“Ngày toàn thắng” trong ký ức một thầy giáo-chiến sỹ

QĐND Online – Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đã có một lớp người thuộc thế hệ thanh niên “gác bút nghiên lên đường” tòng quân giết giặc. Ông Nguyễn Văn Hồng (hiện công tác tại Phòng Giáo dục huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định) là một trong những người như vậy…

Tháng 5 năm 1971, ông nhập ngũ khi chỉ còn một tháng nữa là tốt nghiệp hệ 7 + 2 (Trung cấp Sư phạm tỉnh). Giờ đây, sau hơn 30 năm, trong ký ức của người thầy giáo – chiến sỹ ấy vẫn vẹn nguyên kỷ niệm khó phai về đồng chí, đồng đội và cả những ngày đầu tiếp quản Sài Gòn khi miền Nam vừa hoàn toàn giải phóng…

Khi tôi được đặc cách tốt nghiệp để nhập ngũ vào chiến trường, chính quyền, đoàn thể ở địa phương, rồi cả bà con hàng xóm cũng ít người biết. Hồi đó, họ nghĩ tôi được phân công công tác ở đâu đó chứ không phải đi bộ đội. Sau này, được nghe kể lại là sau khi tôi nhập ngũ, mọi người trong gia đình phải tới ủy ban xã để “thắc mắc” về các chế độ cho con em đi B, lúc ấy gia đình tôi mới được nhận “tiêu chuẩn” là 1kg thịt để liên hoan và hằng tháng được lĩnh khoản phụ cấp 5.000đồng.

Sau khóa huấn luyện tân binh, tôi nhận nhiệm vụ hành quân vào chiến trường, rồi được biên chế vào trung đội trinh sát pháo binh thuộc Trung đoàn 210 (Sư đoàn 7, Quân đoàn 4) với nhiệm vụ trinh sát, đo đạc, lấy phần tử bắn cho pháo.

Thầy giáo Nguyễn Văn Hồng-Cựu chiến binh Tiểu đoàn 22-Sư đoàn 7 (Quân đoàn 4)

Các năm từ 1972 đến 1975, tôi tham gia các trận đánh tại ấp Thái Hưng, giải phóng đường 14- Phước Long, giải phóng Đồng Xoài, rồi tham gia chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975…

Khó có thể diễn tả hết được sự khốc liệt của từng trận đánh và những khoảnh khắc, ranh giới mong manh giữa sự sống, cái chết; rồi sự hy sinh của đồng chí, đồng đội…

Ngay trong trận đánh, không ít lần tôi và đồng đội đã phải chôn cất sơ sài, đặt tạm những nắm cơm lên phần mộ các đồng đội phải vĩnh viễn nằm xuống giữa những cánh rừng.

Từ đó đến nay, vì nhiều lý do, cả tôi cũng như anh em tiểu đoàn 22 ngày ấy vẫn chưa có dịp tới để thắp cho đồng đội mình một nén nhang.

Có một kỷ niệm khó quên giữa tôi và chiến sỹ tên Tuyển (quê Hải Dương) sau lần bị lạc trong một cánh rừng ở Biên Hòa. Hồi ấy, tôi là trung đội trưởng nên được giao nhiệm vụ bí mật cùng chiến sỹ trong trung đội tới gần trận địa của địch để đo đạc, trinh sát địa bàn. Do trời tối, lại len lỏi trong rừng nên tới gần sáng, khi nghe tiếng địch rì rầm, thấy ánh sáng le lói ở phía trước, lúc ấy chúng tôi mới biết mình bị lạc đơn vị ít nhất hai cây số. Phỏng đoán khả năng sẽ bị địch bắt, tôi và Tuyển cùng dừng lại để xác định đường, nhưng quả thực rất khó vì trời tối. Thế là, hai anh em lôi trong ba lô ra một miếng cơm nắm đã khô cứng, cùng ngồi ăn và tâm sự bởi nghĩ rằng chúng tôi sắp phải chia tay nhau… Thật may, khi chúng tôi leo lên ngọn tre để cố xác định hướng thì phát hiện ra con đường mòn, hai anh em mừng quá… Khi trở về, cả đơn vị đã được lệnh chuẩn bị hành quân vì nghĩ rằng hai chúng tôi đã bị bắt và kế hoạch tác chiến bị lộ.

Ngày 30-4-1975, trong đội hình của sư đoàn 7 tiến về giải phóng Sài Gòn, tôi vẫn nhớ như in cảm giác vui sướng của quân và dân ta trong ngày toàn thắng. Lúc ấy, chúng tôi được lệnh tham gia làm nhiệm vụ quân quản thành phố. Ngoài việc tận dụng một số cơ sở quân sự địch vừa bỏ chạy, có đơn vị nghỉ tạm ở Thảo Cầm Viên, vườn cây, sảnh công sở. Một số chiến sỹ còn mắc võng, kê phản nằm. Chúng tôi vẫn nấu cơm bằng nồi quân dụng, chia canh trong xoong, thức ăn đựng trên đĩa hai ngăn, trong khi mũ, giày dép, quần áo của anh em thì hầu như vẫn còn thiếu.

Từ rừng về thành phố, đêm đầu tiên, ai cũng ngỡ như mình đang mơ. Tất cả đều nằm đấy mà không ai chợp mắt. Tất cả cùng hồi tưởng lại những năm tháng đã qua, nghĩ về những ngày tới, về gia đình và quê hương.

Trong ngày toàn thắng, đồng bào Sài Gòn cờ đỏ sao vàng, cờ giải phóng trên tay, họ hò reo vang dậy, rồi tung cả thuốc lá, bánh kẹo lên xe cho bộ đội. Đồng bào khóc. Bộ đội cũng khóc. Mừng quá mà khóc, vui quá, cảm động quá mà khóc. Đồng bào từ các ngõ phố đổ đến vây lấy những chiến sỹ xe tăng, những khẩu pháo, ôm ghì lấy chiến sỹ ta. Cả biển người, rừng cờ, hoa, đủ màu sắc, đủ các lứa tuổi, đủ các nét mặt. Còn chúng tôi thì mừng vui khôn xiết khi cán bộ, chiến sỹ của hai miền đất nước được gặp nhau ngay tại sào huyệt cuối cùng của địch trong ngày vui đại thắng.

Đất nước thống nhất, tôi xuất ngũ về địa phương và tiếp tục đứng trên bục giảng làm giáo viên trường làng. Một thời gian sau, tôi chuyển về công tác ở Phòng Giáo dục huyện Nam Trực.

Đã qua những tháng ngày quân ngũ, nhưng hằng năm, tôi và hơn 80 hội viên trong Ban liên lạc nhà giáo-chiến sỹ vẫn gặp mặt và cùng nhau ôn lại những kỷ niệm khó quên của những người thầy, người cô đã có những tháng năm làm chiến sỹ…

Bùi Vũ Minh (Ghi theo lời kể của Thầy giáo Nguyễn Văn Hồng)
qdnd.vn

Cội nguồn sức mạnh Việt Nam

Ngày toàn thắng 30 tháng 4 năm 1975 đã đi vào lịch sử. Đó là sự kết thúc, là dấu chấm hết của cuộc trường chinh mười nghìn ngày từ 1945 đến 1975 của nhân dân Việt Nam chiến đấu để giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Như vậy, trong thế kỷ XX, nhân dân Việt Nam đã làm nên câu chuyện thần kỳ tưởng như không thể làm nổi, đó là “một nước nhỏ mà đã đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ”. Đây là một huyền thoại, là Đa-vít bé nhỏ thắng Gô-li-át to lớn, là “châu chấu đá xe” trong câu ca dao cổ.

Xe tăng quân giải phóng trên đường phố Sài Gòn ngày 30-4-1975- Ảnh tư liệu

Vậy nhân dân Việt Nam tìm đâu ra sức mạnh để làm nên chuyện thần kỳ ấy? Cội nguồn sức mạnh Việt Nam là ở đâu?

Muốn giải đáp câu hỏi này, phải nhìn vào chiều sâu, bề dày lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Trải qua quá trình lịch sử ấy, dân tộc Việt Nam đã hun đúc nên một nền văn hóa dân tộc mà hạt nhân là chủ nghĩa yêu nước.

Chính nhờ sức mạnh của nền văn hóa ấy mà dưới ách đô hộ hơn một nghìn năm của phong kiến phương Bắc, dân tộc Việt Nam không hề bị đồng hóa.

Chính nhờ sức mạnh của nền văn hóa ấy mà trong một nghìn năm độc lập mở đầu bằng chiến công oanh liệt của người anh hùng dân tộc Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, dân tộc Việt Nam đã giữ vững nền độc lập suốt một nghìn năm, chỉ bị gián đoạn 20 năm do cuộc xâm lược của quân Minh.

Trong suốt kỷ nguyên một nghìn năm độc lập ấy, dân tộc Việt Nam đã phải bao phen chiến đấu để giữ vững nền độc lập đã giành được. Hết nhà Lý đánh giặc Tống, đến nhà Trần đánh giặc Nguyên Mông, đến Lê Lợi khởi nghĩa đuổi giặc Minh, rồi đến Quang Trung đuổi giặc Thanh. Đặc biệt trong thế kỷ XIII, dân tộc Việt Nam đã ba lần đánh thắng giặc Nguyên Mông là đội quân xâm lược mạnh nhất thế giới thời bấy giờ, đã từng chinh phục nhiều dân tộc từ Á sang Âu, từng xâm chiếm nước Trung Hoa to lớn, vậy mà ba lần đến xâm lược Việt Nam là ba lần thất bại.

Cội nguồn sức mạnh của dân tộc Việt Nam, trước hết là nền văn hóa dân tộc mà hạt nhân là chủ nghĩa yêu nước, là ý chí độc lập tự chủ. Lý Thường Kiệt đã có câu thơ:Nam quốc sơn hà, nam đế cư”, có thể coi đây là Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên. Bác Hồ đã ra Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 và Bác đã nêu cao chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Nhưng lịch sử đã chứng tỏ chỉ có lòng yêu nước, tuy rằng đó là rất căn bản, rất quan trọng, nhưng chưa đủ. Nhiều cuộc khởi nghĩa, nhiều cuộc chiến tranh ái quốc bị dìm trong biển máu.

Vậy dân tộc Việt Nam phải có một nguồn sức mạnh nào nữa để có thể đánh thắng kẻ thù xâm lược mạnh hơn mình gấp bội?

Nguồn sức mạnh ấy là nghệ thuật đánh giặc độc đáo, là học thuyết quân sự Việt Nam được hình thành từ Hịch tướng sĩ đến Bình Ngô đại cáo: “Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”, “lấy ít địch nhiều”, “lấy nhỏ thắng lớn”. Di sản quân sự quý báu này của ông cha ta để lại, đến thời đại Hồ Chí Minh thì được phát triển vượt bậc thành Học thuyết Quân sự Việt Nam trong thời đại mới.

Học thuyết ấy đã giải quyết thành công một vấn đề cốt lõi hầu như một nghịch lý là “nước nhỏ đánh thắng đế quốc to”, “lấy nhỏ thắng lớn”, “lấy yếu đánh mạnh”, “lấy ít địch nhiều”.

Xưa kia, ông cha ta chống kẻ thù xâm lược lớn mạnh nhưng cùng một phương thức sản xuất nông nghiệp. Còn thế kỷ XX, đế quốc Pháp, đế quốc Mỹ là những nước đế quốc có nền công nghiệp hiện đại, có quân đội được trang bị hiện đại bậc nhất.

Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đều là những cuộc chiến tranh không cân sức, bởi ta phải đối đầu với những tên đế quốc sừng sỏ và phần thắng đã thuộc về nhân dân ViệtNam. Nguyên nhân do đâu? Đó là do trong thời đại ngày nay, nhân dân Việt Nam có đường lối cách mạng, đường lối chính trị quân sự đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Trên cơ sở đường lối cách mạng của Đảng, chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam được phát huy mạnh mẽ đến mức cao nhất, trở thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Nghị lực sáng tạo, tài thao lược, trí tuệ Việt Nam, Học thuyết Quân sự Việt Nam được phát triển vượt bậc đưa đến những thắng lợi vẻ vang trong quá trình cách mạng từ khi có Đảng. Đó là Tổng khởi nghĩa tháng Tám, Điện Biên Phủ và mùa Xuân 1975 đại thắng.

Thiên anh hùng ca thắng Pháp, thắng Mỹ vang vọng mãi mãi trên non sông đất nước ta, vang vọng mãi mãi trong tâm hồn các thế hệ người Việt Nam, vang vọng mãi mãi trong tâm trí nhân loại tiến bộ trên thế giới.

Về những nhân tố tạo thành sức mạnh Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến thần thánh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từng nói:

“Nền văn hóa Việt Nam, đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng, học thuyết quân sự Việt Nam độc đáo, sáng tạo không ngừng phát triển là sức mạnh của Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh”(*)

Ngày nay, bước vào thế kỷ XXI, dưới ngọn cờ tất thắng của Đảng và Bác Hồ vĩ đại, phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước và trí tuệ Việt Nam, nhân dân ta nhất định sẽ lập được những thành tích mới trong công cuộc Đổi mới, đưa đất nước ta phát triển nhanh và bền vững, tiến lên sánh vai cùng các cường quốc năm châu như Bác Hồ hằng mong muốn, như trước đây trong thế kỷ XX từng là một nước thuộc địa trở thành một nước đi tiên phong trong phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.

Trung tướng HỒNG CƯ
qdnd.vn

—————-

(*) Đại tướng Võ Nguyên Giáp-Hồi ức Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng-NXB Chính trị Quốc gia-Hà Nội năm 2000 – trang363

CTĐ, CTCT trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 – Ý nghĩa lịch sử và hiện thực

Hội thảo khoa học

QĐND – Ngày 21-4, Học viện Chính trị tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề: “Phát huy vai trò CTĐ, CTCT trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 – Ý nghĩa lịch sử và hiện thực”. Gần 40 nhà khoa học, cán bộ lãnh đạo cấp cao trong và ngoài quân đội đã gửi tham luận và dự hội thảo.

Hội thảo là dịp để giới khoa học xã hội và nhân văn quân sự nhìn lại chặng đường và những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn 21 năm kiên trì đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược; khẳng định nền độc lập, dân chủ, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, đưa cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội; khẳng định những thành tựu, kinh nghiệm, triển vọng phát triển sau 35 năm xây dựng trong hòa bình; những đóng góp to lớn của nhân dân Việt Nam đối với sự nghiệp giải phóng các dân tộc bị áp bức và bảo vệ nền hòa bình thế giới.

Tham luận của các đại biểu dự hội thảo đã phân tích, làm rõ đặc điểm, vai trò hoạt động CTĐ, CTCT trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Trên cơ sở đó, rút ra những bài học kinh nghiệm về phát huy vai trò CTĐ, CTCT trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, vận dụng vào xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng chính ủy ở Học viện Chính trị hiện nay.

Hồng Hải
qdnd.vn

Sức mạnh bắt nguồn từ ngọn cờ chính nghĩa

Vận động ngoại giao đoàn kết quốc tế ủng hộ Việt Nam giai đoạn 1973-1975

Ngay sau khi Hiệp định Pa-ri có hiệu lực, Bộ Chính trị và Trung ương Đảng ta xác định đường lối, chủ trương đấu tranh cách mạng nước ta chuyển sang một giai đoạn mới – giai đoạn đấu tranh thi hành Hiệp định và tập trung giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Sát cánh cùng các quân binh chủng khác, từ đầu năm 1973 tới ngày chiến thắng 30-4-1975, ngoại giao Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đoàn kết quốc tế, vận động dư luận thế giới gây sức ép để ngụy quyền Sài Gòn phải nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Pa-ri; ngăn chặn Mỹ có thể dính líu, can thiệp trở lại miền Nam Việt Nam, chuẩn bị tốt dư luận cho các trận tổng công kích cuối cùng về quân sự, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Người Mỹ xuống đường biểu tình chống chiến tranh ở Việt Nam. Ảnh: i.realone.com

Thời cơ “đánh cho nguỵ nhào”

Bị thất bại nặng nề, đế quốc Mỹ buộc phải ký kết Hiệp định Pa-ri. Hai trong số nội dung cơ bản của Hiệp định rất có lợi cho ta là Mỹ chấm dứt chiến tranh và rút quân ở khỏi Việt Nam và Việt Nam vẫn giữ nguyên lực lượng chính trị và vũ trang ở miền Nam, trong đó không đề cập tới vấn đề quân đội miền Bắc… Như vậy, mục tiêu “đánh cho Mỹ cút” đã hoàn thành. Lúc này tình thế cách mạng đã mở ra một giai đoạn mới, so sánh lực lượng mới, rõ ràng ta đã mạnh hơn hẳn đối phương. Còn chính quyền ngụy ở Sài Gòn đã mất chỗ dựa, đang suy yếu, lún sâu vào khủng hoảng… Thời cơ lớn đã mở ra để “đánh cho ngụy nhào”, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Tuy nhiên, những năm 1973, 1974, chính quyền Ních-xơn đã tìm mọi cách để quốc hội chi thêm tiền cho ngụy quyền Sài Gòn tiếp tục cuộc chiến. Mỹ âm mưu sử dụng nguỵ quyền Sài Gòn làm công cụ thực hiện chủ nghĩa thực dân mới, tìm mọi cách xóa bỏ vùng giải phóng và lực lượng vũ trang nhân dân ta, xóa bỏ chính quyền nhân dân, biến miền Nam thành quốc gia riêng biệt thân Mỹ, được Mỹ viện trợ về quân sự, kinh tế, tài chính… Do vậy, nhiệm vụ cơ bản của ngoại giao là: Phối hợp với đấu tranh chính trị và quân sự, buộc các bên thi hành Hiệp định Pa-ri, chống sự dính líu và can thiệp của Mỹ, cô lập chính quyền Sài Gòn; tiếp tục vận động dư luận quốc tế ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc ta; tố cáo hành động vi phạm Hiệp định Pa-ri và tạo dư luận quốc tế về hành động phi nghĩa của Mỹ, đẩy lùi khả năng Mỹ ngăn ta giải phóng hoàn toàn miền Nam, kiên quyết đánh bại mọi âm mưu và hành động của địch phá hoại Hiệp định Pa-ri.

Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước nhớ lại: “Giai đoạn 1973-1975 công tác ngoại giao đã góp công lớn trong việc vận động thế giới ngăn chặn Mỹ có ý định quay trở lại ViệtNam. Nhiều cá nhân và tổ chức đã phối hợp với nhau vô cùng hiệu quả và chặt chẽ. Hoạt động ngoại giao đã hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động quân sự và ngược lại. Sau Hiệp định Pa-ri, cuộc đấu tranh ngoại giao của ta lên tới đỉnh điểm, vô cùng phong phú đa dạng…

Ông Lý Văn Sáu, khi đó là người phát ngôn của Đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cho biết: “Sau thời điểm ký kết Hiệp định Pa-ri, nhận rõ bước chuyển mới, nghị quyết của Đảng có nói rõ: Phong trào nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam là một trong những yếu tố quan trọng trong thắng lợi của dân tộc ta. Ngoài cuộc đấu tranh chính trị, quân sự trong nước, thì phong trào quốc tế đấu tranh phản đối sự can thiệp Mỹ và ủng hộ Việt Nam đã tạo thế và lực mới của Việt Nam cả trong và ngoài nước. Mình càng đánh, phong trào quốc tế ủng hộ càng lên. Trong nước đánh mạnh bao nhiêu, phong trào quốc tế lên cao bấy nhiêu…”.

Ông Lý Văn Sáu cho biết thêm, sau Hiệp định Pa-ri, tại Hội nghị hiệp thương hai bên miền Nam tại La Xen-lơ Xanh Clu (La Celle Saint Cloud) (Pa-ri), một lần nữa ta giành thế chủ động trong ngoại giao trước ngụy quyền Sài Gòn. Tại diễn đàn này, cuộc đấu tranh để tranh thủ dư luận diễn ra vô cùng kịch tính. Ngụy quyền Sài Gòn cũng chống phá quyết liệt. Để giành thắng lợi ngoại giao, những lý lẽ mà ta đưa ra phải chính xác, có sức thuyết phục để gây sức ép buộc chính quyền Nguyễn Văn Thiệu phải tôn trọng Hiệp định Pa-ri. Bằng sự chân thành, nghệ thuật ngoại giao khéo léo, đến cuối năm 1973, phái đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã chiếm trọn cảm tình quốc tế, giành phần thắng trên trận địa dư luận. Tháng Giêng năm 1974, Bộ Ngoại giao Việt Nam Dân chủ cộng hòa công bố Sách Trắng “Một năm thi hành Hiệp định Pa-ri”, tố cáo Mỹ – Thiệu vi phạm, phá hoại Hiệp định Pa-ri, nêu cao thiện chí và quyết tâm của nhân dân Việt Nam.

Nghệ thuật xây dựng đoàn kết quốc tế

Giành được chiến thắng và tranh thủ được sự vận động đã khó, nhưng làm thế nào duy trì được áp lực lên chính quyền Mỹ và tay sai, duy trì phong trào ủng hộ Việt Nam là vấn đề còn khó hơn rất nhiều. Sau Hiệp định Pa-ri, Mỹ đã rút hết quân, tù binh Mỹ cũng được trao trả dần dần, một bộ phận dư luận cho rằng Mỹ rút rồi, xung đột ở miền Nam Việt Nam chủ yếu là nội chiến giữa Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được miền Bắc ủng hộ với chính quyền Thiệu. Vì vậy, số người quan tâm tới Việt Nam đã giảm đi đáng kể. Nhà ngoại giao kỳ cựu Trần Quang Cơ, nguyên Thứ trưởng Ngoại giao nhấn mạnh: Khó khăn lâu dài là làm sao để tăng cường hậu phương quốc tế, mở rộng hậu phương của chúng ta, vì vậy công tác ngoại giao cần tiến hành một cách hết sức bài bản. Theo chủ trương của cấp trên, ta tập trung vào 3 nội dung chính về tuyền truyền quốc tế về Việt Nam: Một là nêu cao chính nghĩa. Hai là nêu rõ quyết tâm của ta. Ba là thiện chí hòa bình.

Nhà ngoại giao Lý Văn Sáu kể lại: “Đoàn chúng tôi bám trụ lại Pa-ri, như một địa chỉ để bạn bè quốc tế và giới truyền thông đến hỏi tình hình. Để làm tốt công tác tuyên truyền, Phòng thông tin của Chính phủ Cách mạng lâm thời của ta tại Pháp đã liên tục cho ra những bản tin về tình hình Việt Nam. Kết hợp hài hòa với các bộ phận truyền thông trong nước, kịp thời đưa những thông tin mới nhất, có lợi cho ta, để bạn bè quốc tế hiểu rõ về tình hình Việt Nam. Thông qua những người bạn và những cốt cán ở nước ngoài, ta duy trì cho được phong trào ủng hộ ViệtNam ở các nước như: Anh, Pháp, Mỹ… Ta đã vận động bà con Việt kiều ở các nước ủng hộ cuộc đấu tranh ở trong nước… Bằng kênh ngoại giao nhân dân, thông qua bè bạn trên thế giới, nhiều hình thức thông tin đã đến với dư luận quốc tế để họ hiểu và kịp thời ủng hộ mình”.

Đầu năm 1975, trong giai đoạn quyết định, ngoại giao càng khẳng định vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh thống nhất đất nước. Bà Nguyễn Thị Bình nhớ lại: “Khi chúng ta quyết định mở chiến dịch giải phóng miền Nam, Trung ương đã chỉ thị cho tôi ra nước ngoài thực hiện cuộc vận động quốc tế trên quy mô lớn, tranh thủ sự ủng hộ của dư luận quốc tế ngăn Mỹ đưa quân trở lại miền Nam. Đầu tháng Giêng năm 1975, tôi qua Pháp. Tới Pháp, gặp các bạn bè quốc tế, tôi cùng các đồng chí trong Đoàn đã thông báo tóm tắt tình hình tại Việt Nam, vạch rõ âm mưu của Mỹ có thể quay lại Việt Nam. Sau đó, Đoàn tới An-giê-ri và Tan-da-ni-a. Khi Đoàn đến Tan-da-ni-a thì đúng lúc tại đây đang có Hội nghị thống nhất châu Phi. Tôi cùng đồng chí Lê Mai, trên cương vị phiên dịch đã phải chờ hội nghị họp suốt đêm, không ăn, không uống và ngủ gật… chờ đến gần sáng. Khi Hội nghị về châu Phi kết thúc, tôi đã tranh thủ diễn đàn này thông báo vắn tắt tình hình Việt Nam, nhấn mạnh nếu Mỹ đưa quân trở lại Việt Nam tình hình sẽ rất phức tạp, vì vậy kêu gọi các nước ủng hộ Việt Nam, có hành động cụ thể phản đối Mỹ…”.

Trong giai đoạn này các nước XHCN tiếp tục dành cho Việt Nam sự ủng hộ vô cùng quý báu. Từ giúp đỡ vật chất, phương tiện kỹ thuật, vũ khí khí tài cho tới việc đấu tranh dư luận, lên án mạnh mẽ việc Mỹ dung túng chính quyền Sài Gòn.

Để đẩy mạnh hơn nữa phong trào ủng hộ Việt Nam của nhân dân thế giới, ngoài các đoàn ngoại giao, chúng ta còn nâng cấp các cơ quan đại diện mặt trận ở các nước lên cơ quan đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Mở thêm các cơ quan đại diện của mình, uy tín của Việt Nam ngày càng tăng. Các phái đoàn ngoại giao của chúng ta tiếp tục lên đường tới nhiều quốc gia khác nhau để vận động, như: Thụy Điển, Đức… và một số nước khác. Ngay trong lòng nước Mỹ, các tổ chức chống chiến tranh của thanh niên, phụ nữ, tôn giáo, trí thức… tham gia rất nhiệt tình.

Bà Nguyễn Thị Bình cho rằng, sở dĩ việc vận động của ta giành thắng lợi, ngoài nguyên nhân chủ quan, còn nguyên nhân khách quan khác là người dân và Quốc hội Mỹ đã không còn tin vào kế hoạch của Tổng thống Ních-xơn, coi cuộc chiến tại Việt Nam là một sai lầm. Thêm vào đó, chuyện chính quyền Sài Gòn đàn áp, khủng bố dân khiến người Mỹ càng thêm chán ghét cuộc chiến mà Mỹ đã can dự… Những yếu tố trên đã khiến dư luận Mỹ nói chung không ủng hộ Mỹ quay trở lại Việt Nam.

Trước đó, hàng vạn người Mỹ đã xuống đường biểu tình chống chiến tranh. Nhiều hình thức biểu tình làm xúc động lòng người đã xuất hiện. No-mân Mô-ri-sơn đã tự thiêu ngay dưới cửa sổ của phòng làm việc của Bộ trưởng Quốc phòng Mắc Na-ma-ra. Anh Rô-giơ La Poóc-tơ, đã tự thiêu trước trụ sở Liên hợp quốc. Chị Gian Kao-xki đã tự thiêu ở nhà mình… Nhiều trí thức đã đòi đình chỉ mọi viện trợ cho chính quyền Sài Gòn, kêu gọi thanh niên không đi lính, công nhân không tham gia sản xuất, không vận chuyển vũ khí sang Việt Nam, phong trào phản chiến tăng lên nhanh chóng trong các đơn vị vũ trang…

Chính thông qua những người Mỹ tiến bộ này, ta đã có những hình thức đấu tranh ngoại giao rất phong phú. Bà Bình nhớ lại: “Tôi có thể gọi điện thoại qua Mỹ thông báo tình hình cho các bạn Mỹ… Khi đó, chỉ cần một cuộc điện thoại được nối với loa phóng thanh, hàng nghìn, hàng chục nghìn người đã xuống đường. Khi ở Pháp tôi gọi điện tới Ca-na-đa, tiếp đó các bạn ở Ca-na-đa lại gọi sang Mỹ… cứ như vậy tin chiến thắng truyền đi rất nhanh. Có thể thấy chính nghĩa của ta đã nhận được sự ủng hộ rất mạnh mẽ của nhân dân thế giới, trong đó có nhân dân Mỹ…

Từ tình hình trên, Đảng ta đã khẳng định: ”… Mỹ không có khả năng quay trở lại vì Mỹ đã sa lầy ở Việt Nam, nay vừa rút ra được, nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới không muốn có Việt Nam thứ hai. Mỹ rút ra khỏi Việt Nam để bảo vệ lợi ích chiến lược Mỹ trên thế giới. Dù Mỹ có can thiệp trở lại trong chừng mực nào đó thì cũng không xoay chuyển được tình thế; ta vẫn thắng”.

Theo bà Nguyễn Thị Bình, một trong những nguyên nhân quan trọng mà chúng ta giành chiến thắng trong cuộc vận động ngoại giao, trước hết chúng ta có chính nghĩa. Ta chiến đấu vì độc lập tự do của mình và cuộc đấu tranh kiên cường của nhân dân ta được nhiều người rất khâm phục nên ủng hộ chúng ta. Phong trào đoàn kết với Việt Nam chống Mỹ xâm lược là một trong những phong trào rộng lớn nhất trong lịch sử. Nhà ngoại giao Trần Quang Cơ nhấn mạnh rằng, chính vì chúng ta giữ được ngọn cờ độc lập tự chủ, cho nên chúng ta mới xây dựng được phong trào đoàn kết quốc tế ủng hộ cho Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đây là điểm khó nhất, nhưng cũng là điểm tài tình nhất trong lãnh đạo của Đảng và sự sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thắng lợi trên mặt trận ngoại giao đã giúp các lực lượng của ta trên chiến trường toàn tâm, toàn ý dốc sức vào các chiến dịch lớn, có tính chất quyết định, giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam, thống nhất đất nước.

NGUYỄN HÒA – BẢO TRUNG
qdnd.vn

“Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa…”

Trong cuộc đời quân ngũ, tôi đã có những lần nhận lệnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp mà khi đọc lên, mệnh lệnh đó âm vang trong tâm hồn như một lời hịch của non sông đất nước. Đặc biệt phải kể tới là ngày 7-4-1975, trên đường hành quân tiến về Sài Gòn, tôi nhận được bức điện của Đại tướng Tổng tư lệnh với nội dung: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng phút, từng giờ, xốc tới miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng”. Mệnh lệnh nổi tiếng ấy như một lời hịch của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong chỉ đạo Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Bức điện của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi quân và dân miền Namngày 7 tháng 4 năm 1975. Ảnh tư liệu.

Là phái viên của Tổng cục Chính trị theo sát cánh quân Duyên Hải, tôi giúp đồng chí Lê Quang Hòa truyền đạt tức khắc mệnh lệnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến khắp các đơn vị thuộc cánh quân Duyên Hải. Cánh quân này do đồng chí Lê Trọng Tấn là Tư lệnh, đồng chí Lê Quang Hòa là Bí thư Ban cán sự Đảng lâm thời, mới thành lập, không nằm trong dự kiến từ trước gồm lực lượng Quân đoàn 2 vừa giải phóng Đà Nẵng, Sư đoàn 3 Sao Vàng thuộc Quân khu 5, các đơn vị pháo binh, cao xạ, xe tăng, công binh, có nhiệm vụ đánh địch trong hành tiến, khẩn trương hành quân để đến kịp thời gian cùng các đơn vị bạn tham gia giải phóng Sài Gòn. Thấm nhuần mệnh lệnh của Đại tướng, cánh quân Duyên Hải hồ hởi lên đường như được chắp cánh bay về Nam, bảo đảm tốc độ nhanh. Thế nhưng mới ra khỏi Đà Nẵng chúng tôi đã gặp trở ngại đầu tiên, cầu Câu Lâu bắc qua sông Thu Bồn bị địch phá sập 2 nhịp, bộ đội công binh khắc phục bắc cầu tạm cho các đơn vị nhẹ đi trước và triển khai một bến phà quân sự để chở các loại xe trọng tải lớn. Cứ như vậy thì quá chậm. Một người dân vùng mới giải phóng cho biết, phía thượng lưu cách cầu Câu Lâu khoảng hơn 10km, có một cây cầu, thế là cả đoàn xe tăng rầm rập cơ động dọc theo bờ sông Thu Bồn cố gắng bù lại thời gian đã mất…

Ngày 10-4, đến Phan Rang thì cánh quân gặp tuyến phòng thủ từ xa của địch. Chúng tôi còn cách Sài Gòn 350km. Tại đây có hai hải cảng Tân Thành và Ninh Chữ, có sân bay Thành Sơn với lực lượng bộ binh và một sư đoàn không quân ngụy. Sáng 14-4, quân ta nổ súng đánh Phan Rang, quân địch được phi pháo yểm hộ, đưa vào hệ thống công sự và địa hình có lợi, ngoan cố chống cự. Sáng 16-4, Tư lệnh Quân đoàn 2 Nguyễn Hữu An tổ chức một đội hình thọc sâu gồm xe tăng, thiết giáp đánh thẳng theo đường số 1, chiếm thị xã Phan Rang, chiếm hai cảng Tân Thành và Ninh Chữ, đồng thời theo đường 11 đánh ngược lên phía Tây Bắc, vu hồi vào sườn phía tây của địch, chiếm sân bay Thành Sơn, thu 40 máy bay còn nguyên vẹn. Tối 16-4, tôi và đồng chí Đào Huy Vũ, Tư lệnh Bộ đội Tăng-Thiết giáp, phái viên của Bộ, có mặt ở sân bay Thành Sơn lúc quân ta bắt sống viên Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi và viên Chuẩn tướng không quân Phạm Ngọc Sang. Thừa thắng, bộ binh và xe tăng của Quân đoàn 2 tiến đánh thị xã Phan Thiết. Sáng 20-4, chúng tôi đến Xuân Lộc. Anh Lê Trọng Tấn và anh Lê Quang Hòa nhanh chóng bắt liên lạc với Bộ chỉ huy Mặt trận Sài Gòn. Cánh quân Duyên Hải trở thành cánh quân phía Đông trực thuộc Bộ chỉ huy Mặt trận Sài Gòn.

Cuộc tiến công thần tốc của cánh quân Duyên Hải với hơn 32.000 quân và 2.276 xe pháo, tăng – thiết giáp qua một chặng đường gần một nghìn ki-lô-mét, đánh địch mà đi là một đòn chiến lược sáng tạo, kịp thời, đánh thông tuyến đường số 1 từ Bắc vào Nam đến tận cửa ngõ phía Đông Sài Gòn, kịp thời tăng thêm lực lượng cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng.

Quân Giải phóng vượt sông Vàm Cỏ Đông tiến về Sài Gòn. Ảnh tư liệu

Đến Xuân Lộc, tôi được biết là từ ngày 9-4, Quân đoàn 4 do đồng chí Hoàng Cầm là Tư lệnh, đồng chí Hoàng Thế Thiện là Chính ủy, đã mở cuộc tiến công vào “cánh cửa thép” trên tuyến phòng ngự phía Đông của địch ở Sài Gòn. Nơi đây địch bố trí một lực lượng khá mạnh gồm Sư đoàn 18 ngụy và một số đơn vị bảo an, cảnh sát, phòng ngự trong công sự kiên cố. Lê Minh Đảo – Sư đoàn trưởng ngụy hò hét binh lính “tử thủ”. Trận đánh đã diễn ra phức tạp. Địch tăng viện thêm quân và dùng đến cả loại bom CBU có sức mạnh sát thương, hủy diệt lớn. Anh Lê Trọng Tấn quyết định tăng cường cho Quân đoàn 4, Trung đoàn 95B (Sư đoàn 325) và pháo đạn để đánh dứt điểm Xuân Lộc. Ngày 20-4, địch rút chạy khỏi Xuân Lộc. “Cánh cửa thép” phía Đông Sài Gòn đã bị mở toang.

Anh Lê Quang Hòa về Bộ chỉ huy Chiến dịch Sài Gòn – Gia Định. Qua anh tôi biết: Bộ Chính trị đã thành lập Bộ chỉ huy chiến dịch. Anh Văn Tiến Dũng là Tư lệnh, anh Phạm Hùng là Chính ủy, các anh Trần Văn Trà, Lê Trọng Tấn, Lê Đức Anh, Đinh Đức Thiện là Phó tư lệnh, anh Lê Quang Hòa là Phó chính ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị, anh Lê Ngọc Hiền là quyền Tham mưu trưởng. Thể theo đề nghị của Bộ chỉ huy Chiến dịch, Bộ Chính trị đã đồng ý đặt tên Chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định là Chiến dịch Hồ Chí Minh. Được phổ biến điều này, tất cả chúng tôi cũng như các đơn vị tham gia chiến dịch đều cảm thấy vinh dự được tham gia trận quyết chiến chiến lược cuối cùng mang tên vị lãnh tụ vô vàn kính yêu của dân tộc Việt Nam.

Hạ tuần tháng 4-1975, các lực lượng lớn của quân ta tham gia chiến dịch đã vào vị trí triển khai. Ở hướng Bắc, Quân đoàn 1 từ miền Bắc vào đã có mặt tại khu vực nam sông Bé. Ở hướng Tây Bắc, Quân đoàn 3 gồm các lực lượng ở Tây Nguyên (Sư đoàn 320, 316…) đã đến Dầu Tiếng. Ở hướng Tây và Nam, Đoàn 232 tương đương một quân đoàn do đồng chí Lê Đức Anh, Phó tư lệnh Bộ chỉ huy Chiến dịch trực tiếp chỉ huy đã áp sát đường số 4, Mỹ Tho. Ở hướng Đông, Quân đoàn 4 sau khi giải phóng Xuân Lộc áp sát Trảng Bom. Quân đoàn 2, Sư đoàn 3 đã áp sát Long Thành, Vũng Tàu, Nước Trong, Bà Rịa. Đồng chí Lê Trọng Tấn, Tư lệnh cánh quân Duyên hải nay là Phó tư lệnh Chiến dịch chỉ huy hướng này. Tại Sài Gòn, các lực lượng biệt động, đặc công, các lực lượng của Thành đội Sài Gòn đã đứng sẵn ở vùng ven và nội đô, chuẩn bị phát động quần chúng nổi dậy khi chủ lực tiến công. Đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phó bí thư Trung ương Cục và đồng chí Võ Văn Kiệt, Ủy viên Thường vụ Trung ương Cục đặc trách phong trào nổi dậy của quần chúng.

Thế trận đã bày xong. Năm mục tiêu quan trọng đã được xác định gồm: Dinh Tổng thống ngụy quyền, Bộ Tổng tham mưu quân ngụy, Sân bay Tân Sơn Nhất, Biệt khu Thủ đô và Tổng nha cảnh sát.

Giờ phút quyết định đã điểm. Tôi đi theo cánh quân hướng Đông do đồng chí Lê Trọng Tấn chỉ huy. Cánh quân này tiến công căn cứ Nước Trong, Chi khu quân sự Long Thành và thị xã Bà Rịa. Ở Nước Trong, địch dùng máy bay bắn phá và phản kích suốt cả ngày. Sư đoàn 304 mở nhiều đợt tấn công nhưng chưa dứt điểm được. Anh Lê Trọng Tấn đôn đốc việc đánh chiếm căn cứ Nước Trong và nhất là việc triển khai trận địa pháo tầm xa ở Nhơn Trạch để bắn vào căn cứ không quân Tân Sơn Nhất. Tối 28-4, tôi nghe đài phương Tây đưa tin: “Hồi 16 giờ 40 phút chiều, 5 chiếc máy bay A37 do Mỹ chế tạo đã giội bom xuống sân bay Tân Sơn Nhất”. Đó là Phi đội Quyết thắng do phi công Nguyễn Thành Trung người của ta hoạt động trong hàng ngũ địch, trước đó đã ném bom dinh Tổng thống ngụy quyền và bay ra vùng giải phóng, nay huấn luyện các phi công ta sử dụng máy bay A37 của Mỹ ném bom vào sân bay Tân Sơn Nhất. Cuộc ném bom bất ngờ của Không quân Việt Nam đạt hiệu quả lớn về phá hủy máy bay và sân bay địch, nhưng hiệu quả tâm lý đối với quân ngụy còn lớn hơn nhiều.

Theo kế hoạch của Bộ chỉ huy Chiến dịch, 5 giờ 30 phút sáng 30-4, các hướng đồng loạt đánh vào Sài Gòn. Riêng cánh quân phía Đông, đồng chí Lê Trọng Tấn đề nghị cho nổ súng sớm từ 18 giờ ngày 29-4. Lý do là cánh quân phía Đông phải vượt sông Đồng Nai và sông Sài Gòn, nếu cùng nổ súng sẽ đến không kịp. Bộ Tổng tư lệnh và Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh đồng ý để cánh quân phía Đông nổ súng sớm hơn kế hoạch. Như vậy, trên thực tế, từ 18 giờ ngày 29-4-1975, trận tiến công Sài Gòn, Gia Định đã bắt đầu.

Sáng 30-4, binh đoàn thọc sâu của Quân đoàn 2 trong cánh quân phía Đông do đồng chí Lê Trọng Tấn chỉ huy vượt cầu xa lộ trên sông Đồng Nai, diệt ổ đề kháng của địch ở Thủ Đức phía bắc cầu Rạch Chiếc. Trận địa pháo tầm xa của ta đặt ở Nhơn Trạch đã bắn mấy trăm quả đạn vào sân bay Tân Sơn Nhất. Lữ đoàn xe tăng 203 của Quân đoàn 2 qua cầu Sài Gòn đến ngã tư thứ bảy thì rẽ trái đánh thẳng vào Dinh Độc Lập. Chiếc xe tăng 843 dẫn đầu đến cổng dinh thì dừng lại, xe tăng 390 vượt lên húc đổ cổng dinh. Đại đội trưởng Đại đội 4 xe tăng cầm cờ Giải phóng trèo lên cắm trên nóc Dinh Độc Lập lúc 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4… Cho đến nay, 35 năm đã trôi qua, tôi không thể nào quên cảm giác đã đến với mình trong ngày lịch sử ấy khi tôi bước vào thảm cỏ khoảng sân trước Dinh Độc Lập. Vui mừng khôn xiết nhưng bỗng dưng hai mắt nhòa ngấn lệ.

Trung tướng Phạm Hồng Cư
qdnd.vn

Thế trận lòng dân-cội nguồn mọi thắng lợi

Ký ức và hiện tại

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là chiến thắng oanh liệt và vĩ đại nhất, mang ý nghĩa lịch sử to lớn, đánh dấu kết thúc 30 năm chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc, thu giang sơn về một dải, Bắc- Nam sum họp một nhà. Năm tháng trôi qua, nhưng tiếng vang của Đại thắng mùa Xuân 1975 vẫn còn nguyên giá trị lịch sử và hiện thực về tài nghệ chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta và sự vận dụng phương châm: “Hai chân, ba mũi, ba vùng” sáng tạo, phù hợp với tính chất, đặc điểm chiến tranh và điều kiện thực tiễn Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Thắng lợi của Đại thắng mùa Xuân 1975 là thắng lợi bằng sức mạnh tổng hợp, cả sức mạnh dân tộc, sức mạnh thời đại, sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần. Trong đó, sức mạnh chính trị-tinh thần có vị trí, vai trò quan trọng, góp phần cùng với sức mạnh đấu tranh quân sự, đấu tranh ngoại giao: “đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào” làm nên Đại thắng mùa Xuân lịch sử có tính thời đại sâu sắc.

Để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, từ tháng 5 đến tháng 7-1973, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã tổ chức các hội nghị phân tích, đánh giá tình hình một cách toàn diện về mọi mặt. Đánh giá đúng âm mưu, thủ đoạn của Mỹ và tay sai, ra nghị quyết lãnh đạo nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. Đảng ta khẳng định: Con đường giành thắng lợi của cách mạng miền Nam là bằng bạo lực; do đó phải nắm vững chiến lược tiến công, kiên quyết đấu tranh trên ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao tiến lên giành toàn thắng. Sau khi có nghị quyết lãnh đạo của Đảng, Bộ Tổng tư lệnh và cơ quan Bộ Tổng tham mưu từng bước tiến hành điều chỉnh bổ sung vào kế hoạch tác chiến chiến lược giải phóng miền Nam. Qua nhiều lần điều chỉnh bổ sung, từ ngày 18-12-1974 đến ngày 8-1-1975, Bộ Chính trị đã họp và hạ quyết tâm chiến lược lịch sử: “Giải phóng miền Nam trong 2 năm (1975-1976) và nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975, thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975”.

Xe tăng quân giải phóng húc đổ cổng Dinh Độc Lập ngày 30-4-1975. Ảnh minh hoạ. Internet

Khi quyết định chọn Tây Nguyên là hướng tiến công chủ yếu, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đã nghiên cứu đánh giá sát tình hình thực tiễn, để bảo đảm cho đánh thắng trận đầu, tạo thế, tạo lực cho các trận đánh tiếp sau, cùng với đòn tiến công quân sự, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương còn xác định rõ 5 nhiệm vụ cụ thể, trong đó có nhiệm vụ: “Phát triển đấu tranh chính trị trong các thị xã. Ra sức xây dựng cơ sở tự vệ mật, các tổ chức biệt động diệt ác ôn đầu sỏ, tạo thế làm chủ cơ sở”. Thực tiễn cho thấy bước vào Chiến dịch Tây Nguyên, mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, lực lượng quần chúng đấu tranh chính trị, dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng, chính quyền cơ sở đã chủ động phối kết hợp với du kích và bộ đội địa phương trong khu vực tác chiến phá cầu, phá đường, ngăn chặn làm chậm tốc độ hành quân của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ đội chủ lực tiến công tiêu diệt. Được sự hỗ trợ đắc lực của các đòn tiến công quân sự, lực lượng quần chúng nhân dân các tỉnh: Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà đã nắm thời cơ nổi dậy giành chính quyền một cách nhanh chóng. Chiến công nối tiếp chiến công, phong trào nổi dậy của quần chúng ngày càng phát triển mạnh mẽ và có hiệu quả. Vì vậy, trong chiến dịch tiến công Huế-Đà Nẵng, khi các đơn vị chủ lực của ta ở phía tây thành phố Huế vây ép quân địch, thì lực lượng quần chúng nhân dân của 33 xã thuộc 8 huyện đồng bằng đã đồng loạt nổi dậy chiếm quận lỵ Mai Lĩnh và làm chủ hơn 30 phân, chi khu quân sự của địch. Cùng với thời điểm trên, nhân dân 2 huyện Phong Điền, Quảng Điền được sự hỗ trợ của bộ đội chủ lực đã nổi dậy giành chính quyền làm chủ một vùng rộng lớn bao quanh thành phố Huế, tạo ra thế và lực mới để Quân đoàn 2 tiến đánh giải phóng thành phố Huế vào ngày 26-3. Nhân dân các tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Nam, Quảng Đà cũng liên tục nổi dậy, đánh phá kho tàng, cắt phá giao thông, phá hủy phương tiện chiến tranh của địch, tạo điều kiện cho tiến công quân sự lần lượt giải phóng Tam Kỳ, thị xã Quảng Ngãi, cô lập và giải phóng thành phố Đà Nẵng.

Chiến dịch Hồ Chí Minh, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng. Khi chiến dịch mở màn, quần chúng Sài Gòn-Gia Định đã nổi dậy như vũ bão ở khắp các khu vực nội, ngoại thành, trong đó có 76 khu vực nội thành, 31 khu vực ngoại thành. Đặc biệt là từ ngày 29 đến rạng ngày 30-4 đã có tới 32 khu vực nổi dậy trong lúc bộ đội chủ lực của ta chưa tiến vào. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, riêng quân dân Sài Gòn-Gia Định đã chiếm 9 căn cứ quân sự, 5 chi khu, 21 phân chi khu và trụ sở tề, diệt và làm tan rã 31.000 tên địch, bắt sống 12.619 tù binh và gần như toàn bộ hồ sơ, tài liệu của các cơ quan từ Phủ Tổng thống trở xuống. Có 40 vạn nguỵ quân, 10 vạn an ninh cảnh sát lần lượt ra trình diện. Nhờ có lực lực lượng đấu tranh chính trị và quần chúng nhân dân bảo vệ nên thành phố Sài Gòn-Gia Định gần như còn nguyên vẹn và hơn 3 triệu dân vẫn an toàn, hân hoan cờ hoa đón chào chiến thắng.

35 năm sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước ta đang trên đà đổi mới, phát triển mạnh mẽ và từng bước khẳng định vị thế trên trường quốc tế. Tuy nhiên, trong bối cảnh thế giới đầy biến động và phức tạp, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang ra sức thực hiện chiến lược “Diến biến hoà bình” bạo loạn lật đổ và tập trung đánh đòn chủ yếu trên mặt trận chính trị, tư tưởng. Do vậy, đòi hỏi chúng ta phải củng cố, tổ chức xây dựng lực lượng và “thế trận lòng dân” thật vững chắc ngay từ thời bình, trên cơ sở bài học quý báu đấu tranh chính trị và nổi dậy của quần chúng nhân dân trong Đại thắng mùa Xuân 1975.

Về thực chất xây dựng “thế trận lòng dân” là xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần của nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, nó biểu hiện trên các lĩnh vực: Hệ tư tưởng chính trị, hệ thống chính sách đối nội, đối ngoại của quốc gia, trình độ nhận thức, lòng tin của nhân dân đối với quốc gia và chế độ chính trị xã hội, ý chí quyết tâm, trạng thái tâm lý của các thành viên trong xã hội trước những nhiệm vụ đặt ra đối với họ. Với vị trí, ý nghĩa đó chúng ta phải xây dựng cho được niềm tin của nhân dân đối với Đảng, đối với Nhà nước và chế độ XHCN, xây dựng lực lượng quần chúng nhân dân thực sự là tiền đồ của đất nước. Cách mạng là việc chung của cả dân tộc, nước lấy dân làm gốc, dân làm chủ, lực lượng bao nhiêu là ở dân hết, có dân là có tất cả. Nhưng phải đoàn kết, đồng lòng, muôn người như một, quân tốt, dân tốt muôn sự đều nên, dân có vững, đất nước mới phát triển đi lên. Từ ý nghĩa đó, vấn đề xây dựng “thế trận lòng dân” nhìn từ thực tiễn vai trò nổi dậy của quần chúng trong Đại thắng mùa Xuân 1975 vẫn còn nguyên giá trị lịch sử và hiện thực.

Đại tá Đoàn Xuân Tuyến
qdnd.vn

Miền Bắc dốc sức chi viện miền Nam kết thúc kháng chiến chống Mỹ

Ký ức và hiện tại

Sau Hiệp định Pa-ri được ký kết (27-1-1973), cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới: Miền Bắc tiến hành hàn gắn vết thương do chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ để lại và thực hiện khôi phục, phát triển kinh tế trong 3 năm 1973-1975; miền Nam tiếp tục đấu tranh buộc địch thi hành Hiệp định. Từ tình hình thực tiễn cách mạng miền Nam, Đảng ta khẳng định: Nếu địch không thi hành Hiệp định Pa-ri, tiếp tục chính sách thực dân mới thì ta không có con đường nào khác là phải tiến hành chiến tranh cách mạng, dùng bạo lực vũ trang để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Yêu cầu cấp thiết đặt ra cho miền Nam lúc này là phải tăng cường sức mạnh mọi mặt, mà trước hết là nhanh chóng bổ sung và tăng cường lực lượng của cả ba thứ quân. Thực tế đó đòi hỏi miền Bắc phải dốc sức chi viện cho miền Nam.

Nhờ sự nỗ lực hàn gắn vết thương chiến tranh và phát triển kinh tế – xã hội của nhân dân nên kinh tế miền Bắc nhanh chóng khôi phục và phát triển, đời sống nhân dân miền Bắc được cải thiện và có điều kiện bảo đảm yêu cầu chi viện cho miền Nam để kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ. Trong những năm 1973-1975, gần 50 vạn thanh niên miền Bắc nhập ngũ lên đường ra mặt trận. Sự tăng viện này có ý nghĩa rất lớn cho việc củng cố, phát triển khối quân chủ lực ở miền Nam. Đến cuối năm 1974, trên chiến trường miền Nam chúng ta đã có 113 trung đoàn bộ binh, 5 trung đoàn tăng – thiết giáp với 700 xe các loại, 1.300 khẩu pháo cao xạ… Thực hiện chủ trương của Đảng, để tăng cường sức mạnh chiến đấu cho quân đội đáp ứng yêu cầu kết thúc chiến tranh, từ tháng 10-1973 đến đầu năm 1975, ta đã thành lập 4 quân đoàn chủ lực. Đồng thời Đảng và Nhà nước cũng chú trọng xây dựng các sư đoàn, trung đoàn chủ lực cơ động trực thuộc các quân khu mà cán bộ, chiến sĩ của những đơn vị này chủ yếu là đưa từ miền Bắc vào.

Thanh niên miền Bắc hăng hái lên đường vào chiến trường miền Nam.

Nhằm tăng cường sức cơ động của quân đội và khả năng chi viện vật chất kịp thời cho miền Nam, Hội đồng Chính phủ đã phê chuẩn kế hoạch xây dựng hệ thống đường Đông Trường Sơn và nâng cấp đường Tây Trường Sơn. Hơn 3 vạn cán bộ, chiến sĩ, công nhân, thanh niên xung phong từ miền Bắc đã được điều động vào Trường Sơn cùng tham gia nâng cấp và mở đường với cán bộ, chiến sĩ Đoàn 559. Vượt qua khó khăn ác liệt đến đầu năm 1975, ta đã mở được 1.200km đường từ Đông Trường Sơn vào tới Lộc Ninh và 1.240km đường được nâng cấp ở Tây Trường Sơn. Hệ thống đường ống xăng dầu mới được xây dựng dài 1.311 km nối liền với hệ thống của cả nước, bao gồm 113 trạm bơm, 46 kho dự trữ với hệ thống bể chứa khoảng 327.800m3. Ngày 17-1-1975, xăng dầu vận hành bằng đường ống đã vào tới Đông Nam Bộ. Nhờ hệ thống đường được mở rộng và khả năng cung cấp xăng dầu nên việc vận chuyển, cơ động chiến lược của ta từ miền Bắc vào miền Nam nhanh và nhiều hơn so với những năm trước.

Trước tình hình phát triển thuận lợi của cách mạng miền Nam, Hội nghị Bộ Chính trị tháng 10-1974 và tháng 1-1975 đã chỉ rõ thời cơ lịch sử đang đến gần và hạ quyết tâm chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam. Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương quyết định trong năm 1975, miền Bắc cung cấp cho miền Nam 560.000 tấn vật chất, trong đó tăng cường chi viện cho Nam Bộ gấp 4 lần, Khu V gấp 2 lần và tăng cường dự trữ gấp 4 lần so với năm trước. Bằng sự cố gắng lớn của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta nên chỉ trong tháng 1 và tháng 2 năm 1975, miền Bắc đã huy động được 57.000 chiến sĩ; 260.000 tấn vật chất, trong đó có 46.000 tấn vũ khí, đạn dược; 124.000 tấn gạo; 32.000 tấn xăng dầu. Đến tháng 4 năm 1975, miền Bắc đã chuyển giao khối lượng vật chất cho các chiến trường đạt 119% kế hoạch.

Để huy động sức người, sức của cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, Bộ Chính trị thành lập Hội đồng Chi viện chiến trường. Thực hiện phương châm “thần tốc, quyết thắng”, hậu phương miền Bắc đã chuyển nhanh một khối lượng vật chất hết sức to lớn, đưa tổng số vật chất kỹ thuật đã dự trữ ở chiến trường lên gần 255.000 tấn, trong đó có 93.540 tấn xăng dầu, 103.455 tấn vũ khí. Để phục vụ cho Chiến dịch Tây Nguyên vào đầu tháng 3-1975, ta đã dự trữ ở đây gần 54.000 tấn vật chất, trong đó có 7.286 tấn gạo đủ bảo đảm cho lực lượng vũ trang hoạt động dài ngày. Đặc biệt trong chiến dịch Hồ Chí Minh, ta đã sử dụng lực lượng 5 quân đoàn binh chủng hợp thành gồm nhiều đơn vị được cơ động thần tốc từ miền Bắc vào cùng với lực lượng vũ trang Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ và thành phố Sài Gòn với 270.000 người, lực lượng phục vụ hậu cần chiến dịch lên tới 180.000 người. Nhờ sức mạnh áp đảo, ta đã nhanh chóng đè bẹp bộ máy ngụy quyền, ngụyquân của địch từ trung ương đến cơ sở, giải phóng hoàn toàn miền Nam kết thúc sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước. Trong thắng lợi chung đó, hậu phương lớn miền Bắc đóng vai trò hết sức quan trọng.

Ngày ấy cách đây đã 35 năm nhưng nhìn lại những sự kiện đã qua để suy nghĩ về việc huy động sức người, sức của cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc cả hiện tại và tương lai là việc rất hệ trọng. Trong con mắt của Mỹ – ngụy, vai trò của hậu phương miền Bắc có thể chỉ đơn giản là nơi cung cấp cơ sở vật chất, vũ khí đạn dược cho chiến trường. Nhưng với Đảng, nhân dân và quân đội Việt Nam thì ngoài vai trò nguồn cung cấp sức người, sức của cho tiền tuyến, căn cứ hậu phương miền Bắc còn là chỗ dựa tinh thần, còn là nơi tạo ra thế và lực để phát huy sức mạnh tổng hợp giành chiến thắng. Một câu hỏi đặt ra là trong điều kiện miền Bắc kinh tế còn nghèo, lại vừa phải đương đầu với 2 cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của giặc Mỹ làm sao có thể khôi phục nhanh và huy động được một khối lượng vật chất khổng lồ đến thế? Không gì khác chính sức mạnh yếu tố chính trị, tinh thần là động lực thôi thúc chúng ta làm nên những điều kỳ diệu ấy. Thời đại ngày nay đã khác xa cách đây 35 năm nhưng những bài học về phát huy nhân tố chính trị, tinh thần để dốc sức chi viện cho tiền tuyến trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vẫn còn nguyên tính thời sự.

Đại tá, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Tú
qdnd.vn

Lòng dân

Đại tướng Phạm Văn Trà, Anh hùng LLVT nhân dân, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, sinh ra ở Kinh Bắc, nhưng ông lại được bà con cô bác vùng Đồng bằng sông Cửu Long coi như người con của miền Tây Nam Bộ. Các ba, các má thì trìu mến gọi ông là “thằng Ba”; các em, các cháu thân quen thì gọi là “anh Ba”, còn đồng chí, đồng đội cùng trang lứa thì thân mật gọi là “Ba Trà”…

Dân nuôi bộ đội…

Giữa những ngày tháng Tư lịch sử này, tôi xin gặp ông để nghe ông nói về điều sâu sắc nhất mà ông rút ra trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta.

Ông bảo: “Mình vừa đọc bài của các ông viết (ông vẫn thân mật gọi tôi như thế) về “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”. Nhưng các ông có biết bộ đội ta ở Nam Bộ thì vận câu thơ của Tố Hữu để nói về lòng dân với bộ đội như thế nào không?

Tôi thành thực nói: “Thưa thủ trưởng tôi chưa biết ạ”.

Ông bảo: “Bộ đội ta nói Dân nuôi bộ đội, dân che mắt thù. Tôi sẽ nói với ông về lòng dân nhé”.

Đại tướng Phạm Văn Trà (hàng đứng, thứ 7, từ phải sang) về thăm bà con cô bác ấp Cả Mười (ấp Sáu) – xã Vĩnh Viễn (Hậu Giang) – đã cưu mang che chở Trung đoàn 1 U Minh trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ảnh: TL

Căn phòng công vụ trên tầng 2 của nhà khách Bộ Quốc phòng rộng chừng 13m2, nơi mà tôi đã được nhiều lần gặp ông, chủ yếu ông hẹn làm việc vào buổi tối, kể từ lần đầu tiên vào năm 1994… Đã hơn 15 năm, vậy mà, vẫn bộ bàn ghế “sa lông nan”, vẫn gạch “bông bách khoa” lát nền từ ngày ấy… Chỉ có khác là lần này trong phòng có nhiều sách, quyển để trên ti vi, quyển để trên gối, quyển để trên bàn… Có lẽ nghỉ việc cầm quân ông có thời gian để đọc hơn.

Vẫn dung dị, vẫn nói chỉ đủ người nghe, nhưng lúc này thì ông đang bị xúc động mạnh. Ông bảo: “Không có dân đùm bọc, che chở thì không có Đảng, không có cách mạng, không có bộ đội, không có gì hết… chứ đừng nói đến chiến thắng”.

Ông kể cho tôi một vài kỷ niệm sâu sắc nhất trong giai đoạn khoảng chừng 15 năm, kể từ đầu năm 1965 ông vào sống với đồng bào Nam Bộ, ở Trung đoàn 1 U Minh, Quân khu 9.

Đây cũng là giai đoạn cực kỳ khó khăn của bộ đội ta trong chiến trường miền Nam. Khi ấy Quân khu 9 chỉ có Trung đoàn 1 U Minh, mà vẫn không đủ quân. Cuộc sống của bộ đội, kể cả vũ khí để đánh giặc, 100% là dựa vào dân. Dân lấy súng, đạn của địch cung cấp cho bộ đội. Dân nhịn ăn dành gạo nuôi bộ đội. Dân đào hầm trong lòng nhà mình để cất giấu bộ đội. Dân cấp cứu thương binh, dân chôn cất tử sĩ. Dân làm trinh sát…

Như tâm sự với chính mình, ông nói: “Mình kính phục đồng bào Nam Bộ lắm. Họ can trường, họ trung thành và hết lòng với cách mạng. Mình nhớ đầu năm 1969, Quân khu 9 đang gặp khó khăn, Quân ủy Trung ương quyết định cử hai đồng chí Võ Văn Kiệt (Tám Thuận) về làm Bí thư Khu ủy kiêm Chính ủy, Lê Đức Anh (Chín Hòa) làm Tư lệnh Quân khu. Trung ương đặt bí danh cho hai đồng chí là Tám Thuận và Chín Hòa, ý nói hai đồng chí phải đoàn kết, chắp nối lại được Quân khu với Trung ương Cục. Gọi là cơ quan Quân khu nhưng nay đây, mai đó, bám theo con kênh Nước Trong (Ngã ba Trực Thăng) thuộc xã Vĩnh Viễn, huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ (nay là Hậu Giang). Nơi làm việc của hai đồng chí cách nhau chừng 1km, ở trong vườn nhà dân, chỉ cách đồn địch chừng 2000m mà hằng tháng liền, đi đi về liên tục mà địch không phát hiện được thì tài tình thật. Có lần tôi hỏi anh Lê Đức Anh sao lại mạo hiểm ở gần địch thế. Anh Lê Đức Anh bảo: “Đó là kinh nghiệm của dân, ở sát địch có hai cái lợi: Thứ nhất, địch không nghĩ mình ở sát chúng đến như thế, thứ hai là càng ở gần càng quan sát được hoạt động của chúng”. Các tiểu đoàn của trung đoàn tôi cũng thế, đóng quân rải rác trong vườn và ven sông Nước Trong, Nước Đục, xen kẽ với các đồn địch, thuộc huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ mà chúng không phát hiện được. Nhờ có dân mà đơn vị nắm chắc được quy luật hoạt động của địch. Càng nghĩ, tôi càng thấy công lao của dân thật là vô cùng lớn lao. Ví dụ tính mạng của hai đồng chí Võ Văn Kiệt và Lê Đức Anh lúc ấy là hoàn toàn do dân che chở. Đặt giả thiết nếu hai đồng chí bị địch bắt, hoặc hi sinh thì tổn thất cho cách mạng lớn đến mức độ nào?

Ông kể với tôi, cuối tháng 11-1970, khi đó ông là Phó trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 U Minh, vừa tổ chức cho bộ đội lên đánh địch trên kênh Ba Nước, thì bà con ấp Canh Nhung, xã Vĩnh Viễn, chạy đến báo “Địch mới về đông lắm, không lên được đâu”. Ông lệnh cho bộ đội dừng lại, cử đồng chí đại đội trưởng trinh sát lên kiểm tra. Đúng như nhân dân báo, chỉ vượt lên chừng 300m nữa là trung đoàn ông bị địch phục kích.

Còn chị Ba Đèo thì đúng là ân nhân của Tiểu đoàn 303 thuộc trung đoàn ông. Chị chừng 30 tuổi, không biết quê quán, nhà cửa ở đâu, nhưng cứ theo riết tiểu đoàn những năm khó khăn nhất, giúp mua gạo, mua thuốc, rồi liên hệ gửi thương binh… Tóm lại tiểu đoàn cần gì, thiếu gì là chị lo giúp, giống như vai trò của cán bộ hậu cần tiểu đoàn ấy. Lúc đầu ông nghĩ chị là cán bộ nằm vùng do trên cử về giúp trung đoàn, nhưng sau mới biết chị chỉ là người dân bình thường. Chị nói: “Thấy bộ đội đánh giặc tốt quá mà cũng khổ quá nên tôi thương tôi đến giúp” . Hiện nay “chị” Ba Đèo đã vượt tuổi “xưa nay hiếm” đang ở xã Xà Phiên, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

Tại sao?

“Chỗ này phải phân tích kỹ hơn một tý ông ạ”

Tôi chưa hiểu ý ông nói, đang định hỏi thì ông đã giải thích:

“Tại sao đồng bào Nam Bộ lại yêu thương đùm bọc bộ đội như con em ruột thịt của họ như vậy? Nếu nói tình máu mủ, ruột rà, quê hương làng xóm, thì quân ngụy gần gũi hơn bộ đội ta chứ? Vậy tại sao? Chính là do bộ đội ta sống rất tốt với dân, đồng cam cộng khổ với dân và hết lòng vì dân. Ngược lại, quân ngụy và lính Mỹ thì sa đọa, cướp bóc dân…”.

Ông nói như khẳng định: “Đại đa số quần chúng nhân dân ta đâu có điều kiện nghiên cứu, học tập để hiểu lý luận này, lý luận kia, chủ nghĩa này, chủ nghĩa kia… Dân tin Đảng, tin cách mạng chính là từ tin những cán bộ đang trực tiếp hằng ngày, hằng giờ “sống, chết” với dân ấy. Họ tốt thì dân bảo Đảng tốt, cách mạng tốt. Họ xấu thì dân bảo Đảng xấu, cách mạng xấu. Thế thôi…”.

Như để minh chứng cho phân tích của mình, ông kể lần liên hệ với dân để gửi các đồng chí cấp trên về tăng cường. Cứ băn khoăn lo đồng bào chưa hiểu cán bộ cấp trên, đồng bào bảo: “Tụi mi tốt thế thì thủ trưởng của tụi mi cũng tốt chứ, cũng gương mẫu chứ, nên các má tin, các má thương, các má nuôi, các má bảo vệ, không có chi phải lo”…

Ông lắc lắc đầu, nhíu đôi lông mày lại, nói: “Thi thoảng mình nghe báo chí các ông phản ánh, bây giờ có anh cán bộ này, anh cán bộ kia, ở địa phương này, địa phương kia ức hiếp, chèn ép dân, không bảo vệ dân, xa dân là tự nhiên mình cứ thấy rùng mình, giống như ngày ở chiến trường bị sốt rét ác tính ấy. Những ông cán bộ đó chả hiểu sức mạnh của dân là như thế nào…”.

“Cũng cá biệt thôi thủ trưởng ạ” – Tôi nói.

“Tất nhiên là cá biệt, chứ số đông thì sao còn Đảng, còn chính quyền nữa. Cá biệt thế cũng là “báo động” lắm rồi, nếu Đảng, Nhà nước, Chính phủ không kiên quyết ngăn chặn ngay thì sẽ mất lòng dân, mà mất lòng dân là mất tất cả. Sức mạnh của lòng dân đó là bài học rất sâu sắc được rút ra trong thực tiễn cách mạng nước ta. Chính vì thế mà chúng ta phải biết tổng kết thành lý luận để vận dụng vào công cuộc đổi mới hôm nay…”.

Có câu chuyện rất thú vị và chắc chắn đó sẽ là chuyến đi thực tế và những tư liệu quý giá nhất trong đời làm báo của họ: Hôm ấy đơn vị ông bắt được ba người nước ngoài lạ mặt vào đơn vị, kiểm tra giấy tờ mới biết họ là ba nhà báo Mỹ trong đoàn Nhà báo quốc tế sang Việt Nam năm 1973 tuyên truyền về thực hiện Hiệp định Pa-ri. Trên đường đi lấy tài liệu họ bị lạc vào đơn vị ông. Khi đó ông là Trung đoàn phó, đồng chí Bảy Sa, Chính ủy trung đoàn và đồng chí Dương Tử, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 U Minh. Trung đoàn quyết định đưa họ vào hầm trú ẩn và nói chuyện với họ suốt đêm hôm đó.

Câu chuyện mà họ hỏi đi hỏi lại là tại sao bộ đội ta sống trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn như thế, lại có thể đánh được Mỹ. Đồng chí Chính ủy Trung đoàn nói: “Cứ ở đây với chúng tôi hết đêm nay thì các ông sẽ có câu trả lời đúng”.

Và đêm hôm ấy ba nhà báo người Mỹ đã thực sự bất ngờ khi thấy chốc chốc lại có một người dân mang “gói to, gói nhỏ” tiếp tế cho bộ đội. Đến nửa đêm thì đống hàng đã chất cao lên gần kín hầm. Đồng chí Chính ủy vừa mở những gói hàng của dân gửi vào vừa nói: “Gạo, thuốc, lựu đạn, mìn… dân chuyển cho chúng tôi để đánh giặc đấy”.

Ba nhà báo người Mỹ hết sức ngạc nhiên, vừa chụp ảnh, vừa ghi chép vừa nói: “Tôi tin là các ông sẽ chiến thắng” …

Người có công còn nghèo

“Thủ trưởng vừa vào thăm đồng bào trong ấy?” – Tôi gợi hỏi.

“Năm nào mình cũng về thăm đồng bào, mấy năm nay nghỉ rồi, có điều kiện vào được nhiều hơn”.

Bỗng dưng ông đứng dậy, chậm rãi đi vào phòng trong, rồi đi ra, nghèn nghẹn nói: “Nhưng mà đồng bào mình còn nghèo quá. Vừa rồi chúng mình vào thăm chị Ba Đèo. Khổ, nhà nghèo lắm, mà không có chế độ gì. Mấy năm vừa rồi mình đi vận động các doanh nghiệp cũng toàn bộ đội ta ra làm giám đốc, phó giám đốc giúp cả, xây được 323 nhà dành riêng giúp đồng bào mấy tỉnh trong ấy, trong đó dành để giúp đồng bào nghèo 105 nhà, còn lại là giúp cựu chiến binh”.

Ông lại đứng dậy, vừa đi vừa chậm rãi nói: “Nhưng không thấm tháp gì ông ạ, đồng bào còn khó khăn lắm, mà toàn là “cốt cán cách mạng” cả đấy. Mình nghĩ Đảng, Nhà nước, Quân đội, chính quyền địa phương phải có ngay một cuộc vận động lớn trong cả nước chung tay giúp đỡ những gia đình nghèo khó, mà trước hết giúp đỡ những gia đình có công với cách mạng mà hiện nay còn nghèo, đói. Sau đó tiến tới phải nghiên cứu có chế độ chính sách gì đó cấp tiền phụ cấp hằng tháng cho họ. Nhất thiết không thể để những người có công với cách mạng lại nghèo khổ như thế”.

Hai mắt ông ngấn lệ và tôi cũng không cầm được lòng. Ông rút trên giá sách tặng tôi cuốn hồi ký “Đời chiến sĩ” của ông do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành tháng 5-2009.

Tiễn tôi về ông bảo tôi năng lại với ông, ông còn nhiều chuyện để kể lắm.

Huy Thiêm
qdnd.vn

Chiến dịch Hồ Chí Minh – một điển hình của nghệ thuật tác chiến hiệp đồng binh chủng

Chiến dịch Hồ Chí Minh là chiến dịch cuối cùng của Cuộc Tổng tiến công chiến lược, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta. Nó là một điển hình của loại hình chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, với đặc trưng “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, giành thắng lợi hoàn toàn, triệt để, trong thời gian ngắn.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 gồm ba chiến dịch kế tiếp: Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến dịch Huế – Đà Nẵng và Chiến dịch Hồ Chí Minh. Thực chất, đây là ba đòn tiến công có ý nghĩa chiến lược, đánh dấu sự phát triển đến đỉnh cao nhất của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trong đó, chiến dịch Hồ Chí Minh (26-4 – 30-4-1975) là một điển hình của loại hình chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn. Đây là chiến dịch đã tận dụng được và phát huy cao độ thế chiến lược do các chiến dịch trước (Tây Nguyên, Huế – Đà Nẵng) tạo ra để tập trung lực lượng với ưu thế áp đảo quân địch cả về lực lượng, thế trận và tinh thần. Chiến dịch đó phát huy cao nhất sức mạnh của các binh đoàn, binh chủng hợp thành với quy mô lớn nhất, đập tan tuyến phòng thủ của địch ở vòng ngoài; đánh thẳng vào trung tâm đầu não, sào huyệt của địch, kết hợp với nổi dậy của quần chúng, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975).

Nét đặc sắc của Chiến dịch Hồ Chí Minh là: đã đánh giá đúng so sánh lực lượng địch – ta, kiên định thực hiện chủ trương của Bộ Chính tri, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Chỉ huy là tập trung lực lượng, chọn thời cơ, tiến công kiên quyết, thần tốc, táo bạo, bất ngờ, giành thắng lợi hoàn toàn và triệt để.

Về địch, chúng đang ở thế “co cụm” phòng ngự, với lực lượng tập trung tương đương 2 quân đoàn, được trang bị vũ khí, phương tiện hiện đại cùng với số lượng khá lớn quân địa phương. Đây còn là “Thủ đô”, có các cơ quan đầu não của ngụy quyền, ngụy quân; chúng sẽ ngoan cố chống cự, mặc dù hoang mang, dao động. Cụ thể, lực lượng của chúng gồm: Quân đoàn 3 hoàn chỉnh (chỉ có Sư đoàn 18 bị tổn thất do mới bị đánh ở Xuân Lộc); lực lượng Tổng dự bị chiến lược (2 sư đoàn thiếu là: sư đoàn lính dù và thủy quân lục chiến); lực lượng Biệt khu Thủ đô bảo vệ nội thành; 4 sư đoàn dù (18, 5, 25, 22), 2 sư đoàn thiếu (dù và thủy quân lục chiến, mỗi sư đoàn còn 2 lữ đoàn); 3 liên đoàn biệt động quân, lữ đoàn 3 xe tăng-thiết giáp; 3 sân bay (kể cả sân bay Trà Nóc, Cần Thơ) với 1.360 phi cơ; hải quân còn 1.460 tàu, xuồng…; quân địa phương còn 7 liên đoàn bảo an, vài trăm trung đội dân vệ, 17.000 cảnh sát. Địch bố phòng thành 3 tuyến: tuyến ngoài cùng và tuyến 2, do 4 sư đoàn đảm nhiệm, bố trí trong các căn cứ trước đây thành các cụm cứ điểm mạnh ngăn chặn hướng tiến công của ta. Trong nội thành, phân thành 4 khu vực phòng thủ, do 2 sư đoàn (thiếu) dù và thủy quân lục chiến, 3 liên đoàn biệt động quân, các liên đoàn bảo an, các trung đội dân vệ và cảnh sát đảm nhiệm. Tổng quân số của địch ước khoảng 35 vạn (25 vạn quân chiến đấu, 10 vạn quân hậu cần).

Về ta, lúc tập kết đầy đủ trước khi tiến công, bao gồm: 5 quân đoàn binh chủng hợp thành (15 sư đoàn); 1 lữ đoàn, 10 trung đoàn đặc công và bộ binh; 17 tiểu đoàn bộ binh và biệt động thuộc các tỉnh (thành phố); 35.000 cán bộ địa phương và hàng triệu quần chúng. Tổng quân số của ta: 28 vạn quân chiến đấu cùng 17 vạn quân hậu cần (45 vạn quân). So sánh lực lượng trong chiến dịch: ta hơn địch 1,5 đến 2 lần; về lực lượng, ta có ưu thế về xe tăng, xe bọc thép và pháo binh, có pháo cao xạ bảo vệ trên không. Còn về nhân tố tinh thần, ý chí “quyết chiến, quyết thắng” thì ta có ưu thế tuyệt đối so với quân địch. Nếu ta giải quyết tốt về cách đánh thì khả năng tiến công rất lớn, bảo đảm chắc thắng trong thời gian ngắn.

Căn cứ vào quyết tâm và kế hoạch chiến dịch được phê chuẩn, Bộ Tư lệnh chiến dịch (BTLCD) tổ chức 5 cánh quân tiến công (đột phá, thọc sâu) trên 5 hướng vào 5 cụm mục tiêu chủ yếu. Cánh quân Đông Nam do Quân đoàn 2 đảm nhiệm, đột phá từ hướng Đông Nam đánh chiếm cụm mục tiêu Bộ Tư lệnh Hải quân, Cảng Hải quân và Thương cảng; sau khi hoàn thành nhiệm vụ bước đầu, tiếp tục thọc sâu đánh chiếm Dinh Độc Lập (lúc 11 giờ 30 ngày 30-4-1975). Cánh quân hướng Đông do Quân đoàn 4 đảm nhiệm, đột phá từ hướng Đông theo Đường số 1, được chỉ định đánh chiếm cụm mục tiêu Dinh Tổng thống và tiếp quản Thành phố (quá trình tiến công bị địch ngăn chặn nên tiến chậm). Cánh quân phía Bắc do Quân đoàn 1 đảm nhiệm, đột phá từ phía Bắc, đánh chiếm cụm mục tiêu Bộ Tổng tham mưu địch. Cánh quân phía Tây Bắc do Quân đoàn 3 đảm nhiệm, đột phá đánh chiếm căn cứ không quân Tân Sơn Nhất – Bộ Tư lệnh Không quân, Bộ Tư lệnh Dù. Cánh quân Tây Nam do Đoàn 232 đảm nhận, đột phá từ hướng Tây Nam, cắt đứt lộ 4, đánh chiếm mục tiêu Bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ Đô. Cùng với đó là hướng phối hợp do cánh quân chính Nam (gồm 2 trung đoàn độc lập số 88 và 24) từ nam Long An vượt qua Cần Giuộc, Cần Đước, qua cầu chữ Y, đánh chiếm Nha Cảnh sát của địch.

Hiệp đồng chặt chẽ giữa các cánh quân trong tác chiến chiến dịch. Đêm 26-4 (rạng sáng 27-4), các lực lượng chiến dịch thực hành tiến công địch theo nhiệm vụ được phân công. Riêng cánh quân Đông Nam đề nghị nổ súng sớm hơn, bắt đầu từ 17 giờ ngày 26-4 vì phải tiến xa mới vào được trung tâm Thành phố; BTLCD đã đồng ý. Theo kế hoạch hiệp đồng, trước 6 giờ 30 ngày 30-4-1975, các cánh quân phải chiếm được các ngoại ô thành phố, các đơn vị pháo chiến dịch ngừng bắn; chỉ có pháo của các lực lượng tiến công trước bắn chi viện theo yêu cầu của bộ binh, xe tăng của từng hướng khi tiến công vào trung tâm thành phố. Từ 6 giờ 30 phút trở đi (cũng là giờ thống nhất tổng công kích vào các mục tiêu đã được phân công), việc đánh chiếm trung tâm Thành phố theo kế hoạch hiệp đồng binh chủng và thực hiện sau này cũng sát đúng như vậy.

Phương pháp tác chiến chiến dịch (cách đánh) được xác định: bỏ hẳn các căn cứ quân sự tuyến ngoài cùng của địch, chỉ để bộ phận nhỏ chủ lực và quân địa phương bao vây kiềm chế; chia cắt đội hình các sư đoàn phòng ngự tuyến ngoài cùng và tuyến 2, sẵn sàng diệt địch, không để chúng rút lui, co cụm về thành phố; diệt một số căn cứ quân sự thật cần thiết trên tuyến 2 cản trở đến các mũi nhọn đột phá, thọc sâu; đồng thời, tổ chức lực lượng mạnh, gồm sư đoàn bộ binh mạnh tăng cường công binh, xe tăng, xe bọc thép, xe tải, thọc sâu đánh chiếm các cụm mục tiêu được phân công. Các cánh quân đã thực hành tiến công dồn dập liên tục 4 ngày, đêm, với tốc độ đột phá 15-20 km/ngày, đêm. Từ 17 giờ ngày 26-4 đến 11 giờ 30-4, đã đánh chiếm Dinh Độc Lập, Bộ Tổng tham mưu và các cụm mục tiêu khác, buộc địch phải đầu hàng không điều kiện. Tiếp đó, đối với đồng bằng Sông Cửu Long, lực lượng tại chỗ đã kết hợp với lực lượng nổi dậy giải phóng 17 tỉnh (không phải mở chiến dịch như đã dự kiến). Cùng với đó là việc giải phóng Côn Đảo, Phú Quốc và các đảo trên biển Đông.

Thắng lợi vĩ đại của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã để lại những bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu về nghệ thuật tiến công quân địch bằng chiến dịch hiệp đồng binh chủng. Đó là:

Tính kế hoạch trong tổ chức hiệp đồng. Cơ sở của công tác tổ chức hiệp đồng là quyết tâm, kế hoạch tác chiến chiến dịch. Kế hoạch tác chiến hiệp đồng binh chủng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt chú trọng đến công tác chuẩn bị chiến trường, theo hướng: đánh lớn, hiệp đồng binh chủng với tốc độ phát triển nhanh trên tất cả các hướng, để tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch có số quân đông và trang bị hiện đại khi thời cơ xuất hiện. Nội dung chuẩn bị là nghiên cứu kỹ cách đánh; cải tiến vũ khí, trang bị, tăng cường và nâng cao sức cơ động, khả năng đảm bảo hậu cần-kỹ thuật cho các binh đoàn cơ động chiến lược, chiến dịch; tăng cường tiếp tế nhiên liệu, đạn dược, lương thực, thực phẩm vào chiến trường; xây dựng căn cứ địa và hậu phương tại chỗ ở khắp nơi và tích cực bổ sung nguồn vật chất dự trữ nơi địa bàn cơ động.

Chuẩn bị lực lượng mạnh, sẵn sàng chiến đấu cao, bố trí sẵn theo ý định, kết hợp với cơ động thần tốc để tập trung lực lượng ở trọng điểm. Nét đặc sắc của nghệ thuật chiến dịch là khéo kết hợp các lực lượng cơ động chiến lược với lực lượng địa phương tại chỗ, lực lượng bố trí sẵn và lực lượng cơ động từ xa tới. Do lực lượng, binh khí-kỹ thuật của ta có hạn, để chiến dịch tác chiến hiệp đồng quân-binh chủng giành thắng lợi, phải sử dụng hết sức tiết kiệm vũ khí, phương tiện, đạn dược, nhất là các loại vũ khí tiến công như xe tăng, thiết giáp, pháo lớn, xe vận tải…

Để sử dụng lực lượng binh chủng linh hoạt và điều chỉnh cách đánh kịp thời, phải nắm chắc tình hình theo sự phát triển của tình huống chiến dịch. Khi địch đang ổn định, có chuẩn bị, có tổ chức, thì phải tập trung hơn địch ở trọng điểm; đánh có chuẩn bị, hiệp đồng chặt chẽ, chắc thắng. Khi địch sơ hở, bối rối, như đang rút lui, đang điều chỉnh chiến lược hay đang tan rã, thì vấn đề chính lại là thời cơ – không chờ tập trung đủ mới đánh; thực hiện đánh chia cắt, bao vây, đánh sân bay, hải cảng, đánh viện binh, đánh đường rút lui là chính. Khi đánh vào sào huyệt cuối cùng của địch thì tập trung lực lượng đến mức cao nhất và đảm bảo chắc thắng. Cùng với đó, phải phát huy hết chỗ mạnh của từng binh chủng, trong từng tình huống một cách thích hợp như: dùng xe tăng trong tiến công hành tiến, thọc sâu; dùng đặc công đánh chiếm và giữ đầu cầu; dùng pháo phòng không phong tỏa sân bay; dùng không quân uy hiếp tinh thần địch v.v.

Tổ chức lực lượng chiến dịch hợp lý, khoa học giữa các thành phần binh chủng, giữa lực lượng chiến đấu và bảo đảm chiến đấu. Các sư đoàn, quân đoàn bộ binh phải được cơ giới hóa toàn bộ hay từng phần mới nâng cao được tốc độ tiến công, có khả năng hiệp đồng chặt chẽ với các binh chủng kỹ thuật và phát huy được sức mạnh đột kích mạnh. Phải có hỏa lực tầm xa; cải tiến các phương tiện chỉ huy, thông tin, trinh sát mới bảo đảm tác chiến hiệp đồng quân-binh chủng tốt. Phải hết sức coi trọng lực lượng công binh cơ giới làm cầu đường, vượt sông trong thành phần các lực lượng công binh. Ngoài ra, việc lấy trang bị, vũ khí của địch để đánh địch có ý nghĩa hết sức quan trọng, có tác dụng khôi phục và phát triển sức chiến đấu của binh chủng; giải quyết được những khó khăn về đảm bảo hậu cần, kỹ thuật rất lớn cho các quân chủng, binh chủng, nhất là khi đang cơ động tiến công. Thực tiễn Chiến dịch Hồ Chí Minh cho thấy, số đạn lấy được của địch đem vào các mặt trận trong chiến dịch này chiếm 71% tổng số đạn mang theo. Để phát triển tốt điểm này, ngay từ khi lập kế hoạch tiến công đã phải có chủ trương và biện pháp thu hồi trang bị, vũ khí của địch để đánh địch. Khi chiến dịch còn phát triển, cần quy định cho các đơn vị được phép trang bị, sử dụng ngay những thứ cần thiết lấy được của địch để chiến đấu. Cùng với đó, có kế hoạch trước trong việc hướng dẫn bộ đội sử dụng các trang bị, vũ khí của địch.

Theo: Ha Thanh – TC-QPTD-04-2010
qdnd.vn

Nghệ thuật tạo và nắm thời cơ

Ký ức và hiện tại

Cách đây 35 năm, thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh đã ghi một mốc son chói lọi trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1975 đánh đấu bước phát triển vượt bậc nghệ thuật quân sự Việt Nam, đặc biệt là nghệ thuật tạo thời cơ và nắm thời cơ.

Thực hiện quyết tâm của Đảng, trong 2 năm 1973-1974, quân và dân ta tích cực làm mọi công tác chuẩn bị, nhanh chóng thành lập các quân đoàn chủ lực, đưa hàng vạn thanh niên, nhân viên kỹ thuật miền Bắc vào tăng cường cho miền Nam. Đẩy mạnh tiến công địch ở địa bàn Tây Nguyên, Khu 5, Nam Bộ, giải phóng nhiều vùng chiến lược quan trọng. Đặc biệt sau giải phóng Phước Long (6-1-1975), thấy rõ khả năng suy giảm của quân ngụy và khả năng khó quay lại của quân Mỹ, chớp thời cơ thuận lợi đó, Bộ Chính trị quyết định mở cuộc Tổng tiến công giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Mở đầu cuộc tổng tiến công, ta mở Chiến dịch Tây Nguyên, được sự chỉ đạo đúng đắn của Bộ Tổng tư lệnh, ta đã chủ động tạo ra được nhiều thời cơ thuận lợi.

Trước hết, là thời cơ đánh trận mở màn then chốt chiến dịch, trận Buôn Ma Thuột, để giữ vững quyền chủ động, ta thực hiện nghi binh, cắt toàn bộ các con đường 19, 7, 21, 14, cô lập địch ở Buôn Ma Thuột, vây chặt tập đoàn chủ yếu của địch ở bắc Tây Nguyên, không cho chúng tăng cường, ứng cứu Buôn Ma Thuột một cách dễ dàng, mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho ta triển khai lực lượng. Sau khi tạo ra thời cơ mới, rạng sáng 10-3-1975, ta nổ súng tiến công Buôn Ma Thuột. Địch chưa kịp trở tay, phán đoán, hành động, thì trưa 11-3 ta đã giải phóng Buôn Ma Thuột.

Thứ hai, nắm vững thời cơ đánh đòn thứ nhất giành thắng lợi tốt đẹp, ta chủ động tạo ra thời cơ mới, gây cho địch khó khăn mới, buộc chúng phải phạm sai lầm mới. Chính những sai lầm mới của địch lại tạo ra thời cơ mới cho ta. Do đó, nghệ thuật tạo và nắm thời cơ lúc này là: phán đoán, hạ quyết tâm, xử lý đúng đắn, kịp thời để khỏi bỏ lỡ thời cơ, củng cố và phát triển thắng lợi vừa mới giành được, đó là đánh địch phản kích.

Trong Chiến dịch Tây Nguyên, tình huống và thời cơ đánh địch phản kích đã được dự kiến trong kế hoạch chiến dịch và xuất hiện đúng như ta đã dự kiến. Vì vậy, ta đã biến thời cơ thuận lợi đó thành kết quả thắng lợi giòn giã, đánh bại hoàn toàn cuộc phản kích của Sư đoàn bộ binh 23(-) và Liên đoàn biệt động 21 (từ ngày 12 đến 18-3) đập tan hy vọng giành lại Buôn Ma Thuột, đẩy địch vào những sai lầm nghiêm trọng hơn, đó là rút bỏ Tây Nguyên vào ngày 15-3-1975. Tình huống mới, thời cơ mới lại xuất hiện, lực lượng rút chạy là lực lượng lớn nhất, đông nhất của Quân đoàn 2 ngụy, gồm phần lớn các đơn vị chủ lực của địch. Nắm thời cơ đó, từ ngày 16 đến 24-3, ta mở cuộc truy kích thần tốc tiêu diệt toàn bộ địch rút chạy trên đường số 7, giải phóng toàn bộ Tây Nguyên.

Đồng thời với Chiến dịch Tây Nguyên, Quân khu Trị Thiên, Quân khu 5, Quân đoàn 2 nhanh chóng tiến công địch trong hành tiến, giải phóng Trị Thiên và Nam Ngãi. Thời cơ mới tiếp tục xuất hiện ở Trị Thiên và Nam Ngãi. Khi phát hiện ra thời cơ, Bộ Tư lệnh, Bộ Tổng tham mưu đã kịp thời chỉ đạo các đơn vị thực hiện chia cắt chiến lược, cô lập Huế – Đà Nẵng, tập trung lực lượng, tiêu diệt địch ở Trị Thiên – Huế và Quảng Ngãi – Quảng Nam, không cho địch co cụm về Đà Nẵng.

Trên địa bàn Trị Thiên-Huế, trên cơ sở phương án đã chuẩn bị, nắm vững thời cơ, các đơn vị của Quân đoàn 2, Quân khu Trị Thiên, nhanh chóng phát triển tiến công tiêu diệt Sư đoàn bộ binh 1 ngụy, Lữ đoàn thủy quân lục chiến 147 và các đơn vị bộ binh, binh chủng của địch, giải phóng thành phố Huế (10 giờ ngày 25-3) và toàn bộ tỉnh Thừa Thiên – Huế.

Trên địa bàn Quân khu 5, các đơn vị Quân khu đồng loạt tiến công địch ở Quảng Nam-Đà Nẵng, tiêu diệt Sư đoàn bộ binh 2 ngụy, giải phóng thị xã Tam Kỳ, toàn bộ tỉnh Quảng Ngãi, căn cứ Chu Lai, cắt đường 1 ở phía nam từ Tam Kỳ đi Đà Nẵng, tạo ra thời cơ thuận lợi cho giải phóng Đà Nẵng. Nắm thời cơ đó, ngày 27-3, các binh đoàn thọc sâu của ta bỏ qua các mục tiêu vòng ngoài, tiến thẳng vào thành phố Đà Nẵng.

Sau thắng lợi Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến dịch Huế – Đà Nẵng, thời cơ giải phóng hoàn toàn miền Nam đã đến, ta đã chủ động tạo thế và thời cơ cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, với tinh thần “một ngày bằng 20 năm”. Các sư đoàn chủ lực của ta phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiến về giải phóng các tỉnh ven biển miền Trung…

Đến ngày 26-4, các quân đoàn chủ lực của ta đã triển khai trên 5 hướng theo thế bao vây, chia cắt. Đúng 17 giờ ngày 26-4, cuộc tiến công Sài Gòn bắt đầu, với thế trận bao vây và sức mạnh áp đảo, tư tưởng chỉ đạo là: thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng. Chiều 28-4, các sư đoàn địch phòng ngự ở vòng ngoài đã bị ta tiêu diệt và làm tan rã. Từ sáng 29 đến 30-4, các cánh quân ta trên các hướng đồng loạt tiến công vào nội đô. Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30-4, Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc thắng lợi.

Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đã đưa cách mạng Việt Nambước sang một giai đoạn mới, giai đoạn cả nước tiến lên xây dựng CNXH. Đã 35 năm trôi qua trên đất nước ta, khí thế hào hùng của ngày đại thắng, cũng như bài học về nghệ thuật tạo thời cơ, nắm thời cơ vẫn còn nguyên giá trị, là tài sản vô giá trong kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam. Trong công cuộc đổi mới hiện nay, chúng ta tiếp tục nghiên cứu, bổ sung phát triển nền nghệ thuật quân sự Việt Nam lên một tầm cao mới, triệt để tận dụng thời cơ thuận lợi mà Đảng, Nhà nước, nhân dân tạo ra, để xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Đại tá ĐÀO VĂN ĐỆ
qdnd.vn

Hậu phương tiếp sức chiến trường

“Hậu phương lớn và vững mạnh là miền Bắc xã hội chủ nghĩa đã tạo nên sức mạnh chính trị – tinh thần của quân và dân ta, cho phép chúng ta có thể động viên sức người, sức của tối đa cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, góp phần quan trọng làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975”- Đồng chí Nguyễn Ngọc Trìu, Chủ tịch Hội Làm vườn Việt Nam, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Phó thủ tướng Chính phủ đã khẳng định với chúng tôi như vậy.

Từ “Thóc không thiếu một cân,…”

Đã bước sang tuổi 85 nhưng trên cương vị Chủ tịch Hội Làm vườn Việt Nam, đồng chí Nguyễn Ngọc Trìu vẫn trèo đèo, lội suối đến với bà con các dân tộc, khi ở phía Bắc, khi ở phía Nam. Là người con của “Quê hương 5 tấn Thái Bình”, cán bộ chủ chốt của tỉnh khởi xướng phong trào “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” trong thời kỳ chống Mỹ, đồng chí Nguyễn Ngọc Trìu đã say sưa kể về những năm tháng hào hùng của hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

“Năm 1963, tôi được bầu giữ chức Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh Thái Bình, lúc đó cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn ác liệt, nhu cầu lương thực, thực phẩm cho chiến trường rất lớn. Để đáp ứng yêu cầu của chiến trường, Thái Bình đưa ra ba mũi tiến công trên mặt trận kinh tế. Mũi thứ nhất, lấn biển: “Đẩy sóng ra xa, kéo chân trời gần lại”. Mũi thứ hai, thâm canh tăng vụ: “Chín tháng cho người, ba tháng cho chăn nuôi”. Mũi thứ ba là đưa nhân dân đi xây dựng kinh tế mới ở miền núi: “Tổ quốc ta giàu đẹp, đâu cũng là quê hương”- Đồng chí Nguyễn Ngọc Trìu nhớ lại.

Đoàn xe từ hậu phương miền Bắc vào chi viện cho chiến trường miền Nam. Ảnh tư liệu của TTXVN

Khi hỏi về khởi nguồn của phong trào “5 tấn thóc để góp phần đánh Mỹ”, đồng chí Nguyễn Ngọc Trìu kể: “Để tăng năng suất lúa, Thái Bình tiến hành cải tạo đồng ruộng, làm thủy lợi và phân bón và thay đổi giống lúa. Vụ lúa xuân khởi đầu từ Thái Bình trở thành vụ lúa xuân chính vụ và nhân rộng toàn miền Bắc. Để cải tạo đất nhiễm mặn chua phèn, chúng tôi phải vào Ninh Bình, ra Hải Phòng xin tổ chức công trường khai thác đá chở về nung vôi. Lúc bấy giờ, phân hóa học rất ít, nhằm tiết kiệm phân hóa học, chúng tôi đã dùng đất ruộng phơi ải, đập nhuyễn ra, trộn với phân đạm, phân lân, ka-li thành một chất dẻo, rồi viên thành từng viên. Các viên này được các xã viên đút vào gốc khóm lúa… Nhờ có các giải pháp tổng hợp này mà năng suất lúa của Thái Bình đã tăng dần từ 2,5 tấn/ha tăng lên 3 tấn, 4 tấn rồi 5 tấn/ha. Giữa hai cuộc chiến tranh phá hoại ác liệt nhất, Thái Bình đã đạt năng suất bình quân 6 tấn rồi 7 tấn/ha vào các năm 1972, 1974. Chỉ tính từ 1965 đến 1974, Thái Bình đã huy động cho Nhà nước hơn một triệu tấn lương thực, hàng chục vạn tấn thịt lợn, cá, muối…, góp phần cùng với cả miền Bắc chi viện, tiếp sức cho tiền tuyến lớn miền Nam”.

Đến “…quân không thiếu một người”

Hào hứng kể về quê lúa Thái Bình, đồng chí Nguyễn Ngọc Trìu khẳng định với chúng tôi: Mỗi mốc son lịch sử của dân tộc đều có dấu ấn của mảnh đất và những người con ưu tú quê ở Thái Bình. Riêng trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước (từ 1955 đến 1975), Thái Bình đã tiễn đưa 22 vạn con em lên đường chi viện cho chiến trường miền Nam và là tỉnh có tỷ lệ dân số đi bộ đội cao nhất toàn quốc. Trong đó có hơn 34 nghìn người con ưu tú đã ngã xuống trên các chiến trường miền Nam và hai nước bạn Lào, Cam-pu-chia.

Sở dĩ có thể huy động được một lực lượng lớn như vậy cho tiền tuyến, theo đồng chí Nguyễn Ngọc Trìu, công tác tuyên truyền giáo dục có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt là sự nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đồng chí kể rằng: “Giữa lúc cuộc chiến tranh chống Mỹ ác liệt nhất, tôi đã động viên con trai đầu của tôi khi ấy mới 17 tuổi, đang học lớp 10, ốm yếu gầy gò, xung phong đi bộ đội để làm gương. Cháu đã được vào chiến đấu ở chiến trường Bình Trị Thiên. Thấy con của đồng chí Chủ tịch tỉnh xung phong vào bộ đội, nhiều gia đình khác đã động viên con em của họ tòng quân”.

Bài học quý cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Từ 1959 đến 1975, hậu phương miền Bắc đã tiếp tế cho chiến trường miền Nam gần 700.000 tấn vật chất, trong đó có hơn 180.000 tấn vũ khí, trang bị kỹ thuật; cung cấp và tổ chức cơ động hàng triệu lượt người vào chiến đấu và công tác trên các chiến trường. Vào giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, tại các chiến trường miền Nam, hơn 80% quân số của lực lượng vũ trang, 81% vũ khí và đạn, 60% xăng dầu, 65% thuốc men, 85% xe vận tải… là do hậu phương miền Bắc chi viện.

Nguồn: Viện Lịch sử quân sự Việt Nam

Theo đồng chí Nguyễn Ngọc Trìu, chiến tranh dù đã lùi xa 35 năm, nhưng những bài học quý giá từ sự chi viện, tiếp sức của hậu phương cho tiền tuyến vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mặc dù “trình độ sản xuất” của nền kinh tế nước ta lạc hậu xa so với “trình độ sản xuất” của nước Mỹ, nhưng chúng ta đã chiến thắng. Chiến thắng đó không phải ở trình độ sản xuất của nền kinh tế mà là tính ưu việt của chế độ kinh tế ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Tính ưu việt của chế độ được thể hiện ở mối quan hệ giữa