Thư viện

Tấm áo ấm, những câu thơ và tấm lòng Bác Hồ

Bác nói: “Chúng ta đều biết, chú Thông từ Thủ đô Hà Nội bị tạm chiếm về đến vùng căn cứ an toàn có thể xem như quân dân ta đã thắng to quân địch”.

Chuyện xảy ra từ hơn 60 năm về trước nhưng chưa ai kể lại vì cả 2 nhân vật chính đều đã qua đời. Nay nhờ Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, nhờ gia đình cụ Đặng Phúc Thông và các nhân chứng còn sống tại Hà Nội cung cấp tài liệu, chúng tôi xin chuyển tới bạn đọc câu chuyện sau đây để chúng ta hiểu thêm về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Một trong hai nhân vật của câu chuyện này là kỹ sư Đặng Phúc Thông – một nhà trí thức yêu nước – từng tốt nghiệp loại ưu hai trường danh tiếng của nước Pháp là Đại học Mỏ – Địa chất (Grande Ecole dé Mine) và Đại học Cầu đường (Grande Ecole dé Pont et Chaussees) hồi đầu thập niên 30 của thế kỷ XX. Về nước, mặc dù thực dân Pháp chủ động gợi ý với nhiều quyền lợi kèm theo nhưng ông đã cương quyết từ chối gia nhập “làng Tây”, sau đó bị “trừng phạt” bằng việc phải chuyển đi làm việc tại khu mỏ Phấn Mễ thuộc tỉnh Thái Nguyên.

Không chịu nổi thái độ trịch thượng của bọn công chức người Pháp, năm 1933 kỹ sư Đặng Phúc Thông xin chuyển sang làm việc ở Sở Hỏa xa Đông Dương tại Hà Nội, đến năm 1941 chuyển vào làm kỹ sư trưởng ở Sở Hỏa xa Quận 3, phụ trách tuyến đường sắt từ ga Diêu Trì (Bình Định) vào đến ga Tháp Chàm (Phan Rang). Ông được tiếp xúc, tham gia Cách mạng Tháng Tám năm 1945 rồi trở thành vị Thứ trưởng đầu tiên của Bộ Giao thông công chính trong Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ngày 29/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh cử phái đoàn Việt Nam mà Đặng Phúc Thông là một thành viên, sang dự Hội nghị Fontainbleau (Phông-ten-nơ-blô) tại Pháp. Ông đã được cách mạng – mà trực tiếp là Chủ tịch Hồ Chí Minh – đánh giá cao.

Cuộc toàn quốc kháng chiến bùng nổ đêm 19/12/1946. Hai ông bà Đặng Phúc Thông bị kẹt lại trong thành phố Hà Nội bị tạm chiếm trong hơn 8 tháng. Thực dân Pháp đã ra sức dụ dỗ, mua chuộc nhưng ông dứt khoát cự tuyệt cộng tác với chúng. Ông chủ động bắt liên lạc với các cán bộ cách mạng hoạt động bí mật trong nội thành. Cuối cùng, hai ông bà đã được cách mạng tổ chức đưa ra vùng tự do, lên chiến khu Việt Bắc vào cuối tháng 8 năm 1947.

Lên tới ATK (An toàn khu) Việt Bắc, kỹ sư Đặng Phúc Thông được giao tiếp tục làm Thứ trưởng Bộ Giao thông công chính. Bác Hồ rất phấn khởi. Người nói: “Chúng ta đều biết, chú Thông từ Thủ đô Hà Nội bị tạm chiếm về đến vùng căn cứ an toàn có thể xem như quân dân ta đã thắng to quân địch”. Đến đầu năm 1948, ông Đặng Phúc Thông được giao kiêm thêm nhiệm vụ Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Giao thông công chính.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không những quý trọng năng lực chuyên môn, phẩm chất yêu nước của nhà trí thức cách mạng mà còn dành cho kỹ sư Đặng Phúc Thông tình cảm yêu thương đặc biệt. Một trong rất nhiều trường hợp cụ thể là: Đầu năm 1948, nhân dịp Tết Nguyên đán, Bác Hồ đã tặng “chú Thông” chiếc áo len kèm theo trang giấy đề 4 câu thơ (Bác viết tay) như sau:

Tết nhất năm nay hoãn thịt xôi
Tết sau thắng lợi sẽ đền bồi
Áo bạn biếu tôi, tôi biếu chú
Chú mang cho ấm, cũng như tôi

4-2-48
HỒ CHÍ MINH

Với tinh thần trách nhiệm cao, Thứ trưởng Đặng Phúc Thông vẫn hăng hái thực hiện nhiệm vụ được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ giao phụ trách Liên khu 4 cách ATK hơn 500 km. Đường sá xa xôi, hoàn cảnh đi lại khó khăn, vất vả, ông sa sút sức khỏe rồi bị lâm bệnh nhưng vẫn gắng sức hoàn thành công việc.

Biết tin ông đau ốm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư vào nhắc nhở ông chú ý nghỉ ngơi, điều trị. Chính phủ cũng có chỉ thị cấp thuốc men, đường sữa bồi dưỡng cho ông. Nhưng do gắng sức trong thời gian dài, ông không chống chọi nổi với bệnh tật nên đã qua đời tại tỉnh Thanh Hóa ngày 31/12/1951.

Tiếc thương ông, trong lá thư chia buồn với tang quyến, Bác Hồ đã tôn vinh ông là: …“một cán bộ cao cấp xuất sắc của Chính phủ, một chiến sỹ trung thành của dân tộc đồng thời là một người bạn tốt của tôi”./.

Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Nghĩ tiếp về lời Bác Hồ: Đảng ta là đạo đức, là văn minh

Trong lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Đảng ta vĩ đại như biển rộng, như núi cao/Ba mươi năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình/Đảng ta là đạo đức, là văn minh.  Khái niệm văn minh mà Bác dùng theo tôi hiểu tương ứng với khái niệm trí tuệ, năng lực nhận thức quy luật và hành động cách mạng đúng đắn mà hiện nay chúng ta đang dùng. Để là đội quân tiên phong chỉ có đạo đức thôi chưa đủ, tuy đạo đức là yêu cầu tiên quyết nhưng còn phải có năng lực, trí tuệ, phải biết phân tích chính xác tình hình, đề ra đường lối, chủ trương sát đúng, tổ chức được phong trào thực tiễn, đưa cách mạng tiến lên. Yêu cầu này là chung cho toàn Đảng, cho mọi tổ chức đảng, đến từng đảng viên.

Nhìn lại suốt chặng đường 80 năm qua, tuy cũng có lúc mắc phải sai lầm, khuyết điểm, nhưng về cơ bản, Đảng ta là “đạo đức và văn minh”, đủ tư cách lãnh đạo giai cấp và dân tộc, đưa đất nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Ngày nay, trong điều kiện hoà bình, nhiệm vụ phát triển kinh tế là trọng tâm, dễ xuất hiện xu hướng không đúng trong việc xem xét mối quan hệ đức-tài trong xây dựng Đảng; dễ đề cao kiến thức năng lực, coi nhẹ đạo đức cách mạng. Thực tiễn xây dựng Đảng trong thời kỳ đổi mới chứng minh rằng, đạo đức vẫn là cái gốc; đương nhiên, đạo đức không tách rời mà gắn liền với năng lực và hiệu quả thực tế trong công việc, và suy cho cùng, năng lực và hiệu quả công việc cũng chính là đạo đức. Đạo lý Việt Nam vẫn luôn tin cậy và coi trọng những người lãnh đạo có đạo đức. Tham ô, lãng phí, quan liêu đang là thách thức hàng đầu đối với chế độ ta. Ở đó có vấn đề năng lực quản lý, nhưng chủ yếu và trước hết là vấn đề đạo đức của những đảng viên cầm quyền. Chừng nào chúng ta không đẩy lùi những tệ nạn này thì uy tín chính trị của Đảng và Nhà nước ta sẽ bị xói mòn nghiêm trọng. Có thể nói rằng “diễn biến hoà bình”, trong đó tự diễn biến bắt nguồn từ sự vô đạo đức, sự thối nát, mọt ruỗng của những kẻ thoái hoá trong bộ máy công quyền đã làm giảm nghiêm trọng lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Điều này thật nguy hiểm.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đạo đức của Đảng đã giải quyết một cách đúng đắn, khoa học mối quan hệ giữa lợi ích của Đảng, của dân với lợi ích cá nhân. Ngày nay, trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần và chế độ sở hữu dưới nhiều hình thức, thì những chuẩn mực giá trị cụ thể của đạo đức cách mạng, về lối sống… chắc chắn không thể giữ nguyên như thời chiến tranh hay như thời cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp. Tuy nhiên, công cuộc xây dựng đất nước hôm nay càng cần đạo đức cách mạng hơn bao giờ hết, với những tiêu chuẩn chặt chẽ và việc thực hiện là cả một cuộc đấu tranh gian khổ đối với mỗi tổ chức đảng cũng như đối với mỗi đảng viên. Không củng cố và tăng cường được nền đạo đức đó thì Đảng ta sẽ khó có thể giữ được vai trò tiên phong của giai cấp, của dân tộc. Vì thế Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”mà Đảng ta phát động có ý nghĩa hết sức lớn lao trong giai đoạn này.

Từ yêu cầu phát triển xã hội, công tác xây dựng đảng càng phải nêu cao khẩu hiệu tri thức hoá Đảng và Đảng Cộng sản phải là Đảng của trí tuệ. Tất cả đảng viên phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ kiến thức về mọi mặt thì mới đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Lẽ đương nhiên, xã hội đi lên, mặt bằng dân trí của xã hội nâng cao thì mặt bằng học vấn của đội tiên phong cũng phải tăng lên. Nhưng không được phiến diện, cực đoan; không rơi vào chủ nghĩa hình thức và nhất là coi thường những tiêu chuẩn cơ bản của một Đảng trí tuệ. Tình trạng chạy bằng cấp, làm bằng giả hoặc bằng tuy thật mà kiến thức không tương ứng đã làm mất uy tín của Đảng. Đào tạo cán bộ lãnh đạo đảng khác với đào tạo lãnh đạo các ngành khác. Rất có thể một cấp uỷ có rất nhiều người có bằng đại học, hoặc hơn thế nữa, nhưng lại chưa chắc đã có trí tuệ lãnh đạo cao. Tri thức đó phải được sử dụng trong thực tiễn lãnh đạo.

Với bất cứ một tổ chức đảng nào, dù là ở Trung ương hay cơ sở, lãnh đạo tốt  phải ra quyết định đúng, phải tổ chức thực hiện tốt, trong đó nhất thiết phải biết kiểm tra công việc, biết uốn nắn, xử lý những thiếu sót, sai lầm. Để có quyết định đúng thì phải nắm vững chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững điều kiện thực tiễn, có sự vận dụng sát, đúng, linh hoạt. Đảng phải thu thập được nhiều thông tin, đảng viên và nhất là người lãnh đạo phải am hiểu kiến thức về nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, phải biết tổ chức tập hợp trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, nhất là giới trí thức để cân nhắc lựa chọn phương án thích hợp. Cần hiểu rằng, việc ra quyết định của cấp lãnh đạo ngày nay chịu nhiều sức ép hơn trước. Sự phân hoá về kinh tế, sự phân tầng về xã hội tạo ra sự phức tạp trong đánh giá tình hình và nhu cầu xã hội. Tất cả những điều đó đòi hỏi Đảng phải nâng cao trí tuệ; dừng lại là tụt hậu.

Đảng phải thể hiện trí tuệ không chỉ trong lý luận mà phải thể hiện trong hành động, tính khoa học và nghệ thuật tổ chức công việc, động viên và tổ chức nhân dân thực hiện những mục tiêu trước mắt và lâu dài của cách mạng. Khi có quyết định đúng rồi, còn phải biết tổ chức công tác thực tiễn, đưa quyết định vào cuộc sống. Công việc đó cũng thuộc phạm trù trí tuệ của Đảng. So với thời kỳ chưa có chính quyền, thời kỳ chiến tranh giải phóng dân tộc thì công tác tổ chức thực tiễn của Đảng ta ngày nay phức tạp hơn về nhiều mặt, đòi hỏi Đảng càng phải có đạo đức và trí tuệ hơn.

Năm 2010 là năm diễn ra nhiều sự kiện trong đại của đất nước, năm diễn ra đại hội các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Mỗi chúng ta đều có quyền tự hào “Đảng ta thật là vĩ đại” như Bác Hồ đã tổng kết. Nhưng để làm tròn nhiệm vụ của một Đảng đạo đức, Đảng văn minh, thì mỗi đảng viên chúng ta cần phải học tập thật nhiều: Học không bao giờ cùng; học mãi, tiến bộ mãi; càng tiến bộ càng thấy phải học thêm, như điều Bác hằng mong muốn.

Thân Minh Quế Nguyên Phó trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy Bắc Giang

xaydungdang.org.vn

Nhớ Bác, trong mỗi việc làm

Dẫu bận trăm điều quốc kế, dân sinh, Bác Hồ vẫn luôn dành thời gian đến thăm và chỉ đạo các địa phương. Sáng ngày 6 tháng 4 năm 1961, ngày vinh dự, tự hào và thật đáng nhớ của nhân dân Bắc Giang, Bác Hồ về thăm và nói chuyện với ba vạn người tại sân vận động thị xã.

Bây giờ, những người may mắn được chứng kiến buổi gặp gỡ thân thiết và trang trọng ấy nay đã ở bậc cao niên. Nhưng với họ, được nghe Bác căn dặn là những lời luôn thấm thía nhắc nhở suốt cuộc đời. Thân thiết, cởi mở, Bác căn dặn việc xây dựng Đảng, chính quyền, phát triển kinh tế, chăm lo thế hệ trẻ… sao cho Bắc Giang vững vàng về kinh tế, phát triển văn hoá – xã hội ổn định. Bác đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng Đảng và nhắc nhở: “Đảng ta là đảng lãnh đạo cách mạng. Ngoài lợi ích của nhân dân, đảng ta không có lợi ích nào khác. Vì vậy, cán bộ và đảng viên phải một lòng, một dạ phục vụ nhân dân, phải là người đày tớ hết sức trung thành với nhân dân”. Trước đó, Người đã từng căn dặn, nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải coi việc nước, phụng sự nhân dân là trước hết và trên hết. Trong cuộc sống của mình, Người luôn làm gương cho việc hy sinh quyền lợi cá nhân, gia đình vì sự nghiệp lớn của dân tộc.

Trong bối cảnh năm đầu của thập niên sáu mươi thế kỷ trước, khi chuẩn bị bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ nhất có nhiều vấn đề đặt ra sau khi cải tạo kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, riêng với Bắc Giang, Bác còn căn dặn: “cán bộ phải thật sự đoàn kết, nhất trí, phải đi sâu, đi sát, phải lãnh đạo thiết thực và toàn diện. Phải chống tư tưởng bảo thủ, chống bệnh quan liêu, mệnh lệnh, chống lãng phí, tham ô”, “một điểm quan trọng nữa là cần phải củng cố tốt và phát triển tốt các chi bộ Đảng và các chi đoàn thanh niên”. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ luôn được Bác coi trọng. Trong thực tế lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo đất nước ngay sau khi nước nhà độc lập, Bác đã khẳng định: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết phải có nhân tài. Trong số hai mươi triệu đồng bào không thiếu người có tài có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận. Nay muốn sửa đổi điều đó và trọng dụng những kẻ hiến năng, các địa phương cần phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân thì phải báo cáo ngay cho Chính phủ biết”.

