Thư viện

Vàng là ở hai bàn tay

Bác Hồ vào Phan Thiết dạy học ở Trường Dục Thanh của Hội Liên Thành. Bác sĩ Nguyễn Kinh Chi ở Bộ Y tế là học trò của thầy Thành kể lại:

– Thầy giáo Thành dạy lớp ba, thầy thường mặc áo vải, chân đi guốc. Trong giờ địa lý, thầy giáo Thành dạy tiếng Pháp, tôi còn nhớ mãi buổi học đầu tiên của thầy Thành:

“Montagne” là núi, “rivière” là sông

Núi kia là núi của ai
Sông xanh nước biếc chảy dài đi đâu ?

Chuyện kể về NgườiThầy giáo Thành bảo núi thì có rừng. Trên rừng rất nhiều gỗ quí như lim, trai, sến, táu, vàng tâm, v.v.. . Có nhiều cây thuốc quí, có nhiều muông thú như hổ, báo, hươu, nai, voi… Trong núi có nhiều khoáng sản như vàng, bạc, châu báu, dưới sông có nhiều cá ngon, nước sông có nhiều phù sa, nên ngǎn nước ấy lại tưới cho đồng ruộng thì màu mỡ tươi tắn. Tổ tiên ta kiên cường, giang sơn ta gấm vóc: Thầy giáo Thành dạy chúng tôi như vậy?

Ông thắc mắc tại sao thầy giáo Nguyễn Tất Thành dạy rừng núi, sông ngòi, đất đai là của ta. Thế mà bây giờ Tây nó lại lấy. Đời sống của người lao động thì khổ cực, nghèo đói. Ngày ngày làm nghề thuốc tiếp xúc với người bệnh, bao nhiêu câu hỏi đã gieo vào đầu óc ông: Tại sao người đàn bà làm ǎn vất vả, sớm tối ngày đêm sương gió, thế mà chỉ có một cái yếm bằng vải và chiếc khố tải che thân? Người đàn ông cũng chỉ có cái quần đùi? Các em bé tám chín tuổi vẫn trần truồng chưa có áo quần mặc? Ông Chi suy nghĩ và càng thấm thía những lời giảng của thầy giáo Thành gieo vào lòng tuổi trẻ nhiều ý nghĩa. Ông và các bạn ở Trường Dục Thanh cũ dần dần ghét Tây. Từ đó ông bắt đầu đi tìm cách mạng và ông cũng như nhiều bạn bè khác trở nên người Cộng sản.

Rời Phan Thiết, Bác Hồ đi vào Sài Gòn học nghề. Ngày ngày, lúc học xong, Bác thường xuống xem cảng Sài Gòn. Bác đi để biết tình hình. Ở cảng này, Bác Hồ làm quen với ông Mai, được ông giới thiệu xuống làm ở chiếc tàu của hãng “Vận tải hợp nhất” của Pháp. Tàu Đô đốc Latútsơ Trêvin chuyên chở thực phẩm cho Pháp ở thuộc địa. Ông Mai người ở An Dương (Hải Phòng), gặp Bác lần đầu đã thấy mến. Bác Hồ ngỏ ý muốn xin làm ở dưới tàu. Ông Mai vui vẻ nhận lời giới thiệu giúp Bác. Ông đưa Bác đến gặp thuyền trưởng người Pháp. Người thuyền trưởng nói:

– Nếu cần làm việc ở đây, tám giờ sáng mai đến?

Tối hôm ấy về chỗ ở, Bác rủ thêm một người bạn cùng đi Pháp. Người bạn thân đó nói:

Ta đi Pháp sẽ chết đói thôi, bởi vì chúng ta không có tiền để ǎn.

Bác đã giơ tay ra và nói:

– Tiền là ở đây, vàng là ở đây. Chúng ta còn trai trẻ. Chúng ta sẽ làm lụng để sống.

Sáng hôm sau, người bạn ấy ngần ngại từ chối, không đi. Bác chia tay anh ta. Ông Mai đưa Bác xuống tàu gặp người thuyền trưởng. Nhìn Bác một lát, người thuyền trưởng Pháp nói:

– Ở đây không có việc gì nhẹ cho anh làm cả. Chỉ có những việc nặng thôi, trông anh gầy yếu thế kia. Làm sao nổi?!

Bác trả lời:

– Vâng, tôi gầy yếu thật, nhưng tôi còn trai trẻ, tôi có nghị lực, tôi có thể làm được tất cả!

Người thuyền trưởng thấy Bác nhanh nhẹn giỏi tiếng Pháp nên cho làm phụ bếp. Bác nhận lời làm việc ở đây và lấy tên là Vǎn Ba.

Qua những ngày làm việc đầu tắt mặt tối ở dưới tàu, Bác nhận thấy ở đây có hai hạng người: Người bị bóc lột và người đi bóc lột. Hai thái cực đó thật là rõ ràng. Công việc mà Bác phải làm hàng ngày thật là cực nhọc: Hết bưng những sọt khoai tây lên mặt bàn để gọt rửa, lại bê những thùng rượu để phục vụ các bữa ǎn, rồi rửa bát, nồi, xoong, giặt giũ, lau bàn ghế, đánh bóng boong tàu. Suốt ngày Bác nhễ nhại mồ hôi và mình đầy than bụi. Công việc vất vả thật nhưng khi được nghỉ tay là Bác tranh thủ dạy ông Mai chữ quốc ngữ.

Trong phong trào Đông Du do cụ Phan đề xướng, cụ chủ trương “Gương Nhật Bản, đất Á Đông”. Cụ mong nhờ vào bọn Nhật cô lập giặc Pháp thì thật khác nào “đưa hổ cửa trước, rước hùm cửa sau”. Cụ Phan Chu Trinh lúc này đã bị bắt và theo quan niệm của cụ thì “Học Pháp càng nhiều; làm bồi càng to”.

Vậy tại sao Bác Hồ lại đi Pháp? Vừa rồi chúng ta tìm được cuốn lược dịch “Binh thư Tôn Tử” của Bác, Bác nói là lược dịch, nhưng khi đọc chúng ta nhận thấy là chiến lược của Bác. Qua sự giáo dục của gia đình và cuốn lược dịch “Binh thư Tôn Tử”, qua trao đổi với một số cụ đương thời có học với Bác và ngay cụ thân sinh ra Bác vẫn thường dạy học trò là “biết địch biết ta, trǎm trận trǎm thắng”, chúng ta càng thấy rõ việc Bác đi Pháp là Bác có suy nghĩ chín chắn. Với lại hồi ấy, những từ Pháp “Tự do, bình đẳng, bác ái rất hay, Bác muốn biết đằng sau nhừng từ ấy ẩn giấu cái gì…”

Bác lĩnh được mười quan, dần dà sau này được nǎm mươi quan (trong khi đó mỗi nhân viên người Việt Nam ít nhất cũng phải lĩnh đến một trǎm quan). Lên đất pháp, vì tiền ít Bác thường phải thuê chỗ ngủ đứng. ở nước Pháp lúc này có hai loại tiệm ngủ. Một loại ngủ giường đệm, màn và lò sưởi. Một loại là lấy vé vào ngủ đứng. Ở Pháp ít lâu, Bác đi châu Phi, rồi Bác lại trở về Pháp. Lúc rời châu Phi, Bác có nói:

– Người ta nói ở Châu Phi có nhiều ác thú, nhưng ác thú ở đây mà ác hơn cả, chính lại là lũ thực dân. Sau này, các đồng chí cộng sản quốc tế sang dự Lễ tang Bác có cho biết:

Bác đi Châu Phi trên một chiếc tàu buôn. Chiếc tàu buôn này rời cảng Lơ Havơrơ đỗ tại Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Angiêri, Tuynidi và các cửa biển phía đông Châu Phi cho đến Công gô. Mỗi khi tàu cập bến, Bác tìm cách lên thǎm thành phố, khi chiếc tàu này trở về Pháp sửa chữa, người thuyền trưởng thấy anh Ba làm được việc, bèn giới thiệu đi làm bồi ở một chiếc tàu chở sĩ quan Pháp đi Anh nghỉ mát. Đến nước Anh, Bác không đi làm bồi tàu nữa. Lên Thủ đô nước Anh, Bác tìm đến một Trường Trung học. Bác rất thích cuộc đời học sinh. Bác ngồi xem các em học và Bác làm quen được với một người gác cổng. Bác xin làm việc quét tuyết ở Trường học này. Làm được một tuần lễ, vì lao động cực nhọc quá trời lại rét buốt nên Bác bị cảm lạnh và sưng phổi phải thôi việc.

