Thư viện

Bài nói chuyện với cán bộ và nhân dân xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm (Hà Nội) (12-1-1958)

Thưa các cụ, các đồng chí,

Thay mặt Đảng và Chính phủ, tôi gửi lời thǎm hỏi đến đồng bào nông dân ngoại thành đang cố gắng chống hạn. Hôm nay tôi đến thǎm xã Mễ Trì vì được báo cáo đồng bào xã này đã có công chống hạn, vì chi bộ, chi đoàn, nông hội, phụ nữ, các chiến sĩ thi đua, các lão nông đã cố gắng.

Xã Mễ Trì làm được tốt, các xã khác chưa làm được như vậy. Vì sao? Nhân dân ngoại thành có 14 vạn người. Nếu trừ cụ già, em bé, phụ nữ có thai nghén thì cũng còn 10 vạn người có sức lao động. Diện tích ruộng là 12.600 mẫu. Nếu chia trung bình ra thì 8 người chống hạn cho 1 mẫu. Một mẫu mà 8 người làm, nhất định được.

Thế tại sao đến nay ngoại thành không làm được?

Chống hạn phải khẩn trương như đánh giặc. Chúng ta sống ở trên mạch nước. Cứ đào thì nhất định có nước, chỉ có đào nông hay sâu mà thôi. Dưới đất có nước sông, nước mạch thấm vào, đào thì phải thấy. Đào 5 nơi không có, đào mãi cũng phải có. Mình thiếu kinh nghiệm thì phải ra sức nghĩ cách bổ sung thêm.

Trước kia đánh giặc, ta không có tàu bay, tàu bò. Giặc mạnh hơn ta nhưng cuối cùng ta vẫn thắng được giặc. Vì ta có sức đoàn kết, vì ta có quyết tâm.

Ở ngoại thành ta có 700 đảng viên, 800 đoàn viên thanh niên lao động, 3 vạn hội viên nông hội, có 363 tổ đổi công. Đó là lực lượng đầu tàu. Trong 10 vạn nhân dân có lực lượng đầu tàu lớn như vậy thì lãnh đạo thi đua chống hạn nhất định thắng lợi.

Kháng chiến khó hay chống hạn khó? Nhất định kháng chiến khó hơn. Nhưng tại sao ngoại thành tới nay chưa chống được hạn?

Đó là vì còn có tư tưởng sai lệch, phải chống hạn ngay trong tư tưởng. Đó là vì thiếu quyết tâm, thiếu đoàn kết, thiếu tư tưởng lâu dài.

Thấy hạn thì bỏ ruộng đi buôn, vậy thử hỏi có tiền mà không có gạo thì có ǎn được không? Nếu ai cũng bỏ ruộng đi buôn cả thì dù có ngồi trên đống vàng cũng không có gì mà ǎn. Thóc lúa ǎn được, vàng có ǎn được không?

Nhân dân ta phải bám lấy đồng ruộng. Ruộng là chính. Nông nghiệp là chính. Phải thấy xa, đừng chỉ nhìn lợi trước mắt mà quên lợi sau. Đừng có thấy cây mà chẳng thấy rừng.

Phải chống tư tưởng ỷ lại vào dân công các nơi, đợi Chính phủ điều động về, đợi nhân dân các nơi giúp, ỷ lại vào máy bơm.

Muốn có máy bơm phải làm máy bơm. Muốn làm máy bơm phải xây dựng nhà máy. Lấy tiền đâu xây dựng nhà máy? Tiền của dân. Một nhà máy phải xây dựng 2 nǎm mới xong. Hạn có chờ ta có máy bơm không? Không.

Thế thì ta phải tự lực cánh sinh và giúp đỡ lẫn nhau.

Có xã phải chống hạn lâu hơn, có xã đông người hơn, xã đông người giúp xã ít người, xã phải chống hạn ít giúp xã phải chống hạn nhiều, phải đẩy mạnh xây dựng, củng cố các tổ đổi công thì chống hạn mới có kết quả. Chính phủ, Uỷ ban sẽ động viên nhân dân giúp nhau chống hạn.

Một tư tưởng sai lầm là cầu trời, cầu đảo. Khi ta làm cách mạng thì trời làm hay người làm? Khi ta kháng chiến thì trời làm hay người làm? Nǎm trước chống hạn được là vì người hay vì trời?

Trời làm hạn là xấu, ta phải chống lại. Ta phải chống hạn chứ không phải cầu trời.

Nếu chỉ cầu trời thì ngày nay không có nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Còn một tư tưởng sai nữa, đó là tư tưởng ích kỷ, địa phương chủ nghĩa. Xóm này đào mương lại sợ các xóm bên cạnh được hưởng. Ví dụ: xã Yên Hoà đào mương lại sợ xã Hoà Bình được hưởng. Như thế là không đúng.

Được mùa thì mọi người được hưởng, nếu không chống hạn thì mọi người đều chịu thiệt cả.

Chống hạn cũng là một chiến dịch: các chi bộ, Uỷ ban phải thiết thực lãnh đạo, phải cùng chống hạn, phải cùng làm với nhân dân. Các đảng viên, đoàn viên, nông hội, phụ nữ phải quyết tâm.

Trong kháng chiến, trong cách mạng, giặc mạnh hơn ta nhưng ta vẫn thắng được giặc. Vì ta có quyết tâm và đoàn kết.

Đảng và Chính phủ sẽ khen thưởng những đơn vị và những cá nhân nào chống hạn tốt, sẽ thưởng cờ, thưởng huy hiệu, thưởng huân chương…

Nói tóm lại, muốn chống hạn được tốt phải:

– Chống lại tư tưởng sai lệch.

– Quyết tâm đoàn kết nhất trí, giúp đỡ lẫn nhau thi đua chống hạn.

– Có thưởng, có phạt.

Bây giờ tôi nói vấn đề ǎn Tết. Còn hơn một tháng nữa thì Tết.

Nǎm ngoái bà con ǎn Tết mổ lợn, mổ bò, mổ gà. Ǎn tiêu xa xỉ, cờ bạc, rượu chè, ǎn xong rồi thiếu trâu bò cày. Đây là chưa kể rước xách linh đình, đồng bóng, bói toán, v.v. thật là lãng phí, thiếu tiết kiệm, ảnh hưởng không tốt đến tǎng gia sản xuất, ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục.

Nǎm nay nhất định sửa. Tết vui vẻ không phải là chén chú chén anh. Tết nǎm nay phải là Tết vui vẻ, lành mạnh, tiết kiệm, nhưng phải tích cực chống được hạn.

Mỗi người phải ra sức chống hạn. Ai ai cũng thi đua tham gia chống hạn. Các cụ già có kinh nghiệm, thanh niên có sức lực làm đầu tàu. Các cháu nhi đồng ra đồng động viên, nấu nước cho đồng bào uống. Mỗi người một tay, già trẻ góp sức, nhất định chống được hạn thắng lợi.

Đồng bào hãy giữ tiếng cho ngoại thành của Thủ đô. Ngoại thành cũng là Thủ đô. Mà “thủ” là đầu, phải đi đầu, phải kiểu mẫu chống hạn thắng lợi.

Lực lượng điều khiển xung phong là chi bộ, là đảng viên phải gương mẫu.

Có quyết tâm, có đoàn kết nhất trí, nhân dân ta nhất định chống hạn có kết quả tốt.

Cuối cùng tôi nhờ các cụ, các đại biểu, các đồng chí chuyển đến tận đồng bào những sự quan tâm của Đảng và Chính phủ.

Đảng, Chính phủ và tôi sẵn sàng khen thưởng thích đáng cho những xã nào, đơn vị nào, cá nhân nào có nhiều thành tích trong việc chống hạn.

————————–

Nói ngày 12-1-1958.
Sách Thủ đô Hà Nội phải là thành phố gương mẫu, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985, tr.94-98.
cpv.org.vn

Bài nói tại Hội nghị chống hạn tỉnh Hà Đông (12-1-1958)

Hôm nay, Bác thay mặt Trung ương Đảng, Chính phủ hỏi thǎm các cụ phụ lão, đồng bào, cán bộ, các cháu thanh niên và nhi đồng.

Bây giờ, Bác nói chuyện với các cô, các chú về quyết tâm chống hạn.

Tình hình hạn nghiêm trọng như thế nào đồng bào đã biết rõ. Diện hạn ở Hà Đông nói chung không rộng, nếu cố gắng vẫn chống được. Vì dân số Hà Đông có 82 vạn 4 nghìn người, ruộng cấy chiêm có 40 nghìn 3 trǎm hécta. Trừ một phần ba là các cụ già yếu, phụ nữ có thai nghén, các em bé chưa có sức lao động, cũng còn 54 vạn 9 nghìn người, tính đổ đồng 12 người chống hạn cho 1 hécta, như vậy có khó quá không? Có làm được không? Nhất định làm được.

Chúng ta có chủ lực rất lớn là đảng viên, đoàn viên thanh niên lao động, hội viên nông hội, cộng lại là 27 vạn 3 nghìn người. Mỗi người có tổ chức chỉ cần khuyến khích động viên, đánh thông tư tưởng cho một người nữa là được. Chúng ta có lực lượng tổ đổi công là hơn 2 nghìn 8 trǎm tổ, lại có bộ đội tham gia, nghĩa là có một lực lượng rất lớn để chống hạn và tǎng gia sản xuất.

Ngoài ra, tỉnh Hà Đông lại có điều kiện thuận lợi hơn nhiều tỉnh khác là có nhiều sông như sông Hồng, sông Nhuệ, sông Đáy, sông Bùi.

Sức người có, điều kiện thiên nhiên có, nhưng chống hạn đến nay còn kém, trước hết là vì tư tưởng chưa thông:

– Có người bi quan, sợ khó, không tin vào đào giếng, đào mương, không hiểu rằng làm việc gì cũng có khó khǎn, chỉ có khó nhiều, khó ít nhưng nếu có quyết tâm là vượt được. Tư tưởng ỷ lại vào máy bơm nước cũng không đúng. Nếu tỉnh nào cũng chờ máy bơm thì Chính phủ phải có hàng vạn cái, phải mở nhà máy, mà mở nhà máy thì phải có tiền, nhân dân phải xuất ra và ít nhất cũng phải 2 nǎm. Nếu chờ máy bơm nước thì ngồi bó tay trong 2 nǎm hay sao?

– Một số đồng bào chỉ thấy lợi trước mắt, không thấy lợi lâu dài, chỉ thấy lợi ích cá nhân, không thấy lợi ích tập thể, cho nên đã bỏ ruộng đi buôn hoặc làm nghề khác, không tham gia chống hạn. Nông dân phải bám lấy ruộng đất, phải chống hạn, phải tǎng gia sản xuất. Nếu bỏ ruộng đi buôn không ra sức chống hạn để hạn hán mất mùa thì mọi người đều bị đói, người đi buôn cũng không no được.