Bàn sâu về công tác tuyển dụng, đào tạo và sử dụng cán bộ, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (10 – 1947), khi nói về việc dạy cán bộ và dùng cán bộ, Bác luôn quan tâm đến vấn đề đào tạo, quy hoạch thay thế cán bộ và coi đó là một tất yếu. Bác viết: “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Vì vậy, Đảng ta phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”. Nhấn mạnh tính chiến đấu trong Đảng, lường trước sự suy thoái trong đội ngũ cán bộ và việc đào tạo cán bộ thay thế, Người viết: “Đảng ta là một đoàn thể đấu tranh. Trong cuộc tranh đấu thường hao tổn một số cán bộ quý báu. Vì vậy chúng ta càng phải quý cán bộ, phải bổ sung cán bộ, phải giữ gìn cán bộ cũ và đào tạo cán bộ mới”. Bác biết rằng: “Trong Đảng ta có những nơi thường dùng những người văn hay, nói khéo, nhưng không làm được việc, không ra tranh đấu. Mà những đồng chí viết không hay, nói không thạo nhưng rất trung thành, hăng hái, rất gần gũi quần chúng, thì bị dìm xuống. Chúng ta phải sửa chữa ngay quan điểm đó”. Tuy nhiên, khi nói đến chính sách cán bộ và việc tạo điều kiện cho họ phấn đấu hết mình, Bác yêu cầu: “Phải cho họ điều kiện sinh sống đầy đủ mà làm việc. Khi họ đau ốm phải có thuốc thang. Tuỳ theo hoàn cảnh mà giúp họ giải quyết vấn đề gia đình. Những điều đó rất quan hệ với tinh thần của cán bộ và sự đoàn kết thân ái trong Đảng. Không phải vài ba tháng , vài ba năm mà đào tạo được một người cán bộ tốt… Phải thương yêu cán bộ giúp họ học tập thêm, tiến bộ thêm”. Khi dùng cán bộ phải hiểu rằng: “Không có ai cái gì cũng tốt, cái gì cũng hay, vì vậy chúng ta phải khéo dùng người, sửa chữa những khuyết điểm cho họ, giúp đỡ ưu điểm của họ”. Những dòng Di chúc cuối cùng để lại, Bác vẫn nhắc nhở “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ (đoàn viên thanh niên), đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Từ đó, qua nhiều kế hoạch 5 năm, qua nhiều nhiệm kỳ đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, cán bộ và nhân dân trong tỉnh đã đẩy năng suất cây trồng, vật nuôi lên từng bước vững chắc, tự túc được lương thực thực phẩm và sản xuất được hàng hoá xuất khẩu. Với Bác Hồ, nhân đạo tức là phải chống thứ giặc nghèo nàn – cội nguồn của những tệ nạn xã hội, suy dinh dưỡng, bệnh tật, kém văn hoá – giáo dục, suy thoái thể chất, tinh thần và nhân cách. Bởi vậy Bác khát khao cho mọi người “ngày càng tiến bộ lên, càng ngày càng giầu có”. Lời Người căn dặn năm nào, bây giờ đang được lớp lớp con cháu chứng minh bằng thực tế sinh động. Dẫu còn những gia đình phải đương đầu vật lộn trong cuộc sống khó khăn nhưng những thành tựu về giáo dục, y tế, văn hoá và một số lĩnh vực trên địa bàn tỉnh đã có những bước tăng trưởng đáng mừng. Cán bộ, nhân dân Bắc Giang đã có thể báo công dâng Bác những gì đã làm được trong bốn chục năm làm theo Di chúc của Người và hơn hai năm thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Lan Hương – BGO

sites.google.com

Nhớ Bác lòng ta trong sáng hơn

Người Chánh Văn phòng Khu giải phóng Tân Trào ngày ấy là cụ bà Trần Thị Minh Châu, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hà Đông, Bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên, Ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ, Cục trưởng Cục Xuất bản Bộ Văn hóa… năm nay 88 tuổi đời, 70 tuổi Đảng. Chiều 19/8, đúng kỷ niệm 65 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám, tôi đến thăm cụ.

Có thể nói rằng, cụ bà Trần Thị Minh Châu là một nhà báo lão thành, vì cụ từng tham gia viết Báo Đảng bí mật từ thời kỳ Mặt trận Bình dân năm 1939 với các đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, Tổng Bí thư Trường Chinh, đồng chí Hoàng Văn Thụ, đồng chí Đào Duy Kỳ… Rồi sau đó cụ là người phụ trách (như tổng biên tập bây giờ) tờ Báo Bãi Sậy ở Hưng Yên (cùng nhà văn Học Phi)… Những năm gần đây, cụ vẫn viết báo, viết sách. Còn bây giờ: “Bà già rồi, yếu rồi, không còn viết nữa, chứ cũng có nhiều chuyện đáng để viết lắm đấy”. Tôi xin cụ kể cho nghe những kỷ niệm ở Tân Trào ngày cụ làm Chánh Văn phòng Khu giải phóng. Cụ Trần Thị Minh Châu hồi tưởng…

Cho tôi gặp đồng chí Chi

Tháng 4 năm 1945, đang công tác tại Võ Nhai – Đình Cả (Thái Nguyên), sau khi chỉ huy Cứu Quốc quân đánh thắng thực dân Pháp liên tiếp ở Tràng Xá, La Hiên và Đình Cả thì có quyết định của cấp trên điều tôi về Tân Trào nhận nhiệm vụ mới.

Sau nhiều ngày trèo đèo lội suối, tôi đã đến được Tân Trào thuộc châu Tự Do (Sơn Dương – Tuyên Quang) Thủ đô cách mạng. Tại Tân Trào đã thành lập Ủy ban khu giải phóng Trung ương lâm thời gồm sáu tỉnh: Cao Bằng – Bắc Kạn – Lạng Sơn – Hà Giang – Tuyên Quang – Thái Nguyên do đồng chí Tống (Phạm Văn Đồng) làm Chủ tịch, đồng chí Hưng (Võ Nguyên Giáp) làm Ủy viên Thường trực. Cạnh nhà của Ủy ban khu giải phóng Trung ương có hai đơn vị là Ban quản lý do đồng chí Lý (Hoàng Hữu Kháng) phụ trách và Văn phòng, khi tôi về liền được cử phụ trách, lấy bí danh là Chi.

Một hôm có một đồng chí lên Tân Trào vào Văn phòng đề nghị: Cho tôi gặp đồng chí Chi. Vâng, mời anh vào. Ông ấy cứ loay hoay mãi: Tôi có việc cần lắm, chị cho tôi gặp đồng chí Chi ngay, càng sớm càng tốt. Tôi chỉ muốn gặp đồng chí Chi để giải quyết công việc này, xong tôi phải về ngay. Lúc bấy giờ buồn cười, tại sao mình không nói tôi là Chi đây, lại cứ vâng mời anh vào làm việc.

Thấy khách cứ băn khoăn đi ra đi vô, cậu Nguyễn Chính (tức Du Phong) đang ngồi đánh máy ở phòng trong, chạy ra bảo: Thì đồng chí Chi là đồng chí này chứ còn ai nữa mà từ nãy giờ cứ lằng nhằng mãi. Ông kia ngạc nhiên, chị là đồng chí Chi à? Vâng, tôi là Chi. Ngồi làm việc một lúc lâu, đến khi xong việc, ông ấy đứng lên bảo: Tôi xin lỗi chị, tôi tưởng Chi là anh Chi. Tôi bảo có gì đâu mà phải xin lỗi.

Thì ra, các tỉnh trong vùng giải phóng nhận được công văn từ Văn phòng Khu giải phóng, lại nghe nói người phụ trách Văn phòng là đồng chí Chính trị viên Cứu Quốc quân từng chỉ huy đánh thắng quân Pháp ở Võ Nhai. Họ cứ yên chí đây là một nam giới nên rất bất ngờ khi thấy đó là một cô gái trẻ đẹp mới 23 tuổi.

Chiếc áo Bác Hồ

Thời gian ở Tân Trào, tôi cùng anh em được xếp ở nhà ông Tiến Sự là một già bản có uy tín nhất làng Kim Long. Hằng ngày, tôi được anh em và đồng bào kể nhiều chuyện về “Ông Ké” người dong dỏng cao, quắc thước, nhanh nhẹn, đặc biệt ông có đôi mắt rất sáng, rất tinh anh. “Ông Ké” mới về đây được vài tháng đã dựng lán bên lưng núi Nà Lừa để ở và làm việc. Nhưng ông luôn quan tâm đến đồng bào nên được đồng bào vô cùng quý mến.

Phải hơn một tháng sau khi tôi đến Tân Trào công tác, đồng chí Lê Giản mới “bật mí” cho tôi biết “Ông Ké” chính là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, là Cụ Hồ Chí Minh.

Với anh em phục vụ, “Ông Ké” luôn gần gũi và quan tâm. Lúc đó bên cạnh lán của Bác còn có lán điện đài liên lạc với quân Đồng Minh do một số người Mỹ trong nhóm tình báo “Con Nai” của OSS làm việc. Mỗi lần đi công tác với các bạn Mỹ về, bao giờ Bác cũng có quà, dù món quà rất đơn giản, cho mọi người, nhưng đó là thể hiện tấm lòng của Bác.

Có một kỷ niệm tôi không bao giờ quên trong cuộc đời của mình. Một hôm, Bác được các bạn người Mỹ tặng chiếc áo bludông để mặc vào mùa đông giá rét. Bác không dùng cho riêng mình mà đem ra cho anh em. Nhưng cơ quan Ủy ban Giải phóng rất đông người nên Bác bảo hãy bắt thăm để cho công bằng. Thấy tôi ngồi im lặng không tham gia, Bác bảo tôi cũng phải bắt thăm. Tôi giãy nảy vì người tôi bé nhỏ, còn cái áo thì vừa to vừa rộng thùng thình làm sao tôi mặc được. Bác ôn tồn nói: “Cô vẫn phải tham gia bắt thăm, không phân biệt nam nữ”. Cuối cùng tôi lại chính là người bắt trúng, cái áo thuộc về tôi. Lúc đó Bác mới nhẹ nhàng: “Bác không tặng cái áo này cho cô Chi đâu. Cô giữ lấy đến khi nào chú ấy ở ngoài Côn Đảo về thì để chú ấy mặc”.

Tôi sửng sốt quá vì chưa bao giờ tôi thấy Bác hỏi về hoàn cảnh gia đình tôi. Vậy mà Bác biết rõ anh Đào Duy Kỳ, chồng tôi, đang ở nhà tù Côn Đảo. Tôi cảm động quá không cầm nổi nước mắt, nước mắt cứ nhạt nhòa. Tôi thấy tấm lòng của Bác thật mênh mông. Đó là tấm lòng của người cha vô cùng tôn kính, vô cùng thân thương, luôn luôn lo lắng, chăm sóc hết mực cho con cái. Từ đó, đi đâu tôi cũng mang chiếc áo theo bên người.

Hà Nội tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Bác và các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Võ Nguyên Giáp, Chu Văn Tấn… về Hà Nội. Các đồng chí Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Hoan, Lê Giản… và tôi được Bác giao nhiệm vụ vẫn tiếp tục ở lại xây dựng và củng cố căn cứ Việt Bắc.

Cuối tháng 9/1945, trước yêu cầu mới của cách mạng, chúng tôi lần lượt về Hà Nội nhận nhiệm vụ. Đồng chí Phạm Văn Đồng làm Bộ trưởng Bộ Tài chính, đồng chí Lê Giản làm Giám đốc Nha Công an Trung ương. Tôi tham gia phong trào Nam tiến, cùng đoàn với đồng chí Lê Đức Thọ, để có điều kiện sớm gặp anh Đào Duy Kỳ vừa được đón từ Côn Đảo về đất liền.

Bà Trần Thị Minh Châu (thứ 3, từ phải qua) và Đội Du kích Võ Nhai.

Bác Hồ và những người lính Mỹ (0SS)

Cũng trong khi ấy người Mỹ muốn xâm nhập Đông Dương để ngăn chặn sự tấn công của Nhật ở phía Nam Trung Quốc và Đông Dương. Họ gặp phải nhiều khó khăn, nên cũng cần tìm một đối tác hợp lý để nhanh chóng vào sâu Đông Dương.

Một sự kiện tình cờ đã đến – một máy bay của Mỹ bị trúng đạn Nhật, phi công đã nhảy dù xuống vùng núi gần thị xã Cao Bằng – được Việt Minh cứu.

Bác Hồ đã lệnh phải bảo vệ an toàn và bí mật đưa về gặp Bác. Người phi công ấy là Trung úy Sao (William Shaw).

Bác Hồ đã gặp Sao nói chuyện chân tình. Quà tặng cho Sao là một tấm lụa trắng thêu dòng chữ tiếng Anh “Chúc mừng khách đến”, một tấm vải đỏ có chữ ký của nhiều hội viên Mặt trận Việt Minh ủng hộ Đồng Minh chống phát xít.

Bác Hồ còn tặng Sao một bản dịch tiếng Anh toàn văn bản Chương trình Việt Minh rồi cho người đưa Sao về Côn Minh. Sao đã báo cáo tất cả những gì tai nghe mắt thấy, tất cả sự chăm sóc bảo vệ của Việt Minh cho tướng Sê-nô (Claire L. Chernault).

Sau đó không lâu, Bác Hồ với danh nghĩa là phái đoàn của Việt Nam độc lập đồng minh sang đàm phán với Mỹ – Đồng minh về hợp tác đánh Nhật, đã gặp được tướng Sê-nô. Qua sự phản ánh của Trung úy Sao – qua tình báo riêng của Bộ Tư lệnh – và cũng qua sự tiếp xúc với Bác Hồ, người Mỹ rất vui mừng vì đã nhận được những thông tin hết sức quan trọng về quân Nhật trên lãnh thổ Đông Dương. Ngoài ra Việt Minh còn giúp đỡ cứu trợ những phi công Mỹ bị nạn và những gì mà Đồng minh yêu cầu.

Về phía Việt Minh, Bác Hồ chỉ mong muốn Mỹ giúp đỡ vũ khí, điện đài và giúp đào tạo cán bộ, nhân viên sử dụng vũ khí, điện đài.

Tướng Sê-nô đã tin cậy đáp ứng mọi yêu cầu của Bác Hồ.

Khi trở về Việt Nam, theo Bác có hai người Mỹ cùng đi. Họ trở thành những người Mỹ đầu tiên có mặt ở Khu giải phóng Việt Nam. Họ có nhiệm vụ đón tiếp những người Mỹ khác sẽ lần lượt đến.

Trong chuyến đi này, Bác giành được hai mục đích: Một là đã gây được thiện cảm với Mỹ – Đồng minh, tranh thủ được sự giúp đỡ của Mỹ – được Mỹ công nhận vai trò của Việt Nam trong sự hợp tác đánh Nhật. Hai là đã tạo được thế vững chắc cho cách mạng Việt Nam bên cạnh người bạn láng giềng Trung Quốc.

Vào lúc 16h ngày 16/7/1945, chúng tôi đón đoàn phi công nhảy dù xuống Tân Trào gồm 6 người do Thiếu tá Tô-mát chỉ huy.

Để chuẩn bị tiếp đoàn Mỹ, Bác Hồ bảo chúng tôi phải làm một bữa tiệc mừng.

Chúng tôi lại chụm đầu vào bàn bạc: Khó quá, ở giữa rừng này làm gì có thực phẩm, bát đĩa cũng không. Cũng chẳng ai biết nấu cơm tây, lại còn tiệc tây nữa.

Biết nỗi lo của chúng tôi nên Bác nói:

– Các chú, các cô bí rồi phải không? Vậy hãy cho người sang Định Hoá nhờ Chủ tịch Chanh mua giúp cho con bê – đem về thui chín vàng, để cả con nằm trên chõng tre. Hai bên làm dẫy ghế ngồi cũng bằng tre nứa. Sắp mỗi người một con dao (người Mỹ đã sẵn có dao và nĩa). Có đĩa muối, đĩa gừng, có rượu do đồng bào tự nấu, uống bằng bát to. Mọi người tự do thích ăn chỗ nào thì tự cắt lấy.

Chúng tôi nhìn nhau ngần ngừ. Bác như đã hiểu, Người giải thích luôn: “Không có gì ngại cả – kể cả Tây và ta, không phải ai cũng được ăn một bữa tiệc dân dã trong rừng đâu. Cứ làm đi, để rồi xem họ có thích không? Còn thú vị lắm nữa kia!”.

Quả là sau đó, đoàn Mỹ rất hài lòng, mừng rỡ lắm. Chúng tôi lại thì thầm với nhau:

– Đúng là Bác không chỉ rành việc lớn mà thạo cả việc nhỏ, mọi việc đều chu đáo!

Đoàn Mỹ sang Việt Nam chỉ mang theo lương khô. Bác lại bàn phải lo thực phẩm tươi sống cho họ. Mỹ bây giờ là đồng minh, là bạn của mình, nên phải chăm lo sức khỏe cho họ, không để họ sống thiếu thốn, kham khổ như mình.

Ủy ban Khu giải phóng đóng ở Tân Trào, nhân dân huyện Sơn Dương vốn rất nghèo. Chúng tôi phải sang huyện Định Hóa bàn với Chủ tịch Chanh. Đồng chí Chanh nhận lời ngay và cử hai hội viên là Nguyễn Văn Sách và Ma Văn Bầu lo việc này.

Từ đấy cứ cách hai ba ngày có một đoàn người vừa gánh vừa khiêng những đậu, thịt, rau, trứng, măng từ Định Hóa sang… Họ phải leo qua đèo De, luồn rừng trên 20 cây số mới đến được Tân Trào. Các bạn Mỹ thích ăn thịt thú rừng nên có khi được cả một con dê, hay có lần một con nai còn nguyên cặp lộc nhung mềm.

Có mấy tháng liền nhân dân Định Hóa tiếp tế cho cả Khu giải phóng, trong khi ấy gia đình con cái họ chỉ ăn con cá, con ốc bắt được ở suối với lọ măng ngâm ớt.

Đồng bào nói: Mình nuôi bạn Mỹ để Mỹ cùng Bộ đội Cụ Hồ đánh Tây, đuổi Nhật, nước Việt Nam được độc lập tự do, mình sẽ được ấm no.

Trước khi Bác về Hà Nội, Bác lại dặn chúng tôi:

– Ta chẳng có tiền, cũng chẳng có vật gì kỷ niệm cho đồng bào. Có đống dù của Mỹ, các cô chịu khó tháo từng ô đem biếu đồng bào. Tính theo đầu người, mỗi người một mảnh. Đồng bào có thể cắt may áo, may chăn.

Nhận được món quà nhỏ từ những tấm vải dù nhân dân rất là phấn khởi.

Đồng bào Sơn Dương, Định Hóa, cũng như mọi người dân Việt Nam đã có tập quán nuôi quân, khi còn là du kích, dân quân tự vệ. Nhân dân không chỉ nuôi ăn mà còn mang cả quần áo, lo giày dép, thuốc men. Không bao giờ nhân dân đòi thanh toán. Họ nói: Con cái góp cho cách mạng còn được, thì tài sản của dân cũng là của cách mạng, của nước nhà

Kiều Mai Sơn

cand.com.vn

Ký ức của những người con Tây Nguyên được gặp Bác Hồ

Lúc sinh thời, Bác Hồ đặc biệt quan tâm và dành nhiều tình cảm thân thương đối với đồng bào Tây Nguyên. Trong những năm tháng chiến tranh, nhiều người con Tây Nguyên ra miền Bắc học tập, lao động và chiến đấu đã vinh dự được gặp Bác Hồ. Được gặp Bác, được Bác khuyên dạy những điều hay, lẽ phải là niềm vinh dự to lớn và trở thành kí ức gắn bó mãi mãi với cuộc đời của mỗi người con Tây Nguyên…

Vinh dự được gặp Bác Hồ

Ở Tây Nguyên cùng với Anh hùng Núp, trong kí ức của những người con ưu tú ở Tây Nguyên được gặp Bác Hồ hôm nay còn sống, ai ai cũng bồi hồi nhớ Bác. Một trong những người cán bộ cách mạng đầu tiên ở Tây Nguyên hiện đang sống ở Pleiku là ông KSor Ní, năm nay đã bước sang tuổi 87.

Tháng 8/1945 sau khi đón đại diện của Việt Minh về tiếp nhận chính quyền tại Pleiku, ông KSor Ní cùng với bạn bè, những người thanh niên yêu nước về quê tổ chức khởi nghĩa, bao vây huyện lỵ Cheo Reo, buộc chính quyền tay sai thân Nhật phải hạ vũ khí đầu hàng. Trong cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước ta năm 1946, ông KSor Ní được bầu là đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai khoá I.

Tháng 5 năm 1946, ông ra Hà Nội dự Đại hội Thanh niên các dân tộc Việt Nam và lần đầu tiên được gặp Bác Hồ. Nhớ lần ấy, chàng thanh niên Jơ Rai trẻ tuổi KSor Ní đứng giữa phố Hà Nội tình cờ nghe đài Pháp đưa tin không đúng sự thật rằng: “Pháp đã chiếm được Tây Kỳ (Tây Nguyên) và nhân dân Tây Kỳ vui khi thấy quân Pháp trở lại”.

Nghe những lời tuyên truyền sai sự thật ấy, KSor Ní tức giận không sao chịu được và ông đã lập tức viết bài báo bằng tiếng Pháp, phản đối lại những luận điệu xuyên tạc ấy của Pháp và kêu gọi nhân dân Tây Kỳ đoàn kết để đánh đuổi giặc Pháp ra khỏi đất nước Việt Nam. Khi bài báo đăng trên tờ “Le Peuple” (Nhân Dân), Bác Hồ đã đọc và cho người mời KSor Ní cùng Y Ngông Niek Đam (Thường trực Quốc hội khóa I) đến gặp Bác.

Nhận được giấy mời của Bác, cả KSor Ní và Y Ngông vừa mừng nhưng cũng vừa lo vì không biết Bác mời gặp có chuyện gì. KSor Ní kể rằng, khi gặp Bác ở phòng làm việc, Bác thân mật hỏi thăm sức khỏe và tình hình ở Tây Kỳ nên anh em cảm thấy rất gần gũi. Tại buổi gặp gỡ đầu tiên ấy, Bác Hồ đã căn dặn, chúng ta phải đoàn kết đánh Pháp mới bảo vệ được nền độc lập. Bác xoè bàn tay và giải thích: “Một bàn tay hoàn chỉnh phải có năm ngón, thiếu một ngón là một bàn tay không hoàn chỉnh. Một ngón tay đau thì cả bàn tay cũng đau.

Các già làng dâng hoa Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Bảo tàng Gia Lai-Kon Tum.

Cũng như cả nước Việt Nam độc lập thì Tây Kỳ phải được độc lập, vì Tây Kỳ là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam”. Cuối buổi gặp gỡ, Bác đã căn dặn: “Các cháu phải cố gắng học tập và công tác tốt, đặng góp phần đánh thắng giặc Pháp, để Việt Nam mau giải phóng và được độc lập hoàn toàn”. Sau lần được gặp Bác Hồ, đồng chí KSor Ní trở về kể lại cho anh em đồng đội nghe và động viên đồng bào miền Nam đoàn kết một lòng đi theo cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh. Hôm nay đã ở tuổi xế chiều, nhưng niềm hạnh phúc được gặp Bác Hồ vẫn mãi dâng trào với người cán bộ lão thành cách mạng KSor Ní. Ông luôn nhớ Bác, khắc ghi lời Bác dạy và luôn nhắc nhở các thế hệ con cháu: “Tây Nguyên là một bộ phận lãnh thổ không thể tách rời của một nước Việt Nam thống nhất”.

Nhớ Bác lòng ta trong sáng hơn

Cùng với nhiều người con ưu tú của Tây Nguyên được gặp Bác Hồ, khắc ghi lời dạy của Bác Hồ, ông Nguyễn Văn Sỹ (Ksor Krơn), nguyên Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai – Kon Tum, người đã trọn một đời sắt son với Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân đã xúc động mỗi khi nhắc đến những lần được gặp Bác Hồ.

Ông Ksor Krơn kể, cuộc đời mình từng hàng chục năm làm cách mạng nhưng không hề có lương, chỉ toàn là ăn cơm của dân, được nhân dân nuôi và che chở. Ý thức gần dân, luôn gắn bó mật thiết với nhân dân trong con người Ksor Krơn là một minh chứng sinh động. Ông luôn sống và làm việc theo gương Bác Hồ vĩ đại. Ông tâm sự, sau hơn 35 năm đất nước hoàn toàn thống nhất, cấp ủy Đảng và chính quyền ở các tỉnh Tây Nguyên từng ngày thực hiện theo lời dặn của Bác là làm sao cho đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Lời mong ước của Bác Hồ ngày càng đến được hiện thực với nhiều gia đình hơn ở Tây Nguyên. Đó là niềm hạnh phúc mà chúng ta đã thực hiện theo lời dạy của Bác.

Các già làng Tây Nguyên nghe đọc lại thư Bác Hồ gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam.

Ông Ksor Krơn nhớ lại lần đầu tiên được gặp Bác Hồ trong một chuyến công tác thăm đập thủy lợi Bái Thượng (Thanh Hóa). Lúc về Bác dừng chân nói chuyện với nhân dân ở địa phương và có mời các sinh viên đến nghe, trong đó có Ksor Krơn. Bác nêu gương Anh hùng Lao động Trịnh Xuân Bái ở Thanh Hóa cho mọi người noi theo và dặn mọi người muốn làm được việc lớn phải đoàn kết phát huy trí tuệ, sức mạnh tập thể, noi gương sáng, bỏ đi những ý thức cá nhân hẹp hòi ích kỷ…

Lời dạy ấy của Bác là kim chỉ nam đã đi suốt cuộc đời làm cách mạng của ông Ksor Krơn. Hôm nay, luôn tâm huyết với những điều Bác dạy, ông Ksor Krơn nói: “Những người làm cách mạng mà không loại bỏ được sự cá nhân ích kỷ, không phát huy được cái mạnh vì lợi ích chung của nhân dân thì sẽ không tồn tại lâu được”.

Chính vì thế mà mỗi lần có dịp được tâm sự, nói chuyện với thế hệ cán bộ trẻ hôm nay ở Tây Nguyên, ông Ksor Krơn luôn khuyên mọi người phải nhớ và thực hiện theo những lời dạy tốt đẹp của Bác Hồ. Còn với nghệ sĩ nhân dân Y Brơm tham gia cách mạng khi mới tròn 12 tuổi. Chàng thanh niên của núi rừng Tây Nguyên được gặp Bác Hồ khi anh là diễn viên của đoàn văn công Tây Nguyên. Hồi ấy, Y Brơm được vào Phủ Chủ tịch biểu diễn để phục vụ khách quý của Bác.

Một lần vào tháng 5/1967, Y Brơm dựng vở “Múa Trống Tây Nguyên” để biểu diễn cho khách quốc tế xem. Trước khi đi biểu diễn nước ngoài, Bác Hồ đã xem và xúc động đứng dậy tặng hoa cho các nghệ sĩ biểu diễn. Xem xong vở diễn, Bác gọi Y Brơm đến bảo: “Cháu giỏi lắm, sau này về dạy lại cho bà con Tây Nguyên nhé!”. Y Brơm xúc động muốn khóc và khắc ghi mãi lời Bác dạy trong suốt cuộc đời mình. Đối với Y Brơm hình tượng Bác Hồ như một vị thần, mà theo tiếng địa phương gọi là Yàng. Những lời nói, việc làm của Bác đã trở thành động lực mạnh mẽ đối với cá nhân ông cũng như đồng bào Tây Nguyên, giữ vững khối đại đoàn kết, lao động, sáng tạo để xây dựng Tây Nguyên ngày càng giàu đẹp.

Nhớ lời Bác dạy, Nghệ sĩ Nhân dân Y Brơm suy nghĩ: phải học nhiều hơn, sáng tạo nhiều hơn về nghệ thuật gắn với đời sống văn hóa đồng bào Tây Nguyên để góp phần gìn giữ những giá trị văn hóa đặc sắc ấy. Cũng chính từ sự lao động sáng tạo miệt mài mà Y Brơm là một trong 3 nghệ sĩ múa được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân đầu tiên ở Việt Nam (1984). Trong 140 tác phẩm đặc sắc của Y Brơm, có 40 tác phẩm được Nhà nước công nhận, trong đó có một chùm tác phẩm đạt Giải thưởng Nhà nước.

Sau giải phóng, về công tác ở quê hương, Y Brơm đã dành hết tình cảm, tâm huyết của mình cống hiến cho đồng bào Tây Nguyên yêu thương mà không bao giờ nghĩ đến việc phải được hưởng một chút gì về vật chất. Y Brơm quan niệm, chức quyền, giàu sang cũng chỉ là phù du, nhưng văn hóa đặc trưng của buôn làng Tây Nguyên thì mãi mãi trường tồn với thời gian và ông đã sống hết mình với nghệ thuật

Ngọc Như (Báo CAND Tết 2011)

cand.com.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tâm trí Sư bà Thích Nữ Diệu Không

NGUYỄN ĐẮC XUÂN

Sư bà dạy tôi: “Kháng chiến lo cứu nước, mình là Phật giáo còn phải hoạt động cứu dân. Không những cứu bớt đổ máu, cứu những đổ nát mà còn phải cứu thoát ra khỏi sự sợ hãi để hưởng thống nhất hoà bình an lạc!

Cuối những năm 80 của thế kỷ trước, tôi được Thành ủy Huế mời đóng góp bài cho cuốn sách Bác Hồ trong lòng dân Huế. Trong tay tôi đã có sẵn bài Ba lần được gặp cụ Hồ của Hòa thượng Thích Đôn Hậu, mà tôi đã ghi được ngay sau ngày Việt Nam thống nhất, tôi xin bà Tâm Hải Đào Thị Xuân Yến (tức bà Nguyễn Đình Chi) đệ tử của Hòa thượng Thích Đôn Hậu bổ sung thêm bài Vinh dự lớn lao. Bà Tâm Hải bảo tôi:

– Sư bà Thích Nữ Diệu Không rất quý trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh, nên xin gặp Bà và đề nghị Bà viết cho một bài. Tôi đến xin gặp Sư bà ngay nhưng lúc ấy Sư bà không có ở Huế.

Sau này có dịp lên thăm Sư bà ở chùa Hồng Ân, tôi kể lại chuyện cũ. Để chứng tỏ gợi ý của bà Tâm Hải là đúng, Sư bà Diệu Không đứng dậy mở tủ lục trong cặp tư liệu lấy đưa cho tôi bài thơ Kỷ niệm Hồ Chủ tịch 3 khổ, đánh máy trên nửa trang giấy ronéo vàng rộm và một chùm thơ đánh máy trên giấy pơ-luya mỏng. Chùm thơ 16 bài vừa sáng tác vừa dịch, mang tựa đề Thăng Long ký sự.

Kỷ niệm Hồ Chủ tịch

Giải phóng quê hương khỏi đọa đày
Chí Người như núi vững không lay.
Tình Người như nước lan tràn cả,
Kỷ niệm Người như một bậc Thầy.

Bậc Thầy cao cả của non sông
Cùng với Thuyền Sư đôi điểm đồng
Cách mạng tình người về nẻo Chánh,
Phá vòng nô lệ thoát lao lung.

Lao lung vì chẳng rõ đường ra,
Dẹp hết ma tâm, sạch giống tà.
Cần kiệm thanh cao nuôi Chí lớn,
Lòng thành trong sạch Nước Nam ta.

Tác giả không ghi thời điểm sáng tác bài thơ này. Theo văn cảnh và ý tứ trong thơ thì có lẽ Sư bà đã sáng tác bài Kỷ niệm Hồ Chủ tịch ngay trong những ngày vui đất nước được thống nhất vào cuối tháng 4 đầu tháng 5/1975.


Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đối với chùm thơ Thăng Long ký sự, Sư bà ghi rõ thời gian sáng tác là Mùa thu Bính Thìn năm 1976, trong dịp Sư bà đi thăm miền Bắc. Trong 16 bài trong Thăng Long ký sự có hai bài thơ dịch: Bài Cảm thời của Nguyễn Trãi do cụ Cao Xuân Huy (GS Bác cổ Hà Nội) sao lục và bài Đi chùa của Hồ Chủ tịch do cán bộ Phật giáo Vũ Ngọc Hồng sao lục tặng bà. Xin trích bài Đi chùa của Hồ Chủ tịch:

Sơn trung tiều phu xướng
Thủy thượng khách Thuyền quy,
Như thi trung họa họa
Trung thi kỳ họa thi.

Thích Nữ Diệu Không dịch:

Chú tiều trong núi hát
Khách Thuyền trên sông về.
Như thơ trong bức vẽ
Bức vẽ trong lời thi.

(Mùa thu Bính Thìn, 1976).

Trong chuyến đi thăm Thăng Long – Hà Nội cuối năm 1976 ấy, bà đã đến viếng nhiều cảnh, nhiều người như Thăm chùa xưaThăm tháp Quảng Đức(chùa Hòa Giai, Hà Nội), Thăm tháp Bổn Sư Hồ Chủ tịchThăm trường Quảng BáĐêm thu trên Hồ TâyĐi thăm mộ… và đặc biệt, xin trích bài Sư bà đi thăm lăng Hồ Chủ tịch:

Thăm lăng Hồ Chủ tịch
Dù Người còn mất chẳng hề chi,
Thống nhất non sông mới lạ kỳ.
Bất diệt muôn đời đều nhớ rõ,
Những lời Di chúc lúc ra đi.

Tâm và ý của Sư bà đối với Hồ Chủ tịch thể hiện đầy đủ trong thơ của Sư bà.

Phật giáo cứu dân

Và Sư bà cũng kể những hoạt động của Phật tử Sài Gòn trước và sau ngày 30/4/1975 để tôi viết báo. Sư bà dạy tôi:

– “Kháng chiến lo cứu nước, mình là Phật giáo còn phải hoạt động cứu dân. Không những cứu bớt đổ máu, cứu những đổ nát mà còn phải cứu thoát ra khỏi sự sợ hãi để hưởng thống nhất hoà bình an lạc!”.

Tôi rất thấm thía lời dạy của Sư bà. Đây không phải là một lời nói, một khẩu hiệu suông mà cả một thực tế rất quý báu. Suốt những năm chiến tranh, sau các cuộc giao tranh diễn ra ở vùng nông thôn, nhiều xác cán bộ, bộ đội du kích cách mạng… không may nằm lại giữa ruộng đồng, dân chúng và người thân của liệt sĩ ít dám ra mặt nhận xác về chôn.

Gặp những tình huống như thế, các Khuôn hội Phật giáo chắp tay trước mọi hiểm nguy đứng ra đảm nhận việc chôn cất. Một số nơi còn dựng cả am miếu để thờ người chết trận.

Sau chiến dịch Huế – Xuân 1968, nhiều người Huế bị chính quyền VNCH bắt giam vào lao Thừa Phủ vì bị tình nghi đã cộng tác với Mặt trận Giải phóng. Đến ngày Rằm tháng bảy năm Mậu thân (1968), Sư bà Diệu Không tổ chức ngày “Xá tội vong nhân” đứng ra xin chính quyền VNCH trả tự do cho hàng trăm tù chính trị chưa xác định được “tội danh” – một trong những người được trả tự do năm ấy là anh Hoàng Phủ Ngọc Phan.

Nếu không được Sư bà “cứu” thì địch đã phát hiện ra Hoàng Phủ Ngọc Phan là một người Cộng sản thứ thiệt ở Huế và chắc chắn không còn có nhà báo chuyên viết chuyện châm biếm sâu sắc Hoàng Thiếu Phủ sau này nữa.


Sư bà Diệu Không và các ông (hàng đứng, từ trái sang):
Hồ Đắc Điềm, Hồ Đắc Di, Hồ Đắc Ân sau ngày đất nước thống nhất
tại Hà Nội. Ảnh TL gia đình Hồ Đắc.

Và, anh trai của Phan là Hoàng Phủ Ngọc Tường và tôi – ba anh em cùng thoát ly và cùng hoạt động ở chiến khu Huế sẽ khó lòng được yên ổn để đi đến tận cùng cuộc kháng chiến cứu nước.

Thời gian cuối tháng 4/1975, Sư bà Diệu Không đang ở Sài Gòn, ngày nào Phật tử cũng đem đến cho Sư bà những tin tức chiến sự nghe được qua các đài phát thanh Sài Gòn, Hà Nội, BBC, VOA…

Sau khi nghe tin vùng Cao nguyên và các tỉnh dọc bờ biển miền Nam Trung phần từ Huế vào đến Xuân Lộc đã được giải phóng, đêm 29/4, sân bay Tân Sơn Nhất lại bị pháo kích dữ dội, Sư bà nghĩ thế nào ngày mai Quân giải phóng cũng vào đến Sài Gòn. Trưa ngày 30/4/1975, Sư bà cho tổ chức các xe phóng thanh chạy khắp thành phố kêu gọi binh lính Sài Gòn bỏ súng.

Tại Đại học Vạn Hạnh gần cầu Trương Minh Giảng (nay là đường Lê Văn Sỹ), thanh niên sinh viên Phật tử đeo băng xanh đỏ thiết lập trạm tiếp nhận súng ống bên cạnh các xe tải cắm cờ Ngũ sắc của Phật giáo. Những binh lính ở xa nhà, lỡ đường có thể vào tá túc trong các chùa Phật Sư.

Bà vận động các chùa nấu cơm tiếp tế cho dân chúng đang tham gia công tác trên các đường phố và binh lính Sài Gòn vừa giải giáp. Những việc này chưa hề được ghi lại trong trang sử giải phóng Sài Gòn ngày 30/4/1975.

Tôi hỏi cảm tưởng của Sư bà trước sự kiện ngày 30/4/1975, Sư bà trả lời bằng một bài thơ ngắn nói về công ơn Hồ Chủ tịch:

Tặng Việt Nam độc lập

Trăm tám năm rồi mới thấy đây,
Tên Người vang dội cả thời nay.
Non sông là vợ bao tình nghĩa,
Cha của con dân nước Việt này.

Qua đó ta thấy tâm và ý của một Ni trưởng Phật giáo khác với tâm và ý của các nhà yêu nước khác, khác với các vị lãnh đạo cách mạng đối với Hồ Chủ tịch.

Sư bà là một trong những người biết gia đình Bác từ thuở ấu thơ, không những biết rõ sự nghiệp cứu nước của Bác mà còn đồng hành cùng hoạt động yêu nước, yêu dân với Bác. Mặc dù, Bác là người đứng đầu Cách mạng Việt Nam, Sư bà là một Ni trưởng của Phật giáo Việt Nam, nhưng theo Sư bà, Bác Hồ có “đôi điểm đồng” với Phật giáo.

Đôi điểm đồng đó là khát vọng “Giải phóng quê hương khỏi đọa đày”, là “Cách mạng tình người về nẻo Chánh / Phá vòng nô lệ thoát lao lung”. Cách mạng Việt Nam đã thỏa mãn được khát vọng của dân tộc. Bác Hồ trở thành “Bậc Thầy cao cả của non sông”. Dân tộc Việt Nam, trong đó đa số là Phật tử “muôn đời đều nhớ rõ” ơn Bác, ơn Cách mạng Việt Nam.

Vài nét về Sư bà Thích Nữ Diệu Không

Sư bà Thích Nữ Diệu Không, thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 42, thế danh Hồ Thị Hạnh, sinh 24/12/1905, quê ở làng An Truyền, Phú Vang, Thừa Thiên Huế, con gái của Đại thần Hồ Đắc Trung, em ruột của những người có tên tuổi như Tổng đốc Hồ Đắc Điềm, Bác sĩ Hồ Đắc Di, Đệ nhất Giai phi của vua Khải Định Hồ Thị Chỉ, Sư bà Diệu Huệ (thân mẫu của nhà bác học Bửu Hội)…

Tuổi nhỏ bà theo Nho học, lớn lên theo Tây học. Bẩm chất thông minh, xinh đẹp. Năm 24 tuổi (1929), bà kết duyên với ông Tham tá Cơ mật viện Cao Xuân Xang (con trai cụ Cao Xuân Dục). Năm 1930, bà sinh Cao Xuân Chuân, không lâu sau đó ông Tham tá thất lộc. Tình nghĩa của bà chỉ vỏn vẹn 11 tháng. Bà thủ tiết thờ chồng, nuôi con và hoạt động từ thiện xã hội với Đạm Phương nữ sử (thân mẫu của nhà văn Hải Triều Nguyễn Khoa Văn).


Bà Hồ Thị Hạnh thời trẻ.

Năm 1932, bà vào ở chùa Trúc Lâm, được học Phật với tổ Giác Tiên sau các vị Mật Khế, Đôn Hậu, Vĩnh Thừa, Mật Hiển, Mật Nguyện và Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám. Cuối năm 1932, bà lên chùa Khải Ân để cộng trú với Sư bà Thể Yến, Hướng Đạo (tức sư bà Diệu Viên).

Năm 1933, bà thành lập Ni viện ở Tổ đình Từ Đàm. Năm 1934, lập nên Ni viện Diệu Đức – Ni viện đầu tiên ở Huế. Năm 1938, bà vào chùa Giác Linh, tỉnh Sa Đéc để lập trường đào tạo Ni giới.

Năm 1949, bà khai sáng Hồng Ân Ni tự. Năm 1952, khởi xướng lập chùa Bảo Quang, chùa Bảo Thắng ở Đà Nẵng.

Năm 1953, xây dựng chùa Tịnh Nghiêm ở Quảng Ngãi. Năm 1960, xây dựng Ni viện Diệu Quang ở Nha Trang.

Năm 1961, lập chùa Dược Sư ở Gò Vấp, lập chùa Từ Nghiêm ở Chợ Lớn.

Năm 1963, tham gia phong trào tranh đấu Phật giáo để chống lại chính sách bất bình đẳng tôn giáo của dòng họ Ngô, bà liền tham gia cuộc tuyệt thực ở chùa Ấn Quang. Khi Ủy ban Liên phái quyết định có thể phải hy sinh thân mạng, bà xin tự thiêu trước. Nhưng rồi Ni chúng phải y theo Tăng chúng, Hòa thượng Thích Quảng Đức được vị Pháp thiêu thân trước.

Cũng thời gian đó, bà bí mật nhờ cháu là Bác sĩ Bửu Hội đưa hồ sơ chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo ra nước ngoài. Nhờ đó thế giới biết rõ tội ác của chính quyền Diệm.

Năm 1964, bà dựng chùa Diệu Giác ở Thủ Đức và góp phần xây dựng Đại học đường Vạn Hạnh. Năm 1965-1966, lại một lần nữa bà dấn thân cho cuộc tranh đấu đòi dân chủ dân quyền. Pháp nạn 1966 của chế độ Nguyễn Văn Thiệu.

Năm 1967, tạo lập Tịnh xá Kiều Đàm ở đường Công Lý – Sài Gòn. Năm 1968, vâng lời Giáo hội Thừa Thiên, đứng ra lo công tác xây cất Cô nhi viện Bảo Anh ở Tây Lộc – Huế và Cô nhi viện Diệu Định ở Đà Nẵng, để có nơi nuôi dưỡng con em mồ côi do chiến tranh gây ra.

Năm 1970, bà biến trụ sở nhà in Liên Hoa cũ thành Tịnh xá Kiều Đàm, tổ chức đào tạo cán bộ y tế cấp tốc, lập các trạm y tế Hồng Ân, Diệu Đế, Hòa Lương để cứu giúp dân bị thương tích trong chiến tranh.

Năm 1975, tổ chức các hoạt động hưởng ứng công cuộc Giải phóng miền Nam. Năm 1986, tuy tuổi già sức yếu, bà vẫn đứng ra vận động và trực tiếp trùng tu chùa Đông Thuyền.

Về văn hóa, bà đã để lại những áng thơ hay, nhiều bản dịch kinh, luận như: Kinh Lăng Già Tâm Ấn, Đại Trí Độ Luận, Thành Duy Thức Luận, Kinh Duy Ma Cật.

Bà quản lý hai tờ báo Phật giáo Viên Âm và Liên Hoa từ số đầu tiên cho đến ngày đình bản.

Sư bà viên tịch vào ngày 23/8 năm Đinh Sửu (nhằm ngày 24/9/1997), hưởng thọ 93 tuổi, 65 năm ở chùa và được 53 hạ lạp.

honvietquochoc.com.vn

Chúng tôi là cận vệ Bác Hồ

Từ năm 1967, sức khoẻ Bác Hồ đã giảm nhiều, bước chân đi không còn nhanh nhẹn như xưa; một lần cùng Bác Tôn xuất hiện trước đông đảo đồng bào, Bác Hồ bảo: “Để tôi nắm tay Cụ đi cho đỡ run, đồng bào khỏi thấy!”. Câu nói ấy của Bác Hồ đã khiến anh em Cảnh vệ và những người chứng kiến trào nước mắt, một sĩ quan Cảnh vệ nhớ lại.

Sáng tháng Năm rộn rã nắng đẹp. Ông Nguyễn Ngọc Cẩn và bà Lưu Thị Tính lại cùng các cựu sĩ quan Cảnh vệ vào Lăng viếng Bác, thăm lại Nhà sàn và Khu Di tích Phủ Chủ tịch, nơi họ đã có những năm tháng được bảo vệ Bác Hồ. Ông Cẩn và bà Tính có lẽ là đôi vợ chồng duy nhất cùng là Cảnh vệ, cùng được bảo vệ, phục vụ Bác Hồ và các đồng chí Bộ Chính trị tiền bối.

Vợ chồng ông Cẩn, bà Tính (bên phải) cùng các cựu sỹ quan bảo vệ Bác Hồ và các đồng chí Bộ Chính trị tiền bối.

Ông Nguyễn Ngọc Cẩn có thời gian 20 năm làm công tác Cảnh vệ, từng được bảo vệ, phục vụ Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Sinh năm 1933 tại Mê Linh (Hà Nội), ông Cẩn tham gia cách mạng từ sớm rồi đi thanh niên xung phong lên Việt Bắc. Sau khi về tiếp quản Thủ đô, ông được tuyển vào Cảnh vệ từ năm 1955. Xúc động nhớ lại lần đầu được gặp Bác, ông kể: Hôm ấy, tôi cùng anh Hoàng Hữu Kháng (Cục trưởng Cục Cảnh vệ) đi vào Nhà sàn. Bên bờ ao cá, chúng tôi thấy Bác đang nói chuyện với các đồng chí Phan Mỹ (Chánh Văn phòng Phủ Thủ tướng) và Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị. Anh Kháng lên tiếng chào Bác và hai đồng chí lãnh đạo, tôi thì quá xúc động cứ đứng ngây người mất một lát mới cất được lời chào. Đây là lần đầu tiên tôi được gặp Bác, nhìn thấy Bác gần như vậy. Bác mặc bộ quần áo bà ba giản dị, chân đi đôi dép cao su quen thuộc từ những năm kháng chiến ở Việt Bắc. Bác hỏi anh Kháng: “Chú này là ai?”. Sau khi nghe anh Kháng báo cáo, Bác nhìn tôi tỏ ý hài lòng: “Trông chú nhanh nhẹn, hoạt bát. Chú cố gắng phấn đấu, làm việc cho tốt!”.

Ngày ấy, mỗi lần Bác đi công tác nước ngoài, anh em Cảnh vệ tiễn Bác ngay tại Nhà sàn, chỉ một số ít được tháp tùng Bác sang sân bay Gia Lâm. Chúng tôi thường đứng thành hàng bên Nhà sàn, bịn rịn từ biệt và chúc Bác thượng lộ bình an. Bác lần lượt bắt tay từng người. Bác luôn nhắc nhở những anh em trẻ phải học tập nâng cao trình độ… Tôi nhớ một lần Bác đi công tác ở Liên Xô; khi Bác trở về, chúng tôi tổ chức đón Bác tại Nhà sàn. Bác ân cần hỏi thăm tình hình sức khỏe, gia đình của chúng tôi. Rồi Bác quay sang đồng chí lãnh đạo phòng là anh Nguyễn Tất Liêm, hỏi: Năm nay, chú có bố trí cho anh em nghỉ mát không? Anh Liêm báo cáo cụ thể với Bác, đơn vị đã bố trí cho anh em đi nghỉ mát, ai quê ở xa còn được kết hợp nghỉ phép… Bác tỏ ý hài lòng, rồi lấy quà chia cho chúng tôi.

Bảo vệ Bác Hồ thăm Đền Hùng năm 1962 (Ông Nguyễn Ngọc Cẩn ngồi thứ tư từ trái sang). Ảnh do ông Nguyễn Ngọc Cẩn cung cấp.

Một vinh dự lớn lao với ông Cẩn và bà Tính. Năm 1961, ông bà lập gia đình với nhau. Trong đám cưới của đôi trẻ, Hồ Chủ tịch do bận công tác đã ủy nhiệm người thư kí của mình là đồng chí Vũ Kỳ đến mừng. Ông Cẩn nhớ lại: Trước ngày làm đám cưới, tôi suy nghĩ mãi rồi quyết định mời Bác đến dự, chúc phúc cho chúng tôi. Hôm ấy, trên đường đưa Bác từ Phủ Chủ tịch về Nhà sàn, khi đi bộ tới ao cá, tôi mạnh dạn: “Thưa Bác, cháu sắp lập gia đình. Hai vợ chồng cháu kính mời Bác đến dự đám cưới ạ!”. Bác nhìn tôi, đôi mắt Bác thật vui, rồi hỏi: “Vậy vợ chú là ai?”. Tôi trả lời: “Thưa Bác, vợ cháu là cô Tính, cũng là quân của anh Kháng ạ”…

Món quà cưới Bác Hồ dành cho vợ chồng ông Cẩn là một đôi hài nhung, mà mãi sau này hai ông bà mới biết đó chính là quà của Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tặng Hồ Chủ tịch, để dùng giữ ấm đôi chân trong mùa đông.

Kỷ niệm khó phai mờ trong kí ức của vợ chồng ông Cẩn là tình cảm giữa Bác Hồ với Bác Tôn, hai vị lãnh tụ tiêu biểu cho đại đoàn kết dân tộc. Năm 1968, Bác Tôn tròn 80 tuổi, Bác Hồ đã đến chúc thọ người bạn già, ôm hôn thắm thiết và tặng Bác Tôn hai câu thơ: “Càng già, chí khí càng dai/ Chống Mỹ, cứu nước ít ai hơn Già”.

Những lần tiếp khách, đặc biệt là tiếp cán bộ, chiến sĩ Nam Bộ hay các cháu nhi đồng miền Nam, Bác Hồ đều nhắc bộ phận Văn phòng, Thư ký nhớ mời Bác Tôn cùng dự. Hình ảnh Bác Hồ, Bác Tôn tiếp và ôm hôn các đại biểu, dũng sĩ, các cháu nhi đồng là những thông điệp ấm áp, tràn đầy niềm tin vào khối đại đoàn kết dân tộc, vào thắng lợi hoàn toàn của sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Từ năm 1967, sức khoẻ Bác Hồ đã giảm nhiều, bước chân đi không còn nhanh nhẹn như xưa; một lần cùng Bác Tôn xuất hiện trước đông đảo đồng bào, Bác Hồ bảo: “Để tôi nắm tay Cụ đi cho đỡ run, đồng bào khỏi thấy!”. Câu nói ấy của Bác Hồ đã khiến anh em Cảnh vệ và những người chứng kiến trào nước mắt, thương hai Bác vô cùng.

Bác Hồ cùng Thủ tướng Phạm Văn Đồng và cán bộ, chiến sĩ Cảnh vệ (Xuân Quý Mão 1963). Ảnh: Tư liệu.

Ông Cẩn còn nhớ, Bác Tôn là người năng hoạt động, tập luyện thể thao, Bác rất thích đi xe đạp ra ngoại thành vào buổi sáng sớm. Về sau, anh em Cảnh vệ, bác sĩ lo ngại Bác Tôn tuổi đã cao, lỡ đi xe đạp mà bị ngã thì hậu quả khó lường. Anh em đề nghị Bác Tôn không đi xe đạp nữa, nhưng Bác cười hồn hậu: “Đạp xe để rèn luyện sức khỏe, đến ngày thống nhất đất nước còn có sức đi thăm đồng chí, đồng bào!”. Nghe Bác Tôn nói vậy, anh em Cảnh vệ hiểu lòng Bác, nhưng vẫn rất lo lắng, bèn báo cáo với đồng chí Lê Hữu Lập, người phụ trách bộ phận thư ký văn phòng của Bác Hồ và Bác Tôn.

Ngày 2/9/1969, ông Cẩn đón Bác Tôn từ nhà riêng ở 35 Trần Phú (Hà Nội) vào nơi Bác Hồ nằm nghỉ trong một căn nhà phía sau Nhà sàn. Ông cũng là người chứng kiến giờ phút Bác Hồ lâm chung, có Bác Tôn và các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước đứng quanh giường bệnh. Những dòng nước mắt chảy dài và tiếng khóc thổn thức của những người đồng chí, người học trò xuất sắc của Bác; không ai kìm nén được lòng mình trước tổn thất lớn lao của cả dân tộc… Ngay trong ngày hôm ấy, ông Cẩn đã ghi lại những dòng cảm xúc của mình vào một cuốn sổ: “Bác ơi, Bác đi xa thật rồi ư? Nỗi đau này quá lớn với chúng con, những người lính Cảnh vệ từng được bảo vệ, phục vụ Bác”…

Trước lúc tạm biệt tôi, ông Cẩn lại tỉ mỉ gói ghém cẩn thận những cuốn sổ của mình và những bức ảnh được chụp chung với Bác Hồ, vốn đã trở thành tài sản vô giá với gia đình ông. Tôi bắt chặt tay ông, đôi bàn tay ấm áp của người sĩ quan Cận vệ của Bác Hồ và Bác Tôn. Trong nắng tháng Năm rạng rỡ, mái tóc trắng như cước của ông bồng bềnh trên đôi mắt chứa đầy kỷ niệm.

Người chứng kiến việc Bác Hồ đề nghị Bác Tôn không nên đi xe đạp ra đường phố nữa, chính là bà Lưu Thị Tính. Bà Tính kể: Hôm ấy, như thường lệ tôi vào kiểm tra bảo đảm an toàn bữa ăn của Bác Hồ, thì đúng lúc Bác Hồ mời Bác Tôn dùng cơm. Sau bữa cơm, hai Bác đàm đạo khá lâu. Rồi Bác Hồ thân mật nói với Bác Tôn, đại ý: “Về tuổi tác thì Cụ hơn tôi, nhưng về nhiệm vụ Nhà nước phân công, thì tôi là cấp trên. Nay Cụ đã tuổi cao, sức yếu; đề nghị Cụ không nên đi xe đạp ra ngoài phố nữa, lỡ té ngã thì rất nguy hiểm… Cụ bảo trọng là phúc lớn cho đất nước”.

Khang Anh

cand.com.vn

Người bảo vệ Bác Hồ thăm đền Hùng trước ngày tiếp quản Thủ đô

Đại tá Tống Xuân Đài kể rằng ông chính là người nhặt một mẩu gạch non, khoanh một vòng tròn rồi thưa với Bác: “Thưa Bác, chúng cháu ngồi xung quanh Bác như thế này ạ”.

Trong kí ức tuổi thơ tôi, lời dạy của Bác Hồ “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” và bức ảnh Người nói chuyện với Sư đoàn Quân Tiên Phong tại Đền Hùng trước khi về tiếp quản Thủ đô năm 1954, đã khắc sâu vào tâm trí. Lớn lên, mỗi lần được đi thăm Đền Hùng, lúc dừng chân tại Đền Giếng, tôi lại bâng khuâng mường tượng nơi Bác ngồi trên bậu cửa, xung quanh là những đại diện ưu tú của Quân đội nhân dân anh hùng…

Đầu Xuân Canh Dần trong lần vào thăm Khu di tích Phủ Chủ tịch tại Hà Nội, tôi ngẫu nhiên gặp một cựu sĩ quan quân đội, là nhân chứng trong đoàn quân quây quần bên Bác tại Đền Hùng. Ông giới thiệu đầy tự hào: “Tôi là người đã trực tiếp bảo vệ Bác Hồ khi Bác thăm Đền Hùng 56 năm về trước và nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 308 (Quân Tiên Phong) trước khi về tiếp quản Thủ đô Hà Nội”…

Đúng hẹn, tôi đến thăm Đại tá Tống Xuân Đài tại nhà riêng – một ngôi nhà đẹp, ấm cúng nằm trong ngõ nhỏ của phố “Nhà binh” Lý Nam Đế – Hà Nội. Với tác phong nhanh nhẹn, quy củ của một cựu chiến binh, ông đã chuẩn bị những tư liệu cần thiết giúp tôi.

Tôi ngạc nhiên bởi ngoài những bức ảnh được chụp cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người thăm Đền Hùng và nói chuyện với bộ đội, ông Đài còn rất nhiều ảnh khi tháp tùng, bảo vệ Hồ Chủ tịch thăm các đơn vị quân đội những năm sau đó. Nhiều bức ảnh rất có giá trị, rất đẹp lần đầu tiên tôi được xem – dù tôi là người luôn chú ý tìm hiểu, sưu tầm tư liệu và đã viết khá nhiều bài về Bác Hồ và công tác bảo vệ Bác.

Ông Tống Xuân Đài (thứ 2 bên phải) tại Đền Giếng, nơi đặt bia đá ghi lại sự kiện Bác Hồ huấn thị “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Quê ở Phù Cừ – Hưng Yên, năm 1940, mới hơn 10 tuổi, cậu bé Đài rời quê lên Hà Nội kiếm sống. Cũng như nhiều thanh niên khác, Tống Xuân Đài sớm đến với cách mạng; là tự vệ thành Hoàng Diệu, tham gia chiến đấu bảo vệ Thủ đô trong đội ngũ Trung đoàn 66 do đồng chí Phùng Thế Tài phụ trách… Được tôi luyện, trưởng thành trong chiến đấu, đến tháng 3/1954, ông được cử đi học lớp nghiệp vụ bảo vệ do Cục Bảo vệ – Tổng cục Chính trị tổ chức tại Việt Bắc.

Hơn nửa thế kỉ đã qua, Đại tá Tống Xuân Đài vẫn nhớ như in thời khắc được bảo vệ Bác Hồ thăm Đền Hùng, trên đường từ Việt Bắc về Hà Nội. Đôi mắt ông như sáng lên khi những dòng kí ức trở lại: “Trung tuần tháng 9/1954, anh Lại Xuân Thát – chính trị viên tiểu đoàn 254 – Bộ Tư lệnh 350, và tôi được gọi lên giao nhiệm vụ. Sau khi có giấy công lệnh, chúng tôi được sử dụng một chiếc xe Zeep chiến lợi phẩm, triệu tập 4 đồng chí nữa đến bến phà Bình Ca và Đoan Hùng tìm một chiếc phà loại tốt, đợi sẵn phía bờ Tuyên Quang để đón đoàn thượng cấp. Chúng tôi quy ước, khi thấy đoàn xe ôtô, chiếc đi đầu có đồng chí Thanh Quảng (tức Nguyễn Văn Thanh, từng là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình được điều động làm Phó Văn phòng Tổng Quân ủy) thì đưa cả đoàn xuống phà, qua sông ngay rồi di chuyển đến Đền Hùng.

Ngày 18/9/1954, mọi việc diễn ra theo đúng kế hoạch, nhưng chúng tôi chờ mãi đến xẩm tối vẫn không thấy đoàn xe có anh Thanh Quảng xuất hiện, dù đã có nhiều xe qua phà. Vừa sốt ruột, vừa lo lắng, tôi và anh Thát bổ đi tìm. Thấy phía chân đồi có ánh đèn (sáng hôm sau tôi mới biết đây là Đền Giếng), chúng tôi tiến lại thì bất ngờ nhận ra anh Thanh Quảng. Anh đi nhanh ra ngoài, ngăn chúng tôi lại và bảo: “Khách” đến rồi, đang ở trong đền. Các anh về nghỉ, sáng mai đưa bộ đội vào sớm”.

Vậy tối hôm đó thì bộ đội tập kết ở đâu? – Tôi hỏi Đại tá Đài. “Bộ đội vào nhà dân quanh vùng xin nghỉ nhờ. Do làm tốt dân vận, hơn nữa khí thế chiến thắng của Điện Biên Phủ làm nức lòng nhân dân cả nước, nên bà con rất thương bộ đội Cụ Hồ”. Đại tá Đài kể tiếp: Sớm hôm sau, tầm gần 7h thì tôi và anh Thát trở lại Đền Giếng.

Bác Hồ nói chuyện với cán bộ chiến sĩ Sư đoàn Quân Tiên Phong tại Đền Hùng, ngày 19/9/1954.

Vào đến sân đền, chúng tôi thấy Bác đang ung dung ngồi trên bậc thềm ngắm cảnh thiên nhiên mùa thu của vùng Trung du buổi ban mai. Bác mặc bộ đồ gụ, bên ngoài khoác chiếc áo đại cán. Hai anh em mừng rỡ, lại gần chào Bác theo đúng quân lệnh.

Bác gật đầu chào lại rồi hỏi: “Bộ đội đã ăn sáng chưa?”. Tôi chưa kịp trả lời thì anh Thát lại cuống, líu ríu: “Dạ thưa Bác, tối qua…”. Bác nhìn anh Thát, cười độ lượng rồi phê bình: “Bác hỏi chú bộ đội đã ăn sáng chưa, chứ không hỏi chú tối hôm qua”… Sau khi nghe chúng tôi báo cáo cụ thể tình hình bộ đội, Bác nói: “Sáng rồi, các chú còn nhiều việc phải chuẩn bị. Bây giờ, các chú mời bộ đội đến đây để Bác nói chuyện”.

Theo trí nhớ của Đại tá Tống Xuân Đài, tham gia sự kiện này, có khoảng 80 cán bộ từ cấp đại đội trở lên, đại diện cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 308. Lúc 7h15′ ngày 19/9, các đại biểu có mặt đông đủ tại sân đền. “Do sân hẹp, cán bộ, chiến sĩ đều mải ngắm Bác nên chúng tôi chưa biết tập hợp đội hình thế nào để mọi người ổn định, nghe Bác nói chuyện. Tôi bèn nhặt một mẩu gạch non, khoanh một vòng tròn rồi thưa với Bác: “Thưa Bác, chúng cháu ngồi xung quanh Bác như thế này ạ”.

Bác quan sát, rồi gật đầu đồng ý và giơ tay ra hiệu cho bộ đội ngồi xuống các bậc thềm dẫn từ sân lên cửa Đền. Bác ngồi trên bậu cửa đền; đồng chí Vũ Yên – Tham mưu trưởng ngồi ở bậc thềm chính diện trông lên Bác.

Bác quay sang bảo đồng chí Song Hào – Chính ủy Đại đoàn 308: “Chú ngồi đây (mặt hè bên phải Bác, còn chú Quảng ngồi đây (mặt hè bên trái Bác)”. Sau khi bộ đội ổn định chỗ ngồi, Bác chỉ vào tôi, nói: “Còn chú, chú ngồi chỗ kia (bậc thềm thứ hai từ mặt hè xuống, phía bên phải đồng chí Song Hào”.

Hồ Chủ tịch đã mở đầu buổi nói chuyện với bộ đội bằng câu hỏi: “Các chú có biết đây là đâu không”? Có nhiều đồng chí nhanh nhẹn trả lời: “Thưa Bác, đây là Đền Hùng ạ. Đây là nơi thờ Hùng Vương ạ!”. Bác lại hỏi tiếp: “Hùng Vương là người như thế nào với nước ta”. Lặng đi một lát chưa có ai trả lời, đồng chí Vũ Yên đứng dậy: “Thưa Bác, ngày xưa…”. Bác giơ tay ra hiệu cho đồng chí Vũ Yên ngồi xuống rồi nói: “Đúng đây là Đền Hùng, thờ các Vua Hùng. Hùng Vương là người đã sáng lập ra nước ta, là tổ tiên của dân tộc ta. Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước!”…

Tiếp đó, Bác căn dặn: Hơn 8 năm gian khổ chiến đấu, được nhân dân đùm bọc, giúp đỡ, bộ đội và dân quân du kích dũng cảm đánh giặc; ta đã giành thắng lợi, buộc quân Pháp phải rút khỏi miền Bắc nước ta. Ta có nhiệm vụ về tiếp quản Hà Nội, thủ đô của cả nước và những thành phố khác nữa. Nhiều năm các chú ở nông thôn và rừng núi, nay về thành phố nơi tạm chiếm của địch, đồng bào đã nhiều năm bị địch hành hạ, cưỡng bức, rất khổ, có người bị địch bắt buộc hoặc vì cuộc sống phải làm việc cho địch…

Khi vào tiếp quản đóng quân trong thành phố, các chú phải: Gần gũi, tôn trọng dân, làm tốt công tác dân vận; giải thích cho đồng bào hiểu chủ trương, chính sách của Chính phủ. Không được coi những người dân sống trong vùng địch tạm chiếm là đi theo địch mà xa lánh họ… Bác căn dặn kĩ cả việc sinh hoạt, sử dụng điện, nước máy tại đô thị; việc học tập chính trị, tuần tra canh gác…

Sau dòng hồi tưởng, ông Đài xúc động kể tiếp: “Khoảng gần 9h sáng, buổi nói chuyện của Bác với bộ đội kết thúc. Anh em bộ đội ra về và luôn ghi lòng tạc dạ lời dạy bảo sâu sắc của Hồ Chủ tịch, người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân, vị lãnh tụ tối cao của dân tộc. Mấy anh em Cảnh vệ Quân đội chúng tôi và Cảnh vệ Công an cùng tháp tùng Bác rời khỏi Đền Giếng. Quãng đường từ đền ra đường cái, một đồng chí cận vệ đi trước, dẫn đường. Bác đi thứ hai, còn tôi đi ngay sau Bác. Bác đội mũ cát và dùng một chiếc khăn che chòm râu dài. Tới điểm ôtô đỗ, chúng tôi từ biệt Bác và đứng lặng nhìn theo cho đến khi chiếc xe khuất hẳn”.

Tìm trong tập tài liệu, Đại tá Tống Xuân Đài đưa cho tôi xem một cuốn họa báo Trung Quốc đã ngả màu vàng, xuất bản năm 1957 tại Bắc Kinh… Đôi mắt ông đầy hoài niệm: “Khi Bác nói chuyện với bộ đội, tôi không biết là có người chụp ảnh. Sau khi về tiếp quản Thủ đô, tôi được cử sang Trung Quốc học tập. Trong một lần đến thăm Sứ quán ta, tôi được Đại sứ Nguyễn Khang cho xem một số tài liệu. Lần giở cuốn họa báo này, tôi ngạc nhiên khi thấy bức ảnh lịch sử, thấy mình trong ảnh. Anh Nguyễn Khang cũng ngạc nhiên không kém và đồng ý tặng tôi cuốn họa báo này!”.

Sau khi về nước, ông Đài tiếp tục công tác trong lực lượng Cảnh vệ Quân đội. Những năm kháng chiến chống Mỹ, ông là Phó, rồi Trưởng phòng Cảnh vệ (Phòng 45) – Cục Bảo vệ Quân đội, Bộ Quốc phòng. Ông Đài đã vinh dự nhiều lần bảo vệ Bác Hồ thăm các đơn vị quân đội, thị sát các trận địa phòng không, không quân. “Hồi đó, việc bảo vệ Bác chủ yếu do Cảnh vệ Công an. Nhưng khi Bác đi thăm các đơn vị Quân đội thì bên Cảnh vệ Quân đội chúng tôi đảm nhiệm với sự phối hợp của Cảnh vệ Công an. Chúng tôi và các anh Hoàng Hữu Kháng, Phan Văn Xoàn… bên Cảnh vệ Công an quý nhau lắm, thường xuyên gặp gỡ, phối hợp”.

Sau khi nghỉ hưu, Đại tá Tống Xuân Đài là một thành viên tích cực của “Hội cựu sỹ quan cận vệ Bác Hồ và các đồng chí Bộ Chính trị tiền bối”. Đây là một tổ chức được thành lập năm 2001 theo ý tưởng của Thượng tướng Phùng Thế Tài (người từng bảo vệ Bác Hồ trước năm 1940 tại Trung Quốc) và được chính Đại tướng Võ Nguyên Giáp đặt tên. Thành viên của Hội là các cựu sĩ quan Cảnh vệ Công an và Quân đội.

Trần Duy Hiển

cand.com.vn

Chúng con xin nghiêng cánh vĩnh biệt Người

40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

(Kể về phi đoàn máy bay trong Lễ tang Bác Hồ)

“Hồ Chủ tịch, vị lãnh tụ vĩ đại, người thầy kính yêu của dân tộc ta…”

Tiếng đọc điếu văn của đồng chí Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam vừa dứt thì hàng loạt tiếng gầm của đại bác nghi lễ và một đoàn 24 chiếc Mích như con rồng trắng chầm chậm bay qua lễ đài. Phi đoàn máy bay dường như cũng muốn dừng lại, tiễn đưa Bác.

Tiếng động cơ vừa dứt thì hàng ngàn cháu thiếu nhi khóc nức nở, ùa ra kín quảng trường. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước bước xuống lễ đài vừa gạt nước mắt, vừa an ủi các cháu, động viên đồng bào.

Khoảng cuối năm 1967, đầu năm 1968, nguyên Tư lệnh Quân chủng Phòng Không – Không Quân (PK-KQ), Phó tổng Tham mưu trưởng (PTTMT) Phùng Thế Tài được Quân ủy cử sang Liên Xô, Bungari… tìm hiểu về cách tổ chức và nghi thức lễ quốc tang (điều mà từ trước đến nay ta chưa từng có). Ông lên đường với nỗi buồn sâu sắc.

Hàng tháng, hàng tuần, ông thường được vào báo cáo với Bác, với các đồng chí trong Thường vụ Bộ Chính trị về diễn biến chiến đấu trên chiến trường miền Nam, về chiến công đánh máy bay Mỹ ở miền Bắc. Nên ông thấu hiểu công việc của mình làm.

Gần đây, sức khỏe của Bác không được tốt. Rõ ràng nhiệm vụ của ông có liên quan đến sức khỏe của “Ông Cụ”.

Khoảng tháng 7/1969, sau khi giao nhiệm vụ luyện tập thực binh ở các địa điểm khác, ông đầu tư suy nghĩ tới lực lượng Không quân.

Sau khi trao đổi với đồng chí Tư lệnh Quân chủng PK-KQ, với Bộ Tư lệnh Binh chủng Không quân, PTTMT quyết định sử dụng phi đoàn hỗn hợp 24 chiếc Mích 21 và Mích 17. Mích 17 bay trước ở độ cao thấp, Mích 21 bay sau, hình thành đội hình hỗn hợp. Đây là những đơn vị đã từng lập nên những chiến công vang dội làm khiếp đảm quân thù.

Một số sĩ quan Không quân có kinh nghiệm, được triệu tập về lên kế hoạch với điều kiện không gian diễn tập phải phù hợp với địa hình. Tính toán làm sao đúng giờ G, phi đoàn có mặt ở điểm X. Đây là thời điểm hết sức quan trọng. Chậm một phút, nhanh một phút đều ảnh hưởng tới sự tôn nghiêm của buổi lễ.

Sau khi duyệt phương án PTTMT trao quyền cho các trung đoàn chọn những phi công giỏi có kinh nghiệm, chấp hành kỷ luật nghiêm, có thêm chiến công càng tốt.

Người dẫn đầu phi đoàn sẽ là ai? Trung đoàn trưởng đoàn KQ Sao Đỏ 921 không đắn đo đề cử Nguyễn Hồng Nhị. Anh là phi công đầu tiên dùng máy bay Mích 21 bắn rơi máy bay Mỹ trên vùng trời Việt Nam, một chỉ huy phi đội mẫu mực, mới được phong Anh hùng lực lượng vũ trang. Anh lại là người miền Nam, phù hợp với ý nguyện của Bác.

Đoàn KQ Yên Thế 923 cử Cao Thanh Tịnh, một đại đội trưởng Mích 17 giỏi, kỹ thuật tốt. Tiếp sau đại đội trưởng là Nguyễn Văn Bẩy, người chiến sĩ quê vùng Bạc Liêu bắn rơi 2 máy bay Mỹ. Sau lần gặp Bác và sau khi được phong tặng Anh hùng lực lượng vũ trang một ngày, anh lại bắn rơi tiếp một chiếc nữa.

Đầu tháng 8/1969, đơn vị Mích đóng quân ở sân bay Nội Bài được lệnh thực hành luyện tập. Đồng thời, đơn vị Mích ở sân bay Kiến An cũng được chỉ thị bay tập theo kế hoạch. Bộ đội nhận được lệnh là hành động, không cần biết mục đích của những lần tập đó. Vì vậy, mục tiêu của nhiệm vụ được giữ bí mật tuyệt đối.

Đêm 3/9/1969, các Đảng viên trong toàn quân được đánh thức dậy. Ai về nhà đều được gọi về đơn vị. Các chi bộ phổ biến tình hình sức khoẻ của Bác. Cả đêm hôm đó hầu như bộ đội không ngủ.

6 giờ sáng ngày 4/9/1969 giọng nghẹn ngào đầy nước mắt của Phát thanh viên Đài Tiếng nói Việt Nam truyền đi thông báo đặc biệt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam, Quốc hội, Chính phủ và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam báo tin cho toàn thể đồng bào, chiến sĩ cả nước – Bác Hồ đã từ trần.

Các chiến sĩ PK-KQ bàng hoàng. Mọi người không tin ở tai mình. Trên các trận địa pháo cao xạ, tên lửa, ra-đa, trên các sân bay, nhiều chiến sĩ ôm nòng pháo, bệ phóng, cánh bay khóc nấc.

Ở các sân bay chiến đấu, những chiến sĩ trực ban đêm đang ngủ chồm cả dậy. Mọi hoạt động dường như ngừng cả lại. Bộ đội nghe đi, nghe lại thông báo đặc biệt được phát từ những chiếc đài “Xung mao” bé nhỏ đeo bên hông, từ những chiếc loa công cộng ở phi trường. Không khí tang tóc, đau thương trùm lên toàn đơn vị. Tới lúc này, các thành viên tham gia trong đội hình khối bay mới hiểu mục đích của những cuộc luyện tập mà mình đang thực hiện.

Cũng như các anh em trong phi đoàn, Nguyễn Hồng Nhị lúc này mới biết việc mình làm cách đây không lâu. Anh nhận nhiệm vụ bay buồng kín theo phần tử dẫn đường tính sẵn ở độ cao 1500 mét. Anh cảm thấy đây là vệt bay qua khu vực cấm trên vùng trời Hà Nội.

Nghe nói: Hôm đó, lúc tỉnh, lúc mê, nghe tiếng động cơ máy bay bay qua, Bác hỏi – Tiếng động cơ gì thế? Những người trực chung quanh hiểu rõ mục đích chuyến bay, đã thưa với Bác – Tiếng động cơ ôtô từ bên ngoài vọng vào. Người đâu có hay biết, đó là chuyến bay thử nghiệm để phi đoàn máy bay sắp làm nhiệm vụ tiễn Bác đi xa.

Ngay chiều 4/9/1969, 12 chiếc Mích 17 và 2 chiếc dự bị từ sân bay Kiến An được lệnh chuyển về sân bay Gia Lâm. Đồng thời, đài chỉ huy KQ trực tiếp bằng mắt được đặt trên nóc căn nhà cao tầng số 4 trước Phủ Chủ tịch. Đài dẫn đường bến đò Dâu trên trục đường Hùng Vương và một đài định hướng ở Thường Tín cũng được triển khai gấp.


Lễ truy diệu Chủ tịch Hồ Chí Minh tại quãn trường Ba Đình – Hà Nội.
Ảnh TL.

Sau ngày 2/9, mưa tầm tã, mây rất thấp. Nhất là sau những ngày toàn dân, toàn quân nghe thông báo của Ban chấp hành Trung ương, Chính phủ, Quốc hội… trời đất dường như cũng muốn chia sẻ nỗi buồn cùng đồng bào, chiến sĩ cả nước. Các chiến sĩ KQ ngước mắt nhìn trời. Anh em chỉ lo không được tham gia trong đội hình toàn quân tiễn đưa Bác. Anh em thèm một khoảng trời xanh, một tia nắng nhạt.

Vất vả nhất là cán bộ, chiến sĩ dự báo khí tượng. Anh em thức trắng đêm với những đường đẳng áp, độ ẩm, nhiệt độ với hướng gió, lượng mây… Nha khí tượng cử những chuyên viên giỏi nhất sang giúp Quân chủng… Những mái đầu chụm vào nhau trao đổi, tranh luận. Vô vọng! Có nhiều khả năng mưa cả tháng.

Nghe thông báo khí tượng hàng giờ, phi công trong phi đoàn không ngần ngại. Anh em quyết tâm bay trong mây, nếu mây quá dày và thấp. Mưa dai dẳng tới đâu cũng có lúc trời hửng lên một chút, là bộ đội yêu cầu được hợp luyện.

Thời tiết không cho phép, bộ đội chỉ hợp luyện được một lần. Rất may, hợp luyện đạt kết quả tốt. Những yêu cầu nghiêm ngặt đối với các thành viên trong phi đoàn được tuân thủ triệt để. Đây là điều không dễ dàng đối với mỗi người bay ở những phút giây đau đớn, xót thương đến cùng cực này. Với người chỉ huy phi đoàn Mích 21 – Nguyễn Hồng Nhị lại là điều cố gắng phi thường. Tháng 12/1966, các phi công có thành tích xuất sắc được vinh dự gặp Bác ở Phủ Chủ tịch. Sau khi thăm hỏi gia đình, Bác trao cho Nguyễn Hồng Nhị chiếc đồng hồ đeo tay nữ và dặn:

– Chiến công của chú, trong đó có công của cô ấy. Chú phải đeo chiếc đồng hồ này vào tay cô ấy và nói là của Bác tặng.

Anh cũng như đồng đội phải có trái tim bằng thép để không xảy một chút sai sót, không để nước mắt làm nhòa mắt. Sẽ là đắc tội với đồng bào, chiến sĩ cả nước, với bà con bốn biển, năm châu trân trọng, kính yêu Bác, nếu có điều gì xảy ra, cho dù rất nhỏ.

*

Dường như cũng chiều lòng người, sáng ngày 9/9/1969 trời vẫn âm u, mây thấp nhưng tạnh ráo. Hàng chục vạn người tập trung ở quảng trường Ba Đình đứng thành từng khối vuông vức. Không gian im lặng đến kỳ lạ. Tất cả mọi người hướng về lễ đài. Nơi đó, có tấm ảnh Bác khá to và một giải băng đen viền quanh.

Tang lễ bắt đầu trong không khí trang nghiêm, kính cẩn.

Trên nóc ngôi nhà số 4 đối diện với Phủ Chủ tịch, Chủ nhiệm dẫn đường Quân chủng Phạm Ngọc Lan cầm ống nói theo dõi từng chặng đường của đoàn bay nghi lễ. Đứng cạnh anh là Tham mưu trưởng Binh chủng KQ Nguyễn Phúc Trạch.

… Vĩnh biệt Người chúng ta thề…”, tiếng đọc diễn văn của đồng chí Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam cất lên sang sảng, xúc động.


Hàng vạn cánh tay giơ lên thề thực hiện Di chúc của Hồ Chủ tịch

Phạm Ngọc Lan sốt ruột: – 01 hiện nay ở đâu? Độ cao?

– Mây rất thấp. Không thấy địa hình. Theo tính toán 5 phút nữa sẽ tới điểm kiểm tra số 2. Độ cao 800!

– Chậm mất rồi!

Trong lòng Phạm Ngọc Lan như có lửa đốt. Bay trong mây không thể điều chỉnh được đội hình. Tăng tốc độ dễ đâm phải nhau, điều nguy hiểm nữa là rất dễ lệch vệt bay. Phạm Ngọc Lan xin ý kiến của Tham mưu trưởng. Anh yêu cầu giàn đèn chiếu sáng quảng trường quay về phía sông Hồng bật sáng. Lập tức 30 ngọn đèn pha hàng nghìn nến đồng loạt tỏa sáng. Căn cứ theo thông báo khí tượng vừa được cung cấp, anh ra lệnh.

– Hải Âu! (Mích 17) độ cao 200! Phượng Hoàng! (Mích 21) độ cao 300!

Kia rồi! Cả phi đoàn lần lượt hiện ra trên nền trời mây mọng nước.


Thủ tướng Phạm Văn Đồng và các cháu thiếu nhi
sau buổi lễ truy điệu Hồ Chủ tịch (ngày 9/9/1969). Ảnh TL.

… Hồ Chủ tịch, lãnh tụ vĩ đại, người thầy kính yêu của Đảng ta, dân tộc ta đời đời sống mãi” – Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam vừa chấm dứt thì 21 phát đại bác nổ vang và đoàn máy bay màu trắng bạc trong đội bàn tay xòe nối đuôi nhau ầm ầm lướt qua lễ đài.

*

Hàng năm, thường có buổi gặp mặt tất niên của anh em Không quân. Gặp nhau, anh em thường ôn lại những chuyện xưa cũ. Nhắc đến chuyến bay đưa tiễn Bác đi xa, Nguyễn Tiến Sâm nguyên Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam, thành viên trong phi đoàn Mích 21 bốn mươi năm về trước bồi hồi:

– Đây là chuyến bay vất vả nhất trong cuộc đời chiến đấu của tôi. Hồi đó, tôi là chiến đấu viên mới đọ cánh với bọn Mỹ mấy trận, tuổi đời còn rất trẻ, nên vô cùng bỡ ngỡ, lo lắng khi nhận nhiệm vụ trọng đại này. Không riêng tôi, mà tất cả các anh em trong phi đoàn, đều như vậy cả… Bay trong tâm trạng như thế, thời tiết phức tạp, quả thật không dễ dàng gì… Vong linh Bác đã phù hộ, chở che cho anh em chúng tôi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Trả lời câu hỏi, hôm đó có những ai bay trong đội hình Mích 21, Nguyễn Tiến Sâm nói: – Nỗi đau mất mát to lớn quá, công việc lại căng thẳng, tôi nhớ không hết: Người dẫn phi đoàn Mích 21 đồng thời là phi đội trưởng phi đội 1 Nguyễn Hồng Nhị. Đội viên trong đội gồm: Lê Toàn Thắng, Phạm Đình Tuân, Nguyễn Đức Soát. Phi đội 2 phi đội trưởng là Nguyễn Văn Lý. Đội viên trong phi đội gồm: Phạm Phú Thái, Lê Thanh Đạo, Nguyễn Hồng Mỹ. Phi đội 3, phi đội trưởng là Mai Văn Cương. Đội viên trong phi đội gồm: Phan Thành Nam, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Văn Long.

Hán Văn Quảng, người phi công trong phi đội Quyết Thắng trút bom xuống đầu quân thù ở sân bay Tân Sơn Nhất ngày 28/4/1975 cũng là thành viên trong đoàn Mích 17 đưa tiễn Bác. Hán Văn Quảng đã từng đảm nhiệm cương vị sư đoàn trưởng sư đoàn KQ 372, Tham mưu phó Quân chủng PK-KQ (đã nghỉ hưu), được hỏi tới chuyến bay lịch sử, anh kể:

– Bọn mình phải dán chặt mắt vào bảng đồng hồ để giữ thật chắc tham số, và cũng để khỏi phân tán. Không được nhìn ra ngoài, không được nhìn xuống lễ tang. Đó là nghiêm lệnh. Nhiệm vụ tuy đơn giản, nhưng trọng trách thật nặng nề…

Cả hai phi đoàn Mích hạ cánh xuống sân bay, mà sân bay vẫn lặng như tờ. Anh em thợ máy ôm lấy thang máy bay đứng chết lặng. Phi công gục trên cần lái. Nhiều anh em khóc nức nở. Lúc này bộ đội mới được phép… khóc! Quảng thẫn thờ – Nhanh vậy! Thấm thoát mà đã 40 năm thực hiện Di chúc của Bác!

honvietquochoc.com.vn

Trần Đăng Khoa: Xuân về lại nhớ Bác Hồ

(VOV) – “Bác sống thế này mà ở dưới, có chú còn nhũng nhiễu làm khổ dân. Bác mà sống xa hoa thì ở dưới các chú đục khoét hết của dân à?”

Thi thoảng, trong đời sống công chức, chúng ta vẫn thường làm một việc không lấy gì làm mới mẻ: Kê khai tài sản. Nhìn bản Kê khai, ta lại mủi lòng: Sao mãi mình vẫn chưa giàu được nhỉ? Và rồi, ta lại được an ủi. Hóa ra ta vẫn chưa phải là người nghèo nhất. Ngay cả một người nông dân chân lấm, tay bùn, ở dưới đáy xã hội, nhưng vẫn có mảnh vườn, cái ao, hay chí ít cũng có con lợn, con gà. Nghĩa là vẫn có tài sản. Chỉ duy nhất một người dường như không có gì cả, một người nghèo nhất nước. Người đó là Bác Hồ, Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tác giả may mắn được nhiều lần gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp, học trò ưu tú của Bác Hồ

Lục lọi trong tiểu sử Bác, đến cả nhà riêng của Người, ta thấy Người có gì? Một tấm áo kaki, đôi dép cao su, chiếc quạt bằng lá cọ… Vật chất là thế đấy. Còn tinh thần ư? Bác cũng là người duy nhất không có bất kỳ các loại Huân, Huy chương gì, đến cả sơ đẳng nhất là Bằng khen, Giấy khen, Người cũng không có. Bác còn là người nghèo nhất cả trong cõi riêng tư. Đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký riêng của Bác kể lại, có những đêm, khuya rồi, Bác đã tắt đèn, nhưng trong phòng vẫn có tiếng đài. Đồng chí Vũ Kỳ tưởng Bác đã ngủ, rón rén đến tắt. Bác ngăn lại: “Đừng… Cứ để thế cho căn phòng Bác nó ấm, vì có tiếng người, tiếng phụ nữ…”

Ôi! Đài Tiếng nói Việt Nam! Vinh quang biết bao! Hạnh phúc biết bao khi Đài đã trở thành người bạn đường, người sẻ chia, an ủi Bác, trong những khoảnh khắc Người cô đơn nhất!

Nghĩ đến Bác, ngay cả một người bất hạnh đến cùng cực, cũng thấy được an ủi, sẻ chia. Hóa ra mình cũng vẫn chưa phải là người bất hạnh nhất.

Một người nghèo nhất nước như Bác, nhưng lại để cho chúng ta một di sản đồ sộ. Đó là một đất nước độc lập, toàn vẹn, một sự nghiệp Cách mạng chói ngời, một tấm gương trong sáng và lối sống cao đẹp đến tinh khiết.

Ta hiểu vì sao Bác luôn quan tâm đến những người nghèo, người lao động. Bác luôn hướng đến người lao động. Bác đặt tên Đảng là Đảng Lao động Việt Nam. Nghĩa là Đảng của tất cả mọi người, vì ai mà chẳng là người lao động. Bác còn dành lương mua quà cho người nghèo. Vào những dịp tết đến, xuân về, Bác thường chọn những gia đình nghèo nhất để đến thăm và chúc Tết.

Chuyến thăm rất bí mật, không báo trước để địa phương nghênh đón, rồi tuyên truyền, đưa tin. Thường chỉ có Bác và đồng chí Vũ Kỳ. Một chị lao công, ở trong khu hẻm nhỏ, đêm 30 Tết còn đi gánh nước thuê. Bàn thờ trống hoang, không có cả nải chuối, tấm bánh. Tết đến với mọi nhà, nhưng Tết lại quên căn nhà chị.

Bởi thế, chị bàng hoàng đến sửng sốt, buông rơi cả hai thùng nước, khi thấy Bác đột ngột xuất hiện trong căn nhà tồi tàn của mình: “Trời ơi, Bác…Gia đình cháu khổ lắm…Cháu không ngờ Bác lại đến với cháu..”. “Thế Bác không đến với cháu thì Bác còn đến với ai?…”. Chị bật khóc. Và Bác cũng khóc. Đó là một trong những cái Tết cuối cùng của Bác trong ký ức của đồng chí Vũ Kỳ.

Dân còn nghèo như thế, nên Bác sống rất đạm bạc tằn tiện. Bữa ăn của Người là bữa ăn của một nông dân nghèo. Tiếp khách quốc tế, Bác vẫn mang trang phục của một người nông dân nghèo. Bộ quần áo nâu và đôi dép cao su. Một đồng chí cán bộ tỉnh ái ngại: “Thưa Bác, Bác thay mặt cho Đảng, cho Dân, Bác vất vả thế này, có khi bạn bè quốc tế lại trách Đảng trách Dân không chu toàn với Bác…”.

Bác cười điềm đạm: “Bác sống thế này mà ở dưới, có chú còn nhũng nhiễu làm khổ dân. Bác mà sống xa hoa thì ở dưới các chú đục khoét hết của dân à?”

Cuộc đời của Bác, nếp sống của Bác là một bài học lớn cho các cán bộ cấp dưới. Ta hiểu vì sao trong những năm chiến tranh, đất nước loạn lạc, mà xã hội lại rất thanh bình, lòng dân không ly tán. Ra đường không lo trấn lột. Về nhà không sợ trộm cắp. Cũng không có tham nhũng, đĩ điếm. Một đời sống lành mạnh giữa một bầu khí quyển trong veo.

Một người suốt đời sống vì dân, lo cho dân, ngay trong những giây phút cuối cùng giã từ cõi đời, phần nói về mình, Về việc riêng, Người cũng chỉ dành cho mình đúng 79 chữ. 79 chữ tổng kết cả một đời người 79 năm, trong một ít chữ phong phanh ấy, Người cũng lại chỉ canh cánh lo cho dân, không muốn tổ chức tang lễ điếu phúng linh đình để đỡ tốn thời giờ và tiền bạc của dân.

Chúng ta đang học tập tấm gương Đạo đức và Tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng thế nào là Tư tưởng Hồ Chí Minh? Tôi cũng đã theo học và nghiên cứu. Có rất nhiều định nghĩa. Nhưng cũng không ít những quan niệm áp đặt và chủ quan. Nói về Tư tưởng Hồ Chí Minh, có lẽ không có ai nói hay hơn và chuẩn xác hơn cựu Tổng Bí thư Đỗ Mười. Mà ông cụ lại nói vo ở Hội Nhà văn, nói suốt 4 giờ liền về nhiều vấn đề mà giới văn chương rất tâm đắc.

Khi bàn về Tư tưởng Hồ Chí Minh, cụ Đỗ Mười đưa ra một định nghĩa rất ngắn mà vô cùng chuẩn xác: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là gì? Là Việt Nam hóa tất cả những tư tưởng tiên tiến nhất, đặc sắc nhất của nhân loại và biến chúng thành hiện thực ở Việt Nam!”

Quả đúng như vậy. Ta có thể tìm thấy trong những câu nói bất hủ của Người, những kinh nghiệm được đúc kết của rất nhiều thời đại. Và một trong những bài học sâu sắc Người để lại cho chúng ta là sự chiêm cảm tinh vi đến chuẩn xác và nghệ thuật dùng người. Đây chính là một bí mật của Bác mà chúng ta cần nghiên cứu, khám phá. Bác có tầm nhìn rất xa và rất chuẩn xác.

Năm 1941, Bác có bức tranh, vẽ cây kèn, con số 1945 cùng câu thơ “Việt Nam Độc lập thổi kèn loa”. Sau quả đúng như vậy. Và như thế, Bác đã “nhìn” thấy ngày Độc lập từ năm 1941. Sau này Người cũng đoán chuẩn xác năm giải phóng Sài gòn. Tối 30/4/1960, trong diễn văn chào mừng Quốc tế Lao động tại Nhà hát Lớn Hà Nội, có một dòng rất đặc biệt, lúc đó Người đã giấu đi bằng một nét gạch xóa, nhưng vẫn còn được lưu giữ trong Bảo tàng Hồ Chí Minh “…Cùng lắm cũng chỉ 15 năm nữa, nước nhà sẽ thống nhất, đồng bào Nam, Bắc sẽ sum họp một nhà…”.

“15 năm nữa…” tính từ thời điểm năm 1960 thì đúng là năm 1975. Rất chuẩn xác. Bởi thế, có người coi Bác như một vị Thánh. Tài nhất là nghệ thuật dùng người. Đây chính là mấu chốt quyết định sự thắng lợi của Cách mạng. Năm 1946, khi phải rời Tổ Quốc, Người lại trao toàn quyền điều hành đất nước cho cụ Huỳnh Thúc Kháng và chỉ dặn một câu:  “Dĩ bất biến ứng vạn biến”.  Với một nhà Nho uyên thâm như cụ Huỳnh, chỉ nói thế là đủ.

Điều đáng ngạc nhiên, sao lúc ấy, tình thế rất phức tạp, thù trong, giặc ngoài, trong Chính phủ có bao nhiêu Đảng viên cốt cán, Bác không trao, mà lại trao quyền điều hành đất nước cho một nhân sĩ không phải Đảng viên là cụ Huỳnh Thúc Kháng? Đưa một người không phải Đảng viên lên chức vụ lớn, lại trao cho cả vận mệnh đất nước là một quyết định táo bạo.

Nhưng bằng lối ứng xử rất đẹp ấy, Bác đã quy tụ được tất cả những tinh hoa của dân tộc đến với cuộc kháng chiến cứu nước và kiến quốc. Bởi thế, rất nhiều nhân sĩ, trí thức, ở nhiều đảng phái khác nhau đều tìm đến với Người, có không ít người từ bỏ đời sống nhung lụa, trở về Tổ Quốc, cùng đồng cam cộng khổ với Người. Những năm tháng cam go ấy, không có nhiều ban bệ, tư vấn, mà sao Bác dùng người chuẩn thế. Những cán bộ được Bác chọn, trao việc đều trở thành những nhân vật xuất sắc của lịch sử đất nước.

Đặc biệt là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Nhiều lúc tôi cứ vân vi tự hỏi, bằng phép nhiệm màu nào mà Bác đã nhìn thấy khả năng thiên tài quân sự trong Võ Nguyên Giáp, một người chưa từng qua bất kỳ một khóa học quân sự nào?. Lúc ấy, ông Giáp chỉ đơn thuần là một ông giáo dạy sử ở trường tư thục Thăng Long.

Một con người hoàn toàn xa lạ với quân binh, trận mạc, vậy mà Bác lại trao cho việc phụ trách quân sự, rồi phong thẳng lên Đại tướng và ủy nhiệm cho toàn quyền quyết định việc quân: “Chú là Tướng biên ải, Tướng ngoài mặt trận, có gì cần thiết, chú cứ quyết rồi báo cáo Bác sau!”.

Sau này, ta mới biết việc chọn Tướng Giáp của Bác tài tình đến như thế nào. Võ Nguyên Giáp quả là một thiên tài quân sự. Tên tuổi ông có thể đặt bên cạnh những tên tuổi lừng danh nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc: những Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, Quang Trung… Vậy bằng cách nào Bác phát hiện được khả năng tiềm ẩn một Thiên tài quân sự trong dáng vẻ bạch diện thư sinh của một ông giáo dạy sử ở một trường phổ thông? Đó chính là một bí mật.

Nhà báo nổi tiếng Mỹ Lady Borton kể lại rằng, có lần, mấy nhà báo Pháp cũng rất ngỡ ngàng hỏi Chủ tịch Hồ Chí Minh một câu hỏi khá hắc búa: “Thưa ngài Chủ tịch, ngài phong ông Giáp lên thẳng chức Đại tướng, là phong theo tiêu chí nào?”. Bác bảo: “Nước tôi là nước du kích. Chúng tôi đánh giặc theo lối du kích, thì phong hàm cũng là phong theo kiểu du kích. Ông Giáp của chúng tôi đã đánh thắng tất cả các ông tướng tài giỏi của nước Pháp, vậy thì ông ấy phải là Đại tướng thôi”. Nói rồi, Bác cười rất sảng khoái. Mấy nhà báo quốc tế cũng cười. Câu hỏi móc mói nhuốm màu bùa chú đã bị hóa giải.

Bác của chúng ta là thế đấy!. Người rất tài biến những chuyện to tát, nghiêm trọng thành những điều hết sức giản dị, mộc mạc. Chỉ những người từng trải, uyên thâm và lịch lãm lắm mới có thể làm được như thế…/.

Trần Đăng Khoa

vov.vn

Nhà 67 – nơi Bác Hồ để lại muôn vàn tình thương yêu

Bàn làm việc của Bác Hồ tại nhà 67 trong Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, Hà Nội. Ảnh: L.Q.V

Nhà 67 – được gọi tên theo năm công trình xây dựng và hoàn thành (năm 1967) được xây dựng theo Chỉ thị của Bộ Chính trị bố trí nơi làm việc cho Bác để phòng tránh chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc. Bác đã ở làm việc và đi xa từ đây, để lại bao tiếc thương cho nhân dân cả nước. Ngôi nhà này cũng đơn sơ giản dị như bao ngôi nhà khác ẩn mình dưới những tán cây cổ thụ trong Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Căn nhà hoàn thành ngày 20/7/1967, một thời gian sau do chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ diễn ra ngày một ác liệt, Bác mới đồng ý chuyển xuống làm việc ở đây. Nơi đây cũng là nơi Bác họp với Bộ Chính trị bàn và ra những quyết định quan trọng liên quan đến vấn đề xây dựng kinh tế ở miền Bắc, đường lối ngoại giao, đường lối quân sự cho hai miền.

Đây cũng là nơi Bác tiếp các đồng chí lãnh đạo ở Trung ương Cục miền Nam, ở Quân khu V ra họp và làm việc như: Đồng chí Nguyễn Văn Linh, đồng chí Võ Chí Công… Buổi họp đầu tiên của Bộ Chính trị tổ chức tại đây là nghe đồng chí Lê Đức Thọ báo cáo về diễn biến của Hội nghị Pa-ri, đồng thời chuyển một số bức họa của các bạn người Pháp gửi tặng Bác. Có lần Bộ Chính trị đang họp thì máy bay địch đến bắn phá Hà Nội, Bác và đồng chí Văn Tiến Dũng gọi điện thoại động viên các đơn vị quân đội và dân quân tự vệ tại Hà Nội đã bắn rơi máy bay Mỹ…

Các đồng chí lãnh đạo bên quân đội thường được Bác gọi tới báo cáo với Bác về tình hình chiến sự. Đồng chí Phùng Thế Tài báo cáo về tình hình chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ tại miền Bắc và chiến công của quân dân miền Bắc bắn rơi máy bay và bắn chìm tàu chiến của đế quốc Mỹ. Đồng chí Lê Ngọc Hiền – Cục trưởng Cục Tác chiến thường xuyên báo cáo Bác về tình hình chiến sự tại miền Nam. Trong phòng treo 2 bản đồ: Bản đồ theo dõi bố trí binh lực địch ở miền Nam, bản đồ theo dõi các bước leo thang bắn phá miền Bắc của Đế quốc Mỹ để cho Bác tiện theo dõi diễn biến chiến sự.

Năm 1969, sức khỏe Bác giảm sút nhiều nhưng Bác vẫn tiếp khách và làm việc bình thường. Ngày 19/5.1969 – đúng sinh nhật, Người tiếp đồng chí Nguyễn Hữu Mai – Bộ trưởng Bộ Điện – Than đến báo cáo công việc của ngành. Đối với ngành công nghiệp quan trọng này bác thể hiện sự quan tâm đặc biệt.

Chiều 24/8/1969, Bác cùng đồng chí Tố Hữu nghe Đài Tiếng nói Việt Nam phát bài “Diễn ca Điều lệ Hợp tác xã nông nghiệp”, nghe xong Người căn dặn đồng chí Tố Hữu nên phổ biến cách tuyên truyền bằng hình thức diễn ca này để bà con nông dân dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm.

Bác quan tâm chỉ đạo xuất bản sách người tốt việc tốt viết về nông dân với chủ đề “Hậu phương thi đua với tiền phương”. Không chỉ đối với giai cấp công nhân, giai cấp nông dân mà đối với các ngành, các giới, các địa phương, Người đều dành sự quan tâm sâu sát. Bác thường gửi thư khen, tặng huy hiệu đến những người có thành tích trong lao động, trong chiến đấu và là tấm gương tốt trong tu dưỡng đạo đức… do đài báo phát hiện, do các ngành, đoàn thể đề nghị.

Nhân dịp kỷ niệm Đảng ta 39 tuổi (3/2./1969), tại ngôi nhà này, Bác đã viết bài báo “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Đây là bài báo cuối cùng Người viết đăng trên Báo Nhân Dân. Bài báo được Bác trao đổi ý kiến nhiều lần với đồng chí Tố Hữu, Bác yêu cầu đồng chí Cù Văn Chước ngồi bên để ghi lại những ý kiến của Bác về nội dung bài báo này. Bài báo đã trở thành tài liệu quan trọng trong hệ thống các bài viết của Người về công tác xây dựng Đảng.

Từ bài giảng cho lớp cán bộ đảng viên ở Quảng Châu “Tư cách người cách mạng” đến khi người viết Di chúc trước lúc đi xa và dặn lại “Việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”. Ngày 17.8.1969, theo lịch, các bác sĩ kiểm tra sức khỏe phát hiện thấy tim Bác không bình thường, đã đề nghị Người không lên thang gác nhà sàn nữa. Bác đồng ý chuyển ở hẳn tại nhà 67.

Tuy sức khỏe kém đi nhiều nhưng Bác vẫn nghe đồng chí Cù Văn Chước – người giúp việc cho Bác đọc báo chí để nắm bắt tình hình và vẫn xử lý công việc hằng ngày của một vị Chủ tịch nước. Ngày 24/8/1969, sức khỏe của Người đã diễn biến phức tạp, tối hôm đó, một cơn đau tim đột ngột làm cho Bác mệt hơn. Từ ngày 25/8/1969, nhà 67 trở thành nơi chăm sóc, chữa bệnh cho Người.

Năm ấy lũ tràn về, nước trên sông Hồng lên to. Tại giường bệnh Bác vẫn quan tâm nhắc Bộ Chính trị phải tìm mọi cách phân lũ không để nước tràn về Hà Nội, để đồng bào không bị lâm vào cảnh lụt lội. Khi đồng chí Phạm Văn Đồng đến bên giường Bác báo cáo về kết quả phân lũ, Người nở nụ cười, khuôn mặt rạng ngời mãn nguyện. Người dặn đồng chí Phạm Văn Đồng: “Các chú nhớ bắn pháo hoa để đồng bào vui, Bác sẽ cố gắng gặp đồng bào mươi phút…”.

Người đã không dự lễ Quốc khánh cùng đồng bào như ước nguyện được. Người đã ra đi nhẹ bước tiên vào hồi 9h47 phút ngày 2/9/1969, vào chính ngày Người đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cách đó 24 năm về trước.

Theo Đỗ Văn Phú
(Theo tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh)
Laodong.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Câu lạc bộ Phô Bua, nhà văn Léo Poldes và vở kịch Con rồng tre của Nguyễn Ái Quốc

Đầu những năm 20 của thế kỷ trước, Thủ đô Pari, nước Pháp là nơi được chứng kiến nhiều hoạt động sôi nổi và phong phú của Nguyễn Ái Quốc…

24.jpg

Người đã dũng cảm đối đầu với nhà cầm quyền Pháp, tranh thủ sự ủng hộ giúp đỡ của nhiều người, bằng mọi hình thức tuyên truyền, vận động, đấu tranh cho một nước Việt Nam độc lập. Câu lạc bộ Faubourg, thành lập từ năm 1914, là một trong những nơi Nguyễn Ái Quốc thường đến dự và có những hoạt động tuyên truyền. Bài viết này của chúng tôi xin cung cấp cho bạn đọc một số thông tin về Câu lạc bộ Faubourg, nhà văn Léo Poldès, chủ nhiệm câu lạc bộ và vở kịch Con Rồng tre, do chính Léo Poldès và Bác Hồ của chúng ta kể lại.

Bác Hồ đã viết về Câu lạc bộ Faubourg (có nghĩa là ngoại ô) như sau:

“Câu lạc bộ ngoại ô. Gọi tên nó như thế, là theo truyền thống đại cách mạng Pháp từ năm 1789. Sự thật thì không phải là một câu lạc bộ chính cống mà cũng không ở ngoại ô. Một người trí thức phái tả tên là Pôn-đét (Poldès) có sáng kiến tổ chức “câu lạc bộ” lưu động, mỗi tuần họp một lần, khi họp chỗ này, khi họp nơi khác ở Thủ đô Pari. Thường có độ ba trăm người đến dự, đủ các xu hướng chính trị và các tầng lớp xã hội. Đại đa số là công nhân và tiểu tư sản “khai minh”. Nhưng cũng có ông nọ bà kia. Họ thảo luận những vấn đề thời sự, chính trị hoặc văn hóa xã hội. Một người trình bày vấn đề (có chuẩn bị trước). Sau đó, mọi người tự do phát biểu ý kiến.

Cuộc bàn cãi luôn luôn sôi nổi, nhưng rất thân mật. Mỗi lần họp, anh Nguyễn (tức Bác Hồ) đều phát biểu ý kiến. Và bất kỳ vấn đề gì anh cũng khéo lái nó về kết luận lên án thực dân. Một ví dụ: Trong một cuộc thảo luận về thuật “thôi miên”, sau khi nhiều người nói tin, nhiều người nói không tin, anh Nguyễn xin phát biểu ý kiến. Anh nói: “Tin cũng được, không tin cũng được. Nhưng tôi xin mạn phép nói thật rằng bác sĩ Cu-ê (người thạo giỏi thuật “thôi miên”) chưa giỏi bằng thực dân Pháp. Mỗi năm, với hàng nghìn tấn thuốc phiện, chúng đang làm cho hàng triệu người Việt Nam ngủ say đến nỗi quên mình là vong quốc nô”.

Anh Nguyễn được mọi người hoan nghênh. Vì thái độ anh khiêm tốn và lời lẽ của anh gọn gàng. Lại vì ở câu lạc bộ và có lẽ ở cả Pari chỉ có anh là người Việt Nam dám lên tiếng chống thực dân Pháp. Một kết quả tốt là nhiều người đồng tình với anh và anh đã trở thành người tuyên truyền cho cách mạng Việt Nam”. 1

“Một lần khác hội nghị thảo luận vấn đề Ái-nhĩ-lan và Triều Tiên. Tất nhiên những nhà diễn giả Pháp đều nghiêm khắc công kích chính sách của Anh, của Nhật và bênh vực nhân dân Ái-nhĩ-lan, nhân dân Triều Tiên. Ông Nguyễn phát biểu ý kiến:

Cũng là một dân tộc bị áp bức, tôi hoàn toàn đồng tình với những người bạn Ái-nhĩ-lan, nhân dân Triều Tiên, và đồng tình với hội nghị kết án bọn thực dân Anh, Nhật. Nhưng tôi hỏi các ngài có nên kết án cả những bọn thực dân khác không? Có nên bênh vực nhân dân bị áp bức khác không? Có hay không?”… Mọi người đều trả lời là có. Thế là được dịp ông Nguyễn trình bày vấn đề Việt Nam”. 2

Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Pari, với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp, đã làm cho chủ nhiệm Câu lạc bộ Faubourg Léo Poldès và nhiều người bạn khác một sự ngạc nhiên sửng sốt.

Câu chuyện của hơn 20 năm trước, được Léo Poldès nhớ và ghi lại trong sự bàng hoàng, ngạc nhiên “Vì sao, Nguyễn Ái Quốc, người thợ ảnh giản dị kia đã chết năm 1933 mà nay năm 1946 đã là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Xin trích dẫn sau đây một đoạn trong bài viết của Léo Podès về Nguyễn Ái Quốc, vở kịch Con Rồng tre và về Câu lạc bộ Faubourg, đăng trên tuần báo “Paris, số 53”, ngày 11, 12-6-1946. Câu chuyện nhẹ nhàng đưa chúng ta về với những sự kiện xảy ra từ nhiều năm trước như đi vào thế giới cổ tích:

“Ngày xưa đúng thực là một câu chuyện cổ tích, có một bác thợ Việt Nam nghèo nàn, sống giản dị trên một căn gác thượng, trong ngõ hẻm Compoint, giữa một khu chen chúc toàn dân lao động. Tên bác ta là Nguyễn Ái Quốc, bác làm nghề rửa ảnh.

Một chiều kia, cách đây chừng 25 năm, hôm ấy có phiên họp các hội viên Câu lạc bộ Faubourg tại rạp hát Printanis, ở góc đại lộ Clichy và phố Richaud, bác Nguyễn Ái Quốc đã tới đây ngập ngừng hỏi tôi xem liệu bác dù là một kẻ lao động xoàng xĩnh, có thể được hân hạnh vào góp lời trong những cuộc thảo luận của những tay tài ba lỗi lạc, đã làm rạng rỡ văn đàn Câu lạc bộ Faubourg của chúng tôi được không.

Tôi bèn trả lời: “Ông chớ ngại điều đó. Với quan niệm chúng tôi, thì sự tự do phát biểu ý kiến, là của tất cả mọi người. Ý kiến xác đáng, hay ho của một người, dù người ấy chỉ là một người thợ, cũng được đặc biệt chú ý như những ý kiến của một vị Quốc trưởng.

Bác nhún vai, mỉm cười, nói: “Podès quý ngài à, tôi chỉ là nhà cách mạng, ngài ví tôi với những vị quốc trưởng, tôi xin đưa ngài xem đây tập bản thảo của tôi. Tuy chỉ là một người thợ ảnh nghèo nàn, nhưng tôi cũng có viết được một kịch bản, nhan đề bản kịch đó là “Con Rồng tre” (Le dragon de bambous) viết ra cốt là để công kích những vị Quốc trưởng.

Rồi ông tinh quái nói tiếp: “Chắc chắn là không ai dám đem diễn trên sân khấu đâu, ngay như ngài rồi ngài cũng đến quẳng vào sọt rác”. Nhưng ông Nguyễn đã nhầm”.

Léo Podès đã nhận xét về vở kịch Con Rồng tre như sau:

“Tôi đã đọc tập bản thảo, thật là hay, thật là đẹp, lời vừa trải chuốt gọn gàng, với những cái châm biếm dí dỏm của Aistophan 3 bản kịch này có đủ ưu điểm để mang lên sân khấu.

“Con Rồng tre” đầu đề kịch bản chỉ một vị Quốc trưởng Á-Đông, đớn hèn bất lực và ngu dốt, mà tác giả không hà tiện lời chế diễu một cách cay nghiệt, hóm hỉnh suốt trong ba hồi; khi ấy bản thân ông Nguyễn Ái Quốc không ngờ rằng bản kịch của mình đã bao lần chủ kịch bản từ chối không dám diễn mà lại được nhóm Faubourg chúng tôi nhiệt liệt hoan nghênh, và nhất là ông lại không ngờ rằng 25 năm sau người thợ ảnh ở ngõ hẻm Compoint, tác giả “Con Rồng tre”, lại trở thành một vị Quốc trưởng với cái tên mới Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, dùng cơm với tướng Leclerc, với Thượng sứ đô đốc D’ Argenlieu, cùng đi duyệt một đạo binh Pháp, và được nghênh tiếp chính thức bởi vị Chủ tịch Pháp ở Pari.”

Vở kịch Con Rồng tre viết về Vua bù nhìn Khải Định, vào dịp ông ta sang Pháp dự triển lãm thuộc địa. Vở kịch bị Chính phủ Pháp cấm, nhưng được Câu lạc bộ Faubourg đem diễn. Vở kịch này hiện chưa sưu tầm được, chúng ta chỉ biết tới nội dung kịch bản qua mấy dòng kể tóm tắt của Bác như sau: “Có những cây tre thân hình quằn quẹo. Những người chơi đồ cổ lấy về đẽo gọt thành con rồng. Nó là một đồ chơi. Là con rồng nhưng thật ra chỉ là một khúc tre. Là khúc tre, nhưng lại hãnh diện có tên và hình dáng con rồng. Tuy vậy nó chỉ là một quái vật vô dụng”. Khải Định chính là một ông vua vô dụng.

Léo Podès còn nhớ và viết khá chi tiết về những buổi sinh hoạt của Câu lạc bộ Faubourg mà Nguyễn Ái Quốc tham dự. Tờ báo Le Paria (Người cùng khổ), mà Nguyễn Ái Quốc là một trong những người sáng lập, ra số đầu tiên ngày 1-4-1922. Ngay trên trang nhất của số báo này có đăng thông báo về đề tài Sân khấu Việt Nam, do Nguyễn Ái Quốc trình bày trong chương trình sinh hoạt tháng 4-1922 của Câu lạc bộ Faubourg 4. Tài liệu của mật thám Pháp theo dõi hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở Pari cũng ghi lại những lần Nguyễn Ái Quốc đến dự sinh hoạt ở Câu lạc bộ Faubourg, trong đó có lần Nguyễn Ái Quốc phân phát cho những người dự sinh hoạt câu lạc bộ tờ Truyền đơn cổ động mua báo Le Paria 5.

Nguyễn Ái Quốc rời Pari, Thủ đô nước Pháp, sang Mátxcơva, Liên Xô một cách lặng lẽ và bí mật. Cũng như nhiều người bạn Pháp, ông chủ nhiệm Câu lạc bộ Faubourg cũng không biết là Nguyễn Ái Quốc đã đi đâu. Chỉ đến khi có tin về Pari, Nguyễn Ái Quốc đã bị chết trong nhà tù của đế quốc Anh ở Hông Kông, Léo Poldès đã viết đăng tin trên tờ Faubourg:

“Không phân biệt khuynh hướng khác nhau, hết thảy anh em chúng tôi đề lấy làm đau đớn khi hay tin ông Nguyễn Ái Quốc đã mệnh chung ở Hồng Kông”…

Tờ Faubourg ra ngày 1-7-1933 có trích đăng một bài sau: “Nói về Nguyễn Ái Quốc vị lãnh tụ Đảng Cộng sản”, tờ tạp chí Pháp – Việt có viết: “Ông không vắng mặt một buổi họp nào ở Câu lạc bộ Faubourg, ở đây ông ta đã từng đứng lên diễn thuyết trước mọi người. Ông ta đã viết báo. Người ta thường gặp ông hồi 6 giờ chiều ở những phòng trị sự các nhà báo. Ông mang lên đây những câu chuyện ngắn hay một tập truyện vì ông từng khảo cứu về văn nghệ, sau này ông hoàn toàn thiên về chính trị và ông đã thiết tha cống hiến cả một đời để phụng sự khuynh hướng ấy”. “Người chiến sĩ xấu số đã mệnh chung trong nhà giam. Người ta lại nhớ đến những cuộc họp ở Câu lạc bộ Faubourg, đến những lời nói thông minh hóm hỉnh trong buổi họp, đến bản kịch bất hủ của ông: “Con Rồng tre”. Hỡi các vị thần linh của cõi Á – Đông, các ngài hẵy săn sóc giữ gìn lấy linh hồn ông”.

Khi được biết Nguyễn Ái Quốc vẫn còn sống, trở lại Pari với tư cách khác, Léo Podès đã rất hóm hỉnh viết rằng: “Và những vị thần linh ấy đã giữ gìn linh hồn ông khỏe đến nỗi, ngày nay người thợ ảnh mày râu nhẵn nhụi kia đã sống lại giữa khuôn mặt đáng kính có thêm một nhúm râu dài của Cụ Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Léo Podès nhắn gửi rằng: “Hồ Chí Minh đức ngài, mai đây từng dãy người xếp hàng một diễu qua chào mừng đức ngài trước điện Chamos D’ Elysé, bên cạnh ngài khi ấy là vị Chủ tịch lâm thời nước Cộng hòa Pháp. Chúng tôi thiết tha mong đức ngài nhớ lại cái hồi đầu tiên của đức ngài trong Câu lạc bộ Faubourg. Nhớ lại những vấn đề quỷ thần, sự tái sinh, và nhất là đức ngài hãy rủ lòng thương nhớ đến người thợ ảnh nhỏ bé ở ngõ Compoint khi xưa…6”.

Nguyễn Ái Quốc không thể quên những ngày Pari. Tháng 5-1946, khi đến nước Pháp với tư cách Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, là thượng khách của Chính phủ Pháp, ngoài chương trình làm việc chính thức, gặp gỡ với Chính phủ Cộng hòa Pháp, Người dành nhiều thời gian tiếp xúc, gặp gỡ kiều bào, các nhà văn, nhà báo, bạn bè cũ. Và đương nhiên là Người đã gặp lại nhà văn Léo Poldès. Nhật ký bốn tháng sang Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi lại: Ngày 8-7-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp vợ chồng nhà văn Poldès; Ngày 15-7-1946, vợ chồng nhà văn Poldès mời Người vê quê chơi, cách Pari chừng 30 cây số. Nhà ông Poldès, rừng bao bọc xung quanh. Thanh vắng mát mẻ. Cây tốt hoa thơm. Ăn cơm rồi, Cụ Chủ tịch kéo ghế nằm dưới gốc cây. Thật đúng là:

“Thảnh thơi vui thú yên hà,
Tùng là bạn cũ, hạc là người quen”.

Nhân dịp kỷ niệm 50 năm thành lập Câu lạc bộ Faubourg, ngày 1-5-1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tặng ông Léo Poldès, Chủ tịch của câu lạc bộ Huy chương Hữu nghị của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 7.

Những câu chuyện kể về những tình cảm của những người bạn Pháp đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó có ông Chủ nhiệm Câu lạc bộ Faubourg là những dấu ấn đặc biệt trong những năm tháng hoạt động cách mạng sôi nổi, oanh liệt của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh ở Thủ đô Pari. Năm tháng qua đi, song tình cảm của những người bạn Pháp đối với Bác Hồ kính yêu của chúng ta, mà cũng là đối với cách mạng Việt Nam, mãi mãi được giữ gìn, trân trọng, góp phần củng cố và xây dựng tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước hôm nay.

___________________________

1. Bác Hồ (hồi ký), In lần thứ hai, Nxb. Văn học, 1975, tr. 21.
2. Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.40.
3. Aistophan là thi sĩ Hy Lạp nổi tiếng về tài châm biếm hài hước, sống vào thế kỷ thứ 5 trước Tây lịch.
4. Báo lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh
5. Báo cáo của mật thám Pháp, lưu Kho tư liệu BTHCM, ký hiệu: H20C11/7
6. Những đoạn in nghiêng trong bài đều được trích từ bài viết của Léo Podès.
7.Bút tích ghi lại sự kiện này lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Theo Phạm Thị Lai

hochiminhhoc.com