban để xem xét việc bổ nhiệm các thẩm phán mới.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp J.Xanhtơny thảo luận về vấn đề đàm phán Việt – Pháp và nêu rõ lập trường của Việt Nam là “Độc lập và hợp tác”. Người và J.Xanhtơny đều nhất trí cần phải tạo ra một bầu không khí hoà dịu để cuộc đàm phán trong tương lai có kết quả.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 25, sửa đổi một số điểm trong Sắc lệnh đã ký ngày 20-10-1945 về quy định quốc tịch Việt Nam.

– Sắc lệnh số 26, quy định những hành vi phá hoại tài sản công như: cầu cống, đường giao thông, đê đập, dây điện thoại… bị coi là trọng tội, sẽ bị truy tố và phạt tù từ 2 đến 10 năm hoặc xử tử, không kể chính phạm hay tòng phạm.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 173, ngày 28-2-1946.

– Amiral d’Argenlieu: Chronique dIndochine 1945-1947, Albin Michel, Paris, 1985, p.180.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 27

Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời hiệu triệu, kêu gọi đồng bào hãy cảnh giác với loại chiến tranh tâm lý mà thực dân Pháp đang tiến hành đồng thời với chiến tranh quân sự. Chúng phao tin đồn nhảm, giải truyền đơn, dán khẩu hiệu hòng gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân. Người nêu tấm gương của nhân dân Trung Quốc đã trường kỳ kháng chiến và toàn dân kháng chiến, nhờ đó mà giành được thắng lợi.

Kết luận, Người khẳng định: “Như thế, mà phải nhất định như thế, thì chúng ta mới được thắng lợi và giành được độc lập hoàn toàn”.

– Báo Sự thật, số 21, ngày 27-2-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 187-188.

Tháng 2, ngày 28

8 giờ 30, tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về vấn đề động viên nhân dân tạm tản ra khỏi Hà Nội để tránh bệnh truyền nhiễm, về việc bàn giao giữa Chính phủ cũ và mới, việc lập toà án ở Phú Thọ và tổ chức cảnh sát tư pháp tại Trung Bộ.

16 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự Hội nghị liên tịch các đảng phái bàn về việc khai mạc Quốc hội 9).

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 27 quy định hành vi bắt cóc, tống tiền, ám sát bị truy tố và phạt tù từ 2 đến 10 năm, hoặc xử tử, không kể chính phạm hay tòng phạm.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản sao Biên bản Hội nghị liên tịch, lưu tại Cục lưu trữ Trung ương.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Trong tháng

Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm ngôi đình làng Đình Bảng (Bắc Ninh), địa điểm dự bị để họp Quốc hội.

– Tài liệu lưu trữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Trong tháng

Chủ tịch Hồ Chí Minh, thay mặt Chính phủ, tặng đồng bào miền Nam danh hiệu vẻ vang: Thành đồng Tổ quốc.

– Bác Hồ với Hà Bắc, Ty Văn hoá Hà Bắc xuất bản, 1972, tr.18.

Trong tháng

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Tổng thống Mỹ H. Truman, cảm ơn Tổng thống và nhân dân Mỹ ủng hộ nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến đấu chống phát xít Nhật và đề nghị Mỹ với tư cách là người bảo vệ và những chiến sĩ của công bằng thế giới ủng hộ nền độc lập của Việt Nam.

– Truyện kể về Bác Hồ những chặng đường trường kỳ kháng chiến, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.123.

__________________________________________________

1) Ngõ Hàng Đũa, nay là ngõ Lương Sử C.

2) Phố Phúc Kiến, nay là phố Lãn Ông.

3) Phố Hàng Lọng, nay là phố Lê Duẩn.

4) Ngày hôm sau, L.Capuýt đã gặp tướng R.Xalăng và yêu cầu R.Xalăng chấp nhận và ủng hộ nguyện vọng này của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

5) “Xin Xuân Tảo nhận cho” (Cách nói lời kính trọng thường ghi đề tặng trên các tặng phẩm như ảnh, sách…).

6) Công chức trong biên chế.

7) Công chức xin thôi việc.

8) Công chức xin nghỉ phép dài hạn.

9) Hội nghị có đại biểu của Việt Minh, Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội, Đảng Dân chủ, Việt Nam Quốc dân Đảng. Ông Huỳnh Thúc Kháng là đại biểu không đảng phái, tham dự với tư cách đại biểu dự thính.

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 3 (Năm 1946 – Tháng 1)

Tháng 1, ngày 1

8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Chính phủ liên hiệp lâm thời14 ra mắt đồng bào tại Quảng trường Nhà hát thành phố Hà Nội. Người giới thiệu thành phần Chính phủ và cùng các thành viên Chính phủ làm lễ tuyên thệ 1):

Sau tiếng hô “xin thề”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn đoàn kết và chúc tất cả mọi người một năm mới vui vẻ.

Cùng ngày, Người ra Tuyên bố chính sách của Chính phủ liên hiệp lâm thời về đối nội, đối ngoại và kêu gọi toàn thể nhân dân ủng hộ để Chính phủ có thể đi đến thành công.

Cũng cùng ngày, Người còn gửi Thư chúc mừng năm mới đồng bào toàn quốc và Thư chúc Tết Việt kiều ở Lào, Xiêm.

– Báo Cứu quốc, số 131, ngày 2-1-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 137-142.

– Tuyên bố đối nội, đối ngoại của Chính phủ liên hiệp lâm thời, lưu tại Cục Lưu trữ Trong ương Đảng, phông Hồ Chí Minh.

– Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Văn phòng Quốc hội: Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946-1960, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 38-39.

Tháng 1, ngày 2

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư trân trọng cảm ơn các phú hào đã sốt sắng quyên góp giúp cho Quỹ Cứu tế, Quỹ Kháng chiến và Quỹ Độc lập. Người tiếc vì quá bận, không cảm ơn khắp được, nên “xin các đồng bào tha lỗi cho”.

– Báo Cứu quốc, số 131, ngày 2-1-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 143.