– Một khuyết điểm nữa là thiếu cảnh giác. Vì Mỹ – Diệm và bọn tay chân của chúng thấy cái gì ta làm tốt thì chúng bóp méo, nói xấu. Như gặp hạn hán thì chúng tìm cách làm cho dân ta xao lãng chống hạn, không tin vào lực lượng mình, mà mê tín cầu đảo cầu trời.

Do những khuyết điểm trên và không quyết tâm, không tin vào lực lượng của mình, của tập thể, cho nên đến nay việc chống hạn còn kém.

Nhưng đồng bào Hà Đông sẵn có truyền thống anh dũng. Trong kháng chiến, đồng bào Hà Đông đã anh dũng chiến đấu. Trong chống hạn, nǎm 1956, Hà Đông được thưởng hai lá cờ chống hạn khá nhất, nǎm 1957 đã tát nước cứu hạn được 2 vạn 3 nghìn hécta, có nhiều đơn vị đã cố gắng. Thí dụ như xã Đông Sơn (Chương Mỹ) tát nước 13 bậc, các xã Duyên Thái, Minh Phú (Thường Tín) có những chiến sĩ cần cù chịu khó, quyết tâm khắc phục khó khǎn, không những đã chống hạn thành công mà còn tǎng được sản lượng. Đó là truyền thống tốt, tất cả đồng bào Hà Đông cần củng cố và phát triển những thành tích đó.

Hiện nay cũng có thành tích như nạo cống Liên Mạc, đắp đập Thanh Liệt, đập Liễn và đang làm máng số 7. Những thành tích bước đầu đó nên khen, nhưng phải cố gắng nhiều hơn nữa, không được vì thế mà sinh ra tự mãn.

Làm Cách mạng Tháng Tám còn khó khǎn hơn chống hạn mà lúc đó Đảng Cộng sản Đông Dương mới có non 5 nghìn đảng viên, chưa có chính quyền, nhưng vì đảng viên có quyết tâm cho nên đã lãnh đạo nhân dân cả nước làm Cách mạng Tháng Tám thành công. Bây giờ, riêng tỉnh Hà Đông có hơn 5 nghìn đảng viên, lại có hàng vạn đoàn viên thanh niên lao động, hội viên nông hội, tổ đổi công, có lực lượng phụ nữ, có cả bộ đội nữa. Đồng bào có quyết tâm thì nhất định sẽ chống hạn được.

– Chống hạn là một chiến dịch, một công tác cách mạng. Đây là một cuộc thử thách. Đảng viên, đoàn viên thanh niên lao động, hội viên nông hội cần phải xứng đáng là lực lượng xung phong.

Chống hạn đã là một chiến dịch thì cần phải cố gắng, phải kiên quyết, phải tin tưởng ở chống hạn thắng lợi, phải giúp đỡ nhau, thi đua lập công giữa địa phương này với địa phương khác, giữa đơn vị này với đơn vị khác, giữa xã này với xã khác. Có đoàn kết, có quyết tâm, có giúp đỡ nhau, lại có thi đua thì nhất định thắng lợi.

Đoàn kết phải rộng rãi, không những đoàn kết trong xã, trong tỉnh mà phải đoàn kết với các tỉnh bạn như Sơn Tây 1 , Hà Nam trong việc chống hạn.

Chống hạn là một chiến dịch, đã là chiến dịch thì phải có thưởng, có phạt. Thưởng người tốt, đơn vị tốt, thưởng có nhiều cách, Chính phủ và địa phương sẽ làm. Bác hứa tặng một lá cờ thi đua chống hạn cho huyện nào khá nhất, cố gắng nhất. Cứ trong một đợt ngắn ngày, huyện nào có thành tích hơn cả sẽ được giữ cờ. Có thưởng thì phải có phạt, thưởng phạt phải nghiêm minh. Trừ các cụ già yếu nhiều tuổi, những người thương tật, phụ nữ có thai, các cháu bé, còn ai có sức lao động mà trốn trách nhiệm, lười biếng không đi chống hạn sẽ phải phạt. Còn phạt như thế nào sẽ do khu, tỉnh, huyện quy định cho đúng mức.

Làm tốt những việc nói trên, khắc phục khuyết điểm, phát huy ưu điểm và truyền thống sẵn có, giúp đỡ nhau đoàn kết thi đua thì chống hạn nhất định thắng lợi.

Sau đây, Bác nói thêm một điểm. Tết nǎm ngoái, có nơi giết trâu bò nhiều, ǎn uống nhiều, thậm chí có nơi còn rước xách, cờ bạc, lãng phí nhiều, ảnh hưởng đến sản xuất, đến thuần phong mỹ tục, mất đoàn kết, v.v.. Vậy Tết này, cần làm thế nào tránh được lãng phí, cán bộ nên bàn bạc với đồng bào tổ chức Tết cho vui vẻ, mạnh khoẻ, tiết kiệm. Đảng và Chính phủ đã nói “phải tǎng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm”… Có người thực hành tiết kiệm, nhưng cũng có người không tiết kiệm mà còn lãng phí. Có nơi còn một số gia đình tổ chức đám ma, đám cưới, ǎn uống xa xỉ rồi mang nợ cả đời, như thế là không tốt. Bây giờ ta phải giữ vững thuần phong mỹ tục, thực hiện đời sống mới.

Hà Đông trong kháng chiến cũng như trong chống hạn trước đây, đều có thành tích, lại có lực lượng lớn. Cán bộ và đồng bào Hà Đông phải cố gắng trong chống hạn, tǎng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm để trở thành một tỉnh kiểu mẫu.

Bác chúc cán bộ và đồng bào Hà Đông thắng lợi trong chống hạn và làm vụ chiêm cho tốt.

—————————

Nói ngày 12-1-1958.
Tài liệu lưu tại Vǎn phòng Tỉnh uỷ Hà Tây.
cpv.org.vn

Nói chuyện với anh chị em học viên, cán bộ, công nhân viên Trường đại học nhân dân Việt Nam (khoá III) (18-1-1958)

Hôm nay tôi thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ tới thǎm các đồng chí và hoan nghênh các đồng chí đã đi chống hạn trong những ngày vừa qua. Bây giờ tôi nói chuyện với các đồng chí về chủ nghĩa xã hội.

Lịch sử của xã hội do người lao động tạo ra. Sự phát triển của lịch sử là quy luật không ai ngǎn trở được.

Chế độ cộng sản nguyên thuỷ biến đổi thành chế độ nô lệ. Chế độ nô lệ biến đổi thành chế độ phong kiến. Chế độ phong kiến biến đổi thành chế độ tư bản chủ nghĩa. Chế độ tư bản chủ nghĩa nhất định sẽ biến đổi thành chế độ xã hội chủ nghĩa.

Một chế độ này biến đổi thành một chế độ khác là cả một cuộc đấu tranh gay go, kịch liệt và lâu dài giữa cái xấu và cái tốt, giữa cái cũ và cái mới, giữa cái thoái bộ và cái tiến bộ, giữa cái đang suy tàn và cái đang phát triển. Kết quả là cái mới, cái đang tiến bộ nhất định thắng.

Để chứng tỏ chủ nghĩa xã hội nhất định thắng, chúng ta chỉ cần ôn lại lịch sử trong 40 nǎm gần đây, từ nǎm 1917 đến nǎm 1957. Đến cuối nǎm 1917, cả thế giới đều còn bị chủ nghĩa tư bản đế quốc thống trị. Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, 200 triệu người đã được giải phóng, nhưng hơn 2.000 triệu người vẫn bị chủ nghĩa tư bản đế quốc thống trị.

Ngày nay tình hình đã thay đổi hẳn.

12 nước với 950 triệu người đang xây dựng chủ nghĩa xã hội. Lại có hơn 500 triệu người đã giành được tự do độc lập (như Ấn Độ, Inđônêxia, Miến Điện, v.v.). Thế là hơn 1.450 triệu người đã thoát khỏi ách đế quốc.

Ngoài ra còn độ 400 triệu người ở châu á, châu Phi, Nam Mỹ đang đấu tranh chống đế quốc. Chỉ còn lại 400 triệu người ở các nước đế quốc. Nhưng trong số đó, tuyệt đại đa số là nông dân và công nhân, đang đấu tranh chống chế độ tư bản tham tàn ở nước họ. Vì đời sống của công nhân và nông dân đói khổ và thất nghiệp, họ đang đấu tranh rất kịch liệt như ở Mỹ, Anh, Pháp, Tây Đức, v.v..

Mấy con số trên đây chứng tỏ rất rõ ràng: lực lượng xã hội chủ nghĩa và dân tộc giải phóng phát triển rất mạnh, chủ nghĩa tư bản và đế quốc thì đang lǎn xuống dốc rất nhanh.

Một điểm nữa để chứng tỏ thêm sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa xã hội: đến nǎm 1917 chỉ có một đảng cộng sản là Đảng Cộng sản Nga. Nǎm 1940-1941, Đệ tam Quốc tế (10) gồm 43 đảng với hơn 4 triệu đảng viên.

Trong Hội nghị ở Mátxcơva cuối nǎm ngoái có 64 đảng cộng sản, đảng công nhân và đảng lao động tham gia, thay mặt cho hơn 33 triệu đảng viên.

Về kinh tế cách đây 40 nǎm, Nga là một nước nông nghiệp lạc hậu. Sau khi Cách mạng Tháng Mười thành công, từ nǎm 1917 đến nǎm 1922, nguỵ quân nguỵ quyền nổi lên lung tung, từ Đông sang Tây, từ Nam chí Bắc, có những tên nổi tiếng nhất như Cônsắc, Vranghen, v.v., chúng kết hợp với quân đội 14 nước đế quốc chủ nghĩa để hòng tiêu diệt chính quyền xôviết trẻ tuổi (11) .

Cũng trong thời gian này, nạn đói rét và bệnh dịch hoành hành dữ tợn ở Nga. Trời rét xuống 20 độ, 40 độ dưới 0 độ. Nhân dân đói khổ, công nhân, du kích, bộ đội quần áo rách rưới, chân không có giầy mà vẫn phải ngày đêm sản xuất, đánh giặc.

Tới nǎm 1922, nguỵ quân nguỵ quyền bị tiêu diệt. Hết nội chiến thì đế quốc làm vòng vây không cho người Liên Xô ra ngoài buôn bán và không cho người ngoài vào buôn bán với Liên Xô.

Từ nǎm 1918 đến nǎm 1929, nhân dân Liên Xô thắt lưng buộc bụng, nhịn đói nhịn khổ để xây dựng đất nước, có những cái gì quý như bơ, táo, nho, lê, v.v., đều đem bán ra ngoài để mua máy móc về sản xuất và để trả tiền cho các chuyên gia Đức, Mỹ, Anh, v.v.. Trong thời gian này, nhân dân ǎn mặc rất sơ sài, mặc quần áo vải thô, nhà ở cốt sao tránh được mưa, gió, tuyết là được.

Đến nǎm 1930, Liên Xô bắt đầu thực hiện kế hoạch 5 nǎm lần thứ nhất, rồi lần thứ hai, đến nửa kế hoạch 5 nǎm lần thứ ba thì sinh hoạt của nhân dân càng ngày càng lên.

Nǎm 1941, Liên Xô đang tiến hành kế hoạch 5 nǎm lần thứ ba thì phát xít Đức tấn công. Nó phá hoại và giết rất nhiều người ở Liên Xô. Nhiều thành phố bị phá trụi hết; thành phố Lêningrát bị bao vây 900 ngày, nhưng nhân dân Liên Xô vẫn giữ được mặc dù phát xít khủng bố tàn sát rất dã man (12) .

Nǎm 1945 hết chiến tranh, nǎm 1947 – 1950 nhân dân Liên Xô ra sức kiến thiết lại tiến bộ hơn trước, như thành phố Lêningrát dài 70 cây số to và đẹp hơn trước, nói chung các thành phố đều được xây dựng lại rất đẹp và to.

Như vậy Cách mạng Tháng Mười Nga mới thành công được 40 nǎm: 18 nǎm đấu tranh cực kỳ gian khổ và 22 nǎm ra sức phát triển kinh tế, mà Liên Xô đã tiến lên hàng đầu ở châu Âu.

Về khoa học kỹ thuật, thì ngày nay Liên Xô đã hơn hẳn Mỹ trong nhiều ngành như tên lửa qua các lục địa, vệ tinh nhân tạo, tàu phá bǎng chạy bằng sức nguyên tử, v.v., ngay các nhà khoa học và các nhà báo của các nước đế quốc cũng công nhận là Mỹ muốn theo kịp Liên Xô phải có một thời gian mấy nǎm.

Như trên ta thấy, lực lượng của phe xã hội chủ nghĩa và hoà bình dân chủ thế giới đang phát triển mạnh và thế lực đế quốc chủ nghĩa đang suy tàn.

Việt Nam ta bị đế quốc, phong kiến áp bức bóc lột hàng trǎm nǎm, cách mạng thành công được trên 10 nǎm thì 8, 9 nǎm chiến tranh, thực dân Pháp cướp bóc tàn phá rất nhiều, cho nên nước ta vô cùng lạc hậu về mọi mặt. Ta mới hoà bình được 3 nǎm, nhưng đất nước còn bị chia cắt làm đôi nên khó khǎn rất nhiều.

Tình hình như vậy ta cải thiện sinh hoạt được chưa?

Như nước Nga đông người và to rộng hơn ta, nông nghiệp lạc hậu nhưng vẫn còn hơn ta, mà sau 12 nǎm mới cải thiện sinh hoạt được. Ta mới hoà bình mà cải thiện ngay thì không được. Đảng và Chính phủ nói: cố gắng cải thiện sinh hoạt dần dần, nếu cứ đòi cải thiện ngay là “tếu”, vì muốn cải thiện sinh hoạt phải sản xuất được nhiều. Như thời Pháp thống trị, đồng bào miền Bắc phải mua gạo ở miền Nam ra, bây giờ chẳng những miền Bắc đủ gạo ǎn lại còn thừa để trao đổi ra ngoài. Vấn đề này chính tôi đã xuống thǎm nông dân, chính người nông dân nói hồi Pháp thuộc thì đói khổ, thiếu thốn, ngày nay sinh hoạt no ấm hơn trước nhiều, ngày ǎn hai bữa cơm, có nhà lại ǎn ba bữa.

Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải cải tạo xã hội cũ thành một xã hội mới, một xã hội không có chế độ người bóc lột người, một xã hội bình đẳng, nghĩa là ai cũng phải lao động và có quyền lao động, ai làm nhiều thì hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng.

Muốn xã hội giàu thì mỗi cá nhân, mỗi gia đình cho đến cả nước phải tǎng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm.

Tǎng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, kết quả sẽ là những thứ gì cũng sẽ đầy đủ dư dật. Lúc đó là lúc ai cũng đưa hết tài nǎng của mình cống hiến cho xã hội, đồng thời ai cần dùng bao nhiêu thì lấy bấy nhiêu. Chữ Trung Quốc nói: “Các tận sở nǎng, các thủ sở nhu”. Thế là chế độ cộng sản.

Công cuộc cải tạo xã hội ở Liên Xô khó khǎn hơn ở ta vì trước đây 13 nǎm chỉ có một mình Liên Xô là nước xã hội chủ nghĩa, bị các nước tư bản và đế quốc bao vây xung quanh. Nước ta dễ dàng hơn một chừng nào đó, vì ngoài sự cố gắng của bản thân mình, ta lại có sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước anh em trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa, lại có kinh nghiệm xây dựng xã hội chủ nghĩa của Liên Xô.

Nhân dân ta nỗ lực cố gắng, cộng với sự giúp đỡ vô tư của các nước bạn, thì khoảng 8 nǎm sẽ cải thiện sinh hoạt là hợp lý. Nếu đồng bào ta cố gắng, ai cũng cố gắng thì tôi đảm bảo 5 nǎm sẽ cải thiện sinh hoạt được.

Các đồng chí có muốn cải tạo xã hội không? Muốn cải tạo xã hội thì phải cải tạo mình. Có một số đồng chí thấy nói chữ cải tạo thì xấu hổ. Cải tạo xã hội thì đồng ý nhưng cải tạo mình thì không đồng ý.

Để cải tạo xã hội, một mặt phải cải tạo vật chất như tǎng gia sản xuất, một mặt phải cải tạo tư tưởng. Nếu không có tư tưởng xã hội chủ nghĩa thì không làm việc xã hội chủ nghĩa được.

Tư tưởng xã hội chủ nghĩa là gì? Tư tưởng xã hội chủ nghĩa nói tóm tắt là phải đặt lợi ích chung của cả nước lên trước hết, lên trên lợi ích của cá nhân mình. Tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư tưởng cá nhân chủ nghĩa chống đối nhau, nếu cứ lo cho mình không lo cho làng, cho nước thì không thể có tư tưởng xã hội chủ nghĩa được.

Mỗi người phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa đúng đắn, thì mới có thể góp phần xứng đáng vào việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mọi người chúng ta phải yêu quý lao động và người lao động, nhất là lao động chân tay.

Chúng ta, nhất là những người trí thức, chúng ta sinh trưởng khá lâu dưới chế độ thực dân và phong kiến, chịu ảnh hưởng chế độ ấy khá sâu, vô tình nhiễm vào những cái xấu cũng khá nhiều, trong bản thân chúng ta tư tưởng cũ còn nhiều. Cách mạng thành công đã 13 nǎm, nhưng lại kháng chiến 8, 9 nǎm, nên việc giáo dục xã hội chủ nghĩa còn ít, tư tưởng cũ chưa đi hết, tư tưởng mới chưa vào nhiều.

Bây giờ các đồng chí có cơ hội để nghiên cứu học tập, cải tạo những cái gì không đúng, học tập những tư tưởng tốt. Ghét, bụi còn chải giũa được, nhưng tư tưởng phải đấu tranh gay gắt, không phải dễ dàng. Đấu tranh để tiến bộ, nếu không đấu tranh thì thoái bộ, nên chúng ta phải cố gắng học tập cải tạo, quyết tâm cải tạo. Đảng và Chính phủ thì cố gắng giáo dục chúng ta, đoàn kết chúng ta, giúp chúng ta cải tạo.

Mục đích cải tạo là làm cho những người trí thức chúng ta trở thành những người trí thức của giai cấp công nhân, hết lòng hết sức phục vụ công nông, góp phần xứng đáng và vẻ vang vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.ý nghĩa hai chữ cải tạo là như thế.

Chúng ta quyết tâm, thì tiến lên chủ nghĩa xã hội nhất định thành công.

*

*     *

Có đồng chí hỏi: chúng ta đấu tranh thống nhất nước nhà bằng phương pháp hoà bình, thì có thắng lợi được không?

Có thể trả lời: chắc chắn sẽ thắng lợi. Chúng ta mỗi người ra sức xây dựng miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội. Chúng ta cố gắng làm cho chính trị, kinh tế, vǎn hoá, xã hội ở miền Bắc đều hơn hẳn miền Nam, làm cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh của đồng bào miền Nam và của cả toàn dân. Từ Bắc chí Nam chúng ta đoàn kết nhất trí, đấu tranh không ngừng, thì chúng ta nhất định sẽ thắng.

Như đã nói trên đây, chủ nghĩa đế quốc ngày càng suy đồi, hoà bình dân chủ và chủ nghĩa xã hội ngày càng phát triển mạnh. Thêm vào đó là lòng nồng nàn yêu nước của nhân dân ta nói chung, của đồng bào miền Nam nói riêng. Những điều đó cộng lại, chúng ta có thể chắc chắn rằng: đấu tranh thống nhất nước nhà bằng phương pháp hoà bình nhất định thắng lợi.

———————————

Nói ngày 18-1-1958.

Sách Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1989, t.8, tr.21-27.

10. Quốc tế thứ ba (Quốc tế Cộng sản): Tổ chức cách mạng quốc tế của giai cấp vô sản, trung tâm lãnh đạo phong trào cộng sản và công nhân thế giới, hoạt động từ nǎm 1919 đến nǎm 1943.

Do ảnh hưởng to lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga nǎm 1917 và khi Quốc tế thứ hai đã hoàn toàn phản bội chủ nghĩa Mác, cuộc đấu tranh của V.I. Lênin và những người cộng sản chân chính chống bọn cơ hội chủ nghĩa đã thúc đẩy sự ra đời của các đảng cộng sản và tổ chức cộng sản ở nhiều nước trên thế giới. Để giúp các tổ chức này lãnh đạo phong trào cách mạng các nước đi theo con đường của chủ nghĩa Mác chân chính, tháng 1-1919, dưới sự lãnh đạo của V.I. Lênin, Hội nghị đại biểu của 8 đảng cộng sản và nhóm cộng sản đã kêu gọi tất cả các đảng cộng sản, các tổ chức xã hội chủ nghĩa phái tả tham gia Đại hội thành lập Quốc tế thứ ba.

Hưởng ứng lời kêu gọi đó, tháng 3-1919, tại Mátxcơva dưới sự lãnh đạo của V.I. Lênin, đại biểu các đảng cộng sản và nhóm cộng sản của 30 nước đã tiến hành đại hội thành lập Quốc tế thứ ba.

