Thư viện

Lòng yêu nước hay là sự lợi dụng?

“Yêu nước là tình cảm và là một chân lý phổ biến mà cuộc sống ban tặng cho bất kỳ dân tộc nào trên trái đất cũng như của số đông con người. Nhưng báu vật đó không phải chia đều và càng không giống nhau đối với mọi quốc gia, dân tộc trên thế giới. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được nảy nở, phát triển trong những hoàn cảnh, điều kiện lịch sử đặc biệt, nên có những được nét đặc sắc riêng gắn liền với giá trị truyền thống quý báu đó. Chính nhân tố đại đoàn kết dân tộc là hạt nhân tư tưởng, là cội nguồn sức mạnh trường tồn dân tộc và bản sắc riêng của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam”.

Hà Nội một ngày bình yên

Ảnh: Hoàng Long

Tôi đã rất xúc động trước những phản ứng gần như ngay lập tức của đông đảo đồng bào ở trong nước và kiều bào ở nước ngoài trước sự kiện tàu hải giám Trung Quốc cắt cáp của tàu Bình Minh 02 và tàu Viking của Việt Nam. Tuy mỗi người một vị trí, mỗi người một công việc, nhưng điểm chung của tất cả là thái độ lên án và phê phán mạnh mẽ hành vi gây hấn, đồng thời mong muốn tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc để kiên quyết bảo vệ chủ quyền của đất nước. Hình ảnh của nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học, nhà hoạt động xã hội có tên tuổi cùng với nhiều thanh thiếu niên ở nhiều vùng đất nước xuống đường bày tỏ sự phản đối các hành động gây hấn và âm mưu độc chiếm Biển Đông từ đường “lưỡi bò” phi lý đã hòa cùng không khí của cả nước quyết tâm bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam trên Biển Đông. Thật tự hào khi thấy dòng chảy của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam tiếp tục có dịp được bùng lên, vượt lên trên những lắng đọng của cuộc sống đời thường, tuôn chảy. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, lòng yêu nước của người dân đất Việt thực sự là một mạch ngầm đầy năng lượng luôn luôn chảy xuyên suốt trong lịch sử dân tộc Việt Nam anh hùng cho đến tận ngày hôm nay.

2.

Tôi vẫn theo dõi vào mỗi sáng chủ nhật gần đây và ngày càng nhận thấy có nhiều điều băn khoăn, nghi ngại. Cô em vợ làm ở ngân hàng thường xuyên nhận được tin nhắn rủ đi “biểu tình”. Một vài blog và trang mạng ra sức tung tin mời gọi, đặc biệt là sự phối hợp tung hô cổ vũ cho những cá nhân tham gia, tôn vinh họ như thể chỉ mỗi họ, những người đi và tham gia “biểu tình” do họ mời gọi là có lòng yêu nước và nếu muốn yêu nước thì phải đi “biểu tình” hàng tuần. Các “thủ thuật” nghiệp vụ báo chí được vận dụng hết cỡ, cập nhật từng phút, đi vào được từng số phận cùng các câu chuyện của nhiều người tham gia. Nếu chỉ dừng ở đó thì cũng không muốn bình luận làm gì. Nhưng việc thể hiện những bài viết như vậy chưa đủ mà còn có thêm sự phụ hoạ khó có thể ít văn hóa hơn của những comment tung hứng cho những bài viết loại này. Có lẽ bản chất của vấn đề đã được bộc lộ ở đây khi tập hợp hầu hết những ý kiến mà tất cả chỉ thấy một giọng điệu vừa hằn học, vừa vô văn hóa. Hằn học với chế độ,với sự thật phát triển đi lên ngày càng tốt đẹp của cuộc sống của đa số người dân chúng ta.Vô văn hoá thể hiện trong ngôn từ,cách nói. Viết đến đây tôi chợt nhớ lại ý kiến của một nhà báo đã phải thốt lên trong blog của mình: Dân chủ = chửi + vô văn hóa, dân chủ kiểu gì mà cứ cái gì khác ý kiến, khác suy nghĩ của mình là chửi. Đó thật sự là sự kích động, mị dân và lừa gạt lòng yêu nước chân chính.

Tôi vô tình xem được một video clip do một người đưa lên blog để chứng minh lòng yêu nước của gần 50 con người “tiên phong” trong ngày chủ nhật 21-8-2011 vừa qua. Trong sự lộn xộn, tiếng một phụ nữ the thé hô, vài người khác hô theo với những lời đao to búa lớn. Ông bạn bên cạnh tôi xem và bật cười, bình luận: Lòng yêu nước hay là sự đánh bóng bản thân bằng trò đùa cố chấp? Theo tôi để chứng minh “lòng yêu nước” của nhóm người kia mà lại đưa cái video clip ấy lên mạng thì thật không đắt!

3.

Tôi có những người quen thân từ thuở hàn vi, nay họ là những doanh nhân thành đạt. Chúng tôi thường xuyên thông tin trao đổi cùng nhau nhiều chuyện về cuộc sống và mỗi người có một cuộc sống, sở thích, sinh hoạt và cá tính khác nhau. Điều xúc động là họ đều chủ động trao đổi với tôi ngay khi Trung Quốc gây hấn trên Biển Đông. Mỗi người một cách nhận định, song tựu chung lại, họ không chỉ bất bình mà còn muốn hiến kế, muốn được góp tiền, góp nhiều tiền để Nhà nước ta mua được vũ khí thật hiện đại bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc trên Biển Đông. Tôi biết họ không nói đùa, không nhờ tôi “đánh bóng” mà họ thật lòng thể hiện tình cảm và trách nhiệm của họ với vận mệnh dân tộc.

Ở cơ quan tôi rất nhiều người muốn đi Trường Sa. Khi được cử đi Trường Sa, đối với mỗi người là niềm hạnh phúc. Tôi may mắn đã được đến Trường Sa trong một hành trình chỉ hơn 10 ngày ngắn ngủi. Nhưng đã cho tôi những cảm xúc không thể nào quên về tình cảm thiết tha của cả nước đối với Trường Sa được thu lại qua thành viên của chuyến đi. Từ lãnh đạo cấp cao của UBMTTQ Việt Nam đến đại biểu Quốc hội, nhiều nhân sĩ trí thức, đoàn tăng ni Phật tử, các doanh nhân, văn nghệ sĩ và rất nhiều nhà báo ở mọi miền đất nước. Tất cả đều mong muốn được đến với một phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc – Trường Sa. Quan sát và tận mắt thấy sự đổi thay kỳ diệu của từng hòn đảo giữa biển khơi này, từ những người dân kiên trì lập nghiệp trên đảo, những em bé mới được sinh ra, cùng cuộc sống và đời sống phong phú trên từng hòn đảo văn minh xinh đẹp mới thấy hết chiều sâu công sức, tiền của của Đảng ta, Nhà nước ta, nhân dân ta chăm lo vun đắp cho Trường Sa to lớn đến nhường nào. Và quan trọng nhất tôi đã được tận mắt thấy sự nỗ lực,của cán bộ chiến sĩ Trường Sa: Trẻ trung, rắn rỏi, lạc quan, tin tưởng, mẫn cán và chuyên nghiệp trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Tôi đã ứa nước mắt khi biết rằng trong những ngày nắng cháy tháng 5, tháng 6 mỗi cán bộ, chiến sĩ chỉ được 2 lít nước ngọt một ngày, song họ vẫn sẵn sàng chia sẻ cho các ngư dân mọi nguồn lực có thể. Các ngọn hải đăng trên các đảo vẫn đêm ngày chỉ dẫn và vẫy gọi cho ngư dân chúng ta vượt trùng khơi ra khai thác và làm chủ ngư trường Hoàng Sa, Trường Sa của chúng ta. Tất cả, tất cả đều diễn ra bình thường mỗi ngày, mỗi ngày.

4.

Hôm nay ngồi viết những dòng này, nhớ lại những gì vừa xảy ra trong ngày chủ nhật vừa qua cùng những lời tung hô, chửi bới trên một vài trang mạng, blog mới thấy rõ hơn sự lợi dụng và kích động trắng trợn với mưu tính chia rẽ gây bất ổn xã hội của họ. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam không chỉ là những mạch ngầm chờ thời tuôn chảy mà nó thể hiện sống động, liên tục, dũng cảm biết bao, nhất là trong những ngày Biển Đông cuộn sóng. “Ngày lại ngày, đêm qua đêm, chúng tôi đứng đây gìn giữ biên cương/ Đảo này là của ta/ Biển này là của ta/ Trường Sa” – Bài hát Khúc quân ca Trường Sa đã kết tinh được tất cả những hoạt động bình dị nhưng vô cùng sâu sắc của quân và dân trên quần đảo,và cũng là của cả dân tộc chúng ta.

Tôi thật không muốn bàn thêm về khái niệm lòng yêu nước, xin trích lại một đoạn trong cuốn Lịch sử Mặt trận DTTN Việt Nam: “Yêu nước là tình cảm và là một chân lý phổ biến mà cuộc sống ban tặng cho bất kỳ dân tộc nào trên trái đất cũng như của số đông con người. Nhưng báu vật đó không phải chia đều và càng không giống nhau đối với mọi quốc gia, dân tộc trên thế giới. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được nảy nở, phát triển trong những hoàn cảnh, điều kiện lịch sử đặc biệt, nên có những được nét đặc sắc riêng gắn liền với giá trị truyền thống quý báu đó. Chính nhân tố đại đoàn kết dân tộc là hạt nhân tư tưởng, là cội nguồn sức mạnh trường tồn dân tộc và bản sắc riêng của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam”. Đúng vậy,Yêu nước luôn gắn liền với xây dựng khối Đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đừng nên lợi dụng lòng yêu nước thiêng liêng.

Đức Anh
daidoanket.vn

This entry was posted on Tháng Mười 31, 2012, in Chính luận.

Lợi dụng tự do ngôn luận để chống phá là không thể chấp nhận

(VOV) -Hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận để vi phạm pháp luật, không chỉ Việt Nam mà bất kỳ quốc gia nào cũng không thể chấp nhận.

Gần đây, một số cơ quan, tổ chức nước ngoài đua nhau lên án việc Việt Nam xét xử 3 blogger Nguyễn Văn Hải, Phan Thanh Hải và Tạ Phong Tần với luận điệu rằng bản án này “quá nặng” và “không nhất quán” với một số thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam tham gia.

Đây là những cáo buộc không chính xác khi mà quyền tự do ngôn luận được ba blogger này lợi dụng nhằm chống phá nhà nước Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Trước hết phải khẳng định rằng, quyền tự do ngôn luận được pháp luật Việt Nam công nhận và được ghi tại Điều 69 của Hiếp pháp.

Trên thực tế, quyền này được đảm bảo và thực thi ở Việt Nam. Nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế và nhân dân trên thế giới ghi nhận và đánh giá cao thành tựu của Việt Nam trong việc thực hiện quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí. Chính vì vậy, những cáo buộc về việc Việt Nam không đảm bảo quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, đặc biệt là trong vụ xét xử 3 blogger là không có căn cứ.

Điều 19 Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền khẳng định: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm… và bày tỏ qua mọi phương tiện truyền thông”.

Tuy nhiên, cũng trong chính văn bản này, tại Điều 29 cũng khẳng định rõ rằng “trong việc hành xử nhân quyền và thụ hưởng tự do, mọi người phải chịu những hạn chế do luật định… nhằm thỏa mãn… những đòi hỏi chính đáng về luân lý, trật tự công cộng và nền an sinh chung”.

Như vậy rõ ràng, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là bị giới hạn bởi các quy định của luật pháp.

Đối chiếu vào trường hợp ba blogger Nguyễn Văn Hải, Phan Thanh Hải và Tạ Phong Tần thì rõ ràng là ba đối tượng này đã lợi dụng quyền tự do ngôn luận, chính sách phát triển công nghệ thông tin và việc tạo điều kiện để người dân được bày tỏ quan điểm cũng như tiếp cận thông tin một cách đa dạng của nhà nước Việt Nam.

Ba blogger này còn thể hiện rõ sự thiếu thiện chí trước chính sách tích cực và cởi mở của Nhà nước.

Mới đây, phản ứng trước bộ phim của một người Mỹ nhạo báng Đạo Hồi, Tổng thư ký LHQ Ban Ki moon đã chỉ rõ rằng: Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí chỉ được bảo vệ khi nó được dùng vào các mục đích công lý và phục vụ cộng đồng. Còn các bằng chứng về hành vi của ba blogger này đã cho thấy họ đã xuyên tạc, châm biếm nhằm chống lại các cá nhân và cơ quan, tổ chức của Việt Nam. Do đó, các hành vi này đáng bị lên án.

Hàng trăm trang tài liệu có nội dung tuyên truyền chống nhà nước Việt Nam đã được ba đối tượng này phát tán trên mạng.

Hành vi này rõ ràng là đã vi phạm pháp luật của Việt Nam mà cụ thể là Điều 88 của Bộ Luật hình sự.

Trên cơ sở đó, việc đưa ba blogger này ra xét xử là hoàn toàn dựa trên căn cứ của pháp luật. Quá trình điều tra, xét xử ba blogger này cũng được thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục của pháp luật Việt Nam. Vì thế việc cho rằng bản án “quá nặng” là cáo buộc không có cơ sở, không dựa trên căn cứ pháp luật.

Cũng giống nhiều quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam công nhận và đảm bảo việc thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Những hành vi lợi dụng các quyền này mà vi phạm pháp luật thì không chỉ Việt Nam mà bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đều không thể chấp nhận.

Điều 18 Hiến pháp CHLB Đức ghi rõ: “Ai lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, đặc biệt là tự do báo chí, tự do tuyên truyền… làm công cụ chống lại trật tự của xã hội tự do dân chủ sẽ bị tước bỏ quyền công dân”.

Chính vì vậy, việc Việt Nam xét xử 3 blogger Nguyễn Văn Hải, Phan Thanh Hải và Tạ Phong Tần là hoàn toàn phù hợp với pháp luật Việt Nam, tập quán cũng như các quy định quốc tế.

Việc phản đối vụ xét xử này là sự cố tình can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, can thiệp vào quá trình tư pháp vốn dĩ cần phải được tôn trọng và tiến hành một cách độc lập. Vì thế, các hành động này không được hoan nghênh./.

Việt Nga/VOV1
vov.vn

Cái giá phải trả và bài học của sự mất ổn định chính trị ở Xy-ri

Từ tháng 3-2011 đến nay, Xy-ri rơi vào tình trạng mất ổn định chính trị nghiêm trọng, nội chiến đã xảy ra trên khắp đất nước. Tình hình còn đang diễn biến rất phức tạp, chưa biết kết cục ra sao, song cái giá phải trả và bài học về sự mất ổn định chính trị ở quốc gia Trung Đông này thì đã quá rõ ràng.

Phiên họp của HĐBA về dự thảo nghị quyết đối với Xy-ri ngày 31-1-2012 (Nguồn: qdnd.vn).

1.Cái giá quá đắt và hậu quả hết sức nặng nề.

Cuộc khủng hoảng ở Xy-ri hiệnđã bước vào giai đoạn trầm trọng, đẫm máu và ác liệt nhất kể từ khi lực lượng nổi dậy biểu tình, chống đối Chính phủ nước này hồi tháng 3-2011. Thực tế cuộc chiến cho thấy, hệ lụy của sự mất ổn định chính trị ở Xy-ri rất nặng nề, tàn khốc và được biểu hiện rõ nét ở mấy điểm sau đây:

Thứ nhất, từ một đất nước thanh bình đã trở thành bãi chiến trường của cuộc nội chiến “nồi da xáo thịt, huynh đệ tương tàn” và chiến tranh có nguy cơ lan rộng, đe dọa hòa bình, ổn định toàn khu vực. Gần 40 năm qua, kể từ sau cuộc chiến tranh Trung Đông lần thứ tư giữa I-xra-en với thế giới A-rập (năm 1973), nhân dân Xy-ri cơ bản được sống trong hòa bình, ổn định với nền kinh tế phát triển ở mức trung bình trên thế giới (GDP năm 2008 tăng 4,8%, thu nhập bình quân đầu người đạt 2.200 USD/năm). Nhưng từ ngày 15-3-2011, bắt đầu bằng các cuộc biểu tình chống Chính phủ đã phát triển thành cuộc nội chiến giữa một bên là quân đội của Tổng thống B. An Át-xát và bên kia là các lực lượng nổi dậy do “quân đội Xy-ri tự do” làm nòng cốt. Cuộc nội chiến có sự can thiệp từ các thế lực bên ngoài đã khiến hàng trăm dân thường và binh sĩ của cả hai phe ở Xy-ri ngã xuống mỗi ngày, hàng nghìn người phải vượt biên lánh nạn vì bạo lực gia tăng; nhiều thành phố và làng mạc bị tàn phá; sản xuất bị đình đốn, giao thương hầu như bị tê liệt. Theo thống kê, hơn 18 tháng qua, đã có hơn 20.000 người Xy-ri bị chết, 170.000 người phải đi lánh nạn ở các nước láng giềng (Li-băng, Thổ Nhĩ Kỳ, I-rắc); khoảng 2,5 triệu người rơi vào “thảm họa nhân đạo” đang cần trợ giúp khẩn cấp. Đất nước và những người dân Xy-ri vô tội đang phải trả giá đắt cho sự mất ổn định chính trị ở trong nước.

Dư luận quốc tế cho rằng, những gì đang diễn ra tại Xy-ri không chỉ là một thảm kịch đối với người dân nước này, mà còn là mối đe dọa đối với an ninh, hòa bình trong khu vực và thế giới. Đặc biệt, trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, lợi ích, cơ hội và thách thức của các quốc gia có tính đan xen, việc mất ổn định kéo dài ở Xy-ri sẽ gây hệ lụy cho cả khu vực. Các nước láng giềng như: I-xra-en, Giooc-đa-ni, Ả-rập Xê-út, I-rắc, Thổ Nhĩ Kỳ đã phải đặt quân đội trong tình trạng chiến tranh. Đã có những cuộc đụng độ giữa quân đội Xy-ri với quân đội các nước láng giềng tại các vùng biên giới nơi có dòng người tỵ nạn chạy qua, làm cho tình hình khu vực vốn đã phức tạp lại càng phức tạp hơn. Theo các nhà phân tích quốc tế, nguyên nhân sâu xa của sự bất ổn chính trị ở Xy-ri là do mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo giữa đa số người Hồi giáo dòng Săn-ni và thiểu số người Hồi giáo dòng Si-ai nhưng lại nắm các chức vụ chủ chốt trong chính quyền. Điều nguy hiểm là, cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo này rất phức tạp, bùng phát mạnh mẽ và có nguy cơ lây lan sang các quốc gia khác, lôi kéo người Săn-ni, người Si-ai ở cả Bắc Phi – Trung Đông vào cuộc chiến “huynh đệ tương tàn” chưa có hồi kết.

Hơn nữa, Xy-ri hiện đang sở hữu kho vũ khí hóa học lớn thứ tư thế giới, nên nguy cơ về một thảm họa hóa học có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Tháng 7-2012, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Xy-ri đã lên tiếng cảnh báo, nước này sẽ sử dụng vũ khí hóa học nếu bị quân đội nước ngoài tấn công. Ngày 11-8-2012, Ngoại trưởng Mỹ H. Clin-tơn đã đến Thổ Nhĩ Kỳ gặp người đồng cấp để bàn cách giúp quân nổi dậy lật đổ Tổng thống B. An Át-xát và kế hoạch đối phó với cuộc chiến tranh hóa học tại Xy-ri. Ngày 20-8-2012, Tổng thống Mỹ B. Ô-ba-ma đã đặt “giới hạn đỏ” để can thiệp quân sự nếu chính quyền Xy-ri di chuyển hoặc sử dụng vũ khí hóa học. Điều này nếu xảy ra thì hậu quả thật khôn lường cho cả khu vực và thế giới.

Thứ hai, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước bị xâm phạm, Xy-ri trở thành tụ điểm tranh giành ảnh hưởng và can thiệp của các thế lực bên ngoài. Do có vị trí địa chính trị, địa chiến lược quan trọng nên đã từ lâu, Xy-ri trở thành nơi tranh giành ảnh hưởng và lợi ích sâu sắc giữa các cường quốc trong và ngoài khu vực. Hiện nay, tại Xy-ri đã hình thành hai trận tuyến: một bên là chính quyền của Tổng thống B. An Át-xát nắm trong tay một lực lượng quân đội khoảng nửa triệu người với vũ khí, trang bị khá hiện đại và được một số nước khác ủng hộ. Một bên là các lực lượng nổi dậy, được Mỹ, phương Tây, Thổ Nhĩ Kỳ, Ả-rập Xê-út và một số nước A-rập khác hậu thuẫn. Vì vậy, cuộc khủng hoảng dẫn tới xung đột khốc liệt ở Xy-ri đang là cơ hội cho các thế lực bên ngoài can thiệp, nhằm tranh giành lợi ích và ảnh hưởng của họ ở khu vực. Đối với Mỹ và phương Tây, Tổng thống B. An Át-xát như “cái gai” cần phải nhổ. Bởi lẽ, ông là một trong những nhà lãnh đạo ở Trung Đông nêu cao tinh thần độc lập dân tộc, chống chủ nghĩa thực dân, lại thân Nga, Trung Quốc và I-ran. Vì thế, họ đang tìm mọi cách để tái diễn “kịch bản Li-bi” tại Xy-ri. Trước hết, họ sử dụng mạng in-tơ-nét làm công cụ để tập hợp quần chúng xuống đường biểu tình; ủng hộ, tiếp tay phe đối lập; lợi dụng danh nghĩa Liên hợp quốc ra các nghị quyết trừng phạt Xy-ri; thực hành cấm vận, tiến tới lập vùng cấm bay và cuối cùng là can thiệp quân sự khi có thời cơ, hoặc dùng chiến tranh qua tay người khác để lật đổ chính quyền Đa-mát đương nhiệm. Trái lại, Nga và Trung Quốc cực lực phê phán lập trường của Mỹ và phương Tây hậu thuẫn cho các lực lượng đối lập lật đổ chính quyền hợp hiến ở Xy-ri; đồng thời, chủ trương giải quyết cuộc khủng hoảng Xy-ri bằng biện pháp đối thoại hòa bình theo hướng: công việc nội bộ của Xy-ri phải do người Xy-ri quyết định, không có sự can thiệp từ bên ngoài. Trong vòng 9 tháng qua, phương Tây đã ba lần đưa ra dự thảo Nghị quyết hòng lợi dụng danh nghĩa Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc để can thiệp, lật đổ chính quyền Xy-ri, nhưng đều bị Nga và Trung Quốc phủ quyết. Một số chuyên gia cho rằng, cục diện ở Xy-ri đang trở thành hình thái mới của “cuộc chiến tranh ngầm”, “chiến tranh ủy nhiệm” hay “chiến tranh lạnh mới” giữa các cường quốc.

Như vậy, cùng với sự có mặt của nhiều lực lượng bên ngoài ủng hộ phe đối lập, cộng với sự can thiệp bằng nhiều cách của các cường quốc vào Xy-ri, rõ ràng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia này đã và đang bị xâm hại nghiêm trọng. Cho đến nay, chiến sự ở Xy-ri đang ở giai đoạn giằng co quyết liệt và các thế lực bên ngoài tiếp tục can thiệp mạnh mẽ dưới nhiều hình thức.

Thứ ba, nếu chính quyền của Tổng thống B. An Át-xát buộc phải ra đi thì hòa bình, ổn định có đến với người dân Xy-ri? Đây là kịch bản được nhiều học giả và phương tiện truyền thông trên thế giới nhắc đến, nhưng ngay cả khi điều đó xảy ra thì nhân dân Xy-ri cũng khó có thể có được quyền tự quyết vận mệnh của mình, thậm chí nước này còn phải đối mặt với những bất ổn định mới. Cần thấy rằng, mục đích lật đổ chính quyền Đa-mát hiện nay của Mỹ và phương Tây không phải đem lại quyền lợi cho đông đảo người dân Xy-ri, càng không phải đem lại hòa bình, ổn định cho nước này mà chủ yếu là dựng lên một chính quyền mới, thân phương Tây và phục vụ cho lợi ích của họ. Do đó, cho dù chính quyền của Tổng thống B. An Át-xát có sụp đổ thì nhân dân Xy-ri cũng sẽ không thể có một tương lai tốt đẹp, thậm chí tiếp tục rơi vào tình cảnh “nồi da nấu thịt”, “huynh đệ tương tàn” mới rất khó đoán định. Theo các nhà phân tích quốc tế, các lực lượng nổi dậy ở Xy-ri gồm nhiều thành phần, đại diện cho nhiều nhóm lợi ích khác nhau cả ở trong và ngoài nước, thậm chí có cả lực lượng An-kê-đa từ I-rắc cũng vào liên kết với “quân đội Xy-ri tự do” hoạt động khủng bố tại Xy-ri. Ngoài ra còn có hàng nghìn chiến binh là người gốc Xy-ri từ Li-bi và một số nước khác trở về đang tham chiến tại Xy-ri. Một khi các lực lượng nổi dậy giành chiến thắng, thì “chiếc bánh – thành quả của cuộc nổi dậy” sẽ phải được phân chia cho các nhóm lợi ích khác nhau. Một chính quyền như thế không thể là đại diện chân chính cho quyền lợi đông đảo của nhân dân Xy-ri, càng không có gì bảo đảm nó tốt đẹp hơn chính quyền cũ và người dân có thể lại phải sống trong tình trạng bấp bênh của những bất ổn mới. Tình trạng này không chỉ đối với người dân Xy-ri mà ngay cả đối với một số nước phương Tây cũng sẽ rơi vào thế khó xử; bởi lẽ, họ đang giương ngọn cờ chống khủng bố, nhưng lại phải chứng kiến sự tồn tại của lực lượng khủng bố trong phe nổi dậy. Không những thế, trong thời gian qua, làn sóng biểu tình phản đối sự “xúc phạm” tín ngưỡng đạo Hồi của một số nước phương Tây đang dấy lên mạnh mẽ ở các nước Bắc Phi – Trung Đông, trong đó có người Hồi giáo ở Xy-ri càng làm cho tình hình ở khu vực này thêm phức tạp. Vậy là, dù có kết cục ra sao, cái giá phải trả cho sự mất ổn định chính trị ở Xy-ri là rất đắt, hậu quả vô cùng nặng nề và kéo dài, mà người gánh chịu không phải ai khác, chính là những người dân Xy-ri vô tội; đồng thời, tác động tiêu cực đối với hòa bình, ổn định trong cả khu vực.

2. Bài học về giữ vững ổn định chính trị.

Cuộc khủng hoảng ở Xy-ri càng cho thấy rõ hơn tầm quan trọng sống còn của ổn định chính trị cũng như bài học cần thiết để giữ vững ổn định chính trị của mỗi quốc gia, trong đó có bài học về xử lý khủng hoảng sao cho không để xảy ra nội chiến. Phải chăng, một quốc gia để có ổn định chính trị bền vững cần giải quyết tốt hai yếu tố: bên trong và bên ngoài.

Về yếu tố bên trong, có một chính quyền thực sự của nhân dân, thực thi đường lối, chính sách đối nội đúng đắn, hợp lòng dân, tạo được lòng tin và sự đồng thuận của nhân dân. Đây là yếu tố cơ bản nhất để giữ vững ổn định chính trị. Nếu một quốc gia mà chính quyền quản lý, điều hành đất nước để cho những mâu thuẫn xã hội, sắc tộc và tôn giáo phát triển sâu sắc; nạn thất nghiệp và khoảng cách giàu – nghèo tăng cao; tình trạng bất công, bất bình đẳng, tham nhũng tràn lan thì sớm muộn cũng không giữ được ổn định chính trị. Nhìn lại diễn biến tại Xy-ri ta có thể thấy điều này. Từ ngày 15-3-2011 bắt đầu nổ ra các cuộc biểu tình tuần hành đường phố của đông đảo quần chúng chống lại chính quyền của Tổng thống B. An Át-xát được coi là độc tài và tham nhũng. Chính phủ Xy-ri đã từng có những nhượng bộ, nhưng lại vội vã sử dụng quân đội trấn áp bằng vũ lực. Kết quả là, bạo loạn chính trị dần trở thành nội chiến.

Thực tế trên cho thấy, giữ vững ổn định chính trị đã khó, nhưng khi khủng hoảng phức tạp xảy ra, việc xử lý sao cho không để “cái xảy nảy cái ung” lại càng khó hơn. Tại Xy-ri, khi xảy ra biểu tình, nếu chính quyền khôn khéo, kiên trì sử dụng biện pháp hòa bình và các phương pháp phi bạo lực; không dùng lực lượng vũ trang trấn áp, gây đổ máu thì tình hình có thể đi theo chiều hướng khác, thuận hơn.

Về yếu tố bên ngoài, cần có một chính sách đối ngoại đúng đắn, hợp xu thế thời đại, thêm bạn, bớt thù và tạo lập môi trường quốc tế thuận lợi để cùng hợp tác và phát triển. Thế giới ngày nay còn tồn tại các thế lực bá quyền, nước lớn, lợi dụng “dân chủ”, “nhân quyền” để can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác, gây mất ổn định chính trị với mưu đồ và tham vọng đen tối. Chớ trêu thay, điều phi đạo lý đó vẫn tồn tại trong thế giới này, đòi hỏi các quốc gia cần có kế hoạch phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, không để cho các thế lực bên ngoài tạo cớ can thiệp, lật đổ; trong đó, bài học từ Xy-ri là hồi chuông cảnh tỉnh rất hữu ích.

Đại tá NGUYỄN TRUNG
tapchiqptd.vn

This entry was posted on Tháng Mười 27, 2012, in Chính luận.

ASEAN ủng hộ Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc

* Đề cao tầm quan trọng Tuyên bố 6 Nguyên tắc về Biển Đông
Cuối tuần qua, nhân Khóa họp Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc, trong các ngày 27 và 28-9, tại New York (Mỹ) đã diễn ra Hội nghị không chính thức Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN (IAMM), Hội nghị không chính thức Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN-Mỹ, Hội nghị giữa các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN với Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc (LHQ) và Chủ tịch Đại Hội đồng LHQ, các Hội nghị giữa ASEAN với đại diện Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC) và với Tổ chức Hợp tác kinh tế (ECO). Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh đã dẫn đầu Đoàn Việt Nam tham dự các Hội nghị nói trên.

Tại IAMM, các Ngoại trưởng ASEAN nhất trí tiếp tục tăng cường phối hợp lập trường và nâng cao vai trò của ASEAN tại LHQ; ra Nghị quyết Đại Hội đồng Liên hợp quốc (ĐHĐ/LHQ) về tăng cường hợp tác giữa ASEAN và LHQ; ủng hộ và hỗ trợ lẫn nhau ứng cử vào các vị trí của LHQ. Trên tinh thần đó, các nước ASEAN khẳng định ủng hộ Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2014-2016, dự kiến sẽ được bầu trong năm 2013.

Về hợp tác ASEAN, các Ngoại trưởng ASEAN đã thông qua danh mục các kết quả chính của Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN 45 và khẳng định quyết tâm triển khai hiệu quả các kết quả này, trong đó có việc thực hiện Tuyên bố 6 Nguyên tắc về Biển Đông, thúc đẩy đàm phán chính thức ASEAN-Trung Quốc về Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC)… Các Ngoại trưởng đã xem xét và cho ý kiến chỉ đạo về công tác chuẩn bị cho các Hội nghị Cấp cao ASEAN vào tháng 11, trong đó có việc trình dự thảo Tuyên bố Nhân quyền ASEAN, tổ chức Đối thoại toàn cầu ASEAN (AGD) và một số vấn đề khác.

Cũng dịp này, trong Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN-Mỹ, hai bên bày tỏ hài lòng trước những tiến triển đã đạt được và nhất trí thúc đẩy quan hệ hướng tới tầm đối tác chiến lược, vì mục tiêu chung là hòa bình, an ninh và phát triển ở khu vực. Ngoại trưởng Mỹ khẳng định chính sách của Mỹ đẩy mạnh hợp tác với ASEAN, ủng hộ ASEAN xây dựng Cộng đồng và đóng vai trò trung tâm ở khu vực, cùng ASEAN đóng góp vào thành công của Hội nghị Cấp cao ASEAN-Mỹ lần thứ 4 tháng 11-2012.

Phát biểu tại các Hội nghị, Thứ trưởng Phạm Quang Vinh nhấn mạnh ASEAN cần tiếp tục tăng cường đoàn kết và hợp tác, phát huy tinh thần trách nhiệm, triển khai hiệu quả các kết quả của Hội nghị AMM-45 và nỗ lực hết sức mình để bảo đảm các Hội nghi Cấp cao của ASEAN tháng 11 tới thành công. Trước những diễn biến phức tạp của tình hình khu vực, Thứ trưởng Phạm Quang Vinh đề nghị ASEAN càng cần phối hợp chặt chẽ, phát huy vai trò trung tâm thông qua việc đề cao các nguyên tắc cơ bản các nước đã cùng cam kết và được quy định trong Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC), Tuyên bố của EAS…

Về Biển Đông, Thứ trưởng Phạm Quang Vinh nhấn mạnh các nước cần nghiêm chỉnh tuân thủ và thực hiện các nguyên tắc cơ bản về giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế và Công ước LHQ về Luật Biển 1982, thực hiện đầy đủ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC); đồng thời, ASEAN cần nỗ lực bảo đảm thực hiện hiệu quả Tuyên bố 6 Nguyên tắc về Biển Đông và sớm đạt được Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).

H.M
daidoanket.vn

Bộ mặt thật của các “nhà dân chủ”

LTS: Sau một thời gian điều tra, thu thập chứng cứ, ngày 2-3-2007, Cơ quan An ninh điều tra, Công an thành phố Hà Nội đã khởi tố vụ án “Tuyên truyền chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” theo Điều 88, Bộ Luật Hình sự. Ngày 6-3-2007, Cơ quan An ninh đã ra lệnh bắt, tạm giam đối với Nguyễn Văn Đài, nguyên trưởng văn phòng luật sư Thiên Ân, nguyên giám đốc Công ty TNHH tư vấn Luật Việt và Lê Thị Công Nhân, nhân viên văn phòng luật sư Thiên Ân, có trụ sở tại số 10 Đoàn Trần Nghiệp, Hà Nội để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. Báo Quân đội nhândân cung cấp một số thông tin để bạn đọc nhận rõ bộ mặt thật của Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân cùng đồng bọn lợi dụng tự do, dân chủ, tôn giáo tổ chức các hoạt động chống phá nhà nước ta.

Kẻ chủ mưu đội lốt “nhà lý luận”

Đội lốt là “nhà lý luận” của cái gọi là “phong trào dân chủ Việt Nam”, Nguyễn Văn Đài đã viết một loạt bài với nhan đề: “Quyền tự do thành lập đảng”, “Dân trí và dân chủ”, “Xã hội dân sự ở Việt Nam”… đăng trên trang web của một số phương tiện thông tin phương Tây. Mục đích để Đài chuẩn bị dư luận và thông qua đó, móc nối với một số tổ chức phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài nhằm thực hiện ý đồ hình thành và công khai hóa các tổ chức chính trị đối lập ở Việt Nam. Đặc biệt, Đài còn là người trực tiếp soạn thảo điều lệ của cái gọi là “đảng dân chủ 21” gồm 3 chương, 10 điều với nội dung hết sức sơ sài và khá nực cười. Ví dụ, tại “điều 4” của “điều lệ” trên, Đài viết: “Bất kỳ ai có đủ độ tuổi (15 tuổi trở lên), thừa nhận cương lĩnh chính trị, điều lệ đảng thì tự tuyên thệ là đảng viên đảng dân chủ. Nếu sinh hoạt một mình thì tự ký thẻ đảng”. Hoặc ở “điều 5″ Đài viết: “Khi đảng viên cao tuổi, sức yếu không còn thừa nhận cương lĩnh chính trị, điều lệ đảng thì tự tuyên bố ra khỏi đảng…”. Những nội dung trên cho thấy sự “ra, vào” cái gọi là “đảng dân chủ 21” của Đài còn dễ hơn ra vào một… cái chợ. Đặc biệt, theo những điều mà Đài liệt kê trong cái gọi là “Điều lệ đảng dân chủ 21”, Đài không hề giấu giếm ý đồ muốn giành chính quyền ở Việt Nam khi tính đến khả năng “đảng dân chủ 21” giành thắng lợi trong cuộc bầu cử toàn quốc, chủ tịch đảng sẽ là người đứng đầu chính phủ, hoặc chủ tịch đảng là ứng cử viên đương nhiên và duy nhất của cái gọi là “đảng dân chủ 21” trong cuộc bầu cử toàn quốc để lựa chọn ra người đứng đầu nhà nước Việt Nam. Như vậy, với cái mác là “nhà lý luận”, Nguyễn Văn Đài đã lộ rõ là kẻ lợi dụng quyền dân chủ để thực hiện mưu đồ chính trị của cá nhân.

Nguyễn Văn Đài, sinh ngày 6-5-1969, quê ở Dạ Trạch, Châu Giang (nay là huyện Khoái Châu), Hưng Yên, trú tại phòng 302, Z8, phường Bách Khoa, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Đài được bố mẹ nuôi cho ăn học và thừa hưởng nhiều ưu đãi của cơ quan nơi bố đẻ công tác, được ưu tiên cho đi đào tạo nghề ở nước ngoài. Sau khi về nước, Đài lại được cơ quan của bố tạo điều kiện thuận lợi để theo học đại học Luật. Đáp lại sự ưu ái và kỳ vọng của không ít người trong gia đình và tập thể, Đài “đền ơn” bằng cách sử dụng những kiến thức đã học, núp bóng dưới danh nghĩa luật sư và công ty hỗ trợ pháp lý để lôi kéo, tụ tập, móc nối với các phần tử phản động trong và ngoài nước, tiến hành nhiều hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam.

Không chỉ lợi dụng quyền tự do ngôn luận mà pháp luật Nhà nước ta cho phép để thực hiện mưu đồ chính trị của mình, Đài còn liên hệ với Hoàng Minh Chính, thống nhất kế hoạch tuyên bố khôi phục hoạt động cái gọi là “đảng dân chủ 21″ và vận động một số phần tử bất mãn trong nước tham gia. Đài còn là người chủ trò trong việc liên hệ và bố trí cho Trần Khuê với danh nghĩa là “phó tổng thư ký đảng dân chủ 21” lén lút gặp một số nhân viên ngoại giao nước ngoài tại Hà Nội để tuyên bố công khai tổ chức này trong nước vào ngày 30-5-2006. Không chỉ “tích cực” lôi kéo các phần tử bất mãn trong nước tham gia cái gọi là “đảng dân chủ 21”, Đài còn cấu kết với Trần Ngọc Thành là “phân bộ trưởng tập hợp dân chủ đa nguyên” và chủ bút báo “Đàn chim Việt” ở nước ngoài thành lập tổ chức có tên là: “Công đoàn độc lập Việt Nam”. Để thực hiện ý đồ này, ngày 20-9-2006, Đài cử Trần Văn Hoà ở Quảng Ninh đi nước ngoài trực tiếp gặp Trần Ngọc Thành để bàn bạc việc thành lập cái gọi là “Công đoàn độc lập Việt Nam” ở trong nước, đồng thời hứa trả 1000USD/tháng cho Hoà nếu tham gia tổ chức này. Tuy nhiên sau khi bị bắt, nhận thấy âm mưu đen tối của Đài, Trần Văn Hoà đã tỏ rõ thái độ ăn năn. Hoà khai nhận: “… việc thành lập “công đoàn” là trái pháp luật Việt Nam, việc đi nước ngoài để gặp Trần Ngọc Thành là vô tình tiếp tay cho những hành động sai trái không đúng với quy định của pháp luật Việt Nam…”. Do không thực hiện được ý đồ cử Trần Văn Hoà đi nước ngoài để gặp Trần Ngọc Thành, ngày 26-10-2006, Đài lại có ý định cử Lê Thị Công Nhân ra nước ngoài để công khai hoá tổ chức cái gọi là “Công đoàn độc lập Việt Nam”, đồng thời phối hợp với Thành vận động các công đoàn trên thế giới thành lập tổ chức “Ủy ban yểm trợ công đoàn độc lập Việt Nam” từ bên ngoài.

Nhằm tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng, Đài đã thống nhất với Trần Ngọc Thành để Nguyễn Khắc Toàn đứng tên làm “chủ tịch” tổ chức cái gọi là “Công đoàn độc lập Việt Nam”, nhưng thực chất mọi hoạt động đều do Đài trực tiếp điều hành và chỉ đạo. Với bản thân mình, Đài chỉ đề xuất trong vai trò luật sư của cái gọi là “đảng dân chủ 21” và các tổ chức do Đài và đồng bọn dựng lên. Tuy nhiên, khi cần ra nước ngoài, Đài lại chủ động “đặt vấn đề” với ban tổ chức các cuộc hội thảo do một số tổ chức phi chính phủ chủ trì mời Đài sang với tư cách là “đại diện đảng dân chủ Việt Nam”. Dù “hoạt động” tinh vi tới mức nào và núp dưới vỏ bọc gì thì những thủ đoạn của Đài và đồng bọn cũng không thể qua mắt được quần chúng nhân dân và các cơ quan bảo vệ pháp luật.

Cùng thời gian trên, theo sự “chỉ đạo” của một số cá nhân phản động lưu vong ở nước ngoài như: Vũ Quốc Dụng, Phạm Nam Định, Đoàn Viết Hoạt… và các tổ chức phản động như: “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam”, “Họp mặt dân chủ”… để thành lập cái gọi là “Uỷ ban nhân quyền Việt Nam” do Đài đứng đầu, với sự tham gia của Phạm Văn Trội, Bạch Ngọc Dương, Lương Duy Phương. Đài giao cho Lương Duy Phương phụ trách trực tiếp việc liên lạc, tiếp xúc với một số nhân viên cơ quan ngoại giao và tổ chức quốc tế tại Hà Nội. Công việc cụ thể được Đài giao cho nhóm của Trội, Phương và Dương là: Hằng ngày thu thập những thông tin mà chúng coi là “bằng chứng Việt Nam đàn áp dân chủ, nhân quyền” để “tổng hợp” đưa lên cái gọi là “hãng tin tự do” (FNA) trên mạng internet và hằng tháng gửi “báo cáo” cho các đối tượng phản động lưu vong người Việt. Thực chất, thông qua những “hoạt động” trên, Đài yêu cầu một số đối tượng phản động lưu vong tài trợ cho cái gọi là “Uỷ ban nhân quyền Việt Nam” hằng tháng là 850USD, trong đó Đài và Phạm Văn Trội được hưởng 200USD/người; Lương Duy Phương và Bạch Ngọc Dương: 150USD/người, chi phí văn phòng: 150USD. Như vậy, dù “tiến hành” dưới hình thức nào, kẻ chủ mưu đội lốt “nhà lý luận” cũng không quên lợi ích cá nhân. Đặc biệt, Đài lợi dụng sự bất mãn của một số đối tượng, cũng như lòng tốt của một số người nhẹ dạ để tuyên truyền, xuyên tạc tình hình đất nước, lôi kéo, kích động hòng hướng họ đi ngược lại lợi ích của dân tộc.

Không chỉ lợi dụng danh nghĩa luật sư, mặc dù gia đình không ai theo đạo, nhưng riêng Đài xin làm tín đồ đạo Tin lành. Đây là quyền tự do tín ngưỡng, hoặc không tín ngưỡng của mỗi công dân Việt Nam đã được pháp luật Nhà nước ta thừa nhận. Khi trở thành tín đồ đạo Tin lành, do có kiến thức về luật, nên Đài được giao giữ chức Uỷ viên pháp chế Hội đồng quản trị sản nghiệp Hội thánh Tin lành Việt Nam miền Bắc. Tuy nhiên, do có những hoạt động khuất tất, đi ngược lại những điều răn dạy của giáo hội, mặc dù đã được Hội thánh Tin lành Việt Nam miền Bắc nhiều lần nhắc nhở, thuyết phục, nhưng bất thành, nên tại phiên họp toàn thể ngày 13-6-2006, Ban trị sự Tổng hội đã quyết định miễn nhiệm chức ủy viên pháp chế Hội đồng quản trị sản nghiệp Hội thánh Tin lành Việt Nam miền Bắc đối với Nguyễn Văn Đài.

Lợi dụng, lôi kéo sinh viên nhẹ dạ

Hòng che đậy những hoạt động đen tối của mình, thực hiện sự “chỉ đạo” của bọn phản động lưu vong người Việt, Đài đã xúc tiến thành lập văn phòng luật sư Thiên Ân. Không giống như các văn phòng luật sư khác, kể từ khi thành lập (2003) cho đến lúc bị bắt, Đài không tham gia bào chữa cho bất kỳ một thân chủ nào. Tuy vậy, Đài vẫn có tiền để hưởng thụ, trả lương nhân viên, chi phí các hoạt động văn phòng và mua sắm trang thiết bị. Thực chất, Đài núp dưới danh nghĩa trưởng văn phòng luật sư Thiên Ân và giám đốc Công ty TNHH tư vấn Việt Luật, để lôi kéo người tham gia vào các hoạt động tuyên truyền chống phá Nhà nước. Các tổ chức phản động lưu vong đã tài trợ cho hắn triển khai cái gọi là “dự án vì công lý”, hỗ trợ pháp lý cho những người khiếu kiện trong nước. Đài dùng số tiền “kiếm được” từ các tổ chức phản động lưu vong thông qua hình thức hỗ trợ học bổng, tuyên truyền, lôi kéo một số sinh viên ngành luật, nhằm “phát triển lực lượng” đấu tranh lâu dài. Thông qua hình thức này, Đài xúc tiến việc “tuyển chọn” với ý định gửi ra nước ngoài “đào tạo” một số sinh viên, để sau này Đài sẽ dùng làm “hạt nhân” cho việc chống phá ở trong nước. Theo dự định, Đài cùng đồng bọn mỗi năm “mở” từ 3 đến 4 lớp, mỗi lớp khoảng từ 5 đến 7 người. Nội dung “giảng dạy” được Đài và đồng bọn xác định: tập trung giảng dạy cái gọi là “lý luận về dân chủ hoá”, phương pháp lôi kéo, kích động quần chúng, phát triển lực lượng và cách thức phối hợp giữa số chống đối ở trong nước và bọn phản động lưu vong ở nước ngoài. Toàn bộ các nội dung “giảng dạy”, Đài giao cho một số nhân viên thuộc văn phòng luật sư Thiên Ân soạn thảo, đồng thời có sự “chỉ đạo” và “kiểm duyệt” trực tiếp của Nguyễn Đình Thắng-đối tượng phản động đang sống lưu vong ở nước ngoài-thông qua mạng internet.

Trong đơn tố cáo những hành động dụ dỗ, lôi kéo của Đài và đồng bọn, Đồng Thị G, sinh viên Trường cao đẳng Phát thanh-Truyền hình 1, gửi cơ quan chức năng đã viết: “Tháng 5-2006, tôi quen Phạm Văn Trội qua internet. Sau đó Trội giới thiệu tôi với Đài. Qua tiếp xúc với Đài, tôi thấy: Đó là một người hay “giảng giải” về dân chủ, nhân quyền; nói xấu chế độ XHCN. Đặc biệt, Đài dùng nhiều lời lẽ hứa hẹn về những chuyến đi học ngắn hạn và dài hạn ở nước ngoài có tài trợ cho sinh viên chúng tôi để nâng cao trình độ. Do nhận thức còn hạn chế, hơn nữa những tưởng lời nói của Đài là sự thật, tôi đã rủ thêm một số bạn đến văn phòng luật sư Thiên Ân. Những lần Đài “thảo luận”, “trao đổi” với chúng tôi thực chất là những buổi rao giảng, xuyên tạc tình hình dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam”.

Để phục vụ cho mục đích của mình, Đài còn xúi giục một số sinh viên về các địa phương tìm thêm người, vào dịp cuối tuần, tập trung ở văn phòng luật sư Thiên Ân để “bàn thảo” những vấn đề liên quan đến “dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam”. Hành động trên cho thấy, Đài và đồng bọn đã lợi dụng lòng tốt và sự nhiệt tình của một số sinh viên, bằng những lời hứa mỹ miều như: tài trợ đi du học ở nước ngoài; tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ; tạo cơ hội tìm việc làm ổn định, có thu nhập cao trong các tổ chức nước ngoài… để lôi kéo và tổ chức “đào tạo” ngay tại văn phòng luật sư Thiên Ân. Các hoạt động này có sự tham gia tích cực của Trần Thanh, Phan Sỹ Nguyên, Lê Thị Công Nhân và Vũ Quốc Dụng… Đối tượng mà Đài cùng đồng bọn “ưu tiên” tuyển chọn là các sinh viên ngành luật, truyền thông, báo chí. Kinh phí để Đài “mở lớp đào tạo” do một số nhóm phản động lưu vong ở nước ngoài hỗ trợ thông qua cái gọi là “Quỹ quốc gia hỗ trợ dân chủ”.

Chống phá, bôi nhọ để nhận tiền

Không chỉ tổ chức kích động, lôi kéo sinh viên và một số người nhẹ dạ, Đài còn nhiều lần “cử” nhân viên văn phòng luật sư Thiên Ân gồm: Trần Thanh, Phan Sỹ Nguyên, Nguyễn Xuân Đệ… đi các tỉnh thuộc Tây Bắc, Tây Nguyên, Nam Bộ gặp gỡ một số chức sắc, tín đồ Tin lành cực đoan thu thập “tài liệu” về những cái được chúng gọi là “bằng chứng Việt Nam đàn áp đạo Tin lành” chuyển cho Ngô Thị Hiền-một đối tượng phản động đang sống lưu vong ở nước ngoài và nhân viên một số đại sứ quán nước ngoài tại Hà Nội sử dụng vào mục đích tuyên truyền, chống phá Nhà nước Việt Nam. Từ các tài liệu mà Cơ quan an ninh thu được cho thấy, Đài khá hào phóng cho việc trả công cho những người đi thu thập “tin tức” hoặc cung cấp “thông tin”. Chỉ tính riêng việc chi trả cho Trần Thanh trong chuyến đi thụ tin ở các tỉnh phía Nam (từ 9 đến 16-11-2006), Đài đã chi hơn 6,3 triệu đồng. Đài cũng nhiều lần trả cho đối tượng có tên là Phùng Quang Lâm mỗi lần 500.000 đồng. Ngoài việc chỉ đạo và tổ chức cho nhân viên văn phòng luật sư Thiên Ân thu thập, tài liệu, móc nối với các phần tử phản động lưu vong, bản thân Đài có mối quan hệ thường xuyên với nhân viên một số đại sứ quán nước ngoài tại Hà Nội. Mọi thông tin mà Đài cho là có liên quan đến vi phạm “dân chủ, nhân quyền” ở Việt Nam đều được Đài cung cấp ngay cho số nhân viên đại sứ quán này.

Đài còn chỉ đạo các đối tượng như Bạch Ngọc Dương, Nguyễn Phương Anh, Phạm Văn Trội, Lê Thị Công Nhân và một số đối tượng khiếu kiện cực đoan thu thập thông tin, đơn, thư khiếu nại của quần chúng, phát tán lên mạng internet và chuyển cho các tổ chức phản động lưu vong người Việt sử dụng vào mục đích chống phá Nhà nước Việt Nam. Đài chi trả cho một số đối tượng khiếu kiện như: Dương Đại Dương, Nguyễn Thị Huần… mỗi lần “cung cấp” thông tin và phát tán thông tin lên mạng internet từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng. Với tư cách “nhà lý luận”, trưởng văn phòng luật sư Thiên Ân Nguyễn Văn Đài đã trả lời phỏng vấn nhiều hãng tin nước ngoài, tham gia “hội thảo” trên mạng internet do bọn phản động lưu vong người Việt ở nước ngoài tổ chức. Nội dung các bài viết, trả lời phỏng vấn, tham gia “hội thảo” đều nhằm tuyên truyền xuyên tạc tình hình tự do, dân chủ ở Việt Nam; phê phán chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta; kêu gọi cộng đồng người Việt ở nước ngoài và người nước ngoài tẩy chay hàng hoá Việt Nam; kêu gọi không cho Việt Nam gia nhập WTO và hưởng quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn với Hoa Kỳ, nếu “không cải thiện về nhân quyền và dân chủ”.

Để duy trì các “hoạt động” tuyên truyền chống phá Nhà nước, Đài thường xuyên nhận sự hỗ trợ về vật chất và lên dây cót về mặt tinh thần của bọn phản động lưu vong và các thế lực thù địch với Việt Nam từ nước ngoài. Đài được nhiều nhóm phản động lưu vong ở nước ngoài tâng bốc đánh giá rằng: “Hoàng Minh Chính chỉ là… viên gạch lát đường, cốt lõi sẽ là thành phần trẻ như Đài”. Đặc biệt, bọn chúng còn cho rằng: “Hoạt động của Đài nằm trong “kế hoạch rộng lớn của phía Tin lành…”. Chúng chỉ đạo Đài xây dựng cái gọi là “ủy ban nhân quyền”, hoạt động cả bề nổi lẫn bề chìm. Theo đó, những đối tượng đã lộ diện tiếp tục hoạt động công khai thách thức với chính quyền; phần chìm là thu thập thông tin, hình ảnh về cái gọi là “vi phạm nhân quyền và dân quyền” chuyển ra nước ngoài. Để thực hiện sự chỉ đạo trên, các tổ chức phản động tài trợ khá nhiều tiền cho các hoạt động chống đối của Đài.

Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, Đài đã nhận được hơn 60.000 USD tiền tài trợ của nhóm Phạm Nam Định và Nguyễn Đình Thắng. Đơn cử như Đài đã được Nguyễn Đình Thắng tài trợ 1819,39USD/tháng bao gồm: Lương của Đài: 700USD/tháng; lương cho nhân viên văn phòng luật sư Thiên Ân: 700 USD/tháng, thiết bị, chi phí văn phòng: 299,39USD/tháng; tài trợ học bổng cho 4 sinh viên luật tổng cộng 120USD/tháng… Sau khi bị bắt, tại Cơ quan An ninh, Đài thừa nhận: “Hằng tháng, trung bình “bên ngoài” gửi cho tôi hơn 1000 USD. Tôi giữ lại phục vụ mục đích tiêu xài cá nhân từ 600 đến 700 USD, số còn lại chi trả lương cho nhân viên văn phòng luật sư Thiên Ân và hỗ trợ một số hoạt động khác”.

Như vậy, trước đây, bọn phản động lưu vong tập trung tung hô Hoàng Minh Chính, coi đây là “con bài chiến lược”, người “đại diện” cho nền dân chủ và bảo vệ nhân quyền ở Việt Nam, thì nay, chúng lại tập trung cho Đài. Thực chất, chiêu bài này cho thấy khi cần, chúng sẵn sàng chi trả và hậu thuẫn ra vẻ hào phóng, nhưng khi không còn phát huy “tác dụng” Đài sẽ lại chỉ là “những viên gạch lát đường” mà thôi. Rõ ràng, Đài chỉ là con bài trong những toan tính vụ lợi của bọn phản động lưu vong. Căn cứ vào những chứng cứ mà cơ quan chức năng thu giữ cho thấy, phần lớn số tiền có được từ sự “tài trợ” của các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài, Đài đã dành chi tiêu cá nhân. Việc chi trả lương cho các nhân viên của văn phòng luật sư Thiên Ân, cùng các khoản chi phí hỗ trợ cho các đối tượng khác chỉ chiếm một phần nhỏ.

“Buộc án, gán tội” để lừa gạt

Trong số đồng bọn của Nguyễn Văn Đài thì Trần Khải Thanh Thủy là một trong những trợ thủ đắc lực nhất. Ngày 21-4-2007, sau khi có đầy đủ chứng cứ về hành vi phạm tội tuyên truyền chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, theo điều 88-Bộ luật Hình sự, Công an thành phố Hà Nội đã ra lệnh bắt khẩn cấp đối với Trần Khải Thanh Thủy. Đúng thời điểm bị các chiến sĩ an ninh bắt giữ, Thủy đang phát tán 30 bài viết có nội dung chống Đảng, chống Nhà nước, xuyên tạc, vu cáo các cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước ta. Thủy là đối tượng chuyên sử dụng “kỹ năng” của mình vào việc lừa gạt, vụ lợi. Những năm qua, đã có không ít người dân nhẹ dạ vô tình đã trở thành nạn nhân của nữ quái Trần Khải Thanh Thủy. Sinh năm 1960 tại Hà Tây, trú tại số 16, ngách 670/25 Ngô Gia Tự, phường Đức Giang, Long Biên, Hà Nội, Thủy đã từng là giáo viên, rồi phóng viên một số tờ báo, nhưng do thiếu đạo đức nghề nghiệp, vi phạm kỷ luật công tác nên đã bị các cơ quan kỷ luật và sa thải.

Sau nhiều lần bị kỷ luật và buộc thôi việc, Thuỷ đã bộc lộ tư tưởng bất mãn, tỏ thái độ đồng tình với một số cá nhân có quan điểm sai trái, đi ngược lại đường lối, chính sách của Đảng, lợi ích nhân dân. Thuỷ cấu kết với một số đối tượng như Hoàng Minh Chính, Nguyễn Thanh Giang, Hoàng Tiến, Dương Thu Hương… sưu tầm, phát tán nhiều tài liệu chống phá Nhà nước ta. Ngày 21-10-2002, Cơ quan An ninh đã bắt quả tang Thuỷ đang phát tán 90 trang tài liệu có nội dung phản động. Khám nhà đối tượng, Cơ quan An ninh còn phát hiện và thu giữ 89 đầu tài liệu gồm hơn 2500 trang đều mang nội dung phản động.

Mặc dù đã nhiều lần được cấp ủy, chính quyền địa phương và nhân dân gặp gỡ, giáo dục, răn đe, nhưng với bản chất ngông cuồng, ngoan cố, lại được sự tiếp tay, cổ vũ của các đối tượng phản động trong và ngoài nước, núp dưới danh nghĩa “nhà báo”, Thuỷ đã sử dụng nhiều bút danh khác nhau như: Nguyễn Thái Hoàng, Võ Quế Dương, Phạm Xuân Mai… để “soạn thảo” khoảng 190 bài viết có nội dung xuyên tạc tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở trong nước, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ và nhân quyền phát tán lên mạng Internet và chuyển cho bọn phản động người Việt lưu vong. Để có được những “tư liệu” phục vụ cho mục đích của mình, Thuỷ đã mạo danh phóng viên báo Phụ nữ, lợi dụng sự cả tin, tính thật thà của một số người dân đang gặp phải những vướng mắc trong cuộc sống chưa được chính quyền cơ sở giải quyết kịp thời để lừa gạt họ cung cấp thông tin. Từ những thông tin thu được, Thuỷ viết bài bôi nhọ bản chất của chế độ xã hội ta. Trong đơn tố cáo, nhiều người dân cùng ký tên gửi Cơ quan An ninh viết: “… Do biết một số người có những vấn đề bức xúc chưa được chính quyền cơ sở giải quyết, nên khoảng đầu tháng 4-2005, một phụ nữ đến gặp chúng tôi và tự giới thiệu là “nhà văn, nhà báo” có tên là Trần Khải Thanh Thuỷ, ở Đức Giang, Gia Lâm, Hà Nội. Thuỷ còn cho chúng tôi số điện thoại, địa chỉ nhà riêng và mời bà con ai muốn viết bài kêu oan thì đến nhà riêng Thuỷ sẽ giúp. Chúng tôi nghĩ đây là “người tốt”, muốn giúp đỡ bà con, đâu ngờ, những bài Thủy viết, mỗi sự việc cụ thể mà chúng tôi cung cấp đều bị lợi dụng, để vu khống, bịa đặt, “buộc án, gán tội”. Trong các bài viết đó, Thuỷ dùng những câu từ phản động để nói xấu Đảng, Nhà nước ta. Nội dung các bài viết của Thuỷ hoàn toàn sai sự thật. Chúng tôi cho rằng, đó là hành vi vi phạm pháp luật Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, phải nghiêm trị thích đáng. Cùng là phụ nữ Việt Nam, cùng nòi giống con Lạc cháu Hồng, nhưng Thuỷ táng tận lương tâm, lừa gạt bà con. Chúng tôi vô cùng phẫn nộ trước những hành vi sai trái của Thuỷ, đã lợi dụng sự đau khổ để vu khống, gán ghép, chà đạp nhân phẩm của chúng tôi…”.

Đặc biệt, Thuỷ đã lợi dụng danh nghĩa của nhiều người dân, viết bài xuyên tạc tình hình đất nước, phát tán lên mạng Internet, kích động người dân khiếu kiện, gây rối, biểu tình chống chính quyền để nhận tiền “tài trợ” của các tổ chức phản động lưu vong. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, từ cuối năm 2005 đến khi bị bắt, Thuỷ đã nhận được 12.350 USD, 200EUR và 400 đô-la Ô-xtrây-li-a từ các cá nhân, tổ chức phản động người Việt lưu vong. Thuỷ luôn mồm rêu rao: Dùng số tiền trên để “hỗ trợ” cho một số người dân đi khiếu kiện và cung cấp “thông tin” cho các bài viết của mình, nhưng thực chất sử dụng phần lớn để tiêu xài cá nhân. Điều này cũng được thể hiện rõ trong đơn tố cáo mà nhiều người dân gửi đến Cơ quan An ninh: “… Chúng tôi được biết, sau mỗi lần “bán mình cho quỷ dữ”, Thủy kiếm được khá nhiều tiền. Trước khi “moi” tin từ chúng tôi, Thuỷ luôn nói: Nhận được tiền “tài trợ” sẽ hỗ trợ cho bà con đi khiếu kiện, đòi lại “công bằng” cho chính mình. Tuy nhiên, trên thực tế, chỉ có khoảng vài chục người được Thuỷ cho tiền, mỗi lần từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng…”.

Được sự “cổ vũ”, kích động của các cá nhân, tổ chức phản động người Việt lưu vong, Thuỷ ngày càng hoạt động trắng trợn, bộc lộ rõ thái độ chống đối, phủ nhận những thành tựu đổi mới của đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo. Để trở thành kẻ “nổi tiếng”, Thủy còn ngang nhiên thách thức chính quyền bắt và xử lý. Thủy ảo tưởng rằng, càng bị cơ quan chức năng bắt và xử lý thì càng nhận được nhiều tiền từ các cá nhân, tổ chức phản động.

Không chỉ viết bài xuyên tạc tình hình đất nước, Thuỷ còn đứng ra thành lập cái gọi là “Hội dân oan Việt Nam”. Thực chất đây chỉ là cách để Thuỷ nhận được nhiều tiền từ các nhóm phản động, thu lợi cá nhân. Theo tài liệu mà Cơ quan An ninh thu được, Thuỷ đã nhận được 1.600USD và 400 đô-la Ô-xtrây-li-a tiền “tài trợ” của các cá nhân, tổ chức phản động gửi về nhằm “duy trì hoạt động” cái gọi là “Hội dân oan Việt Nam”. Để tránh sự phát hiện của Cơ quan An ninh, Thủy “đề nghị” các nhóm phản động gửi tiền về qua địa chỉ trung gian của một số người thân. Khi những người từng bị Thủy lừa gạt tỏ thái độ nghi ngờ, phản đối hành động ăn chặn, ngay lập tức bị Thuỷ lăng mạ, khủng bố, thậm chí đe dọa, hành hung. Ngay cả đối tượng cơ hội chính trị như Nguyễn Khắc Toàn cũng cho rằng: “Hội dân oan” của Thuỷ là “hội” ảo được thành lập để trục lợi cá nhân và đề nghị các cá nhân, tổ chức bên ngoài không tiếp tục gửi tiền cho Thủy…

Từ tháng 9-2006, Thủy còn “tích cực tham gia” các diễn đàn chống phá Nhà nước ta trên mạng Internet theo sự chỉ dẫn của Nguyễn Văn Đài. Hàng chục lần trả lời phỏng vấn các phương tiện thông tin của bọn phản động lưu vong và các thế lực thù địch bên ngoài, Thuỷ đều bộc lộ rõ quan điểm, tư tưởng chống đối, vu cáo Việt Nam đàn áp những người được chúng gọi là “nhà dân chủ” ở trong nước, kêu gọi tẩy chay cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XII. Điển hình là ngày 11-3-2007, trong khi một số đối tượng của cái gọi là “đảng Việt tân” và các tổ chức phản động lưu vong khác tổ chức biểu tình trước Đại sứ quán Việt Nam tại Ca-na-đa, Thuỷ đã điện thoại đến cổ vũ, kêu gọi người Việt ở nước ngoài “đoàn kết” với cái gọi là “phong trào dân chủ” ở trong nước để “lật đổ Đảng Cộng sản Việt Nam”, kêu gọi biểu tình, gây áp lực cao hơn nữa…

“Thiêu thân” mù quáng

Sinh ngày 23-7-1979 tại Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang, năm 2 tuổi Lê Thị Công Nhân không may phải chịu cảnh bố mẹ chia tay. Lên 5 tuổi, Nhân theo mẹ ra Hà Nội sinh sống. Mặc dù kinh tế gia đình lúc bấy giờ còn nhiều khó khăn, nhưng với ý chí và nghị lực, Nhân đã tu chí học hành và thi đỗ vào Trường đại học Luật Hà Nội. Ra trường năm 2001, Nhân tiếp tục theo học và được cấp bằng luật sư. Chỉ sau thời gian ngắn Nhân đã trở thành nữ thư ký của bộ phận quan hệ quốc tế thuộc Văn phòng Luật sư Hà Nội. Do chạy theo những ảo tưởng viển vông, cùng sự lôi kéo, dụ dỗ của Đài, Lê Thị Công Nhân đã trở thành phần tử nòng cốt, giúp sức đắc lực cho số đối tượng cầm đầu chống đối Nhà nước ta, đi ngược lại lợi ích dân tộc như Nguyễn Văn Lý (đối tượng lợi dụng tôn giáo ở Huế hoạt động vi phạm pháp luật, vừa bị TAND tỉnh Thừa Thiên-Huế tuyên phạt 8 năm tù giam) và Nguyễn Văn Đài.

Tài liệu của Cơ quan An ninh thu được cho thấy: Lê Thị Công Nhân là một trong những kẻ đầu tiên ký tên ủng hộ cái gọi là “Tuyên ngôn tự do dân chủ cho Việt Nam 2006” và tham gia “khối 8406” do Nguyễn Văn Lý cầm đầu. Tiếp đó, Nhân còn xin đăng ký gia nhập cái gọi là “Đảng thăng tiến Việt Nam” và xung phong làm người phát ngôn của đảng này. Trước khi cái gọi là “Đảng thăng tiến Việt Nam” được “công bố thành lập” trên mạng Internet, theo chỉ đạo của Nguyễn Văn Lý và Nguyễn Văn Đài, Nhân đã trực tiếp vào Huế gặp Nguyễn Phong, Nguyễn Bình Thành, Hoàng Thị Anh Đào để họp “thảo luận”, “chỉnh sửa” nội dung bản “dự thảo cương lĩnh tạm thời” và đưa ra “quyết định” tuyên bố công khai tổ chức này trên mạng Internet vào ngày 8-9-2006. Tại “cuộc họp” trên, nhóm phản động đã thống nhất phân công chính thức cho Lê Thị Công Nhân là “phát ngôn viên” của cái gọi là “Đảng thăng tiến Việt Nam”. Ngoài ra, thị còn tự nguyện tham gia cái gọi là “liên minh dân chủ nhân quyền Việt Nam” (tổ chức do bọn phản động lưu vong người Việt và các phần tử chống đối trong nước móc nối thành lập trên mạng Internet). Nhân cũng có tên trong “ban cố vấn” của cái gọi là “Hội oan dân Việt Nam” do Trần Khải Thanh Thủy đứng đầu.

Với vai trò của mình, bằng những kiến thức đã học được và ảo vọng viển vông, Nhân mù quáng lao vào các hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam XHCN. Cũng như Nguyễn Văn Đài, Nhân trực tiếp viết nhiều bài xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta; lôi kéo, dụ dỗ một số sinh viên và những kẻ khiếu kiện cực đoan để “phát triển lực lượng”; soạn thảo tài liệu và trực tiếp “giảng dạy” ngay tại văn phòng luật sư Thiên Ân. Từ tháng 12-2006 đến tháng 2-2007, Nhân cùng Đài đã lôi kéo một số thanh niên, sinh viên, trí thức trẻ và những người khiếu kiện nhiều lần tụ tập tại văn phòng luật sư Thiên Ân để tuyên truyền cái gọi là “giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền” theo kiểu phương Tây, xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước ta “đàn áp dân chủ, nhân quyền”; đòi “phải sớm thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng ở nước ta…”. Những hoạt động này thực chất là một bước cụ thể hóa cái gọi là “dự án thúc đẩy, gây men dân chủ” của bọn phản động lưu vong người Việt… Không dừng lại, Nhân còn thường xuyên liên lạc trực tuyến và trả lời phỏng vấn nhiều tờ báo điện tử, đài phát thanh có thái độ thù địch với Việt Nam ở nước ngoài; tập trung tuyên truyền mục tiêu, cương lĩnh, phương thức đấu tranh, điều lệ hoạt động của cái gọi là “Đảng thăng tiến Việt Nam”; cung cấp thông tin xuyên tạc tình hình đất nước; vu khống Nhà nước Việt Nam “vi phạm dân chủ, nhân quyền”, “đàn áp những người bất đồng chính kiến”. Nguy hiểm hơn, Nhân cùng đồng bọn dự định kêu gọi một số phần tử chống đối trong nước, thực hiện cái gọi là “Ngày toàn dân mặc áo trắng ủng hộ dân chủ” vào các ngày 1 và 15 hằng tháng; tẩy chay cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XII…

Ngày 3-2-2007, Lê Thị Công Nhân đã bị Cơ quan An ninh phát hiện và bắt quả tang khi đang tuyên truyền xuyên tạc tình hình đất nước cho một số thanh niên, sinh viên, tại văn phòng luật sư Thiên Ân. Tại Cơ quan An ninh, Nhân đã thừa nhận những việc làm vi phạm pháp luật theo sự chỉ đạo của Đài và các phần tử phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài. Nhân đã mở lớp và trực tiếp đứng ra tuyên truyền về cái gọi là “giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền” theo kiểu phương Tây tại văn phòng luật sư Thiên Ân. Hành động này của Nhân không ngoài mục đích đánh lừa những người nhẹ dạ, cả tin, lôi kéo họ vào những hoạt động chống phá Nhà nước.

Vạch rõ bộ mặt thật

Trước hành động trắng trợn xâm phạm lợi ích quốc gia, đi ngược lại lợi ích của cộng đồng dân tộc mà Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân và đồng bọn đã thực hiện, dư luận nhân dân hết sức phẫn nộ. Tối 8-2-2007, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phường Bách Khoa (quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) và nhân dân trong phường đã tổ chức hội nghị nhân dân để đấu tranh với những quan điểm sai trái, những hành động có tính chất phản động của Nguyễn Văn Đài và đồng bọn. Hội nghị có sự tham dự của đại diện các đoàn thể chính trị-xã hội và đông đảo nhân dân trong phường. Theo ông Lý Văn Tiến, đại diện Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phường Bách Khoa và cũng là người chủ trì hội nghị, thì đây là một cuộc họp công khai, với mục đích rất rõ ràng, nhằm chỉ ra những hành động sai trái của Nguyễn Văn Đài, để Đài thấy được lỗi lầm của mình mà thành tâm hối cải. Thế nhưng, Đài đến hội nghị với thái độ hết sức ngạo mạn, tỏ ý coi thường những người có mặt. Trong khi đó nhiều người trong hội nghị đều đáng tuổi ông bà, tuổi cha mẹ của Đài.

Đã có hàng chục ý kiến phát biểu trong hội nghị, tập trung phân tích những hành động sai trái của Đài cùng đồng bọn như Lê Thị Công Nhân, Phạm Văn Trội, Nguyễn Phương Anh, Trần Khải Thanh Thuỷ… Nhưng tất cả những ý kiến nêu ra, Đài đều phủ nhận với thái độ thách thức, hỗn láo. Qua cuộc họp cũng cho thấy, nhân dân không hề mơ hồ trước âm mưu cơ hội chính trị và đều nhận rõ chân tướng của Đài và đồng bọn.

Chiều 18-4-2007, chúng tôi có mặt tại phường Bách Khoa và một lần nữa được chứng kiến thái độ bất bình của nhân dân trước hành động vi phạm pháp luật của Đài cùng đồng bọn. Bác Nguyễn Hồng Ba, trú tại tổ 12, cụm 3, phường Bách Khoa cho biết:

– Tôi đã ngoài 70 tuổi, Đài chỉ là bậc con cháu. Mặc dù không ở sát nhà Đài, nhưng tôi biết, Đài được sinh ra trong một gia đình cán bộ công chức, bố mẹ cũng đã có những cống hiến nhất định. Bản thân Đài được hưởng những thành quả mà Đảng, cách mạng đã mang lại. Lẽ ra với những gì được hưởng, Đài phải biết ơn, trân trọng và cống hiến sức lực, trí tuệ góp phần xây dựng đất nước. Nhưng ngược lại, Đài đã cấu kết với những phần tử xấu, có tư tưởng phản động, lợi dụng kêu gọi “thực hiện quyền dân chủ” để mưu toan phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân. Hành động này của Đài và những kẻ a dua không chỉ vi phạm pháp luật mà còn đi ngược lại lợi ích của dân tộc.

Trong các thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cũng đã có không ít kẻ “liếm gót ngoại bang”, cam chịu làm tay sai cho đế quốc. Những tên “Việt gian” ấy đã bị nhân dân và pháp luật trừng trị thích đáng. Đó là bài học cho những kẻ như Đài cần phải thấu hiểu. Tuy nhiên, Đài và đồng bọn đã cố tình “đi theo vết xe đổ”. Chúng tôi không bao giờ tin những kẻ như Đài lại có đủ trình độ để “lãnh đạo” mấy cái “tổ chức” mà tự anh ta cùng những kẻ a dua nặn ra, chứ đừng nói là làm lợi cho dân, cho nước. Tôi nghĩ, Đài chỉ như một con rối trong tay những kẻ lưu vong, nhưng lại mang trong mình tham vọng đến mức ngông cuồng về mưu đồ chính trị. Những kẻ như Đài cần phải nghiêm trị bằng pháp luật, chứ không thể dừng ở mức giáo dục thuyết phục”.

Bác Lê Thị Hồng Hảo, trú tại nhà K9, cụm 7, phường Bách Khoa cũng tham dự hội nghị nhân dân phường tổ chức ngày 8-2-2007. Khi gặp chúng tôi, nhắc lại chuyện đó, bác vẫn chưa hết bất bình: “Tôi là một người dân trong phường, không có hiềm khích cá nhân gì với Đài. Vì thế trong hội nghị, tôi cũng như nhiều người khác đã phân tích cho Đài hiểu tính ưu việt của chế độ xã hội ta và quyền dân chủ mà Đảng, Nhà nước đã đem lại cho nhân dân, trong đó có cả gia đình Đài. Thế nhưng, thái độ của Đài trong hội nghị nhân dân hôm ấy là thái độ của một kẻ vô văn hoá, thậm chí là vô học. Đài vừa ngông cuồng, vừa cơ hội, không xứng đáng là thành viên của Hội luật sư Hà Nội nói riêng và các tổ chức khác của xã hội ta nói chung. Tôi cũng hiểu rằng, với mưu đồ đen tối và bản chất của một kẻ cơ hội như Đài cùng đồng bọn thì chúng không bao giờ nhận ra, hoặc là chúng sẽ cố tình không nhận ra những tiến bộ về dân chủ mà Đảng, Nhà nước ta đã và đang đem lại cho nhân dân. Đài đã lợi dụng một vài vụ việc mang tính đơn lẻ để quy kết thành những vấn đề mang tính tổng thể, rồi nói vống lên rằng “xã hội mất dân chủ, mất công bằng”.

Bác Hảo cũng như nhiều bà con khu dân cư cho rằng, việc Đài đã lừa phỉnh, dụ dỗ một số học sinh, sinh viên đến văn phòng của mình để truyền bá, tiêm nhiễm những quan điểm mang tính phản động là một hành vi nguy hiểm cần phải nghiêm trị. Việc cơ quan chức năng bắt giữ, khởi tố Đài và những kẻ tòng phạm như Lê Thị Công Nhân là việc làm đúng, được nhân dân rất ủng hộ. “Quốc có quốc pháp, gia có gia phong”, ở bất kỳ đất nước nào cũng thế, kẻ nào đi ngược lại lợi ích cộng đồng, lợi ích dân tộc thì nhất định phải bị nghiêm trị.

Trong cuộc trao đổi với chúng tôi, bác Võ Ngọc Tặng ở tổ 14, cụm 3, phường Bách Khoa cũng cho rằng: Hành động của Nguyễn Văn Đài cho thấy, hắn đã cấu kết khá chặt chẽ với những đối tượng có tư tưởng phản động trong và ngoài nước, để làm những việc có hại cho đất nước, nhân dân. Tôi cho rằng, khi nhận tiền tài trợ của nước ngoài, chắc chắn Đài cũng hiểu được những việc mình đang làm. Thế nhưng, một phần vì tham tiền, phần vì có những tham vọng chính trị ngông cuồng, nên ngày càng lún sâu vào con đường tội lỗi. Thật tiếc cho những người không nhận ra chân tướng của Đài, đã a dua theo hắn, xuyên tạc sự thật, phủ nhận thành quả mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã hy sinh bao xương máu mới xây đắp được.

Bác Lý Văn Tiến, người chủ trì hội nghị nhân dân ngày 8-2-2007 cho biết:

– Đài được nuôi ăn, học tử tế, lại được hưởng nhiều ưu ái mà xã hội, gia đình đem lại như tiêu chuẩn ưu tiên trong học tập, đi nước ngoài… Thế nhưng Đài đã không đền đáp những ưu ái ấy mà ngược lại, đã tráo trở “lấy ân làm oán”, tìm mọi phương cách nói xấu Đảng, chế độ, xuyên tạc, bôi nhọ sự thật. Xem xét hành vi của Đài, tôi thấy anh ta đã phạm tội một cách cố ý, thường xuyên, liên tục và có hệ thống. Không thể coi Đài là một kẻ “trẻ người non dạ”, bởi Đài đã gần 40 tuổi, hiểu cặn kẽ và làm chủ được những hành vi của mình. Những hành động của Đài như: tuyên truyền xuyên tạc, bôi xấu chế độ, lôi kéo, dụ dỗ người khác cùng phạm tội, cấu kết, móc nối với các tổ chức phản động trong và ngoài nước… đều đã được Đài tính toán kỹ lưỡng và còn hy vọng lên làm “thủ lĩnh”. Bản chất những hành động của Đài là cơ hội chính trị đã đến mức phản động, không thể áp dụng biện pháp giáo dục, xử lý thông thường mà phải nghiêm trị bằng pháp luật…

Trả giá và kết cục tất yếu

Sắp tới, Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân cùng đồng bọn sẽ bị đưa ra xét xử công khai trước pháp luật với bản án thích đáng dành cho những kẻ cố tình tuyên truyền chống phá Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam và lợi dụng quyền tự do dân chủ, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của công dân. Với những tham vọng ngông cuồng, lại được xúi bẩy, kích động từ những kẻ có dã tâm phản động, nên đầu óc chúng đã u mê, mờ mắt vì tiền bạc và ảo ảnh quyền lực. Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Những kẻ xâm phạm lợi ích của Nhà nước cũng chính là chống lại lợi ích của nhân dân, tất yếu sẽ bị nhân dân lên án và pháp luật trừng trị. Đó là cái giá, là kết cục tất yếu mà những kẻ ngông cuồng, mù quáng, vị kỷ như Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Trần Khải Thanh Thủy… và đồng bọn phải gánh chịu.

Lê Ngọc Long và Trần Anh Tuấn
qdnd.vn

This entry was posted on Tháng Mười 8, 2012, in Chính luận.

Về cái gọi là “Dự Luật Nhân quyền Việt Nam năm 2012”

Ngày 8 tháng 02 vừa qua, Tiểu ban về Châu Phi, Y tế toàn cầu và Nhân quyền của Hạ viện Mỹ thông qua cái gọi là “Dự luật Nhân quyền Việt Nam năm 2012” (The Vietnam Human Rights Act of 2012) do ông Crít Xmít (Chris Smith), nghị sĩ Đảng Cộng hòa, tiểu bang Niu Gơ-xi (New Jersey), Chủ tịch tiểu ban bảo trợ. Đây là một Dự luật sai trái, xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam và hoàn toàn đi ngược lại xu thế phát triển quan hệ giữa hai nước cũng như lợi ích của hai quốc gia Việt Nam – Hoa Kỳ.

Theo Hiến pháp Hoa Kỳ, sau khi Tiểu ban về Châu phi, Y tế toàn cầu và Nhân quyền thông qua, “Dự Luật Nhân quyền Việt Nam năm 2012”sẽ được trình ra Hạ viện; nếu được Hạ viện thông qua, nó sẽ được đệ trình lên Thượng viện và khi được Thượng viện thông qua và Tổng thống phê chuẩn, Dự luật này sẽ có hiệu lực. Theo đó, thì viện trợ của Mỹ dành cho Việt Nam sẽ “bị hạn chế và ràng buộc vào các điều kiện về nhân quyền” và nước Mỹ cũng không cho phép tăng viện trợ phi nhân đạo cho Việt Nam lên trên mức hiện nay, nếu như không dùng viện trợ đó để cải thiện nhân quyền và dân chủ. Dự luật còn đòi hỏi “Việt Nam phải đưa ra được những tiến bộ vượt bậc trong việc cải thiện luật pháp để ngăn chặn việc hình sự hóa các hoạt động dân chủ”. Đặc biệt, Ngoại trưởng Mỹ sẽ phải định kỳ báo cáo lên Hạ viện về “tiến trình cải thiện nhân quyền ở Việt Nam”v.v. và v.v.

Vào đầu năm nay (ngày 25-01), ông Crít Xmít đã có buổi điều trần về Dự luật này. Tại buổi điều trần, ngoài đại biểu của Tiểu ban trên, còn có những gương mặt đã có nhiều hành động chống nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, như: cựu dân biểu Cao Quang Ánh, Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng (Tổ chức Boat People SOS); Giám đốc Tổ chức Nhân quyền cho người Thượng; ông John Sifton (Tổ chức Human Rights Watch – Một tổ chức sân sau của các ông nghị chống Việt Nam tại Hạ viện). Bên cạnh đó, là “nhân chứng” Vũ Phương Anh, được giới thiệu là “nạn nhân” buôn người, với chứng cứ là Phương Anh “bị (Chính phủ Việt Nam) đưa đến một công xưởng ở Jordan – nơi mà theo bà ta nói, phải làm việc cả ngày lẫn đêm với tiền công ít ỏi”(!) Trong buổi điều trần, ông Crít Xmít còn nói “Chính quyền Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục vi phạm tệ hại nhân quyền. Lời khai mà người ta nghe được đã xác nhận rằng, việc truy bức tôn giáo, chính trị và sắc tộc tiếp diễn và trong nhiều trường hợp còn tăng nhiều thêm, và rằng nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam tiếp tục đón nhận những kẻ chuyên buôn người lao động cưỡng bức và mại dâm cưỡng bức”. Rồi ông ta răn đe: “Cần phải cho thấy, Hoa Kỳ gửi một thông điệp minh bạch tới chế độ Việt Nam rằng, họ phải ngừng vi phạm nhân quyền của các công dân của họ”(!).

Trước khi bàn về cái gọi là “Dự luật nhân quyền Việt Nam năm 2012”, chúng ta hãy xem Hoa kỳ có tư cách phán xét về nhân quyền của các quốc gia khác hay không?

Cho dù, Dự luật trên của Hoa kỳ chỉ có hiệu lực pháp lý đối với chính phủ Mỹ, nhưng trên thực tế đó là sự can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác. Bởi vì: Dự luật đã công khai đánh giá, nói đúng hơn là đã xuyên tạc tình hình nhân quyền của Việt Nam; bởi nó chỉ dựa vào những nguồn thông tin không khách quan, kích động những lực lượng chống đối chính quyền và phá hoại quan hệ của Việt Nam với các quốc gia và các tổ chức quốc tế… Theo đạo lý thông thường, người có quyền phán xét (hoặc tự phong) thì phải thật sự mẫu mực, hoặc chí ít thì cũng không có những chuyện tai tiếng trên lĩnh vực đó. Nhưng ngược lại, trên lĩnh vực nhân quyền thì Hoa kỳ không phải là một mẫu mực cho nước khác. Tạm gác lại “thành tích” nhân quyền trong lịch sử mà thế hệ người Mỹ ngày nay (như ông Crít Xmít) không phải chịu trách nhiệm (như họ đã thực hiện chiến lược diệt chủng đối với người Da đỏ). Nhưng, những tội ác mang tính diệt chủng mà họ gây ra đối với nhân dân Việt Nam (mà nạn nhân vẫn còn đang sống) thì không thể làm ngơ. Những người Mỹ có lương tri đều hiểu rằng, trách nhiệm về nhân quyền đối với Việt Nam hiện nay không chỉ là về đạo lý, mà còn cả về chính trị và kinh tế. Có người còn chỉ rõ, Hoa Kỳ đang áp dụng tiêu chuẩn kép như một chiến lược trên lĩnh vực nhân quyền. Báo Chicago Tribune (ngày 16 tháng 8 năm 1999), đăng bài bình luận “Hoa Kỳ xuất cảng: bom, súng và đạo đức giả” (U.S exports: Bombs, guns and hypocrisy) của Salim Muwakhil; trong đó viết: “Hoa Kỳ đứng đầu trong số lượng bán vũ khí trên hoàn cầu, chiếm hơn 55% thị trường. Hoa Kỳ bán vũ khí cho những quốc gia đối đầu nhau như Hi Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ, E-thi-ô-pia và E-ri-tơ-ria, A rập xê út và It-xra-en, Ấn Độ và Pa-ki-xtan; đưa vũ khí vào các điểm nóng trên thế giới như Sri Lan-ka, In-đô-nê-xi-a, Cô-lôm-bi-a, Trung Đông và Đông Phi”. Thử hỏi, tiếp tay cho các cuộc bắn giết lẫn nhau giữa các quốc gia, liệu có phải là vì nhân quyền không? Còn ở chính nước Mỹ, có người viết: “theo công bố của chính phủ (Mỹ), tội ác (ở Mỹ) chiếm nhiều nhất (thế giới), nếu tính theo tỷ lệ dân số”. Như vậy, Hoa Kỳ hoàn toàn không có tư cách để phán xét chuyện nhân quyền của nước khác, nhất là đối với Việt Nam, một đất nước mà món nợ nhân quyền của họ còn rất lớn.

Trở lại “Dự luật nhân quyền Việt Nam năm 2012”.

Trước hết về phương diện chính trị. Dự luật (mà Ông Xmit bảo trợ) đã đi ngược lại nguyên tắc tôn trọng quyền dân tộc tự quyết trong quan hệ quốc tế đương đại. Điều này đã được Hiến chương Liên hợp quốc ghi nhận. Trong Điều I của Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (năm 1966), đã quy định rằng: “Các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị…” của mình. Điều đó có nghĩa là, mỗi quốc gia – dân tộc có quyền lựa chọn chế độ TBCN hay XHCN; thể chế đa đảng hay độc đảng. Việc xây dựng hiến pháp và hệ thống pháp luật như thế nào là quyền của mỗi quốc gia – dân tộc, mà không có bất cứ quốc gia nào, một lực lượng chính trị nào có quyền áp đặt, kể cả Liên hợp quốc.

Có thể nói, không có căn cứ nào để khẳng định pháp luật Việt Nam “hình sự hoá các hoạt động dân chủ”. Thiết tưởng, chỉ có những người hồ đồ hoặc lấy quan điểm chủ quan của mình để đưa ra nhận xét “đổi trắng, thay đen” như vậy. Nếu thật sự là nhà chính trị có tâm, có tầm, ông Crít Xmít phải hiểu rằng: những quy định nào đó của Việt Nam về điều mà ông gọi là “hình sự hóa hoạt động dân chủ”, hay như người ta thường nói là trừng phạt những hoạt động “bất bạo động” là căn cứ vào thẩm quyền của cơ quan quyền lực quốc gia (đó là quốc hội hoặc nghị viện) của mỗi nước. Hiện nay, ở Việt Nam cũng như nhiều nơi trên thế giới, các lực lượng đối lập, chống chính phủ thường dùng thủ đoạn hoạt động “bất bạo động” để từng bước đi đến dùng vũ lực lật đổ nhà nước. Đây không phải là suy diễn, mà là một thực tế. Chẳng phải là, trong những lời khai của một số kẻ vi phạm pháp luật Việt Nam đã thừa nhận trước tòa án rằng, họ đã từng ra nước ngoài để dự lớp huấn luyện về hoạt động “bất bạo động” đó sao? Chính vì tôn trọng quyền bảo đảm an ninh quốc gia, mà cộng đồng quốc tế đã đồng thuận trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (năm 1966), cho phép các quốc gia có quyền đưa ra những hạn chế luật định đối với một số quyền, trong đó có quyền về tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do lập hội và hội họp. Công ước này quy định, các quốc gia được đưa ra những hạn chế quyền “nhằm bảo đảm an ninh quốc gia, an toàn và trật tự cộng cộng để bảo vệ sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng hoặc các quyền và tự do cơ bản của người khác”1.

Trong quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ. Dự luật này đang đi ngược lại sự phát triển về nhiều mặt giữa hai quốc gia. Như các phương tiện thông tin đã đưa, ngày 10-11- 2011, tại Hội nghị cấp cao Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) lần thứ 19, tổ chức tại thành phố Honolulu, bang Hawaii (Mỹ), Chủ tịch nước Cộng hoà XHCN Việt Nam Trương Tấn Sang đã có cuộc trao đổi với Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton. Tại cuộc trao đổi trên, Bà Ngoại trưởng khẳng định “Mỹ tiếp tục coi trọng và mong muốn thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác nhiều mặt với Việt Nam, trong đó có việc nâng tầm quan hệ, hướng tới đối tác chiến lược”. Chủ tịch Trương Tấn Sang cũng khẳng định “Việt Nam luôn coi trọng quan hệ với Mỹ như một đối tác hàng đầu có ý nghĩa chiến lược”2. Gần đây, ngày 02-02-2012, trong chuyến thăm Việt Nam, ông Kurt Campbell (Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ, phụ trách Đông Á – Thái Bình Dương) đã có cuộc gặp với Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam và lãnh đạo nhiều bộ, ngành của Việt Nam. Hai bên đã bày tỏ sự “hài lòng về những tiến triển sâu rộng của quan hệ Việt – Mỹ thời gian qua, cả trong hợp tác song phương cũng như trên các diễn đàn đa phương, góp phần duy trì hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới. Hai bên cũng đã trao đổi các biện pháp thúc đẩy hơn nữa quan hệ hai nước, nhất là trên các lĩnh vực kinh tế – thương mại – đầu tư, khoa học – công nghệ, giáo dục – đào tạo, ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng”3. Như vậy, cái gọi là “Dự luật Nhân quyền Việt Nam năm 2012” đã không đóng góp gì cho sự phát triển quan hệ Việt Nam – Hoa kỳ, mà còn là vật cản trở, phá hoại sự phát triển quan hệ giữa hai quốc gia và những nỗ lực của Hoa kỳ trong xây dựng lòng tin với các nước tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

Trên lĩnh vực kinh tế. Theo Dự luật này, viện trợ của Mỹ cho Việt Nam sẽ “bị hạn chế và ràng buộc vào các điều kiện về nhân quyền”. Như vậy, Dự luật đang làm ngược lại “Quyền phát triển” đã được cộng đồng quốc tế đồng thuận. Việc dùng biện pháp chính trị để hạn chế sự phát triển kinh tế của một quốc gia nghèo – đang phát triển là trái với tinh thần của quyền phát triển. Tất nhiên, trong thời đại ngày nay, sự phát triển của các dân tộc đều nằm trong mối quan hệ tùy thuộc lẫn nhau. Điều đó có nghĩa, nếu một quốc gia nào đó hạn chế một quốc gia khác thì họ cũng tự hạn chế sự phát triển của chính mình và ngược lại. Thực tế quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Hoa kỳ trong 10 năm qua (kể từ khi Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) có hiệu lực vào ngày 10-12-2001), thương mại hai chiều giữa hai nước đã tăng hơn 1.200% (từ 1,5 tỷ đô-la lên hơn 20 tỷ đô-la4). Theo số liệu mới nhất của hải quan Mỹ (công bố ngày 04-11-2011), thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Mỹ trong năm 2011 tiếp tục tăng mạnh so với năm 2010. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ trong 8 tháng đầu năm đạt 11,3 tỷ đô-la, tăng 20,6% so với cùng kỳ năm 2010 và xuất khẩu của Mỹ sang Việt Nam đạt 2,7 tỷ đô-la, tăng 2,5%.5 Như vậy, việc phát triển quan hệ giữa hai nước không chỉ đem lại lợi ích cho Việt Nam, mà còn đem lại lợi ích cho Hoa Kỳ.

Về mặt văn hóa ứng xử. Những quy định (nói cụ thể hơn đó là những đòi hỏi, hoặc những điều kiện mà Dự luật nêu ra), đặc biệt là ngôn từ của ông Crít Xmít trong buổi điều trần, khiến người ta liên tưởng đến việc Hoa Kỳ đang ra lệnh cho các chính quyền tay sai của họ trước đây. Ông nói “Hoa Kỳ đưa ra thông điệp”: Việt Nam “phải ngừng vi phạm nhân quyền của các công dân của họ”. Ông ta còn xúc phạm Quốc hiệu của một dân tộc khi gọi Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là “Chính quyền Cộng sản” – như cách nói hằn học của những “thuyền nhân”, không có công ăn việc làm, chuyên hành nghề chống cộng trên đất Mỹ. Ai cũng biết, cách gọi Nhà nước Việt Nam là Chính quyền Cộng sản có nguồn gốc từ thời kỳ Quân đội Mỹ xâm lược Việt Nam (1954 – 1975); đó là thời kỳ căng thẳng của chiến tranh lạnh giữa hai hệ thống TBCN và XHCN. Lẽ ra với tư cách một chính khách, một chính trị gia, ông Crít Xmít không nên sử dụng ngôn từ như thế, nhất là trong quan hệ quốc tế. Ông ta cần phải hiểu rằng, hàng trăm năm sống dưới chế độ thực dân – phong kiến và sự thống trị tàn bạo của CNĐQ, dân tộc Việt Nam không có quyền công dân và quyền con người. Những dân tộc được gọi là văn minh như Pháp, Mỹ… chẳng hề quan tâm gì đến quyền con người của nhân dân Việt Nam. Đây là một sự thật lịch sử không ai có thể phủ nhận. Có được quyền công dân và quyền con người như hiện nay, dân tộc Việt Nam đã phải đứng lên đấu tranh, không sợ hy sinh, gian khổ để giành lại quyền dân tộc tự quyết, quyền sống, quyền làm người của mình trong tay các thế lực đế quốc hung bạo, trong đó có Mỹ. Vậy có lẽ nào Chính phủ Việt Nam lại chà đạp lên quyền con người của công dân mình? Việc trừng phạt những kẻ vi phạm pháp luật quốc gia không có nghĩa là vi phạm nhân quyền; ngược lại, đó là việc làm cần thiết để bảo vệ quyền con người của quảng đại quần chúng nhân dân và cho cả dân tộc. Chính phủ nào cũng phải làm như vậy, kể cả Hoa Kỳ. Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hoà XHCN Việt Nam không phủ nhận hiện nay trong xã hội còn nhiều vấn đề cần giải quyết; trong đó, có tệ quan liêu, tham nhũng, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân… ở nơi này hoặc nơi khác. Nhưng điều đó, hoàn toàn không phải là bản chất của chế độ xã hội XHCN và càng không phải là chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Do nhiều nguyên nhân, sự khác biệt nào đó về quan điểm, về pháp luật giữa Việt Nam và Hoa kỳ là hoàn toàn có thể hiểu được. Nếu hai bên có thiện chí, bằng những hành động cụ thể để hợp tác, giúp đỡ nhau như tiếp tục tìm kiếm hài cốt binh sĩ, tẩy rửa chất độc da cam, hỗ trợ nạn nhân chiến tranh và đối thoại trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau thì hoàn toàn có thể thu hẹp dần sự khác biệt đó. Hơn nữa việc làm đó sẽ góp phần vào sự phát triển tốt đẹp mối quan hệ giữa hai dân tộc.

TRUNG THÀNH
tapchiqptd.vn

___________

1- Viện nghiên cứu Quyền con người – Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người, H. 2002, tr. 259.

2- Báo Quân đội nhân dân -ngày 12-11-2011, tr. 07.

3-Báo Người Lao động, ngày 10-02-2012.

4- Báo Giáo dục Việt Nam, ngày 09-12-2011, Quan hệ thương mại Việt Mỹ sau 10 năm tăng 1.200%.

5-TheoVietnam+ 13-7-2011.

This entry was posted on Tháng Mười 4, 2012, in Chính luận.

Phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, thật sự dân chủ và đổi mới

Phát biểu của TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG khai mạc Hội nghị lần thứ Sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI

Thưa các đồng chí Trung ương,

Thưa các đồng chí tham dự Hội nghị,

Thực hiện Chương trình làm việc toàn khóa, hôm nay Ban Chấp hành Trung ương bắt đầu họp Hội nghị lần thứ Sáu để thảo luận, cho ý kiến về các báo cáo, đề án liên quan đến: tình hình kinh tế – xã hội năm 2012, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2013; tiếp tục sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước; chính sách, pháp luật về đất đai; đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo; phát triển khoa học và công nghệ; quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước; báo cáo kết quả kiểm điểm tự phê bình và phê bình của Bộ Chính trị, Ban Bí thư theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XI về xây dựng Đảng; và một số vấn đề quan trọng khác.

Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi nhiệt liệt chào mừng các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và các đại biểu tham dự Hội nghị; xin gửi tới các đồng chí lời chúc tốt đẹp nhất.

Thưa các đồng chí,

Với tinh thần tiếp tục đổi mới, phát huy dân chủ, trí tuệ của Trung ương trong quá trình xem xét, thảo luận, quyết định các vấn đề quan trọng của Đảng và đất nước, tôi xin có một số ý kiến mang tính gợi mở, nêu vấn đề để thảo luận. Mong được các đồng chí quan tâm.

Toàn cảnh Hội nghị lần thứ Sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI
Ảnh: Trí Dũng

1- Về kinh tế – xã hội

Việc xem xét tình hình phát triển kinh tế – xã hội năm 2012 và phương hướng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2013 được đặt trong bối cảnh cả nước đang triển khai thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI và các nghị quyết của Trung ương với trọng tâm là tái cấu trúc đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước và hệ thống ngân hàng thương mại; nền kinh tế nước ta đứng trước những tác động không thuận của tình hình thế giới, khu vực; cán bộ, đảng viên và nhân dân đang đặt nhiều kỳ vọng vào kết quả thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng Đảng… Vì vậy, đề nghị Trung ương tập trung thảo luận, phân tích kỹ những đặc điểm nổi bật của năm 2012, làm rõ những kết quả đã đạt được; những hạn chế, yếu kém đang tồn tại; và chỉ ra những nguyên nhân khách quan, chủ quan; dự báo những khả năng sắp tới với tinh thần thật sự khách quan, khoa học, toàn diện. Chú ý đối chiếu với những mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra, nhất là mục tiêu, nhiệm vụ kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, duy trì mức tăng trưởng hợp lý, tạo tiền đề cho việc lấy lại đà tăng trưởng và phát triển nhanh, bền vững trong những năm sắp tới. Đặc biệt, cần đi sâu phân tích, đánh giá các vấn đề có liên quan đến việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ tái cấu trúc nền kinh tế. Phải chăng vừa qua, chúng ta mới chủ yếu tập trung cho việc chèo chống, đối phó với tình hình khó khăn về tài chính, ngân hàng, hỗ trợ doanh nghiệp duy trì sản xuất, kinh doanh và việc làm cho người lao động… mà chưa ở thế chủ động triển khai các biện pháp đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, thực hiện 3 khâu đột phá nêu trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội?

Trên cơ sở đánh giá đúng tình hình, cần xác định những quan điểm phát triển, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu tổng quát và một số chỉ tiêu cơ bản, quan trọng nhất cho năm 2013. Phải chăng sắp tới chúng ta vẫn phải quan tâm đến việc kiềm chế lạm phát nhưng tập trung ưu tiên nhiều hơn cho ổn định, lành mạnh hoá kinh tế vĩ mô, cải thiện môi trường đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh, lấy lại đà tăng trưởng và bảo đảm an sinh xã hội gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; tạo tiền đề vững chắc cho tăng trưởng cao hơn ở những năm cuối của kế hoạch 5 năm?

Về Đề án Tiếp tục sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước: đây là vấn đề lớn và khó, luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo. Cách đây hơn 10 năm, ngày 24.9.2001, Hội nghị Trung ương 3 Khóa IX đã ban hành Nghị quyết về sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. Tiếp đó Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 Khóa IX cũng tiếp tục khẳng định, bổ sung, nhấn mạnh thêm nhiều nội dung quan trọng về đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước. Bộ Chính trị đã 8 lần nghe Ban cán sự đảng Chính phủ báo cáo và đã ban hành 4 chỉ thị, kết luận chỉ đạo về công tác này. Các cấp uỷ đảng, chính quyền từ Trung ương đến địa phương tích cực lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện các nghị quyết và kết luận quan trọng này của Trung ương. Mới đây, Đại hội XI của Đảng, đặc biệt là trong Cương lĩnh và Chiến lược đã xác định rõ thêm vai trò của kinh tế nhà nước, vị trí của doanh nghiệp nhà nước và các vấn đề có liên quan.

Đề nghị Trung ương tập trung cho ý kiến: vì sao lúc này chúng ta vẫn phải tiếp tục sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước? Phạm vi nội dung đến đâu? Phải chăng cần dựa trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 Khóa IX, chọn ra một số vấn đề lớn, quan trọng để thảo luận và có chính sách, biện pháp tháo gỡ, khắc phục? Ví dụ: vấn đề cơ cấu lại lĩnh vực, ngành nghề hoạt động của doanh nghiệp nhà nước; vấn đề đổi mới mô hình tổ chức, quản trị doanh nghiệp nhà nước; vấn đề đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thực hiện vai trò đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước; công tác xây dựng Đảng và công tác cán bộ trong các doanh nghiệp nhà nước… Đối với từng vấn đề, cần đi sâu phân tích, đánh giá tình hình và nguyên nhân; chỉ rõ đâu là nguyên nhân thuộc về chủ trương, cơ chế, chính sách và đâu là nguyên nhân do tổ chức thực hiện không đúng, không nghiêm? Từ đó, đề ra chủ trương, biện pháp phù hợp, có tính khả thi cao, tạo sự chuyển biến thật sự về hiệu quả, sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước trong tình hình mới.

Về vấn đề đất đai: mới đây, Hội nghị Trung ương 5 Khóa XI đã bàn và kết luận một bước, đồng thời giao cho Ban cán sự đảng Chính phủ khẩn trương nghiên cứu làm rõ những vấn đề còn có ý kiến khác nhau để trình Hội nghị lần này tiếp tục xem xét, ban hành nghị quyết định hướng cho việc sửa đổi Luật Đất đai năm 2003. Sau một thời gian khẩn trương, nghiêm túc chuẩn bị, Ban cán sự đảng Chính phủ đã xây dựng Báo cáo trình Bộ Chính trị thảo luận và hôm nay trình xin ý kiến Trung ương. Đề nghị các đồng chí tập trung thảo luận kỹ để đi đến thống nhất ban hành Nghị quyết của Trung ương định hướng cho việc nghiên cứu sửa đổi Luật Đất đai. Chú ý việc tiếp tục hoàn thiện các quy định về giá đất; về giao đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; về thế chấp tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất tại ngân hàng ở nước ngoài; về việc quản lý, sử dụng đất nông, lâm trường quốc doanh; việc giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số…

2- Về phát triển giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ

Đây là những vấn đề đặc biệt quan trọng, đã được coi là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế – xã hội. Cách đây 16 năm, Hội nghị Trung ương 2 Khóa VIII đã ban hành Nghị quyết về định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ đến năm 2010. Lần này, thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, chúng ta bàn về vấn đề đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển khoa học và công nghệ. Có một loạt câu hỏi đặt ra cần được thảo luận, làm rõ như: Vì sao lúc này phải đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển khoa học và công nghệ? Phạm vi, mục tiêu, yêu cầu của mỗi Đề án thế nào? Đổi mới căn bản là gì, toàn diện là gì? Nội hàm phát triển khoa học và công nghệ? Những chủ trương, chính sách, biện pháp gì cần phải thống nhất ban hành để lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục đổi mới giáo dục – đào tạo và phát triển khoa học – công nghệ?…

Để giải đáp được những câu hỏi nêu trên một cách đúng đắn, cần có sự đánh giá toàn diện, khách quan tình hình triển khai thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng cũng như tình hình phát triển giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ trong 16 năm qua, khẳng định những thành tựu, kết quả đã đạt được, chỉ ra những bất cập, hạn chế, yếu kém còn tồn tại; làm rõ vì sao giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ đến nay vẫn chưa thực sự trở thành nền tảng và động lực cho phát triển? Vướng mắc chính ở chỗ nào?… Trên cơ sở đó, khẳng định những quan điểm lớn, quan trọng đã được đề ra tại Nghị quyết Trung ương 2 Khóa VIII đến nay còn đúng, cần tiếp tục thực hiện; đồng thời bổ sung, phát triển các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp mới, nhất là những nội dung đổi mới có tính đột phá, căn bản, toàn diện.

Phạm vi giáo dục – đào tạo rất rộng, bao gồm: mầm non, phổ thông, đại học và đào tạo nghề từ sơ cấp đến cao đẳng. Các chuyên ngành khoa học – công nghệ cũng rất phong phú, đa dạng, bao gồm: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội nhân văn, khoa học kỹ thuật, khoa học quản lý, nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao và ứng dụng khoa học – công nghệ… Mục tiêu, nhiệm vụ và đặc biệt là các chủ trương, chính sách cho từng loại đối tượng và chuyên ngành cần được nghiên cứu, xác định rất cụ thể, phù hợp để bảo đảm tính khả thi; khắc phục tình trạng lâu nay đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách thì đúng hoặc về cơ bản là đúng, nhưng khó hoặc không thực sự đi vào cuộc sống, không thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.

Phải chăng đối với cả hai lĩnh vực này, đều phải đổi mới mạnh mẽ, sâu sắc hơn nữa tư duy và nhận thức của các ngành, các cấp cho phù hợp với bối cảnh và yêu cầu mới: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển kinh tế tri thức, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng hơn. Trên cơ sở đó, đổi mới căn bản cơ chế, chính sách, nhất là chính sách đầu tư và cơ chế tài chính; đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học; đổi mới đồng bộ hệ thống giáo dục – đào tạo và nghiên cứu, triển khai khoa học – công nghệ; đổi mới công tác quản lý giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ; công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, tôn vinh đội ngũ các nhà giáo, nhà khoa học, các nhà quản lý, nhất là những nhân tài đúng với tinh thần “hiền tài là nguyên khí quốc gia”? Đồng thời, nghiên cứu điều chỉnh tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước sao cho phù hợp.

3- Một số vấn đề về xây dựng Đảng

Từ Đại hội XI của Đảng đến nay, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành khá nhiều văn bản quan trọng và đã dành nhiều công sức cho việc thực hiện nhiệm vụ then chốt này. Đặc biệt, Nghị quyết Trung ương 4 “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đang được toàn Đảng tập trung triển khai thực hiện rất tích cực theo đúng kế hoạch, lộ trình. Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chỉ đạo ráo riết và chặt chẽ; đồng thời đã tiến hành kiểm điểm tập thể và cá nhân một cách nghiêm túc theo đúng quy định. Tại Hội nghị này, Bộ Chính trị sẽ báo cáo kết quả bước đầu để Trung ương cho ý kiến. Riêng việc lập lại Ban Kinh tế Trung ương và việc xây dựng quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh chủ chốt của Đảng, Nhà nước, Bộ Chính trị đã có Tờ trình và Đề án gửi Trung ương; tôi chỉ xin nói rõ thêm mấy ý về công tác quy hoạch cán bộ.

Chúng ta đều biết, cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược, là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ; do đó công tác cán bộ được coi là khâu then chốt trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng. Và trong công tác cán bộ thì việc quy hoạch cán bộ là khâu mở đầu, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, bảo đảm cho công tác cán bộ đi vào nền nếp, chủ động, có tầm nhìn xa, đáp ứng cả yêu cầu trước mắt và lâu dài.

Từ nhiều năm qua, nhất là từ khi có Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 30.11.2004 của Bộ Chính trị Khóa IX, công tác quy hoạch cán bộ đã được quan tâm chỉ đạo, triển khai thực hiện một cách khá bài bản trong toàn hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở và đã đạt được những kết quả bước đầu quan trọng. Tuy nhiên, công tác quy hoạch cán bộ cũng còn không ít hạn chế, yếu kém, như nhiều trường hợp chưa gắn với việc đánh giá cán bộ hoặc chưa căn cứ vào kết quả đánh giá cán bộ; chưa thật sự xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ công tác; chưa gắn quy hoạch với đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ; chưa có tầm nhìn xa, dẫn đến tình trạng lúng túng, hẫng hụt mỗi khi cần bổ sung, thay thế; đặc biệt, chưa xây dựng được quy hoạch cán bộ cấp chiến lược. Nhận rõ khuyết điểm này, Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XI đã nêu nhiệm vụ phải xây dựng quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước.

Tại Hội nghị này, Trung ương chưa thể bàn về nhân sự quy hoạch cụ thể, mà chủ yếu tập trung cho ý kiến về mục đích, yêu cầu, quan điểm, nguyên tắc, phương châm, nội dung của việc xây dựng quy hoạch cán bộ cấp chiến lược. Nội dung công tác quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước, bao gồm: yêu cầu, tiêu chuẩn đối với từng chức danh cụ thể; độ tuổi tham gia quy hoạch; số lượng, cơ cấu của quy hoạch; đối tượng và điều kiện lựa chọn cán bộ đưa vào quy hoạch; quy trình phát hiện, giới thiệu, lựa chọn và quyết định nguồn quy hoạch; quản lý và thực hiện quy hoạch… Sau khi Trung ương thống nhất về những vấn đề quan trọng này và Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết, Bộ Chính trị sẽ chỉ đạo việc xây dựng quy hoạch cụ thể Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ 2016 – 2021 và các nhiệm kỳ tiếp theo. Đề nghị các đồng chí căn cứ vào Đề án, Tờ trình của Bộ Chính trị và bằng kinh nghiệm, thực tiễn của công tác xây dựng quy hoạch cán bộ ở địa phương, bộ, ngành mình trong những năm qua, nghiên cứu, thảo luận, đóng góp nhiều ý kiến vào nội dung của Đề án, nhất là những vấn đề còn có ý kiến khác nhau, đi đến thống nhất cao để ban hành Nghị quyết, tạo tiền đề cho việc thực hiện nội dung của công tác quy hoạch cán bộ cấp chiến lược.

Thưa các đồng chí,

Có thể nói, ít có Hội nghị Trung ương nào có nhiều nội dung và dự kiến họp dài ngày như Hội nghị lần này. Hầu hết các vấn đề chúng ta sẽ bàn và quyết định đều rất quan trọng, khó và nhạy cảm. Nhiều vấn đề đã có chủ trương, chính sách và đã được tiến hành từ lâu nhưng đến nay, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, cần phải tiếp tục được thực hiện ở tầm mức mới với những quyết sách mới, nhằm đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới. Vì vậy, đề nghị Trung ương và các đồng chí tham dự Hội nghị phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, thật sự dân chủ và đổi mới, tập trung nghiên cứu, thảo luận, đóng góp nhiều ý kiến có chất lượng, sâu sắc để hoàn thiện các báo cáo, đề án và xem xét, quyết định vào cuối kỳ họp.

Với tinh thần đó, tôi xin tuyên bố khai mạc Hội nghị lần thứ Sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI. Chúc Hội nghị của chúng ta thành công tốt đẹp.

Xin trân trọng cám ơn.

daibieunhandan.vn

This entry was posted on Tháng Mười 2, 2012, in Chính luận.

Hiểu đúng tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định con đường cách mạng mà Người đã chọn

Chủ tịch Hồ Chí Minh

Hiểu đúng tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định con đường cách mạng mà Người và dân tộc ta đã lựa chọn có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong cuộc đấu tranh để bảo vệ và xây dựng đất nước theo con đường XHCN hiện nay.

Từ năm 1930 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại. Đó là, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử năm 1954, toàn thắng mùa Xuân 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế; thắng lợi của công cuộc đổi mới, tiến hành CNH,HĐH và hội nhập quốc tế, tiếp tục đưa đất nước từng bước quá độ lên CNXH. Thực tiễn và thắng lợi của sự nghiệp cách mạng hơn 80 năm qua đã khẳng định: “tư tưởng vĩ đại của Người, cùng với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, mãi mãi là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta,…”1

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, bên cạnh đa số người dân tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới của dân tộc, vẫn có một số ít người, trong đó có cả những người vốn là cán bộ của Đảng và Nhà nước, nhà trí thức ngoài Đảng…, đã có những bài viết, việc làm thể hiện những quan điểm lệch lạc về lý luận. Cùng với đó, kẻ thù các loại của CNXH đã không ngớt đưa ra những luận điểm xuyên tạc các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Có luận điểm cho rằng, ngày nay chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã lỗi thời; bởi đó là sản phẩm của thế kỷ XIX, cách đây đã hơn 150 năm, nên không thể là kim chỉ nam cho hành động của chúng ta trong thời đại mới. Ngay trong hàng ngũ những người cộng sản, cũng có một số ít muốn phủ định con đường XHCN; cho rằng CNXH chỉ là “bóng ma” trong lịch sử, đi theo con đường XHCN là mơ hồ, ảo tưởng về một chế độ xã hội tốt đẹp; rằng học thuyết Mác không có tính phổ biến nên bị phá sản hoàn toàn là tất yếu; CNXH “đẹp nhưng không thực”, nếu gọi là CNXH thì chỉ là loại CNXH không tưởng, không phải là CNXH khoa học, v.v.

Để biết được ý kiến đó đúng hay sai, phải tìm hiểu CNXH không tưởng là như thế nào? CNXH khoa học của C. Mác và Ph. Ăng-ghen khác gì so với CNXH không tưởng? Vì sao Đảng ta vẫn kiên trì lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng?

CNXH không tưởng có nguồn gốc tiền sử xã hội trong quá khứ. Ở phương Đông là sự mong muốn có một thế giới đại đồng, người thân ái với người. Ở phương Tây là mơ ước về một xã hội không có lao động cưỡng bức, không có cảnh nghèo khổ. Thế nhưng, những mong muốn ấy lại không biết làm bằng cách nào. Cũng có những ý kiến nêu ra cách làm nhưng không có giá trị thực thi. CNXH không tưởng với tư cách là một học thuyết, ra đời vào đầu thế kỷ XIX, thời đại cách mạng tư sản. Đại biểu cho những nhà XHCN không tưởng là Xanh-xi-mông, Phu-ri-ê, Ô-oen. C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã kế thừa và hoàn chỉnh một cách thiên tài luận thuyết của ba vị này và hiểu được cách làm của họ sẽ không đem lại kết quả, nên coi đó chỉ là CNXH không tưởng.

CNXH không tưởng do Tô-mát Mo-rơ (1478 – 1535), người Anh đề xuất; theo tiếng Pháp là socialisme utopique, tên của xứ U-tô-pi. Tô-mát Mo-rơ mong muốn có một xã hội được quản lý dân chủ, bình đẳng trong lao động, không có đối lập giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động trí óc và chân tay; con người làm việc 6 giờ một ngày, thời gian còn lại dành cho hoạt động khoa học, nghệ thuật; nhân cách được phát triển toàn diện, kết hợp giáo dục lý luận với lao động. Khi Tô-mát Mo-rơ hư cấu về chuyến du lịch đến xứ U-tô-pi (nghĩa đen là “nơi không có thật”, được viết trong cuốn sách vàng nói về chế độ nhà nước tốt đẹp nhất), ông đã bị xử tử theo lệnh của nhà Vua.

CNXH khoa học của C. Mác và Ph. Ăng-ghen khác hẳn với CNXH không tưởng. Lý luận về CNXH khoa học được C. Mác và Ph. Ăng-ghen nhiều năm nghiên cứu, đặc biệt là nghiên cứu về sự ra đời của giai cấp và cuộc đấu tranh giai cấp trong lịch sử tiến hóa của xã hội loài người; về CNTB với sự bóc lột giai cấp công nhân về giá trị thặng dư; về nền sản xuất công nghiệp hiện đại TBCN, trong đó máy móc là công cụ sản xuất tập thể được giai cấp vô sản công nghiệp – một lực lượng lao động tập thể sử dụng và nền công nghiệp hiện đại càng phát triển thì giai cấp vô sản công nghiệp ngày càng đông; về cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản,v.v. Từ đó, đi đến kết luận rằng, theo quy luật khách quan của sự phát triển lịch sử, chính giai cấp vô sản công nghiệp hiện đại là giai cấp có sứ mệnh lịch sử đào huyệt chôn CNTB, xây dựng thành công xã hội XHCN. Để thực hiện sứ mệnh lịch sử đó, giai cấp vô sản phải có đội tiên phong của mình là Đảng Cộng sản, được trang bị lý luận cách mạng để lãnh đạo công nhân, nhân dân lao động đấu tranh giành chính quyền về tay mình. Chính quyền cách mạng phải được xây dựng đủ mạnh để làm công cụ cho việc xóa bỏ chế độ xã hội TBCN đầy thảm họa, xây dựng chế độ xã hội mới – xã hội XHCN tốt đẹp hơn. Từ kinh nghiệm thành công và chưa thành công của quá trình xây dựng CNXH; từ những tri thức và kinh nghiệm mới mà nhân loại đã tạo ra trong những thể chế chính trị – xã hội khác nhau, trong hiện thực lịch sử và thời đại, những người cộng sản có khả năng đổi mới nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH. Điều đó đã được thực tế khẳng định: CNXH ở Việt Nam, Trung Quốc và một số nước khác không chỉ thoát khỏi khủng hoảng, mà còn có bước phát triển mạnh mẽ cả trong hiện tại và tương lai.

Hiện nay, trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ lên CNXH, những thách thức và nguy cơ đối với sự tồn tại và phát triển của CNXH hiện thực là rất lớn. Sự phát triển của khoa học và công nghệ ngày nay đã tạo điều kiện để CNTB tự điều chỉnh, thích nghi, kéo dài sự tồn tại và tiếp tục phát triển. Bên cạnh đó, công cuộc đổi mới của đất nước ta có cả thành tựu và khuyết điểm, trong đó thành tựu là cơ bản, là mặt chủ yếu của sự phát triển; còn khuyết điểm không phải từ bản chất của CNXH và có những nguyên nhân khách quan, song chủ quan là chủ yếu. Trước tình hình đó, một số người do phai nhạt lý tưởng, thoái hóa biến chất, cơ hội về chính trị, đã đưa ra một số quan điểm làm phân tâm xã hội, tác động tiêu cực tới quá trình đổi mới và phát triển đất nước theo định hướng XHCN. Điều đó đã làm cho một số người vốn tôn sùng CNTB, càng giảm niềm tin đối với CNXH; thậm chí, có người còn nuối tiếc: giá nước ta không đi theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, không đi theo con đường XHCN, không tiến hành hai cuộc chiến tranh chống xâm lược, thì dân tộc ta đã tiến ngang hàng các cường quốc. Họ cố làm ngơ và cho rằng lựa chọn con đường XHCN ở nước ta có gì chưa ổn, trái với xu thế phát triển của thời đại hiện nay, không phù hợp với tình hình cụ thể ở Việt Nam. Họ công khai kiến nghị Đảng ta không lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin làm nền tảng tư tưởng nữa, với lập luận rằng: Bác Hồ đã vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào việc giải quyết đúng đắn các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, những bài viết của Người rất dễ hiểu; như vậy thì chỉ nên lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng là đủ, không cần phải nêu thêm chủ nghĩa Mác – Lê-nin! v.v.

Những luận điệu trên là hoàn toàn phi lý và đầy mâu thuẫn. Bởi lẽ, chủ nghĩa Mác – Lê-nin là một hệ thống lý luận hoàn chỉnh, sâu rộng, có ý nghĩa cách mạng và khoa học. Bác Hồ đã nghiên cứu vận dụng, Đảng ta cũng phải tiếp tục nghiên cứu vận dụng, vì công cuộc cách mạng luôn đặt ra những vấn đề mới.Đồng thời, xuất phát từ những bài học rút ra trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, cũng như trước yêu cầu bức xúc của lịch sử, Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam đã nhận thức và hành động theo quy luật khách quan; đó là: “Ngọn đuốc lý luận Mác – Lê-nin và kinh nghiệm Cách mạng Tháng Mười soi sáng con đường cách mạng Việt Nam. Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản (CMVS)”2. Con đường cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào điều kiện cụ thể ở nước ta. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin là một học thuyết khoa học và cách mạng. Đó không chỉ là học thuyết nhận thức và giải thích thế giới một cách đúng đắn, mà còn là một học thuyết cải tạo thế giới. Vận mệnh của nó gắn liền với vận mệnh của giai cấp công nhân hiện đại, của nhân loại cần lao và tiến bộ trong cuộc đấu tranh vì sự tiến bộ, công bằng xã hội. Nó vạch ra những nguyên lý cơ bản nhất, chung nhất về con đường, về hình thức, phương pháp, lực lượng đấu tranh cách mạng để xóa bỏ áp bức, bất công. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, một khi giai cấp công nhân đã nắm được lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, thì cuộc đấu tranh của họ chống chủ nghĩa đế quốc và giai cấp thống trị phản động trong nước sẽ chuyển từ tự phát sang tự giác. Vì vậy, chỉ có con đường CMVS mới là con đường duy nhất đúng cho các dân tộc bị áp bức, trong đó có Việt Nam.

Ai đó nói rằng, Bác Hồ là người cộng sản nhưng luôn vì lợi ích dân tộc, không theo lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, nên đã tập hợp được khối đại đoàn kết toàn dân, đã giành được thắng lợi to lớn cho cách mạng. Đúng là thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thành công của 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược là do Bác Hồ và Đảng ta đã phát huy được cao độ lòng yêu nước, xây dựng được khối đoàn kết toàn dân. Nhưng nếu cho rằng, Bác Hồ chỉ đứng trên lập trường dân tộc, không theo lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác – Lê-nin là hoàn toàn không đúng. Bởi lẽ, trong con đường cách mạng Việt Nam, vấn đề cứu nước, giải phóng dân tộc, giành độc lập luôn gắn chặt với xác lập quyền làm chủ của nhân dân; đó là tính giai cấp. Vấn đề cứu nước, giải phóng dân tộc, giành độc lập khi được gắn với vấn đề xác lập quyền làm chủ của nhân dân sẽ nhận rõ được tính giai cấp. Giành độc lập để Vua làm chủ, để giai cấp tư sản làm chủ hay để nhân dân lao động làm chủ; rõ ràng, về bản chất giai cấp là khác nhau.Trong cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, Bác Hồ cùng với Đảng luôn giương cao ngọn cờ yêu nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân dựa trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân và nông dân, nên thành lập được mặt trận dân tộc vừa rộng rãi, vừa vững chắc. Phất cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, nhưng Đảng và Bác Hồ luôn nắm vững mục tiêu giành độc lập để đi lên CNXH, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

Mặt khác, con đường CMVS được Bác Hồ tìm ra vào lúc ở Việt Nam đã có giai cấp công nhân công nghiệp. Giai cấp công nhân lúc này đã tham gia những cuộc đấu tranh yêu nước, nhưng chưa có ý thức về sự đối lập về quyền lợi giữa giai cấp công nhân với toàn bộ chế độ TBCN, trước mắt là chế độ thuộc địa của tư bản thực dân Pháp và tay sai. Tìm ra con đường CMVS với việc xây dựng được Đảng Cộng Sản Việt Nam, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã đưa giai cấp công nhân Việt Nam bước lên vũ đài chính trị, thực hiện sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng của mình, đồng thời giải quyết được cuộc khủng hoảng đường lối cứu nước vào những năm 20 của thế kỷ XX.

Con đường cách mạng theo CNXH khoa học đã được Bác Hồ vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế ở Việt Nam. Đó là con đường giành độc lập để nhân dân làm chủ, nhằm chăm lo cuộc sống tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Theo con đường đó, cách mạng Việt Nam đã giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Rõ ràng, rất không đúng khi cho rằng: đi theo con đường XHCN ở nước ta như “đi vào bụi rậm”; và rằng, ở Việt Nam đi lên CNXH là duy ý chí, là không tưởng.

Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo 25 năm qua đã đem lại sự phát triển toàn diện cho đất nước, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Đó là một thực tế không thể xuyên tạc được. Vậy mà gần đây, các bài phát biểu, các ấn phẩm đa dạng của một số cá nhân vẫn chứa đựng những quan điểm lệch lạc, hằn học với những gì đang diễn ra trên đất nước Việt Nam… Rõ ràng, đó là những biểu hiện của sự thoái hóa biến chất, thụt lùi về trình độ tư duy khoa học và xen vào đó là chủ nghĩa cá nhân vị kỷ. Về lý luận, họ đã khởi xướng cho sự hoài nghi các giá trị của chủ nghĩa Mác – Lê-nin; đối lập chủ nghĩa Mác – Lê-nin với tư tưởng Hồ Chí Minh. Về thực tiễn, họ phủ nhận những thành tựu của công cuộc đổi mới, tính ưu việt, hợp quy luật của CNXH. Một số người đã công khai chia tay với CNXH; lớn tiếng kêu gọi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập,v.v. Tất cả các nhận thức và hành vi trên cần phải kiên quyết đấu tranh, bác bỏ; vì nó đi ngược lại quy luật tất yếu của lịch sử và tương lai rực rỡ của dân tộc Việt Nam.

TRẦN TRỌNG TÂN
tapchiqptd.vn

1 – ĐCSVN –Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 6.

2 – Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 9, Nxb CTQG, H. 2000, tr. 314.

Điều 4 Hiến pháp 1992 và nền dân chủ của chúng ta

Lợi dụng chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, các thế lực thù địch trong và ngoài nước đang dấy lên làn sóng xuyên tạc, vu cáo, bôi nhọ Đảng, Nhà nước, lãnh tụ và chế độ xã hội ta. Một trong những trọng điểm mà họ tập trung chống phá là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được ghi trong bản Hiến pháp năm 1992.

altChủ tịch Quốc hội (nay là Tổng Bí thư) Nguyễn Phú Trọng dự ngày hội đại đoàn kết tại huyện Ninh Giang, Hải Dương (Nguồn: qdnd.vn)

 Họ cho rằng: “Điều 4 Hiến pháp 1992 phá hủy nền tảng của chính bản Hiến pháp”. Bởi lẽ: “Điều 2 Hiến pháp 1992viết “Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…”, trong khi Điều 4 lại khẳng định: “Đảng Cộng sản (ĐCS) Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, tức là nước Cộng hoà XHCN Việt Nam theo một chế độ Đảng trị= Đảng chủ”. Hơn nữa, theo họ: “Điều 83 của Hiến pháp viết “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam… Như vậy, cơ quan cao nhất ở đây “không thuộc về ĐCS Việt Nam như Điều 4”.

Về đường lối kinh tế,họ nói: “Điều 15 của Hiến pháp viết: “Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN… dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng…”. Như vậy, Điều 15 trái với Điều 4ghi: “ĐCS Việt Nam theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Vì chủ nghĩa Mác – Lê-nin phủ nhận kinh tế thị trường = tư bản, xóa bỏ sở hữu tư nhân” và họ hỏi: “Vì sao theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin lại phát triển kinh tế tư bản?”, v.v. 

Tựu trung lại, họ kêu gọi: “cần phải xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp 1992” mà thực chất là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của ĐCS Việt Nam, đơn giản chỉ là như vậy!

Có lẽ không cần phải phân tích những sai trái trong từng lập luận của họ. Bởi vì, mọi người có thể thấy rõ tất cả những lập luận trên chỉ là sự sao chép tư duy chính trị dân chủ đa nguyên mà các phần tử hành nghề chống cộng ở ngoài nước đã đưa đầy rẫy trên mạng internet cùng với sự ngụy biện thô thiển mà thôi.

Người làm chính trị, khoa học hay văn hóa, nghệ thuật trước hết phải thực sự nghiêm túc, chân thành, trung thực… Thế nhưng, những lập luận ngụy biện, vòng vo rằng: “Điều 4 Hiến pháp 1992 phá hủy nền tảng của chính bản Hiến pháp” chẳng những không có sức thuyết phục về trí tuệ mà còn thể hiện lập luận hoàn toàn ngụy biện, không đáng tin cậy.

Với họ, đã là Nhà nước pháp quyền XHCN thì Quốc hội – cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, không chịu sự lãnh đạo của bất cứ chính đảng nào! Ở lập luận này, trước hết, họ đã bộc lộ sự thiếu hiểu biết của mình. Họ không thấy rằng: trong tất cả các nền dân chủ hiện đại bao giờ cũng có đảng chính trị lãnh đạo, cầm quyền. Sự khác nhau chỉ là ở mục tiêu và phương thức lãnh đạo mà thôi. Ở Hoa Kỳ, Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa thay nhau lãnh đạo. Ở Cộng hòa Liên bang Đức cũng như vậy, phần lớn thế kỷ XX do Đảng Dân chủ Thiên chúa và Đảng Dân chủ xã hội cầm quyền. Ở Úc thì Đảng Lao động và Liên Đảng Quốc gia – Tự do thay nhau cầm quyền… Thử hỏi: Nếu ở Hoa Kỳ, Đức, Úc thì họ có phê phán chế độ đó là không dân chủ với lập luận: “Nhà nước pháp quyền, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…”, sao lại có đảng cầm quyền? Vì sao đã là Nghị viện – cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của quốc gia sao quyền lãnh đạo lại vẫn thuộc về đảng này đảng nọ? Thật ra, họ chỉ muốn loại trừ ĐCS Việt Nam ra khỏi vai trò lãnh đạo, cầm quyền mà thôi, còn những đảng khác lãnh đạo, cầm quyền thì vẫn hợp lý!

Lại nói về lập luận của họ về Điều 17 của Hiến pháp 1992. Điều này quy định: “Phát huy mọi năng lực sản xuất, mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế gồm kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài…”. Theo họ, thì chính sự khẳng định: “ĐCS Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế TBCN (ở Điều 17 này) đã “giết chết chủ nghĩa Mác – Lê-nin là tôn giáo và cương lĩnh của Đảng như Điều 4”.

Trong lập luận trên, họ đã thể hiện mâu thuẫn trong tư duy và sự thiếu trung thực. Bởi vì, họ cho rằng: ĐCS Việt Nam “đang xây dựng nền kinh tế TBCN”, là “giết chết chủ nghĩa Mác – Lê-nin”. Ở đây họ đóng vai trò là người bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lê-nin; thế nhưng, ngay ở câu đó lại nói: “chủ nghĩa Mác – Lê-nin là tôn giáo”. Và ở một đoạn khác họ cho rằng: “nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường – khái niệm “định hướng XHCN” hoàn toàn vô nghĩa”.

Xin nói rằng, bình luận “định hướng XHCN hoàn toàn vô nghĩa” của họ là hoàn toàn sai lầm. Bởi vì, không có một nền kinh tế nào nằm ngoài một không gian chính trị, nằm ngoài một quốc gia với một nhà nước và một đảng chính trị cầm quyền.

 Những ai hiểu biết về lịch sử tư tưởng kinh tế thì đều biết rằng, chủ nghĩa tự do cổ điển (Classical liberalism) về kinh tế thị trường còn gọi là “bàn tay vô hình” do Adam Smith đề xướng cho rằng: tự cơ chế thị trường sẽ bảo đảm được sự hài hòa lợi ích giữa các nhóm xã hội… Tuy nhiên, trên thực tế ở các nước TBCN cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã xuất hiện suy thoái và khủng hoảng nghiêm trọng. Đó là cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 ở hệ thống TBCN, mở đầu ở nước Mỹ.

Không ai khác, chính Tổng thống Mỹ Phranh-klin Ru-dơ-ven (Franklin Roosevelt) đã nhận thấy khiếm khuyết của kinh tế thị trường tự do. Ông đã chủ trương chuyển sang thực hiện chính sách kinh tế thị trường có sự can thiệp của nhà nước; mà về mặt học thuật, đại diện cho lý luận kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước là John Maynard Keynes. Thế nhưng, vào những năm 80 (thế kỷ XX), ở hệ thống TBCN lại ra đời học thuyết: “Chủ nghĩa tự do mới” mà nội dung của nó là hạn chế sự can thiệp của nhà nước theo phương châm “thị trường nhiều hơn, nhà nước ít hơn”… Tiếp đó, vào đầu thập niên 90 (thế kỷ XX), một lần nữa CNTB hiện đại lại điều chỉnh mô hình kinh tế thị trường. Mô hình mới được gọi là “Con đường thứ ba” mà nội dung của nó là kết hợp giữa chủ nghĩa tự do mới với các ưu tiên dành cho chính sách xã hội, như: đầu tư vào lĩnh vực đào tạo, việc làm, y tế, giáo dục,… Còn ở Trung Quốc, như mọi người đều biết, nền kinh tế của quốc gia này được gọi là “nền kinh tế thị trường XHCN”. Vì vậy, từ lý luận và thực tế cho thấy, định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường Việt Nam không phải là ngoại lệ, hơn nữa còn là một tất yếu đối với chế độ ta.

Định hướng XHCN đối với nền kinh tế thị trường Việt Nam dựa trên các nguyên tắc và quy luật phổ biến của kinh tế thị trường, đồng thời phát huy chức năng của nhà nước pháp quyền XHCN để tác động vào thị trường hướng vào mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Cụ thể hơn, đó là việc bảo đảm công bằng xã hội, hạn chế sự phân cực giàu – nghèo, bất công xã hội.

Xin hỏi tất cả những ai kêu gọi xóa bỏ định hướng XHCN trong nền kinh tế thị trường nhằm mục đích gì? Nếu ai đó nói rằng, nền kinh tế của Việt Nam chưa hoàn thiện về thể chế, về cơ chế, chính sách, còn tình trạng tham nhũng, lãng phí, còn tình trạng lợi ích cục bộ, phân hóa giàu – nghèo, lợi ích nhóm thì đó là một nhận định khách quan, có trách nhiệm. Song nếu cho rằng, khái niệm “định hướng XHCN hoàn toàn vô nghĩa” thì thực sự đó là một ý đồ chính trị đen tối.

Thiết tưởng hiện nay, Việt Nam rất cần sự “định hướng XHCN”; bởi pháp luật chưa hoàn chỉnh, lại thiếu cơ chế quản lý hữu hiệu, vẫn còn những khoảng trống pháp lý, những sơ hở, khiếm khuyết về cơ chế, những quy định cụ thể, đặc biệt là thiếu sự nghiêm minh trong việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật dẫn đến thất thoát của cải, tài nguyên quốc gia, tiền đóng thuế của người dân.

Nói tới Điều 4 Hiến pháp 1992 là nói tới những cơ sở lịch sử, chính trị và pháp lý về vai trò lãnh đạo, cầm quyền của ĐCS Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội ta. Về lịch sử, ai cũng biết hơn 80 năm qua, ĐCS Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện là lực lượng duy nhất tổ chức vận động, lãnh đạo, đồng thời là người đi tiên phong, không sợ hy sinh, gian khổ trong cuộc Cách mạng Tháng Tám, giành lại độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, xây dựng nước Việt Nam hiện đại với chế độ dân chủ – cộng hòa. Lần đầu tiên trong lịch sử, các quyền công dân và quyền con người của người dân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1946 và được bảo đảm trong thực tế. Tiếp đó, ĐCS Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm bảo vệ thành quả của cách mạng. ĐCS Việt Nam cũng là lực lượng chính trị duy nhất khởi xướng công cuộc đổi mới, hội nhập với cộng đồng quốc tế, tạo nên vị thế mới của Việt Nam trên trường quốc tế.

Về chính trị – tư tưởng, ĐCS Việt Nam đi theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh với tinh thần cách mạng và sáng tạo. Mục tiêu của Đảng là: Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; vừa giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia, vừa xây dựng một xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, hội nhập quốc tế trên tinh thần: Việt Nam sẵn sàng là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm với tất cả các quốc gia, vùng lãnh thổ trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập dân tộc và sự tiến bộ xã hội.

Những kẻ đang tuyên truyền cho nền dân chủ phương Tây thường lập luận rằng, chủ nghĩa Mác – Lê-nin là “tôn giáo”, đã lỗi thời và CNXH đã sụp đổ; do đó, Việt Nam cần phải thực hiện chế độ dân chủ đa nguyên… Họ lờ đi hoặc xuyên tạc tư duy mới, đường lối đổi mới của ĐCS Việt Nam về CNXH và con đường đi lên CNXH. Trong đó, ĐCS Việt Nam đã thừa nhận những sai lầm, khuyết điểm của mình trong thời kỳ trước đổi mới, như: chủ quan duy ý chí, xóa bỏ kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường… Đảng ta đã khẳng định cần phải xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; phát huy mạnh mẽ vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể xã hội và hội nhập với cộng đồng quốc tế, v.v.

Về vai trò lãnh đạo của Đảng, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung và phát triển năm 2011) viết: “ĐCS Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động… Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”1.

Về pháp lý, vai trò lãnh đạo của ĐCS Việt Nam đã được quy định tại Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 1992. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với pháp luật quốc tế. Tại Điều 1, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (năm 1966) ghi: “Tất cả các quốc gia đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình, tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá”2.

Quy định trên có nghĩa: việc lựa chọn chế độ chính trị nào, thể chế tam quyền phân lập hay phân công phối hợp có sự giám sát của nhân dân; đề cao hệ tư tưởng nào? Giai cấp tư sản hay giai cấp công nhân? CNTB hay CNXH? và việc có ghi hay không ghi vào Hiến pháp, điều đó hoàn toàn là quyền của mỗi dân tộc, không ai có quyền can thiệp, kể cả Liên hợp quốc. Vai trò lãnh đạo, cầm quyền của ĐCS Việt Nam được Quốc hội quyết định ghi vào Hiến pháp 1992 chỉ là văn bản hóa vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta trên thực tế hơn một nửa thế kỷ qua mà thôi.

Không phủ nhận rằng, xã hội ta hiện nay còn nhiều vấn đề, thậm chí có những vấn đề bức xúc, như: tình trạng phân hóa giàu – nghèo, quan liêu, tham nhũng chưa bị đẩy lùi, đặc biệt là sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên cho đến nay, xã hội ta đã tạo lập được những cơ sở chính trị, tư tưởng, pháp lý vững chắc để giải quyết những vấn đề đó, nhất là quyết tâm chính trị của toàn Đảng ta thể hiện trong Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” để làm cho Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh lãnh đạo nhân dân ta xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Bởi vậy, tất cả sự xuyên tạc, hoặc mưu toan áp đặt một mô hình dân chủ nào đó cho xã hội ta, đều là nhằm loại bỏ sự lãnh đạo của ĐCS Việt Nam, tạo cơ hội cho các thế lực thù địch trong và ngoài nước thực hiện dã tâm chuyển hóa xã hội ta trở lại chế độ bóc lột, trở lại chế độ thuộc địa cho ngoại bang mà thôi. Hơn nữa vai trò lãnh đạo, cầm quyền của ĐCS Việt Nam còn là một giá trị của dân tộc ta trong thế kỷ XX – thế kỷ mà dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đứng lên giành được độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng một xã hội mới hướng đến những tiêu chuẩn chung của nền văn minh nhân loại.

PHƯƠNG NHI
tapchiqptd.vn

                 

1 – ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 88 – 89.

2 – Trung tâm nghiên cứu Quyền con người – Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người, H. 2002, tr. 250.

This entry was posted on Tháng Mười 2, 2012, in Chính luận.

Không thể ngụy biện “tự do ngôn luận” để xuyên tạc, chống phá Nhà nước

Tùy điều kiện chính trị, xã hội từng quốc gia mà có các quy định quản lý khác nhau về thông tin trên internet, song nguyên tắc chung là không chấp nhận việc thông tin xuyên tạc, bôi nhọ, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và cao hơn là xâm phạm an ninh quốc gia.

Như đã thông tin, ngày 12/9, Văn phòng Chính phủ có văn bản thông báo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo các cơ quan chức năng điều tra, xử lý việc một số trang thông tin điện tử (blog, mạng xã hội) đăng tải thông tin có nội dung vu khống, bịa đặt, xuyên tạc, không đúng sự thật nhằm bôi đen bộ máy lãnh đạo của đất nước, kích động chống Đảng và Nhà nước ta, gây hoài nghi và tạo nên những dư luận xấu trong xã hội. Đây là thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch. Theo đó, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Công an chủ trì phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông và các cơ quan chức năng tập trung chỉ đạo điều tra, xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm theo đúng quy định của pháp luật.

Ngay sau khi Văn phòng Chính phủ truyền đạt ý kiến chỉ đạo nói trên của Thủ tướng, ngày 13/9, trên một số trang mạng xã hội, blog lại xuất hiện các thông tin ngụy biện rằng, viết, bình luận trên internet là quyền tự do thông tin, việc siết chặt quản lý internet là vi phạm “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí”…

Đây là cách giải thích mang tính quy chụp, hoàn toàn không có cơ sở khoa học. Ở Việt Nam hay nhiều quốc gia trên thế giới, việc thông tin trên internet đều phải tuân thủ những quy định, nguyên tắc cụ thể, trong đó dù ở nước đang phát triển hay các nước phát triển, các thông tin đăng tải lên internet phải đảm bảo tính khách quan, chính xác. Các thông tin xuyên tạc, bịa đặt, bôi nhọ cá nhân, tổ chức đều là phạm pháp và người vi phạm phải chịu trách nhiệm trước luật pháp.

Tại các nước phát triển, nơi được cho là mảnh đất của tự do ngôn luận, tự do báo chí, chính quyền các nước này cũng đặt ra các điều khoản cụ thể quản lý thông tin trên internet và nhiều cá nhân, tổ chức vi phạm đã bị xử lý. Cảnh sát Italia từng bắt giữ một blogger 59 tuổi Roberto Mancini và xử phạt tới 16.900 USD do người này lên mạng đưa các thông tin xuyên tạc, vu khống người khác. Tại Pháp, Christopher cũng từng lên bolg đưa những bài viết có nội dung chỉ trích thị trưởng thành phố Puteaux mà nội dung mang tính xuyên tạc, bịa đặt. Christopher đã bị cảnh sát địa phương bắt giữ và xử lý. Tòa án Ai Cập kết án 3 năm tù giam đối với blogger Suleiman, 22 tuổi. Suleiman bị cáo buộc đã có hành vi phỉ báng đạo Hồi, đồng thời y còn bị phạt thêm 1 năm tù do có hành vi viết bài phỉ báng Tổng thống trên mạng internet. Còn tại Mỹ, chuyện blogger viết bài xuyên tạc trên mạng và bị kiện, xử lý trước tòa cũng không hiếm như việc blog đăng ảnh của diễn viên nổi tiếng Jennifer Aniston mà không được phép. Ông James Buss, giáo viên Trường Trung học Milwaukee bị bắt vì đã vào blog của các nhà chính trị bang Wisconsin với lời bình mang biệt danh “Người quan sát” (Observer), kích động vụ một thiếu niên xả súng ở Trường Trung học Columbine làm 12 học sinh và một giáo viên thiệt mạng hồi tháng 4/1999.

Ở Liên bang Nga, ngày 30/7 vừa qua, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã ký ban hành luật sửa đổi về internet của Nga. Luật này quy định hoạt động của các website chứa những thông tin bị coi là nguy hiểm đều bị nghiêm cấm. Đồng thời, Tổng thống Nga Vladimir Putin cũng ký ban hành luật chống vu khống. Người nào có hành vi vu khống, kể cả việc lên mạng internet vu khống, sẽ bị xử phạt nhiều mức, trong đó có cải tạo và phạt tiền lên đến 5 triệu rúp. Nga cũng như nhiều nước tư bản khác quy định rõ việc lợi dụng internet để xâm hại chính quyền, an ninh quốc gia và những hành vi này sẽ bị phạt nặng.

Như vậy, tùy điều kiện chính trị, xã hội từng quốc gia mà có các quy định quản lý khác nhau về thông tin trên internet, song nguyên tắc chung là không chấp nhận việc thông tin xuyên tạc, bôi nhọ, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và cao hơn là xâm phạm an ninh quốc gia. Có ý kiến cho rằng blog là nhật ký nên họ có quyền tự do viết bất kỳ những gì họ muốn. Tuy nhiên, blog chỉ coi là nhật ký cá nhân nếu được đặt chế độ riêng tư (chỉ có chủ nhân blog đó đọc được). Còn khi viết blog công khai trên mạng, thì người viết phải chịu trách nhiệm về nội dung đưa lên. Hiện, một số blog bằng nhiều cách đã “câu” sự tò mò của người đọc, khiến lượng độc giả khá lớn, không thua kém trang báo điện tử.

Từ những viện dẫn trên, việc Nhà nước ta đưa ra các quy định quản lý thông tin trên internet cũng như xử lý các cá nhân, tổ chức vi phạm là phù hợp thực tiễn chung. Do đó, không thể chụp mũ thông tin trên blog, mạng xã hội là “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí”. Ngày 23-8-2001, Chính phủ có Nghị định số 55, quy định quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ internet. Nghị định này nghiêm cấm: “Lợi dụng internet để chống lại nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; gây rối loạn an ninh, trật tự; vi phạm đạo đức, thuần phong, mỹ tục và các vi phạm pháp luật khác”

Đăng Trường
cand.com.vn

Một số vấn đề đáng chú ý trong chiến lược “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch

Để góp phần làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch, chúng ta cần vạch rõ những âm mưu, thủ đoạn của chúng.

Tiếp tục đọc

Bài trả lời cho ai hỏi: Diễn biến hòa bình là gì, tại sao phải chống? (*)

Phòng, chống diễn biến hòa bình

oOo

LTS:  “Diễn biến hòa bình” là chiến lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tiến hành với những nước XHCN nói chung và với Việt Nam nói riêng. Đối với nước ta, cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp ủy Đảng và cần được tiến hành thường xuyên, kiên trì, bền bỉ. Những năm qua chúng ta đã đấu tranh có hiệu quả với chiến lược “diễn biến hòa bình”, phát hiện, ngăn chặn, đập tan nhiều âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch.

 Để góp phần giúp người dân tiếp tục nâng cao nhận thức, đề cao tinh thần cảnh giác, tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn thâm hiểm của kẻ địch, bắt đầu từ tháng 9 năm 2009, trên Trang Quốc phòng-An ninh ra ngày thứ Tư hằng tuần, báo Quân đội nhân dân mở chuyên mục: “PHÒNG, CHỐNG DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”. Dưới dạng hỏi – đáp, đưa tin, bài viết về từng sự việc, câu chuyện cụ thể… với độ dài từ 500 đến 600 từ, chuyên mục sẽ đi sâu giải thích, phân tích giúp bạn đọc hiểu rõ hơn bản chất của chiến lược nguy hiểm này, những điều chỉnh mới, chuyển hướng trong hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; các chủ trương, biện pháp phòng, chống của ta…

Để chuyên mục ngày càng nâng cao chất lượng, gây được ấn tượng, tạo được hiệu ứng xã hội, chúng tôi rất mong nhận ý kiến đóng góp và sự cộng tác nhiệt tình của bạn đọc, đặc biệt là các chuyên gia, các nhà nghiên cứu, lãnh đạo, quản lý, chỉ huy các cơ quan, đơn vị, địa phương… Tin, bài, thư góp ý xin gửi về: Phòng biên tập Quốc phòng – An ninh, Báo Quân đội nhân dân, số 7 Phan Đình Phùng, Hà Nội; Email: ; ĐTQS: 554160, ĐTBĐ: (04) 37474257.

Chiến lược diễn biến hòa bình là gì?

Hỏi: Trong sinh hoạt chúng tôi thường xuyên được quán triệt cần đề cao cảnh giác trước chiến lược “diễn biến hòa bình”, thế nhưng bản chất của “diễn biến hòa bình” là gì, nó ra đời từ khi nào thì lại chưa hiểu rõ? Đề nghị quý báo giúp chúng tôi việc này.

LÊ VĂN QUỐC

(Hòm thư 3NB – 5631 Tuyên Quang)

Trả lời: “Diễn biến hòa bình” (DBHB) là chiến lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế, được thực hiện dưới một phương thức, thủ đoạn mới để chống phá, đẩy lùi và đi đến xóa bỏ chủ nghĩa xã hội (CNXH).

Đối tượng của chiến lược DBHB là các nước có khuynh hướng phát triển phi tư bản chủ nghĩa (TBCN). Bản chất của chiến lược DBHB là chống CNXH, chống độc lập dân tộc. Nội dung cơ bản của chiến lược DBHB là phá hoại các nước XHCN về các mặt chính trị, tư tưởng-văn hóa, kinh tế, xã hội… Phương thức và thủ đoạn của chiến lược DBHB chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự, tạo dựng và thúc đẩy những nhân tố phản động, chống đối từ bên trong, đẩy đối phương vào khủng hoảng toàn diện, từng bước chuyển hóa chế độ chính trị theo con đường phát triển TBCN hoặc bị chính các thế lực chống đối dùng bạo loạn lật đổ. DBHB thường được tiến hành bằng tổng hợp nhiều biện pháp buộc đối phương trong cùng một lúc phải đối phó với nhiều thế lực, nhiều hoạt động chống đối, thúc đẩy cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội thành khủng hoảng chính trị, tạo ra tình thế bạo loạn lật đổ chế độ.

Những ý tưởng ban đầu về DBHB do các nhà hoạch định chiến lược phương Tây soạn thảo từ cuối những năm 40 thế kỷ 20, sau được tiếp tục bổ sung. Vào cuối thập kỷ 80 của thế kỷ 20, ý tưởng DBHB được nâng lên và hoàn chỉnh thành chiến lược DBHB. Trong điều  kiện mới về so sánh tương quan lực lượng trên thế giới, chiến lược DBHB được tiến hành chủ yếu bằng các thủ đoạn phi quân sự, nhằm “chuyển hóa hòa bình” các nước XHCN theo TBCN. Đặc biệt sau biến động ở Liên Xô và một số nước XHCN ở Đông Âu, phương Tây đã công khai tuyên bố chuyển hướng chiến lược từ “kiềm chế”  sang chiến lược “mở rộng” với hai nội dung cơ bản là: “dân chủ hóa về chính trị” và “tự do hóa về kinh tế”. Vấn đề “nhân quyền”, “dân chủ” và “tôn giáo”… được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng coi đó là vũ khí lợi hại để chống phá.

Quốc An
qdnd.vn

——————————-

(*) Tiêu đề do Vkyno đặt