Thư viện

Là tướng càng phải học

Năm 1964, kỷ niệm 10 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, Tổng cục Chính trị điện cho tướng Vương Thừa Vũ – lúc đó là Tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn – về Tổng cục nhận bài phát biểu do cơ quan đã viết sẵn để sáng ngày 07 tháng 05 đọc trước cuộc mít tinh.

Ông về sớm nhận bài phát biểu đã đánh máy sẵn trên giấy đen, bằng máy chữ của Pháp cũ, chữ nhỏ không có dấu, chấm phẩy không rõ. Ông đọc trước, tự đánh dấu vào từng chữ, từng câu. Khi mít tinh, đến lượt ông đọc bài phát biểu, nhưng do chữ nhỏ và mờ, ông đọc không rõ một số từ và dừng nghỉ không đúng chỗ. Sau mít tinh, Bác Hồ gọi ông vào nhà sàn. Bác hỏi:

– Từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ đến nay chú đã học thêm văn hóa đến đâu?

Tướng Vương Thừa Vũ trả lời:

– Thưa Bác, cháu đã học xong các lớp do Tổng cục Chính trị tổ chức.

– Bác Hồ lại hỏi:

– Sau lớp tập trung về đơn vị có học thêm nữa không?

Tướng Vũ đáp:

– Dạ thưa Bác, do bận nhiều công việc nên cháu không học nữa.

Bác Hồ trầm ngâm giây lát rồi tháo chiếc đồng hồ ở cổ tay mình đeo vào cổ tay tướng Vũ và ân cần nói:

– Bác cho chiếc đồng hồ này, về đơn vị phải tiếp tục học “Là tướng càng phải học, học suốt đời…”.

Tướng Vương Thừa Vũ rất xúc động, xin hứa làm theo lời Bác dạy.

Về đơn vị, ông yêu cầu sắp xếp công việc trong ngày, trong tuần có giờ học văn hóa. Ông đặt chỉ tiêu phấn đấu và định kỳ thời gian về báo cáo kết quả học tập cho Bác. Phòng văn hóa phân công anh Phạm Tiến Đại – sau này là đại tá ở xưởng phim quân đội-giúp tướng Vũ học Toán; giáo viên khác giúp ông học Lý, Hóa. Nhóm chúng tôi giúp ông học Văn, Sử, Địa. Hằng ngày, đến chiều nhìn đồng hồ của Bác cho, xem giờ, ông điện thoại nhắc chúng tôi đến đúng giờ để ông được học tập.

Những lần đi công tác, ông thường đem kiến thức đã học được ứng dụng vào thực tế như kiểm tra vũ khí khí tài của bộ đội phòng thủ bờ biển, ông hỏi cán bộ tham mưu nhắc lại những công thức hóa học làm gỉ sắt; có lần kiểm tra pháo binh bắn đạn thật, ông hỏi về công thức toán. Cán bộ tham mưu động viên ông cố gắng học lên nữa thì giải thích mới hiểu được. Ông rất chú ý lắng nghe ý kiến của cấp dưới. Ông bảo: “Càng học càng thấy nhiều điều mình chưa biết gì”.

Khi Bộ điều ông về làm Phó Tổng tham mưu trưởng, ông thực hiện nghiêm túc chỉ thị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, hằng tuần một số cán bộ cao cấp và tướng lĩnh của Bộ Tổng tham mưu, Bộ Quốc phòng đều phải học tại chức vào chiều thứ bảy tại ngôi nhà một tầng cạnh hầm chỉ huy của Cục Tác chiến. Chương trình học rất linh hoạt “cần gì học nấy”. Khi Mỹ sử dụng bom La-zer, cán bộ học tập ngay về vũ khí La-zer và điều khiển học; ôn lại các chương trình về vũ khí hóa học và vũ khí nguyên tử; học về tâm lý học và tâm lý học quân sự do giáo viên Đại học Sư phạm và giáo viên trường Trung Cao Chính trị đến trình bày. Riêng về Khoa học quân sự mặc dù đã được đào tạo cơ bản tại một trường sĩ quan ở Côn Minh, sau này lại được học tại Học viện quân sự Nam Kinh-Trung Quốc, nhưng ông vẫn mời cán bộ đến nhà giảng dạy và ông tự nghiên cứu. Điều gì chưa rõ ông tìm cán bộ để hỏi. Tướng Hoàng Minh Thảo ở Tây Nguyên viết cuốn Tổ tiên ta đánh giặc gửi ra Hà Nội tặng ông. Ở trường Trung Cao, tướng Đỗ Trình cũng viết một tập về Tổ tiên ta đánh giặc in Rônêô trên giấy đen gửi biếu tướng Vũ. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ra một số sách về Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung…, ông mời anh Phạm Ngọc Phụng, giáo viên trường Trung Cao quân sự đến trình bày. Tướng Vũ yêu cầu chúng tôi sưu tầm các tập nghị quyết quân sự của Đảng từ năm 1930 đến năm 1960 khoảng 500 trang để ông nghiên cứu. Tướng Trần Độ thấy ông say sưa học tập, nghiên cứu đã tặng ông một tập do chính tay tướng Trần Độ viết, in Rônêô về “Tư tưởng quân sự và học thuyết quân sự Xô Viết”-Đúc kết kinh nghiệm đại chiến Thế giới thứ hai.

Tướng Vũ yêu cầu chúng tôi sưu tầm đủ 06 tập Luận văn quân sự của Ăng – ghen. Hiện nay chúng tôi còn giữ được 05 tập khoảng 1.300 trang tướng Vương Thừa Vũ đã đọc, đánh dấu, gạch dưới những đoạn cần lưu ý.

Qua học tập nghiên cứu, kết hợp kinh nghiệm thực tế của bản thân cùng với kinh nghiệm thực tế của các chiến trường, ông đã viết 11 cuốn sách và còn 119 trang bản thảo viết tay chưa in.

Trước khi ra đi về cõi vĩnh hằng, ông đã gửi lại Bảo tàng Quân đội chiếc đồng hồ của Bác Hồ kính yêu đã tự đeo vào cổ tay ông và ân cần dặn dò ông “Là tướng càng phải học!”. Cả cuộc đời ông đã nghiêm túc thực hiện lời dạy của Bác.

Thiếu tướng TS. Nguyễn Chu Phác

bqllang.gov.vn

Chú mặc cũng như tôi mặc

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, nhân dân ta từ các cụ phụ lão, phụ nữ, thiếu niên nhi đồng, các tăng ni, phật tử, đồng bào theo các tôn giáo… thường gửi khăn mặt, áo len, áo trấn thủ tặng Bác. Đồng bào biết rõ, tuy là Chủ tịch nước nhưng nước còn nghèo, Bác lại sống giản dị, tiết kiệm nên chắc là không muốn may mặc gì. Đồng bào sợ Bác lạnh, không chống đỡ được cái rét Việt Bắc, núi đá, sương mù…

Bác nhận được áo tặng, bao giờ cũng có thư cảm ơn, nhờ các chiến sĩ giao thông, Văn phòng Chính phủ, Uỷ ban nhân dân chuyển tới. Quà áo thì nhiều, nhưng nào Bác có mặc. Nay Bác tặng ông Đặng Phục Thông, mai Bác lại nhờ người đến tặng bác sĩ Trần Hữu Tước. Đọc báo biết tin có chiến sĩ liên lạc có thành tích cao, Bác chuyển tới đơn vị một bộ quần áo tặng đồng chí ấy. Gặp ai, không có khăn quàng, Bác cởi chiếc khăn đang quàng, quấn vào cổ khách… Bác thường nói:

– Cụ mặc, chú mặc cũng như tôi mặc. Chú ấm cũng như tôi ấm.

