Thư viện

Bài 2: Bộ Chỉ huy Miền trong Tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975

Tháng 10-1973, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 21 chủ trương: Con đường cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng, bất kể trong tình huống nào cũng phải giữ vững chiến lược tiến công, tiến lên hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.

Chuyển hoạt động ra phía trước

Quán triệt Nghị quyết Trung ương 21, trên cơ sở tán thành phương án 2 của Nghị quyết, Bộ Chỉ huy Miền hạ lệnh cho các lực lượng vũ trang cách mạng được phép trừng trị quân ngụy lấn chiếm ở bất kỳ đâu, bằng các hình thức và lực lượng thích đáng.

Mệnh lệnh của Bộ Chỉ huy Miền đã trực tiếp gỡ bỏ những lúng túng của lực lượng vũ trang các cấp trong thời đoạïn lịch sử đầy tế nhị phức tạp sau Hiệp định Paris, mở ra những thắng lợi quân sự vang dội ở Chương Thiện (Khu 9), rừng Sác (Khu 7) và thêm nhiều chiến trường khác ở Nam bộ và cực Nam Trung bộ.

Tháng 11-1973, Bộ Chỉ huy Miền đề ra kế hoạch quân sự mùa khô 1973-1974 và toàn năm 1974 với nội dung: Đẩy mạnh đánh địch bình định lấn chiếm, đặc biệt tại đồng bằng sông Cửu Long, tiêu diệt địch ở vùng rừng núi, mở rộng hành lang tiếp nhận chi viện từ miền Bắc vào và hành lang thông nối đến các chiến trường. Mở rộng và hoàn chỉnh vùng giải phóng, đưa lực lượng vũ trang áp sát đô thị buộc địch phải bị động tập trung phòng thủ ở Đông Nam bộ và thành phố Sài Gòn.

Diễn biến hoạt động của lực lượng vũ trang Miền trong mùa khô 1973-1974 chia làm 2 đợt.

Trong đợt 1, Bộ Chỉ huy Miền đã chỉ đạo các đơn vị chủ lực chuyển hoạt động ta phía trước, tiến công liên tục, phá lấn chiếm của quân nguỵ, mở rộng vùng làm chủ của cách mạng, phát triển phong trào du kích chiến tranh đến vùng tranh chấp, tạo điều kiện tăng cường công tác tuyên truyền vận động quần chúng, xây dựng cơ sở ở vùng địch kìm kẹp, vận động nhân dân bung về vùng giải phóng.

Trong đợt 2, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chỉ huy Miền, Sư đoàn bộ binh 5 từ Đông Nam bộ hành quân xuống đồng bằng Khu 8 hoạt động mở hành lang từ vùng biên giới Long An xuống Vàm Cỏ Tây. Sư đoàn 9 tiến đánh xuống Bến Cát, mở thông hành lang từ căn cứ địa Lộc Ninh đến các căn cứ kháng chiến ở phía Bắc Sài Gòn như Bời Lời, Long Nguyên, Củ Chi. Sư đoàn 7 đánh bức rút nhiều đồn bót địch, giải phóng khu vực đường 14 từ Chơn Thành đến Đồng Xoài.

Chỉ trong 6 tháng mùa khô, lực lượng vũ trang B2 đã loại khỏi vòng chiến đấu 10.000 tên địch, gỡ hơn 1.400 đồn, giải phóng 16 xã, 582 ấp với hơn 360.000 dân. Nhịp điệu và cường độ tiến công của lực lượng vũ trang Miền trong mùa khô 1973-1974 không dừng lại theo thông lệ (bộ đội nghỉ ngơi bổ sung quân số trang bị vào mùa mưa) mà tiếp tục được duy trì và đẩy mạnh cho đến hết năm 1974.

Tạo lực để đón thời cơ mới

Đồng thời với chỉ đạo hoạt động tác chiến, Bộ Chỉ huy Miền nhiều lần tổ chức hội nghị chuyên đề về xây dựng lực lượng vũ trang, chuẩn bị hậu cần kỹ thuật, tạo lực để sẵn sàng đón lấy thời cơ mới.

Trước hết, Bộ Chỉ huy Miền chỉ đạo kiện toàn hệ thống hậu cần Miền, thành lập thêm các phòng quản lý xăng xe, phòng kiến thiết cơ bản, các trạm sửa chữa xe, xưởng quân giới, đặc biệt thành lập mới Bộ Tư lệnh Công binh làm nhiệm vụ xây dựng con đường cơ giới nối đường cơ giới Đông Trường Sơn từ Sêrêpok qua Bù Gia Mập đến Lộc Ninh, hỗ trợ các tiểu đoàn xăng dầu 559 lắp đặt đường ống dẫn dầu từ miền Bắc vào, các đơn vị thông tin xây dựng hệ thống đường dây thông tin hữu tuyến…

Hàng loạt hành lang mới được mở từ Bắc Tây Ninh xuống Quân khu 8, Quân khu 9; từ Lộc Ninh xuống Bến Cát, Củ Chi; từ chiến khu D xuống Long Phước, Xuyên Mộc…

Công tác tạo nguồn chuẩn bị vật chất được Bộ Chỉ huy Miền trực tiếp chỉ đạo thực hiện với nhiều biện pháp: tổ chức tiếp nhận chi viện từ miền Bắc vào, tăng cường nguồn thu tại chỗ, đẩy mạnh tăng gia sản xuất. Tổng cộng từ tháng 1-1973 đến tháng 11-1974, các đoàn hậu cần Miền đã tiếp nhận chi viện được 37.000 tấn binh khí kỹ thuật hiện đại, thu mua và tự sản xuất được 80.000 vật chất, không kể 28.000 tấn dự trữ từ trước.

Cùng với hoạt động chuẩn bị hầu cần kỹ thuật, Bộ Chỉ huy Miền chỉ đạo Cục Tham mưu khẩn trương điều chỉnh phát triển lực lượng. Nhiều cơ quan chức năng được củng cố lại.

Từ các phòng binh chủng và Đoàn 75, Bộ Chỉ huy Miền ra quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Thông tin (Đoàn 23), Bộ Tư lệnh Công binh (Đoàn 25), Bộ Tư lệnh Tăng-Thiết giáp (Đoàn 26), Bộ Tư lệnh Đặc công (Đoàn 27), Bộ Tư lệnh Phòng không (Đoàn 77), Bộ Tư lệnh Pháo binh (Đoàn 75). Dựa vào chi viện của Trung ương cộng với thực lực hiện có, Bộ Chỉ huy Miền chỉ đạo thành lập mới hàng loạt đơn vị vũ trang cấp quân đoàn, sư đoàn, trung đoàn.

Ngày 20-7-1974, Quân đoàn 4 thành lập gồm 3 sư đoàn bộ binh (5,7,9), 5 trung đoàn binh chủng, do Thiếu tướng Hoàng Cầm làm Tư lệnh, Đại tá Bùi Cát Vũ làm Phó Tư lệnh. Cùng thời gian, Lữ đoàn đặc công biệt động 316, Sư đoàn bộ binh 3 ra đời.

Các quân khu thành lập các sư đoàn nhẹ. Lực lượng vũ trang thành đội Sài Gòn-Gia Định tổ chức thành 6 mũi tiến công: Đoàn 196 (hướng Chủ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp), Đoàn 197 (hướng Tân Bình, Bình Chánh), Đoàn 198 (hướng Nam Bình Chánh, Nhà Bè), Đoàn 199 (hướng Nam Thủ Đức), Đoàn 195 (trong nội đô).

Lực lượng đặc công được bố trí sẵn sàng tấn công các mục tiêu. Lực lượng biệt động thành tổ chức thành 3 tiểu đoàn, 11 đại đội, bố trí 2 bên Đông và Tây thành phố Sài Gòn.

Bộ đội địa phương và dân quân du kích phát triển với tốc độ chưa từng thấy. Đến tháng 12-1974, toàn B2, dân quân du kích tăng lên 96.000 người, bộ đội địa phương có gần 87.000 quân.

Được sự chi viện to lớn của Trung ương và nỗ lực chung của quân và dân trên chiến trườùng Nam bộ và cực Nam Trung bộ, đến cuối năm 1974, Bộ Chỉ huy Miền đã làm tham mưu, chỉ đạo, chỉ huy hoàn tất việc chuẩn bị, tạo nên một thế trận và lực lượng mới cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975.

Bài 3: Chiến dịch Hồ Chí Minh

HỒ SƠN ĐÀI
sggp.org.vn

Bài 1: Bộ Chỉ huy Miền trong Tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975

Trước ngưỡng cửa cuộc quyết chiến chiến lược cuối cùng

“Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chiến trường Nam bộ, cực Nam Trung bộ, Nam Tây Nguyên (gọi tắt là B2) giữ một vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng. Chỉ huy trực tiếp các lực lượng vũ trang cách mạng trên địa bàn này là Bộ Tư lệnh các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam Việt Nam, tên gọi tắt quen dùng là Bộ Chỉ huy Miền.

Có thể nói, Bộ Chỉ huy Miền là cơ quan tiền phương của Bộ Tổng tư lệnh ở một chiến trường lớn tại miền Nam, bao gồm các quân khu 6, 7, 8, 9, thành phố Sài Gòn-Gia Định và một số tỉnh trực thuộc” (Võ Nguyên Giáp).

Ra đời từ năm 1961, Bộ Chỉ huy Miền là cơ quan chỉ huy cao nhất của các lực lượng vũ trang giải phóng trên chiến trường B2. Kỷ niệm 33 năm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, SGGP 12 Giờ xin giới thiệu những tư liệu liên quan đến Bộ Chỉ huy Miền.

Mặc dù buộc phải ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam nhưng đế quốc Mỹ vẫn ngoan cố tiếp tục thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, ra sức phá hoại Hiệp định, đẩy mạnh bình định lấn chiếm một cách quyết liệt, uy hiếp, sẵn sàng gây lại chiến tranh lớn.

Thực hiện Hiệp định Paris

Thực hiện Nghị quyết ngày 9-1-1973 của Quân ủy Trung ương về việc “nghiêm chỉnh chấp hành Hiệp định Paris” và “nhất thiết lực lượng vũ trang ta phải mạnh và luôn luôn sẵn sàng chiến đấu”, Bộ Chỉ huy Miền chỉ đạo các lực lượng vũ trang B2: 1. Đấu tranh thực hiện ngừng bắn; 2. Nắm vững quan điểm bạo lực cách mạng, kiên quyết trừng trị bọn địch lấn chiếm; 3. Xác định rõ tính chất vùng (giải phóng, tranh chấp mạnh, tranh chấp yếu, yếu) và chủ trương, phương châm, phương thức đấu tranh cụ thể phù hợp với từng địa bàn; 4. Tích cực xây dựng lực lượng, huấn luyện quân sự, chuẩn bị hậu cần, kỹ thuật và xây dựng khu giải phóng – căn cứ địa.

Để ổn định căn cứ đứng chân bảo đảm cho hoạt động chỉ đạo chỉ huy, Bộ Chỉ huy Miền dời sở chỉ huy từ Campuchia về Việt Nam, xây dựng căn cứ mới ở sóc Tà Thiết (xã Lộc Thành, Lộc Ninh, Bình Phước). Ban chỉ huy gồm đồng chí: Phạm Hùng (Bí thư Trung ương Cục, Bí thư Quân ủy Miền, Chính ủy); Trần Độ và Lê Văn Tưởng (Phó Chính ủy); đồng chí Hoàng Văn Thái (Tư lệnh), Trần Văn Trà, Lê Đức Anh, Đồng Văn Cống, Nguyễn Thị Định, Nguyễn Hữu Xuyến và Hoàng Cầm (Phó Tư lệnh); Nguyễn Minh Châu (Tham mưu trưởng); Trần Văn Phác (Chủ nhiệm Chính trị); Bùi Phùng (Chủ nhiệm Hậu cần). Đồng thời, Bộ Chỉ huy Miền còn chỉ đạo các đơn vị công binh, bảo vệ, hậu cần xây dựng thị trấn Lộc Ninh thành thủ phủ của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, nơi đặt trụ sở Ban liên hiệp 4 bên, phái đoàn Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát.

Thực hiện điều khoản của Hiệp định, Bộ Chỉ huy Miền cử 100 cán bộ, chiến sĩ thành lập phái đoàn quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (lấy mật danh là Đoàn 315B) do Trung tướng Trần Văn Trà làm trưởng đoàn. Tại trại Đavít (sân bay Tân Sơn Nhất – Sài Gòn), Đoàn đã kiên quyết đấu tranh pháp lý với Mỹ-ngụy nhằm thực hiện việc chấm dứt dính líu quân sự của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, rút hết quân, triệt tiêu các căn cứ quân sự; giữ vững lập trường nước Việt Nam là một, giới tuyến quân sự chỉ là tạm thời, thực tế miền Nam có 2 chính quyền, 2 quân đội, 3 vùng; bảo đảm ngừng bắn, ngăn chặn địch khiêu khích lấn chiếm, đòi tự do dân chủ cho nhân dân; giữ vững hoạt động của Ban liên hiệp quân sự 4 bên và Ban liên hiệp quân sự 2 bên.

Xây dựng kế hoạch “thời cơ”

Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh tại Căm Xe, Bến Cát, Sông Bé. Ảnh: T.L.

Phát hiện được kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ” của chính quyền Thiệu do Phòng Tình báo Bộ Tham mưu Miền cung cấp, Bộ Chỉ huy Miền xây dựng kế hoạch “thời cơ”, chỉ đạo các lực lượng vũ trang đồng loạt tiến công nhằm cải thiện thêm một bước về thế trận. Đến trước thời điểm Hiệp định Paris có hiệu lực (8g ngày 28-1-1973), toàn B2 đã giành quyền làm chủ thêm 541 ấp, 5 xã với 28 vạn dân. Kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ” bị phá sản, Thiệu bất chấp quy định ngừng bắn, dốc toàn lực phản kích trên toàn chiến trường.

Đến cuối tháng 2-1973, chúng đã chiếm lại gần như toàn bộ vùng cách mạng mới mở ra trong đợt “thời cơ”. Trong tháng 2 và 3 năm 1973, chúng tổ chức 12.000 cuộc hành quân lấn chiếm càn quét ở địa bàn Đông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long.

Trước hành động ngang ngược của địch và thái độ bị động lúng túng của một số đơn vị địa phương của ta, từ kinh nghiệm của Quân khu 9 (do đồng chí Lê Đức Anh làm Tư lệnh, đồng chí Võ Văn Kiệt làm Chính ủy) trong việc giữ nguyên thế đứng chân của lực lượng chủ lực để hỗ trợ cho lực lượng vũ trang địa phương chống địch lấn chiếm bình định, Bộ Chỉ huy Miền điện chỉ đạo các quân khu: không phân tuyến chia vùng, giữ vững thế da báo, đưa các đơn vị chủ lực Miền xuống áp sát vùng trung tuyến phối hợp với địa phương chủ động tiến công địch, dần lấy lại thế chủ động trên các chiến trường.

Vừa tập trung chỉ đạo điều chuyển lực lượng và hoạt động tác chiến trừng trị địch vi phạm Hiệp định, giữ vững thế trận chiến tranh nhân dân, Bộ Chỉ huy Miền vẫn chú trọng công tác xây dựng lực lượng vũ trang, huấn luyện cán bộ và bộ đội, bảo đảm hậu cần, xây dựng hậu phương quân đội, xây dựng khu giải phóng và căn cứ địa. Bộ đội chủ lực phát triển mạnh các đơn vị đặc công. Lực lượng vũ trang địa phương tập trung xây dựng mở rộng dân quân du kích.

Các đoàn hậu cần được sắp xếp lại, chuyển hệ thống kho tàng, địa bàn thu mua lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm từ Campuchia về nước, lập thêm nhiều cung trạm mới sẵn sàng tiếp nhận chi viện lớn trên tuyến 559 đông Trường Sơn. Các căn cứ địa ở Bắc Tây Ninh, Bắc Bình Phước, Tây Quảng Đức, chiến khu Đ, Đồng Tháp Mười được củng cố và phát triển, tạo thành vùng căn cứ liên hoàn nối hậu phương lớn vào đến Sài Gòn, Đông và Tây Nam bộ.

Hoạt động của Bộ Chỉ huy Miền trong năm 1973 đã góp phần tạo nên một biến chuyển mới, đưa cách mạng miền Nam đến trước ngưỡng cửa của cuộc “đại chuẩn bị” trên quy mô lớn cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng.

» Bài 2: Thế và lực cho cuộc tổng tiến công

Hồ Sơn Đài
sggp.org.vn

Những ngày cuối chính quyền Sài Gòn qua tài liệu CIA: Kỳ cuối

Mỹ bỏ rơi VNCH

Cả Tổng thống Gerald Ford lẫn Ngoại trưởng Kissinger đều đã đặt dấu chấm hết cho chính quyền Sài Gòn trước khi cuộc chiến thực sự kết thúc vào ngày 30.4.1975.

Có nhiều tin tức nói rằng, thể chế Việt Nam cộng hòa (VNCH), tức chính quyền Sài Gòn, đã bị “khai tử” ngay sau khi Quốc hội Mỹ ngày 18.4 quyết định cúp quân viện cho quân đội Sài Gòn, tức chẳng khác nào “tước khí giới” của binh sĩ. Điều này phản ảnh qua việc, nhiều viên chức đã tìm cách cho gia đình xuất ngoại, bất chấp lệnh cấm sau đó của Tổng thống Trần Văn Hương. Còn theo tài liệu mật mà tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, cựu Tổng trưởng Kế hoạch và Phát triển dưới thời Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, mô tả lại trong 2 cuốn sách: Hồ sơ mật dinh Độc Lập Khi đồng minh tháo chạy (2005), thì số phận VNCH xem như kết thúc ngày 23.4.1975, khi Tổng thống Mỹ lúc đó là ông Gerald Ford tuyên bố một cách thẳng thừng trong một bài diễn văn tại Đại học Tulane.

“Đối với Mỹ, chiến tranh VN đã kết thúc”

Ngày 21.4, Tổng thống Thiệu từ chức ở Sài Gòn. Ngày 23.4, Tổng thống Ford đáp chuyên cơ đi News Orleans để diễn thuyết tại Đại học Tulane. Tình hình VN biến chuyển quá nhanh, và dư luận quốc tế cũng như cử tri Mỹ đang chờ đợi xem vị nguyên thủ cường quốc hàng đầu thế giới sẽ nói gì đây. Theo tài liệu thì chiều hôm đó, như để lấy thêm can đảm, Tổng thống Ford đã uống một ly cocktail trong tiệc chiêu đãi, rồi ông bước vào nơi mọi người đang chờ nghe diễn văn.

Địa điểm Tổng thống Ford diễn thuyết là sân chơi bóng trong nhà của trường đại học, nơi đã có hàng ngàn sinh viên tụ họp chờ đợi. Ông chậm rãi, nhấn mạnh từng chữ: “Đối với Mỹ, chiến tranh VN đã kết thúc”.

Cả hội trường như vỡ tung ra vì tiếng vỗ tay, tiếng la hét, huýt sáo, reo hò vui mừng. Theo mô tả trong sách của tiến sĩ Hưng thì tuyên bố lịch sử của Tổng thống Ford chỉ mới vừa được đánh máy “thêm” vào bài diễn văn, khi chiếc Air Force One còn bay trên cao, trên đường đến New Orleans: “Nước Mỹ có thể lấy lại được niềm hãnh diện đã có trước chiến tranh VN. Nhưng niềm hãnh diện ấy sẽ chẳng có thể đạt được bằng cách tham dự trở lại một cuộc chiến mà riêng đối với Mỹ, nó đã chấm dứt rồi”.

Ron Nessen, Phụ tá Báo chí của tổng thống, nhận xét rằng, chỉ mới 2 tuần trước đó, ông Ford còn ra trước Quốc hội đọc diễn văn xin thêm quân viện cho VNCH, mà tại Tulane, chẳng thấy tổng thống đả động gì tới việc viện trợ thêm cho chính quyền Sài Gòn nữa.

“Sao họ không chết nhanh cho rồi?”

Trước khi Đà Nẵng thất thủ 2 ngày, tướng Weyand được cử sang VN để thẩm định tình hình. Weyand lúc đó là Tham mưu trưởng Lục quân Mỹ và từng đảm nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân đội Mỹ ở miền Nam VN. Sau thời gian một tuần lễ thị sát chiến trường cũng như hội họp với các viên chức VNCH, tướng Weyand trở về Washington báo cáo cho Bộ trưởng Quốc phòng. Ngày 5.4.1975, khi đang trên đường trở về Washington D.C, Weyand nhận được lệnh bay thẳng đến Palm Springs để phúc trình thẳng cho Tổng thống Ford và Ngoại trưởng Kissinger. Nghe xong thuyết trình, Ngoại trưởng Kissinger đi họp báo. Khi đó, còn có Ron Nessen là Phụ tá Báo chí của tổng thống đi cùng. Theo lời kể lại của Nessen thì trên đường đi đến Trung tâm Báo chí để họp báo, Kissinger đã nguyền rủa: “Sao họ không chết nhanh cho rồi?” – ông rên lên trong xe. “Điều tệ hại nhất có thể xảy ra là họ cứ sống dai dẳng hoài” (“Why don’t these people die fast?”, he moaned in the car. “The worst thing that could happen would be for them to linger on”).

Câu nói bất chợt, buột miệng thốt ra của một vị ngoại trưởng, lại thường phản ảnh sự thật hơn là những lời tuyên bố khôn ngoan về chính sách của ông, hơn là nội dung trong những bài diễn văn, những câu trả lời trước báo giới… Theo lời tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng thì năm 1979, trong một lần nói chuyện với một người bạn Mỹ về chiến tranh Do Thái, Iran; lúc bàn tới VN thì tự nhiên, anh bạn người Mỹ thốt lên: “Ừ! Sao ông Kissinger tàn nhẫn quá nhỉ?”.

Sau khi “quyết sách” của Mỹ đã rõ ràng thì tại VN, chính quyền Sài Gòn chỉ còn tồn tại có một tuần. Trước khi Tổng thống Ford đưa ra lời tuyên bố quan trọng nói trên, thì “Tổng thống một tuần” Trần Văn Hương ngay sau khi nhậm chức, đã vội ký sắc lệnh cấm di chuyển, du lịch ra hải ngoại. Quân nhân, công chức nào đã lợi dụng công vụ trốn lại nước ngoài, phải hồi hương trong vòng 30 ngày, nếu không, họ sẽ bị tước quốc tịch và bị tịch thu tài sản. Thành phần được phép xuất ngoại chỉ là người già, hoặc bệnh nhân cần đi chữa trị. Tuy nhiên, bất chấp lệnh này, làn sóng di tản đã bùng phát vào những ngày cuối cùng của tháng 4.1975, nhất là khi phòng tuyến Xuân Lộc bị phá vỡ ngày 23.4. Sư đoàn 18 Bộ binh, Lữ đoàn 1 dù cùng các đơn vị địa phương quân và nghĩa quân di tản khỏi Xuân Lộc. Phòng tuyến này được lệnh di tản sau khi Dầu Giây mất. Tình hình chiến trường lúc đó được tính theo từng giờ, từng ngày.

Tuyết Linh
thanhnien.com.vn

Những ngày cuối chính quyền Sài Gòn qua tài liệu CIA: Kỳ 4

Loay hoay tìm viện trợ

Quá lệ thuộc vào nguồn viện trợ từ Mỹ, chính quyền Sài Gòn đã đối mặt với nhiều khó khăn khi bị mất “bầu sữa” này.

Bài viết dưới đây điểm lại những nét chính mà tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, cựu Tổng trưởng Kế hoạch và Phát triển (KH-PT) chính quyền Sài Gòn mô tả. Ông Hưng lúc đó được xem là cố vấn thân cận của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Ông đã thuật lại những bí mật của dinh Độc Lập trong 2 cuốn sách: Hồ sơ mật dinh Độc Lập(đồng tác giả với Schecter – 1986) và Khi đồng minh tháo chạy (2005).

Thật ra, các nhà hoạch định chiến lược chính quyền Sài Gòn cũng đã thấy nguy cơ trước việc quá lệ thuộc vào viện trợ Mỹ, nhất là viện trợ quân sự. Nên theo lời tiến sĩ Hưng, dinh Độc Lập cũng từng nhiều lần tìm các nguồn tài trợ khác. Tuy nhiên, khi nhận viện trợ hoặc đi vay thì đều chịu những ràng buộc, mà suy cho cùng, viện trợ Mỹ vẫn là “số 1”.

Các nguồn viện trợ song phương

Một trong những quốc gia mà chính quyền Sài Gòn có thể cầu viện là Pháp. Khoản tiền viện trợ mà Paris cho Việt Nam Cộng hòa (VNCH) vay sau cùng là 130 triệu quan Pháp (tương đương 26 triệu USD), nhưng chính quyền Sài Gòn buộc phải mua hàng của Pháp. Theo lời tiến sĩ Hưng thì Bộ KH-PT muốn sử dụng khoản tiền này vào các chương trình canh nông, chế biến, để tạo công ăn việc làm, giải quyết nạn thất nghiệp. Nhưng phía Pháp thì lại gây áp lực buộc phải mua máy phát điện, hệ thống phát sóng tối tân cho đài truyền hình, rồi các loại xem ra là “xa xỉ phẩm” như điện thoại, xe đạp Peugeot…, là những thứ mà VNCH lúc đó không thể “phung phí” tiền để mua. Do chính quyền Sài Gòn không đồng ý nên khoản viện trợ này ngừng lại.

Sau Pháp là Nhật, và tuy thể thức cho vay của Tokyo có “nhẹ nhàng” hơn, với lãi suất thấp và cho vay dài hạn, nhưng Chính phủ Nhật cũng đòi hỏi phải mua hàng hóa Nhật, và rồi cũng giống như trường hợp của Pháp, gây áp lực VNCH nhập cảng những thứ xem ra không cần thiết trong thời chiến. Nhật đòi cho nhập thêm phụ tùng xe gắn máy Honda, mà lúc đó, Sài Gòn được báo giới ngoại quốc đặt cho cái tên “Hondaville”.

Một trong những nguồn cho vay đáng được quan tâm lúc đó là của Iran. Quốc vương Shah đề nghị giúp đỡ chính quyền Sài Gòn khoảng 100 triệu USD và cho vay ngay để yểm trợ nhập cảng hàng hóa. Chính quyền Tehran nói là nếu VNCH không có khả năng hoàn trả bằng tiền thì có thể trả bằng sản phẩm, chẳng hạn như trái cây, rau, hoa quả. Theo đề nghị của Iran thì VNCH tổ chức thu mua, đóng gói, rồi sẽ có phi cơ vận tải bay từ Tehran sang Đà Lạt hằng tuần để chở về. Theo kế hoạch này thì phi trường Liên Khương của Đà Lạt sẽ được tu bổ, sửa chữa lại. Đây là một đề nghị rất tốt và có lợi cho VNCH, nhưng kế hoạch cần có thời gian tổ chức, không thể thực hiện ngay được, trong khi nguồn tiền thì cần rất gấp.

Ngoại trừ các quốc gia kể trên, những nguồn viện trợ song phương khác không đáng kể, vì chỉ nhỏ giọt, năm ba triệu USD và thường là loại viện trợ nhân đạo.

Đáng kể nhất là nguồn tài chính đặc biệt từ Ả Rập Xê Út.

Ông vua hào phóng của Ả Rập Xê Út

Vào cuối năm 1974, một tia hy vọng lóe lên cho chính quyền Sài Gon từ nhà vua Ả Rập Xê Út là Saud al Faisal. Vào đầu năm 1975, nhà vua đã đồng ý trên nguyên tắc cho VNCH vay dài hạn mấy trăm triệu USD với lãi suất thấp. Điều kiện thật là dễ dãi, thủ tục đơn giản. Ký xong là có tiền ngay, hoặc có thể vay bằng dầu lửa, rồi đến khi nào VNCH khai thác được dầu mỏ thì mới phải trả. Vào thời điểm đó, đã có nhiều tin tức về mỏ dầu ở thềm lục địa VN.

Khoản tiền vay của Ả Rập Xê Út sẽ cho phép chính quyền Sài Gòn mua thêm nhiên liệu, đạn dược của bất cứ nước nào. Một giải pháp vay mượn khác cũng đã được đề nghị với vua Faisal, là Ả Rập Xê Út sẽ đứng ra bảo đảm cho VNCH vay viện trợ quân sự Mỹ (USAID Loan Plan). Theo tiến sĩ Hưng thì kế hoạch này tốt hơn vì lúc đó, tất cả quân trang, quân dụng và vũ khí của quân đội Sài Gòn đều được chế tạo ở Mỹ, nên việc mua đạn dược, quân trang của nước này thuận lợi hơn.

Vừa lúc kế hoạch vay quân viện Mỹ qua bảo đảm của vua Faisal sắp được thực hiện thì ông vua này bị người cháu ruột giết chết.

Sở dĩ vua Faisal ủng hộ chính quyền Sài Gòn là vì ông này chống chủ nghĩa Cộng sản lẫn chủ nghĩa Phục quốc Do Thái. Cai quản đất nước từ năm 1964 với những chính sách cải tổ và hiện đại hóa đất nước, nhưng đến năm 1975 thì ông bị Hoàng tử Musaid – gọi vua là bác ruột, vừa từ Mỹ trở về nước – ám sát. Hôm đó là ngày 25.3.1975, nhân sự kiện nhà vua mở cửa hoàng cung cho mọi công dân vào chiêm bái, thì Hoàng tử Musaid đã bắn chết nhà vua, viện lẽ là để trả thù việc lực lượng quốc phòng Ả Rập hồi năm 1965 đã bắn chết người anh của Musaid. Tháng 6.1975, Musaid đã bị hành hình bằng hình thức chặt đầu trước công chúng.

Cái chết của vua Faisal vào đúng ngày tại miền Nam VN, Quân đoàn I có lệnh rút khỏi cố đô Huế. Không còn cách nào khác, Tổng thống Thiệu gửi điện chia buồn cùng Hoàng gia Ả Rập, và sau đó, thúc giục Chính phủ Ả Rập Xê Út tiếp tục tiến hành kế hoạch của tiên vương. Nhưng trong lúc tang gia bối rối, phía Ả Rập trả lời là sẽ cứu xét đề nghị ấy.

Ngày 14.4.1975, ông Thiệu phái ông Hưng cùng Ngoại trưởng VNCH lúc đó là ông Vương Văn Bắc và Đại sứ Trần Kim Phượng đi Washington D.C. cầu viện Mỹ theo kiểu “vay quân viện” lần cuối cùng, những mong níu kéo sự tồn vong của chính quyền Sài Gòn. Việc “vay quân viện” được VNCH “thế chân” bằng những thứ sau đây: – Tiềm năng dầu lửa – Tiềm năng xuất cảng gạo – Khoản tiền Ả Rập Xê Út hứa cho vay – Số vàng dự trữ của Ngân hàng Quốc gia VN (lúc đó là 16 tấn, trị giá vào khoảng 120 triệu USD).

Trong khi những người “đi sứ” còn thương thảo thì tình hình chiến sự diễn biến quá nhanh. Và ngày 18.4, tiến sĩ Hưng nhận được bản tin mới nhất của các hãng thông tấn với nội dung: “Ủy ban Quốc phòng Thượng viện Mỹ vừa bỏ phiếu chống việc tăng quân viện cho VNCH. Ủy ban Ngoại giao thì chấp thuận dự luật cho quyền Tổng thống Ford sử dụng quân đội để di tản người Mỹ ra khỏi VN”.

Hành động này được xem như là đã “khai tử” VNCH. Ông Hưng ở lại Mỹ cho đến ngày nay.

Tuyết Linh
thanhnien.com.vn

Những ngày cuối chính quyền Sài Gòn qua tài liệu CIA: Kỳ 3

Người Mỹ tìm cớ rút lui

Rất muốn rút hết người của mình khỏi Sài Gòn, nhưng phía Mỹ vẫn cần một “lệnh tống khứ” do ông Dương Văn Minh ký.

Vào lúc 5 giờ rưỡi chiều 28.4, tướng Dương Văn Minh tuyên thệ nhậm chức tổng thống chính quyền Sài Gòn. Trước khi từ chức, Tổng thống Trần Văn Hương ký sắc lệnh giải nhiệm chức vụ Tổng tham mưu trưởng quân đội của đại tướng Cao Văn Viên. Trong khi chờ đợi tân tổng thống bổ nhiệm người thay thế, trung tướng Đồng Văn Khuyên – Tham mưu trưởng Bộ Tổng tham mưu – xử lý thường vụ chức vụ Tổng tham mưu trưởng.

Tướng Đôn thúc ép

Đúng ra theo hiến pháp, Quốc hội không có quyền ép Tổng thống Hương từ chức để giao chức vụ lại cho tướng Dương Văn Minh. Tuy nhiên, ông Hương lúc này bị áp lực từ nhiều phía, nhất là Phó thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng Trần Văn Đôn. Ông Đôn đã hù dọa Quốc hội là chỉ có ông Minh lên làm tổng thống mới có thể thương thảo với “Cộng sản” được mà thôi.

Trong buổi điều trần trước Quốc hội, ba vị tướng: Trần Văn Đôn; Trần Văn Minh, Tư lệnh Biệt khu thủ đô; Nguyễn Khắc Bình, Tư lệnh Cảnh sát quốc gia, đã trình bày trước Quốc hội tình hình nguy ngập của việc bảo vệ Sài Gòn. Theo đó, ngoài các đơn vị ở Vùng 4, tại Vùng 3, VNCH có 3 sư đoàn còn nguyên vẹn là các sư đoàn 5, 25 và sư đoàn dù. Sư đoàn 18 và 22 là hai sư đoàn trừ (tức thiếu quân số), đang được bổ sung. Nội thành thì có 2 liên đoàn Biệt động quân và 2 liên đoàn Cảnh sát dã chiến. Trong khi đó, quân giải phóng đã huy động đến 16 sư đoàn chính quy, chưa kể các lực lượng địa phương, đang dồn các mũi tấn công vào Sài Gòn. Tướng Đôn cũng báo cho Quốc hội biết là bên kia đòi hỏi Tổng thống Hương phải bàn giao chức vụ lại cho tướng Dương Văn Minh trước 12 giờ khuya ngày 27.4 để có cơ hội thương thuyết, còn nếu không, họ sẽ ra lệnh tấn công. Sau đó, 3 tướng Đôn, Minh và Bình ra về để cho các thành viên Quốc hội quyết định.

Tình hình lúc đó cho thấy, một khi chính quyền lọt vào tay đại tướng Dương Văn Minh thì hầu như ông sẽ đầu hàng đối phương. Và vì thế, đại tướng Cao Văn Viên đã vội vàng từ chức, các tướng lĩnh khác ở “trung ương” cũng di tản nhanh.

Trước đó, ngày 26.4 đầy những biến cố có tính quyết định tới vận mạng của chính quyền Sài Gòn. Tại Pháp, Đại sứ VNDCCH là Võ Văn Sung gặp con trai tướng Minh là Dương Minh Đức (đang du học ở Pháp) báo tin là nếu ông Minh lên làm tổng thống thì Hà Nội sẽ chấp nhận đàm phán. Sau khi nhận tin, ông Minh thuyết phục tướng Đôn, để ông Đôn vào dinh Độc Lập thuyết phục ông Hương từ chức, giao quyền lại cho ông Minh. Tổng thống Hương từ chối, nói với ông Đôn rằng, tướng Minh từng là học trò của ông nên ông biết rõ Minh không thể cáng đáng công việc quốc gia vào thời điểm dầu sôi lửa bỏng. Tướng Minh sau đó đi gặp Chủ tịch Thượng viện Nguyễn Văn Huyền, báo cho ông Huyền biết là cả Thượng tọa Trí Quang lẫn ông Đôn đều ủng hộ ông Minh lên làm tổng thống, và nếu như thế thì ông sẽ đưa ông Huyền làm Phó tổng thống.

Chủ tịch Huyền đồng ý, rồi báo cho Tổng thống Hương là Quốc hội sẽ nhóm họp ngày 28.4, đồng thời khuyên ông Hương từ chức vì “quyền lợi của dân tộc”. Ông Hương trả lời việc đó tùy Quốc hội định liệu. Tổng thống Hương thông báo mọi điều với cựu Tổng thống Thiệu, tướng Khiêm và tướng Viên. Thế nên, ngay tối 26.4 đó, ông Thiệu và ông Khiêm đã rời VN vì biết chắc một điều là ông Minh sẽ đầu hàng. Hai ông lên máy bay đi Đài Loan theo công lệnh của Tổng thống Hương, đại diện VNCH dự lễ tang Tưởng Giới Thạch.

Đại tướng Minh ký lệnh “đuổi Mỹ”

Chỉ một ngày sau khi nhậm chức Tổng thống VNCH thay thế ông Trần Văn Hương, Tổng thống Dương Văn Minh ngày 29.4 đã ra lệnh cho tất cả những người Mỹ phải rời VN trong vòng 24 tiếng đồng hồ. Cuộc di tản người Mỹ và người Việt liên tục không ngừng qua đêm.

Vì sao ông Minh đi đến quyết định này?

Một sĩ quan tùy viên của đại tướng Minh là cựu thiếu tá Trịnh Bá Lộc đã thuật lại nguyên nhân dẫn đến quyết định trục xuất người Mỹ, xin được tóm lược lại như sau:

Một hôm, đại tướng Minh đang họp với các cộng sự thì ông Charles J.Timmes, cựu thiếu tướng, nguyên Trưởng phái bộ cố vấn quân sự Mỹ (MAAG) đến xin gặp. Ông Timmes lúc đó đang làm việc tại Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn. Thiếu tá Lộc báo tin rồi đại tướng Minh gặp gỡ ông Timmes trong phòng kín. Khi tiễn ông Timmes ra về, thiếu tá Lộc nghe ông Timmes nói với đại tướng Minh, đại ý là Đại sứ Martin muốn rằng trong bài diễn văn nhậm chức, đại tướng Minh có đề cập đến việc yêu cầu nhân viên Tòa đại sứ Mỹ và cơ quan DAO rút khỏi VN. Tướng Minh không trả lời mà hẹn sẽ cho biết sau.

Ngày hôm sau, ông Timmes lại đến, có dẫn theo một chuyên viên và xin mắc đường dây điện thoại đặc biệt, nói là để tiện việc liên lạc trực tiếp giữa ông Minh và Tòa đại sứ Mỹ. Tướng Minh không cho, nói là chỉ cần gắn điện thoại tại nhà thiếu tá Lộc, để sĩ quan tùy viên có gì báo lại. Ông Lộc cho biết, đường dây này chỉ có 3 số, không qua tổng đài, và chỉ liên lạc với những quan chức cấp cao. Ông Timmes có nhắc lại yêu cầu của ngày hôm qua, nhưng đại tướng Minh vẫn không trả lời.

Sau khi Quốc hội trong phiên họp lưỡng viện tối 27.4 biểu quyết chấp thuận cho Tổng thống Hương giao quyền lại cho đại tướng Dương Văn Minh, chiều 28.4 diễn ra lễ nhậm chức của ông Minh. Bài diễn văn nhậm chức lúc đó đã chuẩn bị xong xuôi, nên ngay trưa hôm đó, lúc ông Minh chưa đọc diễn văn, ông Timmes đã nhận được một bản bằng tiếng Việt. Nội dung bài diễn văn không có đề cập gì đến yêu cầu nhân viên Tòa đại sứ Mỹ và cơ quan DAO rời khỏi VN.

Ngay trong đêm hôm đó, dinh Độc Lập bị phi cơ oanh kích, và Sài Gòn cũng bị pháo, tức không đúng như những gì mà những người ủng hộ ông Minh nói là ông Minh lên cầm quyền thì sẽ có “cơ hội” đàm phán với “phía bên kia”. Sáng ngày 29.4, ông Timmes lại đến tư dinh ông Minh. Khi ra về, lúc ngang qua chỗ bộ phận tham mưu của tướng Minh làm việc, ông Timmes có nói: “Đại sứ Martin nói là Cộng sản chỉ bằng lòng nói chuyện hòa bình với chính phủ của đại tướng chỉ khi nào tất cả nhân viên tòa đại sứ và DAO của Mỹ bắt đầu rời khỏi VN theo lời yêu cầu chính thức của đại tướng Dương Văn Minh, Tổng thống VNCH, được phổ biến trên đài phát thanh”.

Theo lời kể của thiếu tá Lộc thì lúc đó, giáo sư Lý Chánh Trung nói nhỏ: “Thôi thì đại tướng làm theo yêu cầu của họ”. Ông Minh trầm ngâm trong chốc lát, rồi nói chậm rãi: “Được rồi! Độ một giờ nữa, khi nào làm xong, thiếu tá Lộc sẽ mời ông đến nhận”.

Ông Timmes mừng rỡ cáo từ. Sở dĩ tướng Minh làm như vậy vì theo ông, là nếu ông không yêu cầu, thì người Mỹ cũng sẽ rút lui như ở Campuchia, thế nên, cần giúp người Mỹ rút trong danh dự, và dù sao, cũng đã có 58.000 quân nhân Mỹ thiệt mạng trên chiến trường VN.

Giáo sư Vũ Văn Mẫu trong vai trò thủ tướng chính phủ, được mời đến ngay. Sau khi trình Tổng thống Dương Văn Minh ký tên, thiếu tá Lộc gọi điện mời ông Timmes đến nhận. Thủ tướng Vũ Văn Mẫu đã đọc văn bản chính thức trên đài phát thanh. Và chỉ trong vòng một giờ sau, máy bay của Mỹ vần vũ trên không phận Sài Gòn. Cuộc rút lui chính thức của người Mỹ bắt đầu.

Tuyết Linh
thanhnien.com.vn

Những ngày cuối chính quyền Sài Gòn qua tài liệu CIA: Kỳ 2

Gợi ý của Đại sứ Graham Martin

Người trong cuộc cho rằng Mỹ không gây áp lực, nhưng quan chức ngoại giao cấp cao nhất của Mỹ tại Sài Gòn lúc bấy giờ đã gợi ý ông Thiệu từ chức.

Cuộc nói chuyện “riêng tư”

Hơn ai hết, Tổng thống chính quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu biết rất rõ tình hình lúc bấy giờ. Những tài liệu giải mật sau này cho thấy ông đã ra đi vì “bất mãn” với đồng minh Mỹ khi Washington quyết định “khai tử VNCH” qua hành động cắt quân viện. Vả lại, phong trào chống đối lên cao nên ông sợ sẽ có một cuộc đảo chánh, thậm chí, ông có thể đi theo vết chân của ông Ngô Đình Diệm. Vì lẽ đó, nên sau khi từ chức ngày 21.4, ông Thiệu vẫn nấn ná ở lại trong dinh Độc Lập cho an toàn, đến khi được Mỹ sắp xếp cho chuyến đi Đài Loan trong đêm 26.4.

Trong lần điều trần trước Tiểu ban Điều tra của Ủy ban Ngoại giao Hạ viện Mỹ ngày 27.1.1976, tức gần 8 tháng sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ, cựu Đại sứ Mỹ Graham Martin đã nói trước các vị dân cử là ông “không có vai trò gì” trong việc Tổng thống Thiệu từ chức. Nhưng ông Martin xác nhận đã có nói chuyện với ông Thiệu vào ngày 20.4 (tức trước khi ông Thiệu từ chức 1 ngày). Theo thuật lại của Martin thì “sau khi nói sơ về tình hình quân sự do tình báo Mỹ cung cấp, tôi đã nói với ông ta (Tổng thống Thiệu) rằng theo kết luận của tôi, mặc dù các tướng lãnh tiếp tục chiến đấu, nhưng họ nghĩ không còn cách nào để chặn đứng cuộc tấn công sau cùng của Cộng sản – trừ khi có một cuộc ngưng bắn để họ có thể tái phối trí lại lực lượng. Nhưng sự ngưng bắn sẽ không bao giờ xảy ra nếu tổng thống không từ chức, hay sẵn sàng chấp nhận những bước tiến đưa đến sự thương lượng đó. Tôi nói với Tổng thống Thiệu, theo tôi, nếu ông ta không quyết định thì các tướng lãnh cũng sẽ yêu cầu ông thoái vị”.

Cựu Đại sứ Martin nói là ông có nhấn mạnh đến tính cách riêng tư của cuộc nói chuyện. Rằng ông chỉ nói với Tổng thống Thiệu bằng tư cách cá nhân, không đại diện cho tổng thống, ngoại trưởng, hay với tư cách của một đại sứ Mỹ.

Theo đại tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn (trong cuốn Những ngày cuối cùng của VNCH), về câu nói “các tướng lãnh sẽ yêu cầu ông thoái vị” của Martin, thì vào thời điểm đó, không có tướng tá nào “ép” ông Thiệu từ chức cả. Theo lời tướng Viên, có một việc đã dẫn đến sự hiểu lầm này. Số là trung tướng Trần Văn Đôn, sau khi được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Quốc phòng trong tân nội các của Nguyễn Bá Cẩn, bèn triệu tập một cuộc họp của tất cả các tướng lãnh ở Bộ Tổng tham mưu. Tuy đây chỉ là cuộc gặp sơ giao, nhưng từ đó, có những nguồn tin nói là cuộc họp có mục đích chính trị.

Từng giờ nguy ngập

Ngay sau khi nhậm chức, “tổng thống 1 tuần” Trần Văn Hương ngày 22.4 đã lập tức ký nhiều sắc lệnh, trong đó có sắc lệnh cấm di chuyển, du lịch ra hải ngoại. Quân nhân, công chức nào đã lợi dụng công vụ ở lại nước ngoài, phải hồi hương trong vòng 30 ngày, nếu không họ sẽ bị tước quốc tịch và bị tịch thu tài sản. Thành phần được phép xuất ngoại chỉ là người già, hoặc bệnh nhân cần đi chữa trị. Tuy nhiên, những bệnh nhân này phải đóng một khoản tiền thế chân trước khi xuất cảnh. Khoản tiền trên được dùng để giúp đỡ các binh sĩ đang chiến đấu, trong trường hợp người đóng tiền thế chân không hồi hương.

Tổng thống Hương cũng có mời tướng Dương Văn Minh tham gia nội các, nhưng ông Minh từ chối vì ông muốn nhiều quyền hành hơn.

Ngày 23.4, Xuân Lộc thất thủ, quân giải phóng áp sát Sài Gòn. Tình hình chiến trường lúc này được tính theo từng giờ. Hai ngày sau, 25.4, ngoại trừ Hãng hàng không Air Việt Nam, tất cả các hãng khác có chuyến bay ra ngoại quốc đều đã đóng cửa. Tối 26.4, hai nhân vật cấp cao là cựu Tổng thống Thiệu và cựu Thủ tướng Khiêm đáp máy bay của Mỹ đi Đài Loan. Phi cơ chở hai ông đậu ở bãi đáp dành cho Hãng hàng không Air America. Chính quyền Washington muốn hai ông ra đi an toàn vì không muốn mang thêm tai tiếng sau cái chết của anh em Ngô Đình Diệm trong cuộc đảo chánh quân sự 1.11.1963. Cũng trong tối 26.4, quân giải phóng bắt đầu nã pháo vào các căn cứ quân sự ở Sài Gòn, như là điều hối thúc Tổng thống Hương nhanh chóng bàn giao cho tướng Minh để “thương thuyết”.

Ngày 27.4, dù là chủ nhật nhưng Tổng thống Trần Văn Hương vẫn tổ chức họp các viên chức lãnh đạo đất nước. Vào lúc dầu sôi lửa bỏng này thì vị tướng cấp cao nhất là đại tướng – Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên nộp đơn từ chức. Trước áp lực của tình hình và diễn biến quân sự bất lợi quá nhanh, Tổng thống Hương muốn nhường chức lại cho Dương Văn Minh, nhưng lại cho rằng không muốn làm trái Hiến pháp chính quyền Sài Gòn. Vì theo ông, chức vụ tổng thống “không phải muốn cho ai thì cho”. Theo hiến định của nền đệ nhị cộng hòa (Hiến pháp VNCH 1967) thì chức vụ tổng thống lúc đó phải giao lại cho Chủ tịch Thượng viện Trần Văn Lắm. Thế nên, những người dự họp cuối cùng đã chấp thuận giao cho Quốc hội được quyền quyết định tối hậu đối với việc bàn giao chức vụ tổng thống trong thời điểm này.

Quốc hội được triệu tập họp khẩn cấp tối hôm đó. Thượng viện gồm 60 nghị sĩ, Hạ viện có 159 dân biểu. Tổng cộng 219 vị dân cử. Đến giờ họp, có 138 vị hiện diện, tức hội đủ túc số quá bán (110 người) để khai mạc phiên họp khoáng đại lưỡng viện.

Ba vị tướng Trần Văn Đôn trong vai trò Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng, Trần Văn Minh – Tư lệnh Biệt khu thủ đô, và tướng Nguyễn Khắc Bình – Tư lệnh Cảnh sát quốc gia, đã trình bày trước Quốc hội tình hình nguy ngập của việc bảo vệ Sài Gòn. Tướng Đôn cũng báo cho Quốc hội biết là quân giải phóng đòi Tổng thống Hương phải bàn giao chức vụ tổng thống lại cho tướng Dương Văn Minh trước 12 giờ khuya ngày 27.4 để có cơ hội thương thuyết, còn nếu không, họ sẽ ra lệnh tấn công. Sau đó, 3 tướng Đôn, Minh và Bình ra về để cho các thành viên Quốc hội quyết định.

Kết quả phiên họp cuối cùng của Lưỡng viện quốc hội là 100% đã biểu quyết chấp thuận trao quyền lãnh đạo chính quyền Sài Gòn cho tướng Dương Văn Minh, mặc dù rất nhiều vị dân cử đánh giá là ông Minh “không có tài cán gì” để cầm cương trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng này. Nói là 100% vì trong tổng số 138 vị hiện diện thì có 136 phiếu thuận, còn hai vị chủ tọa là nghị sĩ Lắm và dân biểu Út không bỏ phiếu.

Tuyết Linh
thanhnien.com.vn

Những ngày cuối chính quyền Sài Gòn qua tài liệu CIA: Kỳ 1

Vì sao Tổng thống Thiệu từ chức?

Nối tiếp Đại thắng mùa xuân 1975: Tài liệu chưa từng công bố của chính quyền Sài Gòn, Thanh Niên xin tiếp tục giới thiệu loạt bài Những ngày cuối chính quyền Sài Gòn qua tài liệu CIA. Sử dụng tài liệu giải mật của Cơ quan Tình báo T.Ư Mỹ (CIA) cùng các hồi ký, tư liệu của cựu tướng lĩnh và quan chức chính quyền Sài Gòn, loạt bài sẽ cung cấp cho bạn đọc một bức tranh tương đối chi tiết về những ngày cuối của chế độ Sài Gòn thời điểm tháng 4.1975.

Đứng đầu chính quyền Sài Gòn, hơn ai hết, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu biết rõ nguy cơ thất thủ, nhất là khi Quốc hội Mỹ biểu quyết một cách “cạn tàu ráo máng” cắt đứt quân viện, một hành động xem như kết thúc một thể chế. Có còn nguyên nhân nào khác dẫn đến quyết định từ chức vào ngày 21.4.1975 của ông Thiệu?

Uy tín xuống thấp

Ngày 2.4.1975, Thượng nghị viện VN cộng hòa (VNCH) trong một phiên họp thường lệ, với 42 phiếu thuận, 10 phiếu chống, đã kết tội Tổng thống Thiệu về những thất bại liên tiếp xảy ra trên mặt trận. Một ngày trước đó, tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn II Vùng 2 chiến thuật, cùng với đại tá Lý Bá Phẩm, Tỉnh trưởng Nha Trang, Khánh Hòa, leo lên trực thăng bay vào Sài Gòn. Việc tướng tá chỉ huy bỏ chạy trước như thế khiến binh sĩ ngã lòng, dẫn đến tình trạng rã ngũ, dù lúc đó Nha Trang vẫn còn lực lượng khá mạnh, vì nơi đây là địa điểm tập trung nhiều quân trường, trung tâm huấn luyện của quân đội Sài Gòn. Quân giải phóng tiến vào tiếp quản Nha Trang, rồi đến Cam Ranh, một cách dễ dàng.

Như vậy, kể từ ngày 10.3, khi Ban Mê Thuột mất, tiếp đến là vụ “di tản chiến thuật” khỏi cao nguyên Trung phần, chính quyền Sài Gòn đã để mất cả Quân đoàn I và gần hết Quân đoàn II, tức là một nửa quân đội Sài Gòn bị tan rã, uy tín Tổng thống Thiệu ngày một xuống dốc. Nhiều thế lực đòi Tổng thống Thiệu từ chức. Trong phiên họp ngày 2.4, Thượng nghị viện yêu cầu ông Thiệu thành lập một tân nội các đại diện cho nhiều thành phần chính trị đối lập, thay thế cho chính phủ của đại tướng Trần Thiện Khiêm. Trước sức ép từ nhiều phía, Tổng thống Thiệu đã ủy nhiệm Chủ tịch Hạ nghị viện là ông Nguyễn Bá Cẩn thành lập tân nội các. Thành phần tân chính phủ ra mắt ngày 14.4, và hoạt động chỉ được nửa tháng.

“Mắc bẫy” tin tình báo

Ngày 13.4.1975, Pierre Brochand, Trưởng ban Tình báo Pháp, chuyển đến Thomas Polgar, Trưởng nhánh CIA của Mỹ ở Sài Gòn một tin ngụy tạo do nhân viên Hungary trong Ban liên hợp Quân sự chuyển đến. Tin này cho biết là phía cách mạng có thể chấp nhận dàn xếp chính trị nếu như Washington thay thế Tổng thống Thiệu bằng đại tướng Dương Văn Minh (trích Hồi ký chánh trị của Nguyễn Bá Cẩn). Về phía Mỹ, tình báo nhận được tin quân giải phóng đang chuẩn bị Chiến dịch Hồ Chí Minh để đánh thẳng vào Sài Gòn. Còn tin ngụy tạo về việc dàn xếp chính trị chỉ nhằm triệt hạ Tổng thống Thiệu mà thôi, nhưng Đại sứ Mỹ Graham Martin giữ kín, không thông báo cho Đại sứ Pháp Jean Marie Merillon nguồn tin này. Sau này, trong một cuộc điều trần trước Quốc hội Mỹ, ông Martin nói rằng đối phương đã nhờ phái đoàn Hungary tung tin ngụy tạo vào ngày 13.4 nói trên để lừa Đại sứ Merillon.

Một quyết định quan trọng của Quốc hội Mỹ ngày 18.4 xem như kết thúc chính quyền Sài Gòn, với việc thông qua đạo luật về viện trợ quân sự cho tài khóa 1976. Trong tổng số 3 tỉ USD quân viện cho nhiều nước, không có tên VNCH. Điều này có nghĩa là sau ngày 30.6.1975, dù cho còn tồn tại đi chăng nữa, VNCH cũng không còn nhận được khoản tiền viện trợ quân sự nào nữa, có nghĩa là “đưa quân ra trận, mà không cấp vũ khí”.

Sự cắt quân viện là đòn chí tử đối với quân đội Sài Gòn. Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng, tóm tắt về việc giảm thiểu quân viện của Mỹ như sau (trong cuốn Những ngày cuối của VNCH): Quốc hội Mỹ phủ quyết tất cả các ngân sách phụ trội và trong tài khóa 1975, họ chỉ cho 1 tỉ Mỹ kim, nhưng sau đó, con số 1 tỉ lại bị cắt đi chỉ còn 700 triệu. Phần này lại còn tính luôn cả chi phí cho Văn phòng Tùy viên quân sự Mỹ (DAO). Ngày 2.1.1975, Ngũ Giác Đài xin Quốc hội một ngân khoản phụ trội 300 triệu USD, sau đó, Tổng thống Gerald Ford nâng lên thành 722 triệu khi chuyển qua Quốc hội ngày 11.4.1975. Quốc hội Mỹ đã bác bỏ đề nghị của phía hành pháp, và thế là tình hình miền Nam VN xem như đã được quyết định.

Trước tình hình như thế, ông Thiệu đã đi đến quyết định là từ chức. Trong buổi họp tại dinh Độc Lập ngày 21.4, với sự tham dự của một vài lãnh đạo cấp cao nhất, mà về phía quân đội có đại tướng Viên, phía cảnh sát có thiếu tướng tư lệnh Nguyễn Khắc Bình, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức, bàn giao chức vụ lại cho Phó tổng thống Trần Văn Hương. Ông Thiệu vẫn “tạm trú” tại dinh Độc Lập vì lý do an ninh cá nhân. Theo lời giải thích của Tổng thống Thiệu thì Mỹ muốn ông từ chức, và dù ông muốn hay không thì một số tướng lĩnh trong quân đội cũng sẽ ép ông ra đi.

Cho dù có nhiều nguồn tin đòi Tổng thống Thiệu giao chức vụ lại cho ông Dương Văn Minh để có thể kịp thời “đối thoại với phía bên kia”, nhưng ông Thiệu vẫn làm đúng theo quy định của Hiến pháp 1967. Chiều ngày 21.4, lễ từ chức của Tổng thống Thiệu được trực tiếp truyền hình từ dinh Độc Lập. Trong diễn văn từ chức, ông Thiệu công bố trước quốc dân về tình hình chung và lý do ông từ chức. Lần đầu tiên, Tổng thống Thiệu công khai xác nhận chính ông đã ra lệnh cho cuộc triệt thoái khỏi Kontum – Pleiku, mà ông viện dẫn là không còn cách chọn lựa nào khác.

Loạt bài Đại thắng mùa xuân 1975: Tài liệu chưa từng công bố của chính quyền Sài Gòn lược trích từ cuốn Về đại thắng mùa xuân năm 1975 qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn.

Ban chỉ đạo biên soạn cuốn sách này gồm: GS-TS Phùng Hữu Phú, Phó trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo T.Ư, Trưởng ban chỉ đạo; TS Nguyễn Duy Hùng, Giám đốc – Tổng biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (NXBCTQG), Phó trưởng ban; TS Khuất Duy Kim Hải, Phó giám đốc – Phó tổng biên tập NXBCTQG; TS Vũ Thị Minh Hương, Cục trưởng Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước; Phạm Việt, Trưởng ban sách Nhà nước và Pháp luật NXBCTQG; ThS Nguyễn Xuân Hoài, Giám đốc Trung tâm Lưu trữ quốc gia II, Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước.

Ban biên soạn gồm: ThS Phạm Thị Huệ, Hà Kim Phương, Phạm Ngọc Hưng, Bùi Thượng Hải, Nguyễn Thị Việt, Trần Thị Vui. Cố vấn khoa học: đại tá, PGS-TS Hồ Sơn Đài và PGS – TS Hà Minh Hồng.

thanhnien.com.vn

Nước mắt dành cho ngày gặp mặt

TT – 30-4-1975, ngày vui lớn của toàn dân tộc, nhiều người đã rơi nước mắt. Những ngày tháng 4 này, chúng tôi vẫn bắt gặp nhiều người rơi nước mắt. Những giọt nước mắt tràn đầy mừng vui, tự hào mang theo một chút xót xa, đau đớn vẫn y như 35 năm trước.

Tấm ảnh thu được từ văn phòng tổng tham mưu trưởng chính quyền Sài Gòn. Trong ảnh: người đứng giữa, đeo kính là đại tá Nguyễn Thế Truyện, tư lệnh phân khu 1 Sài Gòn – Gia Định – Ảnh tư liệu

Cái giá phải trả cho chiến tranh quá lớn. Những mất mát đã được ghi nhớ và nhắc nhở ngay từ phút đầu tiên vòng nguyệt quế của chiến thắng xuất hiện, và từ bấy đến nay vẫn chưa một phút nguôi quên. “Đó chính là điều an ủi lớn nhất với gia đình chúng tôi về sự hi sinh của ba mình” – bà Nguyễn Thế Thanh nghẹn ngào vuốt một tấm ảnh cũ đã ố vàng ép plastic cẩn thận và được coi như bảo vật của gia đình bà.

30-4-1975, Sài Gòn

Cánh quân phía đông của phó tư lệnh Lê Trọng Tấn vào Sài Gòn đầu tiên. Tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng, bộ đội bắt đầu tiếp quản toàn TP. Điểm đầu tiên mà tướng Lê Trọng Tấn đến xem xét không phải là dinh Độc Lập. Ông đến bộ tổng tham mưu của chính quyền Sài Gòn, vào ngay phòng tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên.

Giấy tờ, hồ sơ, tài liệu, súng, quần áo vương vãi khắp nơi, dấu tích của một cuộc tháo chạy tán loạn. Tướng Lê Trọng Tấn ngồi vào bàn, giở những tập hồ sơ mật. Phút thăng hoa nhất của chiến thắng, lạ thay, ông lại muốn lấp đầy ngay bằng công việc, kìm nén bớt những cảm xúc trào lên trong lòng. Ông dừng lại ở một bức ảnh. Tấm ảnh đen trắng được phóng to chụp lại một buổi làm việc của Bộ tư lệnh Miền với chú thích rõ ràng tên, chức vụ của từng người, hẳn là nét chữ của một kẻ “chiêu hồi” nào đó. Trong ảnh, ông, tướng Lê Trọng Tấn, ngồi ngay góc bên trái. Trọng tâm tấm ảnh là một người cao gầy, đeo kính đứng thuyết trình.

Tướng Lê Trọng Tấn không nhớ tấm ảnh này đã được chụp trong trường hợp nào, ông cũng không nghĩ xem vì sao nó đã rơi vào tay đối phương. Ông chỉ nhớ Năm Truyện, đại tá Năm Truyện, Năm “mắt kiếng”, người em, người đồng đội thân thiết đã từng cùng ông bao lần vào sinh ra tử. Trong ảnh, Năm Truyện với vẻ nhẹ nhàng, thư sinh nhưng tự tin, quyết đoán quen thuộc đang trình bày một phương án tác chiến nào đó, và nhìn vẻ mặt của ông, người thủ trưởng biết chắc chắn ông sẽ thành công. Năm Truyện đã nằm lại phía đông thành phố từ chiến dịch Mậu Thân, không được nhìn thấy hòa bình.

Tấm ảnh chụp rất rõ ràng này rất có thể là nguyên nhân căn cứ bị lộ, dẫn dến sự hi sinh của Năm Truyện, để lại nỗi đau xót cho toàn quân năm ấy. “Không ngờ anh em chúng ta lại được gặp nhau ở đây, trong giờ phút ngất ngây này” – tướng Lê Trọng Tấn như nhìn thấy Năm Truyện hiển hiện ngay trước mặt.

Một thôi thúc trào dâng trong lòng, ông bỗng làm một việc vượt ngoài nguyên tắc: rút cây bút đỏ, lật mặt sau tấm ảnh và viết “Thân tặng chị Cầm vinh dự của chị và các cháu. Ngày 30-4-1975. Ba Long”. Ông chuyển tấm ảnh cho người trợ lý, bảo: “Gửi ngay bằng đường quân sự đến gia đình đại tá Năm Truyện”.

Mặt sau tấm ảnh với bút tích của tướng Lê Trọng Tấn ngày 30-4-1975 – Ảnh tư liệu

30-4-1975, Hà Nội

Sáng ấy, Nguyễn Thế Thanh thi vấn đáp môn cuối cùng của khóa cử nhân ngoại ngữ. Ngồi chờ gọi tên nhưng lòng cô cứ chộn rộn lắng nghe tiếng radio vang vang phát qua loa báo từng bước đi của quân giải phóng.

Theo dõi tình hình chiến sự đã trở thành thói quen của người Hà Nội từ bao giờ, và hôm nay biết ngày thống nhất đã gần kề, tim Thanh đập mạnh hơn bao giờ hết. Miền Nam chính là quê hương ba má cô, nơi hai người yêu nhau và làm lễ cưới, nơi cô cất tiếng khóc chào đời khi cha đã ra cứ, mẹ ở lại nội thành và cắn răng che chở cho đứa con vừa tượng hình trước những đòn thù tra khảo. Miền Nam cũng chính là nơi cha cô đã nằm lại sau những năm tháng oanh liệt nơi chiến trường. Miền Nam đang gần hơn bao giờ hết…

“Vui sao nước mắt lại trào…”

Những ngày tháng 4, thiếu tướng Hoàng Dũng rơi nước mắt khi trao tặng bảo tàng những kỷ vật cuối cùng, nhắc đến hàng ngàn, hàng vạn đồng đội vô danh vẫn đang còn đâu đó trong từng tấc đất ngoài kia. Những người cựu chiến binh của lữ đoàn đặc công biệt động 316 đứng nghiêm, rưng rưng thả vòng hoa xuống lòng sông Rạch Chiếc, nơi 52 người anh hùng của họ đã nằm lại trong vòng một ngày đêm mở đường vào TP.

Những bản báo cáo tổng kết chiến dịch Hồ Chí Minh ghi nhận có hơn 6.000 đồng bào, cán bộ, chiến sĩ hi sinh xung quanh TP từ ngày 29 đến 30-4…

“Chiến dịch Hồ Chí Minh nằm trong điều kiện thuận lợi chín muồi về mọi mặt nhưng chiến thắng cũng đâu phải giản đơn” – thiếu tướng Hoàng Dũng, nguyên chánh văn phòng Bộ chỉ huy chiến dịch, trầm ngâm. Vì thế mà “vui sao nước mắt lại trào”.

Thanh sốt ruột vì cái tên nằm gần cuối của mình, đề nghị một cậu bạn đổi cho cô thi trước. Xong, Thanh vội đón xe buýt về nhà. Vừa đến khu vực Quốc Tử Giám quen thuộc, bước xuống xe cô đã nghe cả đường phố hò reo náo nức: “Sài Gòn giải phóng rồi”. Cờ đỏ tung bay khắp các phố, các cửa hàng bia hơi tấp nập người uống mừng chiến thắng. Những người Hà Nội hồ hởi nắm tay nhau, ôm nhau mà cười, mà khóc.

Thanh lính quýnh “bay” ngay về nhà. Cả khu tập thể bộ tư lệnh đang xôn xao, người cười, người khóc. Và mẹ cô đang lặng lẽ lau vội những giọt nước mắt để nở nụ cười với con. Đất nước thống nhất, mơ ước của ba má đã thành hiện thực, cả nhà sẽ được trở về quê hương nhưng vẫn sẽ mãi mãi không còn ba nữa, mấy chị em Thanh đều biết rõ điều đó. Nhưng dù có như thế thì đây vẫn là những ngày vui nhất, ba đã hi sinh để có ngày vui này, Thanh an ủi mẹ, khuyên mẹ đừng khóc nhiều kẻo ảnh hưởng đến niềm vui chung của bao người.

Một ngày, hai ngày, ba ngày… Không khí vẫn náo nức lắm. Mọi người nấu những món ăn tươi, sửa soạn những mâm cơm tươm tất cúng ông bà, tổ tiên. Và nhà Thanh bỗng có khách. Một anh bộ đội đến, tự giới thiệu là trợ lý của bác Lê Trọng Tấn, người bạn, người thủ trưởng thân thiết của ba, và anh đưa cho mẹ Thanh một phong bì. Mở ra, bà lại òa khóc. Chị em Thanh xúm lại xem tấm ảnh vừa được rút ra, “Ba, ba đã về…”. Hôm ấy là ngày 2-5-1975.

Tháng 4-2010, TP.HCM

Đại tá liệt sĩ Nguyễn Thế Truyện được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, gia đình và các đồng đội của ông mới an lòng. Đã hơn 41 năm từ ngày ông hi sinh nhưng trong ký ức những người còn sống, Năm Truyện vẫn rỡ ràng là một “tư lệnh sư đoàn dũng cảm vô song” như lời nhận xét của cố thượng tướng Trần Văn Trà, “một tư lệnh gang thép” như đánh giá của đại tướng Võ Nguyên Giáp. Các cựu binh 62 năm của tiểu đoàn 302 vẫn kể về một tiểu đoàn trưởng đã có công lớn trong việc sáng tạo cách đánh đặc công, vận động độc đáo một thời vang tiếng miền Đông Nam bộ.

Trung đoàn 1 chủ lực Miền vẫn nhớ cách chỉ huy quyết đoán, mưu trí của trung đoàn trưởng trong những trận đánh Mỹ cấp trung đoàn đầu tiên ghi đậm dấu ấn trong quân sử: Bình Giã, Bàu Bàng, Đồng Xoài, Dầu Tiếng. Những cán bộ tình báo cài cắm ở Sài Gòn không thể quên một sư đoàn trưởng, tư lệnh phân khu 1 đã đích thân cải trang, xuất sắc sắm vai một nghị sĩ để tự mình vào quan sát, điều nghiên sân bay Tân Sơn Nhất, tìm ra phương án tác chiến chắc thắng, nhanh gọn và ít thương vong nhất cho đơn vị…

“Cha tôi hi sinh năm 40 tuổi, chiếc huy hiệu bằng nhôm được tặng các chiến sĩ tham gia chiến dịch Mậu Thân cũng chưa kịp nhận. Con đường đi không trọn vẹn nhưng chắc cha không vấn vương vì đã sống, cống hiến hết mình. Chị em chúng tôi chỉ biết bảo nhau phải sống sao cho không hổ danh là con ông Năm Truyện” – bà Nguyễn Thế Thanh tâm sự, đến hôm nay vẫn chưa thôi rơi nước mắt…

PHẠM VŨ
tuoitre.vn

Mít tinh kỷ niệm 38 năm Ngày thống nhất đất nước

Ngày 29/4, Thành ủy, HĐND, UBND, UB MTTQ Việt Nam TP. Hồ Chí Minh đã long trọng tổ chức Lễ mít tinh Kỷ niệm 38 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2013), Kỷ niệm 127 năm Ngày Quốc tế Lao động (1/5/1886- 1/5/2013) và Lễ trao tặng các phần thưởng cao quý của Nhà nước.

Dự lễ có đồng chí Phan Văn Khải, nguyên Thủ tướng Chính phủ; Đại tướng Phùng Quang Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; đồng chí Lê Thanh Hải, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh cùng lãnh đạo các Bộ, ngành Trung ương, TP.Hồ Chí Minh, tỉnh Tiền Giang; các đồng chí lão thành cách mạng, Mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang và đông đảo các tầng lớp nhân dân TP.Hồ Chí Minh.

Đọc diễn văn kỷ niệm, đồng chí Lê Hoàng Quân, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh đã ôn lại những trang sử hào hùng của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh, tiến tới mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 với đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử và đã giành toàn thắng, giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Trước đó, ngày 26/4/2013, Hội Cựu chiến binh thành phố Hồ Chí Minh tổ chức họp mặt Tướng lĩnh quân đội các thời kỳ nhân kỷ niệm 38 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2013) và Ngày Quốc tế Lao động (1/5). Ảnh: Thế Anh- TTXVN

Đồng chí Lê Hoàng Quân khẳng định: Đó là thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người của nhân dân ta, do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo; đồng thời là thắng lợi của lương tri thời đại và nhân tâm, phẩm giá loài người trước cường quyền, bạo lực phi nghĩa. Trong cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta, quân và dân Sài Gòn- Chợ Lớn- Gia Định tiến hành cuộc chiến đấu anh dũng trên cả ba mặt trận chính trị, quân sự và binh vận, đã làm nên những chiến công vang dội, những sự tích diệu kỳ, góp phần lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ xâm lược.

Tự hào về Ngày chiến thắng vĩ đại của dân tộc, chúng ta cũng luôn tự hào về tinh thần Ngày Quốc tế Lao động 1/5 bất diệt. Đồng chí Lê Hoàng Quân, nhấn mạnh: Ngày Quốc tế Lao động đã có sức ảnh hưởng to lớn và sâu sắc đến công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, mang lại cho đất nước ta nền độc lập tự do vững chắc để xây dựng cuộc sống âm no, hạnh phúc cho nhân dân. Trong những năm qua, cùng với hoạt động Công đoàn cả nước, phong trào công nhân viên chức, lao động và hoạt động Công đoàn của thành phố tiếp tục đi vào chiều sâu, đáp ứng tâm tư, nguyện vọng của đoàn viên, người lao động. Các phong trào hành động như Tháng Công nhân, Trái tim nghĩa tình, Đồng hành cùng doanh nghiệp, Giờ thứ 9, Quỹ Mái ấm Công đoàn… đã nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, xây dựng đội ngũ công nhân vững mạnh, là lực lượng nòng cốt thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa.

Trong những năm qua, Đảng bộ và nhân dân TP.Hồ Chí Minh đã không ngừng nỗ lực vượt qua khó khăn, có những bước đột phá, tháo gỡ những vướng mắc, cùng cả nước thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và đạt được những thành quả có ý nghĩa sâu sắc, cơ bản và toàn diện. Thành phố luôn giữ vững ổn định chính trị; kinh tế không ngừng phát triển, đời sống nhân dân từng bước được ổn định và cải thiện; hệ thống chính trị được củng cố; năng lực lãnh đạo của Đảng bộ, quản lý chính quyền các cấp được nâng lên, dân chủ được mở rộng hơn, sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc không ngừng phát huy. Trong năm 2012, TP.Hồ Chí Minh đã nỗ lực đạt 25/30 chỉ tiêu, hoàn thành và đưa vào sử dụng 185 công trình hạ tầng kỹ thuật và giao thông; 2.096 phòng học, 50 trạm xử lý nước thải…; góp phần cùng cả nước kiềm chế lạm phát, duy trì tốc độ tăng trưởng phù hợp.

Tiếp tục phát huy thành quả đạt được, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân TP. Hồ Chí Minh ra sức thực hiện nhiệm vụ xây dựng, phát triển và bảo vệ thành phố. Trong đó, TP. Hồ Chí Minh tập trung thực hiện các nhiệm vụ xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh, xem đây là nhiệm vụ then chốt; thực hiện tốt việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh; tiếp tục tập trung thực hiện 6 chương trình đột phá, kiên trì chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, kiện toàn tổ chức bộ máy phù hợp tính chất đô thị đặc biệt; luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, góp phần giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển đảo, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội của thành phố.

Phát biểu tại Lễ Kỷ niệm, đại diện lực lượng cựu chiến binh, công nhân viên chức lao động TP. Hồ Chí Minh cũng đã thể hiện quyết tâm thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ của mình, phát huy truyền thống cách mạng vẻ vang của Đảng và của giai cấp công nhân, nêu cao ý chí tự lực tự cường, đoàn kết một lòng, phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế- xã hội của thành phố; góp phần xây dựng TP.Hồ Chí Minh ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại và nghĩa tình.

Nhân dịp này, TP. Hồ Chí Minh đã tổ chức trao tặng các phần thưởng cao quý của Nhà nước cho các tập thể, cá nhân của thành phố. Thừa uỷ quyền của Chủ tịch nước, Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trao danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân do Chủ tịch nước phong tặng cho hai tập thể gồm Phường 11, quận Tân Bình (TP. Hồ Chí Minh) và Tiểu đoàn Quyết tử 950, Đặc khu Sài Gòn – Chợ Lớn (Quân khu 7). Lãnh đạo TP. Hồ Chí Minh cũng đã trao danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân cho 5 cá nhân gồm gia đình Liệt sỹ Phạm Văn Tiềm, Nguyễn Công Bao, Nguyễn Thị Phượng, Phan Nhung và bà Nguyễn Thị Lan do Chủ tịch nước truy tặng; trao tặng Huân chương Độc lập hạng Nhì và hạng Ba cho một tập thể và 2 cá nhân; Huân chương Lao động hạng nhất cho 2 tập thể và một cá nhân.

Trước đó, sáng cùng ngày, Lãnh đạo Thành ủy, HĐND, UBND, UBND TP. Hồ Chí Minh đã tổ chức các đoàn viếng Nghĩa trang Liệt sỹ Thành phố (Đồi không tên), Nghĩa trang Thành phố (Lạc Cảnh); Đền Tưởng niệm Liệt sỹ Bến Dược và Nghĩa trang Chính sách Thành phố (huyện Củ Chi).

Hoàng Anh Tuấn
baotintuc.vn

This entry was posted on Tháng Tư 29, 2013, in 30.04.1975.

Có một giờ G khác vào năm 1974

“Đến giờ này tôi vẫn ân hận, tiếc là không được chết vì Hoàng Sa. Ngày 18.1.1974, hải quân Trung Quốc đổ bộ lên chiếm đảo Hoàng Sa…” – Đại tá, anh hùng phi công Nguyễn Thành Trung.

35 năm hoạt động, trên vai áo ông từng đeo quân hàm không quân hai bên là đối thủ của nhau. 22.000 giờ bay với nhiều loại phi cơ chiến đấu và dân dụng hiện đại nhất từ Đông sang Tây, từ Á sang Âu. Những nếm trải cuộc đời, dường như Nguyễn Thành Trung chẳng thiếu thứ nào. Người ta thường nói vinh quang đi cùng cay đắng. Còn ông, sống chết, tù tội chẳng màng, nhưng những giây phút cô đơn trong cuộc sống hoà bình, ngay trong lòng đồng đội thì thật dài và khó quên. Tháng tư đến rồi lại đi cùng ký ức…

Chặng đường lịch sử dài 38 năm có quá nhiều biến cố, sự kiện ném bom dinh Độc Lập ngày 8.4.1975 đối với ông có ý nghĩa gì? Bây giờ nghĩ về giây phút ấy ông cảm thấy thế nào?

Đối với cá nhân tôi, ngày 8.4.1975 là một bước ngoặt lịch sử quan trọng nhất trong cuộc đời. Lái chiếc máy bay F-5E ném hai trái bom xuống dinh Độc Lập, sau đó quay lại dùng súng phóng lựu vào kho xăng Nhà Bè, là hành động mà tôi ấp ủ trong một quá trình dài, ngay từ thời trai trẻ.

Đối với tôi, chấm dứt chiến tranh để người Việt Nam không còn đổ máu là một việc lớn phải làm. Đó không phải là cảm hứng nhất thời, hay bất chợt, liều lĩnh. Sự nỗ lực cá nhân suốt bao nhiêu năm ở khoa toán – lý đại học Khoa học Sài Gòn, trong vỏ bọc sĩ quan không lực Việt Nam Cộng hoà, hay tại các trung tâm học lái máy bay chiến đấu ở Hoa Kỳ từ năm 1969 – 1972 tôi vẫn chuyên chú cho hành động ấy. Tôi âm thầm luyện tập hạ cánh ở cự ly gần 1.000 mét (trong khi máy bay F-5E phải đáp trên đường băng dài tối thiểu 3.000 mét) đến độ hư hai máy bay và phải chịu kỷ luật hạ lương, giáng chức, suýt nữa là bị lộ tại sân bay Biên Hoà. Nhờ vậy mà ngày 8.4 năm ấy tôi đã hành động chính xác, đáp xuống an toàn tại sân bay dã chiến Phước Long vừa giải phóng. Có thể gọi đó là sự chính xác của lý trí và khoa học. Bước ngoặt 180 độ đó cho tôi được chính danh là tôi – Nguyễn Thành Trung như ngày hôm nay.

Nhưng báo chí cả hai phía lúc đó chạy những dòng tít lớn gọi ông là “phi công phản chiến”?

Đúng vậy, cấp trên nói với tôi là cần tuyên truyền như vậy để kêu gọi những người trong lực lượng không quân Sài Gòn tiếp tục phản chiến. Tôi nghĩ nói sao cũng được, vấn đề là tôi có làm được nhiệm vụ không? Có còn sống để trở về không? Từ năm 1969, tôi đã là đảng viên.

Thời khắc đó ông có nghĩ đến sự an toàn của vợ và hai con còn quá nhỏ đang sống ở thành phố Biên Hoà? Có khi nào ông cảm thấy khổ tâm hay hối hận về hành động của mình mang lại nỗi vất vả cho vợ con?

Trước khi ném bom dinh Độc Lập ngày 8.4.1975, lãnh đạo đề nghị đưa vợ con tôi ra vùng giải phóng để tôi yên tâm làm nhiệm vụ. Nhưng lúc đó, tôi bị nghi kỵ nhiều, nguy cơ lộ rất cao nên chuyện đó là không thể. An ninh quân đội theo sát gia đình tôi từng giờ, nếu vợ con tôi vắng nhà không rõ lý do thì tôi sẽ bị bắt ngay tức khắc. Cũng có thể trên đường ra vùng giải phóng, vợ con tôi cũng sẽ bị bắt, tình thế đó sẽ nghiêm trọng hơn. Rất lo lắng cho tính mạng vợ con, nhưng việc mà tôi đã tính trước mười năm đến thời điểm này là không thể dừng. Mặt khác, thời gian sống trong đội ngũ không lực Sài Gòn cho tôi một niềm tin rằng vợ tôi, một người phụ nữ không liên quan gì đến công việc của tôi, con tôi còn quá nhỏ (đứa lớn mới năm tuổi, đứa nhỏ chưa tròn năm) sẽ không bị đối xử một cách tàn nhẫn. Thực tế diễn ra đúng như tôi dự đoán.

Ngày 2.5.1975, tôi lái máy bay từ Phan Rang về sân bay Biên Hoà. Vợ con tôi cũng vừa được giải thoát khỏi số 4 Nguyễn Bỉnh Khiêm, chúng tôi gặp lại nhau trong ngôi nhà nhỏ của mình.

phi công Nguyễn Thành Trung, Hoa Kỳ, không quân Sài Gòn, dinh Độc LậpĐại tá, anh hùng phi công Nguyễn Thành Trung. Ảnh: Trần Việt Đức

Sau ngày thống nhất đất nước, đối diện với bao khó khăn của cuộc sống thường ngày do nền kinh tế bao cấp áp đặt, những lúc ngột ngạt, mệt mỏi ông nghĩ gì?

Tôi là người được học hành tử tế trong những ngôi trường khá lý tưởng của Sài Gòn và tiếp cận nhiều nguồn tài liệu khác nhau, tôi biết rõ những sai lầm trong chính sách kinh tế của miền Bắc nước ta. Bi kịch cải cách ruộng đất còn nguyên đó, công nghiệp chẳng có gì. Khu gang thép Thái Nguyên còn thô sơ lắm, Dệt Nam Định, Sứ Hải Dương chỉ sản xuất được những mặt hàng tiêu dùng cấp thấp, đặc biệt là hạn chế về trình độ của cán bộ quản lý. Sự khác biệt về ý thức hệ giữa hai miền, nhất là do đặc thù của nền kinh tế tự cung tự cấp, cho tôi nhìn rõ sau khi Việt Nam thống nhất, kinh tế sẽ cực kỳ khó khăn ít nhất là mười năm. Tôi chuẩn bị tinh thần đối phó với những khó khăn chung, và cả những khó khăn về mặt cá nhân, nghi ngờ, hay có những phân biệt đối xử này nọ… Tôi chấp nhận đối diện thực tế đó và nghĩ điều quan trọng nhất mình có được là dân tộc Việt được sống trong hoà bình.

Thực tế mười năm khó khăn như ông nói cũng đã được tháo gỡ bởi bước chuyển đổi mới. Nhưng tới bây giờ, người ta lại tiếp tục đưa ra dự báo mình lại đang hụt hơi, tụt đà. Ông nghĩ thế nào?

Thực ra đổi mới một phần vì khi mình tiếp xúc với thế giới mới ngộ ra một điều là đang bị co trong vòng luẩn quẩn, không tìm ra lối thoát trong khi thế giới ào ào tiến lên. Từ ảnh hưởng đó đồng thời tác động mạnh của cuộc khủng hoảng Đông Âu tới mình và cả Trung Quốc, bắt buộc phải một phần nào đó chấp nhận cách làm ăn mới, có sự tư hữu. Tư hữu của thế giới mình không chấp nhận, nhưng con người có quyền tư hữu từ hàng ngàn năm về trước. Mình luẩn quẩn trong khi thế giới đang tiến lên bởi mình không chấp nhận dân làm giàu. Cho nên bắt buộc mình phải công nhận, phải chấp nhận tư hữu ở một mức độ nào đó để dân thở được. Khi đó dân bắt đầu làm ăn được. Cải cách vì vậy là do dân. Cuộc cách mạng này do dân và do lịch sử thế giới tác động. Nếu muốn không tụt đà thì phải nương vào sức dân, dân giàu thì nước mới mạnh.

Sau ngày 30.4, ông có thường gặp lại đồng nghiệp trong những phi đội cũ? Tình cảnh và và tâm thế lúc gặp lại như thế nào?

Bẵng mười năm sau giải phóng, tôi không gặp lại ai trong nhóm những đồng nghiệp cũ. Sau đổi mới, từ năm 1986 trở về sau này, các đồng nghiệp cũ của tôi lần lượt về mới có dịp gặp lại. Lớp tôi có 23 đứa, chết hết bốn, 18 đứa qua Mỹ, chỉ còn mình tôi ở lại. Những lần gặp cũng dễ nói chuyện vì họ đã hiểu rõ mọi chuyện. Tôi cũng hoàn toàn hiểu và tôn trọng họ. Đa phần những đồng nghiệp của tôi đều ở Mỹ. Lúc mới về, tâm lý chung mấy người bạn đều ngại gặp tôi. Tôi thì chả ngại gì, tôi vẫn xem họ là những người bạn. Khi gặp cũng tâm sự nhiều, cũng so sánh chuyện cũ, chuyện bây giờ. Ai cũng công nhận việc tôi làm là góp phần chấm dứt cuộc chiến tranh, chấm dứt cảnh chết chóc, đổ máu. Nhưng điều họ chia sẻ là họ không dám có những quyết định như vậy.

Những người bạn lựa chọn khác tôi lúc qua Mỹ còn trẻ nên ai hội nhập được, sống khá giả. Năm nào mấy ổng cũng ngồi lại với nhau, chuyện nói nhiều nhất là về tôi. Nhiều anh em bảo quyết định của tôi hơi dại dột, vì sau giải phóng sống kiểu gì cũng bị nghi ngờ, đói khổ… Tôi trả lời đó không phải là quyết định bậy bởi tôi ý thức được việc cần làm. Cái gì cũng vậy, làm thì phải trả giá nhưng tôi chấp nhận việc đó. Nhưng qua những thăng trầm của đất nước, nhiều kinh nghiệm cuộc đời đúc kết lại, tôi thấy việc tôi làm càng ngày càng đúng. Còn hỏi tôi có lăn tăn hay không, tôi trả lời thật là thánh mới không lăn tăn, nhưng những cái lớn nhất át những lăn tăn nhỏ đi, nên hàng đêm tôi ngủ yên vì biết tôi đang ngủ trên đất nước mình, chứ qua Mỹ sướng thật nhưng ngủ không yên bởi lúc nào cũng đau đáu một quê hương chỉ còn trong ký ức. Nhiều đứa bạn nói thẳng: “Đến bây giờ mới nghe được một người nói điều đó là mày”. Chúng tôi gặp nhau trao đổi thẳng thắn, không giấu giếm điều gì, nói đến tận cùng suy nghĩ của mỗi người.

Với ông, quê hương là thế nào?

Tôi có tới hai quê hương. Một Bến Tre nơi tôi sinh ra, nơi đó là dòng tộc máu mủ, nơi đó cha mẹ tôi đã nằm xuống cho chúng tôi trưởng thành. Vốn là xứ học, địa linh nhân kiệt, nhiều tên tuổi trí thức lớn Việt Nam xuất phát từ đây. Những Phan Thanh Giản, Võ Trường Toản, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Đình Chiểu… là những tấm gương của nhân – nghĩa – lễ – trí – tín mà tôi từng học được.

Còn một quê hương khác, Sài Gòn đối với tôi là máu thịt, là tình yêu, là gì đó không thể lay chuyển được dù cho năm tháng trôi qua, nhìn góc phố thay đổi, cũng nhiều lúc buồn vui hờn giận, tiếc nuối…

phi công Nguyễn Thành Trung, Hoa Kỳ, không quân Sài Gòn, dinh Độc LậpSau khi ném bom Dinh Độc Lập, phi công Nguyễn Thành Trung đã lái máy bay F5E hạ cánh an toàn xuống sân bay Phước Long. Ảnh: T.L.

Ông đã bước ra khỏi vỏ bọc của một điệp viên, lái máy bay trên bầu trời hoà bình, và làm công việc đào tạo, hết lòng với một thế hệ phi công trẻ Việt Nam. Điều đọng lại trong ông sau thời gian dài gắn bó với công việc đào tạo, huấn luyện ấy là gì?

Giã từ cuộc chiến, tôi thấy mình làm khá nhiều việc mà những việc đó chắc không phải ai cũng làm được. Hồi còn sống, anh Hai Trung (tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn) nói nửa đùa nửa thật: “Việc ông ném bom dinh Độc Lập, Nhà nước phong ông anh hùng thì tôi không nói làm gì, còn công việc ông làm sau này nếu được, tôi phong ông hai lần anh hùng nữa”. Anh Hai Trung hiểu về công việc đặc thù của tôi. Khi giải phóng, cả một bề thế không quân chế độ cũ bỏ lại, tôi là người làm sống lại phi đội A37 sau này tham gia đánh Tân Sơn Nhất vào ngày 28.4 trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. F5 là máy bay chiến đấu hiện đại nhất của Sài Gòn lúc bấy giờ mà Mỹ bỏ lại mấy phi đoàn nhưng không có người bay. Giá trị vậy nhưng bỏ lại quá lâu bị hư hại nhiều, có chiếc bị bắn phá thủng lỗ chỗ. Nhiều chiếc còn bị bộ đội tiếp quản tháo đi những tiện nghi nội thất hay linh kiện quan trọng… Sau khi thành lập bộ phận tiếp quản, tôi nhận nhiệm vụ làm sống lại những chiếc máy bay này. Khi sửa xong, tôi là người bay thử. Phi công bay thử của người ta điều kiện bảo hiểm ngặt nghèo lắm, còn tôi thì như con thiêu thân. Gần 50 lần bay như thế, tôi luôn sẵn sàng tình huống nhảy dù khẩn cấp bởi máy bay có thể hư bất cứ lúc nào. Mỗi lần bay, nhiên liệu chỉ cung cấp đủ phân nửa cơ số. Vốn là người nhạy cảm trong cuộc sống, con ruồi bay qua tôi phân biệt ruồi đực hay ruồi cái, huống chi chuyện nhiên liệu chỉ đủ bay một vòng trong bán kính hẹp. Điều lăn tăn mà tôi kể trên là như vậy đó.

Tháng 8.1975 sau khi hồi phục xong rồi, tôi huấn luyện cả một phi đội, bay thành thục F5 để thành lập trung đoàn không quân 935, sau này trở thành trung đoàn anh hùng.

Đã quá cái tuổi lục thập nhi nhĩ thuận, còn điều gì ông thấy hối tiếc, hoặc món nợ nào ông chưa trả được?

Đến giờ này tôi vẫn ân hận, tiếc là không được chết vì Hoàng Sa. Ngày 18.1.1974, hải quân Trung Quốc đổ bộ lên chiếm đảo Hoàng Sa, phía Việt Nam Cộng hoà khi đó có một đại đội địa phương quân chốt trên đảo Phú Lâm. Hai bên đánh nhau, cùng có thương vong về con người nhưng quân số Trung Quốc đông quá, 51 lính địa phương quân của ta bị bắt đưa về Trung Quốc. Việt Nam Cộng hoà lên tiếng phản đối việc Trung Quốc dùng sức mạnh quân sự để chiếm đảo của Việt Nam một cách phi pháp. Đây là sự kiện lớn, dư luận thế giới cũng phản đối việc đó.

Lúc này hải quân của Việt Nam Cộng hoà không thể đổ bộ chiếm lại đảo được. Ngày 19.1.1974, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu điều năm phi đoàn F5, bốn ở sân bay Biên Hoà, một ở sân bay Đà Nẵng, mỗi phi đoàn có 24 máy bay và 120 phi công ra Đà Nẵng chuẩn bị đánh lấy lại Hoàng Sa. Mọi người rất phấn khởi, tụi tôi đi ra với tư thế là đi lấy lại một phần lãnh thổ đất nước. Sĩ quan cấp tá ở các phi đoàn 520 – Nguyễn Văn Dũng, 536 – Đàm Thượng Vũ, 540 – Nguyễn Văn Thanh, 544 – Đặng Văn Quang, 538 – Nguyễn Văn Giàu đều đã lên kế hoạch tác chiến kỹ lưỡng.

150 phi công thuộc sáu phi đoàn F5 của không lực Việt Nam Cộng hoà khi đó đều ký tên chung vào một lá đơn tình nguyện “Xin được chết vì Hoàng Sa”.

Hàng ngày, máy bay RF5 có nhiệm vụ bay và chụp ảnh các toạ độ từ nhỏ nhất ở Hoàng Sa, xem có thay đổi gì, tàu chiến Trung Quốc di chuyển ra sao, bố trí các cụm phòng thủ thế nào… đưa về chiếu ra cho tất cả phi công theo dõi. Tụi tôi đếm từng tàu một, thậm chí đếm được cả số ghi trên tàu, chia bản đồ ra làm bốn, mỗi góc tư giao cho một phi đoàn, phi đoàn thứ năm bay bảo vệ trên không. Họ có 43 tàu tất cả và quyết tâm của tụi tôi là đánh chìm tất cả 43 tàu đó trong vài giờ.

Về không quân, vào thời điểm đó chúng tôi có nhiều lợi thế hơn Trung Quốc. Bay từ Đà Nẵng ra Hoàng Sa bằng cự ly từ đảo Hải Nam ra. Ưu thế của phi đội tụi tôi là máy bay bay ra, đánh nửa tiếng vẫn thừa dầu bay về còn Trung Quốc chỉ có Mig 21, bay ra đến Hoàng Sa thì không đủ dầu bay về. Khí thế phi công lúc đó hừng hực, mấy anh chỉ huy trưởng từ đại tá trở xuống đòi đi đánh trước. Tất cả háo hức chờ đến giờ G là xuất kích. Nhưng giờ G ấy đã không đến. Hạm đội 7 của Mỹ trên biển không cứu các hạm đội của đồng minh Việt Nam Cộng hoà bị bắn chìm và bị thương trên đảo. Dường như vì lợi ích của mình, các quốc gia lớn có quyền mặc cả và thương lượng bất chấp sự toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia khác.

Một mảnh đất dù nhỏ cũng là tổ quốc mình, cha ông ta đã đắp xây nên bờ cõi, là con dân của đất nước ai cũng có nghĩa vụ thiêng liêng gìn giữ lấy. Tụi tôi háo hức sẵn sàng tất cả nhưng cuối cùng không được chết cho Hoàng Sa. Tới bây giờ tôi vẫn ân hận. Sau này bạn bè tôi gặp lại nhau cũng cùng một tâm trạng: đáng lẽ tụi mình chết cho Hoàng Sa thì vinh dự hơn!

Hiện nay ông có bằng lòng với cuộc sống của mình?

Thời nào tôi cũng bằng lòng với hiện tại. Thời khó khăn nhất cũng như khi đất nước đổi mới đến nay, tôi bằng lòng với những cái mình hiện có. Đó là hạnh phúc tự tạo. Nếu để làm giàu tôi sẽ đi đường khác và tôi biết cách làm giàu, nhưng tôi đã không lựa chọn như vậy. Tôi vẫn nghĩ “tri túc tiện túc hà thời túc”, mình biết đủ thì lúc nào cũng đủ, còn ham muốn, lúc nào cũng thấy thiếu thì không bao giờ đủ cả. Tôi bằng lòng với cuộc sống con cái học hành đàng hoàng, lễ phép với cha mẹ. Hiện tôi vẫn chưa nhàn được, tôi vẫn đi làm thuê, nhưng làm để vui, chứ làm để buồn thì tôi không bao giờ làm.

Cảm ơn về cuộc trò chuyện chân tình và thẳng thắn của ông.

TheoTrung Dũng – Minh Nguyễn/ SGTT
vietnamnet.vn

Với lịch sử, không có chữ “nếu”…

Với lịch sử, không có chữ “nếu”, chỉ có sự thừa nhận như nó vốn có, để rồi từ đó rút ra các bài học, những kinh nghiệm để tránh sai lầm cho hiện tại, thậm chí là tránh cho cả tương lai.

Thiển nghĩ, chỉ từ cái nhìn khách quan về lịch sử mới có thể đưa ra ý kiến khách quan về nó, còn nhìn nhận lịch sử từ cảm hứng yêu – ghét thì sẽ khó có thể đưa tới thái độ và sự đánh giá công bằng.

Đọc phần đầu bài viết Có nên ca ngợi Trần Thủ Độ vào dịp lễ “1000 năm Thăng Long – Hà Nội”? trên Hồn Việt, số 31, tháng 01/2010, tôi thật sự muốn chia sẻ với tác giả Tử Văn, vì quả là có cái gì đó hơi “phản cảm” nếu bộ phim về Trần Thủ Độ được trình chiếu đúng dịp kỷ niệm ngày Lý Công Uẩn dời đô ra Thăng Long (tôi sử dụng chữ “nếu” bởi đó mới chỉ là một khả năng). Nhưng đọc đến đoạn sau, với việc nói về “quy luật tất yếu của lịch sử”, thì tôi thấy Tử Văn đã viết rất thiếu thuyết phục, nên xin được bàn lại đôi điều:

– Tử Văn viết: “Vẫn biết rằng, trong lịch sử các triều đại phong kiến nước ta, dù trải qua thời kỳ rực rỡ đến mấy nhưng khi đã lâm vào con đường suy vong thì tự nó phải kết thúc vận mệnh lịch sử hoặc lịch sử sẽ chấm dứt nó, ở đây không có Trần Thủ Độ cũng sẽ có thế lực khác làm việc đó, âu cũng là quy luật tất yếu của lịch sử”.


Lễ hội đón năm mới ở Thủ đô. Ảnh: Phạm Hải.

Thiết nghĩ, lịch sử không phải là cái gì đứng ngoài sự vận hành cuộc sống của con người để khi nào thấy cần thiết thì ra tay can thiệp, đưa tới tình thế “lịch sử sẽ chấm dứt nó” như Tử Văn viết. Mà ngược lại, chính nhận thức và hành động của con người với các biến thiên đa dạng, phức tạp đã làm nên điều chúng ta vẫn gọi là lịch sử.

Xét từ cách nhìn đó, sự suy tàn của nhà Lý và các biện pháp mà Trần Thủ Độ tiến hành để đoạt vương quyền về cho nhà Trần, dù có thể là tàn bạo, thì cũng là sự kiện trực tiếp góp phần làm nên tính liên tục của lịch sử và cũng nằm trong điều Tử Văn gọi là “quy luật tất yếu của lịch sử”.

Tuy nhiên, quy luật tất yếu của lịch sử không phải là cái gì đó ngẫu nhiên, mà là kết quả của một xu hướng tất yếu gắn liền với việc con người giải quyết các yếu tố khách quan – chủ quan cụ thể của xã hội – con người trong một thời đoạn lịch sử nhất định.

Dù là Tử Văn hay là ai nữa thì vẫn cần phải thừa nhận một điều là lịch sử vốn thế và không thể thay đổi.

Dù không đồng tình với những việc Trần Thủ Độ tiến hành thì cũng không thể nói “không có Trần Thủ Độ cũng sẽ có thế lực khác làm việc đó”, đấy là quan niệm phi lịch sử, tương tự như đôi khi vẫn thấy người ta nói “nếu thế này” thì “sẽ thế kia”…

Với lịch sử, không có chữ “nếu”, chỉ có sự thừa nhận như nó vốn có, để rồi từ đó rút ra các bài học, những kinh nghiệm để tránh sai lầm cho hiện tại, thậm chí là tránh cho cả tương lai.

Thiển nghĩ, chỉ từ cái nhìn khách quan về lịch sử mới có thể đưa ra ý kiến khách quan về nó, còn nhìn nhận lịch sử từ cảm hứng yêu – ghét thì sẽ khó có thể đưa tới thái độ và sự đánh giá công bằng.

Theo tôi biết thì Trần Thủ Độ đang được thờ tại Đền thờ các vua Trần – Thái Đường Lăng (Thái Bình) và còn được thờ tại chùa Cầu Đông – trước thế kỉ XVIII có tên là Đông Hoa Môn nội tự, ở số 38B phố Hàng Đường, Hoàn Kiếm, Hà Nội; gần đây, các nhà sử học đã nghiên cứu và khẳng định đền Lim trên núi Hồng Vân thuộc thị trấn Lim (Tiên Du, Bắc Ninh) với bức hoành phi Trần triều Thượng phụ và hai câu đối treo trước bàn thờ: Công đáo vu kim, bất đán Trần gia nhị bách tải – Luận định thiên cổ, kỳ tại Nam thiên đệ nhất lưu. (Công đức của ông để mãi đến ngày nay, không chỉ bó hẹp trong hai trăm năm đời nhà Trần – Sau nghìn đời, công luận đã định, ông đáng liệt vào bậc thứ nhất dưới trời Nam) chính là nơi thờ Trần Thủ Độ…


Thái Đường Lăng – Thái Bình. Nguồn: Internet.

Tôi cũng xin dẫn lại điều được viết trong Đại Việt sử ký toàn thư:

Năm Nhâm Thìn (1232), “Trần Thủ Độ giết chết tôn thất nhà Lý. Khi ấy, Trần Thủ Độ chuyên chính lâu ngày, đã giết Huệ Tông, tôn thất nhà Lý đều bùi ngùi thất vọng. Mùa Đông năm ấy, nhân nhà Lý làm lễ tế các vua Lý ở Thái Đường, Hoa Lâm, Thủ Độ ngầm đào hố sâu, làm nhà lên trên, đợi khi mọi người uống rượu say, giật máy chôn sống hết” (Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, NXB Khoa học xã hội, H.1998, tr.14) và Ngô Sĩ Liên bình luận: “Xét thời Trần Anh Tông còn có người họ Lý làm tướng, hơn nữa Phan Phu Tiên không ghi lại, việc này chưa chắc có thực, hãy tạm chép vào đây” (Sđd, tr.14), tức là Ngô Sĩ Liên chưa tin vào sự xác thực của sự kiện nên viết “việc này chưa chắc có thực, hãy tạm chép vào đây”.

Tác giả Ngô Vũ Hải Hằng – Viện Sử học, cho rằng: “Dưới con mắt của nhân dân, Trần Thủ Độ hoàn toàn khác với những nhận định của các sử quan phong kiến. Nhân dân biết ơn ông đã cứu đất nước thoát khỏi cảnh loạn lạc, và nhờ có tài thao lược, khí phách hiên ngang, tinh thần kiên quyết của ông mà Đại Việt mới thoát khỏi cảnh nô lệ ở nửa sau thế kỷ 13”.

Theo tôi, ý kiến của nhà sử học Ngô Vũ Hải Bằng đã chỉ rõ sự khác nhau giữa “đạo trung quân” của Nho giáo với nhận thức của nhân dân. Và xin dẫn thêm một đoạn từ Đại Việt sử ký toàn thư có liên quan tới Trần Thủ Độ để bạn đọc tham khảo:

Linh Từ quốc mẫu Trần Thị Dung có lần ngồi kiệu đi qua thềm cấm, bị quân hiệu ngăn lại, về dinh khóc bảo Thủ Độ: “Mụ này làm vợ ông, mà bị bọn quân hiệu khinh nhờn đến thế”. Thủ Độ tức giận, sai đi bắt. Người quân hiệu ấy nghĩ rằng mình chắc là phải chết. Khi đến nơi, Thủ Độ hỏi vặn trước mặt, người quân hiệu ấy cứ theo sự thực trả lời. Thủ Độ nói: “Ngươi ở chức thấp mà giữ được luật pháp, ta còn trách gì nữa”. Lấy lụa thưởng cho rồi về. Thủ Độ có lần duyệt định số hộ khẩu, công chúa Thiên Cực xin riêng cho một người làm câu đương. Thủ Độ gật đầu, rồi ghi họ tên quê quán của người đó. Khi xét duyệt đến xã ấy, hỏi tên mỗ ở đâu, người đó mừng rỡ chạy đến, Thủ Độ bảo hắn: “Ngươi vì có công chúa xin được làm câu đương, không thể ví như những câu đương khác được, phải chặt một ngón chân để phân biệt người khác”. Người đó kêu van xin mãi mới tha cho. Từ đó không ai không dám đến thăm vì việc riêng nữa” (Sđd, tr.34).

Nhân đây xin nói thêm, cho đến thời điểm hiện tại, trong phạm vi tôi được biết, đường phố mang tên Trần Thủ Độ đã có tại ba đô thị lớn, đó là: Hà Nội (Pháp Vân, Tứ Hiệp, quận Hoàng Mai), TP. Hồ Chí Minh (Phú Thạnh, quận Tân Phú), TP. Thái Bình (tỉnh Thái Bình).

Từ những dẫn dụ trên, tôi cho rằng, hậu thế đã có những đánh giá khá công tâm về Trần Thủ Độ.

NGUYỄN HÒA
honvietquochoc.com.vn

This entry was posted on Tháng Tư 29, 2013, in 30.04.1975.

Nghệ thuật của cựu chiến binh

Tại Mỹ có một bảo tàng nghệ thuật dành riêng để triển lãm và nghiên cứu tác phẩm của các cựu chiến binh từng tham chiến tại Việt Nam và gần đây là Iraq.

Thẻ ghi tên của hơn 58.000 quân nhân bị chết trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam

Sau khi đã thăm Bảo tàng Nghệ thuật đương đại (MCA) và Viện Nghệ thuật Chicago, đi thẳng về hướng Nam, bạn sẽ nhìn thấy một trong những bộ sưu tập hấp dẫn nhất nhưng lại ít được biết đến nhất tại Chicago. Đó là Bảo tàng Nghệ thuật cựu chiến binh Quốc gia, trước đây là Bảo tàng Nghệ thuật cựu chiến binh Việt Nam – bảo tàng nghệ thuật duy nhất ở Mỹ dành riêng để triển lãm tác phẩm của các cựu chiến binh từng tham gia chiến trường Việt Nam và gần đây là Iraq. Ban đầu, đây là một triển lãm lưu động, nhưng khi Thị trưởng Chicago Richard M. Daley xem triển lãm, ông đã bị sức mạnh của nghệ thuật chinh phục và quyết định thành phố sẽ dành đất để xây dựng bảo tàng cho những hiện vật giá trị đó. Tháng 8.1996, Bảo tàng Nghệ thuật cựu chiến binh Việt Nam chính thức khai trương. Bảo tàng không chỉ trưng bày tác phẩm đơn thuần mà đi kèm nó là câu chuyện của những quân nhân từng tham chiến tại Việt Nam. Mỗi tác phẩm là một câu chuyện và chẳng có cách nào giải thích được sức mạnh mà chúng chuyển tải.

Một số hiện vật tại Bảo tàng

 * Nếu bạn trả lời CÓ cho cả 3 câu hỏi dưới đây, có vẻ lợi ích quốc gia của chúng ta là tham chiến:

1) Bạn sẵn sàng ra khỏi nhà và từ bỏ tất cả những gì đang có, gần gũi và thân thiết, trong một thời gian không xác định?

2) Bạn sẵn sàng dấn thân vào hiểm nguy?

3) Bạn sẵn sàng cướp đi mạng sống của người khác?

Nếu bạn trả lời KHÔNG cho một trong 3 câu hỏi trên, nó không có nghĩa là vấn đề không quan trọng, mà rằng bạn có thể tìm ra cách khác để giải quyết, chứ không phải chiến tranh.

Cựu chiến binh Rick Davis

Bước vào phòng trưng bày chính, bạn sẽ bắt gặp bức tượng điêu khắc bằng kim loại thanh nhã, mô phỏng hình ảnh một người lính chuẩn bị “bước ra khiêu vũ với thần chết”, miêu tả sinh động khái niệm lãng mạn về chiến tranh. Bên cạnh đó là bức tượng cao hơn 0,3m được đúc khuôn dùng một phần của xe ba bánh. Trên tầng 2 là thẻ ghi tên của hơn 58.000 quân nhân (cả nam và nữ) đã thiệt mạng trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Lên tầng 3, người xem có thể xem các bức ảnh và sắp đặt về cuộc chiến tranh ở Iraq.

Bảo tàng thường tổ chức nhiều hoạt động sôi nổi nhờ sự đóng góp của rất nhiều nghệ sỹ cựu chiến binh, sẵn sàng cho mượn hiện vật để triển lãm và bản thân họ cũng lưu giữ nhiều hiện vật giá trị, như bức tượng điêu khắc làm từ những chiếc vòng tay của tù binh của phi công John Borling – đồng đội của Thượng nghị sỹ John McCain, hay chiếc cốc ông dùng lúc bị giam ở Hilton, Hà Nội. Nhiều hiện vật có thể tách ra đứng một mình. Tuy nhiên, trong tổng thể bối cảnh của bảo tàng, chúng có sức hút đặc biệt, khiến người xem không thể cưỡng lại.

Trên đường ra, bạn hãy dừng lại bên bàn phía trước, đề nghị cho xem cuốn sách bìa cứng nói về bảo tàng, Vietnam: Reflexes and Reflections, phát hành năm 1996, năm bảo tàng khai trương. Cuốn sách sẽ đem đến một cái nhìn rộng mở và đầy màu sắc về một bộ sưu tập lớn hơn, cũng như phản ánh về các nghệ sỹ, rất có giá trị về mặt nghiên cứu.

Nhiệm vụ của Bảo tàng Nghệ thuật cựu chiến binh Quốc gia là giúp mọi người hiểu hơn về ảnh hưởng của chiến tranh thông qua các bộ sưu tập, bảo quản và trưng bày các tác phẩm nghệ thuật của các cựu chiến binh từng tham gia những cuộc xung đột của quân đội Mỹ. Với những di sản nghệ thuật và quân sự, bảo tàng giúp công dân và các cựu chiến binh kết nối với nhau, với nhiều trải nghiệm thú vị và ý nghĩa. Gần 2.500 tác phẩm nghệ thuật, từ hội họa đến điêu khắc, ký họa, ảnh, thơ, nhạc… của hơn 250 nghệ sỹ – chiến sỹ, bảo tàng đem đến cho khách tham quan đủ mọi lứa tuổi và màu da cái nhìn về chiến tranh từ chính những người trong cuộc. Hơn thế, bảo tàng cũng là một kênh để các cựu chiến binh thể hiện những trải nghiệm chiến đấu của mình thông qua nghệ thuật.

* Những bức ảnh chụp cận cảnh hoa lá, không rõ được chụp tại Việt Nam thời chiến tranh hay khi Brenda Looper Jansons trở lại đất nước này. Brenda Looper Jansons là y tá tại Bệnh viện Di tản thứ 36 ở Vũng Tàu. Bà kể: “Đến Việt Nam, tôi dùng một chiếc máy ảnh Canon để ghi lại thế giới của tôi cho các con tôi. Tôi muốn chúng nhìn kỹ hơn những món quà đẹp đẽ xung quanh mà thiên nhiên ban tặng. Trong tự nhiên có đủ vẻ đẹp để xoa dịu những ký ức đau thương và theo thời gian sẽ hàn gắn tất cả”.

* Jean Watson, phục vụ trong quân đội Mỹ năm 1966 – 1967, trong Bệnh viện Di tản thứ 85 tại Quy Nhơn. Bà vẽ những bức tranh đầy ám ảnh về rồng. Trong một triển lãm tại bảo tàng, 12 bức tranh của bà được trưng bày là 12 con rồng mạnh mẽ, được vẽ với màu sắc, sự dữ dội và cảm xúc khác nhau. Tấm bảng treo trên tường giải thích: “Theo truyền thuyết, rồng là thủy tổ của người Việt”. Thông qua lao động nghệ thuật của Jean Watson, miêu tả những con rồng đầy tính cách, bà đã “gây dựng hòa bình với con của rồng”.

Khang Duy
daibieunhandan.vn