Quốc tế thứ ba đã có công lao rất to lớn trong việc tổ chức và lãnh đạo phong trào cộng sản và công nhân thế giới. Hoàn toàn đối lập với Quốc tế thứ hai, Quốc tế thứ ba rất chú trọng tới vấn đề giải phóng dân tộc. Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin được Đại hội lần thứ II (1920) của Quốc tế Cộng sản thông qua đã đặt nền tảng chính trị và tư tưởng cho việc giải quyết đúng đắn những vấn đề phức tạp của phong trào giải phóng dân tộc.

Trong quá trình tìm đường cứu nước, qua nghiên cứu Luận cương này của V.I. Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hoàn toàn tin theo V.I. Lênin và Quốc tế thứ ba, thấm nhuần và vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I. Lênin vào việc giải quyết những vấn đề cơ bản của cách mạng nước ta.

Tại Đại hội lần thứ VII (1935), Quốc tế Cộng sản đã chính thức công nhận Đảng Cộng sản Đông Dương là một phân bộ trực thuộc.

Tháng 5-1943, cǎn cứ vào hoàn cảnh mới và đặc điểm phát triển của cách mạng mỗi nước, Đoàn Chủ tịch Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, với sự tán thành của tất cả các phân bộ đã thông qua Nghị quyết giải tán tổ chức quốc tế này. Tr.21.

11. Thời kỳ đấu tranh chống can thiệp vũ trang của nước ngoài và nội chiến ở Liên Xô (1918-1922): Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, chủ nghĩa đế quốc quốc tế cho rằng nguy cơ trước mắt của nó là nước Nga xôviết. Tuy có những mâu thuẫn, nhưng các nước đế quốc thống nhất với nhau ở mục đích phải tiêu diệt chính quyền xôviết non trẻ ở Nga. Trong nước Nga, bọn địa chủ, tư sản cùng với bọn tướng tá bạch vệ bị Cách mạng Tháng Mười lật đổ cũng ngóc đầu dậy. Chúng đã câu kết, phối hợp với bọn đế quốc và từ nửa đầu nǎm 1918 tấn công nước Nga bằng quân sự cả bên trong và bên ngoài, hòng tiêu diệt chính quyền xôviết và khôi phục chế độ thống trị của các giai cấp bóc lột. Dưới sự lãnh đạo của V.I. Lênin và Đảng bônsêvích, nhân dân và Hồng quân đã vượt qua khó khǎn thử thách liên tiếp đánh bại bọn nổi loạn trong nước, tay chân của đồng minh đế quốc: Cônsắc, I.Uđênitsơ, Đênikin, Grasnốp, Vranghen, v.v., và đánh tan sự can thiệp vũ trang của 14 nước khối đồng minh đế quốc, đuổi quân đội của chúng ra khỏi biên giới.

Cùng với thắng lợi về quân sự, nhân dân Liên Xô còn phá tan những âm mưu của bọn phản cách mạng chống nước Cộng hoà xôviết, như bọn xã hội chủ nghĩa – cách mạng, bọn mensêvích, bọn vô chính phủ, bọn dân tộc chủ nghĩa – những kẻ đã giúp sức và theo bọn tướng bạch vệ và bọn can thiệp nước ngoài. Tr.21.

12. Đây là Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về Cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của nhân dân Liên Xô (1941-1945). Ngày 22-6-1941, phát xít Đức đã huy động một lực lượng khổng lồ gồm 190 sư đoàn, với lực lượng lớn xe tǎng, máy bay và các vũ khí hiện đại khác bất ngờ tấn công Liên Xô dọc biên giới phía Tây. Việc Đức tấn công Liên Xô đã làm cho cục diện Chiến tranh thế giới thứ hai thay đổi về cơ bản, mặt trận Xô – Đức đã trở thành mặt trận chính. Nhân dân Liên Xô vừa tiến hành Cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại vừa đóng vai trò quyết định trong việc tiêu diệt chủ nghĩa phát xít.

Trong những ngày đầu chiến tranh, Hồng quân bị thiệt hại nặng nề trước những đòn tấn công của các lực lượng trội hơn của quân đội Hítle và buộc phải rút sâu vào nội địa. Trong khi rút lui, quân đội xôviết đã đánh những trận phòng ngự quyết liệt chặn đứng sức tiến công ồ ạt của quân đội phát xít. Trong các trận đánh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc tới trận chiến đấu bảo vệ Lêningrát (nay là Xanh Pêtecbua). Quân đội và nhân dân thành phố đã chiến đấu anh dũng, liên tục 900 ngày trong vòng vây, tiến công, giữ vững và bảo vệ thành phố khỏi ách chiếm đóng của quân đội phát xít. Bằng một loạt các cuộc chiến đấu quyết liệt, cuối cùng bằng cuộc phản công lớn đánh tan quân đội phát xít Đức ở gần Mátxcơva (đầu tháng 12-1941), quân đội và nhân dân Liên Xô đã làm thất bại kế hoạch tiến công bất ngờ của phát xít Đức.

Một loạt các trận đánh có tính chất quyết định như trận Xtalingrát (3-1943) và trận Cuốcxcơ (7-1943) đã làm cho quân đội Liên Xô chuyển hẳn sang thế tấn công đuổi bọn phát xít ra khỏi biên giới Liên Xô.

Cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Liên Xô gắn liền với việc quân đội Liên Xô đánh bại chủ nghĩa phát xít Đức – Ý – Nhật (nǎm 1945) góp phần giải phóng nhân dân các nước châu Âu, châu Á khỏi ách phát xít. Trong cuộc chiến tranh này, nhân dân Liên Xô đã chịu gánh nặng và thiệt hại to lớn nhất: 20 triệu người hy sinh, 7.110 thành phố, 70.000 làng mạc bị tàn phá. Tr.22.

cpv.org.vn

Bài nói tại Trường Công an Trung ương (28-1-1958)

Bác thay mặt Đảng và Chính phủ hỏi thǎm sức khoẻ các cô các chú.

Các cô các chú có tham gia chống hạn không?

Bác khen các cô các chú học sinh, cán bộ hướng dẫn và anh chị em phục vụ cơm nước.

Bây giờ vào đề:

Các cô các chú muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội không?

Tiến lên chủ nghĩa xã hội, công an có trách nhiệm gì?

Là một bộ phận của cả bộ máy Nhà nước nhân dân dân chủ chuyên chính tiến lên chủ nghĩa xã hội, công an phải bảo vệ dân chủ của nhân dân và thực hiện chuyên chính với những kẻ chống lại dân chủ của nhân dân.

Dân chủ và chuyên chính đi đôi với nhau. Muốn dân chủ thực sự phải chuyên chính thực sự, vì không chuyên chính thực sự, bọn thù địch sẽ làm hại dân chủ của nhân dân, vì nhân dân có tin yêu công an thì mới giúp công an chuyên chính thực sự được với địch. Dân chủ và chuyên chính thật là quan hệ mật thiết với nhau.

Có chuyên chính thực sự, có dân chủ thực sự thì mới tiến lên chủ nghĩa xã hội được. Vì kẻ địch không thể phá hoại được ta mà nhân dân thì an tâm thực hành tiết kiệm và hǎng hái sản xuất để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Muốn góp phần vào việc tiến lên chủ nghĩa xã hội, công an phải chuyên chính thực sự và dân chủ thực sự.

Tiến lên chủ nghĩa xã hội là một công cuộc rất phức tạp và nhiều gian khổ.

– Khi chống đế quốc, ai, giai cấp nào yêu nước, đều được tham gia đấu tranh, kể cả địa chủ, quan lại ghét Tây, thế là đông người tham gia nhất.

– Bước vào cải cách ruộng đất, thì địa chủ phản đối ta.

– Bây giờ phải tiến lên chủ nghĩa xã hội thì giai cấp tư sản không thích. Vậy là cách mạng càng tiến lên càng khó khǎn. Công việc chính quyền, công an càng khó khǎn, càng phức tạp. Nhân viên, cán bộ công an càng phải nâng cao chí khí cách mạng, nâng cao tinh thần cảnh giác.

Chính vì vậy Đảng, Chính phủ rất chú ý đến công tác của công an và đến việc giáo dục cán bộ công an. ở trường này một người giúp đỡ hướng dẫn 4 học viên. Một người phục vụ 4 người như thế là thiếu hay là thừa? Bác thấy là nhiều đấy. Học sinh thì 95% là đảng viên, chỉ còn 5% là ngoài Đảng. Ngoài Đảng nhưng Đảng rất tin cậy, vì các cán bộ đó đã được chọn lọc, rất trung thành với Đảng. Đảng viên thì hầu hết là huyện uỷ viên, một số ít là cán bộ tỉnh. Không có cơ quan nào lại nhiều cán bộ như thế này. Vậy chớ còn kêu là ít cán bộ. Phải thấy là Đảng, Chính phủ hết sức chǎm sóc. Các cô các chú phải xứng đáng với lòng tin cậy của Đảng và Chính phủ.

Còn về phần cán bộ công an thì phải như thế nào?

Không phải chỉ muốn không là được. Miệng nói tiến lên chủ nghĩa xã hội, nhưng tư tưởng còn không thông và hành động còn không đúng thì không tiến lên được. Trước hết cán bộ phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, lập trường phải rõ ràng, vững chắc đã. Rồi cán bộ làm cho nhân dân hiểu để nhân dân hǎng hái tǎng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Khi đó cả xã hội mới tiến lên chủ nghĩa xã hội được.

Tư tưởng xã hội chủ nghĩa là thế nào? Là mỗi người hãy nghĩ đến lợi ích chung, lợi ích toàn dân trước. Phải chống chủ nghĩa cá nhân.

Thế nào là chủ nghĩa cá nhân? Là so bì đãi ngộ: lương thấp, cao, quần áo đẹp, xấu, là uể oải, muốn nghỉ ngơi, hưởng thụ, an nhàn.

Chủ nghĩa cá nhân như vi trùng đẻ ra nhiều bệnh khác: sợ khó, sợ khổ; tự do chủ nghĩa; vui thì làm, không vui thì không làm, thích thì làm, không thích không làm. Phải đề cao tính tổ chức, đề cao kỷ luật. Chống chủ nghĩa ba phải; trái phải, phải dứt khoát, phải rõ ràng, không được nể nang. Can đảm bảo vệ chính nghĩa, dũng cảm tự phê bình và phê bình. Xác định toàn tâm toàn ý, 100% phục vụ nhân dân. Có thế mới khắc phục được khuyết điểm, phát huy được ưu điểm. Còn so sánh địa vị, còn suy bì hưởng thụ thì chỉ có 50% phục vụ nhân dân còn 50% là phục vụ cá nhân mình. Công an là bộ máy giữ gìn chính quyền chống thù ngoài địch trong, mà còn chủ nghĩa cá nhân là còn có địch ở bên trong, địch ở trong con người mình. Kẻ địch ấy lại không thể lấy súng bắn vào được. Phải ra sức phấn đấu rèn luyện tư tưởng mới khắc phục được nó. Khắc phục chủ nghĩa cá nhân là bước rất quan trọng để tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Về công tác: phải đi sâu, phải thiết thực, phải điều tra nghiên cứu, không được chủ quan, tự túc tự mãn. Gặp khó khǎn, thất bại không được nản chí.