Tháng 1, ngày 3

9 giờ 45, tại trụ sở Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ liên hiệp để định ngày và giờ họp Hội đồng Chính phủ, nghe báo cáo về tình hình nội trị, quân sự và công việc chuẩn bị cho Tổng quyển cử ở các địa phương.

Sau khi đã nghe báo cáo về tình hình nội trị và quân sự, Người kết luận: “Chính phủ đã phải đối phó với hai sự khó khăn, trong Nam: hoạ ngoại xâm; ngoài Bắc: nạn đói. Nhờ sự ủng hộ của quốc dân, công việc đã có kết quả khả quan”.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Thông đạt yêu cầu các ông Bộ trưởng chỉ thị cho nhân viên các Sở phải giữ gìn tất cả các công văn, tài liệu và cấm không được huỷ những công văn, tài liệu ấy nếu không có lệnh trên cho phép.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 144.

Tháng 1, ngày 4

Trong mục Tin Tổng tuyển cử đăng Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đề ngày 1-4-1946 với nội dung sau:

“Kính gửi các vị ứng cử Quốc hội,

Muốn cho cuộc Tổng tuyển cử được náo nhiệt, chúng tôi mong ước các ngài đến ra mắt với Quốc dân tại những nơi sau đây:

Bãi Phúc Tân, 5 giờ chiều ngày 4-1-1946,

Khu Nghĩa Dũng, 7 giờ chiều ngày 4-1-1946,

Nhà hát lớn, 9 giờ sáng ngày 5-1-1946,

Bãi tập thể đường Hàng Đẫy, 5 giờ chiều ngày 5-1-1946.

Hồ Chí Minh”

10 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp các ông Lăng Kỳ Hàn và Hồng Chi Hằng trong phái bộ Ngoại giao của Trung Hoa dân quốc tại Hà Nội. Lăng Kỳ Hàn thông báo Tưởng Giới Thạch đã nhận được thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh và giao nhiệm vụ cho Lăng Kỳ Hàn trả lời.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cảm ơn và cho đó là sự quan tâm của Trung Hoa đối với phong trào độc lập của Việt Nam. Người nêu rõ ở Việt Nam bất kỳ đảng phái nào cũng nhất trí đòi hỏi độc lập. Người khẳng định tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc đã có lịch sử lâu đời; nền độc lập của nhân dân Việt Nam, dù thông qua đàm phán hay thông qua chiến tranh, đều hy vọng nồng nhiệt vào sự giúp đỡ của Chính phủ Trung Quốc và nhân dân Trung Quốc. Nếu các đảng phái vứt bỏ yêu cầu độc lập tất sẽ bị toàn dân lên án.

Sau buổi tiếp, Lăng Kỳ Hàn đề nghị Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư cho Tưởng Giới Thạch.

16 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chuyển cho Lăng Kỳ Hàn bức thư gửi Tưởng Giới Thạch.

– Lăng Kỳ Hàn: Tại Hà Nội tiếp thụ Nhật Bản đầu hàng nội mạc, Thế giới trí thức xuất bản xã, Bắc Kinh, 1984, tr. 70 – 71 (bản Trung văn).

– Báo Quốc hội, ngày 5-1-1946.

Tháng 1, ngày 5

Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu. Lời kêu gọi có đoạn:

“Ngày mai, là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử15, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình…

Ngày mai, quốc dân ta sẽ tỏ cho thế giới biết rằng dân Việt Nam đã: Kiên quyết đoàn kết chặt chẽ; Kiên quyết chống bọn thực dân; Kiên quyết tranh quyền độc lập.

… Những người trúng cử, sẽ phải ra sức giữ vững nền độc lập của Tổ quốc, ra sức mưu sự hạnh phúc cho đồng bào. Phải luôn luôn nhớ và thực hành câu: Vì lợi nước, quên lợi nhà; vì lợi chung, quên lợi riêng.

Phải làm cho xứng đáng với đồng bào, cho xứng đáng với Tổ quốc”.

15 giờ, tại khu Việt Nam học xá (nay là khu vực Trường Đại học Bách khoa Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh dự mít tinh của hơn hai vạn đồng bào Hà Nội ủng hộ cuộc bầu cử Quốc hội. Tại cuộc mít tinh, Người nói: “Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu. Ngày mai không ai ép, không ai mua, toàn dân sẽ thực hiện cái quyền dân chủ ấy”.

Người cùng đồng bào hô to các khẩu hiệu:

– Ủng hộ Tổng tuyển cử;

– Hoan hô Quốc hội;

– Ủng hộ kháng chiến miền Nam;

– Ủng hộ Chính phủ lâm thời liên hiệp!

Chiều, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm chùa Bà Đá, Hà Nội. Người thăm hỏi, nói chuyện thân  mật với các thượng toạ, tăng ni. Người tới trụ sở Hội Phật giáo Cứu quốc (chùa Quán Sứ, Hà Nội) để dự lễ “Mừng Liên hiệp quốc gia” 2). Phát biểu tại buổi lễ, Người nói: “… Đối với dân, ta đừng có làm gì trái ý dân. Dân muốn gì, ta phải làm nấy. Nói hy sinh phấn đấu thì dễ, nhưng làm thì khó. Trước Phật đài tôn nghiêm, trước quốc dân đồng bào có mặt tại đây, tôi xin thề hy sinh đem thân phấn đấu để giữ vững nền độc lập cho Tổ quốc. Hy sinh, nếu cần đến hy sinh cả tính mạng, tôi cũng không từ”. Sau buổi lễ, Người dự bữa cơm chay cùng các Phật tử.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Yên Thái (Bưởi) – làng có nghề làm giấy thủ công cổ truyền của Hà Nội. Người tới xem địa điểm chuẩn bị cho Tổng tuyển cử và nhắc nhở mọi người hãy phát triển mạnh nghề sản xuất giấy để phục vụ cách mạng.

Trong thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi ông Hoàng Hữu Nam, đề ngày 5-1-1946, Người căn dặn: “Về Chính phủ, chú phải tìm cách làm thế nào cho công tác chặt chẽ hơn. Mấy Bộ này một tuần khai hội một lần. Còn ngày thường, nếu cần gặp nhau thì được ngay: Nội vụ – Chú, Quốc phòng – Giáp, Ngoại giao – Giám, Tư pháp – Hoè, Giao thông – Khoa, Canh nông – Cù Huy Cận, Tài chính – Hiến”.

