Thư viện

Phong cách báo chí Hồ Chí Minh

Kỷ niệm 87 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21-6-1925 / 21-6-2012)

QĐND – Chủ tịch Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam. Hồ Chí Minh còn là nhà báo vĩ đại của dân tộc, Người đã khai sinh ra nền báo chí cách mạng Việt Nam và dắt dẫn báo chí nước ta phát triển và trưởng thành. Các phẩm chất tuyệt vời “đại nhân, đại trí, đại dũng” của Bác đều dành cho cách mạng-vì dân tộc và nhân loại cần lao. Là nhà cách mạng lỗi lạc, lại được xuất thân trong một gia đình có truyền thống văn hóa uyên thâm, bản thân lại có năng khiếu bẩm sinh về báo chí và văn chương, Người đã sử dụng báo chí (và văn chương) làm một thứ vũ khí sắc bén trong hoạt động cách mạng. Các tác phẩm của Người có giá trị to lớn về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật. Riêng về báo chí, kể từ năm 1919 cho đến năm 1969, Bác Hồ đã viết hơn 2000 bài báo, thuộc nhiều thể loại, với nhiều bút danh, tạo nên một phong cách đặc sắc-phong cách báo chí Hồ Chí Minh.

Phong cách báo chí Hồ Chí Minh là sự tổng hòa những đặc điểm độc đáo, sinh động và giàu tính thẩm mỹ về tư tưởng, đạo đức, về đề tài, thể loại, kết cấu và văn phong, cũng như các hình thức thể hiện trong các tác phẩm báo chí của Bác. Cơ sở tư tưởng của phong cách báo chí Hồ Chí Minh là: Vì độc lập của Tổ quốc, vì tự do và hạnh phúc của nhân dân, kết hợp với đạo đức cao cả và trong sáng của Người là: “Cần-kiệm-liêm-chính, chí công vô tư”. Đấy cũng là mục đích, là nội dung khái quát các tác phẩm báo chí của Bác Hồ.

Đề tài các tác phẩm báo chí Hồ Chí Minh rất đa dạng. Bác không viết chuyên sâu về một đề tài, như nhiều nhà báo, nhà văn chuyên nghiệp. Bác không bỏ qua một đề tài nào, một vấn đề nào, một sự việc nào liên quan đến đời sống của nhân dân ta và cách mạng quốc tế. Bác viết về mọi đối tượng: Về ta, về bạn, về địch. Đề tài quan trọng, tập trung nhất của Bác là viết về ta. Bác viết về mọi tầng lớp nhân dân: Nam, phụ, lão, ấu, về công-nông-binh-trí thức, những người buôn bán, những người theo các loại tôn giáo và các nhà tư sản dân tộc có lòng yêu nước thương nòi-để kêu gọi: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”! Bác đi vào những đề tài thiết thực nhất đối với nhân dân và đất nước. Viết về “Đời sống mới”, Bác chỉ ra những nội dung cụ thể, là: “Sốt sắng yêu Tổ quốc”, “Sẵn lòng công ích”, cho đến cách ăn mặc, làm việc, biết cư xử và “biết ham học”, v.v.. Bác viết về Tết Trung thu, sức khỏe và thể dục, bình dân học vụ, “Đạo đức công dân”; “Tìm người tài đức” phục vụ cho kháng chiến và kiến quốc, cho đến các vấn đề của cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược, v.v..

Hồ Chí Minh là nhà báo vĩ đại của dân tộc. Ảnh: internet

Thể loại báo chí của Bác rất phong phú. Bác vận dụng mọi hình thức thể loại để biểu đạt nội dung, nhằm mục đích: “Giáo dục, giải thích, cổ động, phê bình. Để phục vụ quần chúng” (Lời Bác trong bài “Cách viết”, 8-1953). Từ các bài nói, bài viết, bài thơ, các bức thư (đăng báo) cho đến các thể tài tin, bài, phóng sự, ký sự, bút ký hay tùy bút (chủ yếu Bác viết vào những năm 20 của thế kỷ XX) được Bác dùng xen kẽ, kết hợp với nhau, tuy Bác không ghi là “phóng sự”, “ký sự”, “bút ký” hay “tùy bút” dưới nhan đề bài viết của mình. Nếu chỉ căn cứ vào lý luận về thể loại theo cách hiểu cũ, rập khuôn, máy móc, sẽ không thể hiểu hết được các vấn đề hình thức thể loại của các tác phẩm báo chí Hồ Chí Minh. Nói cách khác, là một nhà báo vĩ đại, kỳ tài, Bác Hồ không lệ thuộc vào hình thức thể loại của bài viết, chỉ cốt trình bày tốt nhất nội dung, thể hiện rõ nhất chính kiến của mình. Vì vậy, Người đã sáng tạo, bổ sung, đem lại nhiều vấn đề mới mẻ, độc đáo và khoáng đạt cho lý luận về thể loại của tác phẩm báo chí ngày nay và trong tương lai-kể cả ở Việt Nam và thế giới. Thường là Bác kết hợp một vài thể loại trong bài viết của mình, tạo nên một sắc diện tươi tắn, sinh động và biến hóa cho tác phẩm, nhằm làm cho quần chúng “nhớ được”, “hiểu được” và “làm được” (chữ Bác dùng). Bác nói: “Cần làm cho món ăn tinh thần được phong phú, không nên bắt mọi người chỉ được ăn một món thôi. Cũng như vào vườn hoa, cần làm cho mọi người thấy được nhiều loài hoa đẹp” (trích bài “Cách viết”).

Kết cấu bài viết của Bác chặt chẽ, gọn gàng. Bác thường vào đề bằng lời trực tiếp. Nhiều bài viết của Bác không phải cứ theo khuôn mẫu: Mở bài, thân bài và kết luận, mà chỉ có hai phần: Đặt vấn đề và giải quyết vấn đề. Ngay trong phần đặt vấn đề, cũng đã có ý giải quyết vấn đề, nhưng ý tứ rất rõ ràng, mạch lạc. Mỗi phần trong một bài, Bác chỉ nêu một, hai ý lớn; mỗi ý được diễn đạt bằng một, hai câu hoặc đoạn văn ngắn gọn. Văn phong của Bác đa dạng, thể hiện bộ óc thông minh trác tuyệt, tâm hồn lộng gió thời đại và sự am hiểu văn hóa Đông-Tây, kim-cổ của Người vô cùng sâu rộng. Viết về kẻ địch, Bác thường dùng lối văn châm biếm ý nhị nhưng ý tứ rất sâu xa, sắc sảo, thông minh đến kỳ lạ; văn phong vừa có tính chất báo chí, vừa có tính chất nghệ thuật văn chương. Viết về ta, viết cho quần chúng nhân dân, Bác lại dùng lời văn nôm na, vận dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ của dân tộc, diễn đạt theo cách nói, cách nghĩ, cách cảm của quần chúng.

Các tác phẩm báo chí của Bác thường rất ngắn, viết “thiết thực” và kịp thời, không lạm dụng tiếng nước ngoài. Nét độc đáo này cũng xuất phát từ định hướng tư tưởng: “Viết cho ai?”, “Viết để làm gì?” của Bác. Phê phán cái lối viết “rau muống”, nghĩa là tràng giang đại hải, làm cho người đọc như bị “chắt chắt vào rừng xanh”, Bác dạy các nhà báo: “Phải viết gọn gàng, rõ ràng, vắn tắt”, vì “trình độ của đại đa số đồng bào ta bây giờ không cho phép đọc dài, điều kiện giấy mực của ta không cho phép viết dài và in dài, thì giờ của ta, người lính đánh giặc, người dân đi làm không cho phép xem lâu” (trích bài “Cách viết”). Bác không lạm dụng tiếng nước ngoài, mặc dù Người thông thạo nhiều ngoại ngữ. Bác nói: “Các ông viết báo nhà mình hay dùng chữ quá. Những chữ tiếng ta có mà không dùng, lại dùng cho được chữ kia”. Bác dạy: “Chớ ham dùng chữ. Những chữ mà không biết rõ thì chớ dùng”. Bác khuyên các nhà báo phải “học cách nói, tiếng nói của quần chúng”, và chính Bác đã làm gương về mặt này. Vì thế, ngôn ngữ báo chí Hồ Chí Minh rất giản dị, trong sáng, đậm đà tính dân tộc.

Phong cách báo chí Hồ Chí Minh là mẫu mực tuyệt vời của báo chí cách mạng nước ta 87 năm qua và còn mãi mãi, có tiếng vang lớn đối với báo chí quốc tế. Những tác phẩm báo chí bất hủ của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã tạo nên phong cách báo chí Hồ Chí Minh, có sức mạnh lớn lao động viên nhân dân làm nên những thành tựu huy hoàng của cách mạng Việt Nam, trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc, tạo dựng vị thế Việt Nam trên thế giới, khích lệ chúng ta vững bước tiến hành công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế ngày nay.

ĐÀO NGỌC ĐỆ
qdnd.vn

Bác Hồ với báo chí cách mạng Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một chiến sỹ cách mạng lỗi lạc, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam mà còn là một cây bút xuất sắc, một nhà báo lớn, Người khai sinh nền báo chí cách mạng Việt Nam.

Tại Đại hội lần thứ III những người viết báo Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: Cán bộ báo chí cũng là chiến sỹ cách mạng, cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén… (8/9/1962). Ảnh: Tư liệuTại Đại hội lần thứ III những người viết báo Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: Cán bộ báo chí cũng là chiến sỹ cách mạng, cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén… (8/9/1962). Ảnh: Tư liệu

Trong hành trình đi tìm đường cứu nước, Bác Hồ đã học cách viết báo, làm báo. Với Bác, báo chí phục vụ mục đích trong sáng và cao cả của Đảng, của sự nghiệp cách mạng, là công cụ để tuyên truyền khơi dậy tinh thần yêu nước của nhân dân ta, biểu dương những cái tốt, người tốt, việc tốt, ngăn chặn và đẩy lùi cái xấu, cái tiêu cực.

Báo chí Hồ Chí Minh là báo chí cách mạng, báo chí phục vụ và phụng sự sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân và của dân tộc. Bác là nhà báo với ý nghĩa chân chính nhất của nghề báo. Không chú ý đến tên tuổi và sự nghiệp mà chỉ quan tâm đến cái đích thiêng liêng đó.

Bài báo đầu tiên của Người giống như một mũi tên bắn chính diện vào kẻ thù ngay trên đất nước của bọn chúng, bài “Yêu sách của nhân dân Việt Nam” được gửi đến hội nghị Versailles (Véc xây) năm 1919 và Người vạch trần bản chất bóc lột, vô nhân đạo của thực dân qua bài “Tâm địa thực dân”.

Chính vì mục đích đó, năm 1922, tại Pháp, Bác đã tham gia sáng lập tờ báo “Le Paria” (Người cùng khổ) và được coi là “linh hồn” của tờ báo, Người vừa làm chủ bút, chủ biên, giữ quỹ, phát hành và bán báo. Với báo “Người cùng khổ”, bằng ngòi bút sắc sảo, Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần tội ác của bọn xâm lược tại các thuộc địa để cho nhân dân Pháp và nhân dân thế giới thấy rõ và ủng hộ cho cuộc chiến tranh chính nghĩa đòi quyền sống, quyền con người, quyền dân tộc của các dân tộc thuộc địa. Năm 1924, Người sáng lập báo “Quốc tế nông dân”. Đặc biệt, đến năm 1925, tờ báo “Thanh niên” – cơ quan ngôn luận của Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội ra số đầu tiên ngày 21/6/1925 là điểm mốc đáng nhớ, đánh dấu sự ra đời của nền báo chí cách mạng Việt Nam hay nói cách khác là sự mở đầu cho cả một dòng báo chí ở Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đã dùng tờ báo làm công cụ tuyên truyền con đường cách mạng giải phóng dân tộc, để tập hợp và giác ngộ quần chúng, chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nhằm phát huy truyền thống tốt đẹp của báo chí cách mạng và nêu cao trách nhiệm của báo chí, của nhà báo trước xã hội, Ban Bí thư Trung ương Đảng quyết định lấy ngày 21/6 hàng năm là Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của báo chí đối với sự nghiệp cách mạng, vì vậy Bác rất cẩn trọng trong từng câu chữ, ý tứ, nội dung các bài báo mình viết. Bác luôn quan niệm phải viết sao cho dân chúng hiểu và quan tâm đọc. Bác có một thói quen là thường đem những bài báo sau khi viết xong cho những người xung quanh nghe và góp ý, kể cả khi Người đã làm Chủ tịch nước. Vì thế, văn phong của Bác thường ngắn gọn, trong sáng, dễ hiểu, dễ nhớ mà vẫn thể hiện những nội dung quan trọng cần truyền bá tới người dân.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ đã viết khoảng 2.000 bài báo, tác phẩm với nhiều thể loại, và được ký bằng 174 tên gọi, bí danh và bút danh khác nhau. Đó là những tác phẩm lý luận quan trọng, là cẩm nang chỉ đường cho Đảng và nhân dân ta trong các giai đoạn cách mạng.

Tháng 4/1959, tại Đại hội lần thứ II của Hội Nhà báo Việt Nam, Người chỉ rõ “Báo chí ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Chính phủ”. Để báo chí luôn là diễn đàn của nhân dân, phục vụ nhân dân, Người khẳng định “Một tờ báo không được đại đa số (dân chúng) ham muốn thì không xứng đáng là một tờ báo” và “Không riêng vì viết sách, viết báo, mà công tác gì muốn làm tốt điều phải coi trọng ý kiến của nhân dân”.

Tháng 9/1962, tại Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam, Bác nói “Cán bộ báo chí cũng là chiến sỹ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”. Trong cách thể hiện, người cho rằng “Làm báo phải hết sức cẩn thận về hình thức, nội dung, cách viết”. Mục đích “Viết để làm gì? Viết để cho ai xem? Viết như thế nào?” chính là những yếu tố giúp báo chí hoàn thành sứ mệnh là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và quần chúng; là cầu nối để các cộng đồng hiểu nhau hơn. Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang đó, Người đòi hỏi báo chí cách mạng không ngừng học tập, nâng cao trình độ hiểu biết chính trị và bản lĩnh nghề nghiệp. Do vậy, người làm báo cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng, không ngại khó khăn, hy sinh, vì nhân dân phục vụ; cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hóa; chú trọng học tập chính trị để nắm vững chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đi sâu vào thực tế, đi sâu vào quần chúng lao động. Người nhấn mạnh vai trò “chiến sỹ” của người làm báo, đòi hỏi nhà báo phải kiên định lập trường, giữ vững quan điểm báo chí cách mạng, không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt. Hơn ai hết, nhà báo phải là người chí công vô tư, có hiểu biết rộng và nhất là có cái tâm trong sáng. Người dạy, báo chí là một nghề, cho nên người làm báo cách mạng cần được bồi dưỡng lập trường cách mạng vững vàng, thường xuyên rèn luyện đạo đức, được đào tạo nghề nghiệp, biết ngoại ngữ… Những người làm báo phải biết trau dồi kiến thức, học tập lý luận, lăn lộn trong thực tiễn và gắn bó với nhân dân.

Theo dòng chảy của cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, học tập, vận dụng và phát triển tư tưởng, quan điểm của Bác Hồ, báo chí cách mạng Việt Nam không ngừng lớn mạnh, hiện nay cả nước có 954 cơ quan báo chí; trong đó 706 cơ quan báo in, 67 đài phát thanh truyền hình và có trên 17.000 nhà báo thuộc cơ quan báo chí được cấp thẻ nhà báo. Trong suốt chặng đường phát triển, báo chí Việt Nam và đội ngũ các nhà báo đã không ngừng cố gắng, cống hiến và làm tốt vai trò là người tuyên truyền cổ động, giáo dục, giác ngộ dân chúng để đưa dân chúng đến mục đích chung của sự nghiệp cách mạng nước nhà.

Hiện nay, đất nước ta ngày càng phát triển bền vững và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng trên các lĩnh vực, đòi hỏi cơ quan báo chí và những người làm báo tiếp tục phát huy truyền thống báo chí cách mạng 87 năm qua, hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, luôn quán triệt quan điểm có tính nguyên tắc, đó là báo chí đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, vừa là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, các tổ chức, chính trị, xã hội, nghề nghiệp, vừa là diễn đàn của nhân dân; tích cực tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cổ vũ toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới; đồng thời tiếp tục tuyên truyền và thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, các nghị quyết chuyên đề của Trung ương và “tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo tinh thần Chỉ thị 03/TW của Bộ Chính trị.

Phan Văn Phấn
(Phó trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy)

baolamdong.vn

Duyên nợ của Bác với báo chí

duyen no bac voi bao chi anh

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phòng làm việc của Người ở chiến khu Việt Bắc

Báo chí của ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ cho nhân dân. Mục đích của chúng ta là xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, giữ gìn hòa bình thế giới. Mỗi tờ báo như báo của nông dân, báo của công nhân, báo của thanh niên, báo của phụ nữ… nên có đặc điểm của nó…

Nói đến báo chí trước hết phải nói đến những người làm báo chí. Các cô, các chú đã có những ưu điểm như đã đóng góp vào cuộc kháng chiến thắng lợi, xây dựng hòa bình và đấu tranh thống nhất Tổ quốc. Nhiều đồng chí đã cố gắng làm việc. Gần đây, sau khi nghiên cứu chỉ thị của Trung ương, các đồng chí đã thấy rõ công việc báo chí là rất quan trọng, và đã thấy được những ưu điểm và khuyết điểm của mình. Như thế là tiến bộ.

Bệnh dùng chữ

Ưu điểm của các cô, các chú không ít. Nhưng khuyết điểm thì còn nhiều. Trong các đồng chí cũng còn có người hoặc ít hoặc nhiều chưa thoát khỏi ảnh hưởng tư sản và tiểu tư sản, cho nên nắm vấn đề chính trị chw\được chắc chắn. Nói về văn nghệ, Bác thú thật có ít thì giờ xem các bài văn nghệ. Có lẽ vì thế mà có lúc xem đến thì thấy cách viết thường ba hoa, dây cà, dây muống; và hình như viết là để đếm dòng lấy tiền, có những bài nhạt nhẽo thế nào ấy.

Còn viết về chính trị thì khô khan và có hai cái tệ: một là rập khuôn, hai là dùng quá nhiều chữ nước ngoài. Cái bệnh dùng chữ, là phổ biến trong tất cả các ngành. Đáng lẽ báo chí phải chống lại cái bệnh đó, nhưng trái ngược lại báo chí lại tuyên truyền cho cái tệ đó. Cố nhiên, có những chữ không thể dịch được thì ta phải mượn chữ nước ngoài. Ví dụ: những chữ kinh tế, chính trị… thì ta phải dùng. Hoặc có những chữ nếu dịch ra nếu dịch ra thì mất cả ý nghĩa, như chữ “độc lập”. Nếu “Việt Nam độc lập” mà nói “Việt Nam đứng một” thì không thể nghe được.

Nhưng có những tiếng ta sẵn có, thì tại sao lại dùng chữ nước ngoài. Ví dụ: vì sao không nói “đường to” mà lại nói “đại lộ”, không nói “người bắn giỏi” mà lại nói “xạ thủ”, không nói “hát múa” mà lại nói “ca vũ”?… Những ví dụ như vậy nhiều lắm, nhiều lắm. Các báo Nhân dân, Thời mới, Quân đội nhân dân… đều dùng chữ nhiều lắm.

Tóm lại chúng ta dùng chữ nhiều quá, có khi lại còn dùng sai nữa. Mong rằng báo chí cố gắng sửa đổi cái tệ ấy đi. Tiếng nói là một thứ của rất quý báu của dân tộc, chúng ta phải hết sức giữ gìn lấy nó, chớ để bệnh nói chữ lấn át nó đi.

Khoa học ngày càng phát triển, có những chữ mới mà ta chưa có, thì ta phải mượn. Ví dụ: ta phải nói “kilô”, vì nếu nói chữ “cân”, thì không đúng nghĩa là 1.000 gram. Song những chữ dùng tiếng ta cũng đúng nghĩa thì cứ dùng tiếng ta hơn. Có những người hình như sợ nói tiếng ta thì nói xấu hổ thế nào ấy! Họ làm cho các cháu học sinh cũng bị lây bệnh nói chữ, như “phụ đạo”, “giáo cụ trực quan”… Thật là tai hại!

Nghề báo – khó như mọi nghề khác

Mấy khuyết điểm nữa: Sau khi nghiên cứu chỉ thị của Trung ương về báo chí, có một số đồng chí tiến bộ, nhưng cũng có một số vì trình độ văn hóa chính trị còn kém thì đâm ra bi quan và muốn đổi làm nghề khác. Họ không biết rằng nghề nào cũng khó, không có nghề nào dễ. Phải có ý chí tự lập, tự cường, kém thì phải cố mà học. Chúng ta phải làm thế nào để vượt được khó khăn, làm tròn nhiệm vụ. Người cách mạng gặp khó khăn thì phải đánh thắng khó khăn, chứ không chịu thua khó khăn. “Không có việc gì khó, có chí thì làm nên”. Câu nói đó rất đúng.

Có người chỉ muốn làm cái gì để “lưu danh thiên cổ” cơ. Muốn viết bài cho oai, muốn đăng bài mình lên các báo lớn. Cái đó cũng không đúng. Những khuyết điểm đó đều do chủ nghĩa cá nhân đẻ ra. Họ không thấy rằng: làm việc gì có ích cho nhân dân, cho cách mạng đều là vẻ vang. Bất kì việc gì mà mình là tròn nhiệm vụ đều là vẻ vang. Trong các anh hùng, chiến sĩ lao động có người là công nhân, là nông dân, có người làm thầy thuốc, có người đánh giặc giỏi… và có người dọn cầu xia cũng trở thành chiến sĩ. Tóm lại, trong lao động không có nghề gì là hèn, chỉ có lười biếng mới là hèn. Làm tròn nhiệm vụ thì công tác nào cũng vẻ vang.

Nói về Hội Nhà báo. Đó là một tổ chức chính trị và nghiệp vụ. Nhiệm vụ của hội là phải làm cho hội viên đoàn kết chặt chẽ, giúp đỡ lẫn nhau để nâng cao trình độ chính trị và nghiệp vụ. Có như thế thì Hội nhà báo mới làm tròn nhiêm vụ của mình, và những người làm báo mới phục vụ tốt nhân dân, phục vụ tốt cách mạng.

Viết báo – là viết cho nhân dân

Chúng ta hãy đặt câu hỏi: Báo chí phải phục vụ ai?

Có người nói ở các nước tư bản có tự do báo chí và báo chí không có giai cấp. Nói vậy đúng không. Ví dụ: Các báo Pháp như báo Figaro, báo Nước Pháp buổi chiều… một mặt nó ru ngủ nhân dân, chia rẽ nhân dân, làm cho nhân dân mất chí khí phấn đấu, mất tinh thần đoàn kết giai cấp. Mặt khác, nó phục vụ giai cấp tư bản. Đó là những tờ báo chính trị. Lại còn những tờ báo “giật gân”, báo nói về ái tình, báo chuyên về lôi chuyện bí mật của những người có tiền ra để tống tiền… Tất cả báo chí ấy đều phục vụ lợi ích cho giai cấp bóc lột. Báo chí Pháp có thật tự do không? Không! Ví dụ báo Nhân đạo thường bị bọn thống trị tìm mọi cách để phá: nào phạt tiền, nào cho bọn du côn phá phách, nào làm khó khăn về giấy in, nhiều khi báo bị tịch thu…

Báo chí của ta phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, cho hòa bình thế giới. Chính vì thế cho nên tất cả những người làm báo (người viết, người in, người sửa bài, người phát hành, v.v…) phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Cho nên các báo chí của ta đều phải có đường lối chính trị đúng.

Báo chí của ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ cho nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, cho nên phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu.

Mục đích chung của chúng ta là xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, giữ gìn hòa bình thế giới. Nhưng mỗi tờ báo như báo của nông dân, báo của công nhân, báo của thanh niên, báo của phụ nữ… nên có đặc điểm của nó. Về hình thức thì không rập khuôn; rập khuôn thì báo nào cũng thành khô khan, làm cho người xem dễ chán.

Về trách nhiệm báo chí, Lênin có nói: báo chí là người tuyên truyền, người cổ động, người tổ chức chung, người lãnh đạo chung. Vì vậy, nhiệm vụ của người làm báo là quan trọng vẻ vang. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy thì phải cố gắng học tập tốt chính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản; phải nâng cao trình độ văn hóa, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình. Cần phải luôn luôn cố gắng, mà cố gắng thì nhất định thành công.

Trong nghề báo ta có những kinh nghiệm của ta, nhưng ta cũng cần phải học thêm kinh nghiệm của các nước anh em. Muốn thế, thì những người làm báo ít nhất cũng cần biết một thứ tiếng nước ngoài.

…Trên đây nói nhiều về người viết báo. Nhưng trong nghề làm báo còn có nhiều ngành khác, như ngành in mà các cô, các chú thích nói chữ gọi là ngành “ấn loát” cũng rất quan trọng. Bởi vì có những lúc không cẩn thận, in thiếu dấu, thiếu nét, hoặc in lờ mờ không rõ. Người viết bài thích dùng chữ, như gọi người đánh cá là “ngư dân”, rồi người đi in lại in thiếu dấu ở chữ u, hóa ra “ngu dân”. Đấy chỉ là một ví dụ để thấy rằng việc in cũng phải làm cho tốt.

Việc phát hành cũng rất quan trọng. Phải làm thế nào cho báo có nhiều người xem. Giá tiền báo cũng cần phải đúng mức. Trong công tác, người viết, người in, người sửa bài, người phát hành… đều phải khớp với nhau.

Bác học viết báo

Có đồng chí hỏi kinh nghiệm làm báo của Bác. Kinh nghiệm của Bác là kinh nghiệm ngược. Bác học viết báo Pháp trước, rồi học viết báo Trung Quốc, rồi sau mới học viết báo Việt Nam. Còn học thì một là học trong đời sống của mình, hai là học ở giai cấp công nhân.

Lúc ở Paris, tuy biết nhiều tội ác của thực dân Pháp, nhưng không biết làm thế nào để nêu được. Một đồng chí công nhân ở tòa báo Đời sống thợ thuyền (La vie ouvrière) cho Bác biết báo ấy có mục “tin tức vắn”, mỗi tin chỉ năm ba dòng thôi, bà bảo Bác có tin tức gì, thì cứ viết, đồng chí ấy sẽ sửa lại cho. Từ đó, ngoài những giờ lao động, Bác bắt đầu viết những tin rất ngắn. Mỗi lần viết làm hai bản, một bản đưa cho báo, một bản thì giữ lại. Lần đầu tiên thấy tin được đăng thì rất sung sướng. Mỗi lần đều đem tin đã đăng trên báo so sánh với bài mình đã viết, xem sai chỗ nào. Về sau đồng chí ấy bảo Bác cố viết dài thêm vài dòng nữa, rồi lại vài dòng nữa… Cứ thế kéo dài đến 15, 20 dòng rồi đến cả một cột dài. Lúc đó đồng chí ấy lại bảo: “Thôi, bây giờ phải rút viết ngắn lại, cũng những việc như vậy nhưng phải viết cho rõ, cho gọn”.

Các báo đăng bài của mình đều là báo phái “tả”, đều nghèo, không trả cho mình đồng tiền nào. Mình ngày thì đi làm, tối đi mít tinh, tuy khá vất vả, nhưng vẫn cố gắng viết để nêu tội ác của bọn thực dân.

Khi đã biết viết báo, mình lại muốn viết tiểu thuyết. Nhưng lại e rằng biết chữ Tây võ vẽ như mình thì viết tiểu thuyết sao được. Tình cờ đọc một truyện ngắn của L. Tônxtôi thấy viết một cách rất giản dị, dễ hiểu, thì cho rằng mình cũng viết được. Từ đó mình bắt đầu viết truyện ngắn.

Lúc đó mình sống ở khu phố công nhân nghèo, hiểu rõ đời sống của họ, mình cứ viết những điều mắt thấy tai nghe. Viết xong đưa đến Nhân đạo và nói với đồng chí phụ trách về văn nghệ: “Đây là lần đầu tiên tôi thử viết truyện ngắn, nhờ đồng chí xem và sửa lại cho”. Đồng chí ấy xem xong rồi bảo: “Được lắm, chỉ cần sửa lại một vài chỗ thôi”. Cách mấy hôm sau, thấy mấy truyện ngắn của mình được đăng báo thì sướng lắm. Sướng hơn nữa là nhà báo trả cho 50 phờrăng tiền viết bài. Chà! Lần đầu tiên được trả tiền viết báo! Với 50 phờrăng có thể sống 25 ngày không phải đi làm, tha hồ tham gia mít tinh, tha hồ viết báo, tha hồ đi xem sách….

Kinh nghiệm học viết báo của Bác là như thế.

Bác làm chủ bút

Có một thời gian mình làm cả chủ bút, chủ nhiệm, giữ quỹ, phát hành và bán báo của tờ báo Le Paria (Người cùng khổ). Các đồng chí thuộc địa Á – Phi viết bài và quyên tiền, còn bao nhiêu công việc mình đều bao hết. Cách bán báo: bán cho anh em công nhân Việt Nam, họ không biết chữ Pháp nhưng họ vẫn mua vì họ biết báo này chửi Tây, mua rồi họ nhờ anh em công nhân Pháp đọc cho họ nghe.

Một cách nữa là: ở Paris có những chỗ bán báo lấy hoa hồng. Là đồng chí với nhau cả, các anh chị ấy bán hộ cho mình mà không lấy hoa hồng, và họ bán được khá nhiều. Vì các số báoLe Paria vừa ra đều “được” Bộ Thuộc địa Pháp mua gần hết. Còn báo gửi đi các thuộc địa thì mấy chuyến đều bị tịch thu và người đưa báo thì bị bắt bỏ tù. Về sau, anh em thủy thủ Pháp bí mật chuyển hộ, thì không xảy ra việc gì. Nhưng rồi bọn thực dân cũng dò ra. Sau cùng phải dùng đồng hồ có chuông mà gửi. Cách gửi như vậy đắt lắm, nhưng báo đều đến được các thuộc địa.

Cách thứ tư: trong những cuộc mít tinh, mình đưa báo ra phát, rồi nói: “Báo này nói cho các đồng chí biết bọn thực dân áp bức chúng tôi như thế nào. Báo này để biếu thôi, nhưng đồng chí nào có lòng giúp cho báo, thì chúng tôi cảm ơn”. Kết quả là: nếu đem bán thì 100 tờ báo được 5 phờrăng, nhưng “biếu không” thì có khi được tới 10, 15 phờrăng. Vì anh em công nhân có một, hai xu hoặc một, hai phờrăng cũng cho cả.

Khi đi qua Liên Xô đồng chí L. phóng viên báo Tiếng còi bảo mình viết bài và dặn phải viết rõ sự thật: việc đó ai làm, ở đâu, ngày tháng nào… và viết phải ngắn gọn. Cách đây mấy năm, mình trở lại Liên Xô. Đồng chí L. lại bảo mình viết. Nhưng L. lại bảo: chớ viết khô khan quá. Phải viết cho văn chương. Vì ngày trước khác, người đọc báo chỉ muốn biết những việc thật. Còn bây giờ khác, sinh hoạt đã cao hơn, người ta thấy hay, thấy lạ, thấy văn chương thì mới thích đọc.

Khi đến Hoa Nam, mình lại tập viết báo Trung Quốc. Mỗi lần viết xong, mình sửa đi sửa lại mấy lần rồi mới gửi đến Cứu vong nhật báo…. Thấy bài mình đã được đăng lại được đóng khung, điều đó khuyến khích mình tiếp tục viết. Nói tóm lại, mình phải học tập không ngừng và phải luôn luôn khiêm tốn.

Đến ngày Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ra tờ báo Thanh niên thì mình lại học viết tiếng ta. Lúc ấy, vấn đề khó khăn là làm thế nào để gửi báo về nước cho đến tay người đọc.

Năm 1941, mình bí mật về nước. Theo lời dạy của Lênin: tờ báo là công cụ tuyên truyền, cổ động, tổ chức và lãnh đạo, cho nên mình cố gắng ra một tờ báo ngay, và phải làm rất bí mật vì luôn luôn có mật thám của Pháp, Nhật và Bảo Đại rình mò. Điều kiện sinh hoạt thì bữa đói, bữa no. Làm báo thì phải có đá in. Mấy đồng chí đi lấy trộm những tấm bia đá, rồi mài mấy ngày mới thành bản in. In thì phải viết chữ trái lên đá, thế là phải có một đồng chí phải hì hục tập viết chữ trái. Mấy số báo đầu, ba, bốn anh em cùng làm, nhưng in cứ toe toét, chỉ in được ít và xấu xí. Nhưng về sau cứ tiến bộ dần, mỗi lần in được gần 300 số. Phải đặt bia đá “nhà in” ở ba chỗ khác nhau. Khi động chỗ này thì chạy đến chỗ khác mà in, và báo vẫn ra đúng kì. Địch chịu không làm gì được.

Vấn đề giấy cũng gay. Lúc bấy giờ ai mua nhiều giấy địch cũng nghi, và theo dõi. Các chị em mỗi người đi chợ mua năm, mười tờ, nói dối là mua cho con cháu học, rồi góp lại để in báo.

In bản đá, muốn sửa chữa phải dùng a xít, mà a xít thì mua đâu được? Có đồng chí đã nghĩ ra cách dùng chanh thay a xít. Chị em lại mua chanh để ủng hộ báo.

Còn việc phát hành: Để báo ở các hang đá bí mật Các đồng chí phụ trách cơ sở Việt Minh cứ đến đó mà lấy. Báo bán hẳn hoi, chứ không biếu.

Thế là mọi việc đều dựa vào quyết tâm của mình, dựa vào lực lượng và sáng kiến của quần chúng.

Đồng bào địa phương rất thích đọc báo, vì báo viết điều gì cũng thấm thía với họ. Đồng bào còn tự động tổ chức những tổ đọc báo và bí mật đưa tin tức cho báo. Đồng bào lại tìm đến cách tuyên truyền cho lính dõng đọc báo để làm “binh vận”.

Đề tài duy nhất

Về nội dung viết, mà các cô, các chú gọi là “đề tài”, thì tất cả những bài Bác viết chỉ có một “đề tài” là chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Duyên nợ của Bác với báo chí là như vậy đó.

Kết luận: kinh nghiệm của 40 năm là: không sợ khó, có quyết tâm. Không biết thì phải cố gắng học, mà cố học thì nhất định học được. Bây giờ các cô, các chú có điều kiện học tập dễ dàng hơn Bác trước kia. Mong các cô, các chú cố gắng và tiến bộ!

HỒ CHÍ MINH

Trích bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ hai Hội nhà báo Việt Nam, 16-4-1959 Hồ Chí Minh toàn tập

Theo quangbinh.gov.vn
Tâm Trang (st)
cpv.org.vn

Bác Hồ với phóng viên

Bác Hồ là nơi hội tụ tinh anh dân tộc Việt Nam và tinh hoa nhân loại. Bất kỳ ai, sống vào thời đại nào, ở phương trời nào đều có thể qua tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh tìm được nhiều điều để học tập. Nhà báo Việt Nam mong có dịp tiếp cận Người, hơn thế, được phục vụ Người trong các chuyến đi công tác.

Qua mỗi lần đi, thế nào cũng thu nhận được nhiều điều. Từ cách hành xử thường ngày đến từng câu nói tưởng ngẫu nhiên của Hồ Chí Minh hầu như đều hàm chứa ý nghĩa nhân văn, do đó có sức truyền cảm.

Có gì mà viết lắm thế?

Vụ lúa chiêm 1958, miền Bắc hạn to, ruộng đồng khô nẻ. Nhân dân nô nức làm thủy lợi, đào mương dẫn nước vào đồng. Bác Hồ về thăm tỉnh Hưng Yên. Hôm ấy, một ngày tháng Giêng, trời rét đậm. Bác Hồ rời Hà Nội thật sớm. Đến huyện Tiên Lữ, có mấy vị lãnh đạo tỉnh chờ sẵn ven đường. Bác xuống xe bắt tay, hỏi han mọi người, rồi băng băng đi bộ vào cánh đồng.

Nông dân năm xã đang đào một con sông. Bác Hồ bước rất nhanh giữa cánh đồng khô, đến mỗi nơi có đồng bào làm Bác dừng lại, thăm hỏi động viên. Bà con hoan hô Bác. Bác xua tay: “Đừng hoan hô Hồ Chủ tịch, hãy hoan hô nước khi nào nước về”. Hễ gặp các vị cao niên là Bác tiến đến thăm hỏi. Có một cụ tên là Đoàn Đình Kiêu, năm ấy 82 tuổi, người thôn Hoàng Xá, xã Trung Dũng cũng tham gia làm thủy lợi. Bác nắm chặt tay cụ, nói: “Tôi cảm ơn cụ đã làm gương cho con cháu”. Rồi Bác quay lại bảo cán bộ địa phương đi theo: “Các cụ cùng chống hạn để làm gương cho con cháu như thế là rất tốt, nhưng phải chú ý sức khỏe các cụ, chớ để các cụ làm quá sức”.

Gặp ông Chủ tịch huyện quần áo tinh tươm đang đứng chờ để chào Bác. Bác bảo Chủ tịch đưa tay xem. Rồi Bác nói nhỏ: “Tay chú sạch quá. Cán bộ cũng phải cùng lao động với bà con, để cho bà con thấy mình là người của nhân dân”.

Đến xã cuối cùng, Bác Hồ dừng lại, rút trong túi ra một phong bì nhỏ. “Đây là phần thưởng của Bác Hồ. Có bảy chiếc huy hiệu tất cả. Năm chiếc tặng bà con năm xã, một chiếc thưởng xã nào thi đua giỏi nhất, còn một chiếc Bác tặng riêng cụ Kiêu”.

Do mỗi xã phụ trách một khúc sông, cho nên bà con tản mát. Bác Hồ đi bộ đến mấy cây số liền. Tôi tất tưởi theo, lắng nghe Bác nói chuyện với ai xong, lại tới hỏi rõ họ tên, người thôn nào xã nào…, để khi viết bài khỏi lẫn lộn, rồi vội vã chạy cho kịp đoàn. Hồi ấy tôi đang sức trai mà mệt phờ, nhưng vui vì nghe và ghi được nhiều điều, thú vị nhất là chuyện Chủ tịch đi bộ qua cánh đồng gồ ghề nứt nẻ. Con sông đang đào nơi bác về thăm năm ấy sau khi hoàn thành được đồng bào gọi là “Sông Bác Hồ”, nay vẫn giữ nguyên tên.

Tối hôm ấy về Hà Nội, tôi viết bài tường thuật dài đăng Báo Nhân Dân. Hôm sau, khoảng chín giờ, có điện thoại từ Văn phòng Chủ tịch nước, mời tôi lên ngay. Anh Trần Quý Kiên chờ sẵn. Anh là cán bộ cách mạng lão thành, có thời gian làm Thứ trưởng Thủy lợi (hiện nay Hà Nội có một phố mang tên Trần Quý Kiên). Anh chỉ nói vắn tắt: Bác Hồ cho gọi. Anh vào báo cáo với Bác, rồi dẫn tôi vào.

Bác đang làm việc, ngước mắt hỏi: “Chú Quang à? Bác đã đọc bài của chú trên báo. Viết thế là được. Nhưng Bác hỏi chú, trong bài mấy lần chú nhắc đi nhắc lại chuyện Hồ Chủ tịch đi bộ giữa cánh đồng. Vậy ra từ trước tới nay, Bác Hồ toàn đi xe, chưa từng lội bộ bao giờ à? Bác Hồ đi bộ, thì có cái gì mà viết lắm thế?”. Tôi bối rối, chỉ còn biết chắp tay lúng búng: “Cháu xin cảm ơn Bác. Cháu đã thấy khuyết điểm. Lần sau cháu xin cố gắng.”

Viết cho đúng, cho hay, có nhiều người đọc

Như một sự tình cờ, Tết Bính Thân tôi có vinh dự một mình đón Bác đến Báo Nhân Dân, đúng vào sáng Nguyên đán. Hôm ấy (12/01/1956), tôi được phân công trực tòa soạn. Số báo Xuân đã phát hành từ trong năm, báo nghỉ hai ngày để “ăn Tết”. Trực chẳng phải làm việc gì; chẳng qua cần có người, nhỡ có bạn đọc, cộng tác viên nào bất thần tạt vào thăm chăng.

Sáng đầu năm, đúng như dự kiến, có mấy cụ già phố Hàng Trống thay mặt tổ dân phố đến chúc Tết tòa soạn. Tôi đang tiếp mấy cụ ở phòng khách tầng trệt ngôi biệt thự thì người bảo vệ chạy vào, nói không ra hơi: “Bác Hồ! Bác Hồ đến!”

Tôi vội chạy ra sân, nhìn về cổng chính không thấy ai. Thì ra, Bác Hồ đi từ Câu lạc bộ Thống nhất sang, qua một cổng nhỏ vốn thông từ cơ quan báo sang sân chiếu phim của câu lạc bộ. Bác thoăn thoắt bước vào nhà. Theo sau có bác sĩ Trần Duy Hưng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, cùng vài người cận vệ.

Tôi chắp tay rước Bác vào phòng khách. “Chú Tùng đâu?”, Bác hỏi. – “Thưa Bác, anh Hoàng Tùng lên Văn phòng chúc Tết Trung ương. Cháu là cán bộ được phân công trực cơ quan.”

Mấy cụ già lối phố sửng sốt trước vinh dự được gặp Bác Hồ đúng vào sáng tân niên, đứng dậy kính cẩn chắp tay, lúng túng không biết nên làm gì. Tôi giới thiệu với Bác, đây là mấy cụ ở cùng phố sang thăm cơ quan. Bác Hồ vui vẻ nói: “Năm mới, nhân được gặp các cụ, tôi chúc các cụ vạn sự như ý. Nhờ các cụ chuyển lời Hồ Chủ tịch chúc Tết gia đình và đồng bào khu phố”. Mấy ông già vẫn chưa hết ngỡ ngàng, bác sĩ Trần Duy Hưng rỉ tai: “Kìa, các cụ chúc Tết Bác đi”.

Hôm ấy, Bác Hồ đến thăm cán bộ miền Nam đang tập trung tại Câu lạc bộ mừng năm mới. Không rõ có ai báo tin Bác đến, hay vì trông thấy mấy chiếc xe hơi đỗ ở cổng chính Câu lạc bộ phía đường Lê Thái Tổ, mà chẳng mấy chốc đồng bào tập trung đông nghịt, chờ để được nhìn và hoan hô Bác. Càng lâu càng đông. Hôm ấy Bác Hồ còn có kế hoạch thăm một đơn vị quân đội và mấy nơi khác nữa ở mãi tỉnh Hà Đông. Chắc sợ trễ giờ, bởi đã gặp nhân dân đầu năm mới, thế nào Chủ tịch cũng cho dừng xe lại để thăm hỏi, các đồng chí tổ chức chuyến thăm liền mời Bác theo ngõ tắt, lối thông sang tòa soạn báo; từ đây ra cổng chính phía phố Hàng Trống.

Trong phòng khách, Bác Hồ vẫn đứng mà nói chuyện. Tôi mời Bác ngồi. Bác xua tay: “Chú để mặc Bác. Chú làm gì ở tòa báo?” – “Thưa Bác, cháu làm phóng viên.” Bác nói: “Chú là nhà báo. Vậy năm mới, Bác chúc chú viết báo cho đúng, cho hay, có nhiều người đọc. Chú nói lại với chú Hoàng Tùng và toàn thể các cô, các chú trong cơ quan là Bác Hồ có lời chúc Tết anh chị em”.

Nói xong, Bác bắt tay mọi người, không quên mấy anh bảo vệ cơ quan vừa bỏ luôn nhiệm sở, chạy đến đứng thập thò ngoài cửa. Xong, Bác thoăn thoắt ra sân. Hai chiếc xe hơi vừa đến. Bác Hồ quay lại tươi cười đưa tay vẫy chào mọi người.

Mấy năm sau, tháng 4 năm1959 tôi lại được nghe Bác Hồ nói chuyện tại Đại hội lần thứ hai Hội Nhà báo Việt Nam. Nhân kể chuyện thời Bác tập làm báo tiếng Nga ở Liên Xô, Bác dẫn lời người hướng dẫn Bác: “Chớ viết khô khan quá. Phải viết cho văn chương. Vì ngày trước khác, người đọc báo chí chỉ muốn biết sự thật. Còn bây giờ khác, sinh hoạt đã cao hơn, người ta thấy hay, thấy lạ, thấy văn chương thì mới thích đọc”.

Theo Phan Quang VOV
Phương Thúy (st).
bqllang.gov.vn

Đôi nét về văn phong báo chí của Bác

(Dân trí) – Sinh thời, Bác Hồ luôn viết báo để cổ động, tuyên truyền, giáo dục… gắn liền với hoạt động cách mạng của Người. Từ những ngày còn hoạt động ở nước ngoài, Bác đã viết rất nhiều bài báo với nhiều bút danh khác nhau.

Người viết cho báo ở Pháp, Liên Xô, Trung Quốc và nhiều nước khác. Sau này, khi làm Chủ tịch nước, Bác vẫn viết đều đặn cho nhiều báo về nhiều đề tài. Văn phong báo chí của Bác giản dị, ngắn gọn, sâu sắc, thường pha chút hài hước nên rất dí dỏm và sinh động.

Có điều rất đặc biệt là, dù viết để “đánh địch” nhưng mục đích là cảnh tỉnh, giáo hoá, Bác bao giờ cũng giữ được tình lý phân minh, đúng mực, không có những lời thóa mạ, cay độc. Còn viết bài cho nhân dân lao động, bộ đội, thanh niên, thiếu nhi… thì Bác dùng câu văn dễ hiểu, dễ nhớ nhưng lý lẽ xác đáng đầy thuyết phục và tình cảm chân thành, thiết tha đi vào lòng người.

Mời cộng tác

Ban Biên tập báo KH&DT mời các bạn tham gia cộng tác với chuyên mục “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Bài vở xin gửi về BBT báo KH&DT, số 2 Giảng Võ, Hà Nội.

Xin trân trọng cám ơn!

Đối với Người, báo chí là công cụ đoàn kết quốc tế, đoàn kết giai cấp công nhân, đoàn kết các dân tộc bị áp bức đấu tranh giải phóng, đoàn kết phong trào cộng sản thế giới. Mặt khác Người cũng đã dùng báo chí để đánh địch. Người viết về con người, sự việc thuộc “đối phương” ở nước ngoài thì rất nhạy bén về chính trị và cách sử dụng ngôn ngữ của Bác thể hiện rất rõ nét, bằng những chứng cứ và số liệu cụ thể để vạch trần tội ác của đế quốc.

Những bài báo Bác viết đăng các báo và tạp chí uy tín ở nước ngoài hiển thị nghệ thuật đánh địch bằng lời, nghệ thuật “đẩy bóng trả lại địch”, nghệ thuật lướt qua những vấn đề tế nhị mà vẫn giữ được nguyên tắc, đường lối, để “lấy gậy ông đập lưng ông”.

Còn những bài báo viết để đánh địch đăng ở trong nước, Bác đã sử dụng rất khéo về từ ngữ nhằm lột rõ bộ mặt thật của chủ nghĩa đế quốc, qua đó cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đẩy mạnh cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, cổ vũ ý chí giành thắng lợi cuối cùng bằng chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu và tiếp tục cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại. Không chỉ động viên, mà qua tác phẩm báo chí với văn phong trong sáng của mình, Bác Hồ đã giáo dục và uốn nắn những lệch lạc, yếu kém của các ngành, các địa phương.

Điều đặc biệt ở văn phong báo chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “tính quần chúng” được thế hiện rất đậm nét. Bác nói: Kinh nghiệm của tôi thế này. Mỗi khi viết một bài báo, thì tự đặt câu hỏi: Viết cho ai xem? Viết để làm gì, viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc? Sinh thời Bác luôn giáo dục các nhà báo đồng thời Người cũng yêu cầu khi nói, khi viết: Phải học cách nói quần chúng. Chớ nói như giảng sách. Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng…

Khi viết, khi nói, phải luôn luôn làm thế nào cho ai cũng có thể hiểu được. Làm sao cho quần chúng đều hiểu, đều tin, đều quyết tâm làm theo lời kêu gọi của mình. Chỉ thống kê trong 10 năm, từ 1955 đến 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện hơn 700 lượt đi xuống cơ sở, thăm các địa phương, công trường, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị bộ đội từ miền xuôi đến miền ngược, từ biên giới đến hải đảo… Tính ra mỗi năm có hơn 70 lần Người đi xuống cơ sở, mỗi tháng có 6 lần Người gặp gỡ quần chúng. Con số đó nói rõ phong cách của một lãnh tụ suốt đời gắn bó với quần chúng.

Tư tưởng, quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc sử dụng ngôn ngữ báo chí được thể hiện bằng tình cảm, thái độ của Người đối với dân tộc. Người nói: Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Do đó trong khi viết, Bác rất chú trọng đặt câu và phát triển câu. Người yêu cầu văn phong phải giản dị, ngắn ngọn, rõ ràng, dễ hiểu, không cầu kỳ chữ nghĩa, bố cục chặt chẽ thể hiện ở từng từ, từng câu.

Từ năm 1951 – 1969, Bác đã viết l.205 bài báo với 23 bút danh khác nhau cho báo Nhân Dân và gần 300 bài cho báo chí nước ngoài, hiếm có nhà báo chuyên nghiệp nào viết đạt kỷ lục như vậy. Thế nhưng trong khi viết báo, Bác luôn luôn yêu cầu mọi người xung quanh Người đọc lại bản thảo xem có từ ngữ nào khó hiểu để Bác sửa lại cho trong sáng, từ ngữ giản đơn mà ý tứ sâu sắc.

Bác viết bài báo: ”Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” đăng trên báo Nhân Dân số 5409 ra ngày 3/2/1969, bài báo này trước khi gửi đến Toà soạn Bác đã cho đánh máy thành nhiều bản gửi đến từng đồng chí ủy viên Bộ Chính trị đề nghị tham gia ý kiến. Hiện nay, chúng ta đọc lại bài báo của Bác thấy câu chữ vô cùng sâu sắc, bố cục rất chặt chẽ, còn nguyên tính thời sự nóng hổi.

Thanh Tâm
(12B ngõ 8, đường 800A, Nghĩa Đô, Cầu Giấy, Hà Nội)
cpv.org.vn

Bác Hồ – người khai sinh báo chí cách mạng Việt Nam

Hàng năm, cứ đến Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21-6, chúng ta lại không khỏi bồi hồi nhớ tới vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại- Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất Việt Nam, người đã khai sáng nền báo chí cách mạng Việt Nam.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trên 2000 bài báo từ bài viết đầu tiên, Quyền của các dân tộc thuộc địa trên Báo Nhân đạo của Pháp ngày 18-6-1919 đến bài báo cuối cùng, Thư trả lời tổng thống Mỹ trên Báo Nhân dân ngày 25-8-1969, tức chỉ một tuần trước ngày Bác đi xa. Hồ Chí Minh là người sáng lập và đồng sáng lập 9 tờ báo và tạp chí như: Le Paria (Người cùng khổ) in bằng tiếng Pháp ra số đầu tiên vào ngày 1-4-1922 tại Pari, Quốc tế Nông dân – 1924; Thanh niên – 1925, Công nông – 1925, Lính Kách mệnh- 1925, Thân ái- 1928, Tạp chí Đỏ, tiền thân của Tạp chí Cộng sản hiện nay- 1929, Việt Nam Độc lập – 1941, Cứu quốc – 1942. Năm 1925, cùng với việc thành lập tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Nguyễn Ái Quốc sáng lập tờ Báo Thanh niên. Với việc sáng lập Báo Thanh niên, Hồ Chí Minh đã chính thức khai sinh ra nền báo chí cách mạng Việt Nam, bởi tờ báo là trường học bồi dưỡng, tập hợp lực lượng cách mạng.

Trong cuộc đời làm báo của mình, Hồ Chí Minh sử dụng trên dưới 150 bút danh, viết nhiều tác phẩm báo chí xuất sắc với nhiều chủ đề đa dạng sinh động, văn phong độc đáo, gần gũi với mọi người. Bác là người chỉ đạo, cộng tác viên mật thiết cho các tờ báo của Đảng, đặc biệt là Báo Sự Thật – Nhân Dân hiện nay- cơ quan ngôn luận của Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam. Tổng cộng Bác đã viết và đăng tổng cộng 1.205 bài trên báo Nhân Dân kể từ số đầu tiên, ngày 11-3-1951. Hồ Chí Minh còn là cộng tác viên của nhiều tờ báo trên thế giới như Thiên Tân (Tờ báo của Mỹ xuất bản tại Bắc Kinh); Báo Yi Che Pao của Triều Tiên; Nhân Đạo, Đời sống thợ thuyền, Dân chúng của Pháp; Sự thật của Liên Xô cũ v.v…

Là nhà báo vĩ đại, đồng thời Hồ Chí Minh cũng để lại cho đội ngũ các thế hệ nhà báo những bài học và kinh nghiệm quý báu từ chính cuộc đời làm báo của mình. Tháng 5-1949, trong thư gửi lớp viết báo đầu tiên Huỳnh Thúc Kháng ở Việt Bắc, Người viết “Muốn viết báo khá thì cần: 1. Gần gũi quàn chúng, cứ ngồi trong phòng giấy mà viết thì không thể viết thiết thực; 2. Ít nhất cũng phải biết một thứ tiếng nước ngoài để xem báo nước ngoài mà học kinh nghiệm của người; 3. Khi viết xong bài, tự mình phải xem lại ba bốn lần, sửa chữa lại cho cản thận. Tốt hơn nữa, là đưa nhờ một vài người ít văn hóa xem và hỏi họ những câu nào, chữ nào không hiểu thì sửa lại cho dễ hiểu; 4. Luôn luôn gắng học hỏi, luôn luôn cầu tiến bộ…”. Tại Đại hội lần thứ II, Hội Nhà báo Việt Nam, ngày 16-4-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn “…Tất cả những người làm báo (…) phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Cho nên các báo chí của ta phải có đường lối chính trị đúng…phải cố gắng học tập chính trị, nâng cao tư tưởng…; phải nâng cao trình độ văn hóa, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”. Ngoài việc viết báo, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có nhiều bài viết về công việc viết báo nhằm chia sẻ kinh nghiệm với người làm báo. Nói chuyện tại Đại hội lần thứ III, Hội Nhà báo Việt Nam ngày 8-9-1962, Người nói “Kinh nghiệm của tôi là thế này: mỗi khi viết một bài báo thì đặt câu hỏi: Viết cho ai xem? Viết để làm gì? Viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc? Khi viết xong thì nhờ anh em xem và sửa giùm”.

Với 50 năm gắn bó và hoạt động trong lĩnh vực báo chí, Chủ tịc Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta một di sản báo chí vô cùng đồ sộ, đồng thời cũng để lại một tấm gương cao đẹp về đạo đức nghề nghiệp. Người thực sự là một nhà báo vĩ đại của nền báo chí cách mạng Việt Nam.

Theo dvhnn.org.vn

hcmpc.com.vn

Cuộc đời vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn liền với báo chí

Là một người học trò, một cộng sự gần gũi nhất và lâu năm nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết:

“Hồ Chí Minh là nhà chiến lược, nhà lãnh đạo, nhà tổ chức, đồng thời là nhà văn hóa, nhà báo, nhà thơ lớn, Người đã mở đầu và góp phần quan trọng hiện đại hóa ngôn ngữ và câu văn Việt Nam. Suốt đời Hồ Chí Minh là người cầm bút chiến đấu trên mặt trận văn hóa, báo chí, với một văn phong đa dạng, nhiều sắc thái, mà điểm nổi bật là tính quần chúng, cách suy nghĩ và diễn đạt dân gian, dễ hiểu, đi sâu vang vọng trong lòng người, gợi mở những tư tưởng lớn lao, thúc đẩy những việc làm tốt đẹp, bằng những lời lẽ giản dị, giàu hình tượng, nói lên được điều lớn bằng những chữ nhỏ”.

Là những người làm báo Việt Nam, con cháu của Bác, chúng ta có thể nói một cách tự hào: Suốt cả cuộc đời vĩ đại của Bác là gắn liền với báo chí.

Một lần, phóng viên của Báo Giôvanni Giécmanétto, một tờ báo của Đảng cộng sản Ý, hỏi Bác:

– Tại sao anh lại sang châu Âu? Bác trả lời:

– Trước đây, tôi có đọc một số tờ báo Pháp, do những người lính lê dương đưa cho, một vài tờ có tính chống đối ở An – Nam. Vì thế, tôi nảy ra ý muốn sang xem “mẫu quốc” ra sao, và thế là tôi đã tới Paris.

Ở một bài báo khác, Bác cũng viết, lúc đó đọc trên báo Pháp, thấy người ta nói đến những từ đẹp đẽ “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” thế là mình muốn tới đó xem sao?

Như vậy là, ngay từ những ngày đầu “Tìm đường” của Bác, đã có sự tác động của báo chí. Sau này, trong hành trình qua Pháp, qua Mỹ, Anh, rồi cuối năm 1917 trở lại nước Pháp, hòa mình vào cuộc đấu tranh của nhân dân lao động và trí thức Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khởi đầu sự nghiệp cách mạng của mình bằng những hoạt động của báo chí.

Anh Nguyễn hiểu rằng, cách mạng muốn thắng lợi thì quần chúng đông đảo phải được tuyên truyền, phải được giác ngộ, phải được tập hợp. Và phương tiện tốt nhất để làm việc đó, không có gì hữu hiệu và sắc bén hơn là báo chí. Sau này, khi đã trở thành người lãnh đạo của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nói: Báo chí là tờ hịch của cách mạng!

Những ngày đầu học viết báo của Bác như thế nào, thì chúng ta đã nghe kể nhiều lần. Nhưng điều làm chúng ta ngạc nhiên, mà không phải chỉ chúng ta, nhiều bạn bè trên thế giới cũng ngạc nhiên là anh Nguyễn vừa phải kiếm sống, vừa phải học tập, vừa phải né tránh sự theo dõi, bắt bớ của kẻ thù, thế mà anh vẫn trở thành một nhà báo quốc tế lớn.

Thời kỳ ở nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết báo bằng tiếng Pháp (1919 – 1923), tiếng Anh, tiếng Nga (1929 – 1925), tiếng Trung Quốc (1927 – 1935), tiếng Thái Lan (1928 – 1929).

Nhiều tờ báo lớn như báo “Nhân Đạo” của Đảng cộng sản Pháp, “Người Thợ” của Liên đoàn Lao động Pháp, “Thư Tín Quốc Tế”, “Ngọn lửa nhỏ”, “Sự Thật” của Đảng Cộng sản Nga và nhiều tờ báo khác của phụ nữ, nông dân, thanh niên quốc tế… đều in nhiều bài của Bác.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là người đã sáng lập và trực tiếp chỉ đạo, viết bài, kể cả phát hành những tờ báo cách mạng: “Người cùng khổ” (1922), “Thanh Niên” (1925), “Việt Nam Độc Lập” (1941), “Cứu Quốc” (1942), vv…

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, với 50 năm làm báo (1919 -1969) Bác Hồ đã viết hơn 2.000 bài báo với nhiều thể loại và hàng trăm bút danh khác nhau.

Trưởng đại diện văn phòng UNESCO tại Việt Nam tại Hội thảo quốc tế về Di sản Hồ Chí Minh vừa được tổ chức tại Hà Nội ngày 12 – 5 – 2010 đã phát biểu:

“Trong lĩnh vực truyền thông và thông tin, chúng ta thấy vai trò của Người trong việc phát triển báo chí. Ví dụ: như Người đã lập ra tờ báo riêng của mình, tờ Le Paria, có nghĩa là “Người cùng khổ” vào năm 1922, và sáng lập ra “Thanh niên” tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam vào năm 1925 và trở thành tổng biên tập đầu tiên của ấn phẩm này. Người cũng lập ra tờ báo “Nhân Dân” cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hồ Chí Minh đã đưa ra một phong cách làm báo mới ở Việt Nam, lấy dân tộc và nhân dân làm chủ đề thời sự chính… Hồ Chí Minh đã đặt nền móng cho nền báo chí cách mạng Việt Nam… Suốt đời mình, Người là một nhà báo. Người viết nhiều thể loại văn chương và báo chí: Bút ký, truyện thời sự, xã luận, thơ cùng các thể loại khác. Các bài báo của Người đi thẳng vào vấn đề và được viết một cách giản dị, rõ ràng và súc tích, rất dễ hiểu với độc giả đông đảo của Người”.

Cũng tại Hội thảo quốc tế về Di sản Hồ Chí Minh, các nhà ngôn ngữ học đều nói, Hồ Chủ tịch rất chú trọng cách viết. Người rất cẩn trọng ngay đến cách dùng một từ nhỏ, một dấu chấm câu, cách bố cục một bài viết.

Nhà báo Phan Quang kể lại, vụ chiêm 1958 nắng hạn to, nông dân huyện Tiên Lữ, Hưng Yên ra sức đào một con sông nhỏ thì Bác Hồ về thăm. Bác đi bộ rất nhanh giữa cánh đồng khô hạn, thăm hỏi bà con. Mọi người hoan hô Bác. Bác xua tay: “Đừng hoan hô Hồ Chủ tịch, hãy hoan hô nước khi nào nước về!”. Nhìn trong đám đông, thấy có một cụ già đang làm cùng con cháu, Bác đi lại nắm chặt tay cụ: “Tôi cảm ơn cụ đã làm gương cho con cháu!”

Hôm ấy, được đi theo Bác, nhà báo đã viết ngay một bài tường thuật dài đăng trên Báo Nhân Dân. Hôm sau, văn phòng Phủ Chủ tịch điện cho nhà báo đến gặp Bác. Bác đang làm việc, ngẩng lên:

– Chú Quang à, Bác đã đọc bài báo của chú. Viết thế là được. Nhưng Bác hỏi chú, trong bài mấy lần chú nhắc đi nhắc lại chuyện Hồ Chủ tịch đi bộ giữa cánh đồng. Vậy ra từ trước tới nay, Bác Hồ toàn đi xe, chưa từng lội bộ bao giờ à? Bác Hồ đi bộ thì có cái gì mà viết lắm thế?

Nhà báo bối rối, cảm ơn Bác và hứa lần sau sẽ viết cố gắng hơn.

Một lần khác, Bác đi thăm bà con nông dân gặt lúa ở ngoại thành. Hôm ấy, nữ sinh Trường Trưng Vương về lao động giúp dân. Bác vui vẻ động viên: “Các cô tiểu thư Hà Nội lao động có thành tích thì chú nhà báo này (Bác chỉ phóng viên báo Thủ đô Hà Nội) sẽ viết bài đăng lên báo để Bác khen thưởng”. Song Bác quay sang dặn thêm nhà báo: “Chú nhớ viết cho đầy đủ, không được để sót. Nhưng Bác bảo chú viết đầy đủ, chứ không phải là viết dài đâu nhé!

Bác cũng thường dặn dò các nhà báo:

“Báo chí của ta đã có một địa vị quan trọng trong dư luận thế giới. Địch rất chú ý, bạn rất quan tâm đến báo chí ta. Cho nên làm báo phải hết sức cẩn thận về hình thức, về nội dung, về cách viết”.

“Tiếng nói là thứ của cải lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp”. Và Bác là người đã có đóng góp lớn cho sự phong phú của tiếng Việt. Nhiều từ ngữ mới mà các nhà báo chúng ta đang dùng là do Bác sáng tạo ra như: Giặc đói, giặc dốt, óc bè phái, óc hẹp hòi, thói ba hoa, bệnh quan liêu, nạn tham nhũng, tệ lãng phí, chữ thập đỏ, các dân tộc anh em, các nước bầu bạn, vv…

Nhiều lần Bác nói với các nhà báo:

Trong nghề làm báo, ta có những kinh nghiệm của ta, nhưng ta cũng cần phải học thêm kinh nghiệm của các nước anh em. Muốn thế thì những người làm báo ít nhất cũng cần biết một thứ tiếng nước ngoài”.

Bác Hồ của chúng ta, trong lý lịch ở Quốc tế cộng sản Bác ghi biết 6 ngoại ngữ. Nhưng một nhà văn Mỹ nghiên cứu về Bác thì nói Bác Hồ biết thành thạo 12 ngoại ngữ.

Trong bài “Sen của loài người”, nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:

“Cuộc đời của Bác đâu phải một cuộc đời, mà là tổng hợp nhiều cuộc đời. Người thủy thủ có lịch sử 10 năm đi biển, ngang dọc các đại dương trên thế giới. Người làm báo lỗi lạc ở những thủ đô văn hóa lớn. Nhà thơ, nhà hiền triết có cái hồn yên tĩnh, trầm mặc của những vòm trời màu mây phương Đông… Cuộc đời nào cũng đẹp, các văn phong của Người lối nào cũng tài năng. Nhưng cuối cùng, Người đã vì ta chỉ sống có một cuộc đời: Cuộc đời lãnh đạo chúng ta làm cách mạng. Chỉ viết có một lối văn, lối văn giản dị, thuần phác. Chỉ mang một cái tên: “Bác” mà con cháu ta sẽ nhớ đến muôn đời!”.

(baothanhhoa.vn)
Người đăng: hoa bovai

tuoitrethanhhoa.com

Tâm địa thực dân – Bài báo đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc

Mùa hè năm Tân Hợi (6-1911) Nguyễn Tất Thành, dưới cái tên Văn Ba xuất dương hướng về phương Tây để tìm hiểu sự thật ẩn giấu đằng sau những từ “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” mà Người đã từng nghe 8 năm trước đó khi còn ở quê hương xứ Nghệ, để tìm ra được con đường cách mạng phù hợp cứu nước cứu dân.

Từng đến lao động mưu sinh ở nhiều nước các châu Âu, Phi, Mỹ, cuối tháng 7-1917 Người có mặt ở Paris, thủ đô nước Pháp trước khi Cách mạng tháng 10 Nga bùng nổ (11-1917).

Trả lời phóng viên báo Mỹ và Triều Tiên về mục đích sang Pháp (1917), Nguyễn Ái Quốc đã nói: “Đến Pháp để đòi những quyền tự do mà người An Nam phải được hưởng, muốn thế phải luôn luôn tiến lên phía trước tùy theo sức của chúng tôi”.

– Những hoạt động từ khi ông đến đây?

– Ngoài việc vận động các nghị viên, tôi đã tìm cách nhen nhóm thiện cảm mỗi nơi một chút, trong đó Đảng xã hội đã tỏ ra ít thỏa mãn các biện pháp của Chính phủ, và đã sẵn lòng ủng hộ chúng tôi, ở Pháp – đó là hy vọng duy nhất của chúng tôi.

Ở nước Mỹ thì có nhiều thành công, còn chỗ khác đâu cũng chỉ gặp khó khăn.

Một trong những khó khăn Nguyễn Ái Quốc gặp phải cả ở Paris, là sự “công kích của bọn bồi bút thực dân”. Đó là báo Courrier Colonial ngày 29-6-1919 kịch liệt chỉ trích bản “Yêu sách 8 điểm của nhân dân An Nam” (do Nguyễn Ái Quốc đại diện ký tên gửi hội nghị Véc-xây) với bài báo “Giờ phút nghiêm trọng” của Ca-mi Lơ Đờ-vi-la.

Đáp lại sự công kích đó, Nguyễn Ái Quốc đã viết bài trả lời với đầu đề rất trực diện “TÂM ĐỊA THỰC DÂN”.

Với ngòi bút chính luận sắc bén, Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần âm mưu xuyên tạc sự thật của báo chí thực dân, dã tâm đen tối của bè lũ thực dân Pháp đang cai trị quê hương xứ sở và nhiều nước khác trên thế giới.

Nguyễn Ái Quốc đã chĩa thẳng bài bút chiến vào bọn cướp nước ngay tại Paris, tố cáo dã tâm xâm lược thuộc địa và sự bóc lột dã man người lao động bản xứ. Nguyễn Ái Quốc lập luận chặt chẽ để cô lập bọn Pháp thực dân, tranh thủ lương tâm người Pháp chân chính, tiến bộ Pháp, giúp độc giả phân biệt rõ sự đối lập mâu thuẫn ngay trong nội bộ lũ thực dân, Người viết: “Chúng tôi nhấn mạnh những chữ, tên người trong lũ thực dân gian ác, các viên chức tàn bạo, vì chúng tôi biết rằng có những người thực dân chính trực, những viên chức công bằng, song họ còn lâu mới là đa số, thậm chí còn sợ rằng họ còn là một thiểu số rất nhỏ nữa”.

Qua “Tâm địa thực dân” tác giả Nguyễn Ái Quốc còn khoét sâu mâu thuẫn cá nhân giữa bọn Đơ-vi-la (tác giả bài “Giờ phút nghiêm trọng”) với Toàn quyền Pháp An-be Xa-rô ở Đông Dương khi ấy, làm cho Đơ-vi-la trở thành tâm điểm của sự phản kích của Nguyễn Ái Quốc và dư luận. Song tâm điểm Đơ-vi-la không phải là mục tiêu duy nhất, chủ yếu mà kẻ bị Nguyễn Ái Quốc công kích trong “Tâm địa thực dân” là cả chủ nghĩa thực dân Pháp ở Đông Dương – “họ đang bóc lột, đày đọa người bản xứ, sống sung sướng bằng mồ hôi của dân thuộc địa, chủ nghĩa thực dân đẩy dân bản xứ vĩnh viễn ngập trong cảnh nô lệ”.

Lênin coi chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản… Đảng cộng sản (B) Nga đã làm Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, chặt đứt 1 mắt xích của chủ nghĩa tư bản, lập nên chính quyền Xô Viết đầu tiên trên thế giới. Tiến tới giải phóng Tổ quốc đau thương, Nguyễn Ái Quốc đã dày công nghiên cứu chủ nghĩa thực dân, “lối rẽ” của chủ nghĩa đế quốc, coi đó là 1 con đỉa 2 vòi, “1 để hút máu nhân dân thuộc địa, 1 để hút máu công nhân, người lao động chính quốc”, Người kết luận: “Muốn đánh đổ chủ nghĩa thực dân phải “chặt đứt cả 2 vòi của con đỉa đó”. Người viết tiếp: “Ông Ca-mi Lơ Đơ-li-va – (tác giả bài: “Giờ phút nghiêm trọng”) khát khao danh hiệu người yêu chuộng chân lý trong thế giới này, và cả thế giới bên kia, sự khao khát ấy là chính đáng, chúng tôi vui lòng thừa nhận, nhưng ông cho phép chúng tôi chỉ cho ông thấy cái chân lý theo tâm địa của ông, cái chân lý theo quan niệm của bọn thực dân thù ghét dân bản xứ, không có gì là giống với chân lý theo quan niệm của người Pháp tốt ở nước Pháp cả. Sở dĩ chúng tôi nhận xét một cách lịch sự như vậy là nhằm tỏ thái độ tôn trọng quyền tự do ngôn luận”.

Qua đoạn văn viết trên “Tâm địa thực dân” cho thấy Nguyễn Ái Quốc khẳng định “Dân bản xứ” và những người Pháp tốt ở nước Pháp đều quan niệm về chân lý khác với những tên “thực dân độc ác, các viên chức tàn bạo”; điều đó chứng tỏ: chân lý đang thuộc về phái mạnh mặc dầu chúng là thiểu số, người lao động, dân xứ thuộc địa bị áp bức chẳng có gì ngoài xiềng xích.

“Tâm địa thực dân” là bài báo mà ở đó Nguyễn Ái Quốc đã bắt đầu thể hiện sự sáng tạo học thuyết Mác – Lênin.

Những độc giả đọc bài “Tâm địa thực dân” không hề thấy sự “đấu bút” giữa Nguyễn Ái Quốc và Đơ-vi-la, vì Đơ-vi-la chỉ là một đại diện, một bồi bút của lũ thực dân, nên y không là đối thủ của Nguyễn Ái Quốc, cả An-be Xa-rô cũng thế, sự phản kích của Nguyễn Ái Quốc chính là lũ thực dân đầu sỏ độc ác, lũ viên chức tàn bạo, kẻ đã cướp đoạt quyền sống của người dân xứ thuộc địa, và nhân dân thế giới.

Do đã được đọc Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa trước khi gia nhập Đảng cộng sản Pháp nên một đoạn trong bài “Tâm địa thực dân”, Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Nếu đã có một Đảng độc lập tồn tại thì Đảng này không phải đi ăn xin một vài quyền tự do, mà thiếu nó thì con người là một tên nô lệ khốn khó”. Như vậy Nguyễn Ái Quốc đã hình dung về một Đảng cách mạng, hình thành tư tưởng về độc lập tự do với quan điểm rõ ràng, phải chiến đấu đến cùng để giành lại độc lập tự do, nên tại Đại hội 18 Đảng xã hội Pháp với tư cách là đại biểu Đông Dương Nguyễn Ái Quốc đã nói: “Đảng phải tuyên truyền chủ nghĩa xã hội trong tất cả các nước thuộc địa, Đảng xã hội Pháp gia nhập Quốc tế III có nghĩa là Đảng đã hứa một cách cụ thể rằng: Từ nay Đảng sẽ đánh giá đúng tầm quan trọng của vấn đề thuộc địa”.

“Tâm địa thực dân”, một trong các bài báo đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc, tuy là 1 bài báo trả lời công kích của tên bồi bút trung gian, nhưng nội dung là hàm chứa, thể hiện không chỉ 1 vấn đề, 1 chủ đề; cấu trúc bài báo cũng như sự vận dụng ngôn ngữ trong cấu trúc đó toát lên tư tưởng: “Phải làm một cuộc cách mạng triệt để, để giành độc lập cho Tổ quốc Việt Nam” – một quốc gia phương Đông không có tên trên bản đồ thế giới, đang bị 1 nước tư bản phương Tây đánh chiếm thống trị từ giữa thế kỷ 19 (1858 – thời Tự Đức) trùm lên che khuất.

Để chuẩn bị cho cuộc cách mạng nổ ra ngay trên Tổ quốc Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã chọn phương thức vén dần tấm màu đen bằng hoạt động báo chí mà Mác, Ăng ghen và Lênin cũng như những người cách mạng đã chọn dùng nó. Người cho rằng hoạt động báo chí phải đi vào trong giai cấp công nhân và nhân dân lao động để vận động, đoàn kết họ thành 1 lực lượng cách mạng; báo chí phải là vũ khí tấn công trực diện kẻ thù, muốn làm được những việc đó, báo chí cách mạng phải nằm trong tay những người có bản lĩnh, tri thức và đạo đức cách mạng, đủ sức hướng về chân lý, các mục tiêu cao cả của lương tri, tương lai của nhân loại…, nếu không có các thứ đó, sẽ trở thành một mũi dao sát thương, thậm chí tự diệt ngay mình như Cau-xki, Trốt-xki, và ngay cả tên bồi bút Đơ-vi-la, tác giả bài “Giờ phút nghiêm trọng” mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã phê phán kịch liệt trong bài “Tâm địa thực dân” .

Năm 1922, Nguyễn Ái Quốc làm chủ bút báo “Le Paria”, viết nhiều bài báo đả kích tên vua Khải Định sang viếng thăm, tri ân “mẫu quốc bảo hộ”; năm 1925 ra Báo Thanh niên ở Quảng Châu (Trung Quốc); năm 1941 ra Báo Việt Nam độc lập ngay sau khi về nước ở Cao Bằng.

Bài “Tâm địa thực dân” là bài báo đầu tiên của Người đến nay đã qua gần một thế kỷ vẫn làm cho chúng ta thấy hiện lên một cách nhất quán nội dung cách mạng triệt để và một chủ nghĩa nhân văn cao cả gắn liền với chân dung một Nhà báo Cách mạng vĩ đại.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh – từ bài báo đầu tiên “Tâm địa thực dân” đã khai sinh ra nền báo chí cách mạng Việt Nam đến nay và mãi mãi sau này.

La Sơn Thái

baodaklak.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh – nhà báo vĩ đại

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhà báo (năm 1960) Ảnh - Tư liệu

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam mà tên tuổi cùng những phẩm chất cao đẹp của Người vang khắp năm Châu. Người là một nhà cách mạng lỗi lạc, nhà văn hóa lớn, một nhà báo vĩ đại. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê Nin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế – xã hội, trong đó có hoạt động báo chí.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người khai sinh ra nền báo chí cách mạng Việt Nam với tờ báo đầu tiên là tờ Thanh niên mà chính bản thân Người cũng là một cây bút tài ba. Người đã để lại một khối lượng tác phẩm báo chí đồ sộ, với trên 2000 bài báo thuộc nhiều thể loại như: kịch, phóng sự, bút ký… các tác phẩm của Người còn được viết bằng nhiều thứ tiếng khác nhau, đề cập đến toàn bộ các vấn đề rộng lớn của cách mạng cũng như đời sống xã hội Việt Nam.

Vốn là người am hiểu sâu sắc hoạt động báo chí, coi báo chí là một thứ vũ khí cách mạng sắc bén và đã sử dụng báo chí một cách tài tình để tuyên truyền cách mạng, để vận động nhân dân tham gia sự nghiệp cách mạng. Chính vì thế, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, người làm báo trước hết phải có tư tưởng chính trị vững vàng. Phát biểu tại Đại hội Hội nhà báo Việt Nam lần thứ II năm 1959, Người đã căn dặn: “Nhiệm vụ của người làm báo là quan trọng và vẻ vang. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy thì phải cố gắng học tập chính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản; phải nâng cao trình độ văn hóa, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình”. Đây cũng chính là tư tưởng lớn xuyên suốt toàn bộ đường lối thông tin đại chúng của Đảng ta trong nhiều thập kỷ, mặc dù cách diễn đạt của từng văn kiện lúc này, lúc khác không giống nhau.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của người làm báo: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”. Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng, “Cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hóa; chú trọng học tập chính trị để nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ; đi sâu vào thực tế, đi sâu vào quần chúng lao động”.

Cùng với lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, người làm báo phải có kiến thức sâu rộng, am hiểu thực tế. Theo tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà báo phải là người có trí thức rất rộng và rất sâu, đặc biệt là có trách nhiệm với công việc của mình, với sản phẩm của mình, với mọi hiệu quả, hệ quả của sản phẩm đó. Trong thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi lớp viết báo đầu tiên Huỳnh Thúc Kháng, Người đã chỉ ra rằng: “Muốn viết báo khá thì cần: Gần gũi dân chúng, cứ ngồi trong phòng giấy mà viết thi không thể viết thiết thực; ít nhất cũng phải biết một thứ tiếng nước ngoài để xem báo nước ngoài mà học kinh nghiệm của người; Khi viết xong một bài, tự mình phải xem lại ba bốn lần, sửa chữa lại cho cẩn thận. Tốt hơn nữa, là đưa nhờ một vài người ít văn hóa xem và hỏi họ những câu nào, chữ nào không hiểu thì sửa lại cho dễ hiểu; Luôn luôn gắng học hỏi, luôn luôn cầu tiến bộ…”.

Người có nhiều bài nói về công việc viết báo, chia sẻ kinh nghiệm viết báo với đồng nghiệp hoặc cán bộ cấp dưới. Trong bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam ngày 8-9-1962, Bác nói: “Kinh nghiệm của tôi là thế này: Mỗi khi viết một bài báo, thì đặt câu hỏi: Viết cho ai xem? Viết để làm gì? Viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc? Khi viết xong, thì nhờ anh em xem và sửa giùm.”

Với Chủ tịch Minh, mỗi khi đặt bút viết, Người luôn xác định: viết cái gì? (nội dung),Viết cho ai? (đối tượng),Viết để làm gì? (mục đích), Viết thế nào? (hình thức)

Những kinh nghiệm làm báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành những nguyên tắc cơ bản không thể thiếu đối với những người cầm bút. Đây chính là những bài học vô cùng quý báu mà Người đã để lại cho các nhà báo, nhất là đối với những người mới chập chững bước vào nghề. Bởi lẽ, trước khi viết nhà báo cần xác định được đối tượng của báo chí thì để từ đó viết có nội dung, mục đích cũng như hình thức viết sao cho rõ ràng và đạt hiệu quả.

Ngoài những nguyên tắc trên, thông tin trong tác phẩm báo chí phải chân thực, chính xác. Tính chân thật luôn được xem là đạo đức của người làm báo cách mạng. Vì thế, báo chí cách mạng Việt Nam là tiếng nói của Đảng và là diễn đàn của nhân dân. Báo chí đã phản ánh những ý kiến xây dựng của nhân dân, nói lên tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị của dân đối với công cuộc xây dựng đất nước. Đồng thời báo chí cũng quyết liệt chống nạn tham nhũng, buôn lậu; chống lại tội ác và các tệ nạn xã hội; chống lại những biểu hiện tha hóa, sa sút về phẩm chất, đạo đức và lối sống. Với việc làm đó, báo chí đã đem đến cho công chúng niềm tin ở sự thật, tin ở sự nghiêm minh của pháp luật, đặc biệt tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tin vào truyền thống cách mạng và nhân văn của nhân dân ta.

Theo chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà báo khi viết phải “chân thực” – chân thực là sức mạnh vì nó có lòng tin. Mỗi bài viết của phóng viên phải bắt nguồn từ thực tế cuộc sống với những con số, những sự kiện đã được xem xét kiểm tra, chọn lọc. Bài viết phải đem lại cho người đọc lượng thông tin cao và chính xác. Viết phải đúng sự thật, không được bịa ra, không nêu nói ẩu, chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết”.

Cùng với những nguyên tắc trên, theo tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh, bài báo phải có bố cục “ngắn gọn”; ngôn ngữ “trong sáng, giản dị, dể hiểu” Theo Người ngắn gọn không có nghĩa là cộc lốc mà ngắn gọn là gọn gàng, rõ ràng, có đầu, có đuôi, có nội dung thiết thực, thấm thía, chắc chắn. Còn muốn viết được trong sáng, giản dị, dễ hiểu, trước hết nhà báo phải học cách nói của quần chúng. Phải thực sự học quần chúng để có cách viết được quần chúng chấp nhận như những gì của chính họ. Sự trong sáng, giản dị, dễ hiểu là bắt nguồn từ sự hiểu biết thấu đáo, bản chất của sự vật, từ sự gắn bó với truyền thống dân tộc trong cách cảm, nếp nghĩ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không những am hiểu ngôn từ của nhiều dân tộc mà còn là bậc thầy về sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt. Người đề cao và khẳng định: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp. Của mình có mà không dùng, lại đi mượn của nước ngoài, đó chẳng phải là đầu óc quen ỷ lại hay sao?”.

Hiện nay, trên cả nước có khoảng 620 cơ quan báo chí, 1 hãng thông tấn, 1 đài phát thanh, 1 đài truyền hình quốc gia… Báo chí đã tích cực tuyên truyền, cổ vũ phong trào thi đua, lao động sản xuất, thực hiện các nhiệm vụ kinh tế – xã hội, động viên đồng bào cả nước vượt qua khó khăn, thử thách, khắc phục hậu quả nặng nề của thiên tai, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, kế hoạch đề ra.

Có thể thấy, sau 85 năm hình thành và phát triển, ở nước ta đã hình thành một hệ thống báo chí hoàn chỉnh với các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử, đảm nhiệm chức năng vừa là cơ quan ngôn luận của tổ chức Đảng, Nhà nước, các tổ chức xã hội, vừa là diễn đàn của nhân dân.

Nhân kỷ niệm 85 năm ngày Báo chí cách mạng Việt Nam, các thế hệ những người làm báo không thể không nhớ tới Chủ tịch Hồ Chí Minh – người đã khai sinh ra nền Báo chí cách mạng Việt Nam, người thầy của các thế hệ nhà báo Việt Nam. Tư tưởng cùng nhưng lời dạy của Người về báo chí mãi còn nguyên giá trị và đặc biệt đối với thế hệ những người cầm bút hôm nay và mai sau càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết trong việc dùng ngòi bút của mình đấu tranh cho sự tiến bộ, công bằng và dân chủ của nhân dân.

Theo tdtt.gov.vn

nhoNguoicha

Bác Hồ với các nhà báo nước ngoài

Trên con đường đi tìm độc lập, tự do cho Tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu một cách sâu sắc báo chí là một vũ khí sắc bén của cách mạng. Báo chí như V.I.Lênin khẳng định, là người tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể, tổ chức tập thể. Ngay từ những ngày đầu hoạt động, Bác Hồ đã viết báo để phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng của mình.

Đầu tiên Bác viết báo bằng tiếng Pháp cho những tờ “Đời sống thợ thuyền”, “Nhân loại” và những tờ báo cánh tả khác ở Pháp. Trong khi cộng tác với các báo cánh tả, Bác nhận thấy là người Pháp biết quá ít, cũng có thể nói là nhiều người chẳng biết gì về Việt Nam. Bác muốn viết nhiều những bài báo nói về tình hình của xứ Đông Dương thuộc địa, về bọn thực dân tàn ác đã mang đến cho người dân Đông Dương nhiều đau khổ. Mỗi bài báo của Bác như mũi tên, hòn đạn làm náo động dư luận Pháp và có ảnh hưởng lớn trong các nước thuộc địa.

Đối với các nhà báo nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn là một người bạn lớn. Những nhà báo quốc tế khi đến Việt Nam đều mong muốn được gặp Người.

Trong Chiến khu Việt Bắc, trước ngày chiến thắng Điện Biên Phủ, nhà báo Ô-xtrây-li-a Uyn-phrết Bớc-sét đã gặp Bác Hồ. Ông viết: “Dường như không thể tin được, nhưng thực sự chẳng có gì đáng nghi ngờ. Con người mảnh khảnh với chòm râu dài từ trong cánh rừng bước ra, gậy cầm tay, áo vắt vai, không phải ai khác mà chính là Cụ Hồ Chí Minh truyền thuyết. Được người Pháp đưa tin đã chết đến vài chục lần. Cụ vẫn ở đó tay dang rộng, mảnh dẻ, nhưng không thể nào nhầm được. Không thể nào quên được buổi gặp gỡ đầu tiên đó, với vẻ ấm cúng và thông minh trong đôi mắt nâu thẫm của Người. Đầu tiên, Cụ Hồ Chí Minh ân cần hỏi thăm về sức khoẻ của tôi.

Trên đường đến Việt Nam, tôi nghe đài sóng ngắn và thấy rằng phần nhiều tin từ Hà Nội bị Pháp chiếm đóng, đều nói về một địa điểm gọi là Điện Biên Phủ. Người Pháp đã chiếm được địa điểm này, làm một căn cứ để tấn công Việt Minh từ phía sau và để quét sạch các sở chỉ huy của họ. Câu hỏi đầu tiên của tôi là điều gì đang xảy ra ở Điện Biên Phủ?

Cụ Hồ lật ngửa chiếc mũ lưỡi trai che nắng của Người xuống bàn, đưa mấy ngón tay mảnh khảnh vòng quanh vành mũ và nói: “Đây là rừng núi, nơi có các lực lượng của chúng tôi. Dưới kia là thung lũng Điện Biên Phủ, ở đó là người Pháp với những đội quân tinh nhuệ nhất. Họ sẽ không bao giờ ra được – tuy có thể mất một ít thời gian”.

– Một Xta-lin-grát ở Đông Dương?

– Trên một phạm vi khiêm tốn, vâng, hơi giống Xta-lin-grát!”(1).

Và sau vài lần gặp gỡ, Bớc-sét viết: “Như tôi đã phát hiện trong nhiều cuộc gặp về sau, nét điển hình ở Cụ Hồ Chí Minh là chỉ với một vài từ, hoặc một vài hình ảnh, Cụ có thể trình bày được những vấn đề rất phức tạp! Hình ảnh những quân tinh nhuệ nhất của đội quân viễn chinh Pháp bị nhốt vào đáy mũ lưỡi trai của Cụ, sẽ là một cuộc chiến đấu lịch sử Điện Biên Phủ khi lên đến đỉnh cao”(2).

Chúng ta biết, Uyn-phrết Bớc-sét là một nhà báo nổi tiếng. Ông đã đem hết nhiệt tình của một nhà báo để ủng hộ những cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Bớc-sét là nhà báo nước ngoài đã có mặt ở Hà Nội trong những ngày giải phóng Thủ đô 1954. Ông cũng là tác giả của cuốn sách “Phía bắc vĩ tuyến 17” được xuất bản ở nhiều nước. Trên bìa cuốn sách được in bằng tiếng Anh này, Bớc-sét đã ghi: “Tác giả bày tỏ niềm tin rằng không có sức mạnh nào có thể ngăn cản được nhân dân Việt Nam bắt tay với nhau qua hàng rào giả tạo đó để quét sạch nó!”.

Trong cuốn Hồi ký của mình, Bớc-sét viết: “Tôi đến Hải Phòng để theo dõi việc lá cờ Pháp bị hạ xuống lần đầu tiên ở phía Bắc vĩ tuyến 17 và việc các quan chức quân sự và hành chính cuối cùng xuống tầu chiến đi Sài Gòn. Vét-xa đánh dấu sự kiện lịch sử này, bằng việc cho Gioóc-giơ chào đời ở một bệnh viện Hà Nội”(3) (Vét-xa là vợ của Bớc-sét, cùng đến Việt Nam trong thời gian đó và sinh con trai ở Hà Nội).

Năm 1957, Bác Hồ sang thăm Mát-xcơ-va. Lúc đó Bớc-sét và Vét-xa cũng có mặt ở đó và cả hai cùng ra đón Bác. Sau này Bớc-sét đã kể lại một kỷ niệm lớn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cho vợ chồng ông: “Một phần thưởng mà chúng tôi sớm nhận được để bù lại nỗi nhớ nhung Việt Nam là chỉ sau vài tuần chúng tôi đến Mát-xcơ-va, Cụ Hồ Chí Minh đã đến thăm chính thức Liên Xô. Nghi lễ đón tiếp có 21 phát súng đại bác, quốc ca hai nước, diễu hành của đội danh dự, giới thiệu với đoàn ngoại giao, rồi đến đoàn báo chí. Cụ Hồ đã trông thấy chúng tôi đứng ở hàng thứ ba trong giới báo chí. Trước sự lo sợ của nhân viên an ninh, lễ tân và trước cả sự ngạc nhiên của đoàn ngoại giao, Cụ Hồ đã rời hàng danh dự của những người đứng đón chào Cụ và bước đến chỗ chúng tôi, đặt bó hoa lớn mà Cụ vừa nhận được khi bước xuống máy bay vào tay của Vét-xa. Những thành viên khác của phái đoàn cũng làm giống như vậy, chuyển các bó hoa của họ cho chúng tôi và ôm hôn chúng tôi trước sự ngạc nhiên của các nhân viên an ninh và lễ tân.

Tính giản dị và quan hệ trước sau như một với bạn cũ của Cụ Hồ Chí Minh luôn luôn đứng trên mọi thứ nghi lễ ngoại giao. Một vài ngày sau, sau vài lần gọi giây nói, một xe hòm đen lớn chở chúng tôi đến một biệt thự đã từng là nơi ở của Xtalin trong khu rừng ngoại ô Mát-xcơ-va. Và ở đó, chúng tôi ăn cơm sáng với Cụ Hồ Chí Minh. Đó là một toà nhà gạch khá đơn giản, một số tường của nó có thể dễ dàng ngã xuống khi người ta bấm vào một cái nút để cho những người bảo vệ có thể chạy ra ngoài, đối phó với những kẻ xâm nhập. Bác Hồ kể cho chúng tôi nghe về những phát triển ở Việt Nam kể từ lúc chúng tôi ra đi. Bữa cơm sáng chỉ là sự nối lại của một tình bạn thân thiết và nói lên tình cảm thân ái của Cụ Hồ Chí Minh”. Và Bớc-sét đã ghi lại một sự kiện nữa: “Những biểu hiện chú ý đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh hầu như chắc chắn đã giúp chúng tôi giải quyết được một trong những khó khăn lớn. Việc cung cấp nhà ở cho những nhà ngoại giao và nhà báo là do cơ quan phục vụ ngoại giao đoàn phụ trách và cho đến trước khi có cuộc đi thăm của Bác Hồ, mỗi lần tôi hỏi về nhà cửa thì chỉ được đáp bằng những cái nhìn lạnh lẽo. Nhưng sau đó, thình lình tôi được cấp chỗ ở tại khu Vi-xốt-ni Đôm, một khu nhà đẹp nhìn xuống sông Mát-xcơ-va, cách nửa dặm về phía Crem-li. Cùng ở với chúng tôi trong ngôi nhà đó là những nhân vật nổi tiếng như nữ diễn viên ba-lê Ga-li-na U-la-nô-va và nhà viết xã luận A-lếch-xăng-đrơ Tva-đốp-xki. Người ta nói rằng trước kia chính Xtalin trực tiếp duyệt danh sách những người được ở ngôi nhà này”(4).

Một nhà báo Chi-lê viết: Trong cách đối xử với chúng tôi, Người thân ái một cách đặc biệt, nhất là khi Người nói với chúng tôi bằng tiếng Tây-ban-nha. Người đã từng đến châu Mỹ La-tinh, làm phụ bếp trên những chiếc tàu buôn. Con người từng bôn ba ở nước ngoài, từng kiếm sống bằng nghề nấu bếp bình thường ấy đứng trước chúng tôi giản dị thế, mặc dù Người có sức hút khổng lồ trên thế giới. Hình như nhà báo nào đã có vinh dự gặp Bác, đều ghi lại những ấn tượng đặc biệt!

Một trong những niềm yêu thích của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đọc sách báo. Trong phòng làm việc của Người luôn có các tờ báo xuất bản ở trong nước và cả báo chí nước ngoài nữa. Người đọc kỹ, ghi những nhận xét vào bên cạnh những bài báo mà Người quan tâm. Nhiều đêm khuya, công việc xong. Người ngả lưng trên giường, mở chiếc đài nhỏ nghe những buổi phát thanh trong và ngoài nước và Người nói: Tôi muốn nghe tiếng nói của nhân loại!
Trong Phủ Chủ tịch, phía sau có một khoảng đất rộng chừng 100 mét vuông, trải sỏi. Bao quanh phía ngoài là một giàn hoa hình bán nguyệt. Giàn hoa rực rỡ màu đỏ tím của hoa, màu xanh của lá, hoà nhập với cảnh quan của khu vườn nổi tiếng. Chính ở nơi đây, với bộ bàn ghế giản dị, Bác Hồ đã tiếp và trả lời phỏng vấn của nhiều nhà báo nước ngoài. Sau này, nhiều người trở lại Việt Nam đứng dưới giàn hoa này đã xúc động nói: Chúng tôi rất nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người rất hiểu chúng tôi. Người là người anh, người bạn và cũng là Bác Hồ của chúng tôi! Năm 1946, trong dịp Bác Hồ sang thăm Pháp, bà Ăng-đrê Vi-ô-lit, tác giả cuốn Đông Dương kêu cứu đã giới thiệu với Người, một cô gái trẻ 18 tuổi, một nhà báo mới vào nghề, đang tập sự ở toà soạn báo Se Soir (Chiều nay). Hồ Chủ tịch vui vẻ đến gần, Người nói một cách trìu mến bằng tiếng Pháp: Con gái của tôi! Đó chính là Ma-đơ-len Ri-phô! Tuy còn trẻ nhưng cô gái xinh đẹp và dũng cảm này đã từng là một chiến sĩ chống phát-xít. Bác Hồ ân cần nói với cô: Làm báo là một nghề chân chính!

Sau này, Ri-phô đã nhiều lần sang Việt Nam. Nhiều bài báo của chị nói về cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta đã được in trên báo Nhân đạo, giúp nhân dân Pháp hiểu rõ cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc ta.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, trong một cuộc tiếp xúc với các nhà báo ở Phủ Chủ tịch tại Hà Nội, Bác Hồ đã chủ động đến bên cạnh Ma-đơ-len Ri-phô, Người nói một cách vui vẻ:

– Ô kìa các vị hãy nhìn cô gái nhỏ nhắn này! Cô ấy không còn nhận ra tôi nữa chắc?

– Ma-đơ-len Ri-phô xúc động, nói:

– Thưa Bác, không, con gái của Người vẫn nhận ra Người đấy chứ! Nhưng con thật không ngờ Người vẫn nhớ đến con!

Khi nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Ma-đơ-len Ri-phô lại sang Việt Nam. Chị đã cùng nhà báo Bớc-sét vượt Trường Sơn vào vùng giải phóng miền Nam Việt Nam. Ri-phô cũng mặc quần áo bà ba đen, đội mũ tai bèo, đi dép lốp cao su và khăn rằn trên vai như những cô gái du kích miền Nam.

Chị đã viết những cuốn phóng sự nổi tiếng: Trong căn cứ Việt Cộng và ở miền Bắc Việt Nam viết dưới bom đạn và chị đã gửi tặng Bác Hồ cả hai cuốn sách đó, với lời đề tặng:

Kính tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự biết ơn sâu sắc và tất cả tấm lòng yêu mến của con đối với Người, với Đảng, với Nhân dân của Người, đang chiến đấu và chiến thắng những tên phát-xít mới!

___

(1,2,3,4) Hồi ký Bớc-sét, NXB Thông tin lý luận, H.1985, các trang 254, 255, 276, 286, 287, 288.

Bùi Công Bính
Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Người làm báo Việt Nam học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Ảnh tư liệu

Hằng năm, vào dịp kỷ niệm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21-6), mỗi người làm báo cách mạng chúng ta lại suy ngẫm, chiêm nghiệm và tự hào vì đã có phần đóng góp xứng đáng trong sự nghiệp báo chí của Đảng, của dân tộc do Chủ tịch Hồ Chí Minh dày công chăm sóc. Năm nay, chúng ta kỷ niệm 82 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam đúng vào thời điểm toàn Đảng, toàn dân đang triển khai cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đây chính là thời điểm thuận lợi để chúng ta noi theo tấm gương đạo đức của Bác, thực hiện có hiệu quả 9 điều “Quy định đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức là cái gốc của người cách mạng. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, tháng 10-1947, Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(1). Từ quan điểm trên của Người, đạo đức nghề nghiệp được hiểu là phẩm chất tốt đẹp nhất, là gốc của các vấn đề trong cuộc sống, là nền tảng hình thành pháp luật, là phương tiện điều chỉnh các mối quan hệ xã hội của người làm báo Việt Nam mà phạm trù pháp luật không điều chỉnh được. Thực hiện đúng quy định đạo đức nghề nghiệp, người làm báo Việt Nam sẽ tránh được những biểu hiện tiêu cực trong cơ chế thị trường, giữ vững lòng tin của nhân dân, của xã hội đối với lực lượng báo chí cách mạng nói chung và đối với mỗi người làm báo nói riêng.

Vấn đề hàng đầu Bác đòi hỏi các nhà báo là phải có phẩm chất chính trị vững vàng, có đạo đức tốt đẹp. Trong thư gửi anh em văn hoá và trí thức Nam bộ ngày 25-5-1947, Người viết: “Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính, trừ tà”(2). Để thực hiện sự nghiệp “Phò chính, trừ tà”, người làm báo phải tuyệt đối trung thành với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; luôn gắn bó với nhân dân, hết lòng phục vụ nhân dân; hành nghề trung thực, khách quan, tôn trọng sự thật; sống lành mạnh, trong sáng, không lợi dụng nghề nghiệp để vụ lợi và làm trái pháp luật; gương mẫu chấp hành pháp luật, làm tròn nghĩa vụ công dân, làm tốt trách nhiệm xã hội; bảo vệ bí mật quốc gia, giữ bí mật cho người cung cấp thông tin; tôn trọng, đoàn kết, hợp tác giúp đỡ đồng nghiệp trong hoạt động nghề nghiệp; thường xuyên học tập, nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, nghiệp vụ, khiêm tốn cầu tiến bộ; giữ gìn và phát huy văn hoá dân tộc, đồng thời tiếp thu có chọn lọc các nền văn hoá khác.

Trung thành với Đảng, với nhân dân là phẩm chất cao quý nhất của người làm báo cách mạng. Lòng trung thành hướng mọi hoạt động của người làm báo tới việc đảm bảo lợi ích của Đảng, của nhân dân, của chế độ. Nó giúp mỗi người làm báo lựa chọn phạm vi hoạt động, phương thức hành nghề, đối tượng phản ánh, tuyên truyền; xác lập phong cách, lập trường, quan điểm, tích luỹ vốn sống. Lòng trung thành khiến chúng ta không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, trau dồi đạo đức nghề nghiệp để có đủ điều kiện làm việc một cách tốt nhất, hiệu quả nhất vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Người làm báo phải luôn gắn bó với nhân dân, hết lòng phục vụ nhân dân. Theo Hồ Chí Minh, chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân làm chủ, tức là người làm báo từ cấp trên đến cấp dưới đều là đầy tớ của nhân dân, đều phải một lòng, một dạ phục vụ nhân dân. Người làm báo càng phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân; yêu kính nhân dân; tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân; nắm vững quan điểm của Đảng, đi đúng đường lối quần chúng, giáo dục và phát động quần chúng thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đảng ta là đảng lãnh đạo cách mạng. Báo chí là công cụ lãnh đạo của Đảng, ngoài lợi ích của nhân dân, người làm báo cách mạng không có lợi ích nào khác. Vì vậy, người làm báo phải một lòng, một dạ phục vụ nhân dân. Tại Đại hội lần thứ hai của Hội Nhà báo Việt Nam, ngày 16-4-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Báo chí ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền, giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, cho nên phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu”(3).

Là một nhà báo lớn, Người ý thức rất rõ ràng về nhiệm vụ tuyên truyền của báo chí, đồng thời, Người khẳng định, tuyên truyền phải đảm bảo tính chân thực. Khi nêu gương người tốt, việc tốt phải: “Viết giản dị thôi và phải đúng sự thật, không được bịa ra”(4). Mặt khác, “Không nên chỉ viết cái tốt mà giấu cái xấu. Nhưng phê bình phải đúng đắn. Nêu cái hay, cái tốt, thì phải có chừng mực, chớ phóng đại. Có thế nào nói thế ấy… Phê bình thì phải phê bình một cách thật thà, chân thành, đúng đắn; chứ không phải để địch lợi dụng để nó phản tuyên truyền”(5).

Người làm báo phải sống lành mạnh, trong sáng, không được lợi dụng nghề nghiệp để vụ lợi và làm trái pháp luật. Vấn đề này liên quan đến đạo đức, lối sống và khả năng rèn luyện, tu dưỡng của người làm báo. Đạo đức, lối sống của người làm báo không có gì khác đối với mọi cán bộ, đảng viên, đó là “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”, mỗi cán bộ, phóng viên, biên tập viên mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong cơ quan báo chí sẽ không có người vi phạm đạo đức và vi phạm pháp luật; đồng thời môi trường báo chí cũng trở nên trong sạch hơn. Phải đổi mới cách nghĩ, cách làm việc. Phải kiên quyết chống tham nhũng, tiêu cực từ trong cơ quan đến ngoài xã hội. Làm việc gì cũng phải công khai, nhất là về việc chọn lựa tin bài, về tài chính, về thu nhập. Không công khai, không rõ ràng khiến cho người ta tưởng có cái gì đó không bình thường nên nghi ngờ và dẫn đến mất đoàn kết. Phải lấy đoàn kết làm trọng. Nhưng đoàn kết không phải là dĩ hoà vi quý, thủ tiêu đấu tranh. Phải dựa vào quy chế cơ quan và pháp luật của Nhà nước. Nếu thấy đồng chí mình có việc gì chưa rõ, trước hết phải tìm hiểu, nếu đồng chí đó không chịu trả lời hay không chịu làm rõ, lúc đó mới dùng đến tổ chức và các biện pháp mang tính định chế để yêu cầu đồng chí mình trả lời một cách tường tận, làm rõ. Khi tìm hiểu phải thiện chí, đừng vội quy chụp, như vậy mới đảm bảo yêu cầu đoàn kết. Phải biết tôn trọng đội ngũ phóng viên, biên tập viên, cộng tác viên và những người tham gia tạo nên sản phẩm. Việc giải quyết lương, thù lao, nhuận bút không phải là sự ban ơn mà chính là sự cảm ơn của người được Nhà nước giao quyền là chủ sử dụng lao động đối với người lao động. Phải khẩn trương tạo nguồn kinh phí để chi trả lương, thù lao, nhuận bút cho người lao động. Làm cho tờ báo ngày càng hấp dẫn và hay, chiếm được tình cảm của bạn đọc trong cả nước, đồng thời với củng cố, phát triển cơ quan, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đội ngũ cán bộ, phóng viên, cộng tác viên, công nhân viên là nhiệm vụ thường xuyên của mọi thành viên trong cơ quan báo.

Người làm báo phải gương mẫu chấp hành pháp luật, làm tròn nghĩa vụ công dân, làm tốt trách nhiệm xã hội; bảo vệ bí mật quốc gia, nguồn tin và giữ bí mật cho người cung cấp thông tin; tôn trọng, đoàn kết, hợp tác, giúp đỡ đồng nghiệp trong hoạt động nghề nghiệp; thường xuyên học tập, nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, nghiệp vụ, khiêm tốn, cầu tiến bộ; giữ gìn và phát huy văn hoá dân tộc, đồng thời tiếp thu có chọn lọc tinh hoa các nền văn hoá khác. Người làm báo có lợi thế là được Đảng, Nhà nước và nhân dân luôn quan tâm, giúp đỡ, tạo hành lang pháp lý để hành nghề một cách có hiệu quả nhất. Trong xu thế hội nhập và phát triển hiện nay, phải không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng nội dung và hình thức sản phẩm báo chí đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Cả tập thể vươn lên. Từng thành viên vươn lên, coi sự đoàn kết là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới phải thường xuyên, cụ thể, chặt chẽ, thông tin kịp thời. Mỗi tổ chức Hội Nhà báo phải thật sự phát huy vai trò là tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp – mái nhà chung của những người làm báo Việt Nam.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, 82 năm qua, các thế hệ nhà báo cách mạng Việt Nam luôn đi đầu trong việc định hướng tư tưởng, chuyển tải quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng đến với quần chúng, tập hợp, giác ngộ quần chúng, xây dựng lực lượng, tiến hành thành công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới, đưa đất nước đi lên theo con đường XHCN. Báo chí cách mạng Việt Nam và những người làm báo cách mạng Việt Nam trước sau luôn kiên định lòng trung thành với lý tưởng cách mạng của Đảng và của dân tộc. Cội nguồn sức mạnh của báo chí cách mạng Việt Nam là sự tiếp nối và nhân lên truyền thống dân tộc Việt Nam anh hùng, nghìn năm văn hiến, kết hợp với những giá trị tiên tiến của thời đại được biểu hiện thành giá trị đạo đức Hồ Chí Minh. Kế thừa truyền thống vẻ vang của các thế hệ nhà báo cha anh, hơn 16.000 nhà báo Việt Nam hôm nay càng thêm vững vàng hơn trong công tác tuyên truyền nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; phát huy sức mạnh toàn dân tộc; đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng chậm phát triển. Dù làm việc ở bất cứ cơ quan báo chí nào, những người làm báo cách mạng Việt Nam cũng tiếp tục phấn đấu để có những tác phẩm có giá trị, hấp dẫn, đảm bảo đúng tôn chỉ, mục đích, định hướng, trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân, chiếm được cảm tình của đông đảo công chúng.

____

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.252. (2) Sđd, tr.131. (3) Sđd, tập 9, tr.414. (4) Sđd, tập 12, tr.559. (5) Sđd, tập 7, tr.118.

Lê Văn Thiềng Trưởng Ban công tác hội
Hội Nhà báo Việt Nam

xaydungdang.org.vn

Học làm báo với Bác Hồ

TTO – Không chỉ là một nhà cách mạng kiệt xuất, suốt cả cuộc đời, Bác đã là một nhà báo, là người sáng lập nền báo chí cách mạng Việt Nam…

Với 150 bút danh, Bác là tác giả hàng ngàn bài báo. Phong cách viết báo của Bác là một tấm gương sáng ngời tư tưởng và bản chất cách mạng của giai cấp công nhân: dùng báo chí làm vũ khí đấu tranh cách mạng; viết báo là để tuyên truyền, vận động cách mạng; viết báo cho quảng đại quần chúng cùng đọc, văn phong giản dị, chính xác, trong sáng…

Buổi đầu đi tìm đường cứu nước, khi hoạt động tại Pháp, Bác là người sáng lập báo Le Paria (Người cùng khổ). Vừa là Chủ nhiệm kiêm Chủ bút, vừa là cây bút chính của tờ báo, Bác đã viết nhiều bài lên án chủ nghĩa thực dân, hô hào, hướng dẫn nhân dân các nước thuộc địa cùng nhau đoàn kết đứng lên giải phóng dân tộc.

Sáng lập báo Thanh niên (21-6-1925) xuất bản tại Quảng Châu, Trung Quốc đưa về nước, Bác hướng tôn chỉ mục đích của tờ báo vào nhiệm vụ tuyên truyền, giác ngộ, vận động các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ thanh niên phải đoàn kết đứng lên cứu nước, cứu nhà, tự đem sức ta mà giải phóng cho ta.

Thời gian làm Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước, Bác viết báo biểu dương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến, cổ vũ các tầng lớp nhân dân hăng hái thi đua kháng chiến, kiến quốc, xây dựng con người mới, bài trừ thói hư, tật xấu…

Bác dạy chúng ta viết báo là để cho nhân dân đọc, trong đó công nông chiếm đa số, trình độ học vấn chưa cao, nên bài viết phải ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu; không nên viết theo lối “bác học”, sính dùng chữ nghĩa cầu kỳ, sáo rỗng, vay mượn, lạm dụng từ ngữ nước ngoài…

Trong một chuyến về thăm bà con nông dân ngoại thành Hà Nội đang vào mùa gặt rộ, đông đảo nữ sinh trường Trưng Vương về lao động giúp dân, Bác động viên các học sinh: ”Các cô tiểu thư Hà Nội lao động có thành tích thì chú nhà báo nầy (Bác chỉ phóng viên báo Thủ Đô) sẽ viết tin đăng lên báo của thành phố, Bác đọc báo, sẽ khen thưởng các tiểu thư”. Bác quay sang dặn nhà báo: ”Chú viết đầy đủ, không được để sót. Bác bảo chú viết đầy đủ, chứ không phải viết dài. Bài viết dài thì ai cũng ngán đọc”.

Năm 1948, trong dịp kỷ niệm Cách mạng tháng Tám, Bác đến thăm nhà máy cơ khí Hà Nội, dừng lại chăm chú xem tờ báo tường của cán bộ, công nhân nhà máy. Bác chỉ tay vào bài báo nhan đề “Ngày mai trời lại sáng”  và hỏi một người đứng gần: “Thành phố giải phóng đã mấy năm rồi?”. Có người thưa rằng đã gần bốn năm, Bác liền nói: “Thế thì bài báo nầy viết không đúng. Trời đã sáng lâu rồi, sao lại phải đến ngày mai. Vậy hiện giờ là đêm tối à?”.

Một lần khác, Bác đến thăm khu triển lãm Vân Hồ, dừng lại xem ảnh tên lính Pháp cuối cùng rút khỏi Hà Nội qua cầu Long Biên trên báo Thủ Đô, Bác hỏi bác sĩ Trần Duy Hưng, Chủ tịch thành phố: ”Tấm ảnh nầy tốt. Nhưng sao lại không để tên người chụp?”. Bác nói thêm: ” Báo chí, nhất là báo hằng ngày phải có nhiều ảnh tư liệu để khi cần là có thể dùng ngay. Đăng ảnh phải đề rõ tên người chụp hoặc ghi là lấy ở đâu”…

Một lần dự họp Quốc hội, nghe Chính phủ báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch nhà nước, nêu những con số tăng phần trăm “so với trước”, Bác mỉm cười hỏi một cán bộ lãnh đạo ngồi cạnh: “Chẳng so với trước thì so với sau à?”. Bài học về những thời điểm cụ thể, không chung chung trong báo chí được Bác truyền thụ như thế.

Nêu cao trách nhiệm xã hội về bài báo mình viết, khi nào Bác cũng rất cẩn trọng, đắn đo suy nghĩ từng nội dung, từng ý tứ, từng câu chữ sao cho quần chúng nhân dân hiểu và quan tâm đọc. Những ngày đầu viết báo, muốn có một bài báo tốt, Bác phải sửa đi, sửa lại nhiều lần, lúc đầu viết dài, sau ngắn dần, rút ngắn đến mức tối đa, nhưng vẫn bảo đảm đầy đủ những nội dung quan trọng, cần thiết, thể hiện bằng văn phong ngắn gọn, trong sáng, dễ hiểu, dễ nhớ. Đã thành thói quen, kể cả lúc làm Chủ tịch nước, viết xong một bài báo, Bác thường đem đọc cho những người xung quanh kể cả nhân viên phục vụ nghe, góp ý kiến; thấy chỗ nào có người không hiểu hoặc hiểu chưa đúng thì Bác sửa ngay.

Năm 1949, Tổng bộ Việt Minh mở lớp học viết báo cách mạng đầu tiên ở nước ta mang tên Lớp Báo chí Huỳnh Thúc Kháng. Trong thư gửi lớp học, Bác viết: ”Có thể ví dụ rằng, ba tháng nay, các bạn đã học cửu chương. Còn muốn giỏi các phép tính, thì cần phải học nữa, phải học mãi. Học ở đâu, học với ai? Học trong xã hội, học nơi công tác thực tế, học ở quần chúng. Nếu các bạn viết báo mà quần chúng hiểu, quần chúng ham đọc, quần chúng khen hay, thế là các bạn tiến bộ. Trái lại, là các bạn chưa thành công”.

Bác ân cần căn dặn: ”Muốn viết báo thì cần: gần gũi quần chúng, ít nhất phải biết một thứ tiếng nước ngòai, luôn luôn gắng học tập, luôn luôn cầu tiến bộ…”.

NGUYỄN CÔNG HOÀNG (Bình Định)

tuoitre.vn