Thư viện

Phong cách, nhân cách nhà báo Hồ Chí Minh

… Cái thuở mà Le Paria “tung hoành” trong 38 số cách đây gần… 90 năm. Thời đó mà trang 4 của báo đã có đăng quảng cáo thuốc men, đăng giờ tàu đến và đi, quảng cáo cho các dụng cụ cắt cỏ… thì mới hiểu Nguyễn Ái Quốc đã “làm” báo vất vả và sáng tạo như thế nào.
Nhà báo đặc biệt

Trong thế giới đương đại, nếu phải bầu chọn nhà báo đặc biệt nhất thì chắc chắn người đó phải là Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.

Trước hết, nếu nói về những nhà báo đi lên và thành công từ gian khổ, vất vả; trên thế giới có không ít, nhưng bôn ba gần khắp trái đất, làm hàng chục nghề khác nhau suốt 30 năm trời thì khó có thể tìm ra người thứ hai. Một nhà báo, viết bài báo đầu tiên trong đời – ngày 2.8.1919, báo L’Humanité, bài “Vấn đề người bản xứ” – khi chưa thật sự rành rẽ về ngôn ngữ (tiếng Pháp), đó cũng là Nguyễn Ái Quốc.

Điều đó nói lên rất rõ rằng, báo chí “đến” với Người, trước hết là bởi yêu cầu chiến đấu, dùng ngòi bút để làm đòn xoay chế độ, vì dân tộc, vì độc lập, tự do; xuất phát từ lòng dũng cảm và lòng yêu nước vô bờ bến. Hồ Chí Minh cũng là nhà báo có nhiều bút danh nhất thế giới với gần 200 bút danh khác nhau; thậm chí có những “bút danh” kỳ lạ như: Bé Con, Xung Phong, X.L., T.L., Một Người An Nam, Một Người Bạn, Hy Sinh (trên báo Độc Lập, 1941-1942)…

Hồ Chí Minh cũng là nhà báo viết rất nhiều (trên dưới 2.000 bài) và là nhà báo đạt đến vị trí lãnh tụ tối cao của một dân tộc, người sáng lập ra một chính đảng, một nhà nước dân chủ cộng hòa đầu tiên ở vùng Đông Nam Á; đồng thời là nhà báo duy nhất được LHQ tôn vinh là Danh nhân văn hóa của thế giới. Hồ Chí Minh còn là nhà báo “kỳ lạ” nhất của hành tinh này: “Khởi nghiệp” bằng tiếng Pháp, tiếp tục bằng tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Trung Quốc; rồi sau đó mới viết bằng ngôn ngữ mẹ đẻ là tiếng Việt! Sau cùng, cũng rất cần nhắc đến một sự đặc biệt nữa của nhà báo Nguyễn Ái Quốc: Người vừa là chủ nhiệm của tờ báo “Người Cùng Khổ” (Le Paria) đồng thời là chủ bút, hoạ sĩ biếm họa, thợ rửa ảnh, thủ quỹ, phát hành, bán báo…

Dẫu chưa đầy đủ, nhưng những sự kiện được thống kê trên đây, rất đủ cho mỗi nhà báo Việt Nam hôm nay nói riêng, nhân dân ta nói chung hiểu rõ sự phi thường trong con người – nhà báo Hồ Chí Minh.

Phong cách Hồ Chí Minh

Với Hồ Chí Minh, mục tiêu, động lực để viết báo là rất rõ ràng. Tại Trường Chỉnh Đảng Trung ương ngày 17.8.1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn, trước khi viết phải tự hỏi: “Vì ai mà mình viết? Mục đích viết là gì?”.

Sau này, trong Đại hội II của Hội Nhà báo Việt Nam ngày 16.4.1959, Hồ Chí Minh khẳng định, Người viết báo là để “chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Mục tiêu rõ ràng, động cơ sáng trong và ngọt lành như nắng ban mai; đó là điều đầu tiên làm nên nhân cách và sự thành công của một nhà báo vĩ đại. Với nguyên tắc “viết cho ai”, nên ngôn ngữ báo chí của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã đạt đến trình độ của một lăng kính đa chiều, luôn hấp dẫn và mới mẻ.

Ở Pháp, viết cho thực dân đế quốc đọc, Nguyễn Ái Quốc chơi chữ rất tài tình. Chẳng hạn, sống ở Paris, Người đặt tên tờ báo là Le Paria – có nghĩa là “dưới đáy, người khổ sở tận cùng trong xã hội”. Thời kỳ sống và hoạt động ở căn cứ địa Việt Bắc, những bài báo của Người chủ yếu viết cho đồng bào miền núi đọc, nên ngôn từ lại trở nên mộc mạc, dễ hiểu. Chúng ta rất dễ nhận thấy một điểm đáng chú ý: Viết cho thanh niên, Hồ Chí Minh dùng ngôn ngữ của lớp trẻ; viết cho thiếu nhi là cách dẫn dụ mộc mạc của ngôn từ giản dị, viết cho nông dân là ngôn ngữ của chân quê…

Nhà báo Nguyễn Ái Quốc còn là một nhà báo rất năng động, nhạy cảm. Chúng ta hãy hình dung cái thuở mà Le Paria “tung hoành” trong 38 số cách đây gần… 90 năm. Thời đó mà trang 4 của báo đã có đăng quảng cáo thuốc men, đăng giờ tàu đến và đi, quảng cáo cho các dụng cụ cắt cỏ… thì mới hiểu Nguyễn Ái Quốc đã “làm” báo vất vả và sáng tạo như thế nào. Nên lưu ý rằng, theo tài liệu của mật thám Pháp, có lúc Le Paria phát hành đến 2.000 bản, một nửa được gửi cho các nước thuộc địa (!).

Phong cách của nhà báo Hồ Chí Minh còn là sự hiểu biết rất rộng, rất sâu mà lại rất gần gũi quần chúng. Đọc những bài báo của Người, chúng ta kinh ngạc về kiến thức: Từ Ấn Độ đến Palestine, từ Tunisia đến Hoa Kỳ, từ Trung Quốc đến Madagasca…; gần như cái gì Nguyễn Ái Quốc cũng hiểu một cách tường tận. Hiểu biết như thế, những bài báo không sắc, không sâu, không sinh động mới là chuyện lạ.

Sống mãi tinh thần Hồ Chí Minh

Bài báo sau cùng mà Hồ Chí Minh viết là bài: “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên nhi đồng”, ký tên T.L, đăng trên báo Nhân Dân ngày 1.6.1969. Đó không hề là sự ngẫu nhiên. Nếu như bài báo đầu tiên Người viết là vì độc lập cho dân tộc Việt Nam, thì bài cuối cùng là “muôn vàn tình thương yêu” dành cho các cháu thiếu niên, nhi đồng. Ý chí chiến đấu mạnh mẽ và cái TÂM rộng lớn, sâu sắc ấy là điều cần nhất cho bất kỳ một nhà báo nào khi cầm bút.

Trong lần gặp mặt cuối cùng trước đông người – tại buổi nói chuyện với cán bộ lãnh đạo Tổng Công đoàn Việt Nam (nay là Tổng LĐLĐVN) ngày 18.7.1969 – Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hai lần nhắc đến báo chí. Lần thứ nhất, Người nói: “Bác xem báo Lao Động, có bài viết về chuyện một số công nhân nào đấy mỗi ngày chỉ làm rất ít giờ. Bác rất đau lòng”. Lần thứ hai, Bác đưa tờ báo Nhân Dân ngày 16.7.1969 ra để nói về chuyện báo đăng lời phê bình của công nhân là rất tốt.

Người nhắc thêm: “Báo Lao Động nên mở rộng mục này cho quần chúng phê bình trên báo. Như vậy, vừa bảo đảm quyền dân chủ công nhân, vừa nâng cao tinh thần chiến đấu của tời báo” (Hồ Chí Minh, TT, T.12, tr. 565-567). Có lẽ, cho đến tận hôm nay, chúng ta vẫn phải tự hỏi là mình đã làm đủ, làm đúng những gì Bác Hồ mong muốn hay chưa?

Trong thư căn dặn những người sắp trở thành nhà báo do Báo Cứu Quốc tổ chức năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra những khuyết điểm của báo chí của ta như: Tuyên truyền không kịp thời, chính trị suông quá nhiều, không biết giữ bí mật, đôi khi đăng tin vịt, tờ báo không vui… Ngẫm lại, cứ ngỡ những điều Người nói như vừa mới diễn ra sáng nay! Vẫn còn không ít tờ báo “chính trị suông” quá nhiều, hay không biết cách để giữ bí mật quốc gia. Có báo thật buồn tẻ từ trang đầu cho tới trang cuối; thậm chí, người dân không còn muốn đọc nữa.

Gần 90 năm đã trôi qua kể từ khi Nguyễn Ái Quốc viết bài báo đầu tiên; 82 năm, kể từ khi Báo Thanh Niên ra số đầu tiên (21.6.1925), mở đầu cho dòng báo cách mạng của dân tộc; báo chí Việt Nam hôm nay đã phát triển mạnh mẽ về cả số lượng lẫn chất lượng. Chúng ta ghi nhớ công lao của nhà báo vĩ đại Hồ Chí Minh đồng thời cũng rất cần ghi nhớ thêm rằng, phong cách và tinh thần, tư tưởng và ý chí, tâm huyết và ngọn bút mẫn tiệp, sắc sâu của Người vẫn sống mãi với sự tươi mới, vững bền bất kể thời gian, vượt qua mọi không gian.

Với tư cách là một trong những đỉnh cao của báo chí thời đại, ngọn bút Hồ Chí Minh là ngọn tháp rực rỡ, là tấm gương sáng ngời để cho muôn đời sau hướng tới, bước tiếp trên con đường tươi đẹp của tổ quốc Việt Nam.

(Theo Hà Văn Thịnh – Lao Động )

quangbinh.gov.vn

Giá trị minh triết Hồ Chí Minh

1.   Phương pháp tạo dựng lâu dài tri thức

Phạm Văn Đồng đã từng khái quát: “Hồ Chí Minh, người tiểu tư sản nông thôn bởi nguồn gốc xuất thân, trở thành người công nhân bởi cuộc sống và lập trường giai cấp, người có hiểu biết rộng lớn và sâu xa về nhiều mặt bởi quá trình học tập, người chiến sĩ cách mạng quốc tế hội tụ được trong mình cả sức vùng lên của các dân tộc bị áp bức và chất tiền phong của giai cấp công nhân châu Âu”(1).

Do đặc tính đó, Hồ Chí Minh là tấm gương tiếp thu tinh hoa dân tộc và thế giới, vì mục tiêu giải phóng dân tộc, xã hội và con người. Kinh qua Hồ Chí Minh, “tinh hoa của thế giới đã Việt Nam hóa rồi, đã mượn hình dáng, bộ điệu, ngôn ngữ Việt Nam, cho đến tinh thần Việt Nam nữa” (Phạm Văn Đồng).

Nhà sử học Charles Fourniau, nguyên Tổng thư ký Hội hữu nghị Pháp – Việt, trong tác phẩm Hồ Chí Minh – người đồng chí của chúng ta(2), cũng hết sức ca ngợi tinh thần Việt Nam hóa của Hồ Chí Minh, khi phân tích bài Kính cáo đồng bào (6/1941) của Nguyễn Ái Quốc (tức Hồ Chí Minh) sau khi mặt trận Việt Minh ra đời. Theo tác giả, những lời hiệu triệu quốc dân trong bài Kính cáo này “có sức sáng tạo kỳ lạ, vừa bắt nguồn từ truyền thống phong cách Khổng học, vừa kết hợp truyền thống Jacobins của Pháp; một số câu chữ trong bài không thể không nhớ tới lời kêu gọi quần chúng nổi dậy 1793” (tức 4 năm sau cách mạng Pháp 1789).

Những lời bình luận tương tự như vậy có khá nhiều trong dư luận thế giới đối với Hồ Chí Minh về sự kết hợp nhuần nhị nhiều yếu tố và kiểu dáng tinh hoa của dân tộc và quốc tế, xưa và nay; không phải chỉ qua văn bản, phương châm hành đồng mà với cả phong cách sống của bậc “hiền triết hiện đại – Hồ Chí Minh” (Sékou Touré). Trong buổi tiếp truyện nhà văn I. Taber (7/10/1965) – người dịch Truyện Kiều của Nguyễn Du ra tiếng Đức – Hồ Chí Minh đã nói rõ quan điểm truyền thống – hiện đại của mình: “Người cộng sản chúng ta phải rất quý trọng cổ điển. Có những ngọn suối tiến bộ chảy từ ngọn núi tiến bộ đó. Càng thấm nhuần chủ chủ nghĩa Mác – Lênin càng phải coi trọng truyền thống tốt đẹp của cha ông”(3).

Sự tích hợp phong phú trí thức nào về Đông – Tây, kim cổ cũng đòi hỏi một sự kiên trì tìm tòi học tập; và sự kết hợp nhuần nhị các dạng tinh hoa nào cũng đòi hỏi tinh thần sáng tạo bền bỉ. Hồ Chí Minh là một con người như vậy. Đối với Người, trường học mới chỉ là cánh cửa đầu tiên giúp con người đi vào lâu đài văn hóa. Từ những cánh cửa này con người bước tiếp vào những cánh cửa của cuộc đời, thấy được ánh sáng tỏa ra trong hàng hàng pho sách, trong cái xô bồ, bề bộn, phức tạp và tinh vi của hiện thực mình đang sống, đang vật lộn để sinh tồn và phát triển. Và từ những tích lũy tri thức để trở thành kho kiến thức, kho kinh nghiệm, Hồ Chí Minh tự soi rọi mình và nâng cao mình, cho mình một quan niệm sống và lẽ sống, một cách nhìn đối với thế giới xung quanh và xác định một hướng đi trên con đường mình lựa chọn. Thu nhận kiến thức từ sáng tạo của lịch sử, của con người, rồi với thiên tài nhiều mặt, Hồ Chí Minh lại sáng tạo nên một kỳ tích, mang đậm dấu ấn riêng, giúp ích cho đời và thúc đẩy lịch sử theo qui luật tiến hóa.

Hồ Chí Minh đã tự khẳng định với mình và khuyên các đồng chí của mình: học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Trả lời một câu hỏi: “Học ở đâu?” Người nói: “học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học ở nhân dân. Không học ở nhân dân là một thiếu sót rất lớn”(4). Đạt được mục đích ấy, ở Người là một nghị lực phi thường cộng với tinh thần sáng tạo đổi mới để có thể nghe được, thấy được, nhìn nhận được và xác định được con đường phải đi và đến. Vượt trên tất cả những mặt ấy là sự thôi thúc của tình yêu dân tộc, đất nước, tình nhân ái bao la đối với lớp người cùng khổ, sự cảm thông và chia sẻ với các bộ phận nhân loại còn bị đè nén và sống kiếp cơ hàn. Từ gia đình và những nho sĩ bạn thân của gia đình, từ trường học và trường đời diễn ra trên đất nước nô lệ, đến mọi thủ đô, kinh thành, thị trấn, hải cảng và làng mạc mà Người đã sống, đã đi qua trên khắp các lục địa, đều để lại những dấu ấn sâu sắc trong kho tàng tri thức Hồ Chí Minh. Từ những nghề lao động chân tay và lao động trí óc mà Người đã kinh qua, từ đủ mọi loại người mà Người gặp gỡ, giao thiệp và kết bạn trên khắp các nẻo đường Á, Âu, Phi, Mỹ, từ các tôn giáo chính thống mà Người có quan tâm, từ các phong trào cách mạng và phong trào công nhân mà Người đã nghiên cứu, từ các tác phẩm văn hóa, văn học tiêu biểu qua nhiều thời đại của phương Đông và phương Tây mà Người đã đọc… đều góp phần tạo nên một vóc dáng vĩ nhân Hồ Chí Minh.

Là người có chí khí, luôn luôn suy nghĩ, tìm tòi và sáng tạo, Hồ Chí Minh thường xuyên đặt câu hỏi và quyết tâm tìm lời giải đáp cho kỳ được. Tham gia phong trào Duy Tân ở Huế lúc còn là học sinh ít tuổi, nhưng rồi Hồ Chí Minh không tán thành con đường cứu nước của các sĩ phu trong các phong trào Cần Vương, Văn Thân. Chịu ảnh hưởng của cụ thân sinh là nhà khoa bảng Nguyễn Sinh Sắc, Hồ Chí Minh đã thấy được chế độ quân chủ không còn thích hợp, nhưng vẫn tìm thấy cái mới trong việc đề cao tân học, bác bỏ cựu học của phong trào cải cách theo hướng quân chủ lập hiến, do Khang Hữu Vi và Lương Khải Phiêu đề xướng. Đả phá tư tưởng thiên mệnh, định mệnh nhưng Hồ Chí Minh đưa nội dung mới vào quan điểm nhân – nghĩa… của đạo Nho. Không tán thành chế độ tư sản nhưng Hồ Chí Minh thiết tha với phương châm “Tự do, bình đẳng, bác ái” của Cách mạng Pháp 1789, với chủ trương “Tam dân” (dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc) của cách mạng Tân Hợi ở Trung Hoa (1911) do Tôn Trung Sơn làm thủ lĩnh. Sau này, khi tìm được cẩm nang trong Luận cương chính trị của Lênin về vấn đề giải phóng các dân tộc thuộc địa, Hồ Chí Minh nhìn thấy được ánh sáng thật sự ở chân trời và từ đấy, mở ra con đường cứu nước cứu dân, sát hợp với thực tiễn dân tộc.

Hơn ai hết, Hồ Chí Minh đã cảm thấy được rằng, chân lý tuy có một nhưng chính nghĩa có nhiều, phải biết chắt lọc những tinh hoa từ chính nghĩa để bổ sung cho chân lý. Một tình thương người bao la của Giê-su, của Thích Ca, một đức tính khiêm nhường, bình dị của Găng-đi, một Lênin nhân hậu và triệt để cách mạng, một lối sống thanh thản trong tâm hồn và tình yêu thiên nhiên ở các nhà hiền triết phương Đông, v.v… đều đi qua cuộc đời Hồ Chí Minh, một vĩ nhân vào loại đặc biệt của thế kỷ XX.

Nhiều người đã gọi Hồ Chí Minh bằng nhiều danh vị văn hóa khác nhau và danh vị nào cũng đúng: nhà thơ, nhà văn, nhà sinh ngữ, nhà văn hóa, nhà báo, nhà chính luận, nhà viết kịch, cây bút châm biếm. Không hẳn phải có sự lịch lãm nhiều mặt của văn hóa mới thành nhà văn hóa lớn, nhưng rõ ràng ở nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh có bao trùm nhiều lĩnh vực rộng lớn của văn hóa.

Hồ Chí Minh đã trở thành một hiện tượng văn hóa, như nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và trong nước đã nhận định. Đó là sự kết hợp hài hòa nhiều phong thái rất khác nhau trong một con người, dù trải qua bao nhiêu biến thiên của lịch sử: “vừa dân tộc vừa quốc tế; vừa rất mực nhân từ vừa triệt để cách mạng; rất uyên bác và cực kỳ khiêm tốn; rất nguyên tắc và chiến lược lại rất linh hoạt về sách lược; vừa nhìn xa trông rộng vừa thiết thực, cụ thể; vừa vĩ đại vừa vô cùng bình dị; vừa là chiến sĩ vừa là nhà thơ” (Võ Nguyên Giáp).

Các giá trị văn hóa tinh thần của Hồ Chí Minh, về cơ bản vẫn giữ nguyên giá trị cho đến ngày nay, soi rọi vào mọi chủ trương, hành động trong công cuộc đổi mới. Tất nhiên lịch sử đã sang trang, các giá trị tinh thần ấy phải được phát triển và nâng cao cho mọi phù hợp với giai đoạn cách mạng, nhất là đối với các luận điểm cụ thể của Người về văn hóa nghệ thuật, văn hóa đạo đức, văn hóa lối sống, văn hóa thẩm mỹ, văn hóa quản lý, v.v…

2.   Phong cách lý luận: từ thực tiễn “cây đời”

Có người băn khoăn: Hồ Chí Minh là nhà thực tiễn, nhà hành động, hay còn là nhà lý luận? Hiểu vấn đề này một cách tương đối chính xác, không gì bằng trở lại với những nguyên tắc tạo thành lý luận và quan điểm lý luận như thế nào là đúng đắn. Đó là cơ sở triết học của một hệ tư tưởng chủ đạo trong một lĩnh vực hoạt động; là kinh nghiệm của loài người được đúc kết thành một quan niệm khái quát; là tổng hợp các tri thức về tự nhiên, xã hội và con người được tích lũy. Lý luận nào cũng được kiểm nghiệm qua thực tiễn đời sống của mọi lĩnh vực. Rồi kinh qua thực tiễn, lý luận được bổ sung và điều chỉnh, làm phong phú kho tàng hệ tư tưởng. Do đó, thực tiễn là bầu sữa nuôi sống thực tiễn. Từ nguyên tắc chung về lý luận, sắc thái lý luận của một hệ tư tưởng, mỗi nền văn hóa có khác nhau; hoặc cùng chung một hệ tư tưởng song phong cách lý luận của mỗi người có khác nhau do nhiều yếu tố chi phối, chủ yếu là phương pháp tư duy và nghệ thuật khái quát…

Lý luận mang tính tư biện để trở thành lý thuyết suông là hoàn toàn xa lạ với quan niệm về lý luận gắn với thực tiễn của chủ nghĩa Mác – Lênin. Hồ Chí Minh từ sớm đã thấu triệt quan niệm đó. Cách đây trên 40 năm, nhà nghiên cứu Pháp Gabriel B. Nonnet trong tác phẩm Việt minh – Hồ Chí Minh(5) đã nhận xét: Hồ Chí Minh đã tiếp nhận nhiều ở các nền văn hóa, giáo dục phương Tây nhưng hoàn toàn không đi vào con đường kinh viện. Do đọc nhiều, đi nhiều, và sử dụng thông thạo các tiếng Pháp, Anh, Hoa, Nga… đã hình thành ở ông một kiểu tiếp nhận hiệu quả và sâu sắc. Giáo sư triết học và xã hội học Nhật Bản, trong bài Hồ Chí Minh – nhà tư tưởng, đọc trong cuộc mít tinh ở Tokyo ngày 25-9-1969, tỏ lòng thương tiếc Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, cũng đã viết đại khái như thế: “Đọc các tác phẩm của cụ Hồ Chí Minh, tôi thấy các tác phẩm ấy đã phát triển lý luận không theo một cách uyên bác xa xôi, mà viết bằng những lời lẽ giản dị và những câu ngắn gọn. Những viên ngọc quý nhất được khảm trong các tác phẩm của Người (…) bao gồm lý luận về chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân, lý luận về công tác quân sự, về chủ nghĩa xã hội, về Đảng, v.v…”(6).

Thực ra, với các luận điểm triết học trong nhiều hệ tư tưởng, các trào lưu giải phóng dân tộc và giai cấp, các nền văn hóa, giáo dục mà Hồ Chí Minh đã có dịp học hỏi, cọ xát và suy ngẫm, đều có ảnh hưởng đến phong cách lý luận của Người, một người Việt Nam mẫu mực thấm nhuần truyền thống và tinh hoa dân tộc.

Hồ Chí Minh tuy không có những tác phẩm và chuyên đề lý luận, song nếu không xuất phát từ lý luận giải phóng dân tộc gắn với giải phóng xã hội, thì làm sao Người có thể đề ra luận cương, chiến lược và sách lược cho cách mạng Việt Nam, từ Dân chủ nhân dân đến Chủ nghĩa xã hội. Chính là xuất phát từ lý luận, gắn với nhãn quan chính trị nhạy bén và thực tiễn dân tộc, ngay từ năm 1942 Hồ Chí Minh đã khẳng định là Việt Nam sẽ dành được độc lập trong năm 1945. Đó là lúc mặt trận Việt Minh sau khi ra đời đã hoạt động trong hoàn cảnh phát xít Nhật đã tràn vào Đông Dương, và ở châu Âu mặt trận Đồng minh đang bắt đầu phản công quyết liệt phe Trục phát xít. Lời khẳng định của Người đã trở thành tiên tri. Cho đến bây giờ, các giới nghiên cứu Việt Nam chưa ai lý giải được sâu sắc là Hồ Chí Minh bằng lý luận như thế nào để có được lời dự báo chính xác đó. Hệ thống các luận điểm của Hồ Chí Minh trên nhiều lĩnh vực, trong đó có văn hóa – văn nghệ đều xuất phát từ cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin theo đặc điểm dân tộc trong nhiều giai đoạn. Hồ Chí Minh đã nổi tiếng trong tranh luận về việc thành lập Đệ tam quốc tế và thành lập các tổ chức quốc tế về công nhân, nông dân, thanh niên các nước thuộc địa và Hội các dân tộc bị áp bức ở Á Đông. Hồ Chí Minh cũng nổi tiếng là một nhà bút chiến với nhiều chính khách thực dân và nhiều nhà cách mạng theo tư tưởng cải lương, dưới các bút danh Nguyễn Ái Quốc, Lý Thụy… Chả nhẽ tranh luận và bút chiến lại tách rời lý luận? Hơn nữa, Người thường nhắc nhở: “Phải học tập lý luận Mác – Lênin kết hợp với đấu tranh và công tác hàng ngày…”(7).

Có điều, lý luận ở Hồ Chí Minh không đi vào khái niệm trừu tượng, thuật ngữ và cách diễn đạt không theo ngôn ngữ triết học như các nhà lý luận xưa nay. Với một phong cách tư duy khoáng đạt, bình dị và trong sáng như Hồ Chí Minh, điều đó thật dễ hiểu. Đó cũng còn là quan điểm lý luận của Người. Thời gian hoạt động cách mạng ở Trung Quốc, trong một bài phê phán các luận điểm sai lầm của ông H. trong tập bản thảo Cách mệnh, Người có nói: “Dùng điển tích là tốt nhưng nếu quá lạm dụng sẽ làm cho độc giả khó chịu. Bởi vì tính chất sâu xa, thâm thúy của các điển tích thường cũng hay bao hàm những ý nghĩa mơ hồ, có thể làm người ta hiểu nhầm(8).

Hồ Chí Minh thích dùng hình ảnh hoặc diễn tả thành hình tượng mang tính triết lý để khái quát bản chất một vấn đề hơn là lý luận cao siêu, như gọi chủ nghĩa tư bản đầu thế kỷ XX là con đỉa có hai vòi: “một vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một vòi bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa”; hoặc nói về bọn quan lại sống trên mồ hôi nước mắt của nhân dân: “Khi một con vật cá biệt đã đạt đến trình độ ăn cả tiền thì thường coi là thoái hóa, vì nó đã mất hết đặc tính tinh thần của nòi giống nó rồi”. Cũng như Lênin và các nhà kinh điển của học thuyết Mác, Hồ Chí Minh mong muốn các nhà văn có tài sáng tạo nên những tác phẩm điển hình hóa, phù hợp với quy luật đặc biệt của cách mạng, vì chân lý của cuộc sống và lợi ích của nhân dân, chứ không phải là thứ minh họa, ghi chép sự việc một cách dễ dãi, song Người chỉ nói một cách tế nhị: “Phải sáng tác cho hay, cho chân thật, cho hùng hồn con người mới, cuộc sống mới”. Xoay quanh lập luận đó, có bao nhiêu là vấn đề mỹ học được đặt ra. Mỗi từ, mỗi ý từ cái cô đúc của lập luận đã bao chứa một nội hàm rộng lớn… Sau này, nhiều câu nói của Hồ Chí Minh trở thành phương châm hành động, cũng đều mang tính triết lý, lẫn tính chất hình tượng như thế. (“Vì hạnh phúc mười năm trồng cây, vì hạnh phúc trăm năm trồng người”; “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa”, v.v…).

Phong cách tư duy luận lý ở Hồ Chí Minh là sự vận dụng tư tưởng biện chứng trong triết học của Mác, tư tưởng tổ chức cách mạng và phương pháp luận nhận thức thực tiễn của Lênin, kết hợp với triết lý mang tính cộng đồng vốn có trong văn hóa truyền thống của dân tộc được kết tinh ở Người. Dù mang theo trong tư tưởng nhiều dòng văn hóa được tiếp thu và chắt lọc, thì Hồ Chí Minh trước hết và trên hết vẫn là con người Việt Nam, mà lịch sử tư tưởng Việt Nam là truyền thống về những mặt thuộc nhân sinh quan cụ thể và thực tiễn.

Phong cách lý luận – thực tiễn của Hồ Chí Minh rất phù hợp với đặc điểm và hoàn cảnh dân tộc ở những giai đoạn cách mạng đã qua, có tác dụng thúc đẩy quy luật phát triển theo tinh thần biện chứng Macxit. Ở Hồ Chí Minh là sự kết tinh nhiều giá trị văn hóa tinh thần, trong đó có phương pháp nhận thức và cải tạo hiện thực theo tầm vóc và phong cách của Người. Từ thực tiễn được đúc kết, rút ra được vấn đề và lý giải được nó, để thúc đẩy hiện thực tiến lên, đó chính là bài học về lý luận mà Người đã để lại cho chúng ta. Còn lý luận như thế nào, do phong cách nhà lý luận quyết định. Tất nhiên là lý luận không đứng im trong thời gian, vì đời sống phát triển theo quy luật vận động, do đó lý luận cũng không ngừng đổi mới và sáng tạo, theo hướng tiến lên của lịch sử, của chủ nghĩa xã hội khoa học chân chính.

Lúc Chủ tịch Hồ Chí Minh còn bình sinh, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã bắt đầu phát triển, tuy chưa phát triển đến mức như hiện nay, nên các luận điểm về văn hóa của Người đều hướng đến một tinh thần khoa học kết hợp với tinh thần nhân văn, để thúc đẩy những nhiệm vụ trước mắt: giải phóng dân tộc đi đôi với giải phóng xã hội; xây dựng con người gắn với nền văn hóa mới; tinh thần dân tộc hòa hợp với tinh thần quốc tế; xây dựng tư tưởng xã hội chủ nghĩa trong bước đi ban đầu theo hoàn cảnh một nước nông nghiệp lạc hậu và đất nước còn tạm chia cắt… Đất nước và thời đại hôm nay đã khác trước về nhiều mặt, lý luận phải lần lượt giải đáp những vấn đề trong hoàn cảnh mới, theo tinh thần cơ bản mà ý thức lý luận gắn với thực tiễn của Hồ Chí Minh đã gợi mở.

3.   Di sản văn hóa gắn với dân tộc và thời đại

Qua hoạt động trong sự nghiệp cách mạng ở Hồ Chí Minh, chúng ta càng thấy rõ tầm quan trọng của giao lưu và phương pháp tiếp thu văn hóa với vấn đề bản sắc dân tộc của văn hóa, trong một thời đại đầy biến động và không ngừng biến động. Không một nền văn hóa dân tộc nào không chịu ảnh hưởng lẫn nhau bởi các nền văn hóa khác mà có thể trường tồn và phát triển. Xưa đã thế và nay lại càng hơn thế. Hoàn cảnh quốc tế và phương tiện quyết định sự mở rộng giao lưu văn hóa. Khép kín văn hóa là đồng nhất với dân tộc trì trệ và ngưng đọng. Trong cái nghĩa bôn tẩu đó đây trên khắp các châu lục để tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh, có bao hàm cái nội dung là Người sẽ mang về cho dân tộc một kiểu văn hóa gì vừa giải phóng và phát triển dân tộc, vừa thích ứng với thế giới văn minh. Và Người đã mang về cho ta một hệ tư tưởng kết hợp nhuần nhuyễn giữa đạo lý làm người của cha ông với tinh thần quốc tế trong sáng, vì tình hữu nghị giữa các dân tộc; một ý thức tự hào và trách nhiệm giữ gìn, khai thác di sản văn hóa tinh thần của tổ tiên truyền lại cho ta và của loài người tiến bộ; một lối sống “Trung với nước, hiếu với dân”, một tình yêu thương rộng lớn đối với con người, trước hết là các lớp người đã từng chịu nhiều đau khổ, tủi nhục; một phong cách tôn trọng dân chủ, công bằng và tín ngưỡng của nhân dân; một quan niệm phát triển kinh tế trên cơ sở một nền khoa học kỹ thuật; một hoài bão về dân giàu, nước mạnh, đất nước đẹp đẽ và đàng hoàng hơn xưa…

Tư tưởng bách khoa ở Người đã trở thành một chủ nghĩa nhân văn bao trùm gắn với những giá trị dân tộc trong thời đại mới. Một chân lý khoa học đã khẳng định rằng, khi một dân tộc không biết nhào nặn và chuyển hóa những cái đã tiếp thu thành cái của mình, như sự phát triển tự thân, thì dân tộc đó sẽ chết đi về mặt chính trị. Nhào nặn trên cơ sở tính dân tộc và tạo thành bản sắc dân tộc của văn hóa trong sự nghiệp xây dựng, phát triển các giá trị tinh thần. Sự kết tinh nhiều dòng văn hóa ở Hồ Chí Minh là sự nhào nặn tinh hoa văn hóa loài người với truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc. Đúng như tổ chức UNESCO đã xác nhận: Hồ Chí Minh “là hiện thân của những khát vọng các dân tộc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”.

Hồ Chí Minh là một nhân vật quốc tế lỗi lạc nhưng ở Người không bao giờ mang theo một thứ chủ nghĩa thế giới xa lạ với những giá trị tinh thần chân chính. Văn hào Gorki đã từng nói: “Những bậc vĩ nhân xưa nay đều là con đẻ của đất nước họ, bao giờ cũng có tính cách dân tộc của nhân dân mình, vì họ sở dĩ vĩ đại ở chỗ đại biểu được cho nhân dân. Khi một vĩ nhân vật lộn với nhân dân thì đó không phải là một cuộc đấu tranh giữa nhân tố nhân loại với nhân tố dân tộc mà cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, giữa ý niệm với chủ nghĩa kinh nghiệm, giữa lẽ phải với thành kiến”(9). Nhân dân là nền tảng của quốc gia, là gốc rễ sâu bền của dân tộc, là đối tượng phải phục vụ của một chế độ chính trị chân chính, nhưng nhân dân không phải là một khối thuần nhất. Vật lộn với một bộ phận nhân dân thoái hóa, lạc hậu, biến chất để cho cái tiến bộ, cái tinh lọc, cái cao cả chiến thắng, còn khó khăn, gian khổ hơn cả “vật lộn” với kẻ thù bằng mọi thứ vũ khí. Hồ Chí Minh hiểu rõ hơn ai hết những chỗ mạnh chỗ yếu, những mặt cần phát huy và những mặt cần hạn chế của nhân dân nên Người đề ra cho văn hóa những bước đi, những nhiệm vụ trong từng hoàn cảnh. Người yêu cầu “văn hóa phải đi sâu vào tâm lý quốc dân, đi vào cuộc sống mới”, rằng “văn hóa phải sửa đổi tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ”, “văn hóa phải làm thế nào cho mọi người dân Việt Nam từ già đến trẻ, cả đàn ông và đàn bà, ai cũng hiểu nhiệm vụ của mình và biết hưởng hạnh phúc mà mình nên được hưởng”.

Nền văn hóa mới mà Người khởi công xây dựng là mở mang dân trí đi đôi với trau dồi đạo đức, nhân cách của con người, trên cơ sở tính dân tộc và bản lĩnh dân tộc. Giáo dục, văn chương, nghệ thuật và thông tin đại chúng góp phần đắc lực vào việc xây dựng con người; từ đó quyết định sự phát triển của khoa học kỹ thuật, của nền văn hóa bác học, đồng thời quyết định vị trí của dân tộc trên trường quốc tế. Nền văn hóa mới của chúng ta đạt đến trình độ và thành quả như hiện nay không thể tách rời với sự nghiệp to lớn của Hồ Chí Minh, với một đường lối khoa học, thực tiễn, rất dân tộc và hiện đại.

Chúng ta đang xây dựng nền văn hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mở rộng giao lưu kinh tế văn hóa với nước ngoài, tức là vừa phát huy tinh thần đổi mới trong di sản tư tưởng – văn hóa của Hồ Chí Minh, vừa tạo ra những nhân tố mới trong giao lưu mà trước đây chưa đặt ra tiền lệ. Giao lưu văn hóa tốt, có nghĩa rằng ta phải có cái gì là tinh hoa và đặc điểm Việt Nam để góp phần vào kho tàng văn hóa của loài người chứ không phải suy nghĩ theo cái đầu của người ngoài cuộc. Giao lưu theo kiểu đó là một sự lặp lại, một lối sao chép hoặc lai căng. Mà như thế là phá hoại và hạ thấp văn hóa dân tộc, đi ngược lại một xu thế của văn minh loài người. Không phải ngẫu nhiên mà khoa học kỹ thuật càng phát triển, thế giới càng đề cao bản sắc dân tộc của các nền văn hóa. Đề cao để chứng minh sự phong phú, đa dạng của trí tuệ, tâm hồn con người, để thật sự khác biệt nhưng không tách biệt giữa các nền văn hóa khác nhau. Tất cả những mặt ấy nhằm thúc đẩy sự xích lại gần nhau giữa mọi dân tộc và chủng tộc trên khắp hành tinh. Sự ảnh hưởng lẫn nhau về những yếu tố nào đó qua giao lưu văn hóa là một tất yếu, nhưng không thể nào tất yếu khi nó không được nhào nặn, nhuần nhuyễn qua bản sắc dân tộc trong nền văn hóa dân tộc. Không ngừng hoàn thiện và nâng cao tầm vóc văn hóa dân tộc trong nền văn hóa thế giới đang trong thời hội nhập. Bảo vệ văn hóa dân tộc còn là sự ngăn ngừa những nọc độc văn hóa có thể xảy ra.

Nhà học giả nữ – bà Marala Lonbado – Giám đốc trung tâm nghiên cứu triết học, chính trị và xã hội Mehicô đã có một lập luận đáng tham khảo khi bà cho rằng, khi bước vào thiên niên kỷ thứ ba, cuộc đấu tranh giữa hai kiểu triết học về cuộc sống trên thế giới sẽ diễn ra rõ rệt hơn bao giờ hết: một kiểu nhìn thế giới như một cái gì bất biến, mọi thay đổi chỉ có tính chất hình thức; và một kiểu nhìn thế giới như một quá trình mà ở đó những thay đổi là cội nguồn của sự giàu có, tiến bộ và đạo đức. “Vì thế, những con người như Hồ Chí Minh ngày càng trở nên vĩ đại, vì họ là những người đã cho chúng ta lý do sống và khả năng để thực hiện những ước mơ của mình” về một nền văn minh chân chính(10).

Hồ Chí Minh đã vận dụng tinh thần biện chứng Macxit để tìm đường đi cho dân tộc, do đó bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh rất xa lạ với mọi thứ giáo điều, trì trệ, cơ hội, cực đoan và đặc quyền đặc lợi. Cũng từ đó đặc điểm nổi bật của Hồ Chí Minh là sự tích hợp phong phú nhiều kiểu dạng tinh hoa và sự kết hợp tinh tế, nhuần nhị các kiểu dạng tinh hoa ấy, từ thế đứng và đặc điểm dân tộc. Nền văn minh xã hội chủ nghĩa của Việt Nam đang trở thành hiện thực, khi Di sản của Người được vận dụng một cách sáng tạo trong tình hình đổi mới của đất nước, và trước những diễn biến tư tưởng phức tạp của thời đại, rất khác với thời điểm khi quả tim Hồ Chí Minh ngừng đập cách đây hơn 40 năm. Văn học, nghệ thuật và thông tin đại chúng, những bộ phận nhạy cảm của đời sống đang giữ một vai trò hết sức quan trọng trong định hướng văn hóa phát triển, đặc biệt trong thời kỳ hội nhập trước xu thế toàn cầu hóa. Đó chính là “văn hóa phải soi đường cho quốc dân” như Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc đến./.

Trường Lưu
Theo Tạp chí Văn học


(1) Hồ Chí Minh – Một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp; Nxb. Sự thật, H, 1990.
(2) Hồ Chí Minh, notre camarade – Theo tư liệu thư viện Báo Nhân dân.
(3) Bác Hồ như chúng ta đã biết. Nxb. Thanh niên, H, 1985.
(4) Theo Trường Chinh: Hồ Chí Minh, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam. Nxb. Sự thật, H, 1966.
(5) Le Vietminh – Hồ Chí Minh. Ed. Payot, Pari, 1952.
(6) Tạp chí Lịch sử Rokixi Hyeron, số 232, tháng 9-1969. Đăng lại trên báo Thống nhất, H, số 194 ngày 19-5-1973.
(7) Những lời kêu gọi của Hồ Chí Minh. Nxb. Sự thật, H, 1992.
(8) Tổng tập văn học, Tập 36. Nxb. KHXH, 1980.
(9) Gorki bàn về văn học. Nxb. Văn học, H, 1992.

hochiminhhoc.com

Những năm Sửu hào hùng và thông tuệ của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

Cuộc đời của vĩ nhân Hồ Chí Minh đã trải qua sáu năm Sửu:

Năm Tân Sửu (1901) Nguyễn Tất Thành 11 tuổi. Đây là năm cậu được sống bên người cha ở quê hương và thông qua quan hệ của người cha mà Thành được nghe hai câu thơ cụ Sào Nam hay đọc:

Mỗi phận bất vong duy trúc bạch
Lập thân tối hạ thị văn chương

Nhờ cha giảng giải, Thành hiểu được đại ý: Mỗi bữa ăn phải xem mình sống có ích gì cho đời hay không, nếu chỉ lấy văn chương khoa bảng làm phương tiện lập thân thì quá thấp hèn.

Ai ngờ câu thơ ấy hoàn toàn ứng với suốt cuộc đời nhà cách mạng Hồ Chí Minh. Và, tới nay nó vẫn đang còn có sức cảnh tỉnh đối với những ai học giả lấy bằng thật để mong đủ “tiêu chuẩn” nhằm đoạt lấy chức quyền mưu vinh thân phì gia.

Năm Quý Sửu (1913) chàng thanh niên 23 tuổi Nguyễn Tất Thành lao động cực nhọc ở xứ sương mù (nước Anh) để kiếm sống và lấy tiền học tiếng Anh ngoài giờ làm việc với tâm nguyện: Biết thêm một ngoại ngữ là có thêm một chiếc chìa khoá để mở cánh cửa vào kho tàng kiến thức của nhân loại.

Năm Ất Sửu (1925) ở tuổi 35, quả là “tam thập nhi lập”, với tên mới là Nguyễn ái Quốc (được dùng chính thức từ năm 1919 khi anh Thành gia nhập Đảng Xã hội Pháp), anh đã trở thành một chiến sĩ quốc tế già dặn, tràn đầy sức phấn đấu và cũng là tâm điểm truy lùng của bọn mật thám  quốc tế. Nguyễn Ái Quốc dành rất nhiều công sức và trí tuệ để gieo trồng các hạt giống cách mạng. Đầu năm, Người mở lớp huấn luyện chính trị tại số nhà 13/1 phố Văn Minh (Quảng Châu, Trung Quốc). Phần lớn học viên là những thanh niên Việt Nam yêu nước, xuất thân từ học sinh, trí thức, cũng có một vài người là tú tài nho học.

Trong khoảng đầu năm này, Nguyễn Ái Quốc sáng lập tổ chức chính trị chân chính của Việt Nam, bao gồm hầu hết những người trẻ tuổi, lấy tên là Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí hội với mục đích: Sẵn sàng hy sinh tính mệnh, quyền lợi để làm cuộc cách mạng dân tộc (đập tan bọn đế quốc Pháp) rồi sau làm cách mạng cộng sản chủ nghĩa. Điều lệ của Hội thể hiện Hội như một đảng chính trị, đã đề cập đến chương trình hoạt động như kết nạp hội viên, tổ chức các đoàn thể (công hội, nông hội, hội học sinh, hội phụ nữ…), thành lập chính phủ nhân dân. Điều nổi bật bộc lộ sự thông tuệ, tầm nhìn xa, đúng quy luật của Nguyễn Ái Quốc là đã chỉ rõ việc xây dựng và phát triển nền kinh tế quốc dân sau khi giành được chính quyền: áp dụng những nguyên tắc “tân kinh tế chính sách”. Ở Liên Xô, sau Cách mạng Tháng Mười đã phạm sai lầm là áp dụng chính sách cộng sản thời chiến. Đầu năm 1920, V.I.Lênin đã sửa chữa, đề ra chính sách kinh tế mới. Điều này cho thấy từ những năm 20 của thế kỷ trước, với sự thông tuệ của mình, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra hướng phát triển kinh tế của Việt Nam sau khi giành được độc lập là đi theo chính sách kinh tế mới của V.I.Lênin chứ không phải làm theo chính sách cộng sản thời chiến.

Quan niệm báo chí là cơ quan ngôn luận và vũ khí đấu tranh cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập ra tờ báo cách mạng đầu tiên là tuần báo Thanh niên – cơ quan Trung ương của Tổng bộ Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí hội.

Nguyễn Ái Quốc yêu quý dân tộc mình, đau đáu một nỗi lo sao cho dân nước mình khỏi kiếp đời nô lệ, đồng thời Người cũng nặng nỗi niềm với những dân tộc cùng bị áp bức. Tiếp theo một tổ chức quốc tế, Hội liên hiệp thuộc địa, mà Nguyễn Ái Quốc tham gia sáng lập năm 1921, ngày 9-7 năm này (1925 – Ất Sửu) với bí danh là Lý Thụy, Người lại cùng một số đồng chí người Trung Quốc chính thức thành lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức. Đây là một đoàn thể có tính chất quốc tế bao gồm người Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Triều Tiên, In-đô-nê-xi-a, Miến Điện. Tôn chỉ của Hội là liên lạc với các dân tộc cùng làm cách mạng nhằm đánh đổ đế quốc với tuyên ngôn: Con đường thoát duy nhất để xoá bỏ ách nô lệ chỉ có thể là liên hiệp các dân tộc nhỏ yếu bị áp bức và giai cấp vô sản toàn thế giới áp dụng những phương pháp cách mạng để lật đổ chủ nghĩa tư bản đế quốc cực kỳ hung ác. Nguyễn Ái Quốc đã được đại hội bầu làm Bí thư đồng thời trực tiếp phụ trách Chi bộ Việt Nam của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức.

Ở Nguyễn Ái Quốc, dân tộc và quốc tế quan hệ chặt chẽ với nhau, không thể tách rời. Người luôn chứng tỏ vừa là nhà yêu nước lỗi lạc, vừa là một chiến sĩ quốc tế kiên cường. Người là nhà hoạt động dân chủ khi gia nhập Đảng xã hội Pháp (1919); là nhà cách mạng xã hội chủ nghĩa và là người cộng sản Việt Nam đầu tiên khi tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp (1920); là thành viên sáng lập và Uỷ viên Thường trực Hội liên hiệp thuộc địa (1921). Năm 1925 (ất Sửu), Nguyễn Ái Quốc còn đảm nhiệm công tác vận động nông dân ở Trung Quốc và các thuộc địa Đông Dương, Miến Điện, Xiêm, Đài Loan, Phi-líp-pin. Năm Ất Sửu là một trong những năm đồng thời với hoạt động thực tiễn sôi nổi là sự bừng sáng của trí tuệ thể hiện ở những tác phẩm Nguyễn ái Quốc viết bằng tiếng Pháp đăng trên các sách báo ở Pa-ri. Tác phẩm tiêu biểu nhất là Bản án chế độ thực dân Pháp. Nội dung và hình thức của tác phẩm toát lên tinh thần cách mạng tiến công, tư tưởng cách mạng triệt để, kết hợp tinh thần yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng; thể hiện sự phân tích khoa học kết hợp với tình cảm cách mạng nồng nhiệt của Nguyễn Ái Quốc. Cuốn sách vừa có giá trị cao về lý luận cách mạng, tư tưởng chính trị, vừa có giá trị lớn về văn học. Thật kỳ diệu, Nguyễn Ái Quốc – người truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam chính là người đã dịch lời Quốc tế ca một cách tài hoa để phổ biến rộng rãi ở nước ta vào mùa xuân năm Sửu ấy.

Năm Đinh Sửu (1937), 40 tuổi, Nguyễn Ái Quốc lập kế hoạch nghiên cứu sinh và cuối năm Người chuẩn bị tư liệu để viết luận án tiến sĩ với đề tài: “Cách mạng ruộng đất ở Đông Nam Á” sau khi đạt điểm xuất sắc môn lịch sử hiện đại. Nhưng rồi tình hình thực tiễn của cách mạng Đông Dương thôi thúc, Nguyễn Ái Quốc đành bỏ dở việc bảo vệ luận án, tìm cách trở về lãnh đạo phong trào cách mạng.

Năm Kỷ Sửu (1949), Hồ Chí Minh 59 tuổi, là năm cùng với những hoạt động sôi nổi, khẩn trương lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp trong giai đoạn gay go quyết liệt là những chỉ dẫn mang tầm tư tưởng của một vĩ nhân văn hoá – chính trị kiệt xuất.

Đầu năm mới, Người có thơ chúc Tết động viên mọi người gắng sức thi đua kháng chiến kiến quốc. Lời thơ của Người cho tới hôm nay vẫn như một lời hịch:

“Người người thi đua,
Ngành ngành thi đua,
Ngày ngày thi đua,
Ta nhất định thắng,
Địch nhất định thua”(1).

Cũng như những mùa xuân trước, xuân này Người lại dành những tình cảm sâu sắc cho Đảng và cho Nhân dân:

Với Đảng, Người nói: “Trước hết phải chỉnh đốn nội bộ Đảng”(2). Người chỉ rõ:

– Về vai trò, “Đảng ví như cái máy phát điện, các công việc trên ví như những ngọn đèn, máy mạnh thì đèn sáng”(3).

– Về tư cách của Đảng, Người nghiêm khắc nhắc nhở: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán hai chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến.

Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước. Đồng chí ta nhiều người đã làm được nhưng vẫn còn những người hủ hoá. Đảng có trách nhiệm gột rửa cho các đồng chí đó.

Hô hào dân tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước đã. Đồng chí ta phải học lấy bốn đức cách mạng: Cần, kiệm, liêm, chính.

Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên…

Muốn đi tới mục đích, không phải chỉ tổ chức là đủ, phải chân thành trong tư tưởng nữa”(4).

– Với nhân dân, Người đồng cảm với những gian truân, vất vả của đồng bào. Đọc lại bức thư chúc Tết đồng bào trong vùng tạm bị chiếm của Người, chúng ta không thể không bồi hồi xúc động: “Trong ngày trời xuân tươi ấm, Tết nhất vui vẻ, đại gia đình Việt Nam ở vùng tự do sum họp vui vầy, để tưởng nhớ đến tổ tiên và hân hoan cùng con cháu, tôi ngậm ngùi nghĩ đến đồng bào.

Cùng ngày tốt lành, trời Nam đất Việt, mà các đồng bào phải riêng chịu sự lạnh lùng, nhục nhã, cơ cực, tức buồn dưới gót sắt lũ quỷ thực dân tàn bạo.

Mắt tôi như trông thấy các cụ tuổi cao tóc bạc đang đau xót, tức giận trước một cảnh tượng điêu tàn.

Mắt tôi như trông thấy những gia đình túng thiếu khổ sở, đã vất vả về vật chất, càng cay đắng về tinh thần.

Mắt tôi như trông thấy các cháu nam nữ thanh niên đang đau xót, hoặc bị truỵ lạc, hoặc bị giày vò, đang ngóng đợi ngày mai tươi sáng.

Mắt tôi như trông thấy các cháu nhi đồng, đang run rẩy bồi hồi như những đàn chim con bị mưa sa gió bão.

Tôi rất đau lòng thương xót đồng bào tạm lâm vào hoàn cảnh ấy, vì lũ thực dân hung ác, nhưng một phần cũng vì tôi, người phụ trách số phận đồng bào, chưa lập tức xua đuổi được loài thú dữ và cứu vớt ngay đồng bào ra khỏi địa ngục thực dân”(5). Ngày nay hoàn cảnh cụ thể tuy đã đổi thay nhiều lắm, nhưng nỗi niềm suy tư thì vẫn còn đó. Tư tưởng, tình cảm của Người vẫn đang nhắc cán bộ, đảng viên rằng: Sự khổ đau, vất vả của đồng bào là do đâu? Và trách nhiệm của người lãnh đạo trước số phận nhân dân phải thế nào?

Đề cập đến việc phê bình những vấn đề của Đảng và Chính phủ trên các phương tiện thông tin đại chúng, Người đã có bài “Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng” đăng trên báo Sự Thật ngày 15-4-1949, phê phán quan niệm cho rằng việc phê bình công khai sẽ làm mất uy tín, mất thể diện của người được phê bình và có thể sẽ bị địch lợi dụng. Theo Người, nghĩ như thế là sai lầm, “ốm sợ thuốc”, không hiểu ý nghĩa và sức mạnh của phê bình.

Lời Người ghi ở trang đầu quyển sổ vàng của Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương (nay là Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) có thể khẳng định rằng đó là lời vàng để lại cho muôn đời cháu con:

“Học để làm việc,

làm người,
làm cán bộ,

Học để phụng sự Đoàn thể,

giai cấp và nhân dân,
Tổ quốc và nhân loại.

Muốn đạt mục đích, thì phải

cần, kiệm, liêm, chính   
chí công, vô tư”(6).

Chân lý sáng ngời: Mục đích của việc học trước tiên là để làm việc. Có biết làm việc mới biết làm người. Và có biết làm người mới có thể làm cán bộ, muốn đạt mục đích phải cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư. Như vậy, việc học ấy mới có ích, học là để phục vụ cộng đồng.

Tác phẩm Dân vận của Người xuất bản trong năm này là một dấu mốc quan trọng về lý thuyết văn hoá dân chủ ở nước ta. Dân vận là một tác phẩm ngắn, vẻn vẹn 573 từ mà hàm chứa những nội dung phong phú, những quan điểm lớn, những tư tưởng vĩ đại. Nó tựa như một sự chắt lọc tinh khiết đến mức cao minh, ngời ngời chân lý. Xét về mặt văn chương chính luận thì có thể coi đó là một mẫu mực. Nếu người ta coi thế kỷ 21 là thế kỷ của thông tin, của nền kinh tế tri thức thì tác phẩm Dân vận của Người (viết giữa thế kỷ 20) đúng là văn phong của một trí tuệ đi trước thời đại. Với tác phẩm này, thêm một minh chứng rằng tư tưởng Hồ Chí Minh là văn hoá của tương lai:

Nước ta là nước dân chủ

Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.
Sự việc kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.
Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra.
Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(7).

Năm Tân Sửu (1961), tuy đã 71 tuổi nhưng Bác vẫn khoẻ và rất vui vì miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng, đang hăng hái thi đua xây dựng CNXH và làm hết sức mình để góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Như thường lệ, đầu xuân, Người có Thơ mừng năm 1961:

Mừng năm mới, mừng xuân mới,
Mừng Việt Nam, mừng thế giới!
Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh,
Kế hoạch 5 năm thêm phấn khởi.
Chúc miền Bắc hăng hái thi đua;
Chúc miền Nam đoàn kết tiến tới!
Chúc hoà bình thống nhất thành công!
Chúc chủ nghĩa xã hội thắng lợi”(8).

Cả nước ta nô nức bước vào thực hiện kế hoạch năm năm lần thứ nhất, nhưng để đề phòng những sai lầm có thể mắc phải, Bác đã có lời khuyên: “Đường lối chủ trương có rồi, phải có biện pháp thực hiện cho tốt. CNXH là phải có biện pháp. Kế hoạch một phần biện pháp phải hai phần và quyết tâm phải ba phần, có như thế mới có thể hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch nhà nước”(9).

Xuân này chúng ta nghĩ gì về lời dạy ấy khi mà không ít kế hoạch đề ra nhưng biện pháp không rõ và quyết tâm không cao, ý thức trách nhiệm kém… nên biết bao công trình, dự án đề ra rồi mà vẫn đang còn dang dở?

Năm này Bác cũng dành nhiều công sức để giảng giải, động viên, khích lệ làm cho mọi người hiểu đúng đắn thế nào là CNXH ở Việt Nam và làm cách gì để xây dựng thành công CNXH. Người nói đơn giản, cụ thể, dễ hiểu, nôm na đi vào lòng người một cách sâu sắc: “Chủ nghĩa xã hội là tất cả mọi người các dân tộc ngày càng ấm no, con cháu chúng ta ngày càng sung sướng”(10). CNXH là một chế độ chính trị, là “chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ”. Chế độ dân chủ ấy cần sự lãnh đạo của Đảng. Nhưng Đảng lãnh đạo là thế nào? Phải có những điều kiện gì? Người chỉ rõ: Đảng lãnh đạo nghĩa là tất cả các cán bộ từ Trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào, ngành nào đều phải là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Tất cả cán bộ đều phải một lòng, một dạ phục vụ nhân dân, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân, đều phải theo đúng chính sách của Đảng và đi đúng đường lối quần chúng. Do đó mà lãnh đạo phải dân chủ, thiết thực, cụ thể và toàn diện. Phải tránh cách lãnh đạo đại khái, phiến diện, chung chung. Cán bộ phải tuyệt đối tránh bệnh quan liêu mệnh lệnh, phải hết sức tránh bệnh hình thức, chống lãng phí, tham ô.

Người nhấn mạnh: Chúng ta sẽ xây dựng CNXH bằng chính tiềm năng, sức lực, từ hoàn cảnh và phương pháp của dân tộc Việt Nam. Vì vậy “muốn xây dựng CNXH trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”(11). Đó là: những con người có ý thức và năng lực làm chủ nước nhà, là những người chẳng những thạo về chính trị mà phải giỏi về chuyên môn, biết đoàn kết, học hỏi quần chúng; là những người yêu lao động và biết lao động, dám nghĩ, dám làm, dám  chịu trách nhiệm, sáng tạo tìm ra cái mới, ủng hộ cái mới, thực hiện cái mới, là dũng cảm chống chủ nghĩa cá nhân, quan liêu mệnh lệnh, chống tham ô, lãng phí, bảo thủ, dụt dè.

Người khẳng định: Chúng ta chỉ có thể xây dựng CNXH bằng tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm. Sản xuất mà không tiết kiệm thì khác nào gió vào nhà trống. Cho nên phải biết giữ gìn của công. Tham ô, lãng phí tài sản của Nhà nước, của tập thể, của nhân dân là hành động trộm cắp mà ai cũng thù ghét, phải trừ bỏ. Phải biết quý trọng sức người là vốn quý nhất của ta. Chúng ta cần hết lòng chăm sóc sức khoẻ và sử dụng hợp lý sức lao động của nhân dân ta.

Xác định giá trị của con người và cách dùng người, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: bất cứ ai, làm việc gì có lợi cho dân cho nước thì đều vẻ vang, còn làm đến “bộ trưởng mà không làm tròn nhiệm vụ là tồi”(12). Do vậy mà bất kỳ ai có khả năng, đủ tiêu chuẩn, cần cho nhu cầu cách mạng là phải dùng.

Năm Tân Sửu (1961) cũng là năm Sửu cuối cùng của Bác, nhưng những lời Người nói, những việc Người làm thì mãi trường tồn cùng dân tộc,  núi sông. Tư tưởng của Người mãi mãi vẫn là vẻ đẹp tâm hồn và sức xuân của dân tộc Việt Nam.

____

(1,2,3,4,5,6,7) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.557, 551, 552, 560, 284, 698. (8,9,10,11,12,) Sđd, tập 10, tr.246, 266, 317, 310, 466.

PGS. Trần Đình Huỳnh

xaydungdang.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các sắc lệnh trong những ngày đầu của chính quyền cách mạng

Cách mạng Tháng Tám1945 thắng lợi, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà non trẻ ra đời nằm giữa vòng vây của thù trong, giặc ngoài, giữa muôn trùng khó khăn.

Muốn giữ vững chính quyền cách mạng, việc đầu tiên là phải củng cố nhà nước pháp quyền dân chủ nhân dân và quản lý nhà nước bằng pháp luật. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm xây dựng và củng cố công tác pháp luật.

Trong vòng 4 tháng sau khi giành được chính quyền, Chủ tịch đã ký, ban hành 81 sắc lệnh quan trọng, trong đó gần một nửa là những sắc lệnh củng cố hệ thống pháp luật nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm việc thành lập uỷ ban nhân dân (UBND) các cấp, lập ra các ban thanh tra, kiểm tra, các cơ quan của Chính phủ để giám sát mọi hoạt động theo pháp luật, xây dựng một nhà nước kiểu mới, nhà nước quản lý bằng pháp luật. Đây là sự thay đổi về chất của cả quá trình phát triển nhà nước ở Việt Nam. Thay đổi bộ máy chính quyền quan liêu, bóc lột cũ bằng một hệ thống quản lý nhà nước Việt Nam kiểu mới, thay đổi pháp luật thực dân, phong kiến bằng pháp luật của dân, do dân và vì dân là một sự biến đổi cách mạng triệt để, sâu sắc và cũng là cơ sở tạo nên sức mạnh tinh thần và vật chất của toàn dân, nhằm bảo vệ thành quả cách mạng.

Những sắc lệnh do Bác Hồ ký trong những ngày đầu của chính quyền cách mạng trước hết là phục vụ nhân dân và quốc gia, thể hiện ý chí độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam, phản ánh tính chất dân chủ trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội… do đó được đông đảo nhân dân đồng tình hưởng ứng và kiên quyết bảo vệ.

Sắc lệnh số 40 xoá bỏ tất cả các công sở cũ và các cơ quan thuộc Phủ toàn quyền Đông Dương. Sắc lệnh số 63 về tổ chức UBND các cấp. Tiếp đó là một loạt các sắc lệnh về việc xoá bỏ những chính sách bóc lột, văn hoá, giáo dục đồi truỵ của thực dân phong kiến, lập lại trật tự, kỷ cương quản lý nhà nước, khẳng định về mặt pháp luật thắng lợi của chính thể dân chủ nhân dân.

Sắc lệnh số 34 về thành lập Uỷ ban dự thảo Hiến pháp, Sắc lệnh số 39 về thành lập Uỷ ban dự thảo Thể lệ tổng tuyển cử, Sắc lệnh số 46 về tổ chức đoàn luật sư, Sắc lệnh số 53 về quốc tịch Việt Nam… đều thể hiện quyền bình đẳng về chính trị của người dân Việt Nam lần đầu tiên được nói đến và được thực hiện, mặt khác còn là những bản thông điệp cho những ai trong lực lượng đối lập hoặc chưa hiểu, chưa đi theo cách mạng, cho các tổ chức, đoàn thể, nhà nước trên thế giới biết nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một chính thể độc lập, có chủ quyền, có hiến pháp và pháp luật, được thể hiện bằng sức mạnh của chế độ mới, có năng lực tập hợp quần chúng, tập hợp các thế lực cách mạng, có đủ khả năng trấn áp những lực lượng đi ngược lại lợi ích cách mạng và lợi ích của nhân dân.

Những sắc lệnh do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành trong những ngày đầu cách mạng đã thể hiện được tư tưởng đại đoàn kết toàn dân của Người, xoá bỏ hận thù, xoá bỏ sự miệt thị tôn giáo, dân tộc, đảng phái chính trị, tất cả đều bình đẳng trong một môi trường dân chủ, cùng tồn tại, hoà bình để xây dựng một xã hội mới tốt đẹp. Mọi người, mọi tầng lớp xã hội nhận thức đúng đắn về chính thể dân chủ nhân dân, nhận thấy quyền lợi của mình được bảo đảm, được tôn trọng, do đó đã tập hợp và liên kết được các lực lượng đông đảo trong xã hội, tạo nên một sức mạnh cộng đồng vô cùng to lớn, bảo đảm thắng lợi của cuộc kháng chiến và kiến quốc của dân tộc.

Hơn 100 ngày sau khi giành được chính quyền cách mạng, thời gian so với chiều dài lịch sử của một dân tộc thì thật quá ngắn, nhưng những bản sắc lệnh ra đời trong bối cảnh đó đã vượt quá khuôn khổ chật hẹp của thời gian, đã ghi vào lịch sử của dân tộc như những mốc son rực sáng nhất.

Từ một nước nô lệ mà ở đó luật pháp chỉ là công cụ phục vụ cho chế độ thực dân, phong kiến, người dân chỉ là những đối tượng bị trấn áp, bóc lột, nay với cách mạng Tháng Tám, Việt Nam đã chuyển sang một thể chế mới, người dân trở thành chủ đất nước, có quyền độc lập, tự do xây dựng một xã hội mới công bằng, hạnh phúc, phát triển.

Những sắc lệnh Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành trong những ngày đầu cách mạng có giá trị như những tuyên ngôn về luật pháp của một chính thể dân chủ nhân dân, là sự khởi đầu, đặt nền móng cho những bước phát triển mới về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước. Tinh thần của những sắc lệnh đó vẫn là nền tảng cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, phát triển, hội nhập kinh tế thế giới, trong sự nghiệp CNH, HĐH, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Trần Minh Hiền
Nha trang, Khánh Hoà

xaydungdang.org.vn

Đặc trưng dân chủ Hồ Chí Minh

Những ngày ở Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh tự chẻ củi, nấu ăn.

Phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh là giá trị văn hóa chính trị quý báu của Đảng, của dân tộc ta. Học tập và làm theo phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh là nội dung cơ bản trong đổi mới công tác lãnh đạo, quản lý hiện nay.

Phong cách lãnh đạo là mẫu hành vi thể hiện bản sắc nhân cách người lãnh đạo trong mối quan hệ biện chứng với môi trường. Lý luận khoa học và thực tiễn đã chứng minh, trong quá trình lãnh đạo, quản lý, người lãnh đạo có thể sử dụng phối hợp, linh hoạt, sáng tạo nhiều phong cách lãnh đạo (độc đoán, dân chủ, tự do), trong đó phong cách dân chủ là phong cách có nhiều thành công nhất.

V.I Lênin đã đề xuất phong cách lãnh đạo xã hội chủ nghĩa (được gọi là phong cách Lê-nin-nít), trong đó nhấn mạnh tư tưởng cộng sản chủ nghĩa, tính nguyên tắc đảng, giữ mối liên hệ mật thiết với quần chúng; có lý tưởng cộng sản, ý thức trách nhiệm trong nhân cách; làm việc theo quan điểm khoa học và văn hóa, đảm bảo tính chuyên nghiệp và thông thạo… Như vậy, V.I.Lênin đã nhấn mạnh tính chất cộng sản của phong cách lãnh đạo dân chủ. Phong cách Lê-nin-nít là phong cách dân chủ kiểu mới – dân chủ cộng sản – dân chủ thực sự của đông đảo quần chúng nhân dân mà nòng cốt là giai cấp công nhân, dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản.

Phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh là sự vận dụng và phát triển sáng tạo phong cách Lê-nin-nít vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, mang bản sắc văn hóa Việt Nam. Đó là phong cách dân chủ Việt Nam – dân chủ Hồ Chí Minh.

Hiện nay, một số người cho rằng Hồ Chí Minh có nhiều phong cách lãnh đạo như quần chúng, dân chủ, thiết thực, giản dị, khoa học… Theo chúng tôi, Hồ Chí Minh luôn quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo phong cách dân chủ cộng sản của V.I.Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, tạo nên đặc trưng, những nét độc đáo, đặc sắc trong phong cách dân chủ của Người.

Dân chủ Hồ Chí Minh là dân chủ quần chúng. Quần chúng là nguồn gốc, là mục đích của phong cách dân chủ Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh luôn sâu sát, quan hệ mật thiết với quần chúng, nắm bắt sâu sắc tình hình thực tế, nhất là thực tế đời sống, thực tế tâm lý, văn hóa của họ để quan tâm, chăm lo lợi ích chính đáng và thiết thực của họ. Người luôn tâm niệm: “Làm sao cho dân ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”, “Việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh”, “ Bao nhiêu cách tổ chức và cách làm việc đều vì lợi ích của quần chúng. Vì vậy, cách tổ chức và cách làm việc nào không phù hợp với quần chúng, thì phải bỏ đi hoặc sửa lại,…”.

Bản chất dân chủ Hồ Chí Minh, trước hết là tình thương yêu bao la và niềm tin tưởng vô tận đối với quần chúng. Hồ Chí Minh đến với quần chúng một cách tự nhiên, bình dị với nụ cười hiền hậu, giọng nói ấm áp và vòng tay rộng mở thể hiện lòng nhân ái bao la, sự quan tâm, tôn trọng, đồng cảm đến mức thấu cảm – hòa đồng với họ. Thấm nhuần sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin: Quần chúng là người sáng tạo ra lịch sử, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng; Hồ Chí Minh có lòng tin vô tận đối với quần chúng, luôn chăm lo tăng cường mối liên hệ mật thiết với quần chúng và coi đó là nguồn sức mạnh tạo nên mọi thắng lợi của cách mạng. Theo Người, chúng ta phải biết rằng: lực lượng của dân chúng nhiều vô kể. Kinh nghiệm trong nước và các nước tỏ cho chúng ta biết, có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy cũng làm được. Không có thì việc gì làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra; “ Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”(1).

Dựa vào quần chúng để lãnh đạo, quản lý, nhằm phục vụ lợi ích quần chúng là đặc trưng cơ bản, thể hiện đặc trưng bản chất của phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh. Lòng thương yêu bao la, niềm tin tưởng vô tận đối với quần chúng, lý tưởng cộng sản – tất cả vì lợi ích chính đáng và thiết thực của quần chúng ở Hồ Chí Minh đã làm cho tác phong, phương pháp Hồ Chí Minh trở thành phong cách dân chủ Hồ Chí Minh, thể hiện bản sắc nhân cách hết sức cao đẹp của Người.

Dân chủ Hồ Chí Minh là dân chủ có sự lãnh đạo của Đảng. Khi đề ra đường lối, chính sách, giải quyết nhiệm vụ chính trị, theo Hồ Chí Minh, cần phải học dân chúng, phải hỏi dân chúng, phải hiểu dân chúng, phải dùng kinh nghiệm dân chúng để thêm cho kinh nghiệm của mình. Người nhấn mạnh, mỗi một khẩu hiệu, mỗi một công tác, mỗi một chính sách của chúng ta, phải dựa vào ý kiến và kinh nghiệm của dân chúng, phải nghe theo nguyện vọng của dân chúng. “1. Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng. 2. Tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết. Chúng ta có khuyết điểm, thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”(2).

Tuy nhiên, dân chủ của quần chúng nhân dân, theo Người, phải có sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, thống nhất của Đảng theo nguyên tắc dân chủ tập trung. Trong Di chúc để lại, Người dạy: “Đảng ta là Đảng cầm quyền… Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Người lý giải: “Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách là dân chủ tập trung. Làm việc mà không theo đúng cách đó, tức là làm trái dân chủ tập trung”(3). Tập trung trong lãnh đạo, theo Người là thiểu số phải phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, toàn Đảng phục tùng Trung ương, tất cả mọi đảng viên phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết của tổ chức đảng; là cá nhân phụ trách (phát huy tinh thần trách nhiệm, lý tưởng cộng sản, tính quyết đoán và năng lực tư duy của người lãnh đạo). Dân chủ trong lãnh đạo phải mở rộng và thực hành dân chủ trong Đảng, làm cơ sở mở rộng, phát huy dân chủ ngoài xã hội; là tập thể lãnh đạo (phát huy trí tuệ, kinh nghiệm của tập thể). Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, một người dù khôn ngoan tài giỏi mấy, dù nhiều kinh nghiệm đến đâu, cũng chỉ trông thấy, chỉ xem xét được một hoặc một số mặt của một vấn đề. Vì vậy phải có nhiều người. Nhiều người thì nhiều kinh nghiệm, người thì thấy rõ mặt này, người thì trông thấy mặt khác của vấn đề đó. Góp kinh nghiệm và sự xem xét của nhiều người thì vấn đề đó được thấy rõ khắp mọi mặt. Mà có thấy rõ khắp mọi mặt thì vấn đề mới được giải quyết chu đáo, khỏi sai lầm. Do vậy, nếu lãnh đạo không tập thể thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc.

Tuy nhiên, tập thể lãnh đạo phải luôn đi đôi với cá nhân phụ trách – tập trung, bởi như Người dạy: Việc gì đã được đông người bàn bạc kỹ lưỡng rồi, kế hoạch định rõ ràng rồi thì cần phải giao cho một người hoặc nhóm ít người phụ trách (cấp ủy, thường vụ và người đứng đầu cấp ủy cấp trên) theo kế hoạch đó mà thi hành. Như thế mới có chuyên trách, công việc mới chạy.

Dân chủ dẫn tới tập trung là đảm bảo tính kỷ luật, sự đoàn kết thống nhất trong lãnh đạo. V.I Lênin từng dạy: Phải làm cho ý chí hàng ngàn người phục tùng ý chí một người. Phát huy dân chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng là đặc trưng cơ bản, thể hiện nội dung phong cách dân chủ Hồ Chí Minh. Bằng cách phát huy dân chủ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Đảng ta lãnh đạo và tổ chức thành công 12 kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội, thực hiện tốt công tác đánh giá, bổ nhiệm và sử dụng cán bộ, làm cho hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh, chất lượng nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày càng được nâng cao, những người thực sự có tài, có đức luôn được trọng dụng và tôn vinh.

Dân chủ Hồ Chí Minh là dân chủ có tư duy, có trí tuệ. Khi đề ra đường lối, chính sách, chỉ thị, giải quyết mọi công việc, nhiệm vụ, Hồ Chí Minh luôn xuất phát từ tình hình thực tế, nhất là thực tế tâm lý của quần chúng; lắng nghe mọi ý kiến (tư duy, trí tuệ) của quần chúng; kế thừa, vận dụng tinh hoa văn hóa nhân loại như nho học, phật giáo, lão giáo, chủ nghĩa tam dân (Trung Quốc), thuyết bất bạo động của Găng-đi (Ấn Độ), chủ nghĩa nhân văn Pháp, đặc biệt là học thuyết Mác-Lênin để tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo. Người căn dặn: “Gặp mỗi vấn đề, ta phải đặt câu hỏi: Vì sao có vấn đề này ? Xử trí như thế này, kết quả sẽ ra sao ? Phải suy tính kỹ lưỡng. Chớ hấp tấp, chớ làm bừa, chớ làm liều. Chớ gặp sao làm vậy”(4). Dân chủ có tư duy, trí tuệ là nét đặc sắc, độc đáo của phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh.

Bằng cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo trong phát huy dân chủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Đảng ta sáng tạo ra nhiều phương pháp và nghệ thuật quân sự chưa hề có trong từ điển cũng như lịch sử quân sự thế giới để đánh bại kẻ thù xâm lược, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ, thống nhất nước nhà. Cũng chính bằng cách lãnh đạo này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đảng ta đã sáng tạo ra con đường phát triển đất nước: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước kinh tế kém phát triển, không kinh qua chủ nghĩa tư bản, bằng cách dựa vào sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bản sắc văn hóa dân tộc, kinh nghiệm và trí tuệ quần chúng, thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, mở rộng hợp tác và hội nhập quốc tế, tăng cường an ninh-quốc phòng, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, phong cách lãnh đạo dân chủ Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị, luôn định hướng, dẫn đường cho việc tìm tòi, sáng tạo các giải pháp lãnh đạo, quản lý có hiệu quả, bền vững trên mọi lĩnh vực. Học tập và làm theo phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh là nội dung cơ bản trong đổi mới công tác lãnh đạo, quản lý hiện nay. Quán triệt và vận dụng sáng tạo phong cách dân chủ Hồ Chí Minh, đã được thể hiện trong các văn kiện Đại hội XI của Đảng. Đó là dựa vào nhân dân để phát huy quyền làm chủ, có tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo trên cơ sở tri thức khoa học công nghệ hiện đại, lý tưởng cộng sản, tinh thần trách nhiệm, tính quyết đoán của người lãnh đạo, của cấp ủy và thường vụ các cấp, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

————————–

(1), (2), (3), (4). Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, H. 2002, Tập 5, tr 293; 297 – 298; 505; 239.
TS. Nguyễn Liên Châu. Số nhà 15, ngõ 24, đường Xuân Diệu, TP. Hà Tĩnh

xaydungdang.org.vn

Về cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh

“Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội… sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hoá, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh của truyền thống văn hoá hàng nghìn năm của nhân dân Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau.”(Nghị quyết của UNESCO)

Chủ tịch Hồ Chí Minh, tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung, sinh ngày 19 tháng 5 nǎm 1890 tại quê ngoại làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình nhà nho yêu nước.

Thân phụ Người là ông Nguyễn Sinh Sắc, sinh nǎm 1862 tại Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An.Thân mẫu của Người là bà Hoàng Thị Loan sinh năm 1868, là một phụ nữ thông minh, cần cù chịu khó, thương yêu chồng con và giàu lòng nhân ái.

 Ngày 5 tháng 6 nǎm 1911, Người rời Sài Gòn đi Mác-xây (Marseille) Pháp bằng cách phụ bếp cho tàu Amiran Latusơ Tơrêvin (Amiral Latouche Tréville), bắt đầu cuộc hành trình tìm đường cứu nước. Từ nǎm 1911 đến nǎm 1920, Người đã đến nhiều nước ở châu Âu, châu Phi , châu Mỹ, nghiên cứu và học hỏi để quyết định con đường Cứu nước.

Năm 1920, Người tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp tại Đại hội Tua. Năm 1921, người tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa Pháp; xuất bản tờ báo Người cùng khổ ở Pháp (1922). Năm 1923, Người được bầu vào Ban Chấp hành Quốc tế Nông dân. Năm 1924, Người tham dự Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản và được chỉ định là Uỷ viên thường trực Bộ Phương Đông, trực tiếp phụ trách Cục Phương Nam. Năm 1925, Người tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức Châu Á, Xuất bản hai cuốn sách nổi tiếng: Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) và Đường cách mệnh (1927).

Năm 1925, Người thành lập Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí Hội ở Quảng Châu (Trung Quốc) và tổ chức “Cộng sản đoàn” làm nòng cốt cho Hội đó, đào tạo cán bộ Cộng sản để lãnh đạo Hội và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam.

Ngày 3-2-1930, Người chủ tọa Hội nghị thành lập Đảng họp tại Cửu Long (gần Hương Cảng). Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ Đảng do chính Người soạn thảo. Người ra lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đổi là Đảng Cộng sản Đông Dương, rồi Đảng Lao động Việt Nam và nay là Đảng Cộng sản Việt Nam ).

Bản yêu sách của nhân dân Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị Véc-xây (Versailles)

Từ năm 1930 đến 1940, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục hoạt động cho sự nghiệp giải phóng của dân tộc Việt Nam của các dân tộc bị áp bức khác trong những điều kiện vô cùng gian khổ và khó khăn.

Ngày 28 tháng 1 nǎm 1941, Người về nước, chọn Cao Bằng làm cǎn cứ địa xây dựng tổ chức, phát động phong trào cách mạng. Vùng Khuổi Nậm Pác Bó là nơi họp Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương (tháng 5 nǎm 1941) do Nguyễn A’i Quốc chủ trì, nơi ra báo Việt Nam độc lập, mở các lớp huấn luyện xây dựng lực lượng cách mạng. Pác Bó có hang Cốc Bó, nơi Bác Hồ chọn làm chỗ ở và làm việc của mình.

Ngày 6 tháng 6 nǎm 1941, Người gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước đoàn kết lại đánh đuổi đế quốc ,Việt gian cứu nước.

Tháng 8 nǎm 1942, Người sang Trung Quốc, bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam, bị giải qua gần 30 nhà lao của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng Tây. Trong thời gian này, Người đã viết tác phẩm thơ nổi tiếng “Nhật ký trong tù”, cho đến nay đã được dịch ra hơn 10 thứ tiếng.

Tháng 9 nǎm 1943 Người được trả tự do. Tháng 3 nǎm 1944 tham dự Hội nghị các lực lượng cách mạng Việt Nam ở Liễu Châu (Trung Quốc). Tháng 9 nǎm 1944, Người trở lại Cao Bằng, gửi thư cho đồng bào toàn quốc kêu gọi chuẩn bị triệu tập Quốc dân đại hội. Tháng 12 nǎm 1944, Người quyết định thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của quân đội nhân dânViệt Nam.

Ngày 9 tháng 3 nǎm 1945, phát xít Nhật đảo chính hất cẳng Pháp độc chiếm Đông Dương.

Ngày 12 tháng 8 nǎm 1945, Hồ Chí Minh cùng Ban thường vụ Trung ương Đảng quyết định Tổng khởi nghĩa vũ trang trong cả nước. Ngày 19-8, khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội, ngày 23-8 thắng lợi ở Huế, ngày 25 tháng 8 thắng lợi ở Sài Gòn.

Ngày 2 tháng 9 nǎm 1945, tại Quảng trường Ba Đình Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Người tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Namquyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo toàn dân đấu tranh xây dựng, củng cố và giữ vững chính quyền non trẻ. Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời 3-9-1945, Người đề ra những nhiệm vụ cấp bách lúc đó là động viên toàn dân chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm.

Trước dã tâm của thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta một lần nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Trung ương Đảng quyết định phát động cuộc kháng chiến trên phạm vi cả nước. Sáng ngày 20 tháng 12nǎm 1946, trên làn sóng phát thanh của Đài tiếng nói Việt Nam, lời kêu gọi cứu nước của Người đã truyền đi khắp nước: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ…

Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược đã giành được thắng lợi to lớn, kết thúc bằng chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ (1954).

Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng (1955) Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đồng thời đấu tranh giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.

Đại hội lần thứ III của Đảng (1960) đã nhất trí bầu lại Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Quốc hội khóa II, khóa III đã bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Nǎm 1962, khi tiếp Đoàn đại biểu nhân dân miền Nam ra thǎm miền Bắc, Chủ tịch Hổ Chí Minh nói: “Hình ảnh miền Nam yêu quý luôn luôn ở trong trái tim tôi”.

Tháng 8 nǎm 1964 đế quốc Mỹ gây ra sự kiện “Vịnh Bắc Bộ”, và từ tháng 2 nǎm 1965 đã mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc và ồ ạt đưa quân viễn chinh Mỹ vào miền Nam Việt Nam. Trước tình hình đó Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn thể nhân dân ViệtNam đứng lên chống Mỹ cứu nước. Tháng 7 nǎm 1966 Mỹ đã dùng máy bay ném bom Thủ đô Hà Nội và thành phố Hải Phòng, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 nǎm, 10 nǎm, 20 nǎm, hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố xí nghiệp có thể bị tàn phá. Song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do! Đến ngày thắng lợi nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”.

Vào hồi 9 giờ 47 phút ngày 2 tháng 9 nǎm 1969, trái tim của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngừng đập, để lại nỗi tiếc thương vô hạn cho toàn thể nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế. Nhà thơ Tố Hữu đã viết về những ngày tang lễ Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hà Nội:

“Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa
Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa…. “

Ban biên tập     
(Tổng hợp thông tin)

hdnd.dongnai.gov.vn

Tầm vóc Hồ Chí Minh

(TuanVietNam) – “Khi đặc biệt coi trọng cá nhân con người, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong chừng mực nào đó, là rộng hơn C.Mác” – GS Tương Lai.

>> Hiểu kỹ Hồ Chí Minh hãy nói đến tư tưởng của Người

Theo GS Tương Lai: Tầm vóc của con người, cuộc đời và sự nghiệp Hồ Chí Minh có thể nói gọn lại trong năm điểm nổi bật sau:

Ảnh tư liệu

1. Trước hết và sau cùng, Hồ Chí Minh là một con người rất người, một người Việt Nam rất Việt Nam. Đúng là “dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chí Minh” theo đúng nghĩa sâu sắc, đậm đặc và nhất quán một nhân cách Hồ Chí Minh, một đường nét văn hóa Hồ Chí Minh rất Việt Nam.

Những gì là lý luận, là khoa học, là uyên bác, là thâm thúy đều có trong Hồ Chí Minh, đó chính là sự hòa quyện, sự kết đọng của sự thông tuệ dân gian. Đó là sự thông minh, tế nhị và mộc mạc của tinh hoa văn hóa Việt Nam thể hiện trong ứng xử hàng ngày của người dân quê trên đồng ruộng, giữa núi rừng, nơi“thôn cùng xóm vắng” [Nguyễn Trãi].

Những uyên bác, những thâm thúy, những tế nhị và mộc mạc hòa quyện vào trong sự thông tuệ dân gian ấy được Hồ Chí Minh tiếp thu một cách hồn nhiên, thoải mái và có chọn lọc, để rồi thể hiện ra một cách dung dị nhưng không kém phần sâu lắng tế nhị, không kém phần minh triết trong cái khôn ngoan dân dã Việt Nam!

Chính điều này vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của sự gắn bó máu thịt giữa lãnh tụ và quần chúng, niềm tin yêu của nhân dân dành cho lãnh tụ của mình và là “ham muốn, ham muốn đến tột bậc” của Hồ Chí Minh về cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân mình.

Với đặc điểm này, cho dù với sự khiêm tốn tuyệt đối cần thiết, cũng phải nói rằng, so với những lãnh tụ cách mạng khác, Hồ Chí Minh có sự kết đọng đậm đặc hơn, quán triệt hơn, sâu xa và thấm thía hơn trong sự gắn bó tin yêu với nhân dân của mình và đồng thời hình ảnh Hồ Chí Minh sống trọn vẹn trong trái tim của họ. Hồ Chí Minh ở trong họ, gần gũi thân thiết với họ, nâng họ lên để cùng đứng với mình chứ không bao giờ đứng trên họ. Hồ Chí Minh với nhân dân mình là một.

Nói như nhà báo Úc Burchett “Nói tới một người mà cả cuộc đời mình để lại ân tình sâu nặng trong nhân dân thì không có ai ngoài Chủ tịch Hồ Chí Minh”, và như đòi hỏi của Charles Fourniau, nhà sử học Pháp “cần làm nổi bật một cách hiển nhiên và trên mọi tầm vóc, hình ảnh một con người đã là một trong ba hoặc bốn nhân vật vĩ đại nhất của phong trào công nhân và cách mạng thế giới, một trong những vĩ nhân của thế kỷ chúng ta”.

2. Hồ Chí Minh là con người của hành động và sáng tạo. Hành động rất thiết thực và sáng tạo Con người ấy không viết nhiều, không nói nhiều, không viết dài nói dài, song là con người làm, làm rất nhiều. Con người ấy nói ít, làm nhiều, thậm chí không cần nói, chỉ cần làm để rồi bằng việc làm cụ thể mà thuyết phục người ta làm theo mình.

Nhưng như thế không hề là chủ thuyết của một nhà “triết học vô ngôn”, hoặc một “chính khách vô ngôn”. Hồ Chí Minh không phải không có những tác phẩm, những công trình, những bài viết, những diễn văn, những lời kêu gọi. hưng, tác phẩm lớn hơn cả, bài học sâu sắc nhất chính là cả cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh.

Giờ đây đọc lại hệ thống luận điểm của Hồ Chí Minh, khởi đầu từ những năm 20 của thế kỷ trước, cho đến tư tưởng chỉ đạo hai cuộc chiến tranh cứu nước, giải phóng dân tộc là trước sau như một nhất quán với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập tự do” mới thấy “vào thời ấy, hệ thống luận điểm của Hồ Chí Minh mới mẻ đến kỳ lạ, khó lòng tưởng tượng. Nó nằm trong dòng sáng tạo cách mạng của những con người mà cống hiến lý luận và sự nghiệp đấu tranh vạch đường cho thời đại”(Phạm Văn Đồng).

Ảnh tư liệu

Đó là một con người sáng tạo, rất sáng tạo, con người đổi mới, thường xuyên đổi mới, đổi mới rất táo bạo. Con người ấy “có sự dị ứng bẩm sinh với bệnh giáo điều rập khuôn, bệnh công thức sáo mòn”.

Từ quan điểm, đường lối cho đến cách sống, cách nói, cách viết, Hồ Chí Minh quyết liệt chống sự sáo mòn, hướng tới cái thiết thực, đạt tới hiệu quả cao nhất. Trong con người ấy có sự hòa quyện nhuần nhị lý trí với tình cảm và tâm linh, sự gắn kết rất tự nhiên giữa tâm hồn nhạy cảm của một nhà thơ, với bản lĩnh tinh nhạy của một chính khách, và sự khoan hòa nhân ái của một lãnh tụ nhân dân.

Đặc điểm nổi bật ấy tạo ra phong thái rất độc đáo của Hồ Chí Minh không trộn lẫn vào đâu được. Nhờ vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh đến với mọi tầng lớp nhân dân một cách dễ dàng vì nó gần gũi với cách cảm, cách nghĩ của họ, vừa rất truyền thống, vừa rất hiện đại. Biết cách làm cho dễ hiểu để đến được với người có trình độ học vấn thấp, song lại biết cách nâng cao lên để diễn đạt được chân lý của cuộc sống, thể hiện được khát vọng thầm kín và sâu xa của con người, nhất là những con người cùng khổ, con người bị áp bức.

Cách tư duy cũng như cách ứng xử của Hồ Chí Minh, như có người nhận xét, “vừa rất ta, vừa rất tây”, đây cũng là một nét độc đáo rất Hồ Chí Minh. Đã có người quan sát và kể lại cách Hồ Chí Minh chọn và ngắt một bông hoa hồng trong vườn Phủ Chủ tịch để tặng một người phụ nữ Pháp là 100% châu Âu . Nhưng cách Bác Hồ bưng bát nước chè xanh của một cụ già nông dân mời, vừa thổi, vừa uống thì 100% là Việt Nam.

Ở trong ứng xử cũng như trong cách viết, cách trả lời nhà báo nước ngoài, cách diễn đạt những mệnh đề lý luận của Hồ Chí Minh có sự tinh tế nhuần nhuyễn của những đường nét minh triết phương Đông và văn hóa phương Tây, vừa dân tộc vừa quốc tế. Cần phải thấy cho ra tầm vóc luận điểm Hồ Chí Minh đưa ra từ 1924 trong Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản: “Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”!

Việt Nam, Phương Đông, Phương Tây, thế giới, thời đại đều có trong cốt cách ứng xử của Hồ Chí Minh. Không quá cường điệu khi Hélène Tourmaire, một nhà văn và cũng là nhà báo viết: “Hình ảnh Hồ Chí Minh đã hoàn chỉnh với sự kết hợp đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học của Mác, thiên tài cách mạng của Lênin và tình cảm của một người chủ gia tộc, tất cả bao bọc trong một dáng dấp rất tự nhiên”.

3. Một trong những nét độc đáo nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh là tính hệ thống đồng bộ. Hệ thống đồng bộ trong những quan hệ tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, chuyển hóa thành nhau của chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tức là các chiều cạnh của cuộc sống xã hội. Đây chính là khái niệm mới về nền văn minh.

Hồ Chí Minh không bị đẩy lệch về kinh tế, không rơi vào “kinh tế luận”, cũng không bị đẩy lệch về chính trị để rơi vào cái vũng bùn của quan điểm “chính trị là thống soái” từng gây nên bao thảm họa.

Hồ Chí Minh càng không lệch về quân sự, để rơi vào sự sùng bái bạo lực, “chính quyền ra đời từ đầu ngọn súng”, đấu tranh giai cấp, “một mất một còn” trong cuộc chiến “ai thắng ai”, cội nguồn của bao tai họa mà di lụy của nó vẫn chưa gột sạch, có lúc lại trở thành cách đánh lạc hướng những đòi hỏi về dân chủ, dân quyền và dân sinh rất thiết thực trong đời sống của người dân.

Không bị rơi vào những sai lầm, lệch lạc đó, vì Hồ Chí Minh có nhận thức sâu sằc về tính hệ thống đồng bộ xã hội, và trong tổng thể xã hội ấy, một quan niệm về xã hội mới mà Hồ Chí Minh muốn xây dựng. Trong ấy, Hồ Chí Minh đặt con người ở vị trí trung tâm. Đó là nét đặc sắc nổi bật của tư tưởng Hồ Chí Minh. Mà như thế có nghĩa là đặc biệt coi trọng về văn hóa, vì nói đến con người chính là nói đến văn hóa.

Ảnh tư liệu

Hồ Chí Minh đã làm hết sức mình để nâng cao trình độ phát triển kinh tế của đất nước. Không coi nhẹ kinh tế, không coi nhẹ chính trị, nhưng đặc biệt coi trọng văn hóa. Cố nâng đời sống kinh tế lên cho từng người, từng nhóm người, đặc biệt cho nhóm người đang có mức sống quá thấp, để trên cái nền của đời sống vật chất được nâng cao dần lên đó, mà có điều kiện đem lại hạnh phúc cho con người. Vì vậy, văn hóa là nhân tố đặc biệt quan trọng. Văn hóa bao gồm trí tuệ, tình cảm, phẩm chất, đạo đức, tóm lại là “cuộc sống người của con người”.

Với đặc sắc tư tưởng nổi bật như vậy, Hồ Chí Minh đã mở ra con đường xây dựng xã hội mới của Việt Nam, cũng có thể có giá trị đối với các nước đang phát triển. Thấy khoa học, thấy công nghệ, thấy kinh tế, thấy lý trí và trí tuệ, nhưng những cái đó không phải cái đặc sắc và sáng tạo của Hồ Chí Minh.

Chỗ đặc sắc và sáng tạo của Hồ Chí Minh là nhận thức sâu sắc về tổng thể con người, về văn hóa. Tổng thế và văn hóa, tức là con người. Đó chính là tầm nhìn và cách tư duy để tìm kiếm con đường hiện đại, có thể rút ngắn đoạn đường, đi tắt để phát triển.

Quán triệt điểm đặc sắc ấy của tư tưởng Hồ Chí Minh, thì về kinh tế sẽ tránh rơi vào nền kinh tế thị trường hoang dã, chộp giựt. Mà là, làm kinh tế, làm chính trị là để nhằm tôn vinh dân chủ, tức là người dân và con người. Nếu làm kinh tế thị trường đơn thuần về chính trị với hàm nghĩa những mưu lược, thì mục tiêu dù đạt được cũng dễ làm mất văn hóa, dễ “nuốt trôi” mất văn hóa.

Ngược lại, xuất phát từ văn hóa, tức là từ con người thì sẽ nâng cao kinh tế và chính trị lên với những nội dung văn hóa được đưa vào. Nếu hiểu sâu sắc đặc điểm nổi trội ấy của tư tưởng Hồ Chí Minh, sẽ giúp hình thành một hệ thống giá trị chân chính của xã hội mới.

4. Từ nét đặc điểm nổi trội ấy mà nhận ra tinh thần đại đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại doàn kết để xây dựng xã hội mới. Mãi mãi đại đoàn kết dân tộc. Đây là điểm độc đáo của tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong tư tưởng của C.Mác, Ph Angghen, V.I Lênin không tìm thấy điều này, hoặc nếu có đôi điều nói thoáng qua, chứ không tập trung, nổi bật như của Hồ Chí Minh.

Qua quá trình tiến lên của cách mạng, mục tiêu, động lực và lực lượng không hề có sự sắp xếp loại bỏ, thay đổi, chỉ có sự nâng cao về chất mà không bớt đi về lượng, về số tầng lớp, số người tham gia.

Nghĩa là, với Hồ Chí Minh, không có chuyện một bộ phận nào đó của nhân dân, một tầng lớp xã hội nào đó nửa chừng đứt gánh, không thể cùng chung con đường mình đang đi. Không có chuyện ai đó, tầng lớp nào đó chỉ là “bạn đường một đoạn” trong cả chặng đường dài, vì họ không còn đủ điều kiện theo đến cùng nên phải thải loại ra.

Nếu xem xét thất kỹ sẽ thấy rằng trong tư tưởng Hồ Chí Minh không có luận điểm về sắp xếp lực lượng cách mạng trong từng giai đoạn, bố trí chiến lược, chiến thuật về lực lượng: lực lượng chủ lực, lực lượng đồng minh gần tức là đồng minh chiến lược, rồi đồng minh xa, tức là đồng minh chiến thuật, lực lượng trung lập lâu dài hoặc trung lập từng lúc một như trong những chỉ dẫn của C.Mác, Ph Angghen, V.I Lênin.

Ảnh tư liệu

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh có thể có những thay đổi về mục tiêu cụ thể, thay đổi về nhiệm vụ, chủ trương và phương pháp nhưng không có sự thay đổi về lực lượng cách mạng. Trong học thuyết và tư tưởng của C.Mác, Ph Angghen, V.I Lênin có khái niệm “bạn đường một đoạn”, còn trong Hồ Chí Minh không hề có điều ấy.

Cũng đã có một số người vì những lý do nào đó không thể đi theo Hồ Chí Minh, trong đó có người rất đau lòng, nuối tiếc vì hoàn cảnh bắt buộc và rồi sau đó họ quay trở lại với Hồ Chí Minh. Cũng có thể nói, chỉ có ai đó đã bỏ Hồ Chí Minh, chứ Hồ Chí Minh thì không bỏ một ai.

Ai đó tự loại trừ chính mình, chứ Hồ Chí Minh không loại trừ ai. Phải lưu ý nhấn mạnh điều này vì, cũng đã có người nhân danh cách mạng đã làm hoen ố sự chân thành, thủy chung như nhất của Hồ Chí Minh với khối đại đoàn kết dân tộc.

Bằng những thủ đoạn bè phái, hẹp hòi, họ đã làm tổn thương đến niềm tin của dân đối với tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ đã làm vấy bẩn hình ảnh Hồ Chí Minh trong sự tin yêu và thân thiết với tấm lòng rộng mở và chân thành của Hồ Chí Minh, làm cho những người trung thực giảm lòng tin vào Hồ Chí Minh. Những hẹp hòi, thiển cận, thủ đoạn của họ đã gây nên những tổn thất cho sự nghiệp mà Hồ Chí Minh suốt đời đeo đuổi.

5. Hồ Chí Minh thấy và rất coi trọng cá nhân trong cộng đồng dân tộc. Điều này do nhiều nhân tố tạo thành chứ không phải chỉ là do tiếp thu được từ học thuyết của C.Mác.

Nếu có tiếp thu thì là tiếp thu cái cốt lõi có giá trị nhất của học thuyết ấy bằng truyền thống về nhân văn sâu xa từ triết lý cổ đại thời Hy-La, rồi hiện đại dần lên đến thời cổ điển, phục hưng, khai sáng cho đến thời hiện đại của phương Tây.

Có thể nói, truyền thống nhân văn ấy là phần rất nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Khi đặc biệt coi trọng cá nhân con người, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong chừng mực nào đó, là rộng hơn C.Mác. Điều này gắn liền với giá trị tinh thần Việt Nam trong truyền thống văn hóa phương Đông đối với con người.

Điểm nổi bật nhất của giá trị đó chính là biểu hiện xuyên suốt trong cuộc đời, trong sự nghiệp và trong tư tưởng bản chất người, bản chất dân tộc của Hồ Chí Minh. Có được điều ấy vì Hồ Chí Minh phải sống và hoạt động trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn.

Những đốm lửa cách mạng được nhen nhóm từ trong điều kiện rất hiểm nghèo, khắc nghiệt của chế độ thuộc địa Pháp ở Việt Nam, phải chắt chiu, trân trọng gìn giữ và phát huy từng cá nhân con người, phải coi trọng từng cá nhân con người mới có thể thổi bùng lên ngọn lửa của Cách mạng Tháng Tám và ngọn lửa của các cuộc kháng chiến trường kỳ trong thế kỷ XX.

Hồ Chí Minh nâng niu trân trọng con người, từng cá nhân con người, nhẫn nại thức tỉnh, giác ngộ, đào tạo từng người, không nề hà công sức, không quản ngại khó khăn, năng nhặt chặt bị, từng ly từng tí một góp gió thành bão.

Ảnh tư liệu

Khởi đầu từ cái cụ thể tưởng như nhỏ nhặt không đáng kể để rồi trở thành một công trình vĩ đại mang ý nghĩa thời đại, ý nghĩa lịch sử. Đi khắp năm châu bốn biển, ôm ấp một hoài bão lớn lao về giải phóng dân tộc mình, góp phần giải phóng loài người, nhưng khi trở về lại mảnh đất của quê hương, đất nước thì lại có thể kiên trì giúp đỡ, dìu dắt, giác ngộ cho một đồng bào của mình ở miền núi, từ việc nhẫn nại dạy chữ, giảng giải về hoạt động cách mạng để người đó có thể trực tiếp tham gia rồi dần dần trở thành người cán bộ cách mạng.

Không chỉ là cá biệt một người, mà nhiều trường hợp với nhiều người khác cũng đã được Hồ Chí Minh trực tiếp dìu dắt, giúp đỡ mà trưởng thành.

Biết đánh giá, sử dụng và phát huy từng người cả đức và tài của họ. Trong rất nhiều trường hợp, nhất là trong những trường hợp có ý nghĩa lịch sử, thiên tài của Hồ Chí Minh thể hiện ra ở đây là chọn rất đúng và rất trúng người đáp ứng được đòi hỏi của nhiệm vụ lịch sử ấy.

Tôn trọng, chăm lo, tạo điều kiện làm nảy nở và tạo dựng nên nhân cách của từng người, Hồ Chí Minh hiểu rõ thế nào là nhân cách, rất dễ dàng cảm thông, trân trọng nhân cách và cá tính của con người.

Nếu nhớ lại rằng, do điều kiện đặc biệt của người chiến sĩ cách mạng luôn luôn phải đối phó với hoàn cảnh khắc nghiệt bởi tính chất của công việc và mạng lưới bủa vây, truy lùng của kẻ thù, Hồ Chí Minh không có gia đình, không có được môi trường sống bình thường của một con người trong tình cảm, nghĩa vụ và ứng xử hàng ngày với ông bà, cha mẹ, vợ con, anh chị em…

Hiểu như vậy mới thấy hết được cái lớn của tấm lòng cảm thông và cung cách ứng xử hàng ngày của Hồ Chí Minh với mọi người, với từng người .

Hồ Chí Minh thực hiện một cách mẫu mực và chân thật sự bình đẳng của các cá nhân, không hề cường điệu, phân biệt giữa người bình thường với người giữ trọng trách, người ở cương vị cao chót vót. Hồ Chí Minh thường xuyên hỏi ý kiến các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước song cũng đồng thời sẵn sàng và thành thật hỏi ý kiến những đồng chí cấp dưỡng, lái xe, bảo vệ mình gặp hàng ngày.

Người ta kể lại rằng, có lần Hồ Chí Minh không chấp nhận ý kiến của một Ủy viên Bộ Chính trị, nhưng lại lắng nghe và chấp nhận ý kiến của một người cấp dưỡng. Bằng cuộc sống đầy bản sắc của riêng mình, Hồ Chí Minh biết và hiểu được theo chiều sâu bản sắc của từng người, từng hạng người để tôn trọng và giúp trau dồi bản sắc ấy ở mỗi người.

Hồ Chí Minh đều rất tôn trọng cả hai mặt: một mặt là cải tạo hoàn cảnh bên ngoài trở nên hoàn cảnh có tính người như C.Mác nói, để qua đó, cải tạo con người và làm nên được bản sắc của con người mới. Đồng thời đi vào chiều sâu bên trong của từng con người hàm chứa tâm linh dân tộc, tâm linh tôn giáo, tính chất trí thức, đặc điểm thế hệ, tâm lý cá nhân, những khát vọng, những nét bản sắc của từng cá nhân ấy.

  • Tương Lai

Kỳ 3: Tư tưởng Hồ Chí Minh là chân thực (Phương pháp luận nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh)

tuanvietnam.vietnamnet.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh và người học trò Võ Văn Kiệt

Lý thuyết là mầu xám, cây đời mãi mãi xanh tươi – một triết lý sâu sắc, đơn giản, trở thành câu thơ nổi tiếng của Goethe trong vở kịch “Faust”, thường được cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhắc đi nhắc lại với nhiều người chung quanh mình trong công việc, đến mức trở thành một quan niệm, một phương thức làm việc, và còn hơn thế nữa: một phương thức và một lẽ sống…

Sau này, trong những ngày được giúp cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, tôi có dịp làm “nhân chứng” cho ảnh hưởng lan tỏa của điều nhắc nhủ nêu trên.

Một lần tình cờ tôi hỏi Anh Sáu Dân, nhân lúc đang phải triết lý về cuộc đời:

– Anh Sáu ạ, điều gì khiến anh có ấn tượng sâu sắc như vậy khi anh thường nói với chúng tôi về lời nhắc nhủ của anh Tô (Thủ tướng Phạm Văn Đồng)?

– Chuyện đó quan trọng lắm: Điều nhắc nhủ ấy của Anh Tô khiến tôi hiểu Ông Cụ đầy đủ hơn, dậy tôi cách học Ông Cụ, không như thế thì không thể hiểu được Ông Cụ! – Anh Sáu nói như thế về Bác Hồ với tất cả kính yêu và mến phục của mình.

Ngày tháng vùn vụt trôi đi trong công việc ngập đầu, hầu như không thấy Anh Sáu viện dẫn sách vở hay lý luận ra để giải thích quyết định của mình. Ngay cả trong những công việc rất khó, Anh Sáu không lý luận dài dòng, mà đi thẳng vào tình huống, vào công việc, nói rõ mục đích phải đạt được. Đôi ba lần, gặp phải công việc còn nhiều ý kiến tranh cãi ngang ngửa, nếu cần thúc giục những người chung quanh động não góp ý, tôi thấy Anh Sáu không áp đặt ý kiến của mình, mà thường nhắc đến những quyết định của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những giờ phút quyết định vận mệnh đất nước, hoặc trong tình huống hiểm nghèo.

– Không chần chừ được. Thời cơ không chờ đợi! Nếu Bác không quyết nắm lấy thời cơ thì làm sao có Cách Mạng Tháng Tám, làm sao thành công được!.. Cứ suy nghĩ kỹ mà xem… Khó khăn của chúng ta bây giờ ăn nhằm gì!..

– Phải đi nước ngoài thương thuyết trong tình hình đất nước nghìn cân treo sợi tóc, việc quán xuyến cả đất nước Bác trao vào tay cụ Huỳnh Thúc Kháng. Đức độ nào, tầm nhìn và sự từng trải nào khiến Bác dám quyết như vậy?

– Vân… vân…

– …

Anh Sáu không giải thích, không nói nhiều, mà cứ nêu câu hỏi như thế, đòi hỏi mọi người chung quanh phải suy nghĩ, phải noi gương.., để tìm ra giải pháp cho vấn đề đang đặt ra trước mặt!

Bác Hồ… Ảnh tư liệu

Tôi nhớ lại đấy là những lúc Anh yêu cầu chúng tôi tìm mọi lý lẽ và chuẩn bị mọi việc để trình bầy với Bộ Chính trị quyết định những việc hệ trọng: sớm bình thường hóa quan hệ với Mỹ, gia nhập ASEAN, gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)… Trong bối cảnh lúc bấy giờ, cần nói thẳng thắn là phía ta có “hội chứng Mỹ” rất nặng, rất lo ngại “diễn biến hòa bình”, đầy nghi ngờ sự thao túng của các nước lớn đối với WTO, lo mở cửa nền kinh tế chế độ chính trị của đất nước sẽ bị uy hiếp, vân vân…

Khổ một nỗi hồi ấy lực cản đối với những quyết định hệ trọng như thế rất lớn! Gần như là một lẽ tự nhiên! Kể cả trong hàng ngũ trí thức nữa, chứ không phải chỉ trong những cán bộ chính trị! Hiểu rõ lịch sử vô cùng gian truân đất nước đã trải qua, sẽ hiểu được sự giằng co quyết liệt này để quyết định cho đất nước những bước đi tất yếu như vậy!

Tôi không muốn tôn sùng vai trò cá nhân, nhưng nhìn lại lịch sử thì cần công bằng. Trong sự hiểu biết của mình, tôi dám cả quyết cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, kể cả sau này với tư cách

Cố vấn, thực sự là người tiên phong của những người đi tiên phong trong lựa chọn những quyết định thay đổi hẳn cục diện đất nước như vừa trình bầy trên.

Trong những năm tháng ấy, tâm sự với chúng tôi, Anh Sáu cho biết, Anh luôn luôn nghĩ đến những quyết định và việc làm của Bác, để học tập, để noi gương, để mổ xẻ cặn kẽ tình huống công việc mình đang đối mặt.., nhất là để kiên định quan điểm và sự lựa chọn quyết định của chính mình. Trong những năm tháng giúp anh Sáu, hình như tôi chưa thấy một lần nào có chuyện Anh Sáu nói hay viết “Hồ Chủ tịch nói rằng…”, “Hồ Chủ tịch dạy rằng…” Quả thực đến nay tôi chưa tìm lại được một diễn văn nào của Anh Sáu trong thời gian tôi giúp việc có trích nguyên văn một câu nói nào đó của Bác! Có điều kiện, tôi sẽ xác minh kỹ hơn để khẳng định điều này. Song tôi tin rằng hầu như ở Anh Sáu không có chuyện lý luận hay ngôn từ theo kiểu trích cú tầm chương như vậy mỗi khi nói về Bác Hồ, dù là trong hội nghị, buổi nói chuyện, hay là trong các cuộc họp bàn công việc với những người chung quanh.

Trong những năm tháng làm việc cạnh Anh Sáu, không dưới một lần, anh em chúng tôi hỏi trực tiếp – đương nhiên là để hiểu rõ cái chất “Sáu Dân” của Anh:

– Anh Sáu ạ, sao anh hay làm trái nghị quyết của Đảng thế?

– Thế thì tôi đáng bị kỷ luật nặng rồi!

– Nếu chiểu theo câu chữ của văn bản chính thức thì không oan Anh Sáu ạ.

– Tôi hiểu câu hỏi của các anh…

Mỗi lần trả lời loại câu hỏi này trong các vấn đề khác nhau, chúng tôi hiểu thêm một khía cạnh mới trong suy nghĩ của Anh.

Không biết bao nhiêu lần Anh thường nói với chúng tôi: Không nên và không được tư duy theo cách đưa đường lối của Đảng vào cuộc sống. Cũng không thể nói “ý Đảng lòng dân” đến mức như là một khuôn sáo… Đúng ra phải nghĩ ngược lại: Đưa cuộc sống vào đường lối chính sách của Đảng, nguyện vọng của dân phải trở thành ý chí của Đảng!.. Tự nhận là con cháu Bác Hồ thì phải làm như thế, học tập Bác thì phải làm như thế…

Anh Sáu hỏi lại chúng tôi nhiều lần: Hãy thử tìm xem, trong Tuyên ngôn Độc lập, rồi đến Hiến pháp 1946, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, trong nhiều sự việc quan trọng khác, và ngay cả trong Di chúc của Bác nữa, có thấy chỗ nào Bác làm theo cách “đưa đường lối của Đảng vào cuộc sống” không? Hay là Bác xuất phát từ những đòi hỏi bức thiết của cuộc sống vạch ra chương trình hành động cho đất nước, cho Đảng?..

Anh Sáu nhấn mạnh: Cái chính là phải trung thành với mục tiêu của cách mạng và không được để lợi ích cá nhân xen vào. Nghĩ được như vậy thì sẽ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm… Nghĩ được như thế, mới có thể hiểu được những quyết định có một không hai của Bác Hồ. Anh giục chúng tôi: Các anh cứ đi sâu tìm hiểu, phân tích những quyết định động trời của Bác thời kỳ cách mạng trứng nước, khi quyết định toàn quốc kháng chiến, khi phát động cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước…[1] Phân tích cho kỹ xem kết luận như vậy có đúng không! Rõ ràng chỉ có Bác mới dám quyết như vậy! Trung thành với sự nghiệp cách mạng mới dám quyết như vậy! Trung thành với “chủ nghĩa” thì không dám và không thể làm như vậy!.. Lần nào cũng thế, Anh Sáu trở nên sôi nổi khác thường khi nói đến những chuyện này.

Chúng tôi hiểu thêm Anh Sáu học Bác như thế nào. Nếu thống kê các việc “làm trái” như thế của Anh Sáu, chắc chắn có thể kết luận: Trong mọi thời kỳ công tác và ở bất kể cương vị gì, Anh Sáu cũng có hàng chuỗi các việc “làm trái” như thế – từ những năm tháng chỉ đạo kháng chiến trong vùng địch hậu, rồi đến cương vị đứng mũi chịu sào Thành phố Hồ Chí Minh vừa mới được giải phóng, Thủ tướng Chính phủ, Cố vấn…

Quả thực, vấn đề không phải là câu chuyện của câu chữ văn bản chỉ thị hay nghị quyết, mà là điều anh Sáu tâm đắc: … Cây đời mãi mãi xanh tươi…

Khi nói đến Bác Hồ, hầu như trong hoàn cảnh nào cũng vậy, Anh Sáu trước hết nói về tinh thần, về ý nghĩa, việc Bác làm, về cách xử sự tình huống của Bác, về cách Bác giải quyết vấn đề…, trước hết là về lòng trung thành vô hạn với lợi ích dân tộc, là ý chí và sự mẫn tiệp của

Bác trong sứ mệnh chèo lái con thuyền quốc gia, trong nhiệm vụ là biểu tượng tinh thần của dân tộc, trong cương vị là lãnh tụ sáng lập và rèn luyện Đảng…

Qua những mẩu chuyện cũ anh kể lại khi sống trong vùng địch hậu, cả những lúc cơ sở cách mạng mất trắng từng mảng lớn, bản thân tôi càng hiểu sâu sắc thêm Bác Hồ là linh hồn, là niềm tin bất khuất của đồng bào Nam Bộ trong những năm chiến tranh khốc liệt nhất! Có nhiều mẩu chuyện nhỏ rất cảm động. Anh Sáu tâm sự, nếu không có niềm tin sắt đá như vậy, chính Anh cũng sẽ không dám dựa vào đồng bào, sẽ không có gan quay lại sống với đồng bào và xây dựng cơ sở mới ngay trong vùng địch đã chà đi xát lại sạch bong.

Trong những năm tháng giúp Anh Sáu, điều Anh Sáu nói với chúng tôi nhiều nhất về Chủ tịch Hồ Chí Minh lại là những vấn đề liên quan đến Đảng, cụ thể là vấn đề dân chủ trong Đảng, đổi mới sinh hoạt Đảng, chống sự tha hóa của đảng viên – trước hết là những đảng viên có chức có quyền, về đổi mới xây dựng Đảng. Có lẽ sau này có dịp, nhất là khi bàn đến đổi mới Đảng, các cơ quan nghiên cứu của Đảng nên sưu tầm và công bố những ý kiến đóng góp của Anh Sáu chung quanh chủ đề xây dựng Đảng với tư cách là đảng lãnh đạo đất nước trong thời bình để toàn Đảng và cả nước tham khảo.

… và người học trò xuất sắc Võ Văn Kiệt. Ảnh tư liệu

Câu hỏi lớn nhất bàn về xây dựng Đảng Anh Sáu nêu ra cho chúng tôi là: Vì sao Bác Hồ, chỉ có Đảng với 5000 đảng viên, đã lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Tám và giành lại được đất nước?

Tôi không thể nhớ lại được anh em chúng tôi trong nhóm giúp Anh Sáu, với tính cách nguyên là các thành viên trong Ban Nghiên cứu của Thủ tướng do Anh Sáu thành lập, đã có bao nhiêu cuộc họp bàn và tranh luận với anh Sáu chung quanh chủ đề này. Cứ mỗi khi buổi thảo luận kết thúc, Anh Sáu thường kết luận với câu hỏi mới, đặt vấn đề mới cho cuộc họp sau. Bao nhiêu cuộc họp như thế thì chịu không nhớ được. Ít nhất là phần lớn các cuộc họp của chúng tôi trong hai, ba năm cuối cùng trước khi Anh Sáu đi xa đều xoay quanh chủ để này. Điều tôi hoàn toàn chắc chắn, cuộc họp cuối cùng của Anh Sáu với chúng tôi, chỉ một hai tuần trước khi Anh Sáu lâm bạo bệnh, là bàn về đổi mới Đảng như thế nào. Viết đến đây, tôi liên tưởng đến lời dặn cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc của Người: “Ngay sau khi cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi… Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng…”.

Trong những năm tháng này, ngoài anh em chúng tôi, Anh Sáu còn đi gặp không biết bao nhiêu chiến hữu và bạn bè của mình ở khắp đất nước. Trong những chuyến đi như vậy, bàn về xây dựng Đảng là chủ đề chính của Anh Sáu. Khi về, Anh kể lại cho chúng tôi nghe nhiều thông tin phong phú vể tình hình các đảng bộ địa phương.

Chủ kiến của Anh Sáu là: Cách mạng Tháng Tám, Bác đã lãnh đạo Đảng với 5000 đảng viên làm nên sự nghiệp, trước hết vì đường lối cách mạng đúng, người lãnh đạo sáng suốt, đảng viên chiến đấu ngoan cường, số lượng đảng viên không phải là điều quyết định… Anh dẫn chứng trong Cách Mạng Tháng Tám nhiều nơi không có đảng viên, nhưng nhân dân hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng, tự vùng lên cướp chính quyền, tự lập nên chính quyền cách mạng…

Anh Sáu phân tích: Không tin vào nhân dân, không dựa vào nhân dân như thế làm sao Cách mạng có thể thành công? làm sao có thể bảo vệ được Cách mạng trong những hoàn cảnh ngàn cân treo sợi tóc?.. Vì coi cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, vì không độc quyền yêu nước, nên Bác thực hiện được đại đoàn kết dân tộc, trở thành hiện thân của đại đoàn kết dân tộc, thực sự phát huy được sức mạnh vô địch của nhân dân!.. Quan trọng hơn tất cả, chỉ có như vậy, Bác mới làm cho sự nghiệp Cách mạng trở thành sự nghiệp của nhân dân. Anh Sáu thẳng thắn: Phải thừa nhận chính điểm này chúng ta học tập Bác chưa tốt, làm chưa tốt. Bác nói xây dựng nhà nước của dân, do dân vì dân chính là nói theo tinh thần này! Anh Sáu hỏi lại chúng tôi: Trong lịch sử Chính phủ các thời kỳ cho đến nay, có thời kỳ nào có được đông đảo các nhân sỹ trí thức lớn ngoài Đảng tham gia như Chính phủ cụ Hồ sau Cách Mạng Tháng Tám năm 1945 không? Tại sao bây giờ hễ là bộ trưởng nhất thiết cứ phải là uỷ viên Trung ương mà lại không phải là trí thức có đức có tài đúng với lĩnh vực phụ trách? Ngoài Đảng cũng được chứ sao?.. Tại sao bây giờ không chọn được người tài đức vào đúng chỗ đúng việc? Đảng ta bây giờ với 3 triệu đảng viên, nếu cứ 3 loại đi 2 yếu kém, Đảng vẫn còn được một triệu đảng viên có đủ phẩm chất, vẫn nhiều gấp 20 lần khi làm Cách Mạng Tháng Tám, nếu có đường lối đúng đắn, vẫn hoàn toàn có thể lãnh đạo thành công xây dựng nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất dân chủ và giầu mạnh… Phải học Bác như thế từ trong lý tưởng, trong thực tiễn…

Trong nhiều buổi họp khác nhau, Anh Sáu còn nhắc đi nhắc lại: Tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập tự do!”, tinh thần “độc lập tự chủ và sáng tạo” thì phải học Bác suốt đời!.. Anh nhấn mạnh: Cứ khi nào không thấm nhuần hai điều cốt yếu này, là cách mạng y như gặp khó khăn, là y như phát sinh nhiều vấn đề…

Có thể nói qua những buổi trao đổi như thế, hầu như bao giờ cũng sôi nổi, chúng tôi chẳng những hiểu thêm Anh Sáu học tập Bác Hồ như thế nào, mà còn hiểu rõ được cái chất “Sáu Dân” của người đảng viên Võ Văn Kiệt, nhất là trong tình hình ngày nay cái tính đảng chân chính trong con người đảng viên, trong bản chất và đường lối chính sách của Đảng hình như rất ít được nói tới, được coi trọng mỗi khi bàn về Đảng, về xây dựng Đảng.

Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt thực là người hiểu sâu sắc Bác Hồ, nêu một tấm gương sáng về học tập tư tưởng và đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh, xứng đáng là học trò xuất sắc của Người.
Hà Nội, 19-05-2010

—–

[1] Những câu chuyện này diễn ra vào lúc Anh Sáu và chúng tôi có nhiều cuộc thảo luận đánh giá lại lịch sử từ Cách mạng Tháng Tám, với mục đích tìm hiểu những vấn đề liên quan đến đổi mới Đảng cho phù hợp với đòi hỏi của giai đoạn cách mạng hiện tại. Trong những cuộc thảo luận như thế, chúng tôi đụng chạm tới nhiều sự kiện phức tạp: Cách ứng xử với các đảng phái và các nhân vật chính trị khác chính kiến và đối lập, đối phó với những lực lượng chống phá Cách mạng Tháng Tám và Tầu Tưởng, việc Bác chủ động đề nghị Việt Nam đứng trong khối Liên hiệp Pháp trong quá trình thương lượng không thành với Pháp, việc Bác quyết định nhất thời giải tán Đảng để tránh né những đòn chí mạng đánh vào nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thời trứng nước, việc Bác chủ động cho tiến hành chủ trương tìm cách thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ, các hòa hoãn chính trị nhằm tranh thủ thời gian tối thiểu chuẩn bị cho toàn quốc kháng chiến chống Pháp, việc Bác phát động toàn quốc kháng chiến chống Mỹ xâm lược trong bối cảnh phe xã hội chủ nghĩa rạn nứt và chia rẽ ngày càng sâu sắc… Vân vân…

Nguồn tin: Vietnamnet.vn

thanhnienphuockien.com

Hồ Chí Minh – Chân dung một con người

Xem phần một: Hồ Chí Minh – Chân dung một con người

Ở Paris có bức tường “Những người làm nên thế kỷ 20″ (Ils ont fait le XX Siecle) có nụ cười Bác Hồ ở đây, giữa những trí tuệ, những tâm hồn lớn ở thời đại chúng ta. Trong một thế giới vẫn còn nhiều bạo ngược và lẫn lộn, đã có một cuộc đời Hồ Chí Minh, một con người Hồ Chí Minh.

Người ta có thể gọi Bác bằng nhiều cách khác nhau: 1 vị lãnh tụ, 1 người cộng sản chân chính, 1 tâm hồn và trí tuệ lớn lao, 1 con người của những quyết định lịch sử; nhưng trên hết thảy, Hồ Chí Minh là 1 người con yêu nước vĩ đại đã cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

Ngày 19 tháng 5 năm 1890, cậu bé Nguyễn Sinh Cung cất tiếng khóc chào đời tại quê ngoại làng Chùa, Nam Đàn, Nghệ An. 500 năm trước, chúng ta có người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi. 500 năm sau, theo đúng lời sấm của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm:“Đụn Sơn phân giải, Bò Đái thất thanh, Nam Đàn sinh thánh”, chúng ta có Hồ Chí Minh.

Tuổi thơ của cậu bé Cung đã chứng kiến kiếp sống nô lệ lầm than của dân tộc dưới nhiều tầng áp bức. Ngày vua Thành Thái bị thực dân Pháp bắt đi đầy, vua đã khẳng khái: “Muôn dân nô lệ từng đàn. Vui chi bệ ngọc ngai vàng riêng ta”. Khi đó Nguyễn Sinh Cung đang ở Huế cùng cha, trước cảnh đó, cậu đã cúi mặt xuống để không rơi lệ; nhưng cha cậu – nhà Nho yêu nước Nguyễn Sinh Sắc đã nhắc cậu ngẩng mặt lên nhìn để không quên thù nhà nợ nước vẫn còn chưa trả xong. Từ đó cho đến mấy chục năm về sau, người thanh niên yêu nước đó không bao giờ cúi mặt nữa, không bao giờ chịu khuất phục trước bất kỳ sức mạnh nào; kể cả sau này là Nguyễn Tất ThànhNguyễn Ái QuốcVăn BaLý ThuỵHồ QuangBác Hồ, hay Hồ Chí Minh.

Năm 1911, Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước từ bến cảng Nhà Rồng với đôi bàn tay trắng. Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tham gia thành lập Đảng Cộng Sản Pháp. Rồi anh sang Liên Xô để hoạt động cách mạng Quốc tế. Năm 1924, Lý Thụy sang Trung Quốc, thành lập Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí hội ở Quảng Châu, đồng thời viết cuốn Đường kách mệnh.

Sau 30 năm bôn ba, đến năm 1941, Người trở về Việt Nam, thành lập Mặt trận Việt Minh, từ đây Người là Hồ Chí Minh, trực tiếp lãnh đạo Đảng Cộng Sản Đông Dương và phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Người đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Trong thư gửi đồng bào Nam Bộ, Bác viết:

Năm ngón tay cũng có ngón ngắn ngón dài, nhưng ngắn dài đều hợp lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi tổ tiên ta.

Năm 1946, trong lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, Người khẳng định:

Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ quyết không chịu mất nước, quyết không chịu làm nô lệ.

Bằng niềm tin sắt đá và nhiệt huyết của mình, Người đã nêu gương sáng của 1 người Việt Nam sống có lý tưởng:

Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến
Trí ta đã quyết, lòng ta đã đồng.
Tiến lên chiến sĩ, tiến lên đồng bào
Sức ta đã mạnh, người ta đã đông.
Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi
Thống nhất độc lập, nhất định thành công.

Cuộc đời Bác còn có gì đặc biệt ? Trong thư gửi bác sĩ Vũ Đình Tùng, Bác đã tự nhận là người không có gia đình và không có con nhưng “gia đình tôi là Việt Nam, con cái tôi là các thanh niên Việt Nam”. Hiếm có vị lãnh tụ nào nếm mật nằm gai chịu khổ cùng quân dân trong những năm kháng chiến, rồi lại sát cánh cùng cả nước dựng xây trong những năm hòa bình như Hồ Chí Minh đã làm. Cho dù không phải tất cả đều diễn ra như mong muốn  Trước những sai lầm nặng nề trong cải cách ruộng đất bởi tính giáo điều bảo thủ và áp đặt cộng sản, Bác đã khóc nhận trách nhiệm và tự phê bình trước toàn dân:

Một đảng mà giấu giếm khuyết điểm là một đảng hỏng. Một đảng có gan thừa nhận những khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó vì đâu mà có, và tìm mọi cách sửa chữa những khuyết điểm đó, như thế mới là một đảng mạnh dạn, chắc chắn, và chân chính.

Những năm sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ bị phá vỡ, đất nước bị chia cắt, lại phải lo thù trong giặc ngoài; một mặt là sự đánh phá khốc liệt của đế quốc Mỹ tại miền Bắc Việt Nam, một mặt là sự chống Cộng điên cuồng của chính quyền tay sai miền Nam Việt Nam; dân tộc ta vẫn kiên cường đi theo con đường đã vạch ra, đấu tranh không mệt mỏi giữa một bên là sức mạnh vật chất kinh khủng và mù quáng với một bên là sự lựa chọn trí tuệ và tình thương của từng con người. Trong những lúc cam go khó khăn nhất đó, Người vẫn vững một niềm tin, bởi đến ngày thống nhất, chúng ta sẽ xây dựng lại đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.

Thế giới đánh giá ra sao về vị Chủ tịch nước này ? Họa sĩ Thụy Điển Eric Johansonnói về Nguyễn Ái Quốc:

Đó là một con người kiệt xuất trên nhiều lĩnh vực, một con người uyên bác.

Còn nhà thơ Xô Viết Oxit Măngđenstand đã viết:

Cả khuôn mặt Nguyễn Ái Quốc toát lên sự lịch thiệp và tế nhị, từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa, không phải nền văn hóa ở châu Âu mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai. Qua cử chỉ cao thượng và tiếng nói trầm lắng của Nguyễn Ái Quốc tôi thấy được ngày mai, thấy được viễn cảnh trời yên bỉển lặng của nền hữu ái toàn thế giới bao la như đại dương.

Tạp chí TIME đánh giá Bác là 1 trong những nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn nhất của thế kỷ 20.

Cuộc sống riêng của Người cũng có nhiều điểm đáng nói. Quê hương nghĩa nặng tình sâu, nhưng cả một đời vì nước vì non, cho đến khi luống tuổi, Bác mới chỉ kịp về thăm quê đôi lần. Trong dịp đi thăm quê Bác năm ngoái, người viết có được nghe hướng dẫn viên khu di tích kể lại rằng khi nhà nước có ý định trùng tu lại khu di tích này có đặt cổng ở phía vườn; lúc Bác về thăm mới chỉ rằng xưa kia cổng nhà Bác nằm ở phía này, khung cửi cũ của mẹ Bác – bà Hoàng Thị Loan – đặt ở phía kia. Vậy là suốt mấy chục năm bôn ba, cậu bé Cung vẫn nhớ như in những hình ảnh ngôi nhà nhỏ của ông Phó bảng đã nuôi dưỡng tâm hồn Người ngày nào.

Trong thư gửi anh cả Nguyễn Sinh Khiêm, Bác viết:

vì việc nước nặng nhiều, đường sá xa cách, lúc Anh đau yếu tôi không thể trông nom, lúc Anh tạ thế, tôi không thể lo việc. Than ôi! Tôi chịu tội bất đễ trước linh hồn Anh và xin bà con nguyên lượng cho một người con đã hy sinh tình nhà vì phải lo việc nước.

Thân sinh Bác, cụ Nguyễn Sinh Sắc, mất tại miền Nam, Bác còn chưa đến thăm được.

Tuổi xế chiều, Bác Hồ đã về sống ở đây, đúng như mong muốn của Người được sống trong ngôi nhà nhỏ, có vườn cây, ao cá, sớm chiều bầu bạn với các cụ già em nhỏ, xa lánh vòng danh lợi. Cuộc sống vật chất của Người chỉ nhỏ bé vậy thôi, trái ngược với ham muốn to lớn của Người:

Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước nhà được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.

Xin mượn câu nói của đồng chí Lê Duẩn thay cho lời kết bài: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ Tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, và non sông đất nước ta.”

Trong phòng riêng của người viết có treo 1 tấm ảnh “Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân” như một lời nhắc nhở noi theo tấm gương của chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, với niềm tự hào được làm một người con đất Việt – Trên ngực áo này không một tấm huân chương, và sau làn vải ngực áo này có một trái tim.

Nhân ngày này, xin được viết đôi dòng gửi đến Bác tình cảm kính yêu chân thành nhất. Chúc mừng 19 tháng 5 với 2 mốc son chói lọi: 1890 và 1983, chúc mừng sinh nhật Hồ Chủ Tịch

———–

Bài viết có sử dụng tư liệu:

  • Phim “Hồ Chí Minh – Chân dung một con người”
  • Phim “Việt Nam – Cuộc chiến mười nghìn ngày”
  • Chuyên đề “Bác Hồ kính yêu
  • Truyện “Bác Hồ viết di chúc” (Vũ Kỳ)

sites.google.com

Đường Kách Mệnh

Tác phẩm Đường cách mệnh có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Lý luận của tác phẩm không sách vở mà vạch ra lý luận cách mạng Việt Nam thiết thực, tri thức lý luận cách mạng Việt Nam đã được hiện diện trong tác phẩm rất mácxít nhưng cũng rất Việt Nam, dễ hiểu, dễ tiếp thu, kết hợp rất tài tình phương pháp lịch sử và lôgích. Dùng lịch sử để nói lý luận, từ Cách mạng Pháp đến Cách mạng Nga và kết luận ở Cách mạng Nga, rồi lấy lý luận soi sáng thực tiễn Việt Nam, và kết luận: Chỉ có cách mạng vô sản mới giải phóng được dân tộc.

I – Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm

1. Thế giới 

Chủ nghĩa Mác – Lênin là sự tiếp nối và phát triển những tư tưởng giải phóng con người của nhân loại. Nó đã trở thành vũ khí tư tưởng của giai cấp vô sản đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản và xây dựng xã hội mới – xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Được học thuyết khoa học và cách mạng soi đường, phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản các nước trên thế giới đã phát triển mạnh mẽ, dẫn đến sự ra đời của các Đảng Cộng sản như: Đảng xã hội – dân chủ Nga được thành lập (1903); Đảng Cộng sản Pháp được thành lập (1920); Đảng Cộng sản Trung Quốc ra đời (1921)…

Năm 1917, Đảng Cộng sản Bônsêvích Nga đã lãnh đạo cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga thành công. Cách mạng Tháng Mười Nga là bằng chứng khẳng định giá trị thực tiễn của chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời cũng báo hiệu thời kỳ đấu tranh giành thắng lợi của giai cấp vô sản thế giới bắt đầu.

Năm 1919, Quốc tế III – Bộ Tham mưu của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế được thành lập. Quốc tế III đã quan tâm đến cách mạng thuộc địa. Bản Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đã tác động trực tiếp đến phong trào giải phóng dân tộc ở các thuộc địa. Đối với Nguyễn Ái Quốc, Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin là bước tiến nhảy vọt và dứt khoát trong nhận thức tư tưởng của Người. Người quyết định chọn chủ nghĩa Mác – Lênin làm hệ tư tưởng cứu nước. Như vậy, thời đại đã mở ra điều kiện mới – cả tư tưởng chính trị và cả tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở các nước. Chính thời đại cũng dẫn dắt phong trào cách mạng các dân tộc trên thế giới đi vào quỹ đạo chung của cách mạng vô sản.

2. Việt Nam 

Đặc điểm nổi bật của Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là một nước thuộc địa nửa phong kiến. Xã hội Việt Nam lúc đó có hai mâu thuẫn cơ bản là: giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và giữa giai cấp phong kiến Việt Nam với toàn thể nhân dân (chủ yếu là nông dân). Yêu cầu của lịch sử lúc này là phải giải quyết mâu thuẫn cơ bản đó để đưa dân tộc tiến lên.

Dưới ách thống trị của thực dân – phong kiến, đã có hàng trăm cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc theo hệ tư tưởng phong kiến và tư tưởng tư sản, nhưng rút cuộc, đều không giải quyết nổi nhiệm vụ mà lịch sử đang đặt ra, nhân dân đang mong đợi là giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân phong kiến.

Bước vào những năm 20 của thế kỷ XX, trong phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam đã xuất hiện nhiều tổ chức yêu nước mang sắc màu chính trị khác nhau, như: Tâm tâm xã ( l923 – 1925), Hội phục Việt (1925), Đảng thanh niên (1926), Thanh niên cao vọng Đảng (1926 – 1929), Tân Việt cách mạng Đảng (1926 – 1930), Việt Nam quốc dân Đảng (1927 – 1980). Song, các tổ chức yêu nước này thiếu đường lối chính trị đúng đắn, thiếu tổ chức chặt chẽ như một đảng cách mạng khoa học, cho nên, họ không đáp ứng được yêu cầu của lịch sử.

Thực tiễn lịch sử đang đòi hỏi phải có một tổ chức mới, được xây dựng trên cơ sở hệ tư tưởng cách mạng và khoa học, có đường lối chính trị đúng đắn, có tổ chức chặt chẽ thì mới lãnh đạo cách mạng đi đến thành công.

II- Tư tưởng cơ bản và nội dung của tác phẩm 

1. Tư tưởng cơ bản của tác phẩm

Mục đích tác phẩm được tác giả chỉ rõ: “Muốn sống thì phải cách mệnh”. “Hơn hai mươi triệu đồng bào hấp hối trong vòng tử địa. Phải kêu to, làm chóng để cứu lấy giống nòi”. Thà chết tự đo còn hơn sống nô lệ, quyết chiến đấu cho nền độc lập tự do của dân tộc là tinh thần của tác phẩm. Có thể nói, “Không có gì quý hơn độc lập tự do” là quan điểm bao trùm toàn bộ tác phẩm.

Tác phẩm cũng chỉ rõ kẻ thù nguy hiểm nhất của độc lập tự do và vạch con đường cụ thể để giành thắng lợi.

Tinh thần xuyên suốt toàn bộ tác phẩm là vì độc lập tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân, phải giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân ra khỏi ách áp bức bóc lột của chủ nghĩa đế quốc.

Kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội là quan điểm tư tưởng chỉ đạo con đường cách mạng Việt Nam. Giải phóng nhân dân phải gắn với sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản. Cách mạng giải phóng dân tộc phải theo quỹ đạo của cách mạng vô sản, kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa xã hội, lợi ích của dân tộc với lợi ích của giai cấp vô sản phải gắn bó với nhau. Thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc đều phải giải quyết trên cơ sở quan điểm cách mạng vô sản để đưa cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cách mạng giải phóng dân tộc chuẩn bị cho cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cách mạng xã hội chủ nghĩa chi phối cách mạng giải phóng dân tộc.

Cách mạng phải triệt để, tích cực, chủ động và sáng tạo. Tác giả đưa dẫn chứng các cuộc cách mạng trên thế giới để đi đến khẳng định rằng, cách mạng Việt Nam phải giành thắng lợi triệt để: “Muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có Đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh; phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”. Cách mạng phải độc lập và sáng tạo, tự lực, tự cường, không ỷ lại ngồi chờ; phải tích cực tấn công, chủ động tiến công, quyết giành thắng lợi. Biết tranh thủ sự giúp đỡ của cách mạng thế giới, nhưng cũng phải có đóng góp cho cách mạng thế giới, cùng cách mạng thế giới đạp đổ chủ nghĩa đế quốc tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Những tư tưởng cơ bản trên đã nâng giá trị của tác phẩm lên tầm cao.

2. Nội dung của tác phẩm 

a) Tư cách một người cách mệnh 

Tư cách một người cách mệnh được đặt lên vị trí hàng đầu của tác phẩm. Nội dung gồm 3 phần:

– Tự mình phải cần kiệm – liêm chính – vị công vong tư. Giữ chủ nghĩa cho vững…

– Đối người phải: với từng người thì khoan thứ. Trực mà không táo bạo. Hay xem xét người.

– Làm việc phải : Xem xét hoàn cảnh kỹ càng. Quyết đoán, dũng cảm, phục tùng đoàn thể.

Tác phẩm đã nêu lên những vấn đề cơ bản của đạo đức mới – đạo đức của người cộng sản. Đó là phải có đức và tài, trí và dũng, tư cách và năng lực theo kiểu người cộng sản. Đó là con người một lòng một dạ. Đó là con người có tổ chức, gắn bó với tổ chức, với đoàn thể. Đồng thời biết phát huy năng lực cá nhân. “Tư cách người cách mệnh” khác hẳn với chủ nghĩa anh hùng cá nhân, đặt mình lên trên tổ chức, đề cao cái tôi đạo đức của người đảng viên cộng sản được đề cập trong tác phẩm phù hợp với truyền thống đạo đức của dân tộc ta, đáp ứng yêu cầu của cách mạng và cũng rất đúng với nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin về đạo đức của người cách mạng. “Tư cách người cách mệnh” đã dễ dàng chinh phục lòng người, tiếp thêm sức mạnh và định hướng phấn đấu cho tất cả những ai yêu nước, thương nòi, muốn giải phóng quê hương xứ sở ra khỏi mọi áp bức bóc lột, xây dựng đất nước theo hướng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.

“Tư cách người cách mệnh” có giá trị khoa học và giáo dục lớn đặt cơ sở cho đạo đức học ở Việt Nam.

b) Con đường cách mệnh 

Tác giả đưa ra khái niệm “cách mệnh”: “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”.

Từ đó, tác giả xác định các loại cách mạng:

– Tư bản cách mệnh như cách mệnh Pháp năm 1789, Mỹ cách mệnh độc lập năm 1776; Nhật cách mệnh năm 1864.

– Dân tộc cách mệnh như: Italia đuổi cường quyền Áo năm 1859; Tàu đuổi Mãn Thanh 1911.

– Giai cấp cách mệnh như công nông Nga đuổi tư bản và giành lấy chính quyền 1917.

Tác giả giải thích nguyên nhân sinh ra các loại cách mệnh ấy. Từ phân tích mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn giai cấp, tác giả xác định tính chất cách mệnh. Dân tộc cách mệnh là dân tộc nô lệ đồng tâm hiệp lực đánh đuổi tụi áp bức mình đi để giành độc lập tự do. Giai cấp cách mệnh là giai cấp bị áp bức cách mệnh để đạp đổ giai cấp đi áp bức mình.

Về dân tộc cách mệnh và giai cấp cách mệnh, tác giả đều lấy ví dụ Việt Nam. Khi kết luận, tác giả cũng nói đến sự cần thiết phải tiến hành dân tộc cách mệnh và giai cấp cách mệnh ở Việt Nam. Cách mệnh Việt Nam phải tiến hành giải phóng dân tộc để tiến lên giải phóng giai cấp. Việt Nam phải làm cả dân tộc cách mệnh và giai cấp cách mệnh.

Tác giả phân tích kỹ Cách mạng tư sản Pháp 1789, Cách mạng tư sản Mỹ 1776, Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 và chỉ ra kinh nghiệm lịch sử của các cuộc cách mạng này: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức. Cách mệnh An Nam nên nhớ những điều ấy”. “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật”. Từ lịch sử và thực tiễn, tác giả đã định hướng cho các mạng Việt Nam là đi theo con đường Cách mạng tháng Mười Nga “theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”.

Tác giả cũng xác định rõ bạn và thù của cách mệnh Việt Nam. Đế quốc Pháp đã chà đạp lên nền độc lập của dân tộc, đặt ách áp bức bóc lột đối với nhân dân ta. Do đó, đế quốc Pháp vừa là kẻ thù của dân tộc và cũng là kẻ thù của giai cấp. Tác giả phân biệt rạch ròi giữa đế quốc Pháp và nhân dân Pháp trước hết là công nông Pháp. Từ đó, nêu mối quan hệ mật thiết giữa cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam với giai cấp cách mệnh Pháp nói riêng và mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản chính quốc nói chung.

Còn giai cấp phong kiến địa chủ, tác giả có phân loại: điền chủ nhỏ là bầu bạn cách mệnh công nông, những đại địa chủ thì chớ có cho họ vào hội của dân cày. Việc xác định đúng, chính xác kẻ thù cơ bản là chủ nghĩa đế quốc Pháp có ý nghĩa to lớn trong việc xây dựng chiến lược và sách lược cách mạng, trong việc tập hợp lực lượng, phân hóa, cô lập cao độ kẻ thù, nhằm tăng sức mạnh cho cách mạng. Đây là tầm tư duy của thiên tài rất biện chứng, cách mạng và khoa học vượt lên tầm tư duy đương thời của nhiều người cho rằng, đã địa chủ tất nhiên sẽ là kẻ thù của cách mạng, là đối tượng đứng về phía đế quốc.

c)Về lực lượng cách mạng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cũng chỉ rõ: Công nông là người chủ cách mệnh “là vì công nông bị áp bức nặng hơn, là vì công nông là đông nhất cho nên sức mạnh hơn hết, là vì công nông là tay không chân rồi, nếu thua thì chỉ mất một cái kiếp khổ, nếu được thì được cả thế giới, cho nên họ gan góc”. “Học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ cũng bị tư bản áp bức, song không cực khổ bằng công nông; 3 hạng ấy chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông thôi”.

Người đã căn cứ vào điều kiện cụ thể của đất nước, thái độ của các giai cấp trong xã hội, đối với cách mạng để vận dụng nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin cho phù hợp, không giáo điều, máy móc. Vì vậy, lực lượng cách mạng vừa đông, vừa mạnh, nhưng vẫn đảm bảo vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân.

d) Về đoàn kết quốc tế, Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ rằng, cách mạng Việt Nam phải đoàn kết với các lực lượng cách mạng thế giới: “Chúng ta cách mệnh thì cũng phải liên lạc tất cả những đảng cách mệnh trong thế giới để chống lại tư bản và đế quốc chủ nghĩa (như Đệ tam quốc tế)”. Người đưa ra những dẫn chứng cụ thể, đầy sức thuyết phục để xác định lực lượng đồng minh quốc tế của cách mạng Việt Nam “An Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế”. Cách mạng Việt Nam cũng phải liên minh với cách mệnh Pháp và có thể thành công trước cách mệnh Pháp. “An Nam dân tộc cách mệnh thành công thì tư bản Pháp yếu, tư bản Pháp yếu thì công nông Pháp làm giai cấp cách mệnh cũng dễ”.

Hồ Chí Minh khẳng định: Cách mạng Việt Nam là bộ phận của cách mạng thế giới. Ai làm cách mệnh trên thế giới cũng đều là đồng chí của nhân dân Việt Nam. Đã là đồng chí thì sung sướng cực khổ phải có nhau.

Như vậy, về đoàn kết quốc tế, Hồ Chí Minh nêu 3 vấn đề lớn:

– Cách mạng Việt Nam phải đứng hẳn về phía phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc thế giới để đạp đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa trên thế giới.

– Xác định rõ quan hệ lợi ích dân tộc và cách mạng thế giới, giữa quyền lợi và trách nhiệm, sự thống nhất của quan hệ này.

– Xác định rõ quan hệ cách mạng thuộc địa và cách mạng chính quốc là tác động qua lại. Cách mạng thuộc địa không thụ động ngồi chờ cách mạng chính quốc.

Với những luận điểm trên, tác phẩm đã đặt nền tảng đúng đắn cho đường lối quốc tế của đảng, và đặt cơ sở cho sự giúp đỡ của quốc tế trong thời kỳ thành lập Đảng.

đ)Về phương pháp cách mạng, Nguyễn Ái Quốc khẳng định rằng, phương pháp cách mạng giữ vai trò hết sức quan trọng: “Sửa cái xã hội cũ đã mấy ngàn năm làm xã hội mới, ấy là rất khó. Nhưng biết cách làm, biết đồng tâm hiệp lực mà làm thì chắc làm được”. Đó là:

– Phải làm cho dân giác ngộ.

– Phải giảng giải lý luận và chủ nghĩa cho dân hiểu.

– Phải hiểu phong trào thế giới, phải bày sách lược cho dân.

– Phải đoàn kết toàn dân “Cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc của một hai người”… “Đàn bà, trẻ con cũng giúp làm việc cách mệnh được nhiều. Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại”.

– Phải biết tổ chức dân chúng lại, tác giả nhấn mạnh vai trò của tổ chức: cách mạng phải có tổ chức rất vững bền thì mới thành công. Tác giả đưa ra cách tổ chức quần chúng như công hội, dân cày, hợp tác xã, thanh niên, phụ nữ, quốc tế cứu tế đỏ…

– Phải giành chính quyền bằng bạo lực cách mạng của quần chúng, phải biết chọn thời cơ.

Tóm lại, tác phẩm đã nêu lên những quan điểm cơ bản về phương pháp cách mạng Việt Nam trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tổng kết kinh nghiệm cách mạng các nước. Những quan điểm đó là cơ sở cho Đảng xây dựng phương pháp cách mạng của mình.

Về Đảng Cộng sản, Đảng là điều kiện đầu tiên để đảm bảo cho sự thắng lợi của cách mệnh. “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”.

Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải theo chủ nghĩa Mác – Lênin. “Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”.

Nguyễn Ái Quốc luôn có ý thức xây dựng lập trường chính trị, bản chất giai cấp công nhân, tính cách mạng triệt để của Đảng. Những tư tưởng về con đường cách mạng Việt Nam của Người là những phác thảo cho đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam. Người phân tích sâu sắc lịch sử cách mạng Nga để quán triệt bài học kinh nghiệm về xây dựng Đảng vô sản kiểu mới ở Việt Nam.

Vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên được Người đề cập gần như xuyên suốt tác phẩm. Toàn bộ tác phẩm đã thể hiện nội dung đó.

Bằng tư tưởng xây dựng Đảng Cộng sản ở Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã đáp ứng yêu cầu bức bách của lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX, chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

III- Ý nghĩa của tác phẩm 

1. Tác phẩm Đường cách mệnh có vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị về tư tưởng, chính trị, tổ chức cho sự thành lập chính Đảng cách mạng ở Việt Nam.

– Về tư tưởng: Tác phẩm có ý nghĩa giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc cho cán bộ và đông đảo quần chúng nhân dân, nhằm xây dựng sự thống nhất trong nhận thức tư tưởng, chuẩn bị thành lập Đảng.

Tác phẩm khắc phục tư tưởng sai lầm, ám sát cá nhân, chủ nghĩa cải lương, chủ nghĩa quốc gia; xác lập hệ tư tưởng mới – tư tưởng của giai cấp công nhân.

– Về chính trị: Tác phẩm xây dựng lập trường, quan điểm của giai cấp công nhận cho cán bộ và quần chúng công nông. Vạch ra được đường hướng cơ bản của cách mạng Việt Nam, làm cơ sở cho việc xây dựng Cương lĩnh chính trị của Đảng. 

Tác phẩm Đường cách mệnh ra đời đã chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối của cách mạng Việt Nam; thúc đẩy phong trào yêu nước, phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ .

– Về tổ chức: Đào tạo ra một lớp cán bộ cách mạng kiểu mới chuẩn bị cho việc thành lập Đảng. Tác phẩm cũng đưa ra hệ thống tổ chức của Đảng và các tổ chức quần chúng như công hội, nông hội, thanh niên, phụ nữ… để Đảng tập hợp quần chúng, chuẩn bị về mặt tổ chức cho sự ra đời của Đảng.

2. Tác phẩm Đường cách mệnh có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Lý luận của tác phẩm không sách vở mà vạch ra lý luận cách mạng Việt Nam thiết thực, tri thức lý luận cách mạng Việt Nam đã được hiện diện trong tác phẩm rất mácxít nhưng cũng rất Việt Nam, dễ hiểu, dễ tiếp thu, kết hợp rất tài tình phương pháp lịch sử và lôgích. Dùng lịch sử để nói lý luận, từ Cách mạng Pháp đến Cách mạng Nga và kết luận ở Cách mạng Nga, rồi lấy lý luận soi sáng thực tiễn Việt Nam, và kết luận: Chỉ có cách mạng vô sản mới giải phóng được dân tộc.

Tác phẩm cũng là một hình mẫu của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam của tác giả. Ví dụ: Lênin cho rằng, cách mạng thuộc địa chỉ có thể giành được thắng lợi khi có sự giúp đỡ của cách mạng chính quốc, khi cách mạng vô sản chính quốc đã giành thắng lợi, nhưng tác phẩm phát hiện thêm rằng, cách mạng thuộc địa có thể thành công trước cách mạng vô sản ở chính quốc và tác động tích cực đối với cách mạng chính quốc.

Chủ nghĩa Mác – Lê nin bàn nhiều về vấn đề giải phóng dân tộc. Tác phẩm chỉ rõ dân tộc và giai cấp kết hợp với nhau, giải phóng dân tộc bằng con đường cách mạng vô sản…

Tác phẩm Đường cách mệnh đã thể hiện thiên tài lý luận cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, tác phẩm có giá trị thực tiễn lớn lao, tạo ra sự chuyển biến căn bản, nhanh chóng trong nhận thức và hành động cách mạng của cán bộ và đông đảo quần chúng, chuẩn bị tiền đề cho việc thành lập Đảng.

Như vậy, trước khi Đảng ra đời, ở Việt Nam đã có sự thống nhất về tư tưởng chính trị và tổ chức. Đó là điều kiện trực tiếp giữ vững sự thống nhất trong Đảng ngay từ khi mới thành lập cũng như sau này. Tác phẩm Đường cách mệnh là một kho tàng tri thức lý luận cách mạng Việt Nam, là sự thể hiện tư tưởng cơ bản của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Giá trị của tác phẩm càng được khẳng định khi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam tuyên bố rằng, Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động.

Theo Giới thiệu tác phẩm của C.Mác và Ph.Ăngnghen, V.I. Lênin, Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước, Nxb CTQG, H, 1999.

(Nguồn : Website Đảng Cộng Sản Việt Nam)

sites.google.com

Bác Hồ bốn lần học võ

TP – Bác Hồ luôn chú ý việc phát triển thanh niên nói riêng và con người Việt Nam nói chung một cách toàn diện. Bản thân Bác rất gương mẫu rèn luyện, trong đó có rèn luyện sức khỏe. Sinh thời, Bác bốn lần học võ…

Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp ở Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng anh chị em trong cơ quan tập võ dân tộc trong giờ nghỉ – Ảnh: TTXVN

Năm 1913, tại London

Anh quốc là quê hương của phong trào hướng đạo thế giới (phong trào do Huân tước Baden Powell sáng lập năm 1907).

Trong thời gian ngắn ở London, nhận thấy tổ chức này có thể có ích về sau để tập hợp thanh thiếu niên vào tổ chức giáo dục, rèn luyện nhiều mặt, khơi dậy lòng yêu nước, yêu thiên nhiên, gắn bó trong cộng đồng bình đẳng…, Bác Hồ đã tham gia, là hướng đạo sinh đầu tiên của Việt Nam.

Ngày 31/5/1946, Người gửi thư nhận lời làm Chủ tịch danh dự của Hội Hướng đạo Việt Nam.

Cựu Bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục đầu tiên của nước ta Vũ Đình Hòe trong hồi ký có kể năm 1948, một lần sau cuộc họp Hội đồng Chính phủ có đốt lửa trại. Trại trưởng Hoàng Đạo Thúy giới thiệu Chủ tịch danh dự khai lửa. Mọi người hết sức ngạc nhiên khi thấy Bác bước ra vừa đi vừa múa hát bài “Hướng đạo ca”: Anh là anh hùng xưa, nhớ hồi là hồi niên thiếu, dấy binh lấy lau làm cờ….

Ông Vũ Kỳ (1921 – 2005), thư ký riêng của Bác, có lần nói vui:  “Bác Hồ có võ đấy! Võ Tây thì học từ năm 1913 ở bên Anh, võ Tàu năm 1925, còn võ ta thì…”.

Năm 1925, ở Quảng Châu

Sau nhiều lần đề nghị được về gần Tổ quốc để hoạt động gắn với phong trào trong nước, ngày 25/9/1924, Bác nhận được quyết định của Quốc tế Cộng sản cho phép rời Mátxcơva về Quảng Châu – Trung Quốc.

Trên danh nghĩa công khai Người lấy tên Lý Thụỵ dân địa phương làm phiên dịch cho Trưởng phái bộ Liên Xô M.M. Bôrôđin, cố vấn chính trị bên cạnh Tổng thống Trung Sơn và là phóng viên của hãng Rosta Cục Thông tin Liên Xô. Trong tổ chức mang bí danh Đồng chí Vương.

Khoảng mươi năm trước đây có một bài báo Tết viết về Bác Hồ học võ. Cố Thiếu tướng Cục trưởng Cục Cảnh Vệ Bộ Công an Hoàng Hữu Kháng nhắc lời Bác: “Ngày trước ở nước ngoài Bác cũng tập võ để luyện sức khỏe…”.

Được hỏi, ông Vũ Kỳ cho biết, đây là thời gian thuận lợi nhất Bác đã tranh thủ nghiên cứu lịch sử, văn hóa Trung Quốc,học thêm tiếng Hoa, và học võ thuật rất bài bản. Điều này giải thích lý do sau này Bác tập võ rất nhanh và mọi động tác tiến thủ đều rất điêu luyện.

Đó là do Người hết sức tận dụng hoàn cảnh thuận lợi trong Trường Quân chính Hoàng Phố có các đồng chí sinh hoạt cùng chi bộ trong Đảng Pháp ở Paris từ năm 1921 như Chu Ân Lai, Bành Bái, rồi Trương Thái Lôi đi cùng chuyến từ Mátxcơva về đây với Bác, và các chuyên gia Liên Xô giúp đỡ, nhận người của ta vào học từ lớp đầu như Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn…Chính số anh em này đi học về dạy lại cho Bác.

Năm 1945, trên nóc Bắc Bộ Phủ

Tình hình tại Hà Nội từ sau ngày 9/9/1945 càng hết sức căng thẳng vì có thêm đội quân ô hợp của Trung Hoa Quốc dân đảng sang nước ta để giải giáp quân đội Nhật hoàng.

Chúng còn mưu đồ “Hoa quân nhập Việt cầm Hồ”, đem theo lũ Việt gian trong hai đảng Việt quốc, Việt cách nhằm lật đổ Chính phủ Hồ Chí Minh. Những vụ bắt cóc, ám sát cán bộ xảy ra ngày ngày.

Tòa khâm sứ cũ, 12 Ngô Quyền là điểm ngắm số một của đủ loại gián điệp các nước. Việc bảo vệ tuyệt đối an toàn cho lãnh tụ được Trung ương đặc biệt chú ý…

Riêng Bác, đã lâu chỉ quen tập thể dục thể thao, để “quân tử phòng thân”, Người đề nghị anh Kháng, tức Lý, xem có bài quyền nào dễ hướng dẫn cho Bác cùng tập. Anh Lý lĩnh ý, Bác cháu sẽ tập bài Bát bộ liên hoa quyền.

Anh nghĩ tuổi Bác đã 55, tập nhanh cũng phải mất một tuần. Nhưng không ngờ, Bác cháu trên sân thượng, sáng từ 5 giờ, tối lúc trăng lên, chỉ 3 ngày Bác đã lắp ráp, lướt những đường quyền mềm mại, nhanh nhẹn, rồi lại đột nhiên trụ vững các thế: Thái Sơn áp đỉnh, Độc cước phi thân…

Những năm trên chiến khu Việt Bắc, sáng, tối, sau bài tập thể dục, Bác vẫn luyện các bài quyền, và động viên, hướng dẫn cả các vị bộ, thứ trưởng cùng tập. Khó có ai không tập theo lời Bác.

Năm 1955, trong Phủ Chủ tịch

Ở Hà Nội điều kiện đã tốt hơn nhưng tuổi Bác đã 65. Trung ương đề nghị Bác, mời một chuyên gia Trung Quốc sang hướng dẫn môn tập hiện đại, phù hợp.

Vậy là tối tối, 8 giờ, trong Phủ Chủ tịch, trên bãi cỏ khuất sau vườn cây, Giáo sư Cố Lưu Hinh từ ngoài phố Phan Đình Phùng đi vào đã thấy có mặt Bác. Người trong bộ đồ lụa nâu đứng chắp tay chào sư phụ đúng luật nhà võ.

Bác học rất nhanh, chỉ nhìn thầy hướng dẫn một lượt là tập theo chuẩn xác. Cố giáo sư hết lời khen ngợi: Hiếm thấy!, Hiếm thấy!…

Hôm chia tay sư phụ, Bác mời cơm cảm tạ. Trước khi vào bữa, Bác chủ động đề nghị được “biểu diễn thu hoạch” đợt học để sư phụ phê bình. Giáo sư cúi đầu, chắp tay: “không dám!”, “không dám”, chỉ xin Chủ tịch, nếu được, cho xem bài Thái cực quyền do chính Người tự biên cho phù hợp với mình.

Bác đi bài quyền nhẹ nhàng, uyển chuyển hết sức điêu luyện. Khi vào thế kết thúc thu thân vái chào, vị giáo sư vội đứng lên chắp tay: Hấn hảo! Chuẩy hảo! Chinh phục Chủ xị! (Rất tốt! Cực tốt! Kính phục Chủ tịch!)…

Ông Vũ Kỳ cho biết, khi làm bất cứ việc gì, dù nhỏ hay lớn, Bác đều có kế hoạch và chủ trương 1- biện pháp 10. Như tập võ, Bác luôn nhớ các động tác rồi vẽ ra, dán lên chỗ dễ thấy, càng thuộc nhanh và nhớ lâu.

Ông còn “tiết lộ”: chỉ các vị công phụ tập luyện các môn pháp ở trình độ cao mới biết các thế võ điêu luyện thể hiện cái thần của từng tư thế chính là sự nhuần nhuyễn của pháp thiền động trong bất kỳ trường phái dưỡng sinh hay võ thuật nào mà Bác Hồ đã đạt tới trình độ đó do Người kiên trì rèn tập lâu năm phối hợp giữa luyện Khí – Tâm – Hình – Thở theo thuyết lý Thiên Địa Nhân nhất thể của phương Đông.

Vì vậy, Bác mới được tổ chức Khoa học giáo dục và Văn hóa thế giới UNESCO tôn vinh là Nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại – một vĩ nhân uyên thâm văn hóa Đông Tây kim cổ.

Trịnh Tố Long

tienphong.vn

Bình dị những nơi ở

Sau chặng đường dài, hơn ba mươi nǎm, dấu chân Người in trên 25 quốc gia của thế giới đầy biến động trong những nǎm đầu của thế kỷ 20. Ngày 28-1-1941, Bác Hồ dừng chân bên cột mốc 108, lòng bồi hồi xúc động, nhìn về phía trước, nơi đó là Tổ quốc, là đất mẹ. Từ giờ phút lịch sử dó, Người sẽ cùng cả dân tộc Việt Nam hướng về tương lai, sắp xếp lại trật tự xã hội với một ý chí mãnh liệt: Dân tộc Việt Nam phải được hồi sinh, phải trở về chính mình như ông cha đã từng gìn giữ trong suốt 4000 nǎm lịch sử.

Thật là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, nơi Bác chọn dừng chân đầu tiên khi trở về Tổ quốc là nơi Đầu nguồn tiếng Tày là Cốc Bó, từ đây như dòng nước mát tuôn chảy mãi về xuôi, đem về sự sống trường tồn.

Những ngày đầu vất vả gian truân với cảnh tĩnh mịch ẩm ướt của núi rừng, Bác vận động anh em, dọn dẹp sửa sang nơi ở cho thoáng mát. Nơi hoang sơ của núi rừng mà Bác như thấy một giang sơn hùng vĩ nên thơ.

“Đại bản doanh” đầu tiên được bố trí thật giản dị, phía trong hang là chỗ ngủ kê mấy thanh gỗ ghép lại, đêm nằm vừa đau lưng, vừa lạnh, phải đốt lửa để bớt đi giá lạnh và ẩm ướt. Những ngày đầu Bác làm việc trong hang nhờ ánh sáng yếu ớt chiếu từ khoang trống nhỏ trên đỉnh hang. Đêm đêm để xua đi nỗi vất vả, thiếu thốn, Bác thường kể chuyện cho anh em nghe về lịch sử các thời kỳ ông cha dựng nước và giữ nước, cũng nếm mật nằm gai mưu cầu nghiệp lớn, Bác kể chuyện thế giới, chuyện chiến tranh, chuyện cổ tích và cả chuyện tiếu lâm, để trong hang có tiếng cười vui. Ǎn uống kham khổ, rau rừng nấu cháo ngô, bắp chuối chấm với muối trắng. Những bữa “cải thiện” là khi bắt được con cá, sǎn được con thú về kho muối mặn ǎn dần.

Khi phía ngoài hang được dọn dẹp sạch sẽ gọn gàng, ban ngày Bác thường ra phiến đá phía ngoài làm việc, sau giờ làm việc Bác ra ngồi câu cá cạnh gốc cây si bên bờ suối. Để bảo đảm tuyệt đối bí mật chỗ ở, Bác cho làm thêm một cơ sở khác cách đó không xa, nơi có mái núi đá. Bác thường nói vui là một vườn Bách thú, vì ở đây có nhiều rắn rết, bọ rừng. Rồi sau đó Bác còn cho làm tiếp mấy lán nhỏ nữa ở Khuổi Nậm, để đề phòng khi có động. Dẫu ở hang, ở mái đá hay ở lán, Bác cũng luôn sắp xếp nơi ở gọn gàng, sạch sẽ và bí mật. Khi rời đi không để lại dấu vết. Bác tự bố trí nơi nghỉ, nơi làm việc, Bác nhặt từng phiến đá nhỏ xếp thành từng bậc cạnh chỗ nằm, trên các bậc đó Bác để sách, tài liệu, giấy viết, bút mực, máy chữ… mỗi loại quy định chỗ để riêng, ngǎn nắp, gọn gàng, khi cần với tay có thể lấy được, lúc đầu anh em ở với Bác chưa có thói quen gọn gàng nên khi có việc là lúng túng, lộn xộn. Bác luyện dần thành thói quen cho anh em.

Buổi sáng Bác thường dậy sớm hơn tập thể dục, trước cửa hang Bác chọn một nền phẳng nhỏ vừa chỗ đứng tập thể dục, dụng cụ tập đơn giản với hai hòn cuội trắng Bác thường bóp để luyện gân bàn tay (sau này khi đọc sách Bác cũng thường bóp hai hòn cuội ). Bác dùng hai hòn “tạ” to nhỏ bằng đá, thay đổi khi tập. Sau mấy phút tập cho ấm người, Bác tắm suối hoặc leo núi. Bác tập leo núi nhiều nên Bác có một sức chịu đựng dẻo dai, khi leo núi anh em trẻ cũng khó mà theo kịp Bác. Buổi sáng Bác vận động anh em tập thể dục để có sức khoẻ chống lại bệnh tật nơi rừng núi hang động ẩm ướt.

Trong bộ quần áo Chàm, quần xắn cao, Bác cùng anh em kiếm củi, hái rau rừng, tǎng gia trồng rau trồng hoa bên bờ suối. Cạnh hang có dòng suối nước chảy trong mát Bác cùng anh em tạo cảnh hòn non bộ, có đá tai bèo, có cây có nước, Bác lấy cây lau làm một chiếc cầu nhỏ, bên cầu có con thuyền gọt bằng thân gỗ trắng, đang cắm sào đứng đợi trông thật sinh động. Có dồng chí khéo tay lấy hòn đá gan gà đẽo con cò đặt cạnh hồ nước như đang mò tép, in bóng xuống mặt nước trông thật nên thơ. Một thế giới sinh vật cảnh nơi núi rừng hoang vu, thiếu thốn, tạo nên cảm giác thanh tao, mãn nguyện, như để quên đi cái đói cái rét của thực tại mà hướng về công việc cho tương lai, bình sinh của cuộc đời mới.

Trong hang có khối thạch nhũ cao quá đầu người Bác dùng dao đẽo, gọt, tạo dáng hình người rồi lấy mực nho vẽ mắt và miệng, ai cũng bảo trông giống ông Tây, Bác bảo đấy là tượng Các Mác. Bác hỏi anh em địa phương tên dòng suối, được biết là suối Giàng, còn ngọn núi cao có tên là núi Khỉ, vì ở đây khỉ rất nhiều, hay còn gọi là núi Đào vì có tích là Tiên Cô đã xuống đây.

Bác cười vui và nói:
– Xưa có tiên cô xuống, nay có tiên cậu, tiên ông đến thật là hay. Rồi Bác nói tiếp – Cụ Các Mác là người muốn tất cả loài người thành tiên, nay ta đặt tên cho núi là núi Các Mác. Cụ Lênin là người thực hiện chủ trương của Cụ Các Mác nên ta đổi tên suối Giàng thành suối Lênin. Từ đó hai địa danh đã đi vào lịch sử của dân tộc.

Từ hang Cốc Bò, mái đá Lũng Lãn hay dưới những mái lán dọc dòng Khuổi Nậm, từ khu Lam Sơn (Nguyên Bình) về Lũng Cát hay chuyển về hang Pác Tẻng, nơi đâu Bác cũng tạo nên một không khí bình thản, tự tại, một cuộc sống đầm ấm mang nặng tình đồng chí để vượt qua thử thách, gian nan thiếu thốn của buổi đầu dựng nước. Từ nǎm tháng đời thường toát lên một sức mạnh tiềm ẩn mãnh liệt, nơi đây Bác đã triệu tập Hội nghị Trung ương Tám, thành lập Mặt trận Việt minh, ra báo “Việt Nam Độc lập”, huấn luyện cán bộ toả ra trǎm ngả đường của đất nước để chỉ đạo cách mạng… Bác dịch sách, viết báo, làm thơ, ngày cũng như đêm, mưa cũng như nắng, lúc ở hang động hay dưới tán lá cây rừng, ánh sáng bắt nguồn từ Bác – từ Pắc Bó nơi thánh địa của cách mạng, nơi xuất phát cuộc hành trình cách mạng của cả dân tộc trên đường Thiên lý hướng về tương lai.

Cách mạng phát triển nhanh chóng, thời cơ đã đến, Bác chuyển về lán Nà Lừa, lấy Tân Trào triệu tập Quốc dân đại hội, phát lệnh Tổng khởi nghĩa cướp chính quyền trong cả nước. Trên đường về Hà Nội, Bác ghé làng Gạ rồi về 48 Hàng Ngang viết bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Cách mạng thành công nhưng khó khán trǎm bề, thù trong giặc ngoài, thế nước “nghìn cân treo sợi tóc”, Bác phải chuyển chỗ ở nhiều nơi để tránh nguy hiểm, luôn luôn cải trang, lúc đi sớm khi về tối lúc ở số 8 Lê Thái Tổ, khi ở Bắc Bộ phủ, lúc ngủ ở Quần Ngựa khi về Bưởi… Nhiều nơi đã để lại những kỷ niệm không quên về Bác, trong buổi đầu cách mạng gian nan, vất vả, hiểm nguy. Kháng chiến bùng nổ, Bác lại lên đường mở cuộc trường chinh. Bác về Vạn Phúc viết lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, về Chùa Trầm chúc tết Quý Hợi 1947, vai đeo balô lên núi rừng Việt Bắc đi kháng chiến, dưới mái lán lá rừng vách nứa bên Làng Sảo, Bác triệu tập hội nghị Trung ương chỉ đạo đường lối trường kỳ kháng chiến, rồi đến Khuổi Tấu viết “Việt Bắc anh dung” về trận thắng Pháp đầu tiên trong cuộc kháng chiến; có phút thư giãn về huyện lỵ Sơn Dương “Đi thuyền sông Đáy” làm thơ; hay về -hang Bòng chỉ đạo chiến dịch Biên giới; trở lại Kim Bình dự Đại hội Đảng lần thứ 2; đến Khuôn Điền cùng Trung ương chỉ đạo chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử – trận quyết chiến cuối cùng chấm dứt chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới. Hơn 3000 ngày hành quân đi kháng chiến, vượt qua bao gian khổ khó khǎn, lãnh đạo toàn Đảng toàn dân làm nên trận thắng oanh liệt ghi mãi nghìn nǎm và chứng minh cho thế giới một chân lý: một dân tộc dù nhỏ bé nếu biết đoàn kết có thể chiến thắng một đế quốc to, mạnh hơn nhiều lần về vũ khí.

Cuộc sống đời thường đạm bạc nơi chiến khu Việt Bắc, theo Bác suốt ngàn ngày kháng chiến là mái lán đơn sơ của cây rừng Việt Nam. Đồng chí Lê Vǎn Nhương (Bác đặt tên cho là Cần) tham gia trong đội dân công hoả tuyến Nghệ An, khéo tay, biết nghề mộc, được cùng một đồng chí nữa chuyên làm lán cho Bác ở, kể lại rằng: Bác yêu cầu tìm chỗ ở cho Bác, nơi yên tĩnh, bí mật, nơi có bóng cây thoáng mát và có đất để tǎng gia, gần nguồn nước, phía sau có núi để dễ làm hầm trú ẩn, thuận lợi cho liên lạc dễ dàng di chuyển khi có động. Làm lán cho Bác không to quá, diện tích bằng khoảng hai chiếc chiếu, đủ cho Bác kê chiếc bàn nhỏ làm việc và nơi nghỉ. Lán cao vừa tầm Bác, không cao quá 2m. Làm không cầu kỳ mà giản di, vật liệu sẵn có xung quanh, 3 phía có vách nứa, lán đặt trên 4 cọc tre, lối lên lán làm một cái thang bằng tre khoảng 3 bậc, mặt lán không cao quá, cách mặt đất khoảng nửa mét, tuỳ theo địa hình. Phên vách, sàn làm bằng tre, luồng hoặc nứa. Đồ dùng bày biện phía trong lán lại càng đơn giản hơn. Bố trí một bàn, một ghế bằng gỗ tạp đủ để cái máy chữ nhỏ, một ít sách, tài liệu cần thiết, những thứ đồ dùng vặt như bút giấy, hai hòn sỏi bóp luyện tay… để cạnh. Một hòm nhỏ đựng tư trang để phía dưới. Chân giường đóng thẳng xuống đất cho chắc chắn, trên vách treo cái quạt bằng lá cây rừng. Cái tẩu thuốc, Bác thường nói vui đấy là Têlêpôn của Bác, khi cần Bác gõ vào cột tre theo tín hiệu quy định là người giúp việc có mặt. Thời gian rỗi Bác cùng anh em trong cơ quan chơi bóng chuyền, tập thể thao, tǎng gia sản xuất, trồng bí trồng bầu, nuôi gà, nuôi bò. Trong thời gian này Bác nảy sinh ra tư tưởng quan lý kinh tế theo phương thức khoán sản phẩm. Bác bảo các đồng chí, giao bò cho dân địa phương nuôi, khi bò phát triển thì một phần để lại cho nhân dân còn một phần cho tập thể. Trồng được nhiều bí, cả một bãi rộng dày đặc quả, khi thu hoạch anh em kiểm số lượng quả vì nhiều nên bị lẫn liên tục. Bác bày cho cách, đếm xong quả nào cắm một que tre khi cắm hết chỉ cần gom số que là ra số quả tǎng gia được và giao cho người quản lý.

Kháng chiến thắng lợi, Bác về Thủ đô Hà Nội, lúc đầu Trung ương có ý định mời Bác về ở trong ngôi nhà Toàn quyền cũ, vì ở đấy có đủ tiện nghi sinh hoạt, bảo đảm tốt cho sức khoẻ của Bác, tiện việc tiếp khách và mọi công việc của một vị lãnh tụ, nhưng Bác không chịu. Bác bảo, Bác chứ không phải viên Toàn quyền, không phải vua, Chủ tịch một nước còn nghèo, chưa có quyền hưởng thụ quá mức trung bình của người dân, nên Bác quyết định chọn cho mình ngôi nhà của người thợ điện ngày trước, một ngôi nhà bình dị như bao ngôi nhà khác, mái ngói, nền đất, nơi mà mùa nóng thì nhiệt độ cao hơn hẳn xung quanh, ngày thiếu ánh sáng phải thắp đèn. Chỉ có điều tiện duy nhất là gần với anh em phục vụ trong không khí ấm cúng gia đình.

Nǎm 1958, Trung ương quyết định xây nhà cho Bác, nhưng Bác chỉ nhất trí khi làm theo ý Bác. Bác cho gọi kiến trúc sư Nguyễn Vǎn Ninh để trao đổi việc làm nhà. Bác dặn kiến trúc sư làm theo kiểu nhà sàn của đồng bào Việt Bắc, nơi Bác đã từng sống trong sự đùm bọc, bảo vệ của đồng bào các dân tộc trong những ngày đầu kháng chiến. Ngôi nhà sàn dưới bóng cây cạnh hồ nước, xung quanh có vườn hoa cây cảnh vừa đẹp lại vừa mát là môi trường tốt cho sức khoẻ, lại thuận lợi cho công việc, vừa không tốn nhiều tiền của nhân dân. Bác dặn gỗ dùng làm nhà cho Bác, chỉ dùng loại gỗ như đồng bào thường dùng. Tầng dưới bố trí một chiếc bàn lớn và mười một chiếc ghế (số ghế đủ cho các đồng chí trong Bộ Chính trị lúc bấy giờ) xung quanh nhà xây một bờ tường thấp, trên lát gỗ làm ghế cho các cháu thiếu nhi ngồi khi các cháu vào với Bác. Xung quanh nhà làm một dãy hành lang vừa phải để khi Bác ngồi đọc sách có ai qua lại không bị ảnh hưởng, vừa nói Bác vừa bê chiếc ghế mây ra, Bác ngồi giơ tay làm cữ, áng chừng độ rộng của hành lang cho đồng chí kiến trúc sư biết. Bác dặn đi dặn lại là phải hết sức tiết kiệm. Khi Bác đi thǎm một số nước về thì nhà sàn đã làm xong Bác lấy tiền riêng của mình tổ chức bữa liên hoan ngọt Bác gọi là “tiệc liên hoan khánh thành công trình”. Bác mời đồng chí Ninh và những anh em công nhân tham gia làm nhà sàn cho Bác, đến dự liên hoan. Buổi liên hoan vui vẻ, Bác đi đến chỗ đồng chí Ninh và khen công trình làm nhanh, tốt, rồi ân cần phê bình nhẹ. Bác nói chân tình, nước ta chưa giàu, dân ta còn chưa có đủ nhà ở cần phải tiết kiệm. Khi chụp ảnh lưu niệm, Bác vẫy tay gọi đồng chí Ninh:

– Ông “Kiến…” đến đứng gần đây.

Tất cả cười vui vẻ, Bác gọi “ông Kiến” bớt đi hai chữ “trúc sư” vừa vui lại vừa nhắc nhở kiến trúc sư phải tiết kiệm, mà nghĩa đen “kiến” là con vật hay leo, như đồng chí Ninh đã leo thang trong việc làm nhà sàn cho Bác, không làm đúng như ý Bác là phải tiết kiệm, mà leo thang hơi quá.
Bác ở nhà sàn với thời gian dài nhất trong quãng đời còn lại của Bác. Trong nhà sàn bố trí đơn giản, chỉ có những đồ dùng rất gần gũi với Bác. Một chiếc giường đơn trải Chiếu cói, cái tủ nhỏ, bộ bàn ghế, trên bàn để đèn, lọ hoa, cái máy thu thanh, cái quạt nan, mấy quyển sách cần thiết hàng ngày: Chiếc bàn nhỏ và chiếc ghế mây ở cuối hành lang là nơi Bác ngồi làm việc những buổi chiều hè. Bác thường ngồi đọc báo ở đây, dưới tán lá cây vú sữa rì rào trước gió như tiếng nói của đồng bào miền Nam bên Bác. Những vật bình thường đã ở bên Bác đến suốt cuộc đời và sẽ ở mãi với nhà sàn cùng non sông đất nước như một huyền thoại về một con người.

Hàng nǎm đến ngày sinh nhật Bác, nhiều đoàn thể cơ quan, khách trong nước, khách nước ngoài đến chúc mừng sinh nhật Bác. Khách đến Bác rất vui, nhưng sau Bác bảo sinh nhật Bác là ngày riêng cá nhân mà làm ảnh hưởng nhiều đến thời gian và tiền bạc của tập thể. Bác gặp đồng chí phụ trách công tác bảo vệ, nhờ tìm cho Bác một chỗ yên tĩnh, gần núi, làm một ngôi nhà nhỏ chỉ độ 2 đến 3 người làm việc, nhưng nhớ là không lấy đất trồng trọt của dân. Khi tìm được một địa điểm trên núi Ba Vì, Bác đồng ý. Thế là gần đến ngày sinh nhật, Bác “tạm lánh” lên làm việc trên đó. Bác dặn ở nhà báo với mọi người Bác đi công tác xa. Lên đó yên tĩnh thoáng mát gần với thiên nhiên. Ngày sinh nhật, các đồng chí bảo vệ phục vụ tìm một bó hoa rừng đến chúc mừng Bác, Bác cháu vui trong nỗi niềm gia đình đầm ấm, Bác đặt tên cho ngôi nhà là “ngôi nhà cần kiệm” vì ở đó Bác làm việc được nhiều hơn, phục vụ được nhiều hơn và tiết kiệm hơn cho dân, cho nước.

Cuộc đời Bác gắn liền với những nơi ở thật bình dị bình dị như con người Bác. Từ ngày dựng nước gian lao vất vả đến khi làm Chủ tịch nước Bác vẫn giữ lối sống bình dị, không đòi hỏi một sự ưu tiên, một vinh hoa cho riêng mình. Bác chọn nơi ở là nơi gần với người lao động. Bác đi thǎm các địa phương xa, phải ở lại qua đêm, các đồng chí địa phương thường bố trí cho Bác nơi ở tốt nhất, nhưng Bác không chịu. Bác tự chọn cho mình chỗ ngủ, có khi bố trí trên bãi biển, có lúc trên trận địa pháo. Bác là vậy tư tưởng tác phong của Bác là gần dân, luôn luôn giữ mức sống như của người dân bình thường, hoà cùng nhịp sống, nỗi niềm của người dân. Ngay khi chuẩn bị cho mình về cõi vĩnh hằng “đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin”, Bác cũng dặn hoà thân mình khắp ba miền Tổ quốc, nơi tưởng niệm trên ngọn đồi toả mát bóng cây. Gần dân là cuộc sống đời thường hàng ngày của Bác, là ý tưởng vĩnh cửu của tư tưởng Bác.

quangbinh.gov.vn