– Báo Cứu quốc, số 134 và 136, ngày 5 và ngày 7-1-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 145-148.

– Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng quận Ba Đình: Bác Hồ với Ba Đình, Hà Nội, 1986, tr.11.

– Công Thành (chủ biên): Phan Bôi – Hoàng Hữu Namnhà trí thức cách mạng, người cộng sản tin cậy của Bác Hồ, Nxb. Đà Nẵng – Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, 2002, tr. 37.

Tháng 1, ngày 6

Sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi bầu đại biểu Quốc hội khoá I ở phòng bỏ phiếu đặt tại số 10 phố Hàng Vôi. Sau đó, Người đến thăm một số phòng bỏ phiếu ở các phố Hàng Bạc, Hàng Gai, Hàng Trống, Thuỵ Khuê, làng Hồ Khẩu và Ô Đông Mác.

Trưa, Người đến thăm các cháu thiếu nhi đang đi cổ động cho Tổng tuyển cử ở phố Lò Đúc.

Chiều, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư giử Ban âm nhạc Vệ quốc quân:

“Thân gửi Ban âm nhạc Vệ quốc quân. Hôm nay, 6-1, ngày Tổng tuyển cử, anh em đã nô nức đi cổ động khắp Thủ đô từ sáng đến chiều làm cho ngày Tổng tuyển cử được tưng bừng vui vẻ và kết quả.

Bác thay mặt ứng cử viên của Thủ đô Hà Nội cám ơn và khen ngợi anh em.

Chào thân ái

BÁC HỒ”

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nhà báo P. M. Đétxanhgiơ (P.M. Dessinges), phóng viên báo La Résistance. Về mối quan hệ Việt – Pháp, Người nói: “Chúng tôi không có hận thù gì với nước Pháp và nhân dân Pháp. Chúng tôi khâm phục và không muốn phá vỡ những quan hệ đã gắn bó chặt chẽ hai dân tộc chúng ta. Nhưng chúng tôi yêu cầu nước Pháp phải đi trước một bước trung thực và cụ thể. Chúng tôi càng mong muốn điều này bởi lẽ chúng tôi thấy nhiều quốc gia khác đang tìm cách can dự vào những công việc riêng của chúng ta. Hai dân tộc chúng ta không được tạo cho những nước ấy cơ hội để lên mặt đạo đức với chúng ta. Chúng ta mong muốn và chúng ta phải cùng nhau dàn xếp. Nhưng các bạn cũng nên biết rằng, chúng tôi quyết tâm chiến đấu đến cùng nếu chúng tôi buộc phải chiến đấu”.

– Báo Cứu quốc, số 136, ngày 7-1-1946.

– Báo Quân đội nhân dân, số 10388, ngày 26-4-1990.

– Philippe Devillers: Paris – Saigon – Hanoi, Gallimard/Julliard, Paris, 1988, p. 123.

– Henri Azeau: Ho Chi Minh, Dernière chance, Flammarion, Paris, 1968, p.103.

Tháng 1, ngày 7

8 giờ, tại trụ sở Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ Canh nông trong chuyến đi kinh lý tại Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An và bàn về việc động viên dân chúng tiếp viện cho Nam Bộ. Khi bàn về vấn đề chi viện cho Nam Bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Cần phải thống nhất quân đội ngay để có thể tiếp viện cho Nam Bộ”.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự Lễ khai giảng Trường cán bộ tự vệ Hồ Chí Minh ở số 2, phố Quang Trung, Hà Nội. Trước 75 học viên của lớp cán bộ tự vệ đầu tiên, Người căn dặn: “Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành. Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần kiệm. Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân. Làm gương về cả ba mặt: tinh thần, vật chất và văn hoá. Không có gì là khó. Khó như cách mạng mà ta đã làm được và đã thành công. Muốn làm được, ta phải: quyết tâm, tín tâm và đồng tâm. Ta nhớ ba chữ ấy, thực hành làm gương nêu ba chữ ấy lên, tất là các đồng chí phải thành công”.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 149-150.

Tháng 1, ngày 8

10 giờ 40, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm trại giam Hoả Lò, Hà Nội. Người thăm khu nhà giam, nhà tắm, lớp học, buồng làm việc, trạm xá, nhà bếp… và nghe các phạm nhân phân trần rồi khuyên họ gắng sửa tội lỗi để xứng đáng là công dân của một nước độc lập. Người nhắc nhở Giám đốc trại giam xét lại các án tù, tha bớt những người nhẹ tội. Sau đó, Người thăm Sở Cảnh sát Trung ương (phố Hàng Trống) và căn dặn: “Ngoài việc giữ trật tự, còn phải tuyên truyền, phải đoàn kết và hợp tác với tự vệ và nhân dân thành phố”.

15 giờ, Người thăm Bộ Tuyên truyền (số nhà 71 phố Trần Hưng Đạo) và nhắc nhở cán bộ nên giữ thái độ khoan hồng với kiều dân Pháp để phân hoá họ với bọn Pháp thực dân; trong việc tuyên truyền phải tôn trọng sự thật, có vậy mới có nhiều người nghe.

Cùng ngày, bài thơ “Cảm ơn người tặng cam” của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi nhà thơ Hằng Phương, đăng trện báo Tiếng gọi phụ nữ, số 11:

“Cảm ơn bà biếu gói cam,

Nhận thì không đúng, từ làm sao đây!

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây,

Phải chăng khổ tận đến ngày cam lai 3)”.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

Sắc lệnh số 1 NV và 2 NV, về việc ân chuẩn và miễn tất cả phần tội còn lại cho hai phạm nhân người Hoa bị kết án trước tháng 9-1945.

– Báo Cứu quốc, số 137, ngày 9-1-1946.

– Báo Tiếng gọi phụ nữ, số 11, ngày 8-1-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 151.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 1, ngày 9

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 3 ấn định Quốc dân Đại hội 4)sẽ họp tại Hà Nội vào ngày chủ nhật 3-3-1946.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 1, ngày 10

6 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo của Bộ Nội vụ và bàn về vấn đề tài chính, kinh tế.

Tại Trường Đại học Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp đầu tiên của Uỷ ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc16. Người chỉ rõ: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ” và căn dặn: “Tôi mong rằng các ngài cũng sẽ đem hết tài năng và tri thức giúp cho Chính phủ về mặt kiến thiết” để đạt được mục đích làm cho dân có ăn; có mặc; có chỗ ở và được học hành.

9 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Hà Nội đi thăm tỉnh Hưng Yên, nhưng không báo trước cho địa phương.

12 giờ, tại thị xã Hưng Yên, sau khi thăm nhà một số bà con nghèo, Người tiếp chuyện các thân hào tới chào mừng và nói: “Chúng tôi xuống đây có hai việc: trước là để thăm đồng bào Hưng Yên, thứ hai là để thăm đê… Bây giờ ta được độc lập, công việc đắp đê không phải là việc riêng của Chính phủ, mà là của tất cả mọi quốc dân…, cho nên mọi người đều phải sốt sắng giúp dập vào việc đắp đê. Vậy các thân hào phải hăng hái giúp đỡ những đồng bào khác đi đắp đê…, phải giúp cho họ ăn, phải góp tiền, thóc nuôi họ. Chỉ có cách đó là có thể ngăn ngừa được nạn đê vỡ. Nước sông cao bao nhiêu đi nữa, mà lòng nhiệt tâm của các bạn cao hơn thì không bao giờ có lụt nữa”.

Khi bà con được tin tấp nập kéo đến mừng, Người nói:

“Tôi chỉ có một lời là chúng ta phải hết sức thương yêu nhau, đoàn kết chặt chẽ và làm việc để giúp đỡ đồng bào kháng chiến đánh Pháp và giúp đỡ đồng bào cứu đói. Đồng bào ta bất kỳ là già trẻ, trai gái, lương giáo ai cũng đồng tâm hiệp lực, nhớn giúp bé, trẻ giúp già, mạnh giúp yếu thì chắc chắn thế nào cũng giành được độc lập hoàn toàn, được tự do hạnh phúc. Chúng ta nỗ lực phấn đấu thì ngày thành công cũng không xa gì”.

Trước khi rời Hưng Yên, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Vệ quốc đoàn của tỉnh, thăm quãng đê vỡ Hưng Nhân cách thị xã 6 km. Người cùng lội nước, đi thăm hỏi từng người và căn dặn những người hậu cần phải làm sao cho từng hột gạo tới được “bao tử” của anh em đắp đê.

15 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tới thị xã Thái Bình. Tại Uỷ ban hành chính tỉnh, Người nhắc lại nhiệm vụ thứ hai của chuyến công tác là xin thóc, tiền để nuôi các anh em đắp đê phòng lụt. Người thăm hỏi đồng bào, bắt tay các cụ già trước khi lên xe đi Nam Định.

Tại Nam Định, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp gỡ các vị thân hào, thương gia của thành phố, cùng bàn kế hoạch cứu tế, nói chuyện thời sự và thăm hỏi tình hình phụ nữ, cố đạo, phật tử trong tỉnh.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 139, 140 và 141, ngày 11, 12 và 14-1-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 152-155.

Tháng 1, ngày 11

7 giờ, trước Uỷ ban hành chính thành phố Nam Định, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với đồng bào về những nhiệm vụ kháng chiến, cứu đói. Sau đó, Người đến thăm và chia quà cho trẻ em ở Trại trẻ mồ côi Nam Định. Người thăm từng phòng ở, từ chỗ nuôi trẻ sơ sinh đến phòng của trẻ 9-10 tuổi và nói với bà Phước nuôi trẻ:

“Tôi ghé qua đây thăm bà và các cháu. Tôi thay mặt các cháu không cha, không mẹ đó cảm ơn bà đã trông nom cho chúng như một người mẹ. Chúng tội tình gì mà tội nghiệp quá”. Nói đến đây, Người rơm rớm nước mắt.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Nam Định qua Phủ Lý, thăm Phòng thông tin và nói chuyện với đồng bào ở đây.

– Báo Cứu quốc, số 141, ngày 14-1-1946.

Tháng 1, ngày 12

15 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm khu Việt Nam học xá. Người đi thăm các phòng học, nơi sinh hoạt. Nói chuyện với sinh viên, Người khuyên anh em nên cần kiệm, ngăn nắp, giữ trật tự trong mọi hoàn cảnh, nên bỏ thói ăn mặc xa xỉ, phụ nữ bớt phấn son, rồi kết luận: “Số ấy chỉ có lợi cho nước ngoài. Nếu bớt ra có thể nuôi sống được một số đồng bào nghèo đói”. Về chính trị, Người phê bình những hành động thiếu suy nghĩ, thiếu tính mục đích của thanh niên. Người nhắc nhở không nên gây thù oán với kiều dân Pháp, “nên bảo vệ tài sản và tính mệnh cho họ… Họ sẽ là những tuyên truyền viên rất đắc lực chống lại những vu cáo của bọn thực dân”.

16 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc mít tinh của hơn 5 vạn đồng bào Hà Nội tổ chức tại Việt Nam học xá để chào mừng 6 vị đại biểu trúng cử ở Hà Nội. Người cảm ơn các đoàn thể, đồng bào đã ủng hộ Tổng tuyển cử, nói rõ ý nghĩa của Tổng tuyển cử và chính sách đối ngoại của Chính phủ.

Người hứa trước đồng bào: “Trước sự nguy hiểm khó khăn của nước nhà, chúng tôi đi trước. Với việc giữ vững nền độc lập, chúng tôi xin đi trước”.

– Báo Cứu quốc, số 141 và 142, ngày 14 và ngày 15-1-1946.

Tháng 1, trước ngày 14

7 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Hà Nội đi Phát Diệm thăm Giám mục Lê Hữu Từ và hơn 100 linh mục xứ đạo Ninh Bình. Mặc dù không được báo trước, nhưng dọc đường bà con giáo dân đã bày bàn thờ ra đón, có cả cờ ngũ hành và cờ đỏ sao vàng. Người đề nghị bà con đem “cất những đồ bái vọng ấy đi”. Khi gặp Giám mục Lê Hữu Từ, Người nói với mọi người: “Trước đây tôi đã được gặp Đức cha Từ. Nay tôi về đây với một tấm lòng sốt sắng và thân mật, vì Đức cha Từ là bạn của tôi và Ngài là một vị lãnh đạo sáng suốt của đồng bào Công giáo. Dù Công giáo hay không Công giáo, Phật giáo hay không Phật giáo, đều phải nên nỗ lực tranh đấu cho nền độc lập của nước nhà… Trong Công giáo có câu “Tam vị nhất thể”. Nhà Phật có câu: “Vạn chúng nhất tâm”, nên chúng ta phải hy sinh cho nhân loại và chúng sinh”. Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ cảm ơn lòng trung thành của Đức cha Từ và đồng bào giáo dân đối với Chính phủ.

11 giờ 30, Người dùng cơm cùng Giám mục Lê Hữu Từ và một nhà sư.

12 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm đồng bào Phát Diệm (Ninh Bình). Gặp gỡ đồng bào, Người nhắc lại nhiệm vụ cuả toàn dân lúc này là đoàn kết “chống ngoại xâm và trừ nạn đói”. Người cùng Giám mục Lê Hữu Từ chụp ảnh kỷ niệm rồi lên đường đi thăm Ninh Bình. Trên đường đi, Người ghé thăm Trường huấn luyện thanh niên ở làng An Phúc (huyện Gia Khánh). Tới thị xã Ninh Bình, Người hỏi thăm và động viên bà con đắp đê phòng lụt, tiếp một số thân hào và đoàn thể, nhắc nhở họ về công tác đê điều.

– Báo Cứu quốc, số 141 và 142, ngày 14 và ngày 15-1-1946.

Tháng 1, ngày 14

8 giờ 15, tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp  Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo về tình hình trị an, bàn về việc bổ sung 22 người cho Uỷ ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc theo đề nghị của Uỷ ban này. Người nêu ý kiến bổ sung nhiều người sẽ khó làm việc và đề nghị chỉ lấy thêm 10 người.

Cùng ngày, nhân dịp Liên hợp quốc đang họp ở Luân Đôn (Anh), Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới ông Hăngri Xpát – Chủ tịch Hội đồng Liên hợp quốc và các ông A. Grưmưcô – đại diện Liên Xô, J. Biếcnơ – Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ, Bác sĩ Cố Duy Quân – đại diện Trung Quốc, đề nghị đưa vấn đề Việt Nam ra trước Hội đồng Liên hợp quốc, yêu cầu công nhận nền độc lập của Việt Nam và kết nạp Việt Nam vào Hội đồng Liên hợp quốc.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 4 về việc cử thêm các vị: Đào Duy Anh, Lê Dung, Hoàng Văn Đức, Đặng Văn Hưởng, Trần Đăng Khoa, Đặng Xuân Khu, Nguyễn Thiệu Lâu, Nguyễn Cao Luyện, Bùi Công Trừng, Nghiêm Xuân Yêm vào Uỷ ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, theo Sắc lệnh số 78, ngày 31-12-1945.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 144, ngày 17-1-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 156-157.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 1, ngày 15

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 5, về việc huỷ bỏ quyền quản lý và sử dụng đường sắt Hải Phòng – Vân Nam của Công ty Hoả xa Vân Nam. Sắc lệnh quy định: Toàn bộ tài sản thuộc đường này, nay thuộc quyền sở hữu và sử dụng của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và giao cho Bộ trưởng Bộ Giao thông công chính tổ chức, nhập với đường sắt Hà Nội – Sài Gòn, để cùng theo một chế độ.

– Sắc lệnh số 6, về việc định hình phạt với tội ăn trộm, ăn cắp, tự ý phá huỷ, cắt dây điện thoại và điện tín. Sắc lệnh quy định kẻ tòng phạm hoặc tàng trữ dây điện thoại, điện tín cũng chịu hình phạt như chính phạm.

– Sắc lệnh số 7, về việc bổ sung thêm một số điểm về chức năng và nhiệm vụ của Toà án Quân sự đã được quy định trong Sắc lệnh số 33C, ngày 13-9-1945.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Khoảng giữa tháng

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nhà báo Pháp Ă.Blăngsê (André Blanchet), phóng viên báo Le Monde. Trả lời câu hỏi của nhà báo về quan hệ Việt – Pháp, Người nói: “Chúng tôi đã sẵn sàng có nhiều điều nhân nhượng, nhất là về mặt kinh tế. Điều chúng tôi muốn có: các nhà giáo thì được, thầy tu thì không; là cộng tác viên, học trò thì được, là nô lệ thì không; giáo sư, nhà báo, bác sĩ, kỹ sư chúng tôi cần có nhiều nhưng không cần các viên quan cai trị nữa” và “chúng tôi muốn có một phái đoàn đi Pari để cảm ơn Chính phủ Pháp. Trong việc này, nước Pháp không mất gì, mà chỉ được”.

Tại Bắc Bộ phủ, Người tiếp các cụ phụ lão làng Nhật Tảo (nay thuộc xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội). Các cụ nhờ Chủ tịch Hồ Chí Minh chuyển giúp số tiền 300 đồng, do các cụ tiết kiệm được, để góp vào Quỹ ủng hộ đồng bào Nam Bộ.

– Henri Azeau: Ho Chi Minh, Dernière chance, Flammarion, Paris, 1968, p.105.

–  Báo Dân quốc, số 114, ngày 19-1-1946.

Tháng 1, ngày 16

Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp Mác Ăngđrê (Max André) 5). Tại buổi gặp này, Người khẳng định nền độc lập của Việt Nam trong mối quan hệ Pháp – Việt, mong muốn có sự hợp tác bình đẳng với dân tộc Pháp và nước Việt Nam phải do Chính phủ Việt Nam lãnh đạo trên tất cả các lĩnh vực hành chính, kinh tế, tài chính, quân đội, ngoại giao…

– Philippe Devillers: Paris – Saigon – Hanoi, Gallimard/Julliard, Paris, 1988, p.123 – 124.

Tháng 1, ngày 17

7 giờ 35, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Bưu điện Trung ương Bờ Hồ. Sau khi đi thăm các phòng làm việc, Người căn dặn cán bộ nên đi làm đúng giờ để làm gương cho anh em viên chức và động viên anh em gắng chịu đựng khó khăn cùng toàn dân vì lúc này là thời kỳ vừa kháng chiến, vừa kiến quốc.

Sau đó, Người đến thăm gian trưng bày thủ công của thiếu nhi Hà Nội tại Nhà Văn hoá Cứu quốc (góc phố Hàng Trống – Lê Thái Tổ).

8 giờ 30, tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn việc bầu cử lại ở một số địa phương, vấn đề khoan hồng đối với quan lại cũ, vấn đề bãi bỏ thuế nhà gạch ở thôn quê và việc động viên tinh thần dân chúng.

Chiều, Người dự họp với các giám đốc công sở, chủ tịch các uỷ ban ở Hà Nội. Người khuyên anh em nên cần, kiệm, liêm, chính giúp công cuộc kiến quốc và giải thích rất kỹ những khái niệm cần, kiệm, liêm, chính vì: “Đó là bốn đức tính của người viên chức cần có hiện thời”.

– Báo Cứu quốc, số 145 và 146 ngày 18 và ngày 19-1-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 158-159.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 1, trước ngày 18

Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp gỡ Phái đoàn Chính phủ do Đồng chí Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp làm Trưởng đoàn vào công tác tại các tỉnh phía Nam để đẩy mạnh kháng chiến chống Pháp. Tại cuộc gặp gỡ trước khi Đoàn lên đường công tác, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Nhờ chuyển lời thăm của Bác tới đồng bào, chiến sĩ, cán bộ, hẹn khi có dịp Bác sẽ vô thăm”.

– Tạp chí Lịch sử Đảng, số 12, 2005, tr. 65.

Tháng 1, ngày 18

Nhân dịp Liên hợp quốc họp ở Luân Đôn, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Tổng thống Mỹ H. Tơruman, chúc mừng Chính phủ Mỹ đã có nhiều cố gắng góp phần vào việc duy trì nền hoà bình và an ninh thế giới thể hiện qua diễn văn ngày 28-10-1945 của Tổng thống. Người lên án sự phản bội, hành động tái xâm lược Đông Dương của thực dân Pháp và yêu cầu Tổng thống “can thiệp ngay lập tức và có giải pháp để nhân dân Việt Nam thoát ra khỏi cuộc chiến tranh đó”. Người nêu rõ: “Sự giúp đỡ to lớn của Cộng hoà Mỹ, của Trung Quốc và Liên hợp quốc về tài chính và kỹ thuật, Cộng hoà Việt Nam chúng tôi sẽ có đủ khả năng góp phần xây dựng nền hoà bình và thịnh vượng chung trên thế giới”.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 8, về việc giải tán Tổ chức “Fondation Jules Brevie” và quy định những tài sản của Tổ chức này đều bị tịch thu và giao cho Bộ Cứu tế quản.

– Sắc lệnh số 9, về việc giải tán Hội Bảo trợ Phụ nữ và Nhi đồng Annam (Ligue pour la protection de la Femme et de l’ Enfant Annamites) và quy định những tài sản của Hội này giao cho Bộ Cứu tế quản.

– United States – Vietnam relations 1945 – 1967, U.S. Government printing office, Washington, 1971, p. 93.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 1, ngày 19

16 giờ, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp các phóng viên Việt Nam và một số phóng viên Pháp. Trả lời phỏng vấn của nhà báo Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rõ quyết tâm giành độc lập của dân tộc Việt Nam và khẳng định đó là một mong muốn chính đáng, “cũng như dân Pháp mong muốn độc lập khi bị Đức chiếm đóng”. Người cũng tỏ ý tin tưởng rằng “nước Pháp không thể nào trở lại thống trị nước Việt Nam một lần nữa, vì nước Pháp ngày nay không như xưa, cũng như nước Việt Nam bây giờ không phải là nước Việt Nam ngày trước”.

– Báo Cứu quốc, số 147, ngày 21-1-1946.

Tháng 1, ngày 20

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết sắp đến. Trong thư có đoạn: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội. Vậy qua năm mới, các cháu phải xung phong thực hành “đời sống mới”17… “Năm mới, chúng ta thực hành đời sống mới để trở nên những công dân mới, xứng đáng với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà””.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 167.

Tháng 1, trước ngày 21

Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời các nhà báo nước ngoài, Người nói:

“Nhân dịp các bạn tân văn ký giả ngoại quốc hỏi đến, tôi xin đem câu trả lời của tôi công bố ra cho đồng bào trong nước và nhân sĩ các nước ngoài đều biết:

1) Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào uỷ thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi.

2) Trong một nước dân chủ thì mọi người đều có tự do tin tưởng, tự do tổ chức. Nhưng vì hoàn cảnh và trách nhiệm, tôi phải đứng ra ngoài mọi đảng phái. Nay tôi chỉ có một tin tưởng vào Dân tộc độc lập. Nếu cần có đảng phái thì sẽ là Đảng dân tộc Việt Nam. Đảng đó sẽ chỉ có một mục đích làm cho dân tộc ta hoàn toàn độc lập. Đảng viên của đảng đó sẽ là tất cả quốc dân Việt Nam, trừ những kẻ phản quốc và những kẻ tham ô ra ngoài.

Rất mong nhân sĩ nước ngoài và đồng bào trong nước rõ cho.

HỒ CHÍ MINH”

– Báo Cứu quốc, số 147, ngày 21-1-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 161-162.

Tháng 1, ngày 21

Bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhan đề Tết, đăng trên báo Cứu quốc, số 147. Người kêu gọi đồng bào hãy chia vui Tết với những chiến sĩ ngoài mặt trận, gia quyến các chiến sĩ và những đồng bào nghèo để mọi người đều được hưởng niềm vui xuân đầu tiên của nước Việt Nam độc lập.

8 giờ 30, tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về việc cải tổ Viện Canh nông, bổ sung Sắc lệnh về tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính, vấn đề tổ chức toà án các cấp.

Cùng ngày, Hồ Chí Minh có cuộc gặp Mác Ăngđrê, Người một lần nữa nhấn mạnh những ý kiến đã nêu ngày 16-1 để nước Pháp trịnh trọng công nhận Việt Nam độc lập.

Trả lời phỏng vấn của Ăngđrê Blăngsê, phóng viên báo Pháp Le Monde tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Nền độc lập của chúng tôi phải được công nhận. Nếu nước Pháp tiến hành chiến tranh với chúng tôi, có nghĩa là họ không muốn công nhận nền độc lập của chúng tôi, họ sẽ phải chịu trách nhiệm về việc làm ấy… Nếu nước Pháp công nhận nền độc lập của chúng tôi, tôi sẵn sàng tổ chức những cuộc biểu tình để cảm ơn nước Pháp…”.

– Báo Cứu quốc, số 147, ngày 21-1-1946.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Philippe Devillers: Paris – Saigon – Hanoi, Gallimard/ Julliard, Paris, 1988, p.124.

– Báo Le Monde, ngày 28-2-1946.

Tháng 1, ngày 22

Chủ tịch Hồ Chí Minh họp báo. Cùng dự có các thủ lĩnh của Việt Nam Cách mệnh đồng minh Hội và Cố vấn Vĩnh Thuỵ. Trong buổi họp báo, Người tuyên bố: “Nước Việt Nam mong muốn duy trì mối quan hệ hữu nghị với người Pháp”.

– Henri Azeau: Ho Chi Minh, Dernière chance, Flammarion, Paris, 1968, p. 90.

Tháng 1, ngày 23

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 10 về việc bổ sung thêm một vài điểm về tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính ở các xã, huyện, tỉnh và Kỳ, được ấn định trong Sắc lệnh số 63, ngày 22-11-1945.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 1, ngày 24

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 11 về việc chia khu đối với những thị xã lớn. Sắc lệnh quy định: sự chia khu do Uỷ ban hành chính Kỳ định; cách tổ chức chính quyền nhân dân ở khu sẽ theo Sắc lệnh số 77, ngày 21-12-1945 cho các thành phố. Ấn định tạm thời: Nam Định, Vinh, Bến Thuỷ, Huế, Đà Nẵng đều coi là thị xã.

– Sắc lệnh số 12 quy định: Nha Kinh tế Bắc, Trung, Nam Bộ; các Phòng thương mại; các Sở ngũ cốc; các cơ quan tiếp tế mọi ngành và những cơ quan phụ thuộc đều dưới quyền điều khiển trực tiếp của ông Bộ trưởng Bộ Kinh tế.

– Sắc lệnh số 13 ấn định cách tổ chức các toà án và các ngạch thẩm phán trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, gồm 2 chương, 12 tiết với 113 điều.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 1, ngày 25

8 giờ 30, tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn việc chuẩn bị họp Quốc hội, vấn đề thưởng và phạt. Người đề nghị cần nêu ngay một số việc sẽ được thưởng, một số vụ phải phạt. Hội đồng cử một tiểu ban phụ trách gồm: Hồ Chí Minh, Nguyễn Hải Thần, Vũ Trọng Khánh, Trần Huy Liệu.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Thông tư cho Uỷ ban Trung Bộ nêu những điều cần chú ý khi giải quyết các trường hợp quan lại cũ đã tham gia vào các vụ đàn áp phong trào cách mạng trước đây. Bản Thông tư chỉ rõ: “Các Uỷ ban địa phương cần phải tỏ rõ thái độ rộng lượng với các cựu công chức và quan lại ấy. Nếu không thấy nhân dân oán hờn thì cứ để họ sống yên ổn” vì “Chính phủ muốn để cho họ cơ hội được giác ngộ khiến họ tự ý tham gia vào phong trào kháng chiến kiến quốc một cách thành thực và mong chuộc lại những lỗi lầm xưa”.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

–  Thông tư số 4, bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 1, ngày 26

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Quốc lệnh, quy định rõ 10 trường hợp được khen thưởng và 10 tội phải chịu hình phạt tử hình.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 163-164.

Tháng 1, ngày 28

8 giờ 30, tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ. Người đọc bản Quốc lệnh về vấn đề thưởng, phạt. Sau đó, Hội đồng Chính phủ bàn về vấn đề ngoại giao, tư pháp, trù bị Quốc hội, vấn đề sử dụng công chức cũ.

Cùng ngày, bài Tự phê bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên báo Cứu quốc, số 153, kiểm điểm những thành tích và những khuyết điểm của bộ máy Nhà nước do Người đứng đầu. Người khẳng định: “Những sự thành công là nhờ đồng bào cố gắng. Những khuyết điểm kể trên là lỗi tại tôi”. Người mong đồng bào giúp Người sửa chữa những khuyết điểm đó bằng nhiều cách, “trước hết là bằng cách thi hành cho đúng và triệt để những mệnh lệnh của Chính phủ”.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 153, ngày 28-1-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 165-166.

Tháng 1, ngày 30

Tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đại biểu của thanh thiếu niên, nhi đồng Trung Bộ đến chúc Tết. Người căn dặn: “Năm mới phải có đời sống mới. Mới đây không phải là phá đình, phá chùa, không tôn giáo. Sống của dân là ăn, mặc, ở, học” và giải thích rất cụ thể bốn chữ: “Cần, Kiệm, Liêm, Chính”.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 14, về việc lập tại Bộ Thanh niên một Nha Thể dục Trung ương, có nhiệm vụ cùng với Bộ Y tế và Bộ Giáo dục nghiên cứu phương pháp và thực hành thể dục trong toàn quốc. Bộ Thanh niên sẽ ấn định về tổ chức và ngân sách của Nha Thể dục.

– Sắc lệnh số 15, về việc bãi bỏ thuế thổ trạch ở thôn quê kể từ ngày 1-1-1946.

– Sắc lệnh số 16, về việc lập tại Hà Nội Phòng Canh nông Bắc Bộ Việt Nam.

– Tỉnh uỷ Nghệ Tĩnh – Tiểu ban nghiên cứu Lịch sử Đảng: Bác Hồ với quê hương Nghệ Tĩnh, bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 1, ngày 31

8 giờ 30, tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về vấn đề tư pháp, tài chính, ngoại giao. Về vấn đề ngoại giao, Người nêu rõ lập trường của Chính phủ ta là kiên quyết giành độc lập. Khi Hội nghị bàn về đề nghị của Việt Nam Quốc dân Đảng đòi lập ngay Chính phủ chính thức theo như bản ký kết của các đảng hồi tháng 12-1945, Người nói: theo bản ký kết ấy, Chính phủ chính thức chỉ thành lập sau khi Quốc hội họp, phải có Quốc hội rồi mới có thể có Chính phủ chính thức được.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 17, về việc bãi bỏ Bình dân Ngân Quỹ tổng cục. Quy định các cơ quan và tài sản của Bình dân Ngân Quỹ tổng cục sẽ sáp nhập vào Nha Nông nghiệp tín dụng và Nha Kinh tế tín dụng theo cách tổ chức hiện thời và theo sự phân chia ấn định trong Sắc lệnh số 79, ngày 31-12-1945.

– Sắc lệnh số 18, về cách tổ chức việc lưu chuyển văn hoá phẩm được ấn định trong 6 chương và 19 điều.

– Sắc lệnh số 18B, về việc phát hành đồng bạc giấy Việt Nam từ vĩ tuyến 160N trở vào Nam. Sắc lệnh quy định Uỷ ban hành chính Trung Bộ tổ chức và điều khiển việc phát hành đồng bạc giấy. Kẻ nào làm giả hay có hành động phá hoại giá trị của đồng bạc giấy Việt Nam sẽ bị đưa ra Toà án Quân sự.

–  Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

–  Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Cuối tháng

Báo Tiếng gọi phụ nữ – Cơ quan tuyên truyền và cổ động của Phụ nữ cứu quốc, số Xuân Bính Tuất, đăng bài thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi phụ nữ Việt Nam. Toàn văn bài thơ như sau:

“Năm mới Bính Tuất

Phụ nữ đồng bào

Phải gắng làm sao

Gây “Đời sống mới”

Việc thành là bởi

Chúng ta siêng mần

Vậy nên chữ cần

Ta thực hành trước

Lại phải kiệm ước

Bỏ thói xa hoa

Tiền của dư ra

Đem làm việc nghĩa

Thấy của bất nghĩa

Ta chớ tham thàn

Thế tức là liêm

Đã liêm thì khiết

Giữ mình làm việc

Quảng đại công bình

Vì nước quên mình

Thế tức là chính

Cần, kiệm, liêm, chính

Giữ được vẹn mười

Tức là những người

Sống “Đời sống mới”.

HỒ CHÍ MINH

– Báo Tiếng gọi phụ nữ – số Xuân Bính Tuất, năm 1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 172-173.

Cuối tháng

Nhân dịp Tết độc lập đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, báo Quốc gia – Cơ quan ngôn luận của một nhóm thân sĩ yêu nước xuất bản tại Hà Nội có xin thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã tặng báo bài thơ:

MỪNG BÁO QUỐC GIA

Tết này mới thật Tết dân ta,

Mấy chữ chào mừng báo Quốc gia.

Độc lập đầy vơi ba cốc rượu,

Tự do vàng đỏ một rừng hoa.

Muôn nhà chào đón xuân dân chủ,

Cả nước vui chung phúc cộng hoà.

Ta chúc nhau rồi ta nhớ chúc,

Những người chiến sĩ ở phương xa.

Hà Nội – Tết Độc lập Bính Tuất, 1946

HỒ CHÍ MINH

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 171.

_________________

1) Thành phần Chính phủ liên hiệp lâm thời gồm có:

1.

Chủ tịch kiêm Ngoại giao

Hồ Chí Minh

2.

Phó Chủ tịch

Nguyễn Hải Thần

3.

Bộ trưởng Bộ Nội vụ

Võ Nguyên Giáp

4.

Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền cổ động

Trần Huy Liệu

5.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng

Chu Văn Tấn

6.

Bộ trưởng Bộ Thanh niên

Dương Đức Hiền

7.

Bộ trưởng Bộ Quốc dân kinh tế

Nguyễn Tường Long

8.

Thứ trưởng Bộ Quốc dân kinh tế

Nguyễn Mạnh Hà

9.

Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội

Nguyễn Văn Tố

10.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp

Vũ Trọng Khánh

11.

Bộ trưởng Bộ Y tế

Trương Đình Tri

12.

Thứ trưởng Bộ Y tế

Hoàng Tích Trí

13.

Bộ trưởng Bộ Giao thông công chính

Đào Trọng Kim

14.

Bộ trưởng Bộ Lao động

Lê Văn Hiến

15.

Bộ trưởng Bộ Tài chính

Phạm Văn Đồng

16.

Bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục

Vũ Đình Hoè

17.

Bộ trưởng Bộ Canh nông

Cù Huy Cận

18.

Bộ trưởng không giữ bộ nào

Nguyễn Văn Xuân

2) Các Phật tử trong Hội Phật giáo Cứu quốc tổ chức tuần “Mừng Liên hiệp quốc gia” để hoan nghênh sự đoàn kết giữa các đảng phái và Mặt trận Việt Minh và để cầu nguyện cho nền độc lập của nước Việt Nam. Lễ khai mạc cử hành vào chiều 5-1-1945.

3) Khổ tận cam lai: Hết đắng cay sẽ đến ngọt bùi.

4) Quốc hội.

5) Mác Ăngđrê là một người lãnh đạo của phong trào Cộng hoà bình dân Pháp, nguyên Giám đốc Ngân hàng Pháp – Hoa tại Hà Nội.

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)