Thư viện

Tuyên ngôn của Hội Liên hiệp các Dân tộc bị áp bức

– Ngày 9/7/1925, tại Quảng Châu, Hội Liên hiệp các Dân tộc bị áp bức do Nguyễn Ái Quốc và một số nhà cách mạng Trung Quốc vận động, đã chính thức được thành lập tập hợp nhiều thành viên quốc tế như Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên, Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan, Miến Điện (Myanmar)… với tôn chỉ “liên lạc với các dân tộc cùng làm cách mạng nhằm đánh đổ đế quốc”.

Hội ra lời tuyên ngôn: “Từ khi bọn tư bản tháo bỏ mặt nạ và công khai hành động như bọn đế quốc, các dân tộc yếu, nhất là các dân tộc ở Á châu ngày càng bị áp bức.

Chúng biến đất nước của chúng ta thành thuộc địa của chúng hay nửa thuộc địa (như Trung Quốc và Xiêm). Chúng cướp đoạt toàn bộ của cải của đất nước chúng ta. Chúng bắt chúng ta phải mua thuốc độc (thuốc phiện, rượu cồn). Chúng nghiền nát chúng ta bằng thuế khoá đủ loại. Chúng biến chúng ta thành phu phen hay đầy tớ…Chúng không chỉ tước đoạt đi những quyền chính trị của chúng ta, mà chúng còn tìm cách tận diệt nòi giống chúng ta”.

Tháng 7/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm HTX nông nghiệp Tân Lập, Quốc Oai Hà Tây.Tháng 7/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm HTX nông nghiệp Tân Lập, Quốc Oai Hà Tây.

Và tuyên ngôn đưa ra lời kêu gọi: “Hỡi các bạn thân yêu, muốn xua tan những đau khổ cần phải đoàn kết các dân tộc bị áp bức và toàn thể công nhân trên thế giới lại để làm các mạng.

Bọn đế quốc ở tất cả các nước đã liên minh để áp bức chúng ta. Còn chúng ta, những người dân thuộc địa và toàn thể công nhân trên thế giới, chúng ta phải hợp lực lại để chống lại chúng…

Hỡi hết thảy những người bị áp bức, anh em! Nếu bọn đế quốc áp bức chúng ta và đối xử với chúng ta như loài vật, đó là vì chúng ta không đoàn kết! Nếu chúng ta đoàn kết chúng ta sẽ trở nên đáng gờm…

Đoàn kết của chúng ta sẽ làm nên sức mạnh. Nó đủ để đánh tan bọn đế quốc. Muốn vượt qua vòng nô lệ , chúng ta chỉ có thể cậy vào sức mạnh của mình mà thôi!”

X&N
bee.net.vn

Trong những ngày thăm nước Pháp

– “Nhật ký hành trình chuyến đi Pháp” của Chủ tịch Hồ Chí Minh” ghi chép: “Ngày 8/7/1946, 12 giờ, Cụ Chủ tịch tiếp vợ chồng ông Marrane, cựu Chủ tịch Quận Seine, ông Coste, nghị viên Quốc hội, vợ chồng ông Poldès, văn sĩ (xưa là chủ nhiệm Câu lạc bộ Ngoại ô mà Bác tham gia), có mời cả vợ chồng ông Nguyễn Mạnh Hà ăn cơm với khách.

6 giờ (chiều), Đô đốc Missoffe thết tiệc trà hoan nghênh Cụ Chủ tịch. Ông Missoffe có 5 người con trai đều tham gia kháng chiến và một con gái là Jacqueline 13 tuổi, rất mến Hồ Chủ tịch và gọi Cụ bằng Bác Hồ. Từ lúc đến Paris, Cụ Chủ tịch đã có một bày cháu giai, cháu gái, Pháp có, Việt có”.

Ngày 8/7/1958, Bác thăm Kè Sông Đà, Cổ Đô, Ba Vì, Hà Tây.Ngày 8/7/1958, Bác thăm Kè Sông Đà, Cổ Đô, Ba Vì, Hà Tây.

Cũng trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện mừng nhân dịp nước Cộng hoà Phi Luật Tân (Philippines) tuyên bố độc lập. Bức điện có đoạn: “Nước Cộng hoà Dân chủ Việt Nam vui mừng chào đón ngày 4/7/1946 là một ngày kỷ niệm trong lịch sử giải phóng các dân tộc Đông Nam châu Á, dân tộc Phi Luật Tân đã khôi phục quyền tự do bằng một con đường hoà bình, nó làm vinh dự đặc biệt cho Hợp chủng quốc Mỹ.

Nhiều dân tộc khác không may mắn bằng Phi Luật Tân còn đang tranh đấu chống đế quốc để giành quyền độc lập. Nhưng hết thảy các dân tộc cũng đã trải qua những nỗi đau đớn chung, rồi đây sẽ liên hợp với nhau để tiến tới một nền hoà bình lâu bền và một nền dân chủ chân chính. Nước Việt Nam quốc gia tự do, mong mỏi sự hợp tác đó sẽ thành công rực rỡ”.

Ngày hôm sau, 9/7/1946, Bác tiếp các vị khách là các nhà tư bản gồm chủ nhà máy xi măng và nhà máy điện, nước Bắc Kỳ (cũ) đến chào.

Bác còn tiếp một nghị sĩ Quốc hội Pháp là người gốc Ấn Độ rất có cảm tình với Việt Nam. Buổi tối Bác tiếp ông bà J.Sainteny người tháp tùng từ Hà Nội sang.

Bà Sainteny lại là con gái ông Albert Sarraut nguyên là Toàn quyền Đông Dương, sau đó là Bộ trưởng Thuộc địa đã từng “đụng độ” với Nguyễn Ái Quốc hơn hai chục năm trước.

Đó là lần Bộ trưởng Thuộc địa đã “mời” Nguyễn Ái Quốc đến văn phòng của Bộ ở Paris và đưa ra lời lẽ nửa đe doạ, nửa mua chuộc: “Anh muốn gì, cứ nói ra, tôi sẽ đáp ứng. Bằng như anh chống đối thì tôi đủ sức bẻ gẫy …”. Rồi ông bẻ lấy cây bút chì đang trên tay để thể hiện sự răn đe. Nguyễn Ái Quốc đã bình thản trả lời: “Mong ước của tôi chỉ là lam sao cho nước tôi độc lập, dân tôi tự do”.

Ngày tiếp theo, 10/7/1946, Bác mời cơm đáp lễ ông bà Sainteny và mời cả ông Albert Sarraut là nhạc phụ của Sainteny. Trước đó Bác trả lời phỏng vấn của phóng viên Mỹ và trong ngày còn tiếp nhiều chính khách nhằm tăng cường sự hiểu biết và hợp tác thân thiện Việt – Pháp.

X&N
bee.net.vn

Đại hội Anh hùng và Chiến sĩ thi đua

 – Ngày 7/7/1958 là ngày khai mạc Đại hội Anh hùng và Chiến sĩ thi đua công, nông, binh toàn quốc lần thứ II nhằm biểu dương thành tích của những năm hoà bình đầu tiên, khôi phục kinh tế miền Bắc.

Trong bài phát biểu, Bác nhấn mạnh đến sự phát triển vượt bậc của phong trào thi đua đã xuất hiện nhiều anh hùng hơn, thuộc nhiều ngành nghề, vùng miền, thành phần xã hội hơn trước.

Bác nói: “Ở Đại hội lần thứ nhất có 7 anh hùng, trong đó có 4 anh hùng quân đội… Đại hội lần này, chúng ta có 26 anh hùng Lao động và 69 Anh hùng Quân đội… có anh hùng và chiến sĩ lao động chân tay và trí óc, đủ các ngành và các dân tộc anh em…, có 5 anh hùng là phụ nữ… có 6 anh hùng là đồng bào miền Nam tập kết…”.

fNgày 7/7/1960, Bác và các đại biểu nữ trong QH khoá II trước kỳ họp thứ nhất.

Người đề xướng phong trào thi đua ái quốc khẳng định “Anh hùng, chiến sĩ thi đua là những người tiên phong trong sản xuất mà cũng là gương mẫu về đạo đức cách mạng. Họ đặt lợi ích chung của dân tộc lên trên lợi ích riêng của cá nhân. Họ toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân chứ không nửa tâm, nửa ý. Họ không sợ khó nhọc, ra sức vượt mọi khó khăn để hoàn thành và hoàn thành vượt mức nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ giao cho họ, chứ họ không suy bì hơn thiệt của cá nhân, không ganh tị về địa vị và hưởng thụ, không giấu nghề, không dìm những anh em chung quanh mình, không tự kiêu, tự mãn, tự tư, tự lợi. Đó là những đức tính cách mạng mà chúng ta cần phải học tập các anh hùng, chiến sĩ thi đua”.

Bác còn căn dặn: “Các anh hùng, chiến sĩ thi đua cần nhận rõ rằng: thành tích là thành tích chung của tập thể. Tách rời tập thể thì dù tài giỏi mấy, một cá nhân cũng không làm được gì. Cho nên càng có thành tích thì càng phải cố gắng, càng phải khiêm tốn”.

Cùng ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh tặng danh hiệu Anh hùng Lao động cho 26 tấm gương xuất sắc nhất trong phong trào thi đua yêu nước.

X&N
bee.net.vn

“Thống nhất nước nhà là con đường sống”

 – Ngày 6/7/1954, trả lời Thông tấn xã Việt Nam về những vấn đề liên quan đến Hội nghị Genève đang diễn ra, Bác đã khẳng định “lập trường của ta từ trước đến nay, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ tiếp tục đấu tranh cho hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ của Tổ quốc” và “bài trừ chính sách của đế quốc Mỹ ngăn cản và phá hoai Hội nghị Genève”.

Ngày 6/7/1956, thời điểm sắp tròn 2 năm đất nước tạm thời bị chia cắt và chuẩn bị cho cuộc Tổng tuyển cử ở cả hai miền Nam Bắc để hòa bình thống nhất đất nước theo những thỏa thuận của Hiệp định Genève đã được ký kết từ ngày 20/7/1954. Nhân dịp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Thư gửi đồng bào cả nước” nêu rõ thời điểm cuộc Tổng tuyển cử để thống nhất đất nước đã đến, nhưng chính quyền Sài Gòn vẫn cố tâm phá hoại.

Bức thư khẳng định: “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Genève, đã nhiều lần đề nghị với chính quyền miền Nam mở hội nghị hiệp thương để bàn về tổng tuyển cử tự do nhằm thống nhất nước nhà” và vạch rõ “nhiệm vụ thiêng liêng của chúng ta là kiên quyết tiếp tục đấu tranh thi hành Hiệp định Genève, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ bằng phương pháp hoà bình, hoàn thành sự nghiệp vẻ vang giải phóng dân tộc“.

Bức thư phân tích: “Hễ là con Hồng cháu Lạc, người có lương tâm, thì chắc ai cũng tán thành và ủng hộ mục đích cao cả ấy. Cho nên chúng ta đoàn kết rộng rãi tất cả những người Việt Nam yêu Tổ quốc, yêu hòa bình, yêu thống nhất trong cả nước và ở nước ngoài. Với lực lượng đoàn kết ấy, chúng ta hoạt động không ngừng cho Nam – Bắc gần gũi nhau, chúng ta kiên quyết đấu tranh củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước. Cuộc đấu tranh chính trị của chúng ta hiện nay là một cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ và phức tạp, song nhất định thắng lợi”.

Tháng 10/1962, Bác ôm hôn ông Nguyễn Văn Hiếu, Thư ký UBTWMTDTGPMNVN ra thăm miền Bắc.
Tháng 10/1962, Bác ôm hôn ông Nguyễn Văn Hiếu, Thư ký UBTW MTDTGPMN VN ra thăm miền Bắc.

Và lá thư của Bác khẳng định: “Nước Việt Nam ta nhất định phải thống nhất. Đồng bào Nam và Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà… Thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân ta. Đại đoàn kết là một lực lượng tất thắng. Nhờ đại đoàn kết mà cách mạng đã thắng lợi, kháng chiến đã thành công. Nay chúng ta đại đoàn kết thì cuộc đấu tranh chính trị của chúng ta nhất định thắng lợi, nước nhà nhất định thống nhất”.

Trước đó không lâu, ngày 21/6/1956, Bác đã gửi thư tới Hộ pháp Phạm Công Tắc, giáo chủ của Đạo Cao Đài đang sống ở Phnom Penh (Campuchia) bày tỏ: “Tôi trân trọng cảm ơn bức điện của Cụ gửi cho tôi ngày 26/4/1956 và thành thật hoan nghên Cụ đã tỏ ý mong muốn nước Việt Nam ta được hòa bình, thống nhất. Chính phủ  Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, toàn dân ta từ Bắc chí Nam, trong nước và ngoài nước đều đang kiên quyết và bền bỉ đấu tranh để thực hiện nguyện vọng tha thiết của dân tộc, là làm cho nước Việt Nam ta được hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Cuộc đấu tranh hiện nay của nhân dân ta tuy khó khăn và phức tạp, song toàn dân ta đoàn kết một lòng, kiên quyết phấn đấu, cho nên nhất định thắng lợi”.

X&N
bee.net.vn

“Mỹ… hãy biến đi!”

Ngày 5/7/1966,  tiếp phái viên của Tổng thống Pháp là ông Jean Sainteny đến trao thư của Tổng thống De Gaulle, người đã từng phát biểu ở Phnom Penh khuyên Mỹ hãy chấm dứt can thiệp vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ quan điểm.

Người nói: “Chúng tôi biết rõ sức mạnh của kẻ thù. Chúng tôi hiểu rằng Mỹ nếu muốn, họ có thể hủy diệt thành phố này như chúng đã làm đối với các thành phố lớn ở miền Bắc như Hải Phòng, Nam Định, Bắc Ninh và nhiều thành phố khác. Chúng tôi đang đợi chúng đến và chúng tôi đã sẵn sàng. Nhưng cái đó không làm nhụt ý chí đấu tranh của chúng tôi. Ông hiểu cho rằng chúng tôi đã có kinh nghiệm và chiến tranh đã được kết thúc như thế nào rồi”.

Sau đó Bác đưa ra thông điệp: “Chỉ có một cách đi tới giải pháp, đó là Mỹ rút đi. Chúng tôi không muốn làm cái gì xấu đối với họ, chúng tôi sẵn sàng đem nhạc và hoa tiễn họ và mọi thứ khác mà họ thích. Nhưng ông biết đấy, tôi thích tiếng lóng của nước ông “Qu’ ils foutent le camp?” (nghĩa là “Hãy biến đi!”)”.

HCM cùng bộ trưởng Phạm Văn Đồng tiếp Jean Sainteny sau lễ trình ủy nhiệm thư.jpg (78KB)Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng bộ trưởng Phạm Văn Đồng tiếp ông Jean Sainteny sau lễ trình ủy nhiệm thư

Jean Sainteny (1907-1978) là con rể cựu Toàn quyền Đông Dương và Bộ trưởng Thuộc địa Pháp, là Trưởng Phái bộ 5 (5è Mission) cơ quan tình báo của Nước Pháp Tự do đặt trụ sở ở Côn Minh (Trung Quốc). J.Sainteny là người đại diện cho nước Pháp của Tướng De Gaulle có mặt tại Hà Nội sớm nhất cùng với cơ quan tình báo Chiến lược Mỹ (OSS) ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công.

Ông trở thành nhân vật trung gian cho cuộc tiếp xúc Pháp – Việt dẫn đến việc ký kết Hiệp định sơ bộ 6/3/1946; là người tháp tùng Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm nước Pháp và trở thành một trong những nhân vật chủ trương hợp tác hoà bình với Chính phủ Hồ Chí Minh.

Sau trận Điện Biên Phủ và Hiệp định Genève , J.Sainteny được cử làm Tổng Đại diện Chính phủ Pháp tại Hà Nội. Ngày 17/10/1954, tại Bắc Bộ Phủ nay là Nhà khách Chính phủ, trong lúc cùng Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Văn Đồng tiếp J,Sainteny, Bác thân mật nói: “Ngài xem, chúng ta đã đánh nhau, “đấm đá” nhau tám năm trời rồi nhưng rất trung thực, như Ngài đã nói ở Paris. Bây giờ mọi chuyện đã xong, các Ngài cần ở lại đây và cũng với tấm lòng như thế, chúng ta thỏa thuận với nhau, cùng hợp tác. Vậy Ngài tính sao? Hai bên hưởng bằng nhau”.

Tháng 9/1969, J.Saintenny có mặt tại Hà Nội là người đứng đầu một phái đoàn chính thức duy nhất của một nhà nước Phương Tây (Chính phủ Cộng hoà Pháp) dự lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau này, ông đã viết cuốn sách có nhan đề “Đối diện với Hồ Chí Minh” (Face à Hochiminh) nhắc lại những kỷ niệm và lòng khâm phục Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong sách, ông có viết cảm nghĩ của mình khi đứng trước linh cữu của Bác: trước mặt tôi là một ông già hiền từ và bé nhỏ nhưng lại chính là người có sức mạnh đã đẩy nước Pháp trở về với hình lục lăng bé nhỏ ban đầu của nó. Đó là lời khẳng định Bác là người tiên phong trong sự nghiệp đánh đổ chủ nghĩa thực dân, xoá bỏ hệ thống thuộc địa của nước Pháp nói riêng trên toàn thế giới nói chung.

X&N

bee.net.vn

“Phải kính trọng độc lập và tự do của mọi dân tộc”

 – Ngày 3/7/1946, trong hành trình thăm nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến đặt vòng hoa trước mộ Chiến sĩ vô danh trước Khải hoàn môn, có tướng Gentilhomme tháp tùng. Sau đó, Bác đến viếng và đặt vòng hoa tại nghĩa trang những tử sĩ Việt Nam chết trong cuộc Đại chiến ở vùng Nogent Sur Marne, ngoại ô Paris. Cùng viếng với Chủ tịch nước Việt Nam có Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Marius Moutet, trên vòng hoa có dòng chữ “Hồ Chí Minh ai điếu các chiến sĩ Việt Nam”.

Nói chuyện với đông đảo kiều bào Việt Nam tại đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắn nhủ: “Người Việt Nam phải đoàn kết làm cho nước nhà hoàn toàn vinh quang, sánh vai với các nước trên thế giới, xây dựng hạnh phúc cho Tổ quốc, cho nhân loại để khỏi phụ lòng những người đã vì nước thiệt mạng. Người chết đã vậy, còn các kiều bào ở Pháp nên xử sự thế nào để người Pháp hiểu biết và quý mến mình”.

r 3/7/1946 đặt vòng hoa tại Đài Chiến sĩ vô danh ở Khải hoàn môn.

Sau khi đi thăm Cung điện Versailles nổi tiếng, tối hôm đó, Chủ tịch nước Việt Nam được mời xem biểu diễn nhạc kịch tại Nhà hát lớn Paris cùng Thủ tướng Pháp.

Cũng theo chương trình, ngày hôm sau (4/7), Bác đến viếng mồ những nghĩa sĩ ở Mont Valérien. Trong “Nhật ký hành trình-4 tháng sáng Pháp” có mô tả: “Đây là một pháo đài lớn, trên một cái gò cao. Đứng đó có thể trong thấy một vùng Pari và ngoại ô. Trong thời kỳ Đức chiếm nước Pháp, nhiều người du kích Pháp bị Đức đem xử bắn tại đây, bao nhiêu nghĩa sĩ đó hiện nay vẫn chôn một chỗ”.

s3/7/1946 mặc niệm trước mồ các người lính Việt Nam ở Nogent sur Marne.

Tại không gian này, Bác xúc động phát biểu: “Trông thấy nghĩa sĩ Pháp vì độc lập và tự do bị người Đức tàn sát, lại nghĩ đến nghĩa sĩ Việt cũng vì độc lập, tự do mà cũng bị người khác tàn sát khiến cho người ta thêm cảm động, ngậm ngùi. Quyền độc lập, tự do ở nước nào cũng vậy, đều do xương máu của các nghĩa sĩ và sự đoàn kết của toàn quốc dân mà xây nên. Vậy nên, những người chân chính yêu chuộng độc lập, tự do của nước mình cũng phải kính trọng độc lập, tự do của dân tộc khác”.

X&N
bee.net.vn

Thông điệp của Bác tới Chính phủ Pháp

 – Ngày 2/7/1946, Chính phủ Pháp chính thức tiếp xúc với Đoàn Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu với những nghi lễ trọng thể. Thủ tướng Pháp Georges Bidault hội đàm riêng với Chủ tịch nước Việt Nam. Buổi chiều Thủ tướng Pháp mở tiệc chiêu đãi trọng thể.

Trong lời chào mừng, người đứng đầu nước Pháp đánh giá: “Sự kiện Ngài đến đây có một ý nghĩa rất cao xa. Nó làm cho tình thân thiện giữa hai nước chúng ta khăng khít lại… Chúng ta sẽ làm việc cùng nhau một cách thành thật vì chúng ta đều tin theo chủ nghĩa nhân đạo, mà nhân đạo là cái nền tảng mà những nhà triết học Đông phương và Tây phương xây đắp mối quan hệ giữa những người tự do, để tìm sự tiến bộ, đó là ý tưởng của tất cả xã hội dân chủ”.

s Ngày 2/7/1946, Bác Hồ tại Dinh Thủ tướng Pháp trong buổi lễ gặp mặt chính thức.

Trong đáp từ, người đứng đầu nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bày tỏ: “Sự đón tiếp mà dân chúng và Chính phủ Pháp dành cho tôi đã rung động đến chỗ sâu nhất của lòng tôi. Trước khi chính thức chào Chính phủ Pháp, tôi đã có dịp đi thăm xứ Baxcơ, một miếng đất rất đẹp của Pháp. Sự tiếp xúc với xứ Baxcơ đã cho tôi nhiều giáo huấn. Dân Baxcơ tuy vẫn giữ được những màu sắc riêng, ngôn ngữ riêng, phong tục riêng, nhưng vẫn là dân Pháp. Dân Pháp tuy có nhiều tỉnh khác nhau nhưng vẫn là nước thống nhất và không thể chia rẽ được”.

Bằng cách diễn đạt đó người đứng đầu nhà nước Việt Nam muốn gửi tới nước Pháp thông điệp về sự không thể chia tách Nam Kỳ ra khỏi cơ thể Tổ quốc Việt Nam, đồng thời tỏ rõ Việt Nam sẵn sàng hợp tác với nước Pháp trong Khối Liên hiệp Pháp.

Với một tinh thần chủ động và thiện chí, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Chính ở Pari này, cái thành phố anh hùng và rộng lượng xướng xuất ra những nguyên tắc tự do, bình đẳng, bác ái, cái thành phố có thói quen bênh vực sự bình đẳng của các dân tộc, chính ở thành phố này, tôi trân trọng tuyên bố nước Việt Nam gia nhập vào cái sự nghiệp rất nhân đạo ấy… Pari đã còn hiến không ít để cho nước Việt Nam và nước Pháp có thể hoà hợp với nhau trong Khối Liên hiệp Pháp gồm những dân tộc tự do, bình đẳng cùng ôm một lý tưởng dân chủ và cùng say mê vì tự do.

Chính ở Pari, nước Việt Nam sẽ tiến lên con đường độc lập, tôi tin rằng chẳng bao lâu nước Việt Nam sẽ đóng vai trò xứng đáng ở Thái Bình Dương là một nước độc lập làm vẻ vang lớn cho nước Pháp… Chúng ta đều được kích thích bởi một tinh thần.

Triết lý đạo Khổng và triết lý phương Tây đều tán dương một nguyên tắc: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (điều mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác). Tôi tin rằng trong những điều kiện ấy Hội nghị Fontainebleau sẽ đi tới những kết quả tốt đẹp… Sự hợp tác thành thực và thân thiện của hai nước sẽ là một gương lớn cho thế giới biết rằng: với một sự tin cậy lẫn nhau, những dân tộc tự do và bình đẳng vẫn có thể giải quyết những vấn đề khó khăn nhất…”

Có thể nói, đây là một thông điệp rất minh bạch về thiện chí mong muốn hợp tác, hoà bình với nước Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt cho một nước Việt Nam độc lập phát biểu với thế giới. Nó hoàn toàn ngược lại với thái độ thù địch muốn phát động chiến tranh, chia cắt nước Việt Nam để đẩy hai dân tộc vào một cuộc chiến tranh mà Bác gọi là “huynh đệ tương tàn”.

Buổi chiều cùng ngày sau khi thoả thuận được với Chính phủ Pháp về việc hồi hương một số binh lính Việt Nam trở về nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi “thư cho các binh sĩ Việt Nam ở Pháp” thông báo nội dung các thoả thuận và khuyên anh em giữ vững kỷ luật, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, về đến nhà phải giúp ích Tổ quốc, ủng hộ Chính phủ và “phải ăn ở cho xứng đáng với một người công dân của nước Cộng hoà Dân chủ Việt Nam”.

X&N
bee.net.vn

“Con cáo và tổ ong”

 – Ngày 1/7/1942, báo “Việt Nam Độc lập”, cơ quan tuyên truyền của Việt Minh Cao Bằng (sau đó mở rộng thành liên tỉnh với Bắc Kạn, Lạng Sơn) do Bác sáng lập tại chiến khu, đã đăng bài thơ ngụ ngôn của người sáng lập ra tờ báo này với nhan đề “Con cáo và tổ ong”.

Bài thơ viết:

Tổ ong lủng lẳng trên cành/ Trong đầy mật nhộng, ngon lành lắm thay/ Cáo già nhè nhẹ lên cây/ Định rằng lấy được ăn ngay cho giòn/ Ong thấy cáo muốn cướp con/ Kéo nhau xúm lại vây tròn cáo ta/ Châm đầu, châm mắt cáo già/ Cáo già đau quá phải sa xuống rồi/ Ong kia yêu giống, yêu nòi/ Đồng tâm, hợp lực đuổi loài cáo đi”.

Và bài ngụ ngôn quy về một tư tưởng quan trọng “Bây giờ ta thử so bì/ Ong còn đoàn kết huống chi là người/ Nhật Tây áp bức giống nòi/ Ta nên đoàn kết để đòi tự do”.

Tư tưởng “đoàn kết-đại đoàn kết” có thể nói đã xuyên suốt trong rất nhiều bài báo Bác viết trên tờ “Việt Nam Độc lập” ngay trong lời tuyên ngôn đăng trên số đầu và được sắp đặt thành hình ảnh người chiến sĩ cách mạng thổi kèn kêu gọi dân chúng: “Việt Nam Độc lập thổi kèn loa/ Kêu gọi dân ta trẻ đến già/ Đoàn kết vững bền như khối sắt/ Để cùng nhau cứu nước Nam ta”.

sBáo Việt Nam Độc lập đưa tin phát xít Đức đã đầu hàng.

Trong bài ca “Phụ nữ”, Bác cũng kêu goi: “Chị em cả trẻ đến già/ Cùng nhau đoàn kết đặng mà đấu tranh… Làm cho thiên hạ biết tên/ Làm cho rõ mặt cháu Tiên, con Rồng” (1/9/1941). Còn trong bài thơ “Trẻ con”, tác giả cũng kêu gọi: “Vậy nên con trẻ nước ta/ Phải đoàn kết lại để mà đấu tranh/ Kẻ lớn cứu quốc đã đành/ Trẻ em cũng phải ra giành một vai…”.(21/9/1941)

Trong bài “Ca sợi chỉ”, từ hình tượng những sợi chỉ được kết dệt lại thành tấm vải bền chắc, Bác cũng đưa ra lời cổ vũ: “Hỡi ai con cháu Hồng Bàng/ Chúng ta phải biết kết đoàn mau mau” (1/4/1942). Với đề tài “Hòn đá”, bài thơ đăng trên Việt Nam Độc lập (21/4/1942) cũng được tác giả khái quát:“Biết đồng sức, Biết đồng lòng/ Việc gì khó/ Cũng làm xong/ Đánh Nhật, Pháp/ Giành tự do/ Là việc khó/ Là việc to/ Nếu chúng ta/ Biết đồng lòng/ Thì việc đó/ Quyết thành công”.  

X&N
bee.net.vn

“Làm cho dân chủ thắng lợi hoàn toàn”

 – Ngày 30/6/1947, Bác gửi điện chúc mừng tới Ban Chấp hành Đảng Dân chủ Việt Nam nhân kỷ niệm 3 năm thành lập.

Đảng Dân chủ Việt Nam thành lâp ngày 30/6/1944, với sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Đông Dương,  nhằm tập hợp giới trí thức và những người yêu nước tầng lớp hữu sản ra đời trong cao trào Cánh mạng tháng Tám có nhiều đảng viên cộng sản tham gia giúp đỡ và trở thành một lực lượng năng động của  Mặt trận Việt Minh trong Cách mạng Tháng Tám 1945.

sChủ tịch Hồ Chí Minh chụp với các nhân sĩ, trí thức trong QH khoá I 1946.

Bức điện chúc mừng của người đứng đầu Nhà nước và cuộc kháng chiến, cũng là người đứng đầu Đảng Cộng sản Đông Dương ghi nhận: “Trong thế giới dân chủ, trong Việt Nam dân chủ, Đảng Dân chủ có một nhiệm vụ quan trọng là làm cho dân chủ thắng lợi hoàn toàn… Với những người ái quốc và dân chủ không có đảng phái, phải lấy công tác thực tế về việc cứu quốc và kiến quốc mà thi đua. Mỗi đồng chí phải là người kiểu mẫu trong sự hy sinh phấn đấu cho Tổ quốc, cho đồng bào”.

Khi cuộc kháng chiến toàn quốc mới bùng nổ, xuân Đinh Hợi, ngày 8/1/1947, Bác đã có bài thơ mừng báo “Độc lập” là cơ quan ngôn luận của Đảng Dân chủ. Bài thơ có nhan đề “Thơ gửi tặng báo Độc lập nhân mùa Xuân kháng chiến đầu tiên”: “Năm mới thế cho năm đã cũ/ Báo Độc lập của Đảng Dân chủ/ Kêu gọi toàn thể dân Việt Nam/ Đoàn kết và thắt chặt hàng ngũ/ Kiên quyết kháng chiến đến kỳ cùng/ Để giữ chủ quyền và lãnh thổ/ Chờ ngày độc lập đã thành cồn/ Tết ấy tha hồ bàn với cỗ”.

Ngày 28/8/1947, trả lời phóng viên báo “Độc lập” của Đảng Dân chủ Việt Nam về việc mở rộng Chính phủ kháng chiến cũng như nhân sự của Chính phủ, Người đứng đầu nhà nước kháng chiến Việt Nam khẳng định: “Chính sách của Chính phủ trước sau vẫn là đại đoàn kết. Đối với các vị quan lại cũ cũng như đối với tất cả các giới đồng bào, những người có tài có đức thì Chính phủ đều hoan nghênh ra gánh việc nước. Thí dụ: Ngoài cụ Đặng Văn Hưởng ra, còn nhiều cụ khác nữa như cụ Phạm Gia Thuỵ, cựu tổng đốc, cụ Phan Kế Toại, khâm sai đại thần, cụ Phó bảng Bùi Kỷ… đều rất tận tuỵ giúp việc kháng chiến. Trước sự đại đoàn kết của Chính phủ và quốc dân đồng bào, mưu mô chia rẽ của thực dân phản động Pháp nhất định thất bại”.

… Đảng Dân chủ Việt Nam tồn tại đến tháng 10/1988 thì họp Đại hội kết thúc 44 năm hoạt động và “hoàn thành vai trò lịch sử”.

X&N

bee.net.vn

“Người lữ hành cô đơn”

– Ngày 29/6/1935, Trưởng phòng Đông Dương Vera Vassilieva gửi báo cáo đến Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản trình bày hoàn cảnh của Nguyễn Ái Quốc một năm sau khi thoát khỏi nhà tù của đế quốc Anh ở Hồng Kông.

Chân dung Bác

Chân dung Bác thời gian hoạt động ở Hồng Kông trước khi bị bắt

“Tháng 6/1934, Nguyễn Ái Quốc đến Moscow. Qua lời kể của đồng chí thì khó xác định được tại sao đồng chí lại dễ dàng ra khỏi nhà tù và thoát khỏi tay cảnh sát Pháp… Đồng chí nói rằng chuyến đi này được tiến hành nhờ sự giúp đỡ của Vaillant Couturier (một nhà lãnh đạo của Đảng Cộng sản Pháp) trong thời gian ở Trung Quốc. Tôi nghĩ rằng tất cả những việc này cần được kiểm chứng một cách thận trọng.

Khi đồng chí đến đây, chúng tôi đã chuyển đồng chí tới Trường Lenin tại Moscow, nơi đồng chí đang nghiên cứu… Nhiều lần đồng chí đề xuất với tôi xem xét vấn đề và thảo luận việc thành lâp mối liên lạc giữa các Đảng. Đồng chí kiên trì theo dõi những chuyến đi của học viên, họ đi đâu và với nhiệm vụ gì và rất đau khổ vì tại sao đồng chí không được tham gia vào việc này hay việc khác của công tác bí mật”.

Đây chính là thời kỳ Nguyễn Ái Quốc phải chịu một thử thách rất nặng nề và kéo dài để thể hiện tinh thần kiên định cách mạng ngay với các đồng chí của mình.

Là một chiến sĩ đấu tranh không mệt mỏi cho việc giải phóng các thuộc địa, trên diễn đàn Đảng Cộng sản Pháp cũng như Quốc tế Cộng sản, Bác đã có những phê phán rất gay gắt sự thiếu quan tâm đến vấn đề này của các tổ chức Đảng.

Những quan điểm của Nguyễn Ái Quốc cho rằng “Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn” hay trong các văn kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (2/1930), sau đó bị Quốc tế Cộng sản phê phán là hữu khuynh và nghị quyết của Hội nghị Trung ương tháng 10/1930 đã “thủ tiêu Chánh cương sách lược văn tắt” của Nguyễn Ái Quốc để “thực hành cho đúng án nghị quyết và thư chỉ thị của Quốc tế Cộng sản” được cụ thể hoá bằng việc đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương và đưa ra “Luận cương Trần Phú”…

Tất cả những diễn biến đó lại cộng thêm việc Nguyễn Ái Quốc bị thực dân Anh bắt ở Hồng Kông sau đó lại được thả, khiến cho sự tin cậy của Quốc tế Cộng sản đối với nhà cách mạng Việt Nam bị đặt dấu hỏi.

Trong suốt các năm từ 1934 đến 1938 hầu như ghi nhận đựoc rất ít những hoạt động của Nguyễn Ấi Quốc ở Liên Xô, và ngày 6/6/1938, người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam đã phải viết một bức thư trong đó nói rõ ràng: “Hôm nay là ngày kỷ niệm lần thứ bẩy việc tôi bị bắt ở Hồng Kông. Đó cũng là ngày mở đầu năm thứ 8 tình trạng không hoạt động của tôi… Điều tôi muốn đề nghị… là đừng để tôi sống quá lâu trong tình trạng không hoạt dộng và giống như là sống bên cạnh, ở bên ngoài của Đảng…”

Phải đến năm 1938, sau bức thư bí mật gởi qua Chu Ân Lai lúc này đang chữa bệnh ở Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc tiếp xúc được với Manuinski, Uỷ viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản và là người có nhiều cảm tình với người “đồng chí An Nam”, Nguyễn Ái Quốc mới kết thúc được “năm thứ tám trong tình trạng không hoạt động” của mình và được tạo điều kiện về nước hoạt động.

Ngày 30/9/1938, Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa, mới ra văn bản đồng ý cho “sinh viên số 19 (Lin, tức Nguyễn Ái Quốc) ra khỏi biên chế của Viện”, cũng có nghĩa là cho phép Bác trở về nước hoạt động. Đây chính là thời kỳ gian khó mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp định danh Bác là“người lữ hành cô đơn”.

Rời Moscow, Bác đi xe lửa xuyên Siberia đến Iếckut rồi băng qua sa mạc Gobi tìm đến vùng Tây An, rồi tiếp tục hoạt động ở Trung Quốc trước khi liên lạc được với các đồng chí ở trong nước, để tìm cơ hội về nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam (8/1941).

X&N
bee.net.vn

Bác Hồ và Tổng thống Indonesia

– Ngày 28/6/1959, trước cuộc mít tinh của 20 vạn đồng bào Thủ đô tại Quảng trường Ba Đình chào mừng Tổng thống Indonesia sang thăm Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ tình cảm của nhân dân Việt Nam đối với nhân dân Indonesia : “Nước xa mà lòng không xa/ Thật là bầu bạn, thật là anh em”.

Với người đứng đầu nhà nước Indonesia mà Bác thân mật gọi là “Anh cả Karno” Bác chia sẻ quan điểm : “Đoàn kết, đoàn kết lại đoàn kết / Khó khăn gì chúng ta cũng nhất định vượt được hết/ Kẻ thù nào chúng ta cũng đánh tan hết/ Thắng lợi to lớn gì chúng ta cũng tranh thủ được hết”.

Bác nhắc lại kỷ niệm: “Mùa Xuân năm nay, lúc Bác sang thăm Indonesia, chẳng những gia đình Tổng thống từ bác gái cho đến các cháu coi Bác như một người anh em trong nhà mà cả Chính phủ, Quốc hội và tất cả nhân dân Indonesia cũng không xem bác là người khách mà xem Bác là người anh em bạn hữu thân thiết của Indonesia.

Bác ở bên ấy mười ngày, đi tỉnh này qua tỉnh khác, hàng triệu nhân dân ra đón Bác, luôn luôn tỏ ra một tình thân rất nồng nhiệt. Tình ấy không chỉ tỏ cho Bác mà còn tỏ cho tất cả nhân dân Việt Nam…”.

 Tháng 6/1959, Bác hướng dẫn Tổng thống Sukarno thăm Bảo tàng Lịch sử QG.Tháng 6/1959, Bác hướng dẫn Tổng thống Sukarno thăm Bảo tàng Lịch sử QG.

Trong buổi tiệc chiêu đãi, tổ chức tối cùng ngày, đáp từ bài phát biểu của tổng thống Sukarno, Bác nói bằng văn vần : “Lặng nghe lời nói như ru/ Tình hữu nghị giữa hai dân tộc muôn thu vững bền/ Chúng ta cùng bước tiến lên/ Thống nhất và độc lập, chúng ta xây dựng cái nền vẻ vang… Lực lượng chủ nghĩa xã hội thì trưởng thành khắp nơi/ Chúng ta cùng nhau xây dựng cuộc đời/ Người người sung sướng, người người ấm no…”.

Ngày 29/6/1959, tiễn đưa Đoàn đại biểu Chính phủ Cộng hoà Indonesia do Tổng thống Sukarno dẫn dầu kết thúc chuyến thăm hữu nghị nước ta, tại sân bay Gia Lâm (Hà Nội) Chủ tịch Hồ Chí Minh quyến luyến đọc mấy vần thơ: “Nhớ nhung trong lúc chia tay/ Tấm lòng lưu luyến cùng bay theo Người/ Người về Tổ quốc xa khơi/ Chúc Người thắng lợi. Chúc Người bình an”.

Indonesia là một quốc gia Đông Nam Á có hoàn cảnh lịch sử giống nước ta. Là một thuộc địa của Hà Lan, tháng 8/1945, Indonesia giành được độc lập từ tay phát xít Nhật thành lập nhà nước Cộng hoà do ông Sukarno đứng đầu. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ và miền Bắc hoàn toàn giải phóng, một trong những quốc gia mà Bác đi thăm sớm nhất là Ấn Độ và Indonesia.

Ngày 26/2/1959, Bác và đoàn Đại biểu Chính phủ ta sang thăm Indonesia được Tổng thống Sukarno đón tiếp rất nồng hậu. Chuyến đi kết thúc vào ngày 11/3/1959.

Bốn tháng sau, ngày 24/6/1959. Tổng thống Sukarno sang thăm Việt Nam và cũng đuợc Bác và Nhà nước Việt Nam tiếp đón rất trọng thể và thân mật. Indonesia là một quốc gia đông dân, đóng vai trò to lớn trong cộng đồng các quốc gia không liên kết và luôn ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam. Nó giải thích sự thân tình vượt ra khỏi nghi thức ngoại giao mà Bác đã giành cho vị nguyên thủ nước bạn.

X&N
bee.net.vn

Bác Hồ và Quốc vương Campuchia

 “Được nhân dân kính mến, được bạn hữu khâm phục, được kẻ thù tôn trọng, Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật hoạt động chính trị và là lãnh tụ cao quý nhất của thế kỷ này… Trong thế giới tàn bạo này, Người đã đem lại cho chúng ta cũng như cho biết bao dân tộc khác những lý do để hy vọng” – Quốc trưởng Campuchia phát biểu trong lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngày 27/6/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện cảm ơn tới Thái tử Quốc truởng Campuchia Nôrôđôm Xihanuc (N.Sihanouk) bày tỏ “vô cùng cảm động về việc Ngài và nhân dân Khơme đã gửi tặng thuốc với một tấm lòng hào hiệp…

Cử chỉ cao cả đó là biểu hiện sự ủng hộ anh em của nhân dân Khơme đối với nhân dân Việt Nam… Như Ngài đã nói rất đúng: Nhiệm vụ của chúng ta đối với các thế hệ tương lai là phải cùng nhau củng cố cơ sở của sự hợp tác tin cậy và chân thành trong sự tôn trọng nền độc lập của nhau”.

Nôrôđôm Xihanuc vốn là Thái tử kế vị nhà vua Campuchia Nôrôđôm Xunamarit, năm 1960 mới được bầu làm Quốc trưởng. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp nhà nước ta chỉ có quan hệ với Lực lượng kháng chiến của Sơn Ngọc Minh.

aKhi Bác qua đời, tháng 9/1969, ông Nôrôđôm Xihanuc cùng phu nhân đã tới Hà Nội dự lễ tang.

Sau Hiệp định Giơnevơ (1954), Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tranh thủ mối quan hệ hữu nghị với Chính phủ Vương quốc Campuchia. Bác Hồ luôn bày tỏ sự tôn trọng nền độc lập, chủ quyền lãnh thổ và chính sách trung lập của  Thái tử Quốc trưởng Xihanuc và thường xuyên duy trì mối liên hệ.

Ngày 21/11/1956, lần đầu tiên, Bác gửi điện mừng tới Vua Nôrôđôm Xuramarit và Hoàng hậu Khơme và chúc nhân dân Khơme thu được nhiều thắng lợi mới trong sự nghiệp xây dựng đất nước Khơme, trong việc thực hiện chính sách hoà bình và trung lập, chúc tình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt Nam và Khơme ngày càng phát triển.

Ngày 21/6/1960, Bác gửi điện mừng Thái tử Nôrôđôm Xihanuc nhận chức Quốc trưởng Vương quốc Campuchia, trong đó: “Chúc nhân dân Khơme dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Thái tử Quốc trưởng thu được nhiều thắng lợi mới trong việc thực hiện chính sách hoà bình, trung lập, xây dựng đất nước Campuchia ngày thêm phồn vinh, góp phần vào việc củng cố hoà bình ở Đông Dương, Đông Nam Á và thế giới”.

Đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ở miền Nam xâm phạm chủ quyền Campuchia và đánh phá miền Bắc đã khiến Nôrôđôm Xihanuc đứng về phía cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam.

Năm 1965, theo sáng kiến của Xihanuc, Hội nghị Nhân dân Đông Dương được triệu tập. Ngày 6/3/1965 Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới Thái tử Xihanuc, Chủ tịch Hội nghị Nhân dân Đông Dương:“Tôi rất cảm kích được biết qua bức điện của Ngài rằng Thái tử Nôrôdôm Xihanuc, Quốc trưởng Vương quốc Campuchia đã kịch liệt lên án đế quốc Mỹ về hành động khiêu khích mới và hết sức nghiêm trọng của chúng tôi đối với nước VNDCCH và nhấn mạnh sự cần thiết đối với nhân dân các nước Đông Dương phải tăng cường đoàn kết hơn nữa trước nguy cơ mở rộng chiến tranh do đế quốc Mỹ gây nên” và cho rằng thái độ ấy “là bằng chứng tỏ rõ ý chí thống nhất của nhân dân ba nước chúng ta (gồm cả Lào) là kiên quyết đấu tranh chống sự xâm lược của đế quốc Mỹ và ra sức bảo vệ hoà bình, độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ” .

Sau đó Bác chủ động tạo mối liên hệ để tranh thủ sự ủng hộ của Nôrôđôm Xihanuc. Ngày  23/6/1967  trong điện mừng nhân dịp 2 nước đặt quan hệ ngoại giao cấp đại sứ, Bác đánh giá “Đây là một sự kiện lịch sử trong quan hệ giữa VN và Cămpuchia, một nhân tố tích cực trong việc gìn giữ hoà bình ở Đông Duơng và Đông Nam Á”.

Ngày 8/11/1968, chúc mừng nhân kỷ niệm lần thứ 15 Quốc khánh Campuchia, Bác “bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự ửng hộ anh em của Ngài, Chính pủ Vương quốc và nhân dân Khơme.

Chúng tôi khẳng định một lần nữa chính sách trước sau như một của Chính phủ nước VNDCCH là tôn trọng độc lập, chủ quyền, trung lập và toàn vẹn lãnh thổ Vương quốc Campuchia trong biên giới hiện tại.

Chúng tôi tin tưởng rằng ngày nay cũng như này mai,hai nước chúng ta mãi mãi vãn là những người bạn thân thiết… xây dựng mỗi nước theo con đưòng riêng của mình”.

Ngày 7/2/1969 gửi điện cảm ơn Quốc trưởng Nôrôđôm Xihanuc “đã ủng hộ hoàn toàn lập trường chính nghĩa của nhân dân Việt Nam tại Hội nghị bốn bên ở Pari về Việt Nam… Đó là sự cổ vũ to lớn đối với cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước của chúng tôi trong giai đoạn hiện nay, là biểu hiện rực rỡ của t ình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân hai nước chúng ta. Gửi lời chào anh em rất kính trọng”.

Đó cũng là văn kiện cuối cùng, Bác gửi Quốc trưởng Campuchia. Khi Bác qua đời, tháng 9/1969, ông Nôrôđôm Xihanuc cùng phu nhân đã tới Hà Nội dự lễ tang.

Tại đây, ông phát biểu: “Được nhân dân kính mến, được bạn hữu khâm phục, được kẻ thù tôn trọng, Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật hoạt động chính trị và là lãnh tụ cao quý nhất của thế kỷ này… Trong thế giới tàn bạo này, Người đã đem lại cho chúng ta cũng như cho biết bao dân tộc khác những lý do để hy vọng”.

X&N
bee.net.vn