Mùa đông năm 1948, ở Việt Bắc có lẽ là mùa đông rét nhất trong những năm kháng chiến chống Pháp. Quân dân ta tuy đã đánh tan cuộc tấn công thu đông 1947 của giặc Pháp nhưng cũng chưa có điều kiện để trang bị nhiều quần áo, vũ khí cho bộ đội. Năm ấy, ở vùng Thái Nguyên – Tuyên Quang đến 9, 10 giờ sáng mà sương mù vẫn chưa tan, mặt trời vẫn chưa rạng để sưởi ấm cho con người. Rét, lạnh, sương giá nên rất dễ bị ho. Đi phục kích địch mà không giữ được ấm cổ, ho lên vài tiếng có khác gì “lạy ông tôi ở bụi này”. Ở ATK gác đêm mà bị ho thì cũng không có lợi. Anh em đã xin, đã mua và trồng gừng để ngậm, cố giữ ấm ngực, để không bị ho.

Có một chiến sĩ cảnh vệ trẻ, đến phiên gác tại Văn phòng Phủ Chủ tịch. Đêm đã khuya vẫn thấy ngọn đèn trong phòng Bác Hồ sáng. Anh biết là Bác đang còn làm việc. Và anh tự bảo là phải giữ cho đừng ho. “Ho lên là gay lắm, như lời tiểu đội trưởng dặn”. Anh xoa tay vào cổ, ngậm miệng, bịt tay chắn mũi để không cho hơi lạnh vào người… Nhưng rồi anh vẫn ho, ho nhiều…

Nghe tiếng ho, Bác đi ra, đến bên anh, nhìn anh quần áo mỏng manh. Bác nói nhẹ:

– Cháu mặc thế thảo nào chẳng lạnh.

Bác quay vào nhà lấy ra một cái áo trấn thủ, đưa cho anh chiến sĩ:

– Cháu mặc vào cho đỡ rét.

Bác muốn anh chiến sĩ trẻ “cơm chưa no, lo chưa tới” này đỡ khó khăn vất vả. Anh chiến sĩ lại thương Bác nhiều tuổi, trăm công nghìn việc, nên không dám nhận.

Như hiểu ý anh, Bác giục:

– Cháu cứ giữ lấy mà mặc. Bác đã có áo khác rồi. Mặc như thế này làm sao chẳng ho. Thôi, mặc vào cháu.

Và tự tay Bác lồng cái áo trấn thủ vào vai anh lính trẻ.

(Theo Nguyễn Văn Khoan – Trần Quang Khánh – “Bác Hồ với chiến sĩ”
Nxb Quân đội nhân dân, H, 1999, tr.25)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ rèn luyện sức khỏe

Sinh thời, Bác Hồ rất chú ý rèn luyện sức khỏe và động viên mọi người cùng tập thể dục, thể thao. Bác bảo: “Tự tôi, ngày nào cũng tập”. Ngày nay, chúng ta thực sự xúc động khi xem những thước phim và bức ảnh tư liệu quý ghi lại hình ảnh Bác tập quyền, tập thể dục, chơi bóng chuyền…

Theo đồng chí Hoàng Hữu Kháng – người trực tiếp bảo vệ Bác Hồ từ năm 1945 đến 1951 thì cuối năm 1945, theo đề nghị của Bác, trong một tuần, ông đã hướng dẫn Người bài “Bát bộ liên hoa quyền”, gồm 49 động tác. Biết Bác thích bóng chuyền và bơi, nên mọi người cố gắng bố trí gần cơ quan trung ương có sân bóng và sông, suối. Kể cả ở chiến khu, sân, suối đều cách chỗ ở cả cây số, Bác vẫn cố gắng tập luyện hằng ngày.

Khi đánh bóng chuyền Bác rất vui, còn cổ vũ mọi người cùng chơi vui vẻ. Anh em gọi Bác là “tủ” và khi có bóng lại hò nhau “Bỏ vào “tủ”!…”. Bác cười, đập tay vào người và hô to: “A, nó truy “tủ”! Kháng, Chiến, Trường, Kỳ đâu, mau bảo vệ “tủ”!”. Quả bóng nào Bác đánh không qua lưới, Người liền giải thích: “Không, quả này Bác đánh ngoại giao; quả này để tăng tình bằng hữu!”. Tất cả đều cảm thấy gần gũi, vui vẻ…

Về mùa hè, những lần Bác đi công tác phải qua sông, suối, anh em bảo vệ đều chuẩn bị thuyền hoặc mảng để Bác dùng. Nhưng chỉ khi nào nước sông suối lớn, chảy xiết, Người mới đi thuyền. Còn không, Bác nhất định không chịu ngồi thuyền mà tự bơi cùng anh em trong đoàn. Khi lên bờ, Bác còn nói vui: “Bơi thế này vừa sạch người, vừa khỏe!”

Sau này về Hà Nội, công việc quá bận, nhất là tiếp khách triền miên, Bác ít có điều kiện chơi bóng chuyền và bơi. Sáng sáng, Người vẫn dậy sớm tập quyền, đi bộ và cho cá ăn. Những công việc ấy, Bác coi là chương trình thể thao hằng ngày của mình.

Liên Hà

bqllang.gov.vn

Bác ở Pác Bó

Pác Bó là nơi phát nguyên của sông Giàng, một nhánh của con sông Bằng, hợp với sông Hiến rồi chảy sang Long Châu, Trung Quốc. Pác Bó cũng như phần đông các ngọn nguồn khác, nước từ các hang đá chảy ra, nhưng đặc biệt là hang này rất cao, khi mưa mới có nước chảy, còn mùa khô, nước chỉ ngấm qua các khe đá. Ngay ngoài cửa hang là một vực sâu, nước trong xanh nhìn thấu đáy, có từng đàn cá rầm xanh bơi lượn.

Trong hang không tối lắm, nhưng phải ngồi lâu mới nhìn rõ cảnh vật bên trong. Lòng hang không bằng phẳng mà lô nhô những đá. Những ngày mưa, nước rỉ theo khe đá chảy vào hang, lạnh thấu xương, Bác Hồ đã ở đây trong những năm gian khổ.

Sáng nào, Bác cũng dậy sớm tập thể dục. Bác tập rất đều, rất đúng giờ. Cứ trông thấy Bác dậy, không cần xem đồng hồ cũng biết lúc đó là năm giờ. Dụng cụ thể thao của Bác là hai hòn đá to bằng quả trứng vịt, Bác thường nắm nắm để luyện tập gân tay; và hai đôi chày, một đôi vừa, một đôi thật to và nặng để thay quả tạ sắt tập hàng ngày. Bác thường tắm sớm sau giờ tập thể dục để chống lạnh. Ngoài ra, Bác còn tập leo núi. Nói về tài đi bộ, leo núi của Bác thì ít người theo kịp.

Bác tập thể dục xong, tắm, rồi làm việc. Công việc buổi sáng của Bác thường là viết lách, dịch sách hoặc viết báo. Buổi trưa, Bác gặp cán bộ, nghe báo cáo tình hình hoặc bồi dưỡng cho cán bộ về lý luận cách mạng và kinh nghiệm công tác. Buổi chiều, Bác lại tiếp tục công việc buổi sáng. Nhưng dù bận mấy, Bác vẫn dành ra một số thời gian để làm vườn, đi lấy củi hoặc sửa sang chỗ ăn ở. Buổi tối, thường là Bác đọc sách, nói chuyện, giáo dục cho cán bộ, hoặc đi đến với đồng bào, đầu để trần, mặc bộ quần áo chàm giản dị như một ông già địa phương. Mười giờ tối, Bác đi ngủ.

Một ngày làm việc bình thường của Bác là như thế. Lúc nào có công tác gì khác, Bác sắp xếp lại thời gian và thực hiện kế hoạch mới của ngày đó. Có lần Bác đi công tác xa về đúng vào giờ đọc báo hàng ngày, Bác treo mũ, cất gậy và ngồi ngay vào bàn đọc báo. Đồng chí phục vụ mời Bác đi nghỉ, Bác bảo: “Cứ để Bác đọc. Bác đã quen như thế rồi”. Đối với Bác, thời gian rất quý, Bác tranh thủ tường phút để suy nghĩ và giải quyết thêm một số công việc.

Có thể nói, suốt một ngày, suốt cả cuộc đời hoạt động của Bác, trừ lúc ngủ, không một phút nào Bác không làm việc để đem lại lợi ích chung cho cách mạng.

(Trích trong tác phẩm BÁC HỒ KÍNH YÊU, Nhà xuất bản Kim Đồng, năm 1980)

CÂU CHUYỆN CÁI ĐỒNG HỒ-BÀI HỌC VỀ SỰ ĐOÀN KẾT

“Năm 1954, các cán bộ tham gia cải cách ruộng đất đang dự Hội nghị tổng kết ở Hiệp Hòa (Hà Bắc) để rút kinh nghiệm làm tốt đợt mới ở vùng giải phóng, thì có lệnh Trung ương rút bớt một số người đi học lớp tiếp quản Thủ đô. Ai nấy đều háo hức muốn đi. Nhất là những người quê Hà Nội. Bao năm xa nhà, nhớ Thủ Đô, nay được dịp về công tác, anh em bàn tán rất sôi nổi. Nhiều người đề nghị cấp trên chiếu cố nỗi niềm riêng đó và cho được toại nguyện. Tư tưởng cán bộ dự hội nghị có chiều phân tán… Ban lãnh đạo ít nhiều thấy khó xử.

Giữa lúc đó thì Bác Hồ đến thăm Hội nghị. Hôm đó giữa mùa thu, nhưng trời vẫn còn nóng. Bác bước lên diễn đàn, mồ hôi ướt đầm hai bên vai áo nâu của Bác…Khi tiếng vỗ tay đã ngớt, Bác hiền từ nhìn khắp hội trường và nói chuyện về tình hình thời sự. Nói đến nhiệm vụ của toàn Đảng trong lúc này, Bác bỗng rút trong túi áo giơ ra một chiếc đồng hồ quả quýt và hỏi:

– Các chú có trông thấy cái gì đây không ?

Mọi người đồng thanh:

– Cái đồng hồ ạ.

– Thế trên mặt đồng hồ có những chữ gì ?

– Có những chữ số ạ.

– Những cái kim ngắn, kim dài để làm gì ?

– Để chỉ giờ, chỉ phút ạ.

– Cái máy bên trong dùng để làm gì ?

– Để điều khiển cái kim chạy ạ.

Bác mỉm cười, hỏi tiếp:

– Thế trong cái đồng hồ, bộ phận nào là quan trọng ?

Mọi người còn đang suy nghĩ thì Bác lại hỏi:

– Trong cái đồng hồ, bỏ một bộ phận đi có được không ?

– Thưa không được ạ.

Nghe mọi người trả lời, Bác bèn giơ cao chiếc đồng hồ lên và kết luận:

– Các chú ạ, các bộ phận của một chiếc đồng hồ cũng ví như các cơ quan của một Nhà nước, như các nhiệm vụ của cách mạng. Đã là nhiệm vụ của cách mạng thì đều là quan trọng, đều cần phải làm. Các chú thử nghĩ xem: Trong một chiếc đồng hồ mà anh kim đòi làm anh chữ số, anh máy lại đòi ra ngoài làm cái mặt đồng hồ…cứ tranh nhau chỗ đứng như thế thì có còn là cái đồng hồ được không ?

Chỉ trong ít phút ngắn ngủi, câu chuyện chiếc đồng hồ của Bác đã khiến cho ai nấy đều thấm thía, tự đánh tan được những suy nghĩ riêng tư vô lý”.

(Trích trong tác phẩm BÁC HỒ KÍNH YÊU, Nhà xuất bản Kim Đồng, năm 1980)

Qua mẩu chuyện trên, ta có thể rút ra được rất nhiều điều có ý nghĩa:

1. Trong mỗi cơ quan, đơn vị: mỗi cá nhân được phân công một nhiệm vụ và có bổn phận làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao, có như vậy thì mới tạo nên hiệu quả chung của cả tập thể cơ quan, đơn vị. Cần phải hiểu rằng việc phân cấp các chức danh, chức vụ trong cơ quan, đơn vị nhằm phân biệt nhiệm vụ, quyền hạn mà bản thân mỗi cá nhân phải thực hiện khi đảm nhận chức trách đó.

Việc suy bì, tính toán hơn thiệt về quyền lợi, trách nhiệm trong khi thực hiện nhiệm vụ, hoặc hành vi lánh nặng tìm nhẹ, suy nghĩ quan liêu, cục bộ… sẽ dễ dẫn đến sự mất đoàn kết trong nội bộ, từ đó sẽ ảnh hưởng đến kết quả thực hiện nhiệm vụ chung của cả đơn vị. Ngược lại nếu các cá nhân trong một tập thể nhận thức được vai trò, chức trách của mình và cố gắng thực hiện tốt nhiệm vụ được phân công, bất kể là ở vị trí Thủ trưởng hay nhân viên, tất cả đều nhắm tới một mục tiêu chung của đơn vị thì hiệu quả công tác chắc chắn đạt tỷ lệ cao.

2. Trong xã hội: Bằng những đặc điểm riêng của mình mà các ngành, các cấp… khác nhau tạo nên một bức tranh xã hội phong phú. Hãy thử tưởng tượng nếu tất cả mọi người đều đi làm công nhân hết thì lấy đâu ra người nông dân để trồng trọt, chăn nuôi tạo ra lương thực, thực phẩm nuôi sống xã hội, nếu ai cũng muốn làm kỹ sư thì lấy đâu ra thợ để thực hiện những việc thủ công… Những nét riêng đó kết lại với nhau tạo thành một xã hội hoàn chỉnh.

3. Trong công tác Mặt trận: các giai tầng, các ngành, các giới, các dân tộc – tôn giáo trong xã hội đều có đặc điểm riêng. Người làm công tác Mặt trận cũng giống như người thợ sửa đồng hồ, phải biết gắn kết những đặc điểm riêng lại để tạo nên một khối thống nhất thực hiện nhiệm vụ chính trị thông qua các phong trào hành động cách mạng tại đơn vị, địa phương. Có như vậy thì “cái đồng hồ” do Mặt trận làm ra sẽ chạy tốt, phục vụ cho xã hội một cách có hiệu quả nhất.

Theo nguồn: http://www.ubmttq.hochiminhcity.gov.vn
Anh Tú (st)

bqllang.gov.vn

Tấm danh thiếp đầu tiên Bác Hồ gửi cho báo chí

Danh thiếp Bác Hồ gửi cho báo Xung phong.

Có một người tham gia cách mạng từ khi tuổi còn nhỏ đến khi về hưu; người đó, suốt cả cuộc đời lại chỉ làm công tác thiếu nhi. Đó là ông Quản Tập – Nguyên Phó Tổng biên tập báo Thiếu niên Tiền phong.

Năm 1946, Quản Tập, người Đội trưởng đội Hướng Đạo Sinh xuất sắc được cấp trên cử đi dự cuộc gặp mặt Đội Hướng Đạo Sinh Việt Nam do cụ Hoàng Đạo Thúy triệu tập ở Hà Nội tại Đông Dương học xá tức là chỗ trường Đại học Bách khoa Hà Nội bây giờ.

Đội Hướng Đạo Sinh do Quản Tập làm Đoàn trưởng có tên là Hồng Châu (lấy tên vùng quê trong lịch sử gồm nhiều huyện như Ninh Giang, Tứ Kỳ thuộc tỉnh Đông – tức Hải Dương bây giờ). Các đoàn cắm trại làm lều riêng biệt có trang trí cờ hoa rất đẹp. Các đội viên mặc áo nâu, quần xanh, có khăn thắt nút, đội nón, chống gậy tre…

Bỗng từ xa có một đoàn người lớn đến thăm trại. Đi đầu là cụ Hoàng Đạo Thúy, ông Tạ Quang Bửu (Cụ Hoàng Đạo Thúy, ông Tạ Quang Bửu là Hội trưởng, Hội phó Hướng Đạo Sinh Việt Nam). Đi sau là một ông già dáng người tầm thước, trán cao, mắt sáng. Đó là Hồ Chủ tịch. Sau khi thăm trại, Cụ Hồ dừng lại trước mặt Quản Tập. Cụ hỏi:

– Cháu ở đoàn nào?

– Dạ thưa Cụ, cháu ở đoàn Hồng Châu.

Cụ lại hỏi:

– Tại sao lại là Hồng Châu?

– Thưa Cụ, đó là tên lịch sử cũ của vùng quê cháu thuộc tỉnh Đông.

– Thế à, rất hay.

Rồi Cụ nhận xét:

Báo Xung phong của thiếu nhi Ninh Giang, số Tết Mậu Tý 1948

– Trại của các cháu rất đẹp, lều cọc đều rất tốt, các cháu lại còn biết đào hố để bỏ rác thế là rất vệ sinh…

Quản Tập cầm một xâu bánh gai đến gần Cụ Hồ.

– Thưa Cụ, đây là bánh gai, sản phẩm của quê cháu, ngon nhất nước, cháu biếu Cụ.

– Cảm ơn các cháu.

Nói rồi Cụ bước qua hàng rào làm bằng dây thừng. Quản Tập chạy lên phía trước, vừa đi thụt lùi vừa ngắm Cụ. Cụ nói:

– Cháu phải cẩn thận, đi như thế dễ vướng vào dây, ngã đau đó.

– Cháu đi thế để ngắm Cụ được nhiều hơn, khi về cháu vẽ Cụ trên tờ báo tường ạ.

Thấy cử chỉ tinh nghịch ấy, Cụ cũng đứng lại:

– Cám ơn nhà báo tường.

Sở dĩ như thế là vì phong trào làm báo tường trong thiếu niên thời đó rất phát triển.

Báo Xung phong của thiếu nhi Ninh Giang, số Tết Mậu Tý 1948

Sau buổi ấy, Quản Tập về báo cáo cho Huyện bộ Việt Minh, được Huyện bộ Việt Minh khen ngợi và cho đó là một vinh dự cho huyện nhà. Năm 1947, Đội Thiếu niên Ninh Giang hoạt động rất mạnh. Lúc này Ninh Giang đã tiêu thổ kháng chiến, Đội Thiếu niên đi về hàng ngày truyền thông tin lên huyện, tỉnh và ngược lại. Đội Thiếu niên được tổ chức trò chơi tập thể, vui chơi giải trí, tập múa hát những bài ca cách mạng… Đội thành lập tờ báo, lấy tên là Xung phong. Tờ Xung phong được dán ở các chòi thông tin. Hình thức báo cũng giống như những tờ báo tường lúc đó.

Các đội viên có nhiệm vụ viết những thông tin mình biết lên một tờ giấy, viết thành nhiều bản rồi tập hợp dán ở những nơi đông người qua lại. Báo chủ yếu nói lên những điều cấp trên cần truyền đạt xuống người dân, và những tiếng nói của người dân muốn phản ánh cấp trên một cách đơn giản.

Nhà báo Thép Mới và họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm có lần được tiếp xúc với “Ban Biên tập” đã khen ngợi: “Tờ báo rất đẹp. Trên thế giới chưa có tờ báo nào như thế”.

Báo Xung phong của thiếu nhi Ninh Giang, số Tết Mậu Tý 1948

Đến tháng 6-1947, khi Quản Tập được điều về tỉnh công tác, ông tổ chức tờ báo lớn hơn, phạm vi hoạt động rộng lớn hơn. Mới đầu vẫn là tờ báo viết tay, chép thành nhiều bản, phát hành theo đường dây thiếu niên giao thông đi dán ở những nơi công cộng, tập trung đông người. Sau đó, tờ báo bắt đầu in li tô. Huyện đội Việt Minh ngoài việc cung cấp giấy, đá li tô, mực in còn lùng sục để mua đá, có khi phải lên tận Hà Nội để mua giấy Mỹ… Khi in li tô được nhiều bản (100 tờ dán ở các chòi thông tin), tờ dành riêng một số gửi cho Cụ Hồ ở chiến khu Việt Bắc.

Báo gửi cho Cụ Hồ ở Việt Bắc cũng đi theo đường thiếu niên giao thông theo địa chỉ: Kính gửi Cụ Hồ Chủ tịch – Chiến khu Việt Bắc.

Bỗng một hôm, Đội Thiếu niên giao thông đưa về một chiếc phong bì bé xíu, bằng giấy xi măng ở góc có số công văn 15 MCH2.

Kính gửi: Báo Xung phong – Cơ quan của trẻ em yêu nước tỉnh Hải Dương. Trong phong bì là một tấm danh thiếp của Cụ Hồ.

Tấm danh thiếp in hai mặt: Mặt sau có chữ Hồ Chí Minh bằng chữ Hán. Mặt trước ở giữa là chữ Hồ Chí Minh bằng chữ quốc ngữ, toàn bộ là 8 câu thơ lục bát được đánh máy bằng loại rubăng mực tím:

Bác nhận được báo Xung phong
Cảm ơn các cháu có lòng gửi cho
Các cháu nghe Bác dặn dò
Phải biết yêu nước, phải lo học hành
Siêng làm việc, siêng tập tành
Phải giữ kỷ luật là thành cháu ngoan
Bác yêu các cháu muôn vàn
Bác gửi các cháu một ngàn cái hôn.

Thời gian sau, gặp ông Vũ Kỳ, thư ký riêng của Bác Hồ, Quản Tập nói lại chuyện đó.

Ông Vũ Kỳ nói:

– Thế là các cậu quá vinh dự. Không phải ai Bác cũng gửi danh thiếp. Phải là người được Bác yêu quý lắm.

– Thế thật hả anh?

– Chứ sao, cậu có cái may là báo trẻ em. Báo trẻ em duy nhất của cả nước khi ấy.

Đây là danh thiếp đầu tiên Bác Hồ gửi cho báo chí.

Tỉnh ủy Hải Dương cũng coi đó là vinh dự cho cả tỉnh. Vì thế hồi ấy ông Vũ Kiên là Bí thư Tỉnh Đoàn, sau làm Thường vụ Tỉnh ủy Hải Dương, Phó Bí thư Tỉnh ủy Nam Định, nay đã bước sang tuổi 90 (ông là một trí thức, đã học trường Bưởi – trường THPT Chu Văn An bây giờ) cho phát triển tờ báo, chọn phóng viên và mở rộng đề tài của báo, cho đăng cả thơ ca, hướng dẫn thể dục thể thao và các phong trào cách mạng ở địa phương.

Cũng phải nói thêm rằng, tờ báo Xung phong ra đời và phát triển được là nhờ sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy Hải Dương. Đồng chí Vũ Huy Hiệu, Bí thư Tỉnh ủy về sau làm Thống đốc Ngân hàng Việt Nam, năm nay vừa tròn 100 tuổi và đồng chí Phan Điền, Phó Bí thư Tỉnh ủy phụ trách công tác dân vận và tài mậu (sau làm Bí thư Tỉnh ủy Nam Định) đã có công xây dựng, tạo mọi điều kiện cho báo phát triển.

Một trong những người có công với tờ báo Xung phong phải kể đến ông Quốc Tiến (lúc ấy 14 tuổi) người trình bày và viết bài lên đá để in li tô được nhiều bản. Ông Tiến hiện nay đã 78 tuổi, đang ở thành phố Hồ Chí Minh.

Báo Xung phong phát triển nên năm 1948 đã tổ chức Hội nghị Cộng tác viên. Danh thiếp của Bác Hồ được Tỉnh ủy cho giấy in hàng loạt phát cho mỗi thiếu nhi trong tỉnh một tờ.

Cũng năm 1948, Hội những người làm báo Việt Nam tổ chức Đại hội báo chí miền Duyên hải Bắc Bộ – các tỉnh ven biển miền Bắc như Hải Dương, Thái Bình, Hải Phòng, Nam Định, Móng Cái – do ông Hoàng Tùng, Phó Chủ nhiệm Việt Minh Khu 3, ông Nguyễn Tường Phượng, trưởng đoàn báo chí kháng chiến chủ trì. Báo Xung phong cũng được cử đại biểu đi dự Đại hội ngang với các tờ báo khác.

Ngày 15-5-1950, Quản Tập được điều về Ban Huynh trưởng Thiếu nhi Trung ương. Lúc ấy, ông Lưu Hữu Phước, nhạc sĩ giữ chức Trưởng ban Huynh trưởng. Quản Tập được dự lễ kỷ niệm lần thứ 60 sinh nhật Bác Hồ và tổ chức ngày Quốc tế Thiếu nhi đầu tiên của Việt Nam, được Trung ương Đoàn giao việc chuẩn bị xuất bản báo Yêu trẻ. Điều đáng nói là khi lên Trung ương Đoàn (1950), Quản Tập có mang nhiều tờ báo Xung phong đi theo.

Ông Lưu Hữu Phước khi đi dự Liên hoan Thanh niên sinh viên Thế giới ở Béc-lin (CHDC Đức) (VN là hội viên) có mang 10 tờ báo Xung phong trưng bày ở Liên hoan. Các đại biểu dự liên hoan rất thích tờ báo ấy vì họ thấy tờ báo trẻ em mà làm rất đẹp, nội dung rất phong phú được ra đời trong khi đất nước Việt Nam còn non trẻ, kháng chiến bộn bề./.

Theo Tienphong.vn
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

“Miệng nói, tay làm giúp các chú tốt hơn…”

Bác Hồ hỏi chuyện anh Nguyễn Văn Nuôi - đang chống que chọc lò rèn lưỡi cày. Ảnh: Đinh Đăng Định

Ông Lê Bá Cải – Ủy viên Ban Liên lạc những người trực tiếp phục vụ Bác Hồ hiện ở Khu tập thể Văn phòng Chính phủ, phường Phương Mai (Hà Nội) còn giữ được tấm ảnh quý giá và nhớ mãi những câu chuyện như bài học Bác dạy…

Đầu năm 1953, ông Cải cùng nhiều thanh niên quê Thanh Hóa được tuyển chọn điều lên Chiến khu Việt Bắc, bổ sung vào Đội Xây dựng thuộc Ban kiểm tra 12 – bí danh của Phủ Chủ tịch – Phủ Thủ tướng tại An toàn khu (ATK) Sơn Dương, Tuyên Quang.

Cuối năm đó, một đêm cả vùng bị cơn lốc mạnh làm đổ nhiều cây chắn ngang đường. Đội được lệnh phân làm nhiều tổ đi giải tỏa các con đường mòn khi trời sáng.

Tổ ông Cải có 6 người: Nguyễn Văn Chừng, Nguyễn Văn Quang, Lê Văn Tước, Phạm Văn Chi và Nguyễn Văn Sách. Anh em chia từng cặp, đang chăm chú cưa từng đoạn cây thì bỗng thấy Bác đi ngựa cùng bốn người nữa đi tới.

Anh em vội đứng lên chào Bác, luống cuống quên cả việc đang làm. Bác xuống ngựa, rồi tiến tới chỗ mọi người đang bối rối. Bác bảo: “Các chú chào Bác xong lại tiếp tục công việc, khẩn trương lên chứ, sao còn đứng đấy“.

Bấy giờ ai nấy mới vội chạy về vị trí đang làm, cầm cưa. Nhưng luống cuống cưa mắc kẹt, kéo đẩy đều không được. Bác bảo cặp cưa Cải – Quang: “Các chú phải một chân giữ cây, một chân đè lên thân cây hai bên cho nó hở mạch thì cưa mới nhanh được”.

Bác nhìn sang cặp Tước – Chi, lưỡi cưa cũng đang mắc kẹt giữa thân cây dài vắt qua đường. Người nói vui, thân mật: “Mấy chú này chắc chưa quen cầm cưa. Cây này dài, đè chân lên mạch càng ngậm chặt, các chú phải kê đỡ dưới mạch hoặc một người nâng mạch cưa lên“.

Một người đi cùng Bác cũng đứng hướng dẫn thêm. Anh vừa nói, vừa chỉ tay ra hiệu. Bác đến bên vỗ vai: “Chú nói đúng. Nhưng miệng nói tay làm giúp các chú cho nhanh, càng đúng hơn“.

Mọi người cùng cười vui vẻ và Bác cũng giúp một tay dọn dẹp rất nhanh một lối đi nhỏ.

May mà Bác ra sớm

Tác phong làm việc của Bác Hồ rất sâu sát và đặc biệt, giao việc cho ai, dù tin vẫn phải kiểm tra.

Lần ấy, hè năm 1957, Bác tiếp Đoàn Văn công Trung Quốc sang biểu diễn. Ông Trần Quý Kiên – Phó Văn phòng được Chánh Văn phòng Phan Mỹ giao nhiệm vụ trực tiếp bày bàn ghế để Chủ tịch nước tiếp khách.

Ông Cải cùng anh em được phân công xếp bàn ghế hình chữ T phủ khăn trắng và sắp ghế hai bên. Trước 8 giờ 15 phút, Bác ra xem liền hỏi:

– Chú Mỹ, chú Kiên đâu? Anh em nhớn nhác nhìn nhau, vội tìm hai ông. Bác chỉ dãy bàn vội hỏi:

– Các chú quên rồi sao? Hôm nay Bác tiếp khách hoa quả. Bày chữ T thế này khách đến họ lại tưởng ăn tiệc mặn…

Nói rồi, Bác tự tay ra hiệu mọi người xúm vào kê lại bàn ghế hình chữ U để khách ngồi quanh. Vừa bày lại xong, nhìn ra cổng Phủ Chủ tịch, đoàn xe khách từ từ tiến vào sân.

Tinh thần thế là tốt

Năm 1962, trên khắp miền Bắc, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp phát triển mạnh. Đâu đâu cũng nêu cao khẩu hiệu tất cả để phục vụ nông nghiệp.

Chi đoàn Thanh niên cơ quan đề xuất, được Chánh Văn phòng Phan Mỹ ủng hộ, anh em xây một lò đúc lưỡi cày 51 ở phía sau Đình Hội đồng (nay là phòng họp lớn của Chính phủ).

Hôm khai lò, anh em không ngờ Bác và Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến xem. Bác hỏi đoàn viên đứng lò Nguyễn Văn Nuôi: “Các chú đúc được bao nhiều lưỡi cày rồi?”

– Dạ thưa Bác, chúng cháu mới đúc thử 10 chiếc ạ!

Bác lại hỏi: “Thế các chú đúc ra định đem bán hay làm gì?”

Cả Bác cháu cùng cười ồ lên. Anh em chưa ai nghĩ ra nên trả lời Bác như thế nào thì Chánh Văn phòng Phan Mỹ đỡ lời: “Thưa Bác, Chi đoàn báo cáo là lưỡi cày đúc được sẽ đem tặng các hợp tác xã làm ăn giỏi ạ“.

Bác khen: Làm được cày 51 là “Tất cả cho nông nghiệp”. Tinh thần của việc làm như thế là tốt

Theo Trịnh Tố Long – Tiền Phong
Phương Thúy (st)

bqllang.gov.vn

Chuyện về chiếc gậy song của Bác Hồ

Từ lâu hình ảnh Bác Hồ giản dị với bộ quần áo nâu gụ hay bộ quần áo kaki, đôi dép lốp cao su, mũ cát cùng chiếc gậy song đã trở nên quen thuộc với bao thế hệ người Việt Nam. Chiếc gậy chống đã là người bạn của Bác từ những ngày Người trở về nước năm 1941, sau 30 năm bôn ba ở nước ngoài. Trong điều kiện hoạt động ở vùng rừng núi, chiếc gậy giúp Bác đi lại thuận tiện hơn. Năm 1942, Người sang Trung quốc và bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam, chúng cũng thu luôn cả chiếc gậy. Nhớ người bạn đường thân thiết Người đã viết những vần thơ:

Suốt đời ngay thẳng lại kiên cường
Dìu dắt nhau đi mấy tuyết sương
Giận kẻ gian kia gây cách biệt
Hai ta dằng dặc nỗi buồn thương.

(Nhật ký trong tù – Lính ngục đánh cắp mất chiếc gậy của ta)

Chiếc gậy đã đồng hành cùng Bác trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, cùng Người lúc trèo đèo, lội suối, lúc“chống gậy lên non xem trận địa”, có lúc chiếc gậy lại trở thành dây phơi quần áo di động. Nhà thơ Thanh Tịnh đã viết những dòng thơ xúc động về hình ảnh dung dị của vị lãnh tụ dân tộc ở Việt Bắc:

Nhớ một tối giữa rừng Việt Bắc
Được xuống đò theo Bác sang sông
Đó là Bác mà sao biết trước
Tưởng Cụ già miền ngược ven sông
Dao rừng cài gọn bên hông
Gậy song cắp nách, túi vòng qua vai.

(Thanh Tịnh – Trăm năm nhớ một chuyến đò, NXBQĐND, Hà Nội, 1980)

Sau này khi Người về Hà Nội, chiếc gậy song vẫn là người bạn thân thiết của Người, đặc biệt trong những ngày cuối khi sức khỏe đã giảm sút chiếc gậy càng cần thiết hơn trong cuộc sống thường ngày, cùng Người tập luyện chống lại bệnh tật.

Hiện tại ở Chủ đề VII của Bảo tàng Hồ Chí Minh, phần trưng bày về những ngày cuối đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đang trưng bày một số đồ dùng của Người trong đó có chiếc gậy song. Đây là chiếc gậy song Bác sử dụng từ cuối năm 1966 cho đến khi Người qua đời. Gậy được làm bằng một đoạn cây song gồm 5 dóng, dài 92 cm, đường kính là 2cm, có màu vàng óng pha nâu. Một đầu uốn cong làm chỗ tay cầm. Đầu cong của gậy được bọc kim loại mạ trắng, trên có chữ in “Hà Nội – Việt Nam”. Đầu chống xuống đất có gắn khâu cao su đen để khi chống xuống đất được êm. Chiếc gậy này do Hợp tác xã thủ công sản xuất hàng mây tre xuất khẩu xã Châu Khê, huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh), làm ngày 23-7-1966. Nguyên liệu để làm gậy được mua từ tỉnh Bắc Thái.

Ai cũng hiểu tác dụng của chiếc gậy đối với Bác trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày. Nhưng có lẽ còn ít người được biết đến tác dụng khác của cây gậy song của Bác Hồ như câu chuyện kể của bà Nguyễn Thị Định – nguyên là Phó Chủ tịch tỉnh Thái Bình từ năm 1963 đến năm 1980, người vinh dự được đón và đi cùng Bác trong những lần Bác về thăm Thái Bình:

Tỉnh Thái Bình đã ba lần được đón Bác về thăm. Lần đầu tiên Bác về Thái Bình là ngày 26-10-1958. Sau khi gặp gỡ với Ủy ban Hành chính tỉnh và Tỉnh ủy, Người đã tới dự Đại hội sản xuất đông – xuân, nói chuyện với hơn 4 vạn đại biểu nhân dân từ cấp xã của tỉnh. Lần thứ hai là ngày 26-3-1962. Người về thăm hai xã thuộc huyện Tiền Hải. Đó là xã Nam Cường – xã mới lấn biển và xã Đồng Lâm – xã có truyền thống cách mạng, nơi từ năm 1930 dưới sự lãnh đạo của Đảng đã có phong trào biểu tình chống Pháp đàn áp phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh và đấu tranh đòi giảm sưu thuế, chia công điền. Lần thứ ba Người về Thái Bình đúng vào dịp năm mới 1967. Ở thờii điểm chuyển giao năm cũ sang năm mới Người đã có buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh và Tỉnh ủy. Sáng ngày 1-1-1967, Người về thăm xã Hiệp Hòa, huyện Vũ Thư, sau đó nói chuyện với cán bộ và đại diện những Hợp tác xã tiên tiến của tỉnh. Người nhắc nhở những vấn đề mà nhân dân và các cán bộ phải thực hiện để phát huy truyền thống của tỉnh luôn có thành tích tốt trong sản xuất và chiến đấu. Nhưng có một điều khiến Bác không vui, đó là hiện tượng đánh chửi vợ, coi thường phụ nữ. Người phân tích: Chúng ta làm cách mạng là để tranh lấy quyền bình đẳng, trai gái đều ngang quyền nhau. Phụ nữ là một phần nửa xã hội. Nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội cũng chưa được giải phóng, vì vậy phải kính trọng phụ nữ. Người phê phán hiện tượng đánh chửi vợ. Người khẳng định đó là một điều đáng xấu hổ, là phạm pháp và cực kỳ dã man. Người yêu cầu “Chi bộ đảng phải giáo dục đảng viên và nhân dân về quyền bình đẳng giữa vợ chồng. Đoàn thể phụ nữ và thanh niên phải bảo ban nhau cách cư xử hòa thuận trong gia đình” và mong rằng từ nay về sau sẽ không còn thói xấu đánh chửi vợ nữa.

Sau lần đó, tháng 5-1969, đoàn đại biểu Đảng bộ và nhân dân tỉnh Thái Bình lên Hà Nội báo cáo Bác về tình hình địa phương. Lúc này sức khỏe của Bác đã yếu đi nhiều. Tuy nhiên, trong buổi làm việc với đoàn, một trong những vấn đề Bác rất quan tâm, đó là về quyền bình đẳng của phụ nữ ở Thái Bình. Bà Định báo cáo với Bác là vấn đề này đã được cải thiện, nhưng vẫn còn hiện tượng đánh chửi vợ. Nghe vậy, với vẻ không vui, Bác cầm chiếc gậy song bên cạnh đưa cho bà Định và nói “Bác cho cô chiếc gậy này để trị đứa nào đánh vợ!” Câu nói của Bác vừa mang tính hài hước vừa mang đậm tính triết lý sâu xa. Cả cuộc đời Bác đã hy sinh cho độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân trong đó có hạnh phúc của những người phụ nữ. Hơn ai hết Bác là người thấu hiểu nỗi khổ cực của phụ nữ. Trong xã hội cũ họ phải chịu nhiều cực khổ, ngoài nỗi khổ của thân phận một người dân mất nước, họ còn phải gánh chịu nỗi khổ của tư tưởng trọng nam khinh nữ. Nhưng khi đất nước đã giành được độc lập, nhiều người phụ nữ vẫn phải chịu thiệt thòi, vẫn bị đối xử tệ bạc do ảnh hưởng của quan niệm trong chế độ cũ. Bác cũng là người sớm nhìn nhận và đánh giá cao vai trò của phụ nữ trong xã hội như Người đã nói: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”. Phụ nữ Thái Bình chính là những người làm nên hình ảnh “Chị Hai năm tấn” nổi tiếng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ nhưng vẫn phải chịu nhiều thiệt thòi. Câu nói của Bác hàm ý phê phán nhưng cũng là trọng trách Bác giao cho người lãnh đạo Thái Bình trong cuộc đấu tranh để mang lại công bằng cho phụ nữ. Tuy rằng sau cuộc gặp đó, một phần do Bác yếu vẫn cần dùng chiếc gậy hàng ngày, phần vì theo gợi ý của ông Vũ Kỳ, Thư ký riêng của Bác, nên bà Định không có điều kiện để mang chiếc gậy song của Bác về Thái Bình để đánh đòn những kẻ ưa dùng vũ lực với vợ ở Thái Bình. Nhưng Bác đã cho một thứ vũ khí tinh thần để phụ nữ Thái Bình nói riêng và phụ nữ Việt Nam nói chung đấu tranh tự giải phóng mình.

Sau này, Bảo tàng Thái Bình đã xin được làm lại cây gậy song của Bác để trưng bày tại Bảo tàng tỉnh như một minh chứng cho sự quan tâm sâu sắc của Bác đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ Việt Nam nói chung và phụ nữ tỉnh Thái Bình nói riêng, đồng thời cũng là lời nhắc nhở đối với cán bộ và nhân dân tỉnh Thái Bình phải luôn luôn quan tâm đến quyền lợi của phụ nữ.

Ở bên Bác, chiếc gậy song – tưởng như vô tri vô giác cũng mang tính chiến đấu và thấm đẫm lòng yêu thương, bác ái của Người./.

Theo Nguyễn Thị Hằng
Baotanghochiminh.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Theo chân Bác đến Đền Hùng

Chiều hôm trước, đồng chí Song Hào – Chính uỷ Đại đoàn 308 (Đại đoàn Quân Tiên phong) báo cho tôi chuẩn bị xe, xăng để đi đường dài.

6 giờ sáng ngày 18-9-1954, đoàn xe rời thị xã Thái Nguyên đi Đại Từ, leo qua đèo Khế. Gần đến Sơn Dương đoàn xe từ từ đứng lại, đồng chí thường trực hướng dẫn xe vào bãi đỗ.

Một điều làm chúng tôi hết sức ngỡ ngàng là Bác Hồ và một số đồng chí đã có mặt ở đây – một cánh rừng thưa với mấy nếp nhà tranh tre. Bác ra tận nơi đỗ xe gặp đồng chí Song Hào và đồng chí Vương Thừa Vũ – Đại đoàn trưởng.

Bác đội mũ cát trắng, mặc bộ quần áo nâu sẫm, cổ quàng khăn, đi dép cao su. Bác hơi gầy nhưng nét mặt hồng hào, bước đi rắn chắc.

Bác quay sang chúng tôi. Anh em lái xe, thư ký, công vụ đều đứng dậy chào Bác.

Bác đến gần tôi ân cần:

– Chú là lái xe, chạy cho tốt và an toàn.

Chúng tôi đồng thanh: Vâng ạ!

Đoàn xe tiếp tục lên đường, đưa Bác lên thăm Tỉnh uỷ Tuyên Quang rồi quay về hướng Việt Trì tỉnh Phú Thọ, đến Đền Hùng khoảng 2 giờ chiều, Bác cùng đoàn cán bộ đi lên cổng chính khu Đền Hùng.

Xế chiều, Bác cùng mấy đồng chí và một cụ già địa phương lên núi Nghĩa Lĩnh, Bác ngắm nhìn ngã ba sông Bạch Hạc (nơi hợp lưu sông Lô, sông Đà, sông Thao). Sau bao nhiêu năm bôn ba thế giới tìm đường cứu nước, bây giờ Bác mới có dịp về với cội nguồn.

Sáng hôm sau, Bác đến thăm Đền Tổ, Đền Thượng, Đền Hạ, Bác chăm chú đọc các hoành phi câu đối.

Khoảng 9 giờ sáng ngày 19 – 9 – 1954, Bác trở về Đền Giếng gặp cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 308 sắp làm nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô Hà Nội.

Bác hỏi:

– Các chú có mệt không, đã ăn uống gì chưa?

Rồi Bác nói về công lao các vua Hùng dựng nước và giữ nước, về tầm quan trọng của Thủ đô, Bác nhắc nhở bộ đội phải kính trọng dân, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, kỷ luật quân đội cách mạng. Bác căn dặn bộ đội phải thường xuyên học tập, rèn luyện, giữ nghiêm kỷ luật. Bác nói: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” – một câu nói đã trở thành bất hủ, in đậm trong trái tim khối óc mọi thế hệ Việt Nam.

Bộ đội vỗ tay ran, tất cả đứng dậy hứa với Bác quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ. Buổi nói chuyện của Bác không dài, chỉ khoảng nửa giờ. Mặc dù thời gian ngắn nhưng những tư tưởng lớn, tình cảm sâu nặng của Bác đã thấm sâu vào tâm trí mỗi người.

Hơn nửa thế kỷ đã qua, lời Bác ân cần “chú là lái xe, chạy cho tốt và an toàn” đã theo tôi suốt cuộc đời. Và chuyến đi theo Bác về Đền Hùng năm ấy là kỷ niệm sâu sắc nhất đời tôi.

Đinh Văn Dung

bqllang.gov.vn

Bác nhắc nhở “nội vụ” của bộ đội

Ngày 3-2-1963, nhân dịp Tết Nguyên đán, Bác Hồ đến thăm Đại đội 129, Trung đoàn 260 Bộ đội Phòng không, đóng quân tại Tiên Hội, Đông Anh, Hà Nội.

Mọi người đang lúi húi xây dựng vườn hoa thì Bác đến. Anh em vây xung quanh Bác. Người nhìn các chiến sĩ và âu yếm hỏi:

– Tết mỗi chú được bao nhiêu bánh chưng ?

– Thưa bác, được hai chiếc ạ ! – Mọi người trả lời.

Bác nhìn quanh rồi chỉ vào những cây phi lao mới trồng cạnh vườn hoa nhỏ:

– Cây này có cho quả không ?

– Thưa Bác, không ạ !

– Thế trồng nhãn có cho quả không ?

– Thưa Bác, có ạ !

– Thế thì trồng nhãn tốt hơn ! – Bác vừa cười vừa phân tích – Phi lao nên trồng ngoài hàng rào. Còn xà cừ trồng ngoài cổng doanh trại. Trồng cây nào các chú phải chăm sóc cho được cây ấy.

Sau đó, Bác đi xem nơi ăn, chốn ở của đơn vị. Khen nhà bếp sạch, nhưng Người phê bình nhà ngủ chưa gọn và nhắc nhở:

– Dù là chủ nhật, dù là ngày Tết, thì “nội vụ” cũng phải gọn gàng.

Mọi người cùng “vâng ạ !”, nhận lỗi và nhìn nhau, nguyện sẽ thực hiện nghiêm túc trật tự nội vụ như Bác vừa nhắc nhở.

Không chỉ với bộ đội, mà đến bất cứ đâu, Bác đều quan tâm đến cuộc sống thường nhật của mọi người. Bác gần gũi, thân tình như người thân trong nhà, như đồng đội trong cùng đơn vị, như đồng nghiệp trong cùng cơ quan.

Nguyễn Thanh

bqllang.gov.vn

Bác là tấm gương sáng về tiết kiệm

Chúng ta đang tích cực và nghiêm túc thực hiện Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, với tấm gương đạo đức sáng ngời của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Ở Bác, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí không chỉ thể hiện trong lời nói mà còn trong mọi việc làm hằng ngày.

Người ta biết đến Bác với những câu chuyện Bác đi dép cao su, mặc áo ka ki bạc màu, ăn cơm đạm bạc rau muống chấm tương… Nhưng ít ai biết, cả đời Bác chắt chiu từng mẩu giấy trắng. Cho đến những ngày cuối cùng, sửa lại những dòng chữ cuối cùng trong Di chúc của mình, Bác vẫn dùng mặt giấy còn lại của tờ bản tin…

Chuyện kể rằng, thực hiện ý kiến nhắc nhở của Bác, Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) hằng ngày gửi bản tin để Bác đọc, đều in hai mặt giấy. In rônêô, nên bản tin hay bị nhòe, Bác vẫn cố gắng đọc. Sang năm 1969, thấy Bác không được khỏe, TTXVN gửi bản tin in một mặt. Xem xong, những tư liệu, tin tức cần thiết, Bác giữ lại, còn thì gửi cho Văn phòng để gấp thành “phong bì tiết kiệm”…

Gần bốn tháng trước khi qua đời, ngày 10-5-1969, Bác viết lại toàn bộ phần mở đầu bản Di chúc, gồm một trang viết tay, vào mặt sau tờ tin Tham khảo đặc biệt ra ngày 3-5-1969. Bác viết những dòng chữ lịch sử và vô cùng thiêng liêng ấy bằng mực xanh và chữ sửa sau đó bằng mực đỏ. Những chữ mực đỏ, nét run run, không cứng cáp như Bác thường viết. Có lẽ Bác sửa lần cuối Di chúc, khi thấy trong người không còn khỏe…

Nhìn những dòng chữ ấy trên mặt giấy tiết kiệm, mọi người đều xúc động và càng kính trọng Bác bao nhiêu lại càng thương Bác bấy nhiêu.

Thanh Hương

bqllang.gov.vn

Tiết kiệm chút nào là có lợi cho dân chút ấy !…

Vào năm 1955, Bác Hồ đến thăm công trường xây dựng cầu Phủ Lạng Thương. Đầu tiên, Bác đến thăm khu nhà ở, khu vệ sinh, giếng nước ăn và nhà bếp tập thể của công nhân.

Sắp đến giờ ăn trưa, Bác mở lồng bàn, xem suất cơm và các món ăn, rồi Bác khoát tay gọi anh chị em công nhân lại gần và nói: “Bác hỏi câu này, các cháu phải trả lời trung thực – mọi người còn đang bất ngờ, Bác hỏi luôn – Hằng ngày các cháu có được ăn nhiều cơm, đủ món ăn như hôm nay không? Hay biết tin Bác đến, các chú chỉ huy công trường “làm cỗ” để Bác vui lòng ?”.

Thực tế, thợ cầu đường là những người vất vả, cực nhọc nhất, nên chỉ huy công trường thường xuyên chăm lo miếng ăn, giấc ngủ cho anh em, không có chuyện bày đặt để làm vui lòng Bác. Nhưng sau câu hỏi sâu sát của Bác, mọi người đều thấm thía về sự trung thực, về sự chăm lo lẫn nhau trong điều kiện có nhiều khó khăn. Nếu có sự bày đặt, chắc chắn uy tín của cán bộ chỉ huy công trường sẽ bị giảm sút. Nguy hại hơn, sự đoàn kết, nhất trí của tập thể cũng giảm sút theo và tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng công trình.

Cũng nhân một bữa ăn, Bác lại nhắc đến việc tiết kiệm. Đó là dịp Đại hội Đảng lần thứ III, Bác thường xuyên ăn cơm cùng các đại biểu. Một bữa trưa, Bác ăn cơm với đoàn đại biểu ngành Đường sắt. Mấy anh chị cứ chống đũa không chịu ăn để được ngắm Bác. Thấy vậy, Bác đến bên và hỏi vui: “Các cô, các chú mệt quá hay ốm mà bỏ cơm thế này? – Rồi Bác nói luôn – ăn ngon miệng, ăn hết thì báo nhà bếp nấu thêm. Nhưng ăn không hết cũng phải báo cho nhà bếp để giảm khẩu phần đi. Mỗi đĩa xào, mỗi bát canh đều là tiền của đóng góp của nhân dân lao động. Tiết kiệm, thu vén được chút nào là có lợi cho dân chút ấy !”.

Mọi lúc, mọi nơi, trong mọi lời nói, mọi cử chỉ của Bác Hồ đều thấm đẫm tình yêu thương và bài học về đạo đức. Hãy lắng nghe, hãy làm theo Người, bởi tư tưởng, đạo đức của Người vẫn là sự tốt đẹp, trong sáng nhất.

Vũ Trần

bqllang.gov.vn

Ðức của Bác lớn lắm, sáng lắm

Ðối với dân tộc ta, nhân dân ta, công đức và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh là vô cùng to lớn. Ðã có rất nhiều bài văn, bài báo, bài thơ, bài hát, bài ca dao, vở kịch, tấm ảnh và cả những bài luận văn có tầm cỡ ngợi ca đức tính tốt đẹp, công lao vĩ đại của Người. Có thể tóm tắt những lời ngợi ca ấy bằng bốn chữ “Ðức lớn, tâm đầy”.

“Chỉ có ít nhân vật lịch sử trở thành huyền thoại ngay khi còn sống. Hồ Chí Minh là một trong số đó. Người được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ, mà còn là nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này”. (Tiến sĩ M.Amét, Giám đốc UNESCO khu vực châu Á – Thái Bình Dương).

Khi nói về chữ Ðức ở Bác rất nên ghi lại những lời chân thành của cố Phó Thủ tướng Phan Kế Toại. Cụ Phan gần Bác suốt cả chín năm kháng chiến nơi chiến khu Việt Bắc, cho nên cụ rất hiểu Bác. Cụ nói: “Gần Ông Cụ thì lòng dạ mình được sáng thêm, ý thức phục vụ nhân dân càng đầy thêm. Hồ Chí Minh như một trái núi nam châm, Bác có sức hút mãnh liệt lại có sức tỏa sáng rộng lớn”.

Cố Tổng Thư ký Ðảng Xã hội Việt Nam, nhà khoa học Nguyễn Xiển cảm nhận được tấm lòng, đức độ của Bác qua những ánh mắt nhân hậu của Bác. Ông đã có một câu nói xuất phát từ trái tim của một nhà trí thức đã đi theo Bác Hồ từ những ngày đầu tiên: “Lá cờ đỏ sao vàng với cặp mắt Bác Hồ, đó là mùa xuân của dân tộc và cũng là mùa xuân của đời tôi”.

Những ngày nước ta mới giành được chính quyền, nạn đói chưa dứt, lại lăm le giặc ngoại xâm, bao nhiêu là gánh nặng của quốc gia đặt lên đôi vai gầy của Bác. Nhiều đêm Bác thức với ngọn đèn chong. Ðồng chí Hoàng Hữu Kháng, một trong tám đồng chí bảo vệ Bác nhớ lại những năm tháng gian truân ấy: “Tính Bác rất dễ xúc động. Có một đêm Bác ngủ trên một căn gác của một ngôi nhà. Bốn giờ sáng, Bác thức giấc. Ngoài trời gió vun vút đập vào cửa kính. Ở trong phòng còn thấy lạnh, thế mà có tiếng trẻ em rao hàng cuối đường phố vọng lên. Bác mở cửa sổ ngó nhìn cho tới khi chú bé rao hàng đi khuất, Bác mới từ từ khép cửa lại”.

Báo “Sống” số 1 ra ngày 6-1-1946 tại thủ đô Hà Nội viết về cái rét cuối năm 1945 và tấm lòng của Bác. Năm 1945 ấy, dân ta đã đói lại rét, mà cách mạng vừa mới thành công, việc nước còn ngổn ngang trăm mối. Chính phủ do Bác đứng đầu đang gắng sức giải quyết từng việc lớn. Trời rét lạnh lại có mưa phùn, nhìn trời nhìn đất, Bác nói: “Rét thế này, đêm qua có bao đồng bào đói rách chết bên đường”.

Một đời lo việc nước, việc dân, Bác sống gương mẫu, nêu một lối sống “nhân văn cộng sản” cho mọi người trông vào và có thể noi theo. “Chúng tôi hiểu và nhận ra rằng: chính cái giản dị ấy, cái khả năng hòa mình vào nhân dân ấy là cơ sở cho sự thành công của ông. Ðịa vị càng cao, ông càng giản dị, trong sạch hơn. Hình như ông luôn luôn giữ được giá trị vĩnh viễn của người Việt Nam”. (Nhà báo David Sten, Australia).

Ca dao dân gian có câu: “Ðếm sao cho hết vì sao; Kể sao cho hết công lao Cụ Hồ”. Bác là người không chỉ đấu tranh cho nền độc lập, tự do của dân tộc ta mà còn là người góp phần soi ánh sáng cho các dân tộc mạnh bước trên con đường tranh đấu của mình. R.Chandra, nhà văn hóa nổi tiếng Ấn Ðộ, một chiến sĩ hòa bình được thế giới yêu mến, viết: “Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập, tự do, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu chiến đấu cho hòa bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ đâu nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống lại đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao”.

Theo Báo Nhân dân

bqllang.gov.vn