Thư viện

Bác Hồ luôn phê phán căn bệnh hình thức chủ nghĩa

Nhiều người vinh dự được sống và làm việc gần Bác Hồ đều có chung suy nghĩ – Bác không chấp nhận và luôn phê phán căn bệnh hình thức chủ nghĩa. Những gì là hình thức không cần thiết, bắt người khác phải theo, tổn hao công sức, tiền bạc của dân thì Bác không bao giờ chấp nhận.

Nhiều người vinh dự được sống và làm việc gần Bác Hồ đều có chung suy nghĩ – Bác không chấp nhận và luôn phê phán căn bệnh hình thức chủ nghĩa. Những gì là hình thức không cần thiết, bắt người khác phải theo, tổn hao công sức, tiền bạc của dân thì Bác không bao giờ chấp nhận.

Năm 1960, Bác Hồ về thăm quê. Các đồng chí ở Tỉnh ủy Nghệ an, dù đã được yêu cầu trước là đón tiếp Bác trang trọng, chu đáo, tiết kiệm, tránh phô trương, hình thức nhưng vẫn không chịu, với lý do vì đã lâu Bác mới có dịp về thăm quê. Tỉnh ủy chuẩn bị sẵn một chiếc ô tô con mui trần, còn lấy vải trắng kết xung quanh và lót phía trong xe. Bác xuống máy bay, mọi người mời Bác lên chiếc xe mui trần. Bác nhìn chiếc xe rồi cười: “Các chú cứ ngồi chiếc xe này chứ Bác không ngồi đâu! Bác về cốt là thăm quê hương, đồng bào, chứ có là quan khách đâu mà các chú làm hình thức, tốn kém”. Nói rồi, Bác bước về phía chiếc xe đi đầu của bảo vệ và ngồi bên cạnh người lái xe. Sau mấy phút ngơ ngác, anh em bảo vệ buộc phải ngồi trên chiếc xe bọc vải trắng. Dọc đường, nhân dân đều hướng về chiếc xe sang trọng, nhưng không thấy Bác đâu. ít ai ngờ rằng, Bác đã chọn ngồi ở chiếc xe cảnh vệ đi đầu.

Chưa hết, về đến nhà khách Tỉnh ủy, vừa trò chuyện, Bác vừa nhìn ra con đường dẫn vào nhà khách, thấy có nhiều bông hoa rực rỡ, nở đều, ngay ngắn hai bên. Bất chợt, Bác đi ra, dùng tay nhổ nhẹ một cành lay ơn. Cành hoa nhẹ bẫng, không có chút rễ nào. Gọi đồng chí Bí thư Tỉnh ủy tới, Bác nghiêm giọng nói: “Đây là một việc làm thiếu chân thực và lãng phí. Tưởng các chú trồng hoa thì hay, có lợi cho môi trường. Nào ngờ, vì Bác vào thăm nên các chú phải mua bông này về trồng. “Trồng” hình thức nó sẽ chết. Đây là một căn bệnh phô trương hình thức. Đón Bác như thế này Bác không vừa lòng !”. Các đồng chí trong Tỉnh ủy Nghệ An cùng xin lỗi Bác và hứa sẽ sửa chữa khuyết điểm.

Bác Hồ kính yêu là như thế đó. Phong cách giản dị đã làm cho Người trở nên vĩ đại ngay trong những việc nhỏ nhặt, bình thường.

Lê Minh

bqllang.gov.vn

Bác như một lão nông tri điền !

Đó là suy nghĩ đầy kính phục về Bác Hồ kính yêu của tất cả các đại biểu dự Hội nghị phát động phong trào sản xuất đông xuân, tháng 8 năm 1958, tại tỉnh Nam Định.

Hội nghị được tổ chức tại xã Yên Tiến (huyện Ý Yên), có rất đông đại biểu các xã, huyện về dự. Đúng ngày họp, Bác Hồ về thăm. Bác mặc áo bà ba nâu, hồng hào, mạnh khỏe, tươi cười bước vào hội trường. Bác đi từ dưới lên, bắt tay nhiều đại biểu các xã, rồi mới bước lên bục nói chuyện. Bác rút từ túi áo một tờ giấy ghi số liệu và bắt đầu nói về tình hình sản xuất của tỉnh Nam Định, trong đó Người chỉ rõ sự sút kém trong thu hoạch vụ chiêm và tiến độ cấy vụ mùa chưa đạt kế hoạch. Bác cũng khen ngợi ba huyện Ý Yên, Vụ Bản, Mỹ Lộc và một số bà con nông dân có nhiều cố gắng trong chăm bón lúa.

Sau khi phân tích những yếu kém trong sản xuất vụ chiêm, Bác dừng lại, nhìn xuống hội trường và nhấn mạnh: Chúng ta làm ruộng, muốn lúa tốt, thu hoạch nhiều, phải hiểu thế nào là “nhất thì, nhì thục”, thế nào là “một nước, hai phân, ba cần, bốn cải tiến kỹ thuật”. Phải có đủ mạ tốt và cấy đúng thời vụ; phải chăm sóc cây lúa từ lúc còn là cây mạ đến lúc thu hoạch, bón đủ phân và có đủ nước, thường xuyên chống sâu, chuột. Bác nói chân tình, hiểu người, hiểu việc, giống như lời khuyên của một lão nông tri điền, thật gần gũi và thiết thực. Bác còn nhắc nhở các cán bộ Tỉnh ủy phải đi sát nông thôn, trực tiếp giúp đỡ và lãnh đạo sản xuất, đẩy mạnh phong trào thi đua trong toàn tỉnh.

Trước khi ra về, Bác vào thăm một số gia đình nông dân và thăm cánh đồng xã Yên Tiến. Bác ngồi xuống bờ một thửa ruộng, dùng gang tay mình đo khoảng cách giữa hai khóm lúa. Bác tỏ ra rất vui khi thấy lúa tốt và khen “cấy dày vừa phải!”…

Lần về thăm của Bác rất ngắn, nhưng đã cổ vũ, động viên cán bộ, nhân dân tỉnh Nam Định rất nhiều. Sau đấy, cả Tỉnh ủy phân công nhau xuống từng huyện, từng xã, dành thì giờ cùng bà con nông dân bàn chuyện làm phân xanh, đôn đốc việc cấy kịp thời vụ, chăm sóc lúa mùa và chuẩn bị vụ đông xuân. Một không khí thi đua lao động rộng khắp toàn tỉnh.

Lê Minh

bqllang.gov.vn

Cán bộ phải chăm lo chu đáo cho mọi người

Vào những năm chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Bác Hồ đặc biệt quan tâm đến lực lượng mở đường, giữ vững mạch máu giao thông thông suốt. Năm 1965, để phục vụ tốt cho chiến trường phía Nam, đường Trường Sơn được mở rộng và khai thông nhiều tuyến, nhiều nhánh mới cho xe chạy cả đêm, cả ngày.

Theo đề nghị của Bộ Quốc phòng, hơn 2.000 thợ cầu đường có trình độ chuyên môn cao và 5.000 nam nữ thanh niên được Bộ Giao thông tăng cường cho Binh đoàn Trường Sơn (tức Đoàn 559).

Trước ngày đoàn lên đường vào Trường Sơn, Bác gặp một số lãnh đạo Bộ Giao thông. Ai nấy vui mừng vì được gặp Bác, nhưng không ai đoán được Bác sẽ căn dặn điều gì. Bác đã không nói gì thừa, càng không nói những lời to tát, như tầm chiến lược của cung đường Trường Sơn hay vai trò của tuyến đường huyết mạch này với cuộc kháng chiến đang rất cam go, mà Bác đi thẳng vào những vấn đề cụ thể, nhắc nhở mọi người đã là cán bộ thì phải có trách nhiệm chăm lo chu đáo cho mọi người xung quanh.

Sau này, các thế hệ cán bộ của Bộ Giao thông vận tải còn nhắc lại kỷ niệm về lần gặp Bác hồi đó. Trông Bác nghiêm trang và hơi buồn hơn những lần khác mà mọi người được gặp. Bác hỏi Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ, trong số 5000 thanh niên xung phong có bao nhiêu cháu gái, cháu tuổi nhỏ nhất và tuổi cao nhất. Rồi Bác nói với mọi người, phải đưa các cháu gái vào nơi gian khổ, bom đạn là việc Bác không muốn, nhưng con trai ra trận hết, không có cách nào khác. Các cháu thanh niên xung phong ở gia đình có bố mẹ, anh chị em là nơi nương tựa, chăm sóc, nên cán bộ phải thay cha mẹ chăm sóc, yêu thương các cháu, hạn chế đến cùng mọi khó khăn, gian khổ do chiến tranh gây ra, nhất là với các cháu gái.

Trước lúc mọi người về, Bác còn dặn thêm, phải mua sách báo, nhạc cụ cho các cháu trai và phải lo đủ kim chỉ cho các cháu gái may vá, lo đủ bồ kết cho các cháu gái gội đầu…

Lê Minh

bqllang.gov.vn

Một lần nhớ mãi

Đầu năm 1967 Bác về Thái Bình. Ô tô đưa Bác đến bến Triều Dương thì phải sang phà. Mấy đồng chí ở Tỉnh uỷ đến đón, một cán bộ định giới thiệu với Bác. Bác nói:

– Thôi, thôi đi về cho sớm.

Ca-nô mắc cạn loay hoay mãi vẫn chưa cập được bến.

Trời chiều, không thể để Bác chờ lâu nên đành phải đưa thuyền nan ra đón Bác vào bờ. Bác trèo lên đê, hỏi cô Định thường vụ tỉnh uỷ:

– Có còn lối nào đi lý thú hơn nữa không?

Cô Định thành thật thưa:

– Bác phải đi xe, chứ về chúng cháu còn xa lắm.

Anh cán bộ đi theo Bác cười:

– Bác phê bình khéo đấy! Rồi nói khẽ “tưởng bở”.

… Về xã Tân Hoà, cán bộ địa phương mời Bác ngồi ghế giữa ưu tiên. Bàn kê thì chật, Bác lựa mãi mới đứng lên được. Bác mở đầu như một vế đối:

– Ghế ưu tiên nên người không nhúc nhích…

Anh chị em chỉ biết cười trừ.

… Đến bữa cơm, Bác giở cơm nắm ra ăn. Cô Định cứ năn nỉ mãi, mời Bác dùng cơm nóng, Bác bảo:

– Bác dùng cơm này đã quen rồi…

Trong bữa cơm có bát dưa. Cô Định cứ gắp mãi dưa, Bác hỏi:

– Dưa có ngon không?

Cô Định nói một mạch:

– Ngon lắm ạ. Tỉnh chúng cháu năm nay trồng dưa thừa ăn còn đem bán cho các tỉnh bạn.

Bác tủm tỉm cười:

– Dưa này không phải dưa Thái Bình đâu. Dưa Bác đem từ Hà Nội về đấy…

Sau này, cô Định nói: Chỉ một lần ấy mà tôi nhớ đời. Học được bao nhiêu điều.

Theo Lê Văn

bqllang.gov.vn

“Vừa đẹp vừa đỡ chói mắt đồng bào…”

Năm 1956, Bác Hồ đón một vị Tổng thống tại khu vườn Phủ Chủ tịch. Một số công nhân Nhà máy đèn Hà Nội được Bác “mời vào mắc đèn điện trên các cành cây giúp Bác”.

Anh em làm việc suốt ngày, ròng dây dẫn điện lắp đèn nhiều loại màu sắc trên ngọn, trên cành trong các lùm cây. Khoảng 19 giờ 30 cùng ngày, Bác ra vườn thăm anh em. Bác nói:

– Các chú bật đèn lên cho Bác xem đi.

Sau khi đóng cầu dao, những bóng đèn điện bỗng vụt hiện lên, lung linh như trong một hội hoa đăng. Đồng chí tổ trưởng công nhân điện mời Bác đi xem và kiểm tra.

Bác chú ý từng ngọn đèn, từng đoạn dây dẫn đã an toàn chưa, gật đầu tỏ ý hài lòng. Đến một đèn pha chiếu sáng đặt dưới một gốc cây, Bác dừng lại nói:

– Ngọn đèn này phải để khuất trong lùm cây, vừa đẹp vừa đỡ chói mắt đồng bào đi qua đường.

Bác nhanh nhẹn bước tới ngọn đèn. Đồng chí tổ trưởng Dương Văn Hậu lo Bác vấp ngã vì đôi guốc mộc dưới chân Bác đi trên đường dải sỏi, chạy vội đến:

– Bác để chúng cháu làm.

Nhưng Bác đã cúi xuống, rất “nghề nghiệp”, hai bàn tay bưng lấy thân ngọn đèn pha dấu vào một lùm cây đinh hương. Ngọn đèn pha mới được đặt, đẹp hẳn lên, người ngoài nhìn vào không bị chói mắt, mà chỉ thấy những tia sáng chiếu qua các kẽ lá hắt lên một màu xanh dịu.

Lần sau, anh em nhà máy điện Hà Nội lại được đến Phủ Chủ tịch mắc đèn dây để Bác tiếp khách.
Rút kinh nghiệm lần trước, lần này anh em làm khác hẳn lối treo đèn cũ, như để thưa với Bác “phải luôn luôn đổi mới, không ngừng phát huy sáng kiến”- như lời Bác dạy.

Anh em đặt một dây đèn màu từ dưới gốc cây dừa nước lên ngọn rồi toả ra các cành, mỗi cành một đèn màu khác nhau. Ở các thân cây có quả đèn màu trắng, cành cây đèn màu xanh, gần quả, một chùm đèn nhỏ màu đỏ. Chếch hai bên đặt hai đèn pha dấu trong lùm cây hắt nghiêng lên.

Như lần trước, vừa chập tối, Bác đã đến trước khách, thăm anh em công nhân điện và kiểm tra. Bác khen:

– Lần này các chú mắc đẹp đấy. Chắc khách quý của chúng ta cũng sẽ khen…
Bác lấy thuốc lá chia cho anh em công nhân điện mỗi người một điếu (sau này được biết là thuốc lá thơm Cu-ba do Thủ tướng Phi Đen Cát-xtrô tặng Bác. Bác chia gần hết hộp thuốc. Một công nhân trẻ, thấy Bác vui, hộp thuốc đã cạn, muốn có một kỷ niệm về Bác, mạnh dạn thưa với Bác xin cái hộp. Bác cười và nói:

– Các chú đã có phần rồi. Cái hộp này Bác để dành cho các cô để các cô đựng kim chỉ chứ!

Minh Anh
(viết theo lời kể của Dương Văn Hậu)

bqllang.gov.vn

“Làm tốt thì Bác muôn năm…”

Cũng như mọi người dân Thủ đô, thanh niên, thiếu niên Hà Nội luôn nhận được sự quan tâm, chăm sóc của Bác Hồ kính yêu. Còn nhớ năm 1958, khi hàng trăm trẻ em Thủ đô đang chuẩn bị đón Tết Trung thu tại Câu lạc bộ thiếu nhi thì được tin Bác Hồ đến thăm.

Tất cả mọi người đều dồn về phía lễ đài để mong được gần Bác hơn. Trong đó, có một bà mẹ người nước ngoài cũng đang cố gắng đưa con mình đến gần lễ đài. Giơ tay thay một động tác chào về phía hai mẹ con người nước ngoài, miệng cười rất tươi, Bác vui vẻ căn dặn tất cả thiếu nhi phải chăm học, chăm làm để trở thành con ngoan, trò giỏi. Cũng năm 1958, Bác tới thăm Đại hội Thanh niên Thủ đô. Khi Bác đến, mọi người cùng đứng dậy hô to: “Làm tốt thì Bác muôn năm, làm không tốt thì Bác muốn nằm”. Mọi người đều cười vui vẻ và cảm thấy Bác Hồ gần gũi, thân thương như người ông, người cha ở nhà.

Rất nhiều cuộc tiếp thân mật các nguyên thủ quốc gia, Bác đều cho thiếu nhi Hà Nội tham dự. Tháng 6-1959, tại Công viên Bách Thảo, thiếu nhi cắm trại và liên hoan văn nghệ, Bác đã tiếp và đưa Tổng thống Xu-các-nô đến Công viên cùng dự và tham gia các hoạt động của thiếu nhi hơn một giờ đồng hồ. Gần Tết Nguyên đán năm 1960, Bác cho gọi các cháu thiếu nhi vào Phủ Chủ tịch để cùng đón gia đình ông luật sư người Anh Loseby. Bác đã tặng quà từng người và còn dặn nhớ dành quà tết của Bác cho người thân ở nhà. Năm 1961, Bác quyết định để thiếu nhi Hà Nội tổ chức triển lãm tại Phủ Chủ tịch trong suốt 10 ngày. Dù rất bận, nhưng ngày nào Bác cũng cố gắng dành thời gian để xem các cháu biểu diễn văn nghệ.

Năm 1965, trong buổi biểu diễn văn nghệ chào mừng Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô, một cháu gái 8 tuổi đọc bài thơ “Cháu nhớ Bác Hồ” của nhà thơ Thanh Hải. Bài thơ nói về tình cảm của thiếu nhi miền Nam đối với Bác Hồ, Bác chăm chú lắng nghe. Đến câu “Bác ơi nhớ mấy cho cùng/ Ngoài xa Bác có thấu lòng cháu không?”, thì Bác lấy khăn lau nước mắt và gật đầu nói: “Có nhớ… có nhớ…”.

Nguyễn Lê

bqllang.gov.vn

Muốn tiết kiệm, phải khéo tổ chức

Trong một lần nói chuyện với các giám đốc, Bác Hồ căn dặn: “Phải biết tiết kiệm những đồng tiền kiếm được, cũng như các vật liệu và đồ dùng trong các cơ quan. Rút bớt hết những việc gì không cần thiết, chớ hao phí giấy má, tiền bạc và các thứ của công. Hao phí những thứ đó tức là hao phí mồ hôi, nước mắt của dân nghèo. Chớ tưởng tiết kiệm những thứ cỏn con như mẩu giấy, ngòi bút là không có ảnh hưởng. Một người tiết kiệm như thế, trăm người như thế, vạn người như thế, công quỹ bớt được một số tiền đáng kể…”.

Thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ, cán bộ, công nhân viên Công ty Cao su Phú Riềng thuộc Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam đã thực hành tiết kiệm trong chi tiêu nội bộ, tiết kiệm trong sản xuất kinh doanh… xây dựng phong trào thi đua mang lại lợi ích thiết thực. Ông Nguyễn Hồng Phú, Giám đốc công ty cho biết: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, công ty đã thành lập ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Công ty đã xây dựng định mức tiết kiệm cụ thể cho từng đơn vị, đề ra chỉ tiêu tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng, phổ biến đến toàn thể cán bộ, công nhân viên. Các đơn vị trong công ty căn cứ vào định mức kinh tế kỹ thuật, xây dựng chỉ tiêu tiết kiệm cho từng nội dung, từ việc sử dụng điện, nước, điện thoại, văn phòng phẩm, xăng xe, tiếp khách, tham quan du lịch, cho đến việc tiết kiệm vật tư, nguyên liệu trong sản xuất kinh doanh, trong đầu tư xây dựng cơ bản…”. Năm 2007, công ty đã tiết kiệm được 19 tỷ 192 triệu đồng. Thống kê các khoản tiết kiệm được, gồm: Tiết kiệm điện, nước, điện thoại, xăng xe, văn phòng phẩm khối văn phòng công ty và các nông trường: 529 triệu đồng. Tiết kiệm trong đầu tư xây dựng cơ bản do tổ chức đấu thầu các công trình xây dựng và giao thông, giảm chi so với gói thầu 6 tỷ 634 triệu đồng. Tiết kiệm trong sản xuất kinh doanh trên cơ sở sắp xếp ca sản xuất hợp lý, bảo dưỡng máy móc thiết bị, tăng cường thâm canh vườn cây, tiết kiệm vật tư, nhiên liệu 5 tỷ 90 triệu đồng. Tiết kiệm trong việc tận thu các loại mủ như mủ tráng thùng, mủ đất, mủ serum được 3 tỷ 638 triệu đồng. Tiết kiệm trong thanh lý vườn cây cao su nhờ tổ chức đấu thầu rộng rãi, tăng thu được 1 tỷ 242 triệu đồng. Tiết kiệm trong tham quan du lịch nhờ tổ chức đấu thầu chào giá cạnh tranh cho cán bộ, công nhân viên có thành tích trong sản xuất, kinh doanh, giảm chi được 2 tỷ 56 triệu đồng so với năm 2006…

Bên cạnh việc thực hành tiết kiệm, công ty còn thực hiện tốt việc thâm canh, chăm sóc vườn cây, tận thu mủ, bảo đảm khai thác đúng quy trình kỹ thuật, nâng năng suất vườn cây đạt 2.068kg/ha. Năm 2007, công ty cao su Phú Riềng khai thác được gần 30.000 tấn mủ cao su quy khô, vượt kế hoạch 4.500 tấn, đạt doanh thu hơn 1.000 tỷ đồng; nộp ngân sách hơn 200 tỷ đồng; lợi nhuận đạt hơn 400 tỷ đồng, thu nhập bình quân đạt 5 triệu đồng/người /tháng.

Bác Hồ từng nói: “Muốn tiết kiệm có kết quả tốt thì phải khéo tổ chức… Không biết tổ chức là không biết tiết kiệm”. Nhờ biết tổ chức và đề ra các biện pháp thực hiện tiết kiệm cụ thể, những kết quả trong công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ở Công ty Cao su Phú Riềng đã mang lại hiệu quả thiết thực. Phát huy truyền thống “Phú Riềng đỏ” của các bậc cha anh đi trước, ngày nay cán bộ, công nhân viên công ty cao su Phú Riềng đã và đang tích cực thi đua lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm, vì mục tiêu “Công nhân giàu, công ty mạnh”.

Phạm Văn Mấy

bqllang.gov.vn

Cán bộ cần thường xuyên đi cơ sở

Sinh thời, mỗi lần đi thăm địa phương, đơn vị nào đó, Bác Hồ có phong cách thật giản dị và cách làm việc với cơ sở của Bác đạt hiệu quả rất lớn, ý nghĩa sâu sắc. Bác thường dành những lời khuyên, những chỉ đạo sát thực đối với địa phương, đơn vị. Đến với nông dân, Bác về tận ruộng để hỏi han, động viên. Đến các đơn vị quân đội, Bác thăm tận nơi ăn chốn ở của bộ đội, trận địa… Cũng nhờ luôn nắm rõ, hiểu thực tế, Bác Hồ luôn đưa ra những chỉ đạo sát với yêu cầu của thời cuộc, lãnh đạo dân tộc ta giành được nhiều thành công, thắng lợi.

Hiện nay, trước thực tế phát triển mạnh mẽ của đất nước trong thời kỳ đổi mới và hội nhập, việc cán bộ đi cơ sở, tìm hiểu, đánh giá tình hình để thực hiện tốt chỉ đạo lại cần thiết hơn bao giờ hết, và được coi là không thể thiếu. Lâu nay có tình trạng, không ít cán bộ lãnh đạo địa phương, đơn vị lấy lý do bận họp hành quá nhiều, nên sao nhãng việc đi kiểm tra, tìm hiểu ở cơ sở; hoặc có đi thì chỉ là chiếu lệ, qua loa, thậm chí còn gây phiền hà, lãng phí thời gian, công sức của cơ sở. Chính vì lãnh đạo không nắm sát tình hình cơ sở nên ngại có ý kiến đóng góp hay chỉ đạo, hoặc có ý kiến thì cũng không sát thực. Vì vậy, mới xảy ra những chỉ đạo quan liêu, dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực, lệch hướng.

Trong những chuyến công tác gần đây, tôi đã được chứng kiến một số điển hình về việc đi cơ sở. Bộ CHQS tỉnh Hậu Giang, sau khi mới thành lập, còn bộn bề khó khăn, tuy nhiên luôn đề cao việc các cán bộ phải thường xuyên đi cơ sở, kiểm tra, chỉ đạo sát sao trong thực hiện nhiệm vụ. Đại tá Lữ Văn Hùng, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Hậu Giang cho biết: “Trong lãnh đạo, chỉ huy, chúng tôi luôn nhắc nhở cán bộ các cấp cần thường xuyên đi cơ sở, vì có như thế mới hiểu rõ thực tế, gần gũi với cấp dưới, với nhân dân, kiểm tra, đốc thúc thực hiện tốt nhiệm vụ. Kiến thức ở cơ sở rất cần thiết và quan trọng, từ đó có thể rút kinh nghiệm, bài học quí; nắm rõ những khó khăn, bức xúc để đề ra biện pháp hay hoặc đề nghị cấp trên hỗ trợ, giúp đỡ kịp thời”. Ngay cả đối với các đồng chí trong Bộ Chỉ huy, việc đi cơ sở được thực hiện thường xuyên. Mỗi năm, Bộ Chỉ huy thường phân công đi thực tế, kiểm tra ở hầu hết các xã trong tỉnh. Nhờ đó, công tác quân sự, quốc phòng của Hậu Giang thời gian qua đã đạt được nhiều thành tích.

Một ví dụ khác, ở huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng – nơi có hệ thống kênh rạch chằng chịt, nhiều địa bàn thuộc vùng sâu, vùng xa, đi lại rất khó khăn. Chúng tôi được nghe kể nhiều về đồng chí Huỳnh Văn Sum, Bí thư Huyện ủy huyện Kế Sách. Đồng chí Sum được nhiều người dân biết đến vì thường xuyên “vi hành” xuống cơ sở. Khi thì đồng chí Sum tự đi bằng ghe xuồng, khi thì đi bằng xe gắn máy, khi thì đi cùng các đoàn kiểm tra của huyện. Đồng chí Sum tâm sự: “Cán bộ lãnh đạo rất cần phải thường xuyên đi cơ sở. Điều đó sẽ giúp nắm rõ những bức xúc khó khăn, tâm tư nguyện vọng của nhân dân. Hơn nữa, trong các cuộc họp, khi chỉ đạo các cấp, các ngành trong huyện, tôi thường dẫn chứng những ý kiến, những trường hợp khó khăn bức xúc cụ thể từ cơ sở. Nhờ đó, chỉ đạo của mình mới thiết thực, hiệu quả cao”.

Thiết nghĩ, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, cán bộ lãnh đạo các cấp, các ngành, các địa phương cần thường xuyên đi cơ sở và đồng thời tránh làm phiền hà, nhũng nhiễu cơ sở. Thực hiện tốt điều này, thì việc khó đến mấy, cán bộ cũng sẽ có những chỉ đạo sát thực tế, đúng hướng, hiệu quả cao.

Trung Kiên

bqllang.gov.vn

Nhà sàn Bác Hồ: Bài học về sự giản dị, tiết kiệm

Cách đây 50 năm (Tháng 5/1958), thể theo nguyện vọng của Bác Hồ, cán bộ, chiến sĩ phục vụ đã dựng ngôi nhà sàn hai gian bên bờ hồ dưới tán cây trong vườn Phủ Chủ tịch để làm nơi Bác ở. Ngôi nhà sàn giản dị, xinh xắn được khánh thành nhân kỷ niệm sinh nhật Bác. Anh em trong đội phục vụ ai cũng hết sức vui mừng, phấn khởi vì đây là món quà vô giá, với ý nghĩa thiết thực, tiết kiệm mừng ngày sinh của Người.

Sau chuyến đi thăm hợp tác xã nông nghiệp đầu tiên của tỉnh Thái Nguyên, trên đường về Bác trầm ngâm suy nghĩ rồi nói với các đồng chí phục vụ: Bác muốn làm một căn nhà sàn ở bên kia ao để ở và làm việc cho thoáng. Theo ý Bác, mùa hè năm 1958, anh em trong đội phục vụ bắt tay thi công ngôi nhà này. Công việc thiết kế, tính toán cụ thể được giao cho ông Nguyễn Văn Ninh, kiến trúc sư, Cục trưởng Cục thiết kế dân dụng, Bộ Kiến trúc (nay là Công ty Tư vấn xây dựng thuộc Bộ Xây dựng). Ông Ninh là một trong tám người của nước ta học kiến trúc khoá đầu tiên ở trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Ông đã từng thiết kế lễ đài Ba Đình để đón Bác và Trung ương Đảng, Chính phủ trở về Thủ đô Hà Nội tháng 1-1955.

Trước lúc bắt tay vào việc, Bác đã căn dặn ông Ninh rất cụ thể, tỷ mỷ. Người nói: Ngôi nhà sàn này cũng làm giống như những ngôi nhà sàn Bác đã ở chiến khu Việt Bắc. Tầng trên có hai phòng nhỏ, xung quanh cần có hành lang để các đồng chí lãnh đạo đến làm việc với Bác và tiện cho các đồng chí phục vụ đi lại. Tận dụng vách ngăn hai phòng làm giá sách nhỏ vừa tiết kiệm vừa tiện sử dụng. Bác dặn đi, dặn lại: Nhà làm bằng gỗ bình thường, loại gỗ làm tà vẹt đường sắt và trường học. Bên dưới xây bệ xi măng thấp, trên có lát ván tạo thành những hàng ghế băng dài cho các cháu thiếu niên vào chơi thăm Bác có đủ chỗ ngồi. Sau khi được Bác tham gia góp ý, bản vẽ thiết kế đã nhanh chóng hoàn thành và tổ chức thi công. Sợ việc làm nhà gây ồn áo, bụi bặm ảnh hưởng tới sức khoẻ và công việc của Bác, nên các đồng chí đã chọn đúng đợt Bác đi công tác mới tổ chức khởi công. Đội thi công gồm ba mươi cán bộ, chiến sĩ công binh khẩn trương được triệu tập. Ai nấy đều thấy rõ vinh dự, tự hào được làm nhà cho Bác Hồ nên đều cố gắng hết sức mình, sao cho nhà Bác vừa đẹp, vừa chắc chắn và phải xong trước ngày Bác đi công tác về. Một đợt thi đua rất tự giác, không cần tổ chức phát động.

Chỉ trong thời gian ngắn ngôi nhà sàn của Bác Hồ đã hoàn thành, mọi việc tất thảy đâu vào đấy. Ngôi nhà được thiết kế hai tầng theo kiểu nhà sàn của đồng bào dân tộc dài 10,5 m, rộng 6,2 m. Tầng trên có hai phòng, một phòng Bác dùng làm việc, còn một phòng để nghỉ. Tầng dưới là nơi Bác dùng để làm việc vào mùa hè, họp Bộ Chính trị, nơi tiếp khách thân mật…. Hôm Bác đi công tác về nhìn ngôi nhà sàn hai gian thoáng đãng, tầng dưới để thoáng rộng, tầng trên có hai gian, xung quanh là hành lang rộng có mành che. Mọi người ai cũng mừng nhưng rất hồi hộp, không biết ngôi nhà có hợp với ý Bác không? Ai cũng mong được nghe ý kiến trực tiếp của Bác. Như đoán được ý nghĩ của mọi người, Bác tổ chức một buổi gặp mặt tất cả số anh em tham gia công việc ngay tại tầng dưới của ngôi nhà sàn vừa mới dựng, có đủ cả chè nước, bánh kẹo. Anh em khi ấy gọi vui đây là bữa tiệc “tân gia” mừng nhà mới của Bác.

Kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh kể rằng: Không khí của buổi liên hoan bữa ấy đầm ấm lạ thường, Bác giục mọi người ăn kẹo, uống nước, Bác khen:

– Các chú làm như thế là nhanh, tốt, bảo đảm thời gian. Nhưng còn một khuyết điểm, các chú có biết khuyết điểm gì không?

Mọi người nhìn nhau lo lắng, ông Nguyễn Văn Ninh vội đứng dậy đáp:

– Thưa Bác, so với ý Bác dặn thì có tốn kém hơn đôi chút ạ.

– Chú nói đúng, Bác cười rồi nói với mọi người:

– Nước ta còn chưa giàu, dân ta còn khổ, chưa đủ nhà ở, Bác ở thế này là quá tốt rồi, các chú không phải lo cho Bác.

Bài học về sự giản dị, tiết kiệm của Bác hôm ấy làm cho mọi người ai cũng xúc động với tấm lòng kính yêu vô hạn tới Bác kính yêu.

Ngày 18-5-1958, một ngày trước sinh nhật của Người, Bác đã dọn về ở và làm việc tại ngôi nhà sàn này. Nhà sàn Bác Hồ đã trở thành món quà sinh nhật vô giá, ý nghĩa thật giản dị, nhưng lớn lao. Ngôi nhà sàn giản dị nằm giữa Thủ đô là nơi Bác kính yêu của chúng ta sống và làm việc lâu nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình. Nhà sàn Bác Hồ không chỉ mang đậm dấu ấn lịch sử mà còn là một công trình kiến trúc mạng đậm bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam. Hiện nay, Nhà sàn Bác Hồ là một di tích đặc biệt, quan trọng trong quần thể di tích Phủ Chủ tịch. Từ khi Bác qua đời, nơi đây đã đón tiếp hàng chục triệu lượt khách trong và ngoài nước tới tham quan, trong số đó có nhiều đoàn khách cấp cao, là nguyên thủ quốc gia cùng hàng trăm nước và các tổ chức quốc tế.

Theo “Sự kiện và nhân chứng” số 173 tháng 5/2008.
Thanh Hương

bqllang.gov.vn

Bác Hồ và người gánh nước đêm giao thừa

Chuyện suy tư đêm 30 Trước thời khắc chuyển giao giữa năm mới và năm cũ của 45 năm về trước, khi nhà nhà sum họp, quây tụ, Bác “vi hành”.

Thiếu tướng Phan Văn Xoàn, nguyên là cận vệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh kể lại: Đúng 11 giờ đêm giao thừa, bác mặc áo bông, quần vải gụ, đi dép cao su, đội mũ len đen và quấn khăn chòng cổ, tìm đến nhà “một gia đình nghèo nhất Hà Nội” như người cận vệ của bác báo về. Đó là nhà chị Nguyễn Thị Tín, góa chồng, ngoài 40 tuổi, đêm trừ tịch vẫn phải đi gánh nước thuê nuôi các con.

Đến nay, sau gần nửa thế kỷ, liệu đất nước chúng ta đã hết những cảnh nghèo khổ, cơ cực như chị Tín?

Tết năm ấy Bác Hồ buồn. Trước những người hàng phố quanh nhà cô Tín ở, Bác đã hỏi: “Tại sao cả một khu phố như vậy mà không thấy ai quan tâm đến một gia đình như cô Tín? Chúng ta đã quá quan liêu để không biết những câu chuyện như vậy ở ngay thủ đô nước mình”.

Nếu bây giờ Bác Hồ hoặc bất kỳ ai hay tin về những vụ bạo hành trong các khu dân cư âm ỉ hàng chục năm – biểu hiện của sự thờ ơ, vô cảm – chắc chắn là Bác sẽ buồn biết bao nhiêu? Mong rằng, mỗi lần nhớ đến Bác với những câu chuyện như thế này, bệnh quan liêu sẽ được thuyên giảm. Nên chăng, cuối năm, chúng ta nên lắng lại để nhìn lại mình và nhớ tới những người sống quanh mình, để trái tim cởi mở hơn, ấm áp hơn.

Lúc ấy, Người đã nói về tinh thần “lá lành đùm lá rách” mà chúng ta vẫn luôn cho rằng đó là truyền thống quý báu của mình. Trước hết là trách nhiệm của khu phố, và như Bác nói “điều lớn nhất vẫn là trách nhiệm của Chính phủ”.

Ngày ấy Bác Hồ đã đích thân nhờ cảnh vệ đi tìm một gia đình nghèo thực sự để chúc Tết, vì thế, sau nhiều ngày, người thân cận bên Bác mới có thể tìm đến đúng nhà cô Tín. Và như Bác nói là “đu đúng người thật, việc thật”.

Bác còn nói một chữ “nếu”: “Nếu mà mình báo trước với thành phố, hỏi nhà nào nghèo nhất thì chắc chắn không phải nhà cô Tín rồi…”.

Điều ấy khiến ta giật mình vì đến nay những chuyện viếng thăm đầy tính hình thức, thiếu tính thực tâm đâu đã mất đi?

Gương soi mỗi độ Xuân về

Giở những trang báo Xuân, năm nào cũng vậy, luôn gặp những câu chuyện về Bác. Đó là điều rất đỗi tự nhiên và dễ hiểu, không cần phải đợi đến những đợt vận động hay thi đua nào để thấm thía những lời nói và hành động vì nước, vì dân của Người. Bản thân những câu chuyện thật, việc thật – dù chỉ bình dị thôi – nhưng luôn có sức lan truyền.

Câu chuyện này gieo cho chúng ta một mong ước trước thềm Xuân rằng: Mỗi “người trong một nước” rung động với nhau nhiều hơn, Chính phủ và các cấp chính quyền đến gần dân hơn – để không còn những cảnh nghèo như gia đình chị Nguyễn Thị Tín – thì nước mới mạnh.

Theo “ Vietnam net”.
Bùi Dũng

bqllang.gov.vn

Chuyện về những bữa cơm của Bác Hồ

Phong cách sinh hoạt giản dị, thanh cao, ghét thói xa hoa, lãng phí của Chủ tịch Hồ Chí Minh được nhân dân Việt nam và nhân dân thế giới ngưỡng mộ. Một tác giả nước ngoài đã viết rằng: Cuộc sống giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự gần gũi với nhân dân là đặc trưng cho tình yêu đối với đất nước của một Con Người đã trở thành huyền thoại ngay trong cả cuộc sống đời thường của mình. Một trong những yếu tố góp phần làm nên huyền thoại ấy bắt đầu từ điều vô cùng bình thường nhất, đó là những bữa ăn của vị Chủ tịch nước.

Ngày mới giành chính quyền năm 1945, Bác làm việc tại Bắc Bộ Phủ trong căn phòng nhỏ trên gác hai. Bác được cấp mỗi tháng 200đ cho việc ăn uống. Tới giờ ăn, Bác đến ăn tại bếp tập thể cùng anh em. Bữa ăn của Bác đạm bạc, thường chỉ có một miếng cá nhỏ, một bát canh, vài quả cà, mấy cọng dưa, dăm lát ớt và miệng bát cơm. Ngày 10 – 4 – 1946, giữa lúc đất nước bộn bề công việc, Bác về thăm Ninh Bình để dàn xếp vấn đề đối nội, đặc biệt là tôn giáo,. Khoảng 8h, khi xe Bác đến thị xã, nhân dân ùa đến, vẫy cờ, hô khẩu hiệu đón Bác. Anh em trong Uỷ ban khẩn khoản mời Bác ở lại nghỉ cho đỡ mệt và ăn tối, nhưng Bác nói: “Hàng ngàn đồng bào chờ Bác ngoài kia, Bác không thể nghỉ ở đây để ăn cơm vì 9h tối Bác đã có việc ở Chủ tịch phủ. Bây giờ các chú giúp Bác: một chú ra tập hợp đồng bào vào một ngã tư rộng gần đây để Bác ra nói chuyện với đồng bào mươi phút; một chú ra cửa hàng bánh mua cho Bác một cặp bánh giò. Còn các chú đi với Bác thì tranh thủ ăn cơm trước. Nói chuyện xong, Bác về Hà Nội ngay cho kịp hẹn. Trong xe, Bác sẽ ăn bánh vừa đỡ tốn kém, vừa tiết kiệm thời gian cho Bác”. Sau đó Bác ra nói chuyện với đồng bào. Khá muộn, Bác vẫy tay chào đồng bào rồi lên xe về Hà Nội. Xe đi được một quãng, Bác mới bắt đầu dùng bữa ăn tối của mình.

Kháng chiến bùng nổ, Bác cùng các cơ quan Trung ương và Chính phủ trở lại Việt Bắc. Những năm đầu, đời sống kháng chiến vô cùng kham khổ, Bác vẫn ăn chung với anh em, bát ăn chỉ là ống bương cưa ra, thức ăn chủ yếu là măng, rau, cao cấp nhất là thịt chim, sóc săn bắn hoặc đánh bẫy được đem kho mặn với muối để Bác ăn dần, thi thoảng tìm được con gà bồi dưỡng riêng cho Bác thì Người nói lộc bất khả tận hưởng, rồi đem chia đều cho mọi người. Món ăn chủ lực của Bác và anh em vẫn là món thịt Việt Minh gồm: 1kg thịt + 1kg muối + 1 nửa kg ớt xào lên cho vào ống, đi đến đâu dùng cũng tiện. Khi tăng gia, chăn nuôi được nhiều, anh em xin ý kiến, Bác đồng ý cho bỏ món thịt Việt Minh. Có lần, đoàn công tác của Bác đi qua huyện Yên Sơn theo kế hoạch ghé vào một cơ sở để ăn trưa. Nhưng khi đến nơi, thì nghe có tiếng máy bay địch nên Bác bảo anh em đưa cơm ra bãi cỏ ở bìa rừng ngồi ăn thuận tiện hơn. Hai đồng chí bảo vệ vào xóm bưng cơm lại mượn thêm chiếc chiếu của gia đình đồng bào ra ngồi. Lúc đặt mâm cơm xuống, Bác thấy có con gà luộc, đĩa cá và hai bát canh. Thấy thế, Bác không vui: “Các chú không nên mượn chiếu của bà con làm phiền đến dân”, ngừng một lát, Bác nói tiếp: “Trong khi nhân dân đang thắt lưng buộc bụng kháng chiến, mình ăn cơm thế này là ăn cơm “quan” đấy”. Nói rồi, Bác vừa chia đôi tất cả các món ăn trên mâm. Bác bảo anh em đem một phần đã chia đưa vào biếu các gia đình nghèo trong xóm. Phần còn lại Bác lại chia làm đôi: Chỉ ăn một nửa, còn một nửa gói dành cho bữa sau. Một lần khác đi công tác, mấy Bác cháu được bố trí ăn cơm ở nhà một cơ sở. Dạo đó thiếu thốn nên nồi cơm phải độn nhiều sắn, khoai. Vì thương Bác nên gia đình đã nấu thêm nồi cơm gạo trắng và sắp một mâm riêng. Khi vào bữa, Bác bưng bát cơm trắng, gắp thêm máy miếng thức ăn ngon để mời cụ cố đang ngồi bên bếp lửa gian trong, Bác nói rành rọt: “Cơm này là để dành cho người già nhất ăn”, rồi Bác lấy bát xới cho mình một bát cơm độn và cùng ăn với cả nhà. Trong rừng chiến khu đôi khi vẫn thiếu rau nhưng có nhiều mít, thế là Bác bày cách cho chị cấp dưỡng làm món nhút ăn cho đỡ xót ruột. Bác còn chú ý cả hình thức trình bày để bữa ăn tuy đơn giản nhưng ngon miệng. Một lần đi công tác, Bác cháu dừng bên bờ suối nấu ăn, Bác bảo anh em nấu cơm để Người làm trứng rán. Bác làm rất thành thạo, khi trứng rán xong cơm chưa chín, Người lấy que sắt nung trên than hồng rồi đặt lên khoanh trứng tạo thành hình quả trám rất đẹp, thấy anh em trâm trồ, Bác nói: “Khi có điều kiện làm cho ngon hơn, đẹp hơn thì ta cứ làm chứ các chú!”. Cũng có dịp đặc biệt như cuối năm 1953, quân và dân miền Nam thắng trận U Minh, Đồng Tháp Mười, Tây Nguyên, Bác quyết định mở tiệc khao quân với các món: Thịt gà luộc (được chặt làm 20 miếng đều nhau vừa đủ số người trong cơ quan ), canh cải xanh, rau muống xào tỏi, xôi nếp, cơm tẻ đều là sản phẩm cơ quan tăng gia. Bữa tiệc xong, Bác bỗng nói, giọng trầm xuống: “Hôm nay Bác cháu mình ngồi ở chiến khu Việt Bắc ăn xôi với thịt gà mừng chiến thắng, thì quân và dân miền Nam đã 9 năm rồi, kể từ ngày 23 – 9 – 1945 không lúc nào ngơi tay súng chiến đấu với quân thù để bảo vệ nên độc lập Tổ quốc, biết bao chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh anh dũng…”. Mọi người cùng lặng đi khi thấy hai giọt nước mắt Bác lăn trên đôi má gầy sạm…

Cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Bác trở về thủ đô Hà Nội ở tạm trong ngôi nhà của người thợ điện, gọi là nhà 54. Bữa ăn hàng ngày của Người vẫn không cầu kỳ, không cao lượng mỹ vị. 7h, bữa điểm tâm của Bác thường là xôi ruốc, thịt hoặc bánh cuốn, bánh mỳ. Đến khoảng 9h. Bác uống một cốc cà phê. 11h, Bác ăn cơm trưa, trên mâm cơm của Người thường có bát canh nước trong, một món xào hoặc thịt luộc, cá quả hoặc cá bống kho gừng và không thiếu hương vị miền quê cà kho tương hoặc dầm đường ớt… bữa nào Bác cũng ăn đúng hai bát. Mỗi khi xong bữa, Người lại tự tay xếp bát đĩa gọn ghẽ để bớt phân công việc cho các đồng chí phục vụ. Khoảng 14h, Bác uống một cốc sữa. 17h30, Bác dùng cơm tối. 21h, Bác uống một cốc cà phê sữa cho tỉnh táo khi làm việc khuya. Có lần, đồng chí phục vụ đưa lên đĩa cá anh vũ – một loại cá quý thường chỉ có ở ngã ba sông Bạch Hạc (Việt Trì). Bác bảo: “Cá ngon quá, thế mà chú Tô (Thủ tướng Phạm Văn Đồng) lại đi vắng ! Thôi, các chú để đến chiều đồng chí Tô về cùng thưởng thức”. Thấy Bác khen, anh em gửi tiếp cá đến, nhưng thấy món cá hôm trước lại xuất hiện, Bác không hài lòng: “Bác có phải là vua đâu và phải cung với tiến?” rồi kiên quyết bắt mang đi, không ăn nữa. Năm 1957, Bác thăm một số nước Đông Âu. Sau buổi tiệc do Đại sứ quán Việt nam tổ chức tiết kiệm và trang trọng, các món ăn không thừa, không thiếu, Người nói: “Ăn uống lãng phí, Bác xót xa lắm, vì đây là tiền bạc của nhà nước , của nhân dân. Bà con ta ở trong nước làm đổ mồ hôi, sôi nước mắt, mới có miếng mà ăn. Vì vậy để lãng phí, xa hoa là có tội với nhân dân”. Có lần ở Liên Xô, bạn chiêu đãi toàn những đặc sản, nhưng Bác lại chỉ nhớ món cá bống kho lá gừng. Không để bạn phật ý, đồng chí thư ký phi trổ tài tháo vát bằng cách giới tiệu với bạn một món cổ truyền Việt nam để nồi cá bống được có mặt trong bữa ăn.

Từ tháng 5 – 1958, Bác chuyển sang ở nhà sàn, nhưng hàng ngày, đúng giờ quy định, Người trở về dùng bữa tại nhà ăn phía bên kia bờ ao, cơm nước xong, Người lại đi bộ trở về nhà sàn, dù thời tiết mưa to, gió lớn cũng vẫn vậy. Các đồng chí phục vụ nhìn Bác xắn quần lội qua quãng đường ngập nước mà thương Bác vô cùng. Một hôm, sắp hết giờ làm việc buổi sáng, trời đổ mưa to. Thấy cơ hội thuận tiện, đồng chí giúp việc xin phép được mang cơm sang nhà sàn, Bác dừng tay làm việc, trầm ngâm nhìn trời mưa, hỏi đồng chí phục vụ “Thế mang cơm cho Bác cần mấy chú?”, “Dạ, thưa Bác, một đồng chí bên cơm, một đồng chí bê thức ăn và hai đồng chí đi kèm che mưa”, “Thế chú muốn một mình Bác vất vả hay muốn để nhiều người vất và vì một mình Bác?”. Hết giờ làm việc, mưa vẫn tầm tã, Bác xắn cao quân, tay cầm ô, tay chống gậy, lần từng bước qua con đường vòng ao cá nước chảy xiết sang nhà ăn. Những lần đi công tác các địa phương, Bác đều nhắc anh em mang cơm đi theo, khi thì cơm nắm, khi thì bánh mỳ với thức ăn nguội, chỉ có món canh cho vào phích để đến bữa Bác dùng cho nóng. Trên đường đi, cứ đến bữa là Bác chọn nơi vắng, mát, sạch cho dừng xe, Bác cháu bày cơm ra ăn đơn giản, không phiền ai cả. Một lần về thăm Thái Bình, Tỉnh uỷ và Uỷ ban nhân dân cố nài Bác ở lại ăn cơm, Người nói: “Đi thăm tỉnh lụt còn ăn uống nỗi gì?”, nhưng vì thương cán bộ đã chót bày mâm, Bác lấy gói cơm nắm và thức ăn mặn rồi bảo đồng chí cảnh vệ: “Chú mời đồng chí Bí thư và Chủ tịch đến ăn cơm với Bác. Còn chú và chú bác sĩ sang mâm kia ăn với cán bộ tỉnh”. Khi phải công tác ở địa phương nào lâu, Bác dặn cán bộ tỉnh chỉ làm cơm cho mấy người và ăn những món nào, dù cán bộ tỉnh bày cỗ ra Bác vẫn chỉ gắp vào bát của anh em và bát của mình mỗi người một miếng gọi là nếm thử, rồi xếp ngay ngắn đĩa thức ăn ấy, để ra ngoài mâm, Bác vói với anh em: “Người ta dọn ra một bữa sang. Bác cháu mình có khi chẳng ăn và chẳng ăn hết. Nhưng đi rồi để lại cái tiếng: đấy Bác Hồ đến thăm cũng làm cơm thế này, thế nọ, cũng điều động người làm mất thời gian. Thế là tự mình, Bác lại bao che cho cái chuyện xôi thịt…”. Hai lần Bác về thăm quê, tỉnh nhà đều làm cơm chiêu đãi Bác. Năm 1957, Bác mời mọi người cùng ngồi chung mâm có đĩa cà muối quê hương. Năm 1961, Bác cũng ngồi vào bàn ăn nhưng lại chiêu đãi mọi người món cơm đã chuẩn bị sẵn, mang từ Hà Nội vào: đó là những gói cơm nắm độn bắp, gạo trắng và ngô nhỏ mịn gói lại vuông vức. Bữa cơm ấy thật ngon, nhiều ý nghĩa và cảm động. Năm 1965, cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ đang ác liệt, nhân dân ta bắt đầu phải ăn cơm độn sắn, ngô, Bác dặn anh em: “Các chú thổi cơm độn cho Bác. Nhân dân, cán bộ ta ăn độn bao nhiều phân trăm, độn cho Bác từng ấy”. Khi đó Bác đã bước vào tuổi 75, nhìn Bác ăn độn mà anh em xót quá, mới thưa lai có quy định các cụ già trên 70 tuổi không phải ăn cơm độn, nhưng Bác bảo: “Bác cũng nhiều tuổi, nhưng Bác còn khoẻ. Thế thì Bác theo cán bộ. Cán bộ thế nào thì Bác thế ấy. Cứ thổi tiếp đi cho Bác ăn”. Anh em xay ngô thật nhỏ, độn gọi là, nhưng Bác biết, người nhắc: “50% cơ mà!”.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng là người được vinh dự dùng cơm với Bác nhiều lần nhất, Thủ tướng kể lại rằng bữa ăn nào Bác cũng ăn tiết kiệm, vừa đủ không bỏ món thừa, không vương vãi một hột cơm. Bác rất thích ăn những món dân dã như vó bò, cà dầm tương, mắm, canh cua với rau chuối thái ghém hoặc dọc mùng. Những hôm mời khách ăn cơm, bao giờ Bác cũng báo trước cho đồng chí cấp dưỡng biết để chuẩn bị và số tiền đãi khách đó được trừ vào tiền lương của Bác, không bao giờ người dùng vào tiền công quỹ. Bác thường mời cơm thân mặt một số đồng chí trong Bộ Chính trị, đôi khi cả gia đình một số đồng chí trong Trung ương, cán bộ, các anh hùng dũng sĩ miền Nam ra báo cáo công tác hoặc chữa bệnh. Những lần tiếp khách như vậy bao giờ Người cũng nhắc các đồng chí phục vụ nấu những món ăn phù hợp khẩu vị của khách để anh em ngon miệng. Chiều ngày 1 – 8 – 1969, vị khách cuối cùng được Bác mời cơm là đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phó Bí thư Trung ương cục miền nam ra báo cáo tình hình với Người.

Phong cách sinh hoạt đời thường của Bác Hồ là biểu hiện của tình thương yêu con người, là đạo đức cần – kiệm – liêm – chính, tạo nên nét thanh cao và sự vĩ đại của một nhà hiền triết, một bậc thánh nhân thế kỷ XX, bởi vậy: “ Cuộc đời của Hồ Chủ tịch trong như ánh sáng. Đó là tấm gương tuyệt vời về chí khí cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập tự chủ, lòng nhân đạo và yêu mến nhân dân thắm thiết. Tư tưởng và đạo đức và đạo đức cao cả của Người mãi mãi soi sáng và nâng cao tâm hồn chúng ta”.

Đỗ Hoàng Linh

bqllang.gov.vn

Tình yêu Bác Hồ giành cho những khúc dân ca

Đã có nhiều công trình nghiên cưú, nhiều bài báo, lời ca, câu truyện… ngợi ca vẻ đẹp con nguời Hồ Chí Minh – đó là vẻ đẹp của sự hoàn mỹ nhưng không xa lạ, vĩ đại mà gần gũi thân thương, toả sáng mà ấm áp hiền hoà. Bản thân Người, cuộc đời của Người là nguồn đề tài bất tận cho tất thảy những ai khao khát mong muốn cái đẹp “gieo mầm cho sự sống”. Cuộc vận động “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã khiến cho mỗi chúng ta biết dừng lại trong nhịp sống hối hả của cơ chế thị trường để tự soi mình vào tấm gương đạo đức Bác Hồ, tự gột rửa mình, làm cho mình sống tốt đẹp hơn lên, có ích cho gia đình và xã hội hơn. Và trước muôn vàn câu truyện kể về Người, trái tim tôi lại trào lên xúc cảm trước những phút giây cuối cùng trong cuộc đời Bác – đó là câu truyện về tình yêu của Người dành cho những khúc hát dân ca.

Vào buổi sáng ngày 2/9/1969, đây là buổi sáng cuối cùng trong cuộc đời 79 mùa xuân của Bác. Bởi sau 9 giờ sáng hôm ấy Người thực sự bước vào “ cuộc trường chinh nhẹ cánh bay”, để lại cho nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới một niềm đau thương, mất mát không thể nào diễn tả nổi bằng mọi ngôn từ.

Không gian của câu truyện cũng chỉ thu nhỏ trong căn nhà A67. Căn phòng này cách ngôi nhà sàn của Bác chỉ vài chục bước chân. Trước đó, theo lời đề nghị của bác sỹ, để tiện cho việc theo dõi, chăm sóc sức khoẻ của Người, ngày 18/8/1969, các đồng chí trong Bộ Chính trị và những đồng chí trực tiếp chăm sóc Bác đã chuyển Bác xuống ở căn phòng này.

Sau gần 20 ngày chống cọi với bệnh tật, Bác đã yếu lắm. Nhưng hễ tỉnh lại là ngay lập tức, Người hỏi thăm tình hình chiến đấu ở miền Nam, tình hình lũ lụt ở miền Bắc. Người còn dặn các đồng chí trong Bộ Chính trị phải làm sao tổ chức ngày lễ Quốc khánh thật long trọng để nhân dân vui, phải bắn pháo hoa cho nhân dân phấn khởi. Trong những giây phút cuối cùng, đứng giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết, đối diện với quy luật nghiệt ngã của sự tồn vong Bác vẫn luôn nghĩ cho đồng bào, cho đất nước mà “ nâng niu tất cả chỉ quên mình”. Nằm trên giường bệnh, sáng 2/9, lúc này Người đã rất mệt, mong muốn cuối cùng của Người là được gặp và thăm đồng bào miền Nam không thực hiện được, hơi thở của người mỗi lúc một yếu dần. Các đồng chí trong Bộ Chính trị và các bác sỹ không ai nỡ rời xa Người dù chỉ là một phút. Lần đầu tiên tỉnh lại sau cơn đau, Người nhìn xung quanh rồi hỏi:

– Trong các chú có ai biết hò Huế không?

Mọi người lúng túng nhìn nhau, quả là một tình huống không ai chuẩn bị trước. Thường ngày, Người vẫn thường nói “ miền Nam luôn ở trong trái tim tôi”, thêm vào đó Huế vốn là mảnh đất gắn bó cùng Người suốt một thời gian dài tuổi thơ. Giờ đây, trong những phút cuối cùng, có lẽ Người mong muốn mang hình ảnh miền Nam yêu thương, hình ảnh núi Ngự, sông Hương với những kỷ niệm buồn đau theo mình vào cõi vĩnh hằng bất tử. Nỗi niềm ấy của người dường như ai cũng thấu hiểu, nhưng tìm nghệ sỹ hò Huế lúc này thật khó.

Lần thứ hai tỉnh lại, Người lại hỏi. Lúc này giọng người đã yếu hơn nhiều:

-Trong các chú, ai có thể hát cho Bác nghe một làn điệu ví dặm Nghệ Tĩnh được không?

Thêm một lần nữa sự im lặng và bối rối bao trùm căn phòng. Câu ví dặm câu hát dân ca xứ Nghệ đã bao bọc và nuôi dưỡng tâm hồn Người từ thủa lọt lòng. Ngươì lớn lên và đi ra thế giới từ chiếc nôi văn hoá quê hương mặn mòi tình nghĩa ấy. Trước giây phút sắp biệt ly Người khao khát được nghe, được sống trong hơi ấm quê hương.

Lần thứ ba tỉnh lại, Người ngỏ ý muốn nghe một khúc dân ca quan họ Bắc Ninh, lần này thật may mắn khi cô y tá bé nhỏ Ngô Thị Oanh tiến lại gần Bác: “Thưa Bác, cháu xin hát cho Bác nghe ạ”. Với chất giọng trong trẻo của người con gái Vĩnh Phúc, chị cất lời hát “ Ngươì ở đừng về”.. Căn phòng nhỏ chìm trong tiếng hát. tiếng hát hay tiếng lòng! Không ai phân biệt được. Chỉ biết rằng lời quan họ sâu lắng, tha thiết quá. “ Người ơi, người ở đừng về. Mà người ơi, người ở đừng về” đã nói hộ lòng người. Cô y tá càng hát càng ngẹn ngào, những người xung quanh không ai cầm được nước mắt. 9 giờ 47 phút ngày 2/9/1969 trái tim vĩ đại của Bác Hồ đã ngừng đập, để lại muôm vàn tình thưong yêu cho đồng bào cả nước. Sinh ra và lớn lên từ trong câu hát dân ca, từ điệu ví dặm ầu ơ ngọt ngào đằm thắm của mẹ, cuối cùng Ngươì thanh thản nhẹ nhàng bước vào cuộc trường sinh bằng âm hưởng tiếng hát dân ca.

Sau này, trong một bài báo tôi còn đựơc biết chị Ngô Thị Oanh, cô y tá viện quân y 108, người hát khúc hát dân ca “ Ngươì ở đừng về” vào những giây phút cuối cùng của cuộc đời Bác kể lại: Sau khi chị hát xong, Bác Hồ nhìn chị, chị cảm giác như Bác đang mỉm cười. Người còn bảo lấy bông hoa hồng bạch trên bàn mang tặng chị. Cử chỉ nhỏ mà ý nghĩa thật to lớn. Cho đến phút cuối đời, quên cả nỗi đau đang vò xé, Người vẫn giành trọn niềm yêu thương, sự quan tâm đặc biệt cho mỗi người, đặc biệt là phụ nữ. Và bông hoa hồng nhỏ bé ấy chị đã ép khô để luôn giữ và xem nó là vật kỷ niệm thiêng liêng theo chị suốt cả cuộc đời:

Giấu mình đi Người chẳng làm phiền ai cả
Dép một đôi, áo quần vài bộ
Chỉ có trái tim bao la là tất cả gia tài

Câu truyện giản dị mà sâu sắc như biết bao câu truyện kể về Người. Từ những tình tiết của câu truyện ta nhận thấy ở Người một tình yêu lớn bao la và đặc biệt. Ngưòi không chỉ yêu cuộc sống, yêu con người, không những chẳng làm đau một chiếc lá trên cành, thích sống hoà đồng với thiên nhiên, cỏ cây hoa lá mà Người còn yêu biết mấy những khúc hát dân ca. Người thèm nghe một câu hò Huế, một làn điệu ví dặm hay một khúc quan họ đâu phải chỉ là nghe hát mà chính là để mang cả hình ảnh quê hương xứ sở, hình ảnh miền Nam yêu thương vào cuộc trường sinh. Cả cuộc đời người sống cho nhân dân, cho dân tộc, không gợn chút riêng tư, hành trang mà Người mang theo về thế giới người hiền chỉ là ước nguyện bình dị : Mang theo âm hưởng câu hát dân ca vào cõi bất tử. Người đã để lại cho chúng ta bài học sâu sắc, thấm thía rằng muốn yêu Tổ quốc mình, càng yêu tha thiết những câu hát dân ca. Bởi khúc dân ca là linh hồn, là nơi nắng đọng tình yêu, tinh hoa, bản sắc văn hoá dân tộc. Nó là nguồn sữa tinh thần bồi đắp và nuôi dưỡng tâm hồn con người. Trước lúc đi xa Người muốn thế hệ sau hãy yêu những câu hát dân ca, hãy trân trọng và giữ gìn nền văn hoá của dân tộc.

NSUT Phạm Quỳnh Hoa

bqllang.gov.vn