Muốn phục vụ nhân dân tốt phải đi đường lối quần chúng. Được nhân dân tin, yêu, phục thì việc gì cũng làm được. Không đi đường lối quần chúng là không gần nhân dân, là thiếu dân chủ, là trở thành quan liêu. Quan liêu thì không đoàn kết được ai. Thế mà đoàn kết là rất cần thiết, đoàn kết nội bộ ngành công an, đoàn kết với các ngành khác, đoàn kết với nhân dân. Có thế thì công tác mới làm được.

Đối với nhân dân, đối với Đảng, với cách mạng xã hội chủ nghĩa, trách nhiệm của công an rất lớn, rất nặng nề. Cho nên phải xây dựng một bộ máy công an rất tốt, rất chắc chắn. Ai phải xây dựng? Mỗi một cán bộ công an đều có trách nhiệm vào đấy. Ai cũng tiến bộ, cũng khắc phục được khuyết điểm, phát huy được ưu điểm, thì toàn bộ bộ máy công an sẽ tốt. Điều đó thật là rõ ràng, dễ hiểu cho nên mỗi cán bộ công an phải cố gắng, gương mẫu trong học tập, trong công tác, gương mẫu về đạo đức cách mạng.

Bác nói mấy lời tóm tắt về Hội nghị Mátxcơva.

Hai bản Tuyên ngôn và Tuyên bố rất quan trọng, có ảnh hưởng rất lớn.

– Từ Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, đây là lần đầu tiên, các đảng anh em họp mặt đông đủ bàn việc thế giới.

– Bản tuyên bố của 12 nước xã hội chủ nghĩa đều nhất trí xác định đường lối tiến lên chủ nghĩa xã hội – do dân chủ bàn bạc mà đi tới thống nhất nhận định.

– Hai bản nêu lên rằng tư tưởng xã hội chủ nghĩa ngày càng mạnh. Trước đây, xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ có 200 triệu nhân dân Liên Xô mà nay, chỉ trong vòng 10 nǎm, đã có 950 triệu người rồi. Phe xã hội chủ nghĩa thật rộng lớn, nǎm ngoái Bác đi bốn vạn cây số mà chỉ đi trong gia đình mình thôi. Có những nước lớn không phải xã hội chủ nghĩa nhưng chống đế quốc: ấn Độ, Miến Điện, Inđônêxia, Ai Cập. Dân số thế giới là 2.500 triệu, dân số đế quốc chỉ có 400 triệu. Phe xã hội chủ nghĩa càng phát triển thì phe đế quốc càng “teo” lại, phe xã hội chủ nghĩa ngày càng mạnh thì phe đế quốc ngày càng đi đến đường cùng.

Dân ta, Đảng ta có góp phần quan trọng vào thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, của hoà bình. Ta hết sức tin tưởng vào thắng lợi ấy, mặc dầu trước mắt còn rất nhiều khó khǎn, khó khǎn trong đời sống, khó khǎn vì đất nước bị tạm thời chia cắt. Nhưng khó khǎn chỉ là nhất thời còn thuận lợi thì là cǎn bản. Ta tin chắc ta thắng lợi. Do đó mà ra sức khắc phục khuyết điểm, phát huy ưu điểm. Đó là ý nghĩa tóm tắt của hai bản Tuyên bố và Tuyên ngôn. Mỗi người đều phải góp phần thực hiện ý nghĩa và mục đích của hai bản đó. Các cô các chú có quyết tâm thực hiện không?

Cuối cùng, Bác chúc các cô các chú đoàn kết, tiến bộ, gắng làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của nhân dân, của Đảng giao cho.

(Cuối cùng Người tặng hội nghị bài thơ sau)

Đoàn kết, cảnh giác,
Liêm, chính, kiệm, cần.
Hoàn thành nhiệm vụ,
Khắc phục khó khǎn,
Dũng cảm trước địch,
Vì nước quên thân,
Trung thành với Đảng,
Tận tuỵ với dân.

—————————-

Nói ngày 28-1-1958.
Tài liệu lưu tại Viện lịch sử Đảng.
cpv.org.vn

Nói chuyện với đồng bào tại sân bay Gia Lâm trước khi đi thǎm Ấn Độ và Miến Điện (4-2-1958)

Hôm nay, nhận lời mời của Chính phủ nước Ấn Độ anh em và Chính phủ nước Miến Điện anh em, tôi cùng cụ Phan Kế Toại, các đồng chí Hoàng Minh Giám, Phạm Hùng, Phan Anh sang thǎm nước Ấn Độ và nước Miến Điện anh em. Chúng tôi sẽ chuyển lời chào thân ái của nhân dân ta cho nhân dân hai nước bạn.

Mục đích chúng tôi đi là thắt chặt hơn nữa tình hữu nghị giữa nước Việt Nam, Ấn Độ và Miến Điện, đồng thời để tǎng cường tình đoàn kết giữa các dân tộc Á – Phi, do đó thêm lực lượng giữ gìn hoà bình thế giới.

Lúc chúng tôi đi về là ngày Tết, vậy chúc đồng bào ở nhà tổ chức Tết vui vẻ, khoẻ mạnh, nhưng tiết kiệm. Chúc cán bộ và đồng bào nông dân thi đua với cán bộ và đồng bào Hưng Yên chống hạn thắng lợi. Trong phong trào chống hạn này, bộ đội và thanh niên đã có nhiều thành tích khá; vậy mong bộ đội và các cháu thanh niên cố gắng hơn nữa để có thành tích hơn nữa. Nước Ấn Độ là một nước rất to và nhân dân Ấn Độ rất anh dũng. Trước đây cùng hoàn cảnh như chúng ta bị thực dân áp bức, nhân dân Ấn Độ và Miến Điện đã đấu tranh thắng lợi cho độc lập dân tộc và đang xây dựng đất nước. Chúng tôi đi chắc học được nhiều kinh nghiệm quý báu. Lúc về sẽ thuật lại cho đồng bào nghe để học tập anh em chúng ta.

—————————

Nói ngày 4-2-1958.
Báo Nhân dân , số 1428, ngày 5-2-1958.
cpv.org.vn

Bài nói tại Hội những người Ấn nghiên cứu các vấn đề quốc tế (7-2-1958)

Thưa các vị,

Nhân dịp đi thǎm nước Ấn Độ tươi đẹp, hôm nay chúng tôi rất sung sướng được gặp các vị. Chúng tôi xin nhiệt liệt chào mừng và cảm ơn các vị đón tiếp chúng tôi một cách thân mật. Tôi xin tóm tắt trình bày về tình hình nước Việt Nam chúng tôi như sau:

Nước Việt Nam thành lập đã hơn 2 nghìn nǎm. Việt Nam là một dân tộc có chung một lịch sử, một thứ tiếng, một nền kinh tế và vǎn hoá. Dân tộc Việt Nam đã cùng nhau đoàn kết nhất trí trong lao động xây dựng và trong chiến đấu chống ngoại xâm.

Nước Việt Nam là một khối thống nhất.

Từ khi thực dân Pháp đặt ách nô lệ lên đất nước Việt Nam, họ chia cắt đất nước chúng tôi làm 3 xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, mỗi xứ theo một quy chế chính trị riêng nhưng chung quy vẫn là chế độ áp bức bóc lột thuộc địa. Với phương châm cổ truyền “chia để trị”, họ hy vọng tiêu diệt tinh thần đấu tranh của nhân dân Việt Nam. Nhưng nhân dân Việt Nam đã không ngừng đấu tranh chống thực dân Pháp trong gần một thế kỷ. Từ những cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp lúc đầu tới cuộc kháng chiến trong 8,9 nǎm vừa qua, mặc dầu thực dân Pháp đã dùng mọi chính sách khủng bố đàn áp hết sức tàn khốc, nhưng cuối cùng nhân dân Việt Nam đã làm Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà độc lập và thống nhất.

Ngay từ khi mới thành lập, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã tuyên bố:

“Đối với tất cả các nước trên thế giới, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thiết tha mong muốn duy trì tình hữu nghị và thành thật hợp tác trên cơ sở bình đẳng và tương trợ để xây dựng hoà bình thế giới lâu dài”.

Chúng tôi muốn hoà bình để xây dựng đất nước. Nhưng thực dân Pháp đã cố tình gây lại chiến tranh, hòng cướp nước Việt Nam một lần nữa. Sau khi trở lại Nam Bộ lần thứ hai, họ đã tách Nam Bộ ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, lập thành cái mà họ gọi là nước “Nam Kỳ tự trị”. Nhưng nhân dân toàn quốc đã cùng với nhân dân Nam Bộ kiên quyết kháng chiến. Trải qua chín nǎm kháng chiến gian khổ, chúng tôi đã giành được thắng lợi. Hiệp định Giơnevơ đã đem lại hoà bình ở Việt Nam, trên cơ sở công nhận nước Việt Nam có chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Thắng lợi của nhân dân Việt Nam một lần nữa chứng tỏ rằng không một lực lượng xâm lược nào có thể đánh bại được cuộc đấu tranh của một dân tộc yêu nước, kiên quyết đứng lên để bảo vệ chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mình.

Để giữ gìn hoà bình ở Đông Dương, Hiệp định Giơnevơ đã quy định những nguyên tắc và biện pháp cụ thể để thực hiện thống nhất nước Việt Nam vào tháng 7 nǎm 1956.

Nhưng đến nay, do sự can thiệp của nước ngoài ở miền Nam Việt Nam, cuộc hội nghị hiệp thương giữa các nhà đương cục ở hai miền để chuẩn bị tổng tuyển cử tự do nhằm thống nhất đất nước chưa được thực hiện. Đó là một việc trái ngược với nguyện vọng thiết tha của toàn dân Việt Nam.

Từ nǎm 1955 tới nay, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã có nhiều đề nghị cụ thể với các nhà đương cục miền Nam mở hội nghị hiệp thương để bàn về tổng tuyển cử tự do theo Hiệp định Giơnevơ đã quy định. Nhưng đến nay, chính quyền miền Nam vẫn chưa trả lời.

Có người cho rằng trở lực chủ yếu cho sự thống nhất là vì hai miền có chế độ khác nhau, hoặc vì miền này có thể thôn tính miền kia. Theo ý chúng tôi, vấn đề cǎn bản ở đây không phải là sự khác nhau về chế độ, vấn đề cǎn bản là phải để cho nhân dân cái quyền được hoàn toàn tự do lựa chọn chế độ này hoặc chế độ khác. Chúng tôi luôn luôn chủ trương các nhà cầm quyền ở hai miền cùng nhau bàn bạc để thống nhất đất nước trên nguyên tắc đặt lợi ích tối cao của Tổ quốc lên trên hết và hợp với nguyện vọng của toàn dân.

Trong việc thực hiện thống nhất nước Việt Nam bằng phương pháp hoà bình, trở lực chủ yếu là do âm mưu của bọn đế quốc và tay sai. Âm mưu đó nhằm chia cắt lâu dài nước Việt Nam, biến miền Nam thành cǎn cứ quân sự của “chính sách thực lực”. Vì âm mưu đó mà việc thống nhất nước Việt Nam bị cản trở, hoà bình ở Đông Dương và Đông – Nam á bị đe doạ.

Hiện nay việc thống nhất đất nước là một yêu cầu thiết tha nhất của toàn Việt Nam.

Để thống nhất nước Việt Nam bằng phương pháp hoà bình, mọi biện pháp thực tế đều phải xuất phát từ nguyện vọng hoà bình, thống nhất, độc lập và dân chủ của toàn dân; phải phù hợp với Hiệp định Giơnevơ, đồng thời chiếu cố đến sự tồn tại của hai chế độ khác nhau ở hai miền. Đó là chủ trương của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Các nhà đương cục hai miền cần hiệp thương để chuẩn bị tổng tuyển cử tự do trong toàn quốc. Cuộc tổng tuyển cử tự do ấy phải tiến hành trong toàn quốc theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bí mật, dưới sự kiểm soát và giám sát của ủy ban Quốc tế gồm Ấn Độ, Ba Lan, Canađa.

Qua tổng tuyển cử tự do, nhân dân hai miền Bắc Nam sẽ bầu ra một Quốc hội duy nhất. Quốc hội ấy sẽ cử ra Chính phủ liên hiệp trung ương.

Tình hình khác nhau giữa hai miền cần được chiếu cố. Ví dụ như khi đất nước mới thống nhất, ở hai miền có thể thành lập những Hội đồng dân cử và cơ quan hành chính có quyền rộng rãi của mỗi miền, như trải qua thương lượng mà dần dần đi đến thống nhất quân đội hai miền, v.v..

Trong khi chưa thống nhất, các đảng phái và đoàn thể nhân dân yêu nước tán thành hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, phải có địa vị hợp pháp; phải lập quan hệ bình thường về kinh tế, vǎn hoá, xã hội và tôn trọng quyền tự do đi lại giữa hai miền. Trên cơ sở ấy, chúng tôi sẵn sàng đoàn kết với tất cả mọi người yêu nước, không phân biệt xu hướng chính trị, tín ngưỡng và tôn giáo, thành phần xã hội, v.v.. Những đề nghị hợp tình hợp lý ấy càng ngày càng được sự đồng tình và hưởng ứng của các tầng lớp nhân dân rộng rãi từ Bắc chí Nam và sự ủng hộ của các lực lượng hoà bình dân chủ trên thế giới.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và toàn dân Việt Nam hoan nghênh mọi ý kiến, mọi cố gắng nhằm giúp cho nước Việt Nam mau thống nhất bằng phương pháp hoà bình như Hiệp định Giơnevơ đã quy định.

Về quan hệ quốc tế, chúng tôi luôn luôn trung thành với chính sách hoà bình và hợp tác giữa các nước trên cơ sở nǎm nguyên tắc chung sống hoà bình. Trong nước, chúng tôi ra sức duy trì và củng cố hoà bình, vì chúng tôi cần có hoà bình để xây dựng kinh tế và phát triển vǎn hoá, dần dần cải thiện đời sống nhân dân.

Trong 3 nǎm qua, chúng tôi đã giảm ngân sách quốc phòng, giảm 8 vạn binh sĩ. Chúng tôi dồn lực lượng vào việc khôi phục kinh tế, củng cố miền Bắc. Chúng tôi đã đạt được những kết quả tốt.

Về sản xuất lúa, miền Bắc hiện nay đã vượt mức trước chiến tranh, chúng tôi đã khôi phục hầu hết các xí nghiệp cũ bị chiến tranh tàn phá và xây dựng một số xí nghiệp mới. Công việc xoá nạn mù chữ đã gần xong. Hiện nay, số sinh viên đại học đã tǎng lên gấp 6 lần và số học sinh trung học lên gấp 14 lần, số học sinh tiểu học gấp 4 lần so với thời Pháp thuộc. Các trường đại học đều dạy bằng tiếng Việt. Điều ấy chứng minh rằng khi một dân tộc được tự do độc lập thì có thể phát huy hết tài nǎng để nâng cao đời sống vật chất và vǎn hoá của mình.

Thưa các vị,

Nguyện vọng tha thiết và ý chí sắt đá của toàn dân Việt Nam là thực hiện thống nhất đất nước bằng phương pháp hoà bình. Đấu tranh cho thống nhất là con đường sống của nhân dân Việt Nam. Cuộc đấu tranh đó phù hợp với quyền dân tộc tự quyết của Hiến chương Liên hợp quốc, với Panch Sheela, với chính nghĩa. Nó nhất định sẽ thắng lợi là nhờ truyền thống đại đoàn kết và tinh thần bất khuất của nhân dân Việt Nam, nhờ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân các nước.

Nhờ đại đoàn kết mà trong bao nhiêu thế kỷ, nhân dân Việt Nam đã bảo vệ được độc lập tự do của mình. Nhờ đại đoàn kết mà nhân dân Việt Nam đã đánh thắng chủ nghĩa thực dân, làm Cách mạng Tháng Tám thành công và đã kháng chiến đến thắng lợi. Nhờ đại đoàn kết toàn dân mà nước Việt Nam chúng tôi nhất định sẽ thống nhất.

Trong cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà, nhân dân Việt Nam được sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới, nhất là của nhân dân Ấn Độ. Đồng bào chúng tôi biết ơn nhân dân Ấn Độ đã đồng tình và ủng hộ chúng tôi trong thời gian kháng chiến cũng như từ ngày hoà bình lập lại. Việc Chính phủ Ấn Độ làm Chủ tịch Uỷ ban Quốc tế giám sát và kiểm soát, càng góp phần quan trọng vào việc thi hành Hiệp định Giơnevơ ở Việt Nam, càng làm cho mối tình Việt – Ấn thêm khǎng khít.

Hiện nay, trên thế giới lực lượng hoà bình ngày càng phát triển. Càng ngày càng nhiều người đòi giảm quân bị, đòi đình chỉ việc thử vũ khí nguyên tử và khinh khí, phản đối các khối quân sự Bắc Đại Tây Dương (16) , Bátđa và Đông – Nam á, đòi những người cầm đầu các nước mở hội nghị để làm dịu tình hình cǎng thẳng trên thế giới. Nǎm nguyên tắc chung sống hoà bình do Ấn Độ và Trung Quốc đề xướng càng ngày càng được nhiều nước tán thành và hưởng ứng. Tinh thần của Hội nghị đoàn kết châu á ở Niu Đêli, tinh thần của Hội nghị Bǎngđung mới đây lại được biểu hiện một cách rực rỡ ở Đại hội Lơ Ke đã không ngừng gắn bó nhân dân các nước Á – Phi trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, bảo vệ độc lập dân tộc, hòa bình và an ninh. Tình hình mới đã làm cho chủ nghĩa thực dân càng thêm suy yếu và cô lập. Nhưng chủ nghĩa thực dân không chịu bỏ âm mưu thâm độc của chúng, cuộc đấu tranh của chúng tôi để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất còn gặp nhiều khó khǎn. Nhân dân Việt Nam chúng tôi còn phải cố gắng nhiều. Nhưng chúng tôi càng ngày càng tin tưởng ở sức mạnh đại đoàn kết của mình, của chính nghĩa và của sự ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới. Chúng tôi tin chắc rằng nước Việt Nam nhất định sẽ hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Tôi thành tâm chúc tình hữu nghị Việt – Ấn ngày càng củng cố và phát triển.

———————–

Nói ngày 7-2-1958.
Sách Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1960, t.V, tr. 40-45.

(16) Khối Bắc Đại Tây Dương (viết tắt NATO): Liên minh quân sự – chính trị của các nước đế quốc do Mỹ cầm đầu được thành lập theo Hiệp ước Liên minh Bắc Đại Tây Dương, ký ngày 4-4-1949, tại Oasinhtơn (Mỹ). Tham gia liên minh này có các nước: Anh, Pháp, Bỉ, Canađa, Đan Mạch, Bồ Đào Nha, v.v.. Về sau có thêm một số nước tham gia như Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ (1952), Cộng hoà Liên bang Đức (1954). Mục đích thành lập của khối này là bao vây, uy hiếp Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở châu Âu, ngǎn chặn phong trào cách mạng châu Âu và thế giới. Tr.54.

cpv.org.vn

Nói chuyện với các đại biểu nhân dân thành phố Bombay (Ấn Độ) (10-2-1958)

Chúng tôi rất sung sướng được các bạn đón tiếp nhiệt liệt. Hàng chục vạn nhân dân Bombay, từ các cụ phụ lão đến các cháu nhi đồng đã đứng chật các đường để chào mừng chúng tôi. Điều đó làm cho chúng tôi ghi nhớ mãi mối tình hữu nghị thắm thiết Việt – Ấn anh em.

Bombay là một thành phố rất quan trọng của nước Cộng hoà Ấn Độ, một trung tâm vǎn hoá, kỹ nghệ, khoa học. Lại là một cửa biển thông thương lớn.

Một điều nữa làm cho Bombay nổi tiếng trên thế giới, vì Bombay là quê hương của Thánh Gǎngđi, người đã nêu cao đạo đức yêu nước, khắc khổ, nhẫn nại, suốt đời hy sinh cho Tổ quốc, cho nhân dân, cho hoà bình. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Thủ tướng Nêru và sự cố gắng của toàn dân Ấn Độ, từ ngày độc lập, nước Cộng hoà Ấn Độ đã trở nên một nước hùng mạnh. Trong sự nghiệp đó nhân dân Bombay đã góp phần xứng đáng của mình.

Ngày nay, thế giới đang đứng trước một cuộc đấu tranh quyết liệt giữa hai lực lượng: lực lượng chiến tranh và lực lượng hoà bình. Chiến tranh là mục đích của các khối quân sự xâm lược. Lực lượng hoà bình gồm có tuyệt đại đa số nhân dân trên thế giới, trong đó có gần 400 triệu nhân dân Ấn Độ. Lực lượng ấy ngày càng lớn mạnh. Nhân dân thế giới ngày thêm đoàn kết, kiên quyết đấu tranh để giữ gìn hoà bình. Nhân dân thế giới ra sức tǎng cường đoàn kết và đấu tranh thì hoà bình thế giới chắc chắn giữ được.

Trong công cuộc giữ gìn hoà bình thế giới, chúng tôi sung sướng nhận thấy các nước Á – Phi chúng ta giữ một vai trò quan trọng và Ấn Độ đã góp phần xứng đáng của mình.

Ngày nay, 1.200 triệu nhân dân Á – Phi đã được giải phóng. Nhưng một số nước Á – Phi anh em vẫn còn đau khổ dưới gót sắt của thực dân, họ đang anh dũng đấu tranh cho tự do, độc lập. Nhân dân Việt Nam hoàn toàn đồng tình và ủng hộ các dân tộc anh em đó.

Sau 8, 9 nǎm kháng chiến gian khổ chống thực dân, Việt Nam đã giành được thắng lợi. Hội nghị Giơnevơ đã công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Nhưng đến nay đất nước chúng tôi còn bị chia cắt làm hai miền, đó là vì sự can thiệp của đế quốc Mỹ. Tuy vậy, chúng tôi tin chắc rằng cuộc đấu tranh cho thống nhất của Việt Nam nhất định thắng lợi.

Nhân dân Việt Nam luôn luôn biết ơn nhân dân Ấn Độ đã ủng hộ mình và luôn luôn ghi nhớ sự đồng tình và ủng hộ của Thánh Gǎngđi, của Thủ tướng Nêru đối với cuộc kháng chiến của chúng tôi.

Trong sự nghiệp đấu tranh cho hoà bình, chống chủ nghĩa thực dân, nhân dân hai nước chúng ta luôn luôn sát cánh cùng nhau. Chúng ta đã đạp đổ bức tường thực dân trước đây ngǎn cách chúng ta. Từ nay quan hệ giữa hai nước chúng ta ngày càng được thắt chặt. Chúng tôi tin rằng những quan hệ hữu nghị đó sẽ tǎng cường mãi mãi.

—————————

Nói ngày 10-2-1958.
Sách Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1960, t.V, tr.46-47.
cpv.org.vn

Nói chuyện với nhân dân Ấn Độ trước khi rời ấn Độ sang thǎm Liên bang Miến Điện (13-2-1958)

Thưa bà con thân mến ,

Anh chị em ấn Độ thân mến,

Chúng tôi rất hân hạnh được nói chuyện với bà con ấn Độ. Cuộc đi thǎm hữu nghị của chúng tôi ở ấn Độ vĩ đại đã đạt kết quả tốt đẹp. Chúng tôi đã gặp Tổng thống Praxát kính mến, đã cùng Thủ tướng Nêru, vị lãnh đạo xuất sắc của ấn Độ, người bạn quý mến của nhân dân Việt Nam, trao đổi ý kiến thân mật. Chúng tôi đã nhất trí về những vấn đề quốc tế quan trọng và những vấn đề thuộc về quan hệ hữu nghị giữa hai nước.

Trong cuộc đi thǎm này, chúng tôi đã có dịp tiếp xúc với nhiều tầng lớp nhân dân ấn Độ. Chúng tôi đã được gặp công nhân ở nhiều nhà máy, anh chị em nông dân trong những công trình cải tiến nông thôn, các nhà khoa học, các nghệ sĩ, v.v.. Chúng tôi thấy ai ai cũng đầy lòng yêu nước và hǎng hái làm việc để xây dựng một nước ấn Độ phồn thịnh. ở đâu chúng tôi cũng được nghe những tiếng nói hữu nghị và hoà bình. Nhiều bạn đã biểu lộ mối cảm tình sâu sắc đối với nhân dân Việt Nam và đã có những lời thắm thiết chúc cho nước Việt Nam mau thống nhất.

Đến thǎm nước các bạn, chúng tôi được hiểu thêm về nền vǎn hoá lâu đời hiện nay đang được phát triển tốt đẹp và được thấy rõ hơn những công trình xây dựng to lớn của các bạn. Chúng tôi hết sức vui mừng trước những thành tích to lớn của các bạn, vì chúng tôi coi đó cũng là thành tích của chúng tôi. Chúng tôi rất tin tưởng vào tài nǎng và sức sáng tạo của 400 triệu nhân dân ấn Độ vĩ đại đang xây dựng xứ sở và cùng các dân tộc anh em khác ra sức bảo vệ hoà bình thế giới.

Mười ngày thấm thoắt qua nhanh. Tục ngữ Việt Nam có nói: “Khi lòng người buồn bã thì thấy thời gian đi rất chậm. Khi lòng người vui vẻ thì thấy thời gian đi rất nhanh”. Với sự đón tiếp nhiệt liệt, với sự tổ chức chu đáo, với sự sǎn sóc tận tình của Chính phủ và nhân dân ấn Độ, chúng tôi thấy thời gian đi rất nhanh. Chúng tôi sẽ ghi nhớ mãi mãi hình ảnh tươi đẹp của nước ấn Độ anh em. Chúng tôi ghi nhớ mãi mãi mối tình hữu nghị nhiệt liệt của bà con ấn Độ, các bạn thanh niên và các cháu thiếu nhi đối với chúng tôi. Khi về nước, chúng tôi sẽ báo cáo lại những điều tai nghe mắt thấy với nhân dân Việt Nam, chúng tôi sẽ chuyển tất cả những lời chào thân ái của bà con ấn Độ cho đồng bào Việt Nam chúng tôi.

Chúng tôi rời đất nước các bạn, nhưng lòng rất quyến luyến các bạn.

Chúng tôi thành thật cảm ơn sự đón tiếp nồng nhiệt của Tổng thống R.Praxát, Thủ tướng Gi.Nêru và các vị trong Chính phủ ấn Độ. Chúng tôi cũng xin cảm ơn các vị Thủ hiến, Chủ tịch và Bộ trưởng các xứ, các vị Thị trưởng, các cấp cán bộ và nhân viên Chính phủ ở những nơi chúng tôi đã đi qua, cũng như các anh em nhân viên liên lạc và hàng không đã tận tình sǎn sóc chúng tôi.

Chào bà con, chào anh chị em thân mến của nước Cộng hoà ấn Độ vĩ đại. Cuối cùng, Bác Hồ gửi các cháu nhi đồng ấn Độ nhiều cái hôn.

Tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và ấn Độ bền vững muôn nǎm!

Tình đoàn kết giữa các nước á – Phi muôn nǎm!

Hoà bình thế giới muôn nǎm!

Jai Hindi !

———————————-

Nói trước Đài phát thanh Ấn Độ tối 13-2-1958.
Tài liệu lưu tại Cục lưu trữ Trung ương Đảng.
cpv.org.vn

Bài nói tại cuộc họp báo ở Rǎnggun (Miến Điện) (16-2-1958)

Trong 3 ngày vừa qua, chúng tôi đã đi thǎm đất nước Miến Điện tươi đẹp và giàu có. Chúng tôi đã nói chuyện thân mật và trao đổi ý kiến với Tổng thống U Vin Môn, Thủ tướng U Nu, các Phó Thủ tướng, cùng nhiều vị lãnh đạo khác của Liên bang Miến Điện. Chúng tôi đã tiếp xúc với nhiều vị nhân sĩ và nhiều tầng lớp nhân dân. Chúng tôi đã đi thǎm Rǎnggun, Thủ đô vẻ vang của Miến Điện và nhiều thắng cảnh ở bang San. Đâu đâu chúng tôi cũng được Chính phủ và nhân dân Miến Điện đón tiếp nhiệt liệt và tỏ mối tình hữu nghị thắm thiết đối với nhân dân Việt Nam. Chúng tôi đã thấy rõ sự nỗ lực cố gắng xây dựng đất nước, lòng yêu nước nồng nàn, đức tính cần cù lao động và lòng tha thiết yêu chuộng hoà bình của nhân dân Miến Điện. Chúng tôi vui mừng thấy nước Miến Điện anh em ngày càng phồn thịnh và đóng một vai trò quan trọng trên trường quốc tế.

Hai nước Việt Nam và Miến Điện đều là những nước ở châu á có nhiều điểm giống nhau, gần nhau về vǎn hoá, phong tục tập quán, cũng như về địa lý khí hậu, tài nguyên. Hai nước chúng ta đã trải qua các cuộc đấu tranh gian khổ chống thực dân, giành lấy độc lập dân tộc. Chính phủ và nhân dân Miến Điện đã ủng hộ tích cực nhân dân nước chúng tôi trong lúc kháng chiến và đã cùng với ấn Độ và nhiều nước á-Phi khác đóng góp một phần quan trọng vào việc lập lại hoà bình ở Việt Nam. Ngày nay hai nước chúng ta đã độc lập, gắn bó bằng tinh thần Bǎngđung, bằng mối tình đoàn kết giữa các dân tộc á – Phi, hai dân tộc Việt Nam và Miến Điện đều mong muốn có một nền hoà bình lâu dài để xây dựng một cuộc đời tự do, no ấm, để kiến thiết xứ sở giàu mạnh.

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Liên bang Miến Điện nhất trí về những vấn đề quốc tế quan trọng hiện tại.

Sau đây, tôi đề cập đến một số vấn đề:

1. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà theo một chính sách ngoại giao hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc. Nhân dân Việt Nam đã từng sống đau khổ dưới ách áp bức của thực dân, đã đổ máu hy sinh giành lấy tự do và độc lập dân tộc, vì vậy nhân dân Việt Nam kiên quyết chống chủ nghĩa thực dân, kiên quyết bảo vệ hoà bình, chống chiến tranh. Khẩu hiệu của chúng tôi là: Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh.

Hiện nay, 1.200 triệu nhân dân châu á và châu Phi đã được giải phóng khỏi ách nô lệ thuộc địa và nửa thuộc địa. Hệ thống thuộc địa đang tiếp tục sụp đổ không sao tránh khỏi. Các dân tộc phương Đông đang đứng lên chống bọn xâm lược và không chịu để cho ai áp bức mình nữa. Bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngày 2 tháng 9 nǎm 1945 đã ghi rõ: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà triệt để ủng hộ mọi cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Miền Tây Iriǎng phải trở về với Inđônêxia, vùng Goa phải trở về ấn Độ, nhân dân Angiêri phải được độc lập.

Trong tình hình quốc tế hiện nay, lực lượng hoà bình đã mạnh hơn lực lượng hiếu chiến, nhưng nguy cơ một cuộc chiến tranh nguyên tử và khinh khí còn đang đe doạ nhân loại với những sự tàn phá và tang tóc không thể lường được. Vì vậy cần phải chấm dứt cuộc chạy đua vũ trang hiện tại, xoá bỏ những khối quân sự xâm lược, tạo ra một bầu không khí tin cậy lẫn nhau giữa các nước làm cho tình hình thế giới bớt cǎng thẳng. Một cuộc gặp gỡ giữa những vị đứng đầu các nước để giải quyết những vấn đề đó là điều mà nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới đang đòi hỏi. Việc tích cực thực hiện nǎm nguyên tắc chung sống hoà bình đã được đề ra trong bản tuyên bố Trung – ấn và Trung – Miến, trong mọi quan hệ quốc tế chắc chắn sẽ củng cố hoà bình và tǎng cường hữu nghị giữa các nước.

Việc các giới hiếu chiến thi hành chính sách thực lực của họ, đã thành lập khối xâm lược Đông – Nam á, làm cho tình hình ở khu vực này thêm cǎng thẳng. Gần đây, người ta lại mưu toan liên kết chặt chẽ khối xâm lược này với các khối Bắc Đại Tây Dương và Bátđa, đó là điều mà nhân dân Đông – Nam á và nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới nhất định phản đối và lên án. Việc đặt miền Nam Việt Nam vào khu vực bảo trợ của khối xâm lược Đông- Nam á là một sự vi phạm trắng trợn Hiệp định Giơnevơ, xâm phạm đến độc lập và chủ quyền của Việt Nam, đe doạ an ninh và hoà bình của nhân dân Đông – Nam á. Chúng tôi hết sức phản đối những kế hoạch nhằm lôi kéo miền Nam Việt Nam cũng như những nước khác ở Đông Dương vào khối xâm lược này.

2. Một vấn đề thiết tha nhất, một yêu cầu bức thiết nhất của nhân dân Việt Nam là việc thống nhất nước Việt Nam.

Trước hết, chúng tôi xin chân thành cảm ơn nhân dân Miến Điện đã quan tâm nhiều tới vấn đề này, nhiều bạn Miến Điện đã chúc cho nước chúng tôi mau chóng thống nhất.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà từ nǎm 1955 đã nhiều lần đề nghị với chính quyền miền Nam Việt Nam mở hội nghị hiệp thương để bàn về vấn đề tổng tuyển cử nhằm thống nhất nước nhà. Chúng tôi đã nhiều lần đề nghị lập lại quan hệ bình thường về kinh tế, vǎn hoá, xã hội giữa hai miền Bắc Nam. Tuy vậy, do sự can thiệp của nước ngoài, tới nay chính quyền miền Nam vẫn chưa chịu trả lời.

Quan điểm về thống nhất đất nước của chúng tôi rất rõ ràng. Chúng tôi chủ trương thống nhất Tổ quốc trên cơ sở độc lập và dân chủ bằng phương pháp hoà bình như Hiệp định Giơnevơ đã quy định, không bên nào cưỡng ép, thôn tính bên nào. Chúng tôi luôn luôn sẵn sàng gặp gỡ và cùng với chính quyền miền Nam đứng trên tinh thần thương lượng nhân nhượng, hiểu biết lẫn nhau, để bàn về tổng tuyển cử thống nhất nước Việt Nam. Tổng tuyển cử trong cả nước sẽ tổ chức theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp, bí mật và đặt dưới sự kiểm soát của Uỷ ban Quốc tế như Hiệp định Giơnevơ quy định. Quốc hội sẽ định ra Hiến pháp tối cao của Nhà nước, thật sự đảm bảo đặc quyền của các đại biểu Quốc hội. Chính phủ liên hợp do Quốc hội bầu ra sẽ thành lập để tǎng cường đoàn kết các đảng phái, các tầng lớp, các dân tộc, các miền. Chiếu cố đến tình hình khác nhau giữa hai miền, mỗi địa phương có quyền ra những luật lệ địa phương thích hợp với đặc điểm của địa phương và không trái với pháp luật chung của Nhà nước. Trong khi nước nhà chưa thống nhất, nhà đương cục có trách nhiệm ở hai miền cần làm cho hai miền gần gũi hiểu biết nhau bằng cách lập lại quan hệ bình thường giữa hai miền, đảm bảo mọi quyền tự do dân chủ cho các tổ chức và cá nhân tán thành hoà bình, thống nhất, dân chủ. Chúng tôi cho rằng chủ trương đó hợp tình hợp lý, vì nó xuất phát từ nguyện vọng chính đáng của toàn dân Việt Nam và từ tình hình thực tế ở hai miền và đúng với Hiệp định Giơnevơ.

Nước Việt Nam là một khối thống nhất không thể chia cắt được. Dân tộc Việt Nam từ lâu đã xây đắp Tổ quốc mình suốt từ Bắc chí Nam cùng chung một lịch sử, một tiếng nói, một nền kinh tế, cùng đứng lên đánh đuổi thực dân. Dân tộc Việt Nam kiên quyết đấu tranh thống nhất nước nhà. Nhà cầm quyền miền Nam có nhiệm vụ đình chỉ việc chở vũ khí và đạn dược trái phép vào miền Nam, chấm dứt việc khủng bố những người yêu nước, tán thành hoà bình thống nhất, đặt lại quan hệ bình thường giữa hai miền; họ cần phải cùng với Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mở hội nghị hiệp thương bàn về tổng tuyển cử thống nhất nước Việt Nam như Hiệp định Giơnevơ quy định. Với truyền thống đoàn kết và đấu tranh của nhân dân Việt Nam, với sự đồng tình ủng của nhân dân thế giới, cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà của chúng tôi nhất định sẽ thắng lợi, vì đó là cuộc đấu tranh chính nghĩa.

3. Cuộc đi thǎm hữu nghị Liên bang Miến Điện của chúng tôi lần này đã đạt được kết quả tốt đẹp, thắt chặt hơn nữa mối quan
hệ hữu nghị giữa hai nước chúng ta.

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Tổng thống U Vin Môn, Thủ tướng U Nu, các vị trong Chính phủ, các nhà cầm quyền địa phương và toàn thể nhân dân Miến Điện anh em.

Chúng tôi sẽ ghi nhớ mãi những cảm tưởng tốt đẹp trong cuộc đi thǎm hữu nghị này.

Cảm ơn các bạn đã tới dự cuộc họp thân mật này.

—————————-

Nói ngày 16-2-1958.
Sách Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1960, t.V, tr. 50-54.
cpv.org.vn

Đáp từ tại lễ nhận bằng Luật học danh dự của Trường đại học Rǎnggun (Miến Điện) (17-2-1958)

Các bạn ở một trung tâm vǎn hoá có truyền thống vẻ vang yêu nước và anh dũng chống thực dân. Trường này đã đào tạo ra vị anh hùng dân tộc Ung San và các nhà lãnh đạo khác của Miến Điện. Tương lai của các bạn rất vẻ vang.

Miến Điện là một nước giàu có, nhân dân thì khéo léo và cần cù, có đủ điều kiện trở nên một nước giàu mạnh. Các bậc tiền bối của các bạn đã đấu tranh anh dũng để giành độc lập cho Tổ quốc. Nay Chính phủ và nhân dân Miến Điện đang ra sức xây dựng nước nhà. Các bạn phải là những cán bộ tốt đem hết đức và tài của mình để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

—————————-

Nói ngày 17-2-1958.
Báo Nhân dân, số 1474, ngày 25-3-1958.
cpv.org.vn

Diễn từ trước khi rời Miến Điện (17-2-1958)

Thưa Tổng thống kính mến,

Thưa Thủ tướng kính mến,

Thưa các bạn, anh em, chị em,

Hôm nay, chúng tôi từ giã các vị và trở về nước chúng tôi. Lòng chúng tôi rất lưu luyến các vị và nhân dân Miến Điện anh em.

Trong mấy ngày ở trên đất nước tươi đẹp của các bạn, chúng tôi đã tiếp xúc thân mật với Tổng thống, Thủ tướng và các vị lãnh đạo khác của Liên bang Miến Điện. Chúng tôi đã hội đàm với Thủ tướng U Nu và các vị khác trong Chính phủ. Những vấn đề quốc tế quan trọng và những vấn đề có liên quan giữa hai nước đều được hai bên hoàn toàn nhất trí.

Đi đến đâu chúng tôi cũng thấy tình hữu nghị sâu sắc của nhân dân Miến Điện đối với nhân dân Việt Nam.

Ở đâu chúng tôi cũng thấy nhân dân Miến Điện yêu lao động, yêu Tổ quốc và yêu hoà bình. Chúng tôi tin chắc rằng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Chính phủ, nhân dân Liên bang Miến Điện sẽ thu nhiều thành tích vẻ vang trong sự nghiệp xây dựng đất nước phồn vinh và hạnh phúc.

Cuộc đi thǎm Liên bang Miến Điện của chúng tôi kết thúc tốt đẹp. Ngày mai là ngày Tết âm lịch của nhân dân Việt Nam. Chúng tôi sung sướng được mang về cho đồng bào chúng tôi món quà Tết rất quý báu là lời chúc hữu nghị thắm thiết của nhân dân Liên bang Miến Điện. Chắc chắn rằng đồng bào chúng tôi sẽ rất vui mừng phấn khởi.

Một lần nữa, chúng tôi xin thành thật cảm ơn Tổng thống, Thủ tướng, các vị khác trong Chính phủ, các nhà lãnh đạo địa phương và nhân dân Liên bang Miến Điện đã đón tiếp chúng tôi nhiệt liệt và thân mật như anh em.

Chúc Liên bang Miến Điện ngày càng phồn vinh!

Tình hữu nghị giữa Việt Nam và Liên bang Miến Điện muôn nǎm!

Hoà bình châu Á và thế giới muôn nǎm!

Thân ái chào Tổng thống, Thủ tướng và các anh chị em thân mến!

——————————-

Nói ngày 17-2-1958.
Sách Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1960, t.V, tr. 55-56.
cpv.org.vn

Nói chuyện tại Hội chợ triển lãm thủ công nghiệp và tiểu công nghiệp (21-2-1958)

Những người sản xuất phải cố gắng sản xuất nhanh, nhiều, tốt và rẻ. Hàng làm ra nhanh và nhiều nhưng không tốt và rẻ thì không ai mua. Đồng bào ta nồng nàn yêu nước nên rất muốn dùng hàng của ta sản xuất, nhưng trước nhất người sản xuất phải làm hàng tốt và rẻ. Người sản xuất phải thực thà sản xuất hàng tốt cho đồng bào dùng, không nên làm hàng trưng bày thì tốt mà hàng bán thì xấu. Giá cả phải chǎng, không lừa dối người mua. Sản xuất phải thiết thực và đúng hướng, đảm bảo làm nhiều loại hàng tốt và rẻ cần dùng cho đông đảo nhân dân. Những người sản xuất phải tổ chức thành tập đoàn, hợp tác xã thì mới có thể sản xuất được nhiều, tốt, không lãng phí tài nǎng và thời giờ. Có làm được những điều trên thì sản xuất thủ công nghiệp và tiểu công nghiệp mới có tương lai, mới vẻ vang. Đảng và Chính phủ sẵn sàng giới thiệu hàng của ta sản xuất để đồng bào biết mà dùng.

—————————

Nói ngày 21-2-1958.
Báo Nhân dân, số 1443, ngày 22-2-1958
cpv.org.vn