Khi khỏi bệnh Bác xin làm ở tiệm ǎn Cáclơtông, một khách sạn lớn nhất nước Anh lúc bấy giờ. Khách sạn có một người Pháp tên là ÊcÔpphie làm bếp nổi tiếng, được người ta đặt tên là “Vua bếp”. Những tiệc lớn của Nữ hoàng Anh đều do ông ta đứng ra đảm nhận.

Một hôm anh Ba đang rửa bát. Vua bếp đi qua hỏi:

– Anh Ba, anh đổ các thứ thừa đi, chứ anh để lại làm gì?

– Ở đây thừa đổ đi – anh Ba trả lời – nhưng ngoài kia những người đói lại đang cần, tôi để lại lát nữa cho người ta.

Vua bếp ra chiều cảm động thấy một thanh niên Châu Á lòng nhân hậu như vậy nên rất có cảm tình. Nhân đấy Bác lại nói:

– Xin ông cho tôi làm công việc gì có nhiều tiền để tôi chi trả tiền học tiếng Anh. Tôi học nǎm bài đã mất nǎm đồng, trong khi đó tôi chỉ được trả có sáu đồng, còn lại không đủ ǎn trong một tuần lễ.

Vua bếp cười bảo:

– Tôi là người Pháp mà không học được tiếng Anh, còn anh là người Châu Á mà dám học tiếng Anh cơ à? Tôi ở đây hai nǎm rồi mà chỉ biết có vài ba tiếng “vâng” và “không. Nói vậy, ông này vẫn giúp Bác, Bác được bố trí đốt lò.

Thế là từ nǎm giờ sáng đến tám giờ tối Bác phải nặng nhọc đưới hầm lò. Tuy tiền công có được nhiều hơn, nhưng không được học hành, vì đêm về mệt lả làm sao đi học được nữa.

Do đó Bác tìm gặp Vua bếp yêu cầu cho Bác làm một nghề khác. Vua bếp xếp cho Bác làm bánh ga tô, đỡ nặng nhọc hơn và có thêm tiền để học. Thời kỳ này Bác tranh thủ học nhiều ngoại ngữ: Nǎm 1913 – 1914, ở Anh, Bác học tiếng Anh do một giáo sư người Ý dạy. Thầy giáo này biết tiếng Đức, cho nên Bác học cả tiếng Đức và Ý của giáo sư này. Hàng ngày, Bác ra ngồi ở vườn hoa Hayđơ để học. Lúc này, Bác có quan hệ với các nhà yêu nước ở Ấn Độ như Gǎngđi. Nhà sử học Thụy Điển, trong một cuốn sử viết về Bác, cho biết: Nǎm 1915, Bác ở khu vực người da đen Háclem (nước Mỹ) và làm nghề chụp ảnh. Nǎm 1916 sang Đức, trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Bác trở lại Pháp và ở nhà cụ Phan Chu Trinh. Ở Pháp, Bác tham gia phong trào của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Pháp. Bác tổ chức nhóm Việt kiều. Bác đã gặp Sác lông ghê (Charles Longuet), chủ bút Báo “Dân chúng” là cháu ngoại của Các Mác. Ông này đã giúp đỡ Bác viết báo. Lúc đầu Bác viết nǎm dòng rồi sửa hết, rồi lại viết. Bài báo đầu tiên của Bác là bài báo nǎm dòng đǎng ở Báo “Đời sống thợ thuyền”, nǎm 1917. Sau đó Bác viết cho nhiều tờ báo ở Pháp như Báo “Nhân đạo và “Dân chúng”… hồi đó Bác ở nhà số 9 ngõ hẻm Công poǎng (compoint). Đạo diễn Phạm Kỳ Nam đi Pa-ri làm phim về Bác cung cấp thêm nhiều tư liệu: Nhà số 9 Công poǎng tầng dưới là quán cà phê, tầng trên, Bác thuê ở, Bác làm nghề rửa ảnh. Nhà Bác kê vừa một cái giường, hai cái ghế một cái bàn con. Trên bàn có cái chậu thau, trong thau có một xô nước. Khi viết, Bác phải đút thau và xô xuống gầm giường. Hàng ngày, Bác nấu một nồi cơm (gọi là nồi nhưng thật ra nó là cái hộp bích qui vuông thấp). Khi thổi cơm, Bác hấp vào đó một con cá khô, Bác ǎn một nửa, còn một nửa lấy giấy báo gói mang đi, làm việc xong, Bác mang ra ǎn nốt suất cơm còn lại. Bác làm việc rất khẩn trương để có đủ tiền sống, để có nhiều thời gian vào thư viện đọc sách. Bác còn tranh thủ đi nghe người ta giảng thuyết để học tập. Khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, Bác rất vui mừng, phấn khởi. Bác vào Đảng Xã hội Pháp. Tháng 3 nǎm 1919, Quốc tế thứ ba (tức quốc tế Cộng Sản) thành lập, Lênin có đọc bản Luận cương về cách mạng thuộc địa. Khi tiếp thu bản Luận cương ấy, Bác đã nói:

– Luận cương của Lênin đã làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi sáng tỏ, tin tưởng biết bao. Tôi vui mừng phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng, mà tôi nói to, như đang nói trước quần chúng đông đảo. Hỡi đồng bào bị đọa đày đây là cái cần thiết cho chúng ta?

Bác tiếp thu điều này rất sâu sắc. Báo Gramma Cuba đã viết: “Nhân loại tiến bộ trên thế giới đời đời mắc nợ nhân dân Việt Nam”.

Dư luận nhiều nước trên thế giới nêu rõ: Các Mác đề ra chủ nghĩa xã hội khoa học, Lênin là người tổ chức thực hiện. Lênin là người đề ra cách mạng ở các nước thuộc địa, Hồ Chí Minh là người tổ chức thực hiện và rút những kinh nghiệm quí báu.

Vâng lời Bác dạy:

Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và nấp biển
Quyết chí ắt làm nên

Bác chỉ có hai bàn tay trắng mà Bác xây dựng cả sơn hà. Vàng là ở đôi bàn tay lao động, như thế đấy?

Theo bacho.camau.gov.vn/
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Món đặc biệt

37
Ảnh Tư liệu

Hồi đầu kháng chiến, ở Việt Bắc đời sống cán bộ rất kham khổ. Nhiều khi không đủ gạo nói gì đến thức ăn. Bác Hồ cũng vui vẻ chịu đựng như mọi người.

Mỗi lần có họp hành, cán bộ nhân viên thường phải chia nhau đi câu cá, săn bẫy thú nhỏ để kiếm thêm chút chất tươi.

Lần ấy, vào năm 1949, Ban thường vụ Trung ương họp ở Tân Trào. Anh em vệ binh cùng rủ nhau đi tìm, nhưng những người đi săn đều về không, những người đi câu cũng vậy, vì trời mưa to quá, cá không cắn mồi.

Đến bữa ăn, các đồng chí thường vụ cùng anh em làm việc ở cơ quan cùng quây quần quanh những chiếc “bàn” tre (cắm cọc xuống đất, trên đặt cái liếp). Trong rá thì chỉ toàn lá sắn do cơ quan tăng gia, loáng thoáng mới có vài hạt cơm. Còn món thức ăn duy nhất là măng rừng chấm muối. Thế mà  mọi người vẫn ăn ngon lành, chuyện trò rôm rả.

Như sực nhớ ra điều gì, Bác Hồ gọi đồng chí Thư ký ngồi bàn bên bảo:

– Hôm nay có khách; chú lấy món “đặc biệt” ra.

Mọi người chưa hiểu “món đặc biệt” là gì, thì người Thư ký đã đưa ra một cái ống tre, nút chặt…Bác mở nắp ống, chia cho mỗi người một ít thức ăn mầu đỏ, thơm nức. Đó là thứ “thịt hộp Việt Minh”, Bác thường dùng khi đi công tác xa, chế biến bằng một cân thịt lợn thái nhỏ vụn, kho với một cân muối và một cân ớt tươi, bỏ vào ống tre, đậy kín, có thể để rất lâu.

Bác bảo:

– Chú nào không ăn được cay nhiều thì đừng dùng món này lẫn với măng. Các chú nên tập ăn ớt vì ớt có rất nhiều sinh tố.

Kháng chiến gian khổ, thiếu thốn, nhưng mỗi lần về quây quần bên Bác như thế này, ai cũng cảm thấy đầm ấm, vui vẻ…

(Theo “Chiến đấu trong vòng vây”của Đại tướng Võ Nguyên Giáp)

Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn

Bác Hồ góp ý dự thảo Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960

(Ghi theo lời kể của đồng chí Phan Hữu Chi, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế VKSNDTC, trong dịp thảo luận Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, năm 1989).

Trong không khí đón chào Năm mới 2013, nhân dịp ngành Kiểm sát nhân dân đã và đang tích cực, khẩn trương triển khai các hoạt động tổng kết, thi hành, nghiên cứu, xây dựng, sửa đổi các văn bản pháp luật có liên quan đến tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân như: Bộ luật Tố tụng Hình sự (sửa đổi), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi), tôi xin kể lại một câu chuyện mà tôi được nghe, cũng là một kỷ niệm của ngành Kiểm sát với Bác Hồ khi Đảng đoàn Viện công tố Trung ương báo cáo với Bác về Dự thảo Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960.

Trong không khí đón chào Năm mới 2013, nhân dịp ngành Kiểm sát nhân dân đã và đang tích cực, khẩn trương triển khai các hoạt động tổng kết, thi hành, nghiên cứu, xây dựng, sửa đổi các văn bản pháp luật có liên quan đến tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân như: Bộ luật Tố tụng Hình sự (sửa đổi), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi), tôi xin kể lại một câu chuyện mà tôi được nghe, cũng là một kỷ niệm của ngành Kiểm sát với Bác Hồ khi Đảng đoàn Viện công tố Trung ương báo cáo với Bác về Dự thảo Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960.

36
Bác Hồ – vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc

Lời căn dặn của Bác khi Viện công tố Trung ương báo cáo Dự thảo Luật Tổ chức Viện kiểm sát năm 1960

Tháng 12 năm 1959, Đảng đoàn Viện công tố Trung ương có trình Ban Bí thư Trung ương Đảng Dự thảo Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, sau đó Quốc hội giao cho Hội đồng Chính phủ chuẩn bị. Theo chỉ thị của Ban Bí thư, Đảng đoàn Viện công tố cử đồng chí Nguyễn Văn Ngọc, Ủy viên Đảng đoàn, Phó Viện trưởng Viện công tố Trung ương và đồng chí Phan Hữu Chi, chuyên viên cao cấp, người chắp bút soạn thảo Dự luật để báo cáo với Bác.

Như chúng ta đã biết, lúc đó Viện kiểm sát nhân dân là một trong những cơ quan mới của nhà nước ta. Bác hỏi kỹ về cơ sở pháp lý cho việc thành lập cơ quan Viện kiểm sát nhân dân. Đồng chí Phan Hữu Chi đã báo cáo những nguyên tắc cơ bản về tổ chức bộ máy nhà nước là tập trung dân chủ, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, trong đó Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan nhà nước độc lập, chịu trách nhiệm trước Quốc hội, tổ chức và hoạt động, thực hiện chức năng nhiệm vụ theo Hiến pháp và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân. Khi soạn thảo Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân Liên-xô có một số ý kiến cho rằng Viện kiểm sát nhân dân nên song trùng trực thuộc Xô-viết địa phương và Xô-viết tối cao Liên bang. Nhưng trong tác phẩm “Bàn về chế độ song trùng trực thuộc và pháp chế”,V.I.Lê Nin đã phân tích rằng tổ chức Viện kiểm sát theo nguyên tắc song trùng trực thuộc như các cơ quan nhà nước khác là một sai lầm. Viện kiểm sát, theo Lê Nin là cơ quan kiểm sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan nhà nước, viên chức nhà nước và mọi công dân. Nó bảo đảm cho “bất cứ quyết định nào của bất cứ một cơ quan hành chính địa phương nào cũng không đi ngược pháp luật”. Cho nên “Viện kiểm sát địa phương chỉ trực thuộc vào Trung ương”.

Theo Bản dự thảo này, “Viện kiểm sát nhân Tối cao kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan nhà nước và công dân”… Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật làm cho pháp luật được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, pháp chế dân chủ nhân dân được giữ vững.”

Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, tại Điều 3 của Dự thảo quy định “Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân địa phương các cấp thi hành nhiệm vụ trên bằng cách: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các nghị quyết, quyết định, thông tư, chỉ thị của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ và cơ quan nhà nước ở địa phương, kiểm sát việc tuân thủ pháp luật của nhân viên cơ quan nhà nước, và của công dân. Các cơ quan nhà nước khi ban hành văn bản phải gửi sang Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp để kiểm sát”.

Nghe xong, Bác nói đại ý: Các chú đưa vào luật buộc các cơ quan nhà nước khi ban hành văn bản phải gửi sang Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp để kiểm sát là không được, muốn phát hiện văn bản có vi phạm phải qua công tác thực tế, ngành kiểm sát của các chú có bao nhiêu người có trình độ và năng lực cao? Chính phủ phải chi bao nhiêu tiền để làm kho lưu trữ. Nếu các chú lưu trữ mà không phát hiện được sai phạm của văn bản thì các chú chịu trách nhiệm gì với Đảng, với Bác?

Sau đó, Bác căn dặn rằng: Nhiệm vụ, chức năng của các chú rất nặng nề, Đảng và Bác tin tưởng các chú. Các chú phải hết sức cố gắng làm tốt nhiệm vụ chức năng được giao. Phải thật:“Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng và khiêm tốn”.

Thiết nghĩ, câu chuyện tôi vừa kể về những lời căn dặn của Bác với ngành Kiểm sát nhân dân khi xây dựng Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 sẽ có một ý nghĩa sâu sắc khi chúng ta đang nghiên cứu xây dựng Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 (sửa đổi).

Tăng Thảnh /Nguyên Vụ phó Vụ 1, 2 A – VKSNDTC
Theo vksdaklak.gov.vn
Phương Thúy (st).

bqllang.gov.vn

Người lãnh đạo cần nắm vấn đề như thế nào?

Chuyện kể về NgườiTháng 8 năm 1960, tôi (Song Tùng) về nước và được giao nhiệm vụ Vụ trưởng Vụ Tổng hợp Ban Đối ngoại Trung ương Đảng, đầu năm 1963 làm Phó Ban Đối ngoại Trung ương Đảng. Mỗi lần đại biểu các Đảng bạn sang trao đổi kinh nghiệm với Đảng ta thường được Bác mời vào gặp. Mỗi lần như thế, tôi có nhiệm vụ vào gặp Bác trước khi khách đến độ 30 phút để báo cáo tình hình Đảng nước đó, kết quả và cảm tưởng của vị đại biểu về những ngày gặp các vị lãnh đạo Đảng ta. Mỗi năm, thường có hàng chục đoàn sang trao đổi kinh nghiệm với Đảng ta. Do trách nhiệm được giao, suốt tám năm (1961-1969) tôi được vào báo cáo nhiều lần với Bác. Các đồng chí giúp việc Bác thường cho tôi vào trước 30 phút, chờ có thể gặp trước giờ quy định hoặc đúng giờ quy định. Nếu báo cáo xong, còn thì giờ thì Bác thường hỏi chuyện về công tác, về tình hình trong nước và dư luận nhân dân về một sự kiện gì đó mới xảy ra. Mỗi lần như vậy tôi học tập được rất nhiều. Trong câu chuyện nhỏ này, tôi chỉ viết một số vấn đề cảm thấy bổ ích cho bạn đọc. Trước hết, Bác dạy “người lãnh đạo cần phải nắm vấn đề như thế nào?”.

Đầu năm 1963, lần đầu tôi vào báo cáo, chuẩn bị để Bác gặp một vị đại biểu Đảng bạn đến chào. Bác nhìn tập tài liệu dày 30 trang tôi cầm trong tay. Bác hỏi: Chú định gặp Bác bao nhiêu phút? Thưa Bác, 15 phút. 15 phút, chú không đọc xong tập báo cáo thì Bác còn thì giờ đâu để trao đổi? Chú gấp tài liệu lại, báo cáo trong một phút Bác nghe. Cũng may, tôi tự tay viết báo cáo nên chỉ phát biểu không đến một phút. Bác gật đầu: Chú nói ngắn như thế là được, nhiều chú giao cho cán bộ viết hộ rồi vào đọc như “thầy đọc”.

Theo 120 Chuyện kể về Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ chọn Phó Thủ tướng

Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức là một trong những nội dung quan trọng của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2010 và tiếp tục được xác định là nội dung trọng tâm của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020. Trong công tác cán bộ, việc đánh giá, xem xét, lựa chọn, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý có vai trò rất quan trọng.

bac-hoBác Hồ đi công tác ở chiến khu Việt Bắc

Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến công tác cán bộ. Người nói: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”(1). Để có cán bộ tốt, Người rất chú trọng đến công tác huấn luyện, lựa chọn và sử dụng cán bộ.

Đối với cán bộ, Người yêu cầu họ phải là những người có đức, có tài, phải vừa “hồng” lại vừa “chuyên”. Đức của người cán bộ phải được thể hiện ở ba phương diện: 1. Tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của dân tộc (trách nhiệm trước đất nước); 2. Thương yêu và chăm lo đến quyền lợi của nhân dân (trách nhiệm trước nhân dân); 3. Có đạo đức công vụ tốt, hết lòng vì công việc chung, không bè phái, không tham nhũng, lãng phí (trách nhiệm trước công vụ). Tài của người cán bộ phải được biểu hiện ở năng lực lãnh đạo, tổ chức, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nói cách khác là biểu hiện ở năng lực của người cán bộ. Năng lực đó không chỉ thể hiện ở trình độ học vấn mà phải được biểu hiện ở năng lực thực tế, ở hiệu quả công việc. Người tài là người phải có hoài bão làm những việc ích nước, lợi dân. Nhiều bài nói, bài viết và thực tiễn công tác lựa chọn cán bộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã toát lên các tiêu chuẩn đó.

Ngoài các tiêu chuẩn về “đức” và “tài”, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh người cán bộ lãnh đạo còn phải là những người:

– “Những người đã tỏ ra rất trung thành và hăng hái trong công việc, trong lúc đấu tranh.

– Những người liên lạc mật thiết với dân chúng, hiểu biết dân chúng. Luôn luôn chú ý đến lợi ích của dân chúng. Như thế, thì dân chúng mới tin cậy cán bộ và nhận cán bộ đó là người lãnh đạo của họ.

– Những người có thể phụ trách giải quyết các vấn đề trong những hoàn cảnh khó khăn. Ai sợ phụ trách và không có sáng kiến thì không phải người lãnh đạo.

– Người lãnh đạo đúng đắn cần phải: Khi thất bại không hoang mang, khi thắng lợi không kiêu ngạo. Khi thi hành các nghị quyết kiên quyết, gan góc không sợ khó khăn.

– Những người luôn giữ đúng kỷ luật” (2).

Tác giả xin kể lại câu chuyện “Bác Hồ chọn Phó Thủ tướng” với hy vọng một phần nào giúp chúng ta hiểu về Bác Hồ, hiểu cách thức Người lựa chọn cán bộ lãnh đạo cũng như những tiêu chuẩn cần có đối với người cán bộ lãnh đạo theo quan niệm của Người. Câu chuyện được kể lại dựa theo tài liệu lưu trữ của Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Vào những năm đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, đồng chí Đỗ Mười được Trung ương Đảng giao phụ trách việc chi viện cho chiến trường, lo cung cấp lương thực, xăng dầu, vũ khí cho miền Nam. Năm 1966, đồng chí trực tiếp chỉ đạo xây dựng đường ống dẫn dầu từ miền Bắc đến các vùng căn cứ kháng chiến miền Trung và miền Tây Nam Bộ.

Đầu năm 1967, đồng chí Đỗ Mười đến Hải Phòng để chỉ đạo thực hiện kế hoạch đối phó với bước leo thang mới của đế quốc Mỹ ra miền Bắc. Trong lúc đang triển khai công việc với địa phương, đồng chí nhận được điện thoại thông báo về Hà Nội để gặp Bác Hồ. Về đến Hà Nội vào giữa buổi trưa, đồng chí được Bác mời ăn bữa cơm trưa thanh đạm. Bác hỏi thăm kế hoạch đối phó với âm mưu mới của địch, việc chi viện cho chiến trường miền Nam, đời sống của cán bộ, chiến sĩ và căn dặn một số công việc khác. Khi đó, Bác không nói chuyện việc Bác có ý định chọn đồng chí làm Phó Thủ tướng.

Sáu tháng sau, đồng chí Đỗ Mười nhận được quyết định làm Phó Thủ tướng Chính phủ, tiếp tục chỉ đạo công việc chi viện cho chiến trường miền Nam và phụ trách khối kinh tế của miền Bắc Xã hội chủ nghĩa.

Sau này đồng chí Đỗ Mười mới biết, trước khi có cuộc gặp với Bác Hồ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã trình lên Bác danh sách một số đồng chí, xin ý kiến của Bác để lựa chọn vào chức vụ Phó Thủ tướng. Trao đổi với Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Bác Hồ thấy đồng chí nào cũng có quá trình công tác tốt, đáng tin cậy. Bác nêu ý kiến của mình về ưu, khuyết điểm của từng đồng chí được giới thiệu. Cuối cùng Bác nói: “Làm Phó Thủ tướng ngoài năng lực, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm, phải là người sâu sát công việc; có óc tổ chức và triển khai đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ; phải kiểm tra, đôn đốc để các đường lối, chủ trương, chính sách ấy trở thành hiện thực. Khối lượng công việc được giao rất lớn, nhưng chú Mười luôn tích cực, không ngại khó khăn, gian khổ, không bao giờ làm việc hời hợt, chung chung. Việc gì chú ấy cũng bàn bạc dân chủ, công khai và chỉ đạo sát sao, cụ thể. Bác thấy chú Mười có đủ các tiêu chuẩn làm Phó Thủ tướng, nhưng để Bác hỏi thêm sức khỏe của chú ấy như thế nào”(3).

Qua câu chuyện trên chúng ta thấy Bác Hồ đặt tiêu chuẩn rất cao để lựa chọn cán bộ lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Ngoài “đức” và “tài”, cán bộ lãnh đạo phải là những người có ý thức tổ chức kỷ luật, có tinh thần trách nhiệm; sâu sát thực tế, không quan liêu, không làm việc hời hợt, chung chung, có sáng kiến và biết vượt qua hoàn cảnh khó khăn; dân chủ, công khai, liên hệ mật thiết với nhân dân, quan tâm đến quyền lợi của nhân dân; có khả năng tổ chức và triển khai kế hoạch và phải có sức khỏe.

Những tiêu chuẩn lựa chọn cán bộ lãnh đạo nêu trên của Bác vẫn còn nguyên giá trị đối với việc lựa chọn cán bộ lãnh đạo của chúng ta ngày hôm nay. Việc lựa chọn, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay vẫn đang còn nhiều yếu kém, hạn chế và ở không ít nơi có cả những biểu hiện tiêu cực. Đánh giá, lựa chọn cán bộ chủ yếu dựa vào bằng cấp mà ít căn cứ vào năng lực thật sự và hiệu quả công việc của họ. Không ít cán bộ có tài, có đức không được lựa chọn, bổ nhiệm hoặc được bổ nhiệm vào những vị trí “trái chân”. Những hạn chế trong công tác đánh giá, lựa chọn cán bộ đã dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, không ít cán bộ lãnh đạo không có đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ, quản lý yếu kém, gây thất thoát lớn; một bộ phận cán bộ thoái hóa, biến chất, tạo phe cánh, gây mất đoàn kết, xa dân, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí,…

Trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo yêu cầu Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI hiện nay, những bài học qua câu chuyện lựa chọn cán bộ của Bác cần được nghiên cứu, học tập, quán triệt để đánh giá, lựa chọn, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo “đúng người, đúng việc”, qua đó góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng./.

            Chú thích

(1). Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2009, trang 269, 273.

(2). Sách đã dẫn, trang 275.

(3). Kho tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh, số BTHCM-TL117.

Tiến sĩ. Bùi Huy Khiên – Học viện Chính trị
Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Theo dvhnn.org.vn
Phương Thúy
(st).

bqllang.gov.vn

Chuyện vui đời thường của Bác Hồ (phần 2)

Chuyện kể về Người5. “Hôn nó một cái thì có mất gì”

Năm 1946, Bác đi thăm Pháp trở về, đến Vịnh Hạ Long, Người có cuộc đàm phán trên tàu với Đô đốc Đắc Giăng-li-ơ. Khi gặp, Bác đã chủ động ôm hôn Đô đốc. Những người tháp tùng Bác tỏ ý thắc mắc, Bác nói:

– Đánh nhau thì đánh nhau, mình hôn nó một cái thì có mất gì!

Hôm sau báo chí đăng ảnh và bình luận: “Hồ Chủ tịch ôm hôn Đô đốc chính là ôm chặt để bóp chết…”

6. “Ông cụ thân sinh ra mình là”

Năm 1946, nhận lời mời của Chính phủ Pháp, Bác sang thăm Pháp với tư cách một thượng khách. Người phụ trách làm hộ chiếu xin phép Bác làm thủ tục. Bác nói:

– Chú cứ hỏi, mình sẽ khai đầy đủ.

Đến câu hỏi: “Tên cụ thân sinh ra Bác là gì ?”, Bác trả lời:

– Mình là Hồ Chí Minh thì cụ thân sinh ra mình là Hồ Chí Thông.

Mọi người nhìn nhau cười vui.

7. Bộ khung và bức họa

Sau chuyến thăm chính thức nước Pháp với tư cách là thượng khách của nước này năm 1946, Bác về nước bằng tàu thủy. Về đến vùng biển của Cam Ranh, Bác nhận được bức điện của Đô đốc Đắc Giăng-li-ơ, xin gặp Bác trong cảng, mục đích của chúng là diễu võ dương oai để uy hiếp tinh thần Bác. Trong bộ quần áo giản dị, Bác ngồi giữa một bên là Đô đốc Hải quân Pháp, bên kia là Thống soái lục quân Pháp ở Viễn Đông với những bộ quân phục sáng loáng các thứ bội tinh, quân hàm, quân hiệu. Đô đốc Đắc Giăng-li-ơ nói đùa nhưng đầy sự ám thị bóng gió:

– Thưa ông Chủ tịch, ông đã được đóng bộ khung rất đẹp của Hải quân và Lục quân đó.

Bác thản nhiên mỉm cười :

– Đô đốc biết đó, giá trị là ở bức họa chứ không phải ở bộ khung. Chính bức họa đem lại giá trị cho bộ khung.

8. Tài ứng khẩu của Bác

Có rất nhiều mẩu chuyện nói lên tài ứng khẩu của Bác, thể hiện một trí tuệ mẫn tiệp, sự phản xạ tuyệt vời và cũng nhiều khi rất dí dỏm. Có lần, một người nước ngoài hỏi Bác:

– Có phải Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc không ?

Bác trả lời:

– Ông cứ đến Nguyễn Ái Quốc mà hỏi.

Một nhà báo nước ngoài xin phỏng vấn Bác, ông ta đặt câu hỏi :

– Thưa Chủ tịch, trước hoạt động ở nước ngoài vào tù ra khám, nay hoạt động ở trong nước, Chủ tịch có thấy gì thay đổi trong đời mình không?

Bác trả lời hóm hỉnh:

– Không, không có gì thay đổi cả, lúc bị tù ở Quảng Tây luôn luôn có hai lính gác giải đi, lúc trong tù mỗi ngày 5 phút được hai người lính bồng súng giải đi dạo chơi. Nay làm Chủ tịch nước, đi đâu cũng có hai người bảo vệ mang súng lục đi theo, ông thấy có gì thay đổi không nào?

9. Những đêm lửa trại

Một buổi chiều tại chiến khu Việt Bắc, Bác Hồ tìm ông Hoàng Đạo Thúy, bảo:

– Tối nay, Cụ tổ chức lửa trại nhé!

– Thưa Cụ, chỉ có mấy ông cụ già với mấy ông Bộ trưởng bận bịu, lửa trại khó vui được lắm!

– Có vui chứ!

Ông Hoàng Đạo Thúy nảy ra một ý tinh nghịch:

– Nếu tôi làm “trùm lửa” thì ai cũng phải nghe tôi đấy!

– Nhất định thế!

Bác Hồ vừa trả lời vừa tủm tỉm cười, chắc Người hiểu ý ông Hoàng Đạo Thúy.

Lửa bùng lên. Ngồi quanh có Bác Hồ, bác Tôn Đức Thắng, cụ Phan Kế Toại, cụ Phạm Bá Trực và mười ông Bộ trưởng. Ông Thúy chắp tay:

– Xin mời Cụ Chủ tịch hát mở lửa trại!

Chẳng ngần ngừ gì cả, Bác Hồ vừa bước quanh lửa trại vừa cất tiếng hát:

“Anh hùng xưa, nhớ hồi là hồi niên thiếu

Dấy binh, lấy lau làm cờ… ”

Ai cũng thấy lạ, vì sao Người biết bài hát ấy? Bác cười:

– Bọn hướng đạo nó dạy tôi đấy!

Một lần khác bác sĩ Trần Duy Hưng được Bác đề bạt làm “trùm lửa”. Bác sĩ Hưng cũng trêu Bác – trêu một cách kính mến thôi – chứ Bác không bao giờ bị bí cả.

Hai người ngồi bên Bác, giang tay làm tàu bay, mồm kêu “ ù, ù” bác sĩ Hưng gọi loa:

– “A lô, a lô! Đồng bào Thành phố Hồ Chí Minh, Cụ Chủ tịch vào thăm đồng bào! Cụ có huấn thị…”

– Bác đứng nhổm ngay dậy:

– “A lô đồng bào! Tôi vào thăm đồng bào. Đi tàu bay mệt quá, xin để bác sĩ Trần Duy Hưng nói với đồng bào thay tôi!”

Thế là Bác sĩ Trần Duy Hưng đâm ra cuống.

Tâm Trang(st)
bqllang.gov.vn

Chuyện vui đời thường của Bác Hồ (Phần 1)

Cụ Hồ thách đố

Cuộc sống của Bác Hồ bao giờ cũng giản dị vui tươi. Bác làm từ việc lớn, như lãnh đạo cách mạng, đến việc bình thường nhất như xay bột, giã gạo,vác gỗ…

Có lần Bác đang cặm cụi trồng cây khoai môn trước cửa nhà, thấy chúng tôi vào, Bác liền cười nói:

– “Trồng môn trước cửa nhà”, thử đối lại xem sao.

Câu đối cũng khá hóc búa vì “môn” tức là cửa, làm thế nào chọn được vế kia cho chọi.

– “Bắt ốc sau nhà”! – Chúng tôi cùng nhau cười thưa lại sau một lúc lâu suy nghĩ.

Bác cười một cách vui vẻ.

– Tạm cho được!

… … …

Một đêm trăng sáng. Đồng chí ông Ké cùng các đồng chí và tôi đi tắm đêm. Trông thấy bóng trăng sáng vằng vặc trong lòng suối, đồng chí ông Ké nói:

Tôi có một câu đối. Ai đối được tôi gả con gái cho.

Đồng chí ông Ké liền thong thả đọc vế đối:

– “Nguyệt chiếu khê tâm, tâm chiếu nguyệt”

(Mặt trăng soi xuống lòng khe, lòng khe soi lên trăng)

Ai cũng cố nghĩ để đối lại. Riêng đồng chí Hường đối:

– “Hoa sinh thạch diện, diện sinh hoa”

(Hoa nở trên mặt đá, mặt nở hoa)

Ông Ké thốt lên vui vẻ:

– Ô, thế hóa ra mặt rỗ rồi.

– Mọi người cùng phá lên cười vui vẻ. Nghĩ đến vế đối của ông Ké ra, lời lẽ thanh tao, ý tứ sâu sắc, đối được cũng khó. Nhân nhìn trước mắt có cái động núi đẹp đẽ, lúc trẻ tôi vẫn thường cùng bạn bè vào chơi, hét lên một tiếng có ngàn tiếng vọng lại. Tôi nói:

– “Lôi mình không cốc, cốc mình lôi”

(Sấm gọi hang không, hang gọi sấm)

Ông Ké khen:

– Được. Nhưng đồng chí không làm rể được mình vì đồng chí gần bằng tuổi mình rồi, lại đã có gia đình.

Mọi người cười ồ vui vẻ…

Theo 108 Chuyện vui đời thường của Bác Hồ
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chuyện vui đời thường của Bác Hồ (Phần 1)

421. Bác Hồ trong cuộc liên hoan bế mạc Đại hội Quốc dân Tân Trào

Tối hôm bế mạc Đại hội Quốc dân Tân Trào (họp vào năm 1945) có một cuộc liên hoan. Mọi người được dự bữa “tiệc” có cả rượu “con mèo” và đồ hộp do bộ đội ta đánh Pháp ở Tam Đảo lấy được. Cuộc liên hoan thật vui. Bác Hồ cũng rất vui. Người bảo Đoàn đại biểu Hà Nội hát một bài. Anh Vũ Quang, người phụ trách sinh hoạt của Đoàn, bắt nhịp hát bài “Quảng Châu công xã” của Đỗ Nhuận. Nhạc sĩ trẻ Nguyễn Đình Thi hát bài “Thanh niên cứu quốc”. Bài hát có câu: “Gươm đâu, gươm đâu, thời cơ đang đến – tiến lên, tiến lên theo cờ Việt Minh!”. Bác Hồ ngồi giữa các đại biểu bỗng nói:

– Bây giờ mà các chú còn hát gươm đâu, gươm đâu, thì không hợp nữa. Chú lên hát là gươm đây, gươm đây!

Các đại biểu reo lên vui cười.

2. Những kỷ niệm vui của bà Thanh Thủy

Ở Đại hội Quốc dân Tân Trào, công việc nhiều, thời gian ít, nhưng Bác Hồ vẫn dành thời gian tiếp xúc với những đại biểu và dường như ai cũng có kỷ niệm riêng với Người. Với bà Thanh Thủy (vợ ông Dương Đức Hiền), Người hỏi:

– Cô công tác ở đâu?

– Da thưa cháu công tác ở Hải Phòng, Kiến An và Quảng Yên ạ!

– Ba tỉnh kia à? Thế thì bằng Tổng đốc rồi còn gì!

– Hôm chia tay, một số người còn ở lại quây quần bên Bác Hồ trên nhà sàn. Người lần lượt chia quà. Đến lượt bà Thủy, Người hỏi:

– Cô chú đã có cháu chưa?

– Dạ, chưa ạ!

– Thế tôi tặng bánh xà phòng thơm này, mau có cháu, tắm cho bé nhé!

Mọi người cười ồ. Bà Thủy nắm chặt món quà quý vô cùng xúc động.

3. Thế có “Tính nhà quan” không?

Hồi đầu Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Bác hỏi một Bộ trưởng đang mặc quần đùi âu phục:

– Chú mặc “soọc” cơ à?

– Dạ thưa cụ, mặc như thế này cho có vẻ con nhà lính ạ!

– Thế có “tính nhà quan” không? – Bác tiếp luôn rất nhanh.

Mọi người xung quanh cười ồ rất thoải mái.

4. Tôi sẽ vẽ râu cho chú

            Sau ngày 2/9/1945, nhà thơ Cù Huy Cận được giao chức trách Bộ trưởng Bộ Canh nông. Năm đó ông vừa tròn 26 tuổi, Bác Hồ gọi cho ông lên và nói:

– Tôi muốn giao cho chú thêm 1 việc nữa. Đó là làm trong Ban Thanh tra đặc biệt, gồm có 2 người: Chú và cụ Bùi Bằng Đoàn.

Huy Cận thưa với Bác :

– Cụ Bùi Bằng Đoàn là một vị quan có tiếng thanh liêm trong triều đình cũ, còn cháu trẻ quá, nên cháu xin được từ chối.

Bác ôn tồn giải thích :

– Chú sợ trẻ quá không đủ sức để làm thanh tra chứ gì? Vậy thì chiều nay chú mang bút lông và mực Tầu đến đây. Chú mài mực và tôi sẽ vẽ râu cho chú. Thế là chú sẽ thành thanh tra thôi.

Trước những lời chân tình và vui đùa thân mật của Bác như vây, Cù Huy Cận đã nhận lời Người.

Tâm Trang(st)
bqllang.gov.vn

Như giữ đồng bạc trắng

Chuyện kể về NgườiÔng Nguyễn Tiến Sự là người đầu tiên của tỉnh Tuyên Quang đón Bác Hồ về nhà mình ở.

Trở về thăm mái đình Hồng Thái cây đa Tân Trào, tuổi trẻ Tuyên Quang đã được nghe ông kể chuyện về Bác Hồ muôn vàn kính yêu của thế hệ trẻ Việt Nam

Một bữa chị em phụ nữ bản Tân Lập (Tân Trào, Tuyên Quang) tập trung xay thóc giã gạo chuẩn bị lương thực cho cán bộ, bộ đội thì Bác đi công tác qua, dừng lại hỏi chuyện:

– Chị em có biết mình xay thóc, giã gạo thế này là để làm gì không?

Mọi người chưa hiểu, nên đưa mắt nhìn nhau, Bác nói tiếp:

– Xay thóc, giã gạo để cán bộ và bộ đội có cơm ăn đánh Tây, đuổi Nhật. Như vậy là chị em ta cũng góp phần đánh Tây, đuổi Nhật đó.

Bác lại hỏi:

– Nếu chị em ta có đồng bạc trắng thì cất giấu ở đâu cho khỏi mất?

Chị em vui vẻ trả lời Bác. Người thì nói là cho vào hòm chắc khoá lại. Người thì cho là bỏ vào túi vải luôn luôn mang ở bên mình…

Đợi mọi người nói hết, Bác kết luận:

– Ai nói cũng đúng. Cất như vậy là kín. Bây giờ ở bản ta có cán bộ, bộ đội chúng ta cũng phải bí mật bảo vệ họ cẩn thận như giữ đồng bạc trắng. Vì nếu để lộ ra thì dễ hỏng mất việc nước.

Theo dulichtantrao.com.vn
Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn

Đây là cánh cửa hòa bình

Chuyện kể về NgườiNăm 1958, Bác đi thăm Ấn Độ, Người rời Thủ đô Niu Đêli bằng xe lửa đặc biệt để thăm thành phố Bombay. Đông đảo đại diện ngoại giao các nước và quần chúng Thủ đô Niu Đêli ra tiễn Bác. Các thành viên của Đoàn ta lên các toa tr­ước để khi Bác đến là tàu có thể chuyển bánh được ngay.

Bác đến, rồi đi chào các đại diện ngoại giao đang xếp hàng ngang trong phòng khách của nhà ga. Khi ra sân ga chỉ có Bác, Thủ t­ướng Ấn Độ Nêru và ông Vụ tr­ưởng Vụ Lễ tân của Ấn Độ. B­ước đến toa dành riêng cho Bác, Bác không vào ghế ngồi ngay mà đứng lại ở cửa, nói một vài câu chuyện với Thủ t­ướng Nêru. Khi còi tàu nổi lên báo hiệu tàu sắp chuyển bánh, Thủ tướng Nêru thân mật và ân cần nói với Bác:

– Chủ tịch hãy cẩn thận, tàu sắp chuyển bánh đó.

Tư­ơi cười và rất hiền hoà, Bác Hồ nói với Thủ t­ướng Nêru:

– Ông bạn thân mến cứ yên tâm, đây là cửa của hoà bình.

Nghe Bác nói, Thủ t­ướng Nêru cười vui vẻ, cảm kích và trả lời Bác:

– Thư­a Chủ tịch, cửa hoà bình luôn luôn rộng mở.

Câu chuyện rất thân mật này diễn ra giữa hai người đứng đầu hai quốc gia, đồng thời cũng là hai người bạn yêu chuộng hoà bình, luôn luôn đấu tranh cho hoà bình, hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc đã làm cho các nhà báo Ấn Độ và nước ngoài có mặt hôm ấy rất chú ý.

Sáng hôm sau các báo lớn của Ấn Độ đăng lại cuộc đối thoại lý thú này và đã tạo dư­ luận rất tốt trong quần chúng. Nhiều báo nhắc lại câu nói của Bác: Đây là cánh cửa hoà bình.

Trích những câu chuyện kể về Bác Hồ
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Giao thừa lửa trại

Chuyện kể về NgườiĐó là cái Tết Kỷ Sửu (1949) ở Sơn Dương, Tuyên Quang. Ngày 10-1-1949, theo lệnh của Bác, cơ quan Phủ Chủ tịch di chuyển từ xã Trung Trực, huyện Yên Sơn đến Lũng Tẩu, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

Khi cơ quan đã ổn định xong nơi ăn chỗ ở, thì Tết đã đến gần. Năm ấy, đồng chí Hồ Tùng Mậu, Tổng Thanh tra Ban Thanh tra Chính phủ được cơ quan bầu làm Trưởng ban Ban Tổ chức Tết Kỷ Sửu. Đồng chí Hồ Tùng Mậu tổ chức một buổi họp chuyên bàn về việc đón Tết cho cơ quan. Khi cuộc họp đang diễn ra sôi nổi với những quyết định về tramg trí, hái hoa, văn nghệ, thể thao… thì Bác Hồ đến. Không đợi để ai báo cáo, Bác hỏi:

– Tết năm nay, ta tổ chức vui như thế nào?

– Thưa Bác, chúng cháu đang bàn đấy ạ! Đồng chí Hồ Tùng Mậu trả lời.

Bác hỏi tiếp:

– Thế đã bàn mục pháo chưa?

– Dạ chưa ạ!

Một số anh em bàn tán xôn xao về chuyện lấy pháo ở đâu. Thấy vậy, đồng chí Hồ Tùng Mậu liền hỏi ý kiến của Bác:

– Thưa Bác, rừng núi như thế này thì kiếm đâu ra pháo…?

Bác cười, chỉ tay ra rừng nứa:

– Pháo ở rừng đấy, tha hồ!

Anh em có mặt trong buổi họp cùng à lên và hiểu rằng, đốt lửa thì nứa nổ, đấy là pháo, thứ pháo thực vật rất thiên nhiên, gần gũi với con người.
Sau đó, Bác còn “đạo diễn” nhiều hình thức vui Tết nữa rồi mới về.
Đồng chí Hồ Tùng Mậu đề nghị anh em đi chặt nứa, bó lại thành những bó ngắn, vừa dễ vác, dễ xếp đống, khi đốt vừa gọn. Đống nứa ở sân cứ cao dần, khô dần và ngày của cuối năm Tý cũng hết. Anh em trong cơ quan tuy rất mong Bác đến sớm nhưng lại đoán phải mồng hai, mồng ba gì đó Bác mới có thời gian “sang” thăm cơ quan được. Nhưng, đúng đêm 30, giao thừa thì Bác tới. Mọi người chạy ùa ra đón Bác, tranh nhau nói một câu chúc Tết Bác. Bác vui vẻ chúc lại mọi người rồi chỉ một chỗ thuận tiện bảo anh em xếp nứa đốt.

Bác nói:

– Tết này, Bác ăn Tết lửa trại với các chú.

Lửa bốc lên, nứa nổ lép bép như tràng pháo tiếp nhau, nghe rất vui tai. Việc đầu tiên là Bác mở chiếc túi vải đeo bên mình ra rồi nói:

– Đây là quà Tết đồng bào tặng Bác. Bác biếu các chú…

Bác đưa tận tay từng cán bộ, chiến sỹ mỗi người một quả cam. Sau đó, mọi người trong cơ quan ca hát, cầm tay nhau nhảy quanh ngọn lửa trại ấm cúng đầy tình cảm gia đình cách mạng.

Đêm ấy, Bác nghỉ lại cơ quan. Sáng mồng một Tết, Văn phòng tổ chức chúc Tết năm mới Bác. Bác cảm ơn rồi bảo mọi người ngồi lại nghe Bác kể chuyện về tình hình thế giới, tình hình trong nước. Bác cho biết, quân ta vừa thắng địch ở Ba Thá, Tế Tiêu, Ý Yên và đặc biệt ở Thừa Thiên, Quảng Nam, Đà Nẵng ta đánh đoàn tàu gần 20 toa xe, phục kích ở đèo Hải Vân phá hủy mấy chục xe, diệt hàng trăm tên địch. Bác khuyên mọi người thi đua làm tròn nhiệm vụ ở hậu phương để xứng đáng với tiền tuyến.

Khi mọi người trong cơ quan chuẩn bị thi đấu bóng chuyền, Bác nói:

– Để Bác làm trọng tài cho. Các chú chia thành đội ra chơi đi.

Trước khi hai đội chào nhau vào trận đấu, Bác giơ tay thổi một tiếng còi tuyên bố:

– Đội nào thắng, sẽ được trọng tài chính thưởng mỗi người một điếu thuốc lá thơm.

Cuộc đấu bóng chuyền diễn ra thật sôi nổi, hấp dẫn và quyết liệt, vì đội nào cũng muốn giành phần thắng. Nhưng cuối cùng cũng có bên được, bên thua. Bên thắng xếp hàng ngay ngắn, chỉnh tề, hân hoan. Đội trưởng hô nghiêm rồi báo cáo:

– Thưa Bác, chúng cháu thắng ạ!

Bên thua, thấy vậy cũng làm liều nhảy ra xếp vội hàng báo cáo:

– Thưa Bác, chúng cháu cũng thắng đấy ạ. Thắng một séc ạ.

Các cổ động viên thấy thế cũng chạy tới xếp hàng:

– Thưa Bác, thưa Bác, chúng cháu cũng thắng đấy ạ. Cổ vũ phe thắng. Bác cười rất vui rồi nói:

– Đúng, năm nay sẽ là năm đại thắng lợi, không ai được phép thua cả…

Trên đường về, Bác cứ khen mãi là anh em mình “thông minh”.

Theo dulichtantrao.com.vn
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ của chúng ta là như vậy đó

Chuyện kể về NgườiHơn 40 năm làm công tác dân vận – Mặt trận, với trách nhiệm được giao, tôi có hạnh phúc lớn là được tiếp xúc với nhiều chính khách, nhiều nhân sĩ, trí thức nổi tiếng, các vị tiêu biểu của các dân tộc, các tôn giáo, trong đó không ít người đã được Bác Hồ cảm hóa, trở thành cộng sự thân thiết của Bác, tiếp thu tư tưởng của Người và đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc và xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất.

Mỗi lần kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh lại một lần anh chị em làm công tác Mặt trận chúng tôi có dịp được nghe chính những người trong cuộc kể lại những câu chuyện đầy xúc động về tầm nhìn xa, trông rộng, lòng bao dung, độ lượng, sức hút kỳ diệu và tài cảm hóa lạ thường của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Những câu chuyện đó được anh em chúng tôi ghi chép đầy đủ. Nhân dịp kỷ niệm 66 năm ngày Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, tôi trích đăng chuyện kể của Luật sư Phan Anh, Phó Chủ tịch thứ nhất Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa III, tại buổi họp mặt của Mặt trận ngày 10-5-1990 kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Bác Hồ. Không ai nghĩ rằng đây là buổi nói chuyện cuối cùng của Luật sư tại cơ quan Mặt trận vì chỉ sau đó hơn một tháng, ngày 28-6-1990 luật sư Phan Anh đã vĩnh biệt chúng ta. Tiêu đề bài viết này chính là câu kết bài nói của Luật sư.

Ông kể: Theo tôi nhớ, từ trung tuần tháng 7 đến trung tuần tháng 8-1945, những cuộc thương lượng giữa Chính phủ Trần Trọng Kim với Việt Minh diễn ra dồn dập tại Hà Nội. Mở đầu là việc ông Lê Trọng Nghĩa với vai giáo sư Lê Ngọc đã có cuộc tiếp xúc đầu tiên với Khâm sai đại thần Phan Kế Toại ngay tại Phủ khâm sai trong giờ hành chính. Tiếp đó là cuối tháng 7, Thủ tướng Trần Trọng Kim ra Bắc Bộ để thị sát thực địa và điều đình với Nhật cũng đã được ông Phan Kế Toại bố trí tiếp xúc với đại diện Việt Minh ở Hà Nội.

Trước tình hình chuyển biến mau lẹ, ngày 18-8 Khâm sai Phan Kế Toại lại gặp các ông Nguyễn Khang, Lê Trọng Nghĩa, Trần Đình Long tại Phủ khâm sai, chính thức mời Việt Minh cộng tác với Chính phủ Trần Trọng Kim và sẵn sàng chờ Mặt trận cử người tham gia Chính phủ. Cùng ngày, Bộ trưởng Hoàng Xuân Hãn cũng xin gặp Việt Minh, mời Việt Minh tham gia Chính phủ mở rộng và đề nghị trong tình hình quân Đồng minh đang trên đường vào Việt Nam mong cuộc thương lượng tiếp tục, Việt Minh nên nắm vùng nông thôn, Chính phủ lâm thời quản lý các thành phố để có danh nghĩa nói chuyện với Đồng minh.

Tất cả các cuộc thương lượng đều không có kết quả. Ông Trần Trọng Kim giao tôi làm thuyết khách cuối cùng với hy vọng: Với “tài hùng biện của Phan Anh” may ra còn cứu vãn được tình thế.

Nể lời Thủ tướng Trần Trọng Kim, tôi nhận lời và chuẩn bị kỹ cho cuộc gặp.

Tôi còn nhớ, ngày 25-8 Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Tân Trào về Hà Nội. Ngày 26, Người chủ trì Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Ngày 28, báo chí Hà Nội công bố danh sách 15 thành viên của Chính phủ cách mạng do Bác làm Chủ tịch. Cũng ngày đó, tôi đến gặp lại giáo sư Hoàng Minh Giám – một trí thức tiêu biểu của nước ta, thầy Hiệu trưởng trường Thăng Long xưa mà tôi đã một thời dạy học ở đó. Ông lúc này là Đổng lý Văn phòng Bộ Nội vụ và được Giáo sư cho biết Cụ sẽ tiếp tôi vào 9 giờ sáng hôm sau. Hay tin tôi ra “đấu tranh” với Chủ tịch Hồ Chí Minh, chú Phan Mỹ – em tôi, một cán bộ cách mạng, vội gặp tôi can ngăn:

– Từ trước đến nay, tôi vẫn phục Anh, coi Anh là thần tượng. Nhưng với việc anh định “đấu tranh” với Cụ thì Anh mê muội quá chừng. Anh muốn “đội đá, vá trời” chăng? – Tôi chỉ mỉm cười, chẳng phản đối, cũng chẳng thanh minh.

Đúng giờ, tôi đến địa điểm hẹn. Tôi quá bất ngờ và đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Đón tôi là một ông Tiên thực thụ. Cụ vận bộ kaki bạc màu, đi đôi bata của đồng bào dân tộc Tày. Cụ không chờ tôi lên mà dáng nhanh nhẹn, Cụ vội bước xuống ngang chỗ tôi đứng bắt tay:

– Tôi đã chờ chú từ lâu. Người nói – Trước khi ra Bắc, chú đã về quê choa chưa?

Tôi bối rối và thực sự xúc động. Những điều lâu nay tôi chuẩn bị công phu nay tan biến cả trước một con người cao sang nhưng không xa cách, một vĩ nhân xa quê hương, đất nước hơn một phần ba thế kỷ nhưng vẫn không quên thổ ngữ thân thương. Tôi ấp úng trả lời:

– Thưa Cụ, con chưa kịp về quê nhà.

Cụ ôm eo tôi cùng bước lên, đưa tôi vào phòng khách. Đồng chí Đàm Quang Trung (1) lúc đó là Đội trưởng đội bảo vệ Bác vào định rót nước mời khách.

Cụ ngăn:

– Chú Phan Anh là khách của Bác, để Bác tiếp. Chú cứ lo việc của chú. Chính tay Bác rót nước mời tôi, thân mật như cha con lâu ngày gặp lại.

Vừa uống nước, Cụ vừa giải thích cho tôi hiểu tình hình thời cuộc và đời sống cùng cực của dân ta hiện nay. Cụ nói ý:

– Dân ta bao năm một cổ đôi tròng, sống dưới chế độ áp bức của thực dân, phong kiến và phát xít Nhật. Nay ta đã giành được độc lập, phải mau chóng tái thiết quốc gia để dân có cơm ăn, áo mặc, được học hành. Chú là người tài cao, học rộng, tôi đề nghị chú ra gánh vác việc nước và trực tiếp làm Chủ tịch Ủy ban Kiến thiết quốc gia.

Tôi ngỡ ngàng trước một sự việc mà mình chưa bao giờ nghĩ tới, liền thưa:

– Thưa Cụ, con chỉ được đào tạo về luật chứ chưa được đào tạo về kiến thiết xây dựng.

– Thế tôi có được ai đào tạo để làm Chủ tịch nước đâu? Dân giao thì mình phải làm, phải vừa làm, vừa học và làm cho tốt, cho thật tốt.

Bác Hồ của chúng ta là như vậy đó. Ngày 29-8-1945 là ngày mà Bác Hồ đổi đời cho tôi, cho gia đình tôi.

45 năm đã trôi qua, tôi lớn lên theo cách mạng, lớn lên theo sự dìu dắt, bảo ban của Người, của Bác Hồ kính yêu của chúng ta.

Con đường mà Luật sư đi theo cách mạng là như vậy. Luật sư Phan Anh là Chủ tịch đầu tiên của Ủy ban Kiến thiết quốc gia của nước ta.

Ngày 2-3-1946 Chính phủ liên hiệp quốc gia được thành lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, ông được mời giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng. Tháng 7-1946 ông được Chính phủ giao trọng trách Tổng Thư ký Phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đi dự Hội nghị Fontainbleau đàm phán với Chính phủ Pháp.

Trong những năm kháng chiến chống Pháp, ông từng đảm nhiệm các chức vụ: Bộ trưởng Bộ Kinh tế (1948), Bộ trưởng Bộ Công thương (1954). Tháng 7-1954, ông là phái viên Phái đoàn Việt Nam đàm phán tại Hội nghị Giơnevơ.

Sau Hiệp định Giơnevơ, Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao ông đảm nhận nhiều trọng trách: Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Bộ trưởng Bộ Thương nghiệp rồi Bộ trưởng Bộ Ngoại thương.

Luật sư Phan Anh là đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa VIII, là Phó Chủ tịch Quốc hội khóa VII. Ông cùng luật sư Nguyễn Mạnh Tường sáng lập Hội Luật gia Việt Nam và trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của Hội và là Ủy viên Thường vụ của Hội Luật gia dân chủ thế giới.

Đối với sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc và hoạt động của Mặt trận Dân tộc thống nhất, luật sư Phan Anh là thành viên của Ban Vận động thành lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam. Ngày 29-5-1946 khi Hội chính thức được thành lập, ông được cử làm Ủy viên Thường vụ.

Ngày 10-9-1955 MTTQ Việt Nam ra đời, ông tiếp tục được cử làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam cho đến khi Đại hội thống nhất các tổ chức Mặt trận trong phạm vi cả nước vào tháng 2-1977.

Tại Đại hội I và Đại hội II MTTQ Việt Nam, luật sư Phan Anh được cử làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch. Và tại Đại hội III ông được cử làm Phó Chủ tịch thứ nhất Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam.

Luật sư Phan Anh là một trí thức tiêu biểu, tài năng và đức độ, một nhà hùng biện nổi tiếng, một trong những nhân vật đã từng được cộng tác mật thiết bên cạnh Bác Hồ trong nhiều năm và đã có những cống hiến to lớn vào việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân và Mặt trận Dân tộc thống nhất.

 Nguyễn Túc
(Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam)
daidoanket.vn

(1) Sau này là Thượng tướng, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước