Thư viện

Bác Hồ với việc thực hành dân chủ

Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đặt những viên gạch đầu tiên cho một xã hội bình đẳng, dân chủ và dày công vun đắp xây dựng một Nhà nước Việt Nam thật sự của dân, do dân và vì dân.

Trong bộn bề công việc năm đầu của chính quyền nhân dân non trẻ, Bác Hồ vẫn đặt lên hàng đầu công tác bầu cử Quốc hội (cuộc tổng tuyển cử Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa năm 1946).

Nêu cao việc thực hiện quyền làm chủ

Kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân đi bỏ phiếu, Bác nói: Trước hết, tôi xin tóm tắt Luật Bầu cử của ta thật là dân chủ. Tất cả các công dân gái cũng như trai, từ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử, tự do lựa chọn người thay mặt mình.

Bác phân tích rõ cho đồng bào biết, tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể nhân dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức để gánh vác công việc nước nhà. Trong cuộc tổng tuyển cử, hễ là những người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử. Không chia trai gái, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, hễ là công dân Việt Nam thì đều có 2 quyền đó. Vì lẽ đó, cho nên tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng, tức là dân chủ đoàn kết.

Trải qua hơn 65 năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tính dân chủ đoàn kết hay chính là dân chủ XHCN được Đảng, Nhà nước ta hết sức coi trọng, mở rộng và phát huy mạnh mẽ và đó cũng là bản chất tốt đẹp của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước.

Đây cũng chính là luận điểm khẳng định những vấn đề chủ yếu nhất, cốt lõi nhất của nền dân chủ XHCN, bản chất và vai trò của nền dân chủ ấy, sự trung thành với chủ nghĩa Marx-Lenin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với thời đại và thực tiễn Việt Nam.

Có thể nói, thực hiện quyền dân chủ là một quá trình vận động gian khó và lâu dài, cả hệ thống chính trị và từng người dân phải góp công sức, trí tuệ từ nhận thức về quyền dân chủ, nâng cao trình độ để có thể thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình trong việc thực hành quyền dân chủ.

Kêu gọi, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình khi bầu cử Quốc hội khóa đầu tiên, Bác nói: Chúng ta hãy thúc những người lừng khừng đến trước thùng phiếu. Có quyền mà không tìm cách dùng quyền cho sáng suốt, ấy là tự mình hủy quyền của mình.

Đại biểu hãy luôn giữ lòng hăng hái ra sức giúp ích nước nhà

Bác đã phân tích rất rõ với những người ra ứng cử đại biểu Quốc hội, nếu trúng cử thì phải ra sức cố gắng làm việc cho xứng đáng với đồng bào, cho xứng đáng với Tổ quốc. Người không trúng cử cũng không nên ngã lòng. Mình đã có lòng hăng hái với nước với dân thì hãy luôn luôn giữ vững lòng hăng hái đó. Dù ở trong Quốc hội hay ở ngoài Quốc hội, mình cũng cứ ra sức giúp ích nước nhà. Lần này không được trúng cử thì ta cứ giúp làm cho nhân dân nhận rõ tài đức của ta, thì lần sau nếu ta ứng cử, nhân dân nhất định bầu ta.

Bác nói, tất cả đại biểu Quốc hội hứa với đồng bào là được cử vào Quốc hội để làm đại biểu Quốc hội, không phải là để làm quan, không phải là để ngồi trên ăn trốc, mà làm người đày tớ tuyệt đối trung thành của đồng bào.

Theo Bác, làm việc nước là hy sinh, phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung của dân tộc. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không bầu. Ngày bầu cử không ai ép, không ai mua, toàn dân sẽ thực hiện cái quyền dân chủ ấy.

Khi phân tích sâu sắc giá trị của lá phiếu cử tri, Bác nói, lá phiếu của người cử tri tuy khuôn khổ nó bé nhỏ, nhưng giá trị của nó thì vô cùng lớn. Nhân dân ta đã trải qua biết bao gian khổ, hy sinh biết bao xương máu trong cuộc cách mạng đánh đổ thực dân và phong kiến mới giành được nó. Nó chứng tỏ chế độ dân chủ và tự do của Nhà nước ta và quyền làm chủ thật sự của mỗi người công dân ta. Vì vậy, đi bỏ phiếu bầu cử Quốc hội vừa là quyền lợi quý báu, vừa là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi người cử tri. Phải đi bỏ phiếu để tự mình lựa chọn những người xứng đáng thay mặt mình trong Quốc hội.

Những lời nói của Người cách đây hơn 65 năm vẫn đang vang vọng trong không khí toàn Đảng, toàn dân đang nô nức chuẩn bị cho việc bầu cử Quốc hội khoá XIII và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 hôm nay: “Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta vì ngày mai là ngày tổng tuyển cử. Ngày mai dân ta sẽ lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình và gánh vác việc nước… Ngày mai, tất cả các bạn cử tri, đều phải nhớ đi bầu cử. Ngày mai, mỗi người đều nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một người dân độc lập, tự do”.

Theo Chinhphu.vn

doanhnghieptrunguong.vn

Vấn đề chế độ dân chủ nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh từ góc nhìn triết học

Nghiên cứu hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh ta thấy rất rõ quan điểm của Người về ba giai đoạn trên con đường phát triển của cách mạng Việt Nam: giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong đó, chế độ dân chủ nhân dân là bước phủ định triệt để những tàn tích của chế độ cũ – chế độ thực dân, phong kiến, đồng thời đó cũng là bước khẳng định – xác lập những cơ sở, nền tảng cho chế độ xã hội mới ở trình độ phát triển cao hơn là chủ nghĩa xã hội. Chế độ dân chủ nhân dân là một giai đoạn tất yếu trên con đường phát triển của xã hội Việt Nam.

134.jpgChính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Ảnh: Tuấn Anh

I. Chế độ dân chủ nhân dân là sự phủ định triệt để chế độ thực dân, phong kiến

Trong bài nói tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam mới (ngày 03-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra những nhiệm vụ cấp bách cần phải tiến hành: Thứ nhất, dưới chế độ thực dân, để phục vụ mục đích chính trị và quân sự, thực dân, đế quốc Pháp – Nhật đã “gây nạn đói” cho nhân dân ta nhằm làm cho dân ta chết, còn dưới chế độ mới, chúng ta “phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất,, và mở “cuộc lạc quyên” để “làm thế nào cho họ sống”; thứ hai, dưới chế độ thực dân, nạn dốt là “một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta”, nhằm làm cho dân tộc ta yếu, còn dưới chế độ mới, chúng ta “mở một chiến dịch chống nạn mù chữ” vì chúng ta muốn dân tộc ta mạnh; thứ ba, dưới chế độ thực dân và chế độ quân chủ phong kiến, “nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ”, còn dưới chế độ mới, nhân dân ta được hưởng mọi quyền tự do dân chủ, trước hết là tham gia cuộc “TÔNG TUYÊN CỬ” với chế độ phổ thông đầu phiếu và thông qua Quốc hội được lập nên bằng tổng tuyển cử mà xây dựng một bản Hiến pháp dân chủ; thứ tư, chế độ thực dân “dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hóa dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác”, còn chế độ mới “phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”, vì vậy, chúng ta “mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CÂN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH”; thứ năm, chế độ thực dân thực hiện “một lối bóc lột vô nhân đạo” bằng thuế thân, thuế chợ, thuế đò, còn chế độ ta “bỏ ngay ba thứ thuế ấy” vì chế độ ta là chế độ nhân đạo; thứ sáu, chế độ thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào Giáo và đồng bào Lương, còn chế độ ta thì thực hiện “tín ngưỡng tự do và Lương Giáo đoàn kết”.

Trong bài nói quan trọng trên, Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến sự đối lập giữa cái mới và cái cũ. Đó là sự đối lập giữa “sống” và “chết”, giữa “phát triển” và “phản phát triển”, giữa “quyền” và “vô quyền”, giữa “lành mạnh” và “hủ hóa”, giữa “nhân đạo” và “vô nhân đạo”, giữa “đoàn kết” và “chia rẽ”. Có thể nói, đó là những sự đối lập triệt để và toàn diện. Trong nhiều bài nói, bài viết khác sau đó, khi đề cập đến những đặc điểm của chế độ xã hội mới, Hồ Chí Minh cũng sử dụng phương pháp đối lập như trên. Chẳng hạn, trong Thư gửi ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng (tháng l0-1945), Hồ Chí Minh viết: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”. Ở đây, đặc điểm “công bộc của dân” của chế độ dân chủ nhân dân là sự đối lập với bản chất “đè đầu dân” của chế độ xã hội cũ.

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, chế độ dân chủ nhân dân được tuyên bố ra đời, trở thành một tồn tại hiện thực. Song, đó chưa phải là nột hiện thực hoàn toàn, đầy đủ. Đầu năm 1946, Hồ Chí Minh nói: “Bộ máy thống trị cũ đã hủy bỏ, nhưng nền nếp dân chủ mới chưa hoàn toàn”. Sự tồn tại của chế độ xã hội mới là một quá trình. Đó là một quá trình mà trong đó một số phương diện của chế độ xã hội cũ vẫn còn tồn tại (chẳng hạn như ban đầu là sự tồn tại của giai cấp địa chủ và quan hệ địa chủ – nông dân) và vì thế cuộc đấu tranh giữa cái mới đang hình thành với cái cũ vẫn còn tồn tại diễn ra quyết liệt. Chính trong cuộc đấu tranh ấy, cái mới nếu có đủ sức mạnh sẽ chiến thắng cái cũ và vì thế tự khẳng định mình thực sự là cái mới. Chiến thắng của những nội dung mới làm cho sự tồn tại của chế độ xã hội mới trở thành tồn tại hoàn toàn, đầy đủ. Ba giai đoạn trong quá trình hình thành và phát triển của sự vật mới như trên đã được nhà biện chứng lỗi lạc của nhân loại là G.V.F. Hê-ghen khái quát bằng bộ ba khái niệm: thực tại, tồn tại – cho – cái khác và tồn tại – cho – bản thân. V.I. Lê-nin đặc biệt đánh giá cao bộ ba khái niệm nói trên, coi đó là sự thể hiện biện chứng của tư tưởng phản ánh được biện chứng khách quan của hiện thực. Và rõ ràng, Hồ Chí Minh đã tư duy về chế độ dân chủ nhân dân ở Việt Nam theo phương pháp tư duy biện chứng như thế cho dù Người không sử dụng các khái niệm của Hê-ghen.

Có thể thấy, với Hồ Chí Minh, những đặc điểm của chế độ xã hội mới được xác lập trong tư tưởng trước hết thông qua phương pháp tư duy chuyển hóa những đặc điểm của chế độ xã hội cũ thành mặt đối lập của nó. Đây chính là phương pháp tư duy biện chứng. Lê-nin đã đánh giá rất cao tư duy biện chứng của Xpi-nô-da khi ông này nêu lên mệnh đề: “Omnis determinatio est negatio” (mọi sự quy định là sự phủ định). Với phương pháp tư duy như thế, quá trình xây dựng (quy định) chế độ dân chủ nhân dân trong hiện thực được tư duy trước hết là quá trình vượt bỏ (phủ định) một cách triệt để và toàn diện những đặc trưng bản chất của chế độ thực dân, phong kiến.

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chế độ 1 dân chủ nhân dân trước hết là bước phủ định triệt để những tàn tích của chế độ cũ – bước phủ định đã được khởi đầu và hoàn thành một phần trong Cách mạng Tháng Tám.

II – Chế độ xã hội chủ nghĩa ra đời từ trong chế độ dân chủ nhân dân

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quan hệ giữa chế độ dân chủ nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa thể hiện trên hai phương diện.

Thứ nhất, theo Hồ Chí Minh: chế độ dân chủ nhân dân chưa phải là chế độ xã hội chủ nghĩa. Điểm khác căn bản chính là ở vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất. Trong chế độ dân chủ nhân dân, chế độ sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất của thiểu số ngùơi bị phủ định để xác lập chế độ sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất của đa số người. Quan điểm trên của Hồ Chí Minh được thể hiện rõ, chẳng hạn trong luận điểm về so sánh chế độ sở hữu tư liệu sản xuất trong chế độ dân chủ nhân dân với chế độ sở hữu tư liệu sản xuất trong chê độ xã hội chủ nghĩa: CANH GIẢ HỮU KỲ ĐIỀN” nghĩa là dân cày có ruộng. “Phải chăng đó là một chủ nghĩa cộng sản, hoặc chủ nghĩa xã hội? Không phải. Chủ nghĩa xã hội hoặc cộng sản là không có chế độ tư hữu. Trái lại “canh giả hữu kỳ điền” là làm cho hàng chục triệu dân cày thành tư hộ đều có ruộng, đều có quyền sở hữu ruộng đất… Dân cày có ruộng chỉ là một chính sách dân chủ”.

Tất nhiên, còn có những sự khác biệt khác nữa, những đâu là sự khác biệt về quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất và đi liền với nó là các loại hình kinh tế là sự khác biệt chủ yếu. Trong tác phẩm Thường thức chính trị (năm 1953), khi đề cập tới đặc điểm kinh tế trong các “đặc điểm của dân chủ mới”, Hồ Chí Minh đã chỉ ra “năm loại kinh tế,,: A- Kinh tế quốc doanh (thuộc chủ nghĩa xã hội, vì nó là của chung của nhân dân). B- Các hợp tác xã (nó là nửa chủ nghĩa xã hội và sẽ tiến đến chủ nghĩa xã hội). C- Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợp tác xã, tức là nửa chủ nghĩa xã hội). D- Tư bản của tư nhân. E- Tư bản của Nhà nước (như Nhà nước hùn vốn với tư bản tư nhân để kinh doanh). Năm loại kinh tế này dựa trên nhiều loại hình sở hữu tư liệu sản xuất khác nhau, và vì thế nó vẫn khác với kinh tế xã hội chủ nghĩa, dù rằng những mầm mống xã hội chủ nghĩa về kinh tế đã xuất hiện. Nói theo ngôn ngữ ngày nay thì kinh tế dân chủ nhân dân là kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa. Có thể nói như vậy bởi chính Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: trong năm loại ấy, loại A là kinh tế lãnh đạo và phát triển mau hơn cả. Cho nên kinh tế ta sẽ phát trên theo hướng xã hội chủ nghĩa chứ không phải theo hướng chủ nghĩa tư bản”.

Quan điểm về sự khác biệt giữa chế độ dân chủ nhân dân với chế độ xã hội chủ nghĩa cũng được Đảng ta khẳng định. Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam tại Đại hội II (năm 1951) nói rõ: Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân “không phải là cách mạng dân chủ tư sản lối cũ cũng không phải là cách mạng xã hội chủ nghĩa mà là một thứ cách mạng dân chủ tư sản lối mới tiến triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa, không phải trải qua một cuộc nội chiến cách mạng”. Sự khác biệt giữa chế độ dân chủ nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, cũng như quá trình tiến triển từ chế độ dân chủ nhân dân lên chế độ xã hội chủ nghĩa còn được luận chứng rõ hơn trong Luận cương cách mạng Việt Nam do đồng chí Trường Chinh trình bày tại Đại hội II của Đảng.

Thứ hai, chế độ dân chủ nhân dân không phải là chế độ xã hội chủ nghĩa, nhưng chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam lại ra đời từ trong chế độ dân chủ nhân dân. Đây là quan điểm rất cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng ta đều biết rõ, quan điểm chính thức của Đảng ta là từ năm 1954, miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh cũng nhất trí với quan điểm như vậy. Bước vào thời kỳ quá độ, tức là bắt tay “xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội”. Tuy nhiên, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đây là quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ trong chế độ dân chủ nhân dân. Từ năm 1945 cho đến lúc Hồ Chí Minh qua đời, Người luôn khẳng định chế độ ta là chế độ dân chủ nhân dân, đặc biệt là về phương diện chính trị. Trong những năm 1954 – 1955, Hồ Chí Minh nhiều lần nói rõ: “chế độ ta là chế độ dân chủ”, hay “nước ta là nước dân chủ”. Đến những năm 1964 – 1965, Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục khẳng định “Chế độ ta là chế độ dân chủ. Tức là nhân dân làm chủ. Rõ ràng là, chế độ xã hội chủ nghĩa là giai đoạn phát triển cao hơn chỉ có thể ra đời từ cái khác nó – từ chế độ dân chủ nhân dân. Hay nói cách khác, chế độ dân chủ nhân dân là giai đoạn phát triển thấp hơn nhất định sẽ chuyển hóa thành cái khác nó – chế độ xã hội chủ nghĩa trong quá trình vận động khách quan của mình. Đây là một quan hệ biện chứng và quan hệ này thể hiện “lôgic đặc thù” trong sự vận động, phát triển của xã hội Việt Nam. Sự ra đời của chế độ xã hội chủ nghĩa từ cái khác của nó chính là một bước chuyển về chất trong quá trình vận động và phát triển của xã hội Việt Nam. Chúng ta thấy rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh đã phản ánh xã hội Việt Nam hiện đại trong trạng thái vận động qua hai bước chuyển. Bước chuyên thứ nhất gắn liền với sự thành công của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của chế độ dân chủ nhân dân. Bước chuyển thứ hai chính là sự chuyển hóa từ chế độ dân chủ nhân dân sang chế độ xã hội chủ nghĩa. Toàn bộ quá trình vận động của xã hội trải qua những bước chuyển về chất như thế nhằm hướng tới một trình độ phát triển cao hơn – chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

Đi sâu hơn nữa vào tư tưởng Hồ Chí Minh về quá trình chuyển hóa từ chế độ dân chủ nhân dân sang chế độ xã hội chủ nghĩa, ta thấy nổi lên mấy quan điểm sau:

Một là, Việt Nam tiến dần lên chủ nghĩa xã hội từ trong chế độ dân chủ nhân dân – chế độ dân chủ nhân dân ở trình độ phát triển cao. Trình độ phát triển cao của chế độ dân chủ nhân dân thể hiện trước hết ở sự tiến bộ trong năng lực làm chủ của người dân, ở việc hoàn thiện bộ máy nhà nước và hệ thống pháp luật với tư cách là

những công cụ quyền lực của nhân dân và cùng với những bước phát triển về phương diện chính trị, sự phát triển của chế độ dân chủ nhân dân còn thể hiện trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội… Và đặc biệt là sự phát triển trong lĩnh vực kinh tế.

Hai là, bước chuyển từ chế độ dân chủ nhân dân lên chế độ xã hội chủ nghĩa là bước chuyển về chất, vì thế không thể làm mau, không thể một sớm một chiều, mà là cả một quá trình với nhiều bước đi. Quá trình đó dài hay ngắn, điều đó tùy thuộc vào sự nỗ lực của toàn thể nhân dân. Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định quan điểm này, chẳng hạn: “Chủ nghĩa xã hội không thể làm mau được mà phải làm dân dần”; “Nói tóm lại, tiến lên chủ nghĩa xã hội, không thể một sớm một chiều”…

Ba là, tiến lên chủ nghĩa xã hội từ chế độ dân chủ nhân dân là một công trình cải tạo và xây dựng khổng lồ, diễn ra trên tất cả các lĩnh vực, các quan hệ của đời sống xã hội. Khi nhấn mạnh một đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa là “mọi tư liệu sản xuất là của chung”, thì sự cải tạo đầu tiên chính là nhằm vào quan hệ sản xuất. Việc Hồ Chí Minh đặt vấn đề cải tạo quan hệ sản xuất theo hướng xóa bỏ các hình thức tư hữu, làm cho hình thức công hữu chiếm địa vị độc tôn trong quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất khi bắt tay xây dựng chủ nghĩa xã hội là một sự thật. Tuy nhiên, cần lưu ý là, đồng thời với quan điểm trên, Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh, thậm chí nhấn mạnh nhiều hơn, đến một vấn đề kinh tế có liên quan, đó là vấn đề mục đích của cải tạo quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất vấn đề tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, hay nói cách khác là vấn đề phát triển sản xuất.

Cải tạo quan hệ sản xuất không phải là mục tiêu, mà chỉ là phương thức để phát triển sản xuất, qua đó thực hiện mục tiêu “không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần” cho nhân dân. Thực vậy, trong toàn bộ quá trình tư duy về chế độ dân chủ nhân dân, Hồ Chí Minh đã luôn coi phát triển sản xuất là động lực trong phát triển xã

hội. Hồ Chí Minh viết: “Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là hai việc then chốt để khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa, để cải thiện dần đời sống của nhân dân, để củng cố miền Bắc, tranh thủ miền Nam, để tăng cường lực lượng đấu tranh thống nhất nước nhà. Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là hai việc cần thiết nhất để phát triển chế độ dân chủ nhân dân tiến dần lên chủ nghĩa xã hội”. Lôgic của tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện ở đây rất rõ ràng. Mục tiêu là cái quyết định, còn phương thức là cái bị quyết định. Phương thức nào phù hợp, giúp đạt được mục tiêu thì lựa chọn, còn phương thức nào không phù hợp, cản trở quá trình đến mục tiêu thì ta không lựa chọn hoặc từ bỏ. Chính quan điểm về mối quan hệ giữa đặc trưng mục tiêu và đặc trưng phương thức của Hồ Chí Minh đã cung cấp cơ sở phương pháp luận quan trọng để Đảng ta có những điều chỉnh kịp thời về phương thức thực hiện mục tiêu, mở ra thời kỳ đổi mới.

Bốn là, để bảo đảm cho sản xuất phát triển và quá trình chuyển biến từ chế độ dân chủ nhân dân lên chế độ xã hội chủ nghĩa được diễn ra ổn định, vấn đề củng cố chính quyền là rất quan trọng. Hồ Chí Minh viết: “nhiệm vụ chúng ta phải ra sức củng cố chính quyền nhân dân và củng cố những tổ chức của nhân dân ở các địa phương. Bởi vì nếu chính quyền nhân dân và tổ chức nhân dân ở các địa phương lỏng lẻo thì những chính sách của Đảng và của Chính phủ đưa ra thi hành không đến nơi đến chốn. Cho nên phải củng cố chính quyền nhân dân, củng cố các tổ chức của nhân dân, trong đó phải đặc biệt chú ý tổ chức công an và dân quân du kích, vì công an, dân quân du kích có nhiệm vụ giữ gìn trật tự an ninh ở địa phương. Có giữ gìn trật tự trị an, nhân dân mới an cư lạc nghiệp, tăng gia sản 1 xuất”.

Củng cố chính quyền nhân dân trước hết là củng cố và tăng cường địa vị lãnh đạo của Đảng Cộng sản – “đội tiên phong của nhân dân lao động”. Củng cố chính quyền nhân dân, sử dụng chính quyền nhân dân như là công cụ quyền lực của nhân dân để bảo đảm sự ổn định cho phát triển kinh tế, xã hội là quan điểm thể hiện tính biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế.

Năm là, quá trình chuyển biến từ chế độ dân chủ nhân dân lên chế độ xã hội chủ nghĩa diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, những biến chuyển của các lĩnh vực khác đều phải xoay quanh kinh tế mà cụ thể là phải góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển. Về văn hóa, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Văn hóa phải phục vụ sản xuất tiết kiệm, phục vụ nhân dân, phục vụ đoàn kết, phục vụ Tổ quốc. Cần xây dựng và phát triển thuần phong mỹ tục . . . Thuần phong mỹ tục là đoàn kết thương yêu giúp đỡ nhau sản xuất, tiết kiệm, vì vậy nên cần phát triển thuần phong mỹ tục”. Về giáo dục: “Thanh toán nạn mù chữ là bước đầu nâng cao trình độ văn hóa. Trình độ văn hóa của nhân dân nâng cao sẽ giúp chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ. Nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân cũng là một việc cần thiết để xây dựng nước ta thành một nước hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

Trong giáo dục, cần đặc biệt chú ý đến giáo dục thế hệ trẻ. Giáo dục thế hệ trẻ chính là một phương thức xây dựng xã hội tương lai ngay từ hiện tại. Đây là quan điểm thường trực trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Tất cả đều do và vì phát triển sản xuất. Quan điểm coi sản xuất là nền tảng, là động lực cho sự vận động và phát triển của xã hội của Hồ Chí Minh chính là quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Bản thân Hồ Chí Minh cũng ý thức rất rõ về điều này. Người thấy rõ sự gặp gỡ của chủ nghĩa Mác – Lê-nin với quan điểm đề cao lao động trong truyền thống Việt Nam: Bác chỉ nói một điểm rất đơn giản “có thực mới vực được đạo” đó là duy vật, đó là gốc của chủ nghĩa Mác – Lê-nin.

Muốn ăn là phải sản xuất… Đảng ta không phải là đảng làm quan mà Đảng phải lo đời sống cho nhân dân, trước mắt là sản xuất. Rõ ràng là trong hiện thực, sản xuất là nền tảng của đời sống xã hội, và khi hiện thực ấy được khái quát thành lý luận, thì nó trở thành quan điểm “gốc” của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, của tư tưởng Hồ Chí Minh. Không xuất phát từ quan điểm “gốc” này để nghiên cứu hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh thì rất dễ chệch hướng.

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chế độ dân chủ nhân dân không chỉ là bước phủ định triệt để những tàn tích của chế độ thực dân, phong kiến, mà còn là môi trường, điều kiện để chủ nghĩa xã hội có thể ra đời từ đó, trong đó.

Theo Tạp chí Cộng sản

hochiminhhoc.com

Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân với cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự kết hợp gắn bó hữu cơ giữa hai quá trình cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa không chỉ là minh chứng cho sự đúng đắn của chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ giữa giai cấp với dân tộc mà còn là sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Đây là một trong những đóng góp xuất sắc của Người vào kho tàng lý luận Mác – Lênin, là nhân tố quan trọng bảo đảm cho thành công của cách mạng Việt Nam.

images332462_BH.jpgChủ tịch Hồ Chí Minh – Lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân với cách mạng xã hội chủ nghĩa được hình thành và phát triển từ cơ sở lý luận, thực tiễn của mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc ở Việt Nam và trên thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Từ khi thực dân Pháp xâm lược (1858) và đặt ách thống trị ở nước ta cho đến đầu thế kỷ XX, các ngọn cờ cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và tư sản đã liên tục dấy lên. Nhân dân ta đã chiến đấu rất quyết liệt và anh dũng, song tất cả đã bị đàn áp đẫm máu và thất bại. Bởi lẽ lãnh đạo các cuộc kháng chiến là các sỹ phu, văn thân mang nặng ý thức hệ phong kiến hoặc ảnh hưởng của hệ tư tưởng tư sản, đường lối cứu nước không rõ ràng. Thực tiễn lịch sử các cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp của nhân dân ta đến đầu thế kỷ XX đã chứng tỏ rằng, không thể giải quyết vấn đề dân tộc, giành độc lập dân tộc dựa trên những quan điểm phong kiến, hay tư sản.

Lịch sử dân tộc đặt ra một đòi hỏi cần có một lực lượng lãnh đạo đất nước với một con đường cứu nước mới, có khả năng tập hợp và phát huy sức mạnh toàn dân tộc để đưa dân tộc ta đến độc lập tự do thực sự. Trong điều kiện lịch sử ấy, Hồ Chí Minh đã ra đi tìm đường cứu nước. Điểm xuất phát và là động lực tinh thần của sự ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân của Hồ Chí Minh là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Người đặt cho mình cái tên Nguyễn Ái Quốc là để luôn nhắc nhở bản thân và cổ vũ đồng bào mình. Trên hành trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã đã nghiên cứu khảo sát nhiều cuộc cách mạng trên thế giới. Nghiên cứu cuộc đấu tranh giành độc lập của nước Mỹ 1776, cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789, Người đã chỉ ra rằng, mặc dù cách mạng tư sản đã thành công, chủ nghĩa tư bản đã xây dựng và phát triển hàng trăm năm ở những nước này, nhưng “công nông vẫn cực khổ”, vì tính chất không triệt để của cách mạng tư sản, trong thì “tước lục công nông, ngoài thì áp bức thuộc địa”.

Nghiên cứu Cách mạng Nga và Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lênin, Người dã rút ra kết luận quan trọng: Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mạng Nga là thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như thực dân Pháp khoe khoang bên An Nam. Người rút ra kết luận: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và cách mạng thế giới”[1]. Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Người tiếp tục khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác là cách mạng vô sản”[2].

Tư tưởng này của Người đã chỉ ra rằng, ở Việt Nam cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn giữa địa chủ với nông dân, giữa giai cấp vô sản với tư sản, giữa toàn dân tộc với thực dân đế quốc xâm lược phải theo lập trường của giai cấp công nhân. Cuộc cách mạng đó phải dựa vào lực lượng của toàn dân tộc, của nhân dân, nòng cốt là liên minh công nông do chính Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin – hệ tư tưởng của giai cấp công nhân làm nền tảng. Xuất phát từ quan điểm đó, Hồ Chí Minh đã tích cực chuẩn bị cho sự ra đời chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam. Sau nhiều năm chuẩn bị, Hồ Chí Minh đã chủ trì Hội nghị thành lập Đảng vào mùa xuân 1930. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do Người soạn thảo đã khẳng định tư tưởng con đường cứu nước đúng đắn là phải gắn liền giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp và xã hội. Đường lối chiến lược đó đáp ứng nhu cầu lịch sử của dân tộc và phù hợp với xu thế thời đại.

Đảng Cộng sản Việt Nam, do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã một lòng một dạ chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc nhân dân. Trong sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Đảng hy sinh, phấn đấu vì độc lập thống nhất Tổ quốc, vì hạnh phúc nhân dân. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng hết lòng phấn đấu cho mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Với những thắng lợi mà nhân dân ta đã giành được, nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có quan hệ quốc tế ngày càng rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và thế giới. Những thắng lợi đó có được là nhờ nhiều nhân tố, trong đó sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố hàng đầu. Đây chính là minh chứng hùng hồn về sự đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh về việc giải quyết vấn đề dân tộc theo lập trường của giai cấp công nhân: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên toàn thế giới khỏi ách nô lệ”[3].

Vậy mà hiện nay, một trong những ngón đòn tấn công phá hoại nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng ta, các thế lực thù địch vẫn tìm mọi cách xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa vấn đề giai cấp với vấn đề dân tộc. Các thế lực thù địch cố chứng minh rằng, mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ đúng với một nước nào đó, còn ở Việt Nam vốn là nước thuộc địa, nửa phong kiến, vấn đề dân tộc bao giờ cũng chi phối; rằng nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là chủ nghĩa dân tộc; rằng Hồ Chí Minh du nhập học thuyết đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác – Lênin đã dẫn đến cảnh “nồi da nấu thịt”.

Theo họ ở nước ta hiện nay chỉ nên đề ra giải quyết vấn đề dân tộc còn vấn đề giai cấp không nên đặt ra. Thực chất của những luận điệu xuyên tạc lừa mị ấy là phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam; tiến tới loại bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và giải quyết vấn đề dân tộc theo lập trường của giai cấp tư sản. Những quan điểm ấy đã bị cả lý luận và thực tiễn thắng lợi của cách mạng Việt Nam hơn 80 năm qua bác bỏ.

2. Tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, giành độc lập dân tộc là mục tiêu trực tiếp, là tiền đề để tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Đặt cách mạng dân chủ nhân dân trong phạm trù của cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội chính là tính toàn diện, triệt để của tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam. Xuất phát từ thực tế xã hội Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến, Hồ Chí Minh chỉ rõ mâu thuẫn chủ yếu, nổi bật cấp bách cần giải quyết là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc xâm lược và tay sai bán nước. Vì vậy, ở giai đoạn đầu của cách mạng cần đặt vấn đề dân tộc lên trên hết. Từ đó, Hồ Chí Minh xác định mục tiêu cốt yếu của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam là giành độc lập dân tộc.

Đây là quan điểm mà Hồ Chí Minh kiên trì và nhất quán từ khi Người tìm ra con đường cách mạng Việt Nam. Năm 1941, Hồ Chí Minh về nước, trực tiếp cùng Trung ương Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người đã triệu tập và chủ trì hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ Tám của Đảng (5-1941). Hội nghị khẳng định: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc.

Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”[4]. Ở đây, rõ ràng vấn đề giai cấp được Hồ Chí Minh đặt trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với lợi ích quốc gia dân tộc, vấn đề dân tộc được giải quyết theo lập trường của giai cấp công nhân, chứ đâu phải là sự “hy sinh cái nọ cho cái kia” như có người đã cố tình xuyên tạc. Thực tiễn cho thấy, mục tiêu độc lập dân tộc được đặt ra và giải quyết theo tư tưởng Hồ Chí Minh, thông qua đội tiền phong của của giai cấp công nhân là Đảng Cộng sản Việt Nam đã thức tỉnh cổ vũ động viên cả dân tộc Việt Nam đấu tranh chống thực dân, đế quốc.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng tám 1945 đã minh chứng tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Sau cách mạng Tháng tám năm 1945, độc lập dân tộc đứng trước thủ thách mới, bảo vệ độc lập dân tộc lúc này là sự sống còn đối với đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi. Thời kỳ đất nước tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 -1975), Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, cùng với tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc phải đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất đất nước. Như vậy, với Hồ Chí Minh để đi lên chủ nghĩa xã hội, vấn đề cần giải quyết trước tiên là phải có độc lập dân tộc. Giành độc lập dân tộc mới có điều kiện xây dựng, phát triển kinh tế và văn hoá, không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân. Độc lập dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh mang nội dung sâu sắc và triệt để. Đó phải là một nền độc lập thật sự, các quyền dân tộc cơ bản được bảo đảm, độc lập, dân chủ phải trên nguyên tắc nước Việt Nam của người Việt Nam; độc lập phải gắn với quyền tự quyết dân tộc.

3. Cách mạng xã hội chủ nghĩa là làm cho cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân được tiến hành triệt để, bảo đảm cho nền độc lập dân tộc được giữ vững, nhân dân có đời sống ấm no, tự do hạnh phúc.

Theo Hồ Chí Minh, sau khi giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, phải quá độ lên chủ nghĩa xã hội: “Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”[5]. Đây là sự khẳng định một hướng đi mới phù hợp với xu thế của thời đại, khác về căn bản so với các lãnh tụ của phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Giải thích vì sao cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh viết: “Cách mạng xã hội chủ nghĩa là nhằm xoá bỏ mọi chế độ người bóc lột người ở nước ta, nhằm đưa lại đời sống ấm no cho nhân dân ta. Đó là cuộc cách mạng vĩ đại và vẻ vang nhất trong lịch sử loài người, nhưng đồng thời cũng là cuộc cách mạng gay go, phức tạp và khó khăn nhất”[6]. Từ bản chất của nó, chủ nghĩa xã hội, tạo ra các khả năng điều kiện phát triển bền vững của dân tộc, loại bỏ được ách thống trị nô dịch dân tộc. Với ý nghĩa ấy cách mạng xã hội chủ nghĩa là làm cho cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân được tiến hành triệt để; đồng thời tạo ra những cơ sở bảo đảm cho nền độc lập dân tộc được giữ vững.

Hồ Chí Minh là người đầu tiên xác định cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở một nước thuộc địa nửa phong kiến như nước ta có khả năng tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa trước cách mạng vô sản ở chính quốc. Theo Người, sự tàn bạo của chủ nghĩa thực dân đế quốc đã thức tỉnh nhân dân các dân tộc bị áp bức: “Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi”; và Người chỉ ra các khả năng, điều kiện để cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân chuyển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đó là phải giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng cộng sản; Xây dựng củng cố tăng cường khối liên minh công nông trí thức làm hạt nhân xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc; Phối hợp chặt chẽ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng vô sản ở chính quốc (cách mạng vô sản Pháp). Lịch sử cách mạng Việt Nam đã khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng ở các nước thuộc địa có thể và cần phải nổ ra trước cách mạng vô sản ở chính quốc là hoàn toàn đúng đắn sáng tạo.

Xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lừa mị rằng, ở Việt Nam hiện nay chỉ nên đề ra và giải quyết vấn đề dân tộc, dân chủ theo chủ nghĩa dân tộc Hồ Chí Minh, nên gác định hướng xã hội chủ nghĩa lại. Từ đó họ đòi đổi tên nước, đổi tên Đảng. Ý đồ xấu xa, nham hiểm của các thủ đoạn xuyên tạc, lừa mị đó là bác bỏ đường lối giải quyết vấn đề dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đưa đất nước ta vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là trong 25 năm đất nước đổi mới đã khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân phải tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đây chính là cái bảo đảm cho độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Đại tá, TS Trần Ngọc Tuệ
Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự – Bộ Quốc phòng
Theo CPV.ORG.VN

[1] .Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb, CTQG, Hà Nội, 2002,tập1, tr.416.
[2] . Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb, CTQG, Hà Nội, 2002,tập10, tr.9.
[3] . Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb, CTQG, Hà Nội, 2002,tập10, tr.128.
[4] . Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, t.7, tr.113.
[5] . Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb, CTQG, Hà Nội, 2002,tập12, tr.305.
[6] .Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb, CTQG, Hà Nội, 2002,tập9, tr.156.

hochiminhhoc.com

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chính thể dân chủ và nhà nước pháp quyền để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân

Trong hệ thống di sản Tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng của Người về dân chủ và xây dựng chính thể dân chủ, về nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân để thực hiện quyền làm chủ thực chất của nhân dân là một tư tưởng lớn, nổi bật và nhất quán.

Là một nhà tư tưởng kiệt xuất của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX, Hồ Chí Minh chẳng những đã phát hiện ra quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà còn dành cả cuộc đời và sự nghiệp của mình cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột và nô dịch của chủ nghĩa tư bản, đế quốc và thực dân, để đem lại quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc cho tất cả mọi người. Đó là lý tưởng, mục tiêu cao cả, thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa nhân đạo cách mạng, chủ nghĩa nhân văn cộng sản của Hồ Chí Minh. Người suốt đời thực hành lý tưởng và mục tiêu ấy với một động cơ và lẽ sống cao thượng, với một nghị lực phi thường vượt qua mọi gian lao và thử thách trong cuộc đấu tranh chống cường quyền và bạo ngược, nêu cao bản lĩnh và dũng khí vì tự do và nhân phẩm con người.

Sự nghiệp vĩ đại của Hồ Chí Minh là ở chỗ, chứng thực rằng, “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công”. Đó là quy luật của muôn đời mà cũng là chân giá trị của lịch sử đấu tranh cách mạng thời hiện đại. Đó còn là tri thức cốt yếu nhất, đáng tin cậy và có sức thuyết phục lớn nhất của mọi tri thức khoa học xã hội – nhân văn thể nghiệm trong đấu tranh chính trị, làm nên một chất lượng nhân văn hiện đại của văn hóa chính trị Hồ Chí Minh, văn hóa chính trị Việt Nam. Trong cuộc đời mình, Người đã dường như dành hết trí lực và tâm lực, cả nỗ lực và tinh lực của mình cho thực hành đoàn kết, đại đoàn kết trong dân, trong Đảng, từ dân tộc đến quốc tế. Người đã đề cập đến vấn đề hệ trọng và thiêng liêng này trong Di chúc, ở đó có cả tư tưởng và tâm trạng, có cả niềm tự hào, tin tưởng mà cũng xen lẫn cả lo âu và những nỗi đau lòng. Riêng điều ấy thôi cũng đủ làm hiển hiện tầm vóc vĩ đại và cao thượng của Hồ Chí Minh, cũng đủ tỏa sáng một phương diện cốt yếu của văn hóa và chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh. Đây chính là nền tảng sâu xa, bền vững nhất để tạo dựng chủ kiến và chủ thuyết Hồ Chí Minh về dân chủ và pháp quyền, về chính thể dân chủ cộng hòa và quyền làm chủ của nhân dân.

Sự nghiệp vĩ đại của Hồ Chí Minh còn ở chỗ, Người với tầm nhìn xa trông rộng, nói như Chế Lan Viên, đó là “tầm mắt đại dương” đã không chỉ thấy sự cần thiết phải giải phóng cho dân tộc mà còn trù tính và hành động để phát triển dân tộc Việt Nam. Muốn giải phóng phải làm cách mạng đến nơi, phải có Đảng cách mạng chân chính dẫn đường, Đảng phải có chủ nghĩa làm cốt, lại phải giữ chủ nghĩa cho vững, và người cách mạng vì nước, vì dân thì phải biết hy sinh, phải ít lòng ham muốn vật chất, đủ sức mạnh, bản lĩnh và dũng khí để đánh bại chủ nghĩa cá nhân. Để phát triển, phải không ngừng chăm lo xây dựng chính thể dân chủ, thực hành dân chủ rộng rãi, phải phát triển sản xuất, kinh tế, làm cho dân có ăn, có mặc, có nhà ở, được học hành, tiến bộ. Lo lợi ích công bằng, chính đáng cho dân, làm điều lợi, tránh điều hại cho dân, phải chống bằng được quan liêu, lãng phí, tham ô là những kẻ thù của dân, của cách mạng. Lại phải nâng cao dân trí, làm cho dân từ chỗ thất học, tăm tối, dốt nát do giặc thực dân gây ra đến chỗ có học vấn, học thức, phát triển giáo dục, khoa học, văn hóa để dân ta nhất định phải trở thành một dân tộc thông thái, xã hội Việt Nam làm một xã hội văn hóa cao. Đó là chỗ đi tới của CNXH.

Phát triển dân tộc, do đó theo Hồ Chí Minh là đưa dân tộc ta từ độc lập dân tộc, tiến bước tới dân chủ và xây dựng thành công CNXH. Đó là một tư tưởng chiến lược tổng quát, vạch ra con đường phát triển của Việt Nam. Muốn vậy, trước hết phải có con người XHCN, đức là gốc, tài là quan trọng, đức đảm bảo cho tài, tài để thực thi cái đức lớn, cái đạo lý, đạo nghĩa lớn nhất là vì dân, suốt đời tận tụy phục vụ dân, làm cho dân có tự do và hạnh phúc trong một nước có độc lập và chủ quyền. Với Hồ Chí Minh, chân lý không chỉ là khoa học mà còn là đạo đức. Cái gì tốt cho dân, lợi cho dân, cái đó là chân lý. Phục vụ nhân dân là phục tùng chân lý lớn nhất. Làm đầy tớ, công bộc của dân là lẽ sống cao thượng nhất.

Hồ Chí Minh kiên trì, bền bỉ thực hành chân lý ấy suốt đời và cũng suốt đời chăm lo giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên công chức cùng thực hành chân lý ấy mà Người luôn nêu gương, làm gương cho tất cả mọi người noi theo. Người đúc rút thành phương châm và phương pháp, coi gương mẫu là cách lãnh đạo tốt nhất. Ở đây tinh tế và sâu sắc biết bao, khi Người nhận ra, sức mạnh tự bảo vệ của Đảng, của Nhà nước, của chế độ bắt nguồn từ sức mạnh đạo đức khi cầm quyền. Mọi sự tha hóa dẫn đến suy đồi thể chế và đổ vỡ cả sự nghiệp, phải trả giá đau đớn mà lịch sử đã chứng kiến càng cho thấy sức tỏa sáng của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.

Trong học thuyết giải phóng và trong chủ thuyết Phát triển Hồ Chí Minh còn thấm nhuần sâu sắc triết lý nhân sinh và triết lý hành động của Người. Tất cả quy tụ vào một chữ “Dân” mà thôi. Chắt lọc cái tinh túy của triết lý phương Đông và nâng cao tầm tư tưởng của truyền thống dân tộc, noi theo gương sáng của ông cha ta từ bao đời nay trong dựng nước và giữ nước, Người thấu hiểu “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”, “dân là gốc của nước”, cho nên suốt một đời, Người đã chăm lo phát triển sức dân, bồi dưỡng sức dân và tiết kiệm sức dân. Triết lý ở đời và làm người đòi hỏi phải thân dân và chính tâm. Người đã tựa vững từ nền tảng truyền thống ấy để vượt lên, để phát triển xa hơn, vượt qua giới hạn của ý thức hệ truyền thống mà đạt tới chất lượng mới của thời đại mới, từ thân dân tiến tới dân chủ, từ chính tâm trong giới hạn chật hẹp của tu dưỡng tâm tính cá nhân theo mẫu nhân cách hiền nhân quân tử bề trên trong đạo thánh hiền, mà xác lập các chuẩn mực đạo đức cách mạng: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, coi đó là nguyên tắc của đạo làm người của người cách mạng.

Bởi thế, lý luận hay học thuyết dân chủ của Hồ Chí Minh là khoa học và cách mạng. Trong hàng trăm, hàng nghìn câu nói của Người về dân chủ đều luôn luôn nổi bật vai trò chủ động, tích cực của dân, đều luôn luôn nhất quán với tinh thần trọng dân gắn liền với trọng pháp. Nhà tư tưởng Mác-xít sáng tạo đồng thời là nhà cách mạng của thời đại mới, Hồ Chí Minh rành mạch và tường minh trong những khẳng định sau đây:

– Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trên thế giới không có sức mạnh nào mạnh bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân.

– Dân chủ nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ. Dân chủ là của quý báu nhất trên đời của dân.

– Thực hành dân chủ rộng rãi sẽ là chiếc chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn.

– Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương là do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng, đều ở nơi dân …

Người còn nhấn mạnh, trong một nước dân chủ thì nhân dân là chủ. Cán bộ, đảng viên cũng như nhiệm vụ của chính quyền ta và đoàn thể ta là phụng sự nhân dân. Nghĩa là làm đầy tớ cho dân. Dân đã có quyền làm chủ thì cũng phải thi hành nghĩa vụ của người chủ. Đây là những tóm tắt cô đọng nhất bản chất của dân chủ và quyền làm chủ, có giá trị như những định nghĩa kinh điển về dân chủ. Mấu chốt của vấn đề là ở chỗ, dân là chủ thể gốc của quyền lực. Dân ủy quyền cho Nhà nước để Nhà nước thực hiện quyền lực nhân dân, phụng sự lợi ích, nhu cầu và cả ý chí của dân. Đảng cũng chỉ vì dân mà tồn tại. Nhân dân phải chủ động xây dựng Đảng và Nhà nước tham gia vào công việc quản lý, kiểm tra giám sát, góp ý, phê bình, giúp đỡ để cho đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước được đúng đắn, hợp với tình hình, hợp với lòng dân, ý dân, cũng để cho tổ chức bộ máy được trong sạch, vững mạnh, luật pháp, thể chế, kỷ luật, kỷ cương được nghiêm minh và thi hành có hiệu quả, để cho cán bộ đảng viên công chức phải luôn luôn ghi nhớ, thực hành hai chữ dân chủ chứ đừng biến thành “quan chủ”, là đầy tớ công bộc trung thành, tận tụy của dân chứa không được lên mặt “quan cách mạng”.

Dân chủ và quyền làm chủ của dân phải trở thành một giá trị thực tế chứ không phải một lời nói suông. Dân chỉ biết đến dân chủ, công bằng, bình đẳng khi dân được ăn no, mặc ấm. Độc lập tự do phải tranh đấu mà có được thì phải làm sao cho dân được ấm no, tự do, hạnh phúc. Đã tranh được tự do độc lập rồi mà dân vẫn đói rét, cực khổ, lạc hậu thì độc lập tự do cũng chẳng để làm gì. Thiết thực đến như vậy cho nên chúng ta phải làm ngay, làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, được học hành tiến bộ, được tự do đi lại, được chăm sóc sức khỏe, được hưởng quyền tự do, hạnh phúc mà họ xứng đáng được hưởng. Tầm nhìn và hành động Hồ Chí Minh là như vậy. Người đòi hỏi, phải phấn đấu hy sinh đến cùng để dân thực sự có quyền tự do dân chủ, có hạnh phúc. Phải yêu dân, kính dân, lại phải gần dân, hiểu dân, học dân, hỏi dân, tin dân và làm tất cả những gì có lợi, mưu lợi cho dân, tránh tất cả những gì gây hại cho dân, dù chỉ là một cái hại nhỏ. Phải để cho dân tỏ rõ thái độ thẳng thắn của mình, góp ý phê bình xây dựng cho Nhà nước của mình, cho công chức của mình. Là công dân của một nước độc lập, có tự do, dân chủ thì dân phải được “mở mồm ra”. Đó là dân chủ thực chất để làm chủ thực chất, không hình thức giả dối, cũng không phù phiếm giả tạo.

Chống lại mọi khuyết tật, mọi thói xấu xa, hư hỏng, lợi dụng địa vị, quyền hành của nhà nước và người của nhà nước thì phải dựa thẳng vào dân, phát huy mọi tính chủ động, tháo vát, sáng kiến, trách nhiệm của dân. Có lỗi phải thật thà nhận lỗi và công khai sửa lỗi trước dân, không được xa dân, khinh dân, ghét dân, không tin dân, coi thường dân. Đó là căn nguyên và chứng bệnh của quan liêu. Kẽ hở này dẫn tới tham nhũng. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ nguyên nhân của quan liêu, tham nhũng không chỉ từ những khuyết lỗi của thiết chế, thể chế mà còn từ đạo đức công chức yếu kém, kỷ luật công vụ xộc xệch, làm biến chất dân chủ và các tổ chức công quyền. Người cho rằng, muốn chống được quan liêu tham nhũng thì phải ra sức thực hành dân chủ, dựa vào dân từ cơ sở, cũng như có đánh bại được giặc nội xâm là chủ nghĩa cá nhân thì mới xây dựng thành công CNXH.

Để thực hiện và thực hành dân chủ, để đảm bảo và không ngừng phát huy quyền làm chủ của nhân dân, Hồ Chí Minh đặc biệt đề cao sức mạnh của luật pháp, của pháp chế và pháp quyền. Do đó, muốn có dân chủ, muốn thực sự tôn trọng quyền làm chủ của dân phải xây dựng nhà nước pháp quyền, trong đó luật pháp là tối thượng, phải làm cho pháp luật có sức mạnh của “thần linh pháp quyền”, tất cả mọi người, từ Chủ tịch nước đến mọi người dân phải tuân thủ luật pháp, bình đẳng trước pháp luật. Để bảo vệ dân, giữ vững chế độ, pháp luật phải nghiêm minh, nền hành chính công phải minh bạch, phải nghiêm trị tất cả những kẻ bất liêm, bất kể chúng là ai.

Một trong những tác phẩm nổi tiếng của Người là bản “Quốc lệnh”, trong đó ghi rõ thưởng phạt công khai, công bằng, nghiêm minh. Mọi tội lỗi gây ra làm phương hại tới dân, tới chế độ dân chủ, Người đều ghi mức án cao nhất là tử hình.

Trọng dân nên phải trọng pháp và trọng pháp là để trọng dân, theo nghĩa phục vụ dân, bảo vệ dân, bảo vệ cái thiện và sự lương thiện, trừng trị cái ác, cái xấu, hại dân, hại nước.

Xây dựng chính thể dân chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền, xây dựng xã hội dân chủ để nhân dân là chủ và làm chủ, Hồ Chí Minh đã công phu chỉ đạo xây dựng Hiến pháp, hoàn thiện luật pháp, chú trọng hành pháp của các cơ quan Chính phủ, tính công bằng, nghiêm minh, quang minh chính đại, thiết diện vô tư của ngành tư pháp, kết hợp đức trị với pháp trị, sớm có chủ trương chuyên nghiệp hóa và hiện đại hóa công chức và nền hành chính công vụ, cải cách và đổi mới thường xuyên tổ chức bộ máy cùng với nội dung, phương thức hoạt động của hệ thống công quyền, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, phép nước theo các chuẩn mực dân chủ. Tất cả đều vì lợi ích, quyền lực của dân. Một nhà nước mạnh, có thực lực và thực quyền phải chú trọng vào lập pháp, hành pháp và tư pháp, đề cao luật pháp dân chủ và tiến bộ, bảo vệ quyền cơ bản của công dân, đảm bảo tốt dân quyền để thực hiện đầy đủ nhân quyền, không chỉ tôn trọng quyền sở hữu tài sản của công dân mà còn trọng nhân cách con người. Xây dựng một nhà nước mạnh thì phải chú trọng sự trong sạch của bộ máy, tính liêm khiết của công chức, phải là một chính phủ hành động, trọng công việc thực tế. Công chức phải thạo chính trị, giỏi chuyên môn, tinh thông nghiệp vụ, tận tụy, mẫn cán, hết lòng, hết sức phục vụ dân, tuyệt đối trung thành với chính phủ, kính trọng, lễ phép với dân chúng. Do đó, trong chính thể dân chủ cộng hòa, địa vị cao nhất là dân, quyền lực cao nhất cũng là của dân, nhà nước vừa mạnh về luật pháp, vừa giỏi giang thông suốt trong quản lý, lại phải đảm bảo đạo đức công chức và công vụ cũng như văn hóa nơi công sở thực sự là văn hóa dân chủ. Hễ chính phủ không còn xứng đáng với lòng tin cậy của dân thì dân không cần đến nữa, dân đuổi chính phủ đi, tức là bãi nhiệm. Đủ thấy, Hồ Chí Minh chú trọng pháp quyền nhân nghĩa, chính trị dân chủ, đoàn kết và thanh khiết đến thế nào. Nhân dân làm chủ bằng nhà nước của mình, đó là một kênh chủ yếu và quan trọng trực tiếp nhất. Từ Quốc dân Đại hội ở Tân Trào lịch sử, trong những ngày sôi động của Cách mạng Tháng Tám, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng và Bác Hồ ta đã thấy hình bóng của một nhà nước dân chủ đang định hình. Từ chính phủ lâm thời, ngay sau lễ Tuyên ngôn Độc lập đã bắt tay ngay vào công việc quản lý, làm tất cả để lo cho cuộc sống của dân, tập trung sức chống giặc đói, chống giặc dốt đi liền với xây dựng chính thể, củng cố nền tảng sức mạnh là lòng dân để sẵn sàng chống giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập tự do non trẻ mới ra đời. Từ Chủ tịch Chính phủ đến các vị bộ trưởng, thứ trưởng và công chức các cơ quan theo lời kêu gọi của Bác Hồ, mười ngày nhịn ăn một bữa để lấy gạo nuôi dân. Sự kiện này đã đi vào lịch sử như một nét đẹp cao quý của chế độ dân chủ được lòng dân nhất, cũng vì thế dân hết lòng ủng hộ Chính phủ, ai ai cũng một lòng, một chí, quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu làm nô lệ. Rõ ràng dân chủ và pháp quyền nhân nghĩa theo tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh đã khơi dậy động lực vĩ đại của nhân dân, của dân tộc, tạo ra sức mạnh đánh bại mọi kẻ thù.

Đảng lãnh đạo và cầm quyền sao cho Nhà nước mạnh, có thực lực và thực quyền để nhân dân làm chủ. Đó là trách nhiệm nặng nề và sứ mệnh vẻ vang của Đảng. Hồ Chí Minh đứng đầu Đảng và Nhà nước 24 năm liền (1945-1969) là người thấu hiểu hơn ai hết quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân, giữa Nhà nước với dân, cũng tức là giữa cán bộ, đảng viên, công chức với công dân và nhân dân của mình. Người đã viết ra 12 điều xây dựng Đảng chân chính cách mạng trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (1947) chỉ vẻn vẹn 456 chữ thôi mà tỏ rõ cả một chủ thuyết về Đảng cầm quyền, tiêu biểu cho đạo đức và văn minh . Thông điệp mà Người nhắn gửi chúng ta được nói rõ ngay từ điều đầu tiên, Đảng là một tổ chức cách mạng, phục vụ giai cấp, dân tộc, nhân dân và nhân loại. Vào Đảng để phấn đấu hy sinh cho lý tưởng phụng sự Tổ quốc và nhân dân chứ không phải mưu danh cầu lợi, Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Cho đến Di chúc 1.000 từ để lại mang ý nghĩa của một đại tổng kết về lý luận cách mạng và trù tính bao điều hệ trọng cho tương lai, trước sau cũng chỉ vì dân, vì dân chủ và quyền làm chủ của dân. Người nói cùng Đảng, cùng dân, từ biệt thế giới này Người không có gì phải ân hận, Người chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ nhân dân nhiều hơn nữa, lâu hơn nữa. Trí tuệ ấy, đạo đức và nhân cách ấy làm xúc động triệu triệu con người, là gương sáng đẹp đẽ, lớn lao, cao thượng cho muôn đời noi theo.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và quyền làm chủ của dân gắn liền làm một với thực hành, biến tư tưởng thành hiện thực. 65 năm trong lịch sử chính thể dân chủ cộng hòa với Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của dân, với Chính phủ do dân ủy thác quyền hành và hành động vì dân đã tỏ rõ giá trị, ý nghĩa và sức sống của những tư tưởng cao quý đó của Người.

Gs,Ts. Hoàng Chí Bảo. Hội đồng Lý luận Trung ương
Nguồn: Báo Cần Thơ điện tử

xaydungdang.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong chính trị

Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc trong ngôi nhà sàn ở chiến khu

Trong suốt quá trình hoạt động lý luận và thực tiễn chỉ đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác lập và hiện thực hóa hệ thống quan điểm về dân chủ trong tổ chức xây dựng xã hội mới trên tất cả các lĩnh vực. Tư tưởng của Người về dân chủ trong chính trị đã trở thành một bộ phận văn hóa của dân tộc Việt Nam. Người xứng đáng với danh hiệu “Nhà thực hành dân chủ vĩ đại của thế kỷ XX”. Khi nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong chính trị, cho thấy nổi lên những nội dung lớn sau:

Một là. Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong chính trị xuất phát từ truyền thống văn hoá dân tộc, được kết tinh qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước; là sự kết hợp những tinh hoa giá trị dân chủ của văn hóa phương Đông và phương Tây, đặc biệt là lý tưởng giải phóng dân tộc gắn với giải phóng xã hội, giải phóng con người của Chủ nghĩa Mác – Lênin.

Hai là. Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong chính trị được thể hiện ở việc khẳng định quyền lực của nhân dân trong hiến pháp và pháp luật; đảm bảo tổ chức nhà nước dân chủ của dân, do dân và vì dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”(1). Quan niệm địa vị cao nhất là dân được Hồ Chí Minh giải thích rất ngắn gọn “dân là chủ”, mọi quyền hành và lực lượng là của nhân dân, mọi công việc đều do dân và do đó thành quả của nền dân chủ mới thuộc về đại đa số quần chúng nhân dân chứ không phải của bất cứ một số ít dân cư nào. Trong Chương trình hành động của Mặt trận Việt Minh, Hồ Chí Minh đã đưa ra những nội dung cơ bản về chế độ dân chủ cộng hòa cho nước ta sau khi giành chính quyền. Nhờ hướng đến mục tiêu dân chủ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã thức tỉnh quần chúng nhân dân làm nên thắng lợi vẻ vang của Cách mạng Tháng Tám.

Vấn đề làm chủ của nhân dân, của các giai tầng trong xã hội được pháp điển hóa trong các bản Hiến pháp (1946 và 1959). Hiến pháp năm 1946 bảo đảm “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam” (Điều 12), “Quyền lợi các giới cần lao trí thức và chân tay” (Điều 13). Hiến pháp năm 1946 còn tuyên bố: “Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất nước Việt Nam dân chủ cộng hòa” (Điều 22), Ban Thường vụ Nghị viện có quyền “kiểm soát và phê bình Chính phủ” (Điều 36)…

Quan điểm “quyền lực thuộc về nhân dân” còn được Hồ Chí Minh nói rõ trong bản Hiến pháp năm 1959. Điều 6 của bản Hiến pháp này nêu rõ: “Tất cả các cơ quan nhà nước là phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân. Tất cả nhân viên nhà nước đều phải trung thành với chế độ dân chủ nhân dân, tuân theo Hiến pháp và pháp luật, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân”.

Những quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng hiến pháp dân chủ, xác định quyền làm chủ của nhân dân trong thực tiễn là những quan điểm căn bản cho việc xây dựng hệ thống chính trị dân chủ ở nước ta, thể hiện qua việc xây dựng Nhà nước dân chủ của dân, do dân và vì dân.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nhà nước của dân là nhà nước trong đó dân là chủ; dân là người có địa vị cao nhất, có quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước, dân tộc. Người khẳng định: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”(2).

Nhà nước do dân nghĩa là dân làm chủ nhà nước, nhà nước phải tin dân và dựa vào dân. Nội dung quyền làm chủ nhà nước của dân được thể hiện: Nhân dân là người tổ chức nên các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương thông qua thực hiện chế độ tổng tuyển cử phổ thông. Nhân dân có quyền bầu cử, ứng cử, đồng thời có quyền thực hiện chế độ bãi miễn. Người viết: “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”(3). Dân phải có trách nhiệm, nghĩa vụ đóng góp trí tuệ, sức người, sức của để tổ chức, xây dựng, bảo vệ và phát triển nhà nước. Đồng thời, nhân dân có quyền tham gia vào công việc quản lý nhà nước, phê bình, kiểm tra, kiểm soát, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, các đại biểu do mình cử ra.

Nhà nước vì dân, theo Hồ Chí Minh, là nhà nước phục vụ nhân dân, đem lại lợi ích cho nhân dân. Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo một mục tiêu cao nhất là không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân đúng với phương châm “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì hại đến dân phải hết sức tránh”. Nhà nước phải chăm lo mọi mặt đời sống của nhân dân, thoả mãn các nhu cầu thiết yếu nhất: làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân được học hành, làm cho dân có điều kiện khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ…

Bản chất dân chủ của Nhà nước Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh được Đại hội X xác định rất rõ: “Nhà nước là đại diện quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối chính trị của Đảng. Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều phản ánh lợi ích của đại đa số nhân dân. Nhân dân không chỉ có quyền mà còn có trách nhiệm tham gia hoạch định và thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước”(4).

Ba là. Để phát huy dân chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thực sự là của dân, do dân và vì dân, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ phải xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam nhằm làm cho hoạt động của Nhà nước đem lại hiệu quả xã hội thực sự. Nhà nước pháp quyền là nhà nước mà mọi người được tôn trọng, dân chủ được mở rộng, người dân sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Nhà nước pháp quyền là nhà nước phải thể hiện được việc điều hành và quản lý xã hội bằng hệ thống luật.

Ngày nay, theo Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đảm bảo nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; quyền lợi nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; hoàn thiện hệ thống, xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền.

Bốn là. Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong chính trị có giá trị lý luận và thực tiễn vô cùng sâu sắc đối với cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ. Quán triệt những nội dung của tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam trong thực tiễn lãnh đạo cách mạng đã kế thừa, vận dụng và không ngừng phát triển sáng tạo tư tưởng của Người nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đây là mục tiêu xuyên suốt, mục tiêu cao cả và là điểm tựa về đường lối, chủ trương, chính sách để đoàn kết toàn dân thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thực hiện mục tiêu xuyên suốt đó cũng chính là vận dụng và phát triển những kiến giải sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ.

1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 6, tr. 515.
2. Sđd, t. 7, tr. 218.
3. Sđd, t. 5, tr. 60.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 44.

Nguyễn Văn Quang
Khoa Giáo dục Chính trị – Trường Đại học Sư phạm Huế

xaydungdang.org.vn

Về nguyên tắc tập trung dân chủ trong Tư tưởng Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh là người sáng lập và lãnh đạo Đảng ta. Trong công tác xây dựng đảng, Người đặc biệt coi trọng nguyên tắc tập trung dân chủ. Hồ Chí Minh gọi tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức của Đảng, là nguyên tắc cơ bản nhất để xây dựng Đảng Cộng sản thành một tổ chức chiến đấu chặt chẽ, vừa phát huy sức mạnh của mỗi cá nhân, vừa phát huy sức mạnh của tập thể phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng cách mạng đã đề ra.

Hồ Chí Minh cho rằng dân chủ và tập trung là hai mặt có quan hệ gắn bó và thống nhất với nhau trong một quá trình tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Dân chủ vừa là bản chất, vừa là động lực, mục tiêu của xã hội mới mà Đảng ta lãnh đạo nhân dân xây dựng nên. Dân chủ trong Đảng là tất cả đảng viên đều được tự do bày tỏ chính kiến của mình về các vấn đề trong sinh hoạt đảng để góp phần thống nhất về quan điểm, chủ trương trong lãnh đạo, chỉ đạo; để xây dựng nghị quyết, đưa được nghị quyết vào cuộc sống. Vì vậy, dân chủ phải đi đến tập trung, là cơ sở của tập trung. Phải tránh dân chủ theo kiểu tùy tiện, phân tán, vô tổ chức, dân chủ hình thức. Những kiểu dân chủ như thế là rất nguy hại, làm suy giảm năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mỗi tổ chức đảng.

Về tập trung, Hồ Chí Minh nhấn mạnh trong Đảng phải thống nhất về tư tưởng, tổ chức và hành động. Biểu hiện của tập trung là thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên… Tập trung trên cơ sở phát huy dân chủ chứ không phải tập trung quan liêu, độc đoán, chuyên quyền.

Hiểu và thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ sẽ làm cho Đảng ta ngày càng vững mạnh, thống nhất trong tư tưởng và hành động “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người”(1).

Tập trung dân chủ phải được quán triệt và thực hiện trong từng đảng viên, trong các tổ chức đảng để Đảng ta hoàn thành sứ mệnh lịch sử của một Đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân ta xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

Trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, cùng với nguyên tắc tập trung dân chủ, Người còn đề cập tới nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Đây là biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ trên phương diện lãnh đạo, quản lý.

Hồ Chí Minh khẳng định: “Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách tức là dân chủ tập trung”(2). Theo Hồ Chí Minh thì một người dù tài giỏi đến mấy cũng không thể nào thấy hết mọi mặt của một vấn đề, càng không thể thấy hết được mọi việc, hiểu hết được mọi chuyện. Vì vậy, để lãnh đạo được sát, đúng cần phải có sự tham gia ý kiến của nhiều người. Nhiều người thì nhiều kiến thức, người thấy mặt này, người thấy mặt kia, do đó hiểu được toàn diện, mọi vấn đề. Khi tập thể đã bàn bạc kĩ lưỡng, kế hoạch đã được định rõ thì giao cho một người phụ trách chính. Làm như vậy thì kế hoạch mới được thực hiện đầy đủ, tránh dựa dẫm, chồng chéo nhau, công việc mới đạt kết quả cao. Khi đánh giá công việc mới có cơ sở để biểu dương những người làm giỏi, phê bình những người làm kém, mới xác định rõ trách nhiệm của từng cá nhân. “Lãnh đạo mà không tập thể thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc. Phụ trách không có cá nhân thì sẽ đi đến tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ. Kết quả cũng là hỏng việc. Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau”(3).

Thấm nhuần Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam từ ngày thành lập đến nay luôn luôn tuân thủ và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức, hoạt động và sinh hoạt đảng. Chính điều đó đã tạo nên sức mạnh để Đảng ta khi mới 15 tuổi với 5.000 đảng viên đã lãnh đạo nhân dân ta làm Cách mạng Tháng Tám thành công. Cùng với sức mạnh đó Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta làm nên những chiến công hiển hách đánh thắng thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, và hiện nay đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng phải luôn hiểu rõ bản chất và thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng chính là làm cho Đảng ta luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, trung thành và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, góp phần làm tốt hơn nữa công tác xây dựng Đảng trong giai đoạn hiện nay.

………………………………………………….

(1). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 5, tr.553.
(2), (3). Hồ Chí Minh, Sđd, tập 5, tr.505.
Nguyễn Khánh Ly
Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Nghệ An

xaydungdang.org.vn

Thực hành dân chủ theo Tư tưởng Hồ Chí Minh

Dân chủ là một giá trị xã hội. Dân chủ cũng là một chế độ chính trị, một hình thức nhà nước.

1. Xét về mặt giá trị xã hội, dân chủ là một trong những thứ quý báu nhất của con người, là một giá trị vĩnh hằng mà từ khi có con người, từ khi chưa có chữ viết và chưa có khái niệm dân chủ, con người lúc đó đã có một đời sống “hoàn toàn” dân chủ. Dù là một xã hội dân chủ sơ khai, con người lúc đó đã cùng nhau làm chủ, đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, cùng lao động, cùng chiếm hữu tư liệu sản xuất và sản phẩm làm ra. Tuy nhiên, từ  khi có nhà nước tới nay, xã hội dân chủ sơ khai thơ mộng và đẹp đẽ ấy đã một đi chưa đến ngày trở lại. Nhiều nhà tư tưởng đã bàn về cái ngày trở lại ấy và nhận thức về dân chủ là một quá trình. Theo giả thuyết khoa học của C.Mác, cái ngày trở lại ấy sẽ là một xã hội hiện thực, không có của riêng, không còn giai cấp, không còn nhà nước, sức sản xuất phát triển tới mức “của cải tuôn ra dào dạt” thoả mãn mọi nhu cầu của con người. Con người sẽ sống hoàn toàn dân chủ và bình đẳng, tự do làm chủ thiên nhiên, xã hội và làm chủ bản thân mình. Đó là một “Con đường muôn dặm” như Hồ Chí Minh đã từng nói, là mơ ước tương lai và hy vọng của loài người, là mục đích phấn đấu không ngừng nghỉ của rất nhiều thế hệ người tiếp nối nhau. Không phải cứ đập tan sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc, thực dân, thiết lập được chính quyền mới thì lúc đó đã là cuộc đấu tranh cuối cùng, đã có một đời sống hoàn toàn dân chủ và tự do.

hochiminh634125022554815000.jpg“Dân chủ” là điều trăn trở suốt đời của chủ tịch Hồ Chí  Minh. Ảnh: Tuấn Anh

2. Từ khi có chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, giai cấp và nhà nước ra đời tới nay, dân chủ đã trở thành một chế độ chính trị với những nội dung và hình thức khác nhau tuỳ thuộc vào sự phát triển trong mỗi kiểu nhà nước, ở mỗi quốc gia, dân tộc. Dân chủ từ đó gắn liền với lợi ích giai cấp, gắn với quyền làm chủ của giai cấp này và mất (hoặc hạn chế) quyền làm chủ của giai cấp khác. Xã hội loài người đã trải qua hai chế độ dân chủ. Chế độ dân chủ chủ nô, mặc dầu có nhiều hạn chế, nhưng cũng là một bước tiến so với chế độ cộng sản nguyên thủy, nhưng rồi, cùng với sự phát triển của sản xuất, nền dân chủ chủ nô được thay bằng chế độ phong kiến chuyên chế. Phải hàng ngàn năm sau, khi cuộc cách mạng tư sản thành công ở một số nước tư bản phát triển và cùng với nó, nền dân chủ tư sản ra đời.

Do đặc thù của “phương thức sản xuất châu Á”, Việt Nam không qua chế độ chiếm hữu nô lệ nên cũng không có nền dân chủ chủ nô. Thời phong kiến, xét về thiết chế xã hội có hình thức dân chủ làng, xã (tính tự trị làng – xã). Nếu xét về hành vi dân chủ, thì một số triều đại cũng làm một số việc như trưng cầu ý dân – Hội nghị Diên Hồng – (nhà Trần), hoặc tuyển dụng quan lại thông qua thi tuyển, không phân biệt đẳng cấp, giai cấp để chọn người tài đảm trách công việc quốc gia. Từ khi bị thực dân Pháp đô hộ thì nước ta không những mất chủ quyền quốc gia mà còn mất dần những yếu tố dân chủ ngay cả ở làng, xã.

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời được hiến định bởi Hiến pháp đầu tiên do Quốc hội thông qua ngày 9-1-1946. Người khai sinh ra nền cộng hoà dân chủ và bản Hiến pháp đầu tiên ấy là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà chính trị, nhà văn hoá kiệt xuất đã đưa dân tộc vào con đường phát triển hợp quy luật, xây dựng nước ta thành một nước dân chủ của nhân dân lao động bỏ qua nền dân chủ của giai cấp tư sản. Sự “bỏ qua” là một tiến bộ vượt bậc của lịch sử, nhưng như các nhà kinh điển đã chỉ rõ mọi sự bỏ qua đều gặp những khó khăn, trở lực không nhỏ. Cho đến trước Cách mạng tháng Tám – 1945 chúng ta chưa qua một chế độ dân chủ nào, chưa có sự trải nghiệm về thực tiễn dân chủ. Chính vì thế mà cả thể chế, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức và việc thực hành dân chủ, chúng ta đều đi những bước chập chững, mắc không ít sai lầm, khuyết điểm, phải vừa học vừa làm. Điều này được thể hiện qua nhiều bài viết, nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh giai đoạn 1945-1950 và kể cả sau này.

3. Trên 60 năm xây dựng chế độ dân chủ và thực hành dân chủ, quan niệm về dân chủ và thực hành dân chủ ở nước ta cũng diễn biến cùng với những năm tháng đổi thay của đất nước. Dân chủ và thực hành dân chủ là một quá trình cách mạng, không phải là một con đường thẳng tắp mà nhiều quanh co, phức tạp. Dân chủ với tư cách là một chế độ chính trị thì việc xây dựng nhà nước pháp quyền, trong đó cả nhà nước và công dân đều phải có trách nhiệm xây dựng pháp luật và đặt mình dưới pháp luật, coi pháp luật là tối thượng để đảm bảo cho nhà nước thực sự là nước dân chủ. Nghĩa là mọi tổ chức và công dân, từ nguyên thủ quốc gia đến mỗi người dân đều phải “Tôn trọng Hiến pháp; tuân theo pháp luật” (Điều 4, Hiến pháp 1946). Ngày nay, đọc lại Hiến pháp 1946, do Hồ Chí Minh chủ trì soạn thảo, tất cả những người nghiên cứu về dân chủ, dù khác nhau về tư tưởng và chính kiến, cũng đều phải thừa nhận rằng, từ giữa thế kỷ XX, Việt Nam đã đạt tới những quan niệm dân chủ, sánh ngang với bất cứ một thể chế dân chủ nào trên thế giới. Nổi bật nhất là việc xác nhận về mặt pháp lý quyền làm chủ của nhân dân: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” (Điều 1, Hiến pháp 1946). Để thực hành quyền bính ấy phải thông qua hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Nhân dân uỷ quyền quản lý đất nước cho các cơ quan đại diện đảm trách. Trong sự uỷ thác ấy có nguy cơ của sự lạm quyền và cả những sai lầm khi cơ quan đại diện của dân ra các quyết sách chính trị và ban hành các đạo luật. Do đó, nhân dân phải giữ lại một số quyền để quyết định trực tiếp và tối hậu. Đó là quyền phúc quyết mà trước hết và quan trọng nhất là xây dựng và sửa đổi Hiến pháp. Theo Tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện ở Hiến pháp 1946 thì Quốc hội được uỷ thác quyền soạn thảo Hiến pháp, đặt ra pháp luật, sửa đổi Hiến pháp và quyết định những vấn đề quan trọng nhất của quốc gia. Nhưng “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc có quan hệ đến vận mệnh quốc gia”; về sửa đổi Hiến pháp, “Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện phê chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết” (Điều 70, Hiến pháp 1946). Quyền phúc quyết không phải là việc đưa ra cho nhân dân tham gia, góp ý kiến hay đề nghị mà là quyền Hiến định, là điều bắt buộc các đạo luật và cơ quan đại diện cao nhất của dân phải tuân thủ. Quyền phúc quyết là thể chế hoá tư tưởng quan trọng nhất của Hồ Chí Minh về dân chủ: “Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân, … quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” [1]. Một khi quyền dân chủ đã được ghi nhận trong văn bản pháp lý cao nhất của quốc gia thì không còn tranh cãi về “thu hẹp” hay “mở rộng”, ai có quyền “thu hẹp” hay “mở rộng” dân chủ mà là tuân thủ theo luật định.

4. Thể chế dân chủ tuy là vấn đề cơ bản, quan trọng nhất nhưng việc thực hành dân chủ lại là điều cốt tử của thể chế dân chủ. Theo Hồ Chí Minh, phải làm sao cho nhân dân biết hưởng và biết dùng quyền dân chủ. Chỉ có thực hành dân chủ mới có thể biến các quan niệm dân chủ trong các lời tuyên bố thành dân chủ thực tế. Chính V.I.Lênin cũng cho rằng, mọi điều tốt đẹp về dân chủ thì các học giả tư sản đã nói cả rồi, cái ưu việt của chế độ dân chủ chúng ta so với dân chủ tư sản ở chỗ hiện thực hoá những điều tốt đẹp ấy.

Để thực hành dân chủ đòi hỏi phải:

– Có đủ những văn bản luật phù hợp với thực tiễn và được lòng dân. Nhưng văn bản luật nào cũng đều là luật thực định, nghĩa là do giai cấp cầm quyền định ra thông qua cơ quan đại diện của dân soạn thảo và ban bố. Vậy thực hành dân chủ, mấu chốt là ở vấn đề bầu cử và ứng cử. “Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là những người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử… hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó” [2]. Nhìn vào luật bầu cử và ứng cử, quy trình thực hiện, cách thức tiến hành và thái độ của dân chúng, người ta sẽ nhận ra chất lượng của điểm xuất phát, cái cơ bản nhất của chế độ dân chủ ở mỗi nước.

– Tổ chức bộ máy nhà nước thực thi luật pháp là công cụ đảm bảo thực hành dân chủ. Hồ Chí Minh đã khẳng định bộ máy nhà nước phải gọn nhẹ, trong sạch, đủ năng lực và bản lĩnh để chấp hành pháp luật. Con người trong bộ máy nhà nước phải được lựa chọn theo những tiêu chí cụ thể và công khai, phải có uy tín trong dân chúng, có năng lực và liêm, chính. Những người được Quốc hội cử ra thành lập Chính phủ mới, theo Hồ Chí Minh, phải tuyên thệ về tư cách của bản thân và tư cách từng thành viên Chính phủ. Tại phiên họp ngày 31-10-1946, kỳ họp thứ hai, Quốc hội khoá I, sau khi được Quốc hội nhất trí giao trách nhiệm thành lập Chính phủ mới, Hồ Chí Minh đã tuyên bố như sau: “Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái… Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết… Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ biết làm việc” [3].

– Phải có chính sách dùng người đúng, tạo cơ hội như nhau cho bất cứ ai, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, sang hèn, giàu nghèo… hễ là công dân Việt Nam đều có thể thi tuyển vào cơ quan nhà nước, được giao những nhiệm vụ tương xứng với tài năng và đức độ của họ. Người được tuyển lựa làm cán bộ, công chức phải cam kết trung thành với nhà nước và dân tộc Việt Nam, phải hoàn thành công vụ, không tham nhũng, lãng phí của công, không xách nhiễu dân; được thăng tiến, đãi ngộ về vật chất xứng đáng nhưng cũng sẽ bị trừng phạt, thậm chí truy tố trước toà án nếu có lỗi. Một xã hội thật sự dân chủ và pháp quyền khi cơ quan nhà nước tận tụy phục vụ dân, làm việc cho dân và làm tốt. Nhà nước ấy phải có đội ngũ công chức, viên chức là công bộc của dân, vững về chính trị, giỏi về chuyên môn, tự hào với nghề nghiệp và biết xấu hổ khi không làm tròn chức nghiệp bị dư luận phê phán. Cán bộ, công chức, viên chức, phải thường xuyên được giáo dục tư tưởng, tự phê bình và phê bình, phải chịu sự giám sát của dân, đồng thời phải bị xử phạt nghiêm minh theo luật. Tuyệt đối không có bất kỳ ai dù ở cương vị nào, người trong Đảng hay ngoài Đảng được sống ngoài vòng pháp luật theo kiểu “xử nội bộ”, thiếu công minh, thiên vị, có tội “nhưng không bị trừng phạt xứng đáng” [4].

– Có Hiến pháp và pháp luật đúng và đủ, có cơ quan công quyền trong sạch, vững mạnh, có đội ngũ công chức, viên chức mẫn cán, đồng thời phải có hệ thống các cơ quan bảo vệ pháp luật, trong đó có cơ quan tư pháp phải thực sự “Dĩ công vi thượng”, không bị áp lực từ bất cứ ai, cơ quan nào. “Trong khi xét xử, các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp” (Điều 69, Hiến pháp 1946). Hồ Chủ tịch đã từng dạy tư pháp phải “Phụng công thủ pháp” là chìa khoá để bảo vệ những nguyên tắc dân chủ của chế độ ta. Do đó tư pháp phải công minh, công tâm, khoan dung và đại lượng, không được “lạm dụng hình phạt”[5].

– Giáo dục pháp luật và nâng cao văn hoá dân chủ cho tất cả mọi người. Nâng cao dân trí và quan trí để “nước ta là nước dân chủ, mọi người có quyền làm, có quyền nói”[6] trở thành hiện thực và tất cả các cơ quan nhà nước phải tôn trọng các quyền dân chủ ấy của công dân. Dân có hiểu biết về pháp luật, biết hành xử theo pháp luật thì đó là cơ sở để nhà nước thực thi đúng pháp luật. Hồ Chí Minh đã từng nói “quan tham vì dân dại”[7]. Thực hành dân chủ sẽ chống lại có hiệu quả chủ nghĩa cá nhân, “tệ quan tham lại nhũng” và các tệ nạn khác.

Ngày nay, dưới ánh sáng của sự nghiệp đổi mới, nhìn lại một thời đã qua và những gì là sự nỗ lực để đi tới, chúng ta càng thấy những giá trị cao cả, đích thực trong Tư tưởng Hồ Chí Minh khi khẳng định “thực hành dân chủ là cái chìa khoá vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”[8].

[1]. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, Nxb CTQG. H.2002, tr.698.
[2]. SĐD, tập 4, tr.133.
[3]. SĐD, tập 4, tr.427.
[4]. SĐD, tập 5, tr.73.
[5]. SĐD, tập 4, tr.20.
[6]. SĐD, tập 12, tr.225.
[7]. SĐD, tập 5, tr.641.
[8]. SĐD, tập 12, tr 249.

Trần Đình Huỳnh

hochiminhhoc.com

Xây dựng chế độ dân làm chủ

Bữa cơm đạm bạc của Hồ Chủ tịch với đồng bào.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chỉ có một nhà nước thực sự của dân, do dân tổ chức xây dựng, kiểm soát mới thực hiện được nhà nước vì dân. Đó là nhà nước phục vụ vì lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, không có đặc quyền, đặc lợi, thực sự trong sạch, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Việc gì lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì hại đến dân phải hết sức tránh.

Năm 1919, nhân danh một nhóm người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị Véc-xây bản “Yêu sách của nhân dân An Nam”, đòi các quyền tự do cho dân tộc mình, trong đó có nội dung đòi thủ tiêu nhà nước thuộc địa phong kiến, thiết lập một nhà nước dân chủ.

Người đã nghiên cứu mô hình nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản, Người phát hiện ra ở đó, nhà nước nằm trong tay của số ít là giai cấp địa chủ phong kiến hay giai cấp tư sản áp bức, bóc lột nhân dân lao động là lực lượng đa số trong xã hội.

Năm 1925 Người viết tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, năm 1927, Người xuất bản tác phẩm “Đường kách mệnh” đưa ra quan điểm “nhà nước của số đông”, thực hiện một nền dân chủ cho đa số nhân dân lao động. Người chỉ rõ: “Chúng ta đã hy sinh làm kách mệnh thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao kách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”.

Năm 1930, trong các văn kiện được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng do Người soạn thảo, đã xác định mục tiêu làm cách mạng dân tộc và cách mạng thổ địa để thiết lập một nhà nước Công-Nông-Binh.

Năm 1941, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 đề ra “Chương trình Việt Minh” trong đó nêu rõ: “sau khi đánh đuổi được đế quốc Pháp, Nhật sẽ thành lập một chính phủ nhân dân của Việt Nam dân chủ cộng hòa … chính phủ ấy do Quốc dân đại hội cử ra”.

Năm 1946, diễn ra cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên ở nước ta, lập ra Quốc hội và các cơ quan tối cao của Nhà nước, Hồ Chí Minh được bầu giữ chức vụ Chủ tịch nước. Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên do Người làm Trưởng ban soạn thảo. Từ đây hình thành mô hình Nhà nước dân chủ nhân dân do nhân dân lao động làm chủ, của dân, do dân, vì dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Chính quyền từ xã đến chính phủ Trung ương đều do dân cử ra. Nói tóm lại quyền hành và lực lượng đều ở n¬i dân”.

Dân chủ bao gồm dân là chủ và dân làm chủ. Dân là chủ nói lên bản chất của thể chế chính trị xã hội. Dân làm chủ là sự thể hiện trên thực tế thể chế chính trị được thực hành trong đời sống xã hội. Dân muèn làm chủ phải có tri thức, ý chí và hành động để xây dựng, phát triển và bảo vệ nền dân chủ. Dân chủ với đa số nhân dân, chuyên chính với thiểu số phản động chống lại nhân dân.

Nhà nước của dân, như Điều 1, Hiến pháp năm 1946 đã khẳng định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính ở trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Điều 2, Hiến pháp năm 1992 qui định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức”. Điều 32, Hiến pháp 1946 cũng qui định: “Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết”, đó là chế độ trưng cầu dân ý, một hình thức dân chủ trực tiếp, cũng như ngày nay bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, tiếp xúc cử tri, tiếp thu ý kiến của nhân dân tại các kỳ họp Quốc hội, Hội đồng nhân dân để nghe ý kiến, kiến nghị của cử tri đã trở thành nề nếp.

Sau khi bầu ra người đại diện cho nhân dân vào các cơ quan quyền lực nhà nước, dân cũng “có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”.

Có những vị đại biểu đã lầm lẫn sự ủy quyền của nhân dân với quyền lực của cá nhân, sinh ra lộng quyền, cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu dân, trở thành bệnh quan liêu, tham nhũng, lãng phí “họ quên rằng dân bầu mình ra để làm việc cho dân chứ không phải cậy thế với dân”, dân chủ chứ không phải “quan chủ”.

Nhà nước do dân là do nhân dân lựa chọn thể chế chính trị, tổ chức hình thức nhà nước, dân bầu ra đại biểu đại diện cho mình. Nhà nước đó được dân ủng hộ, tin tưởng, giúp đỡ, đóng thuế để nhà nước tồn tại và phát triển. Nhà nước đó do dân kiểm tra, giám sát, phê bình nhằm phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn, thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng cảnh báo: “Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ”. Nghĩa là khi các cơ quan nhà nước không đáp ứng được lợi ích và nguyện vọng của nhân dân thì dân sẽ bãi miễn.

Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chỉ có một nhà nước thực sự của dân, do dân tổ chức xây dựng, kiểm soát mới thực hiện được nhà nước vì dân: Đó là nhà nước phục vụ vì lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, không có đặc quyền, đặc lợi, thực sự trong sạch, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Việc gì lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì hại đến dân phải hết sức tránh.

Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Muốn thực hiện được dân là chủ và dân làm chủ thì tất cả đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, cán bộ, công chức, viên chức vừa là người đầy tớ phục vụ nhân dân vừa là người lãnh đạo của nhân dân. Đã là đầy tớ thì phải trung thành, tận tụy, sáng tạo, phục vụ nhân dân vô điều kiện. Đã là người lãnh đạo thì phải có hiểu biết, gương mẫu, dám nghĩ, dám làm, nhìn xa trông rộng, gần gũi nhân dân để tổ chức và hướng dẫn nhân dân biết làm chủ và dám làm chủ.

Như vậy để làm người đại diện cho nhân dân phải gồm đủ cả đức và tài mà “đức là gốc của cán bộ cách mạng”.

Nguyễn Doãn Kình

xaydungdang.org.vn

Bác Hồ với hành trình lựa chọn con đường dân chủ

Lịch sử cách mạng Việt Nam hiện đại đã khẳng định con đường dân chủ mà Bác lựa chọn cho dân tộc ta từ những năm 20 của thế kỷ trước là đúng đắn. Mô hình dân chủ do Bác Hồ và Đảng ta thiết kế đã từng bước tỏ rõ sức sống và triển vọng phát triển của nó trên Tổ quốc thân yêu của chúng ta, nhất là trong 25 năm đổi mới. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là con đường thuận lòng dân, hợp thời đại và đúng quy luật phát triển của lịch sử nhân loại nói chung và lịch sử dân chủ nói riêng.

1. Sức hấp dẫn của những giá trị dân chủ tư sản…

Đau xót chứng kiến nỗi thống khổ, cảnh lầm than của nhân dân dưới ách thống trị của thực dân Pháp, cũng như nhiều sĩ phu và thanh niên trí thức yêu nước lúc bấy giờ, Nguyễn Tất Thành đã sớm có ý chí đuổi Pháp, giải phóng đồng bào. Rất khâm phục các sĩ phu dũng cảm tìm đường đấu tranh cứu dân, cứu nước nhưng người thanh niên Nguyễn Tất Thành cũng sớm nhận ra những hạn chế trong con đường của các vị ấy… Cụ Phan Chu Trinh yêu cầu thực dân Pháp thực hiện cải lương, việc này “chẳng khác nào xin giặc rủ lòng thương”. Cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp ta đuổi Pháp cũng chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Cụ Hoàng Hoa Thám thực tế hơn, đã trực tiếp đấu tranh chống Pháp, nhưng còn nặng cốt cách phong kiến(1), mà con đường theo lập trường phong kiến thì đã hết thời…

Vào tuổi mười ba, nhận thấy sức hấp dẫn của những từ Tự do, Bình đẳng, Bác ái… mà người Pháp đã tuyên truyền, Người muốn tìm hiểu xem cái gì ẩn dấu đằng sau những từ ngữ mỹ miều ấy… Sức hấp dẫn của các giá trị văn minh dân chủ phương Tây đã khiến không ít người nghĩ rằng Anh có thể giúp ta, có người lại cho rằng có thể cậy nhờ nước Mỹ… Nguyễn Tất Thành thấy, cần phải ra nước ngoài xem cho rõ. Người đã nung nấu ý chí ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác làm ăn ra sao, nhất là xem họ “tổ chức và cai trị như thế nào”(2) rồi sẽ về giúp dân, giúp nước. Độc lập cho Tổ quốc, tự do, dân chủ và hạnh phúc cho nhân dân, đó là mục đích, “ham muốn tột bậc” của Người. Với mục đích và ý chí đó, Người đã rời Sài Gòn đi ra nước ngoài vào ngày 5 tháng 6 năm 1911. Như vậy, sức hấp dẫn trong buổi đầu tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành không phải lá cờ của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu… mà chính là lá cờ cách mạng dân chủ tư sản ở phương Tây.

2. Dân chủ tư sản, từ những điều mắt thấy…

Nguyễn Tất Thành đã đi nhiều nước, đến nhiều nơi, tiếp xúc nhiều nền văn hóa, chính trị và đã dần hiểu rõ thực chất của nền văn minh tư sản, nền dân chủ tư sản dưới các hình thức khác nhau của nó. Đến Pháp, Người nhận thấy, hóa ra cũng có những người Pháp tốt và ở Pháp cũng có những người nghèo như ở Việt Nam. Người Pháp ở Pháp tốt và lễ phép hơn người Pháp ở Đông Dương. Ở Pháp, những sinh hoạt dân chủ như lập hội, mít-tinh, tranh luận trong các hội thảo, các câu lạc bộ chính trị, nghệ thuật… là chuyện của các gia đình, của đàn ông, phụ nữ, người trẻ, người già, nhưng những ai dám vạch tội ác của thực dân, dám đấu tranh cho quyền độc lập dân tộc, thì sẽ bị cảnh sát mua chuộc, dụ dỗ, dọa dẫm và cấm đoán. Đến các thuộc địa của Pháp, Người thấy rằng, những người Pháp thực dân thì rất hung ác và vô nhân đạo. Người thấy nhiều người Pháp hết sức căm phẫn và thấy nhục nhã khi biết những tội ác của thực dân Pháp ở các thuộc địa. Người nhận ra rằng, trong cuộc chiến đấu để giải phóng đồng bào, giành độc lập cho Tổ quốc, chúng ta không cô độc, bên cạnh chúng ta còn có những người bạn Pháp dân chủ, chân chính… Đến Mỹ, quê hương của bản Tuyên ngôn độc lập nổi tiếng, thăm tượng nữ thần tự do, Nguyễn Tất Thành đã viết: “Ánh sáng trên đầu thần Tự Do tỏa rộng khắp trời xanh, còn dưới chân Tượng thần Tự Do thì người da đen đang bị chà đạp. Bao giờ người da đen được bình đẳng với người da trắng? Bao giờ có sự bình đẳng giữa các dân tộc? Và bao giờ người phụ nữ được bình đẳng với nam giới?”(3). Đến Ý, Thụy Sỹ, Người thấy Thụy Sỹ là một nước nhỏ, đường phố sạch sẽ, nhân dân có trình độ văn hóa khá cao; nước Ý có nhiều thành phố đẹp, nhiều lâu đài nguy nga, nhưng ở đây người thường dân thì cực khổ vì giá sinh hoạt đắt đỏ và thuế khóa nặng nề. Nói chung, ở các nước tư sản, ở trong nền dân chủ tư sản, tầng lớp trên sống một đời hết sức xa hoa và nhân dân thì sống một đời nheo nhóc(4)…

Vậy là, từ ách thống trị dã man, tàn bạo của thực dân Pháp ở Đông Dương, từ nỗi thống khổ của đồng bào, từ những điều tận mắt trông thấy mà đau lòng ở những thuộc địa, nơi Người đã đặt chân tới, cũng như nếm trải, thấm thía những sự thật ở Pháp và các nước tư bản khác, Nguyễn Tất Thành đã phát hiện ra những mặt trái của nền dân chủ và văn minh phương Tây. Sau sự kiện yêu sách 8 điểm gửi Hội nghị Véc-xây đòi những điều sơ giản nhất về dân chủ cho nhân dân Việt Nam của Người bị chính những kẻ nhân danh dân chủ từ chối thì những nhận xét của Người đối với nền dân chủ tư sản càng rõ rệt hơn. Người nhận rõ thực chất của nền dân chủ tư sản là “dùng chữ tự do, bình đẳng, đồng bào để lừa dân, xúi dân đánh đổ phong kiến. Khi đánh đổ phong kiến rồi thì nó lại thay phong kiến mà áp bức dân”, “tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”(5).

Nghiên cứu lịch sử cách mạng và “cách cai trị” của nhiều nước phương Tây, nhất là của nước Pháp, nước Mỹ, nước Anh, Nguyễn Ái Quốc đã nhận rõ sự “không đến nơi” của cách mạng tư sản, “sự giả dối” của các tuyên ngôn dân chủ, nhân quyền tư sản. Cho dù, cách mạng tư sản, “cách cai trị” của tư sản, nhất là cách mạng Pháp và cách mạng Mỹ có ý nghĩa nhất định đối với cách mạng Việt Nam nhưng con đường ấy, mẫu hình ấy không thể đem lại độc lập thật sự cho dân tộc và tự do, dân chủ, hạnh phúc thật sự cho dân chúng số nhiều. Vì thế, Nguyễn Ái Quốc chính thức đoạn tuyệt với học thuyết dân chủ tư sản, từ chối nền dân chủ tư sản dưới các hình thức của nó. Người chỉ rõ, cách mạng Mỹ và cách mạng Pháp đã dạy chúng ta rằng, làm cách mạng thì không nên sợ phải hy sinh, và đã hy sinh làm cách mạng thì nên làm cách mạng cho “đến nơi”, nghĩa là làm cách mệnh rồi thì chớ để chính quyền trong tay số ít, chính quyền phải thuộc về dân chúng số đông.

3. V.I.Lênin và con đường giải phóng …

Đứng trong hàng ngũ đấu tranh của công nhân Pháp, dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của Cách mạng Tháng Mười, Nguyễn Ái Quốc tham gia Đảng Xã hội Pháp và tham gia các hoạt động công nhân ủng hộ nước Nga Xô-viết. Lúc đầu, “về cảm tính” Người thấy mình có mối tình đoàn kết với cuộc cách mạng Nga và người lãnh đạo cuộc cách mạng ấy, nhưng Người biết rất ít về V.I.Lênin và Cách mạng Tháng Mười. Tháng 7-1920, Người đọc Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lênin. Trong văn kiện này, V.I.Lênin phê phán mọi luận điểm sai lầm của những người cầm đầu Quốc tế II về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, lên án mạnh mẽ tư tưởng sô vanh, tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ích kỷ, đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ của các Đảng Cộng sản là phải giúp đỡ thật sự phong trào cách mạng của các nước thuộc địa và phụ thuộc, nhấn mạnh sự đoàn kết giữa giai cấp vô sản các nước tư bản với quần chúng cần lao của tất cả các dân tộc để chống kẻ thù chung là đế quốc và phong kiến.

Tác phẩm của V.I.Lênin đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc con đường giành độc lập cho dân tộc và tự do thật sự cho đồng bào. Sau này, khi kể lại sự kiện quan trọng đó, Người đã nói: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”(6). Như một lẽ tự nhiên, rất đơn giản và rõ ràng, sau khi đọc Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lênin, Người đã bỏ phiếu tán thành Quốc tế III, tin theo V.I.Lênin và quyết định lựa chọn con đường Cách mạng Tháng Mười. Thời điểm đánh dấu bước ngoặt quan trọng này là tháng 12 năm 1920. Từ đây, Nguyễn Ái Quốc trở thành người cộng sản, một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và Nguyễn Ái Quốc đồng thời cũng là người cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Vậy là, từ hành trình khảo sát, nghiên cứu thực tiễn chính trị và lý luận hằng chục năm ở nhiều nước, Nguyễn Ái Quốc đã đi đến kết luận dứt khoát. “Cách mạng có nhiều thứ”, “chủ nghĩa”, “học thuyết” cũng có nhiều nhưng chỉ có Cách mạng Tháng Mười Nga là thành công “đến nơi” và Chủ nghĩa Mác-Lênin là “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất”(7).

Vậy là, trong thời đại ngày nay, muốn cứu nước, giải phóng dân tộc, muốn nước độc lập, dân được tự do, ấm no, hạnh phúc không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản. Muốn có dân chủ hoàn bị, triệt để thì Tổ quốc phải độc lập và phải tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đất nước không có độc lập, thống nhất thì mọi thứ dân chủ chỉ là giả dối, chỉ là trò bịp bợm. Nước được độc lập mà nhân dân không được hưởng ấm no, tự do, hạnh phúc, sung sướng thì độc lập ấy không có ý nghĩa gì. Chỉ có con đường cách mạng vô sản, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới có thể đem lại ấm no, tự do, hạnh phúc thật sự, dân chủ thật sự, dân chủ rộng rãi, dân chủ đến nơi. Nhưng để đi đến mục tiêu ấy thì mỗi nước tùy theo điều kiện của mình mà có thể có những bước đi khác nhau. Người khẳng định, “tính chất thuộc địa và phong kiến của xã hội cũ Việt Nam khiến cách mạng Việt Nam phải chia làm hai bước. Bước thứ nhất là đánh đổ đế quốc, đánh đổ phong kiến, thực hiện “người cày có ruộng”, xây dựng chính trị và kinh tế dân chủ mới… Bước thứ hai là tiến lên chủ nghĩa xã hội, tức là giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản”(8).

4. Nền dân chủ vô sản non trẻ đầy sức sống ở Nga…

Được Luận cương của V.I.Lênin soi sáng, Nguyễn Ái Quốc tích cực hoạt động truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin về nước, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của chính đảng cách mạng ở Việt Nam. Người tích cực nghiên cứu xây dựng đường lối cách mạng và từng bước phác thảo về một chế độ dân chủ ở Việt Nam sau khi cách mạng thắng lợi.

Nước Nga đã làm cách mang thành công, nước Nga được nhiều người yêu nhưng cũng nhiều kẻ ghét. Có kẻ cho nước Nga là địa ngục, có người bảo nước Nga là một thiên đường. Cuối năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến Nga hoạt động trong Quốc tế Cộng sản và trực tiếp quan sát, nghiên cứu việc xây dựng nền dân chủ mới – dân chủ vô sản. Không gặp được V.I.Lênin, V.I.Lênin đã mất, nhưng Nguyễn Ái Quốc nhận thấy nhân dân và đất nước Nga đã hồi sinh. Nước Nga là một đất nước đang xây dựng có nhiều ưu điểm nhưng chưa kịp sửa chữa hết những khuyết điểm. Nước Nga còn thiếu thốn mọi thứ, vết thương chiến tranh còn nhiều nhưng những vết thương đang được hàn gắn nhanh chóng và khắp nơi nhân dân phấn khởi, hăng hái làm việc. Do đó, đối với Người, nước Nga chưa phải là thiên đường nhưng nhất định không phải là địa ngục!

Ở đất nước của V.I.Lênin, Nguyễn Ái Quốc không chỉ nghiên cứu lịch sử cách mạng, con đường, phương pháp và những kinh nghiệm cách mạng trong giai đoạn “giành chính quyền” mà Người còn rất chú ý tìm hiểu cách thức, kinh nghiệm tổ chức xây dựng chế độ dân chủ mới. Người nhận thấy, ở nước Nga mọi người đều ra sức học tập, nghiên cứu để tiến bộ. Chính phủ giúp đỡ, khuyến khích nhân dân học tập. Ruộng đất thuộc sở hữu Nhà nước nhưng thực tế do nông dân sử dụng. Mọi người làm chung và phân phối theo lao động. Những người ốm đau được chăm sóc không mất tiền. Trẻ em, phụ nữ được Nhà nước, xã hội, nhà máy chăm sóc chu đáo. Trẻ em được ưu ái trong nuôi dưỡng, học hành. Những gì tốt nhất đều để dành cho trẻ em… Do đó, nếu nước Nga chưa phải là thiên đường cho tất cả mọi người thì nước Nga đã là một thiên đường cho trẻ em(9)… Đó là kết quả vận dụng lý thuyết dân chủ xã hội chủ nghĩa vào điều kiện nước Nga. Đó là những ưu việt của một nền dân chủ mới dưới ánh sáng khoa học của học thuyết dân chủ cách mạng Mác-Lênin. Dân chủ đã trở thành hiện thực sinh động, nhân dân Nga đã sáng tạo nên một nền dân chủ mới đầy sức sống và bước đầu thụ hưởng những giá trị dân chủ đích thực của chính mình. Những thành công “đến nơi” của cách mạng Nga, những ưu việt thực chất của nền dân chủ mới ở Nga đã trở thành mẫu hình quan trọng đầy tính gợi mở để Nguyễn Ái Quốc từng bước xây dựng mô hình dân chủ cho cách mạng Việt Nam.

5. Thiết kế mô hình và nguyên tắc vận hành của nền dân chủ ở Việt Nam…

Thiết kế xây dựng mô hình và nguyên tắc vận hành của nền dân chủ mới là một trong những vấn đề cơ bản của cách mạng nên đây cũng là một quan tâm lớn đặc biệt của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Điều này đã được Bác thể hiện trong rất nhiều bài viết, bài nói, trong các giai đoạn khác nhau, trong các văn kiện chính thức của Đảng, Nhà nước cũng như trong những chỉ đạo thực tiễn, khi Bác ở nước ngoài cũng như khi Người về nước, trong quá trình vận động chuẩn bị thành lập Đảng, chuẩn bị giành chính quyền cũng như trong quá trình xây dựng, vận hành chính quyền mới, nền dân chủ mới. Theo Bác, nền dân chủ ở nước ta cần phải được xây dựng trên những nội dung cơ bản sau:

– Cơ sở lý luận, nền tảng tư tưởng của nền dân chủ: Chủ nghĩa Mác-Lênin, vì đây là “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất”.

– Mục tiêu của nền dân chủ: Nước được độc lập, nhân dân được hưởng ấm no, tự do, hạnh phúc, sung sướng. Ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, ốm đau có thuốc… “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(10).

– Mô hình dân chủ cộng hòa, trong đó,

+ Nhân dân là chủ thể mọi quyền lực. Theo Hồ Chí Minh, dân chủ nghĩa là “dân là chủ”(11), “dân làm chủ”(12), “quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Nền dân chủ xây dựng ở Việt Nam là nền dân chủ “tất cả mọi quyền lực đều là của nhân dân”. Hồ Chí Minh viết: Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến chính phủ do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(13). Dân và nhân dân ở đây được hiểu với nội dung rất cụ thể và rộng lớn: gồm cả cộng đồng người, nhân dân, đồng bào, quần chúng nhân dân, công nhân, nông dân, trí thức, phụ nữ, thanh thiếu niên, thiếu nhi, học sinh, sinh viên, các bậc phụ lão, đồng bào các dân tộc, tôn giáo, kiều bào ta ở nước ngoài. Những bọn tay sai cho đế quốc, thực dân, bọn phản bội lợi ích của Tổ quốc thì không thuộc nhân dân, đó là bọn phản nhân dân.

+ Nền dân chủ toàn diện, cụ thể, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nền dân chủ phải là: Về chính trị, “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”(14); xây dựng Nhà nước dân chủ pháp quyền của dân, do dân, vì dân; xây dựng Đảng và các tổ chức chính trị xã hội trong sạch, vững mạnh, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Về kinh tế, xuất phát từ “chỗ bắt đầu đi của chúng ta” là “nước nông nghiệp lạc hậu”, nên dân chủ trên lĩnh vực kinh tế cần: tôn trọng, bảo đảm phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu, “công tư đều được chiếu cố, chủ và thợ đều có lợi”(15); trong đó, “kinh tế quốc doanh lãnh đạo nền kinh tế quốc dân và Nhà nước phải bảo đảm cho nó phát triển ưu tiên để tạo nền tảng vật chất cho chủ nghĩa xã hội và thúc đẩy việc cải tạo xã hội chủ nghĩa”(16); dưới các hình thức, người lao động làm chủ tư liệu sản xuất, làm chủ trong quản lý kinh tế, làm chủ việc phân phối sản phẩm lao động”(17), “làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng – những người già yếu, tàn tật sẽ được nhà nước giúp đỡ chăm nom”. Về văn hóa – xã hội, xây dựng một nền văn hóa “dân tộc, khoa học, đại chúng”, mọi người Việt Nam đều hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, có kiến thức để xây dựng đất nước; xây dựng đời sống mới trên tất cả các lĩnh vực trong cả nước đến hoạt động sống hằng ngày ở gia đình và cộng đồng dân cư; xây dựng đạo đức công dân, yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học và bảo vệ của công…

– Nguyên tắc xây dựng và hoạt động của nền dân chủ:

+ “Đảng lãnh đạo… công nông liên minh, nhân dân lao động làm chủ nước nhà, xây dựng nhân dân dân chủ chuyên chính…”(18), nghĩa là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Nhà nước, đoàn thể đối với dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại đến dân phải hết sức tránh. Dựa vào dân, đem tài dân, sức dân để làm lợi cho dân, mưu cầu hạnh phúc cho dân. Nhân dân đối với đoàn thể và Chính phủ của mình thì phải giúp đỡ, theo đúng kỷ luật, làm đúng chính sách, đôn đốc, kiểm soát, phê bình để Chính phủ và đoàn thể làm tròn phận sự mà nhân dân giao phó.

+ Để có dân chủ thật sự, “tư tưởng phải được tự do”. Tự do tư tưởng là, “đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý”, “khi tìm ra chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý”. Và cần lưu ý rằng, “chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân”, “ra sức phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, tức là phục tùng chân lý”(19).

+ “Chế độ ta là chế độ dân chủ nhân dân; chúng ta cần mở rộng dân chủ đối với nhân dân, đồng thời cần tăng cường chuyên chính với kẻ địch của nhân dân. Có tăng cường chuyên chính với kẻ địch thì mới bảo vệ được tự do và dân chủ của nhân dân ta”(20).

+ “Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân”, để xây dựng nền dân chủ thì phải phát huy dân chủ, thực hành dân chủ rộng rãi. Dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển. “Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được đông đảo lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên”(21). “Thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”(22). Trong đó, trước hết cần đặc biệt chú ý thực hành dân chủ, phát huy dân chủ trong Đảng và dân chủ ở cơ sở, ở nông thôn…

Tóm lại, với Bác Hồ, yêu nước gắn với yêu thương và kính trọng nhân dân. Ngày 5-6-1911, rời Tổ quốc đi ra nước ngoài, với Người, mục đích rất cụ thể: tìm đường cứu nước, cứu dân, tìm kiếm con đường để nước được độc lập, dân được tự do, ấm no, hạnh phúc, sung sướng. Đây là mục đích và cũng là “tiêu chí” để Người tìm kiếm, khảo sát, phân tích, đánh giá các lý thuyết giải phóng, các chế độ chính trị, các cuộc cách mạng, các nền dân chủ trên thế giới. Nghiên cứu lịch sử cách mạng và “cách cai trị”của nhiều nước trên thế giới, Bác nhận rõ cách mạng tư sản là “không đến nơi”. Trong thế giới bấy giờ chỉ có cách mạng Nga do đảng của V.I.Lênin lãnh đạo là thành công “đến nơi”. Do đó, để đi tới độc lập cho Tổ quốc, ấm no, tự do và hạnh phúc cho đồng bào, cách mạng Việt Nam phải đi theo con đường Chủ nghĩa Mác-Lênin và tấm gương Cách mạng Tháng Mười. Đó là con đường xây dựng, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, con đường độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội.

Lịch sử cách mạng Việt Nam hiện đại đã khẳng định con đường dân chủ mà Bác chính thức lựa chọn cho dân tộc ta từ những năm 20 của thế kỷ trước là đúng đắn. Mô hình dân chủ do Bác Hồ và Đảng ta thiết kế đã từng bước tỏ rõ sức sống và triển vọng phát triển của nó trên Tổ quốc thân yêu của chúng ta, nhất là trong 25 năm đổi mới. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là con đường thuận lòng dân, hợp thời đại và đúng quy luật phát triển của lịch sử nhân loại nói chung và lịch sử dân chủ nói riêng.

Chính vì vậy, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực…”(23). Đảng ta coi đây vừa là mục tiêu, động lực, vừa là con đường, giải pháp cơ bản để từng bước thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đây là sự tiếp tục con đường dân chủ theo Tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới.

————–

(1), (2), (4), (9) Trần Dân Tiên – Những mẫu chuyện về cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, NXB Trẻ, 2004, tr 10-11; tr 41; tr 40; tr 58-62.
(3) Http://bee.net.vn/channel/1984/201004/Toi-xin-cat-loi-ca-muon-man-cua-hau-the-ve-Nguoi-1750687/
(5),(7) Hồ Chí Minh, Tuyển tập, tập 1, NXB CTQG, H, 2002, tr 274; 388.
(6) Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn báo chí, NXB Thanh Niên, H, 2005, tr 260.
(8), (15), (18) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, NXB CTQG, H, 1996, tr 210; 361; 217.
(10), (17), (22) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, NXB CTQG, H, 2000, tr 512; 568; 249.
(11), (14) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, NXB CTQG, H, 1995, tr 515.
(12), (19), (20) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, NXB CTQG, H, 1996, tr 375; 216; 313,314.
(13) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, NXB CTQG, H, 1995, tr 698.
(16), (21) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, NXB CTQG, H, 1996, tr 590; 593.
(23) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB CTQG, H, 2011, tr 85.

ThS. Nguyễn Anh Tuấn
Trường Đại học Tây Nguyên

xaydungdang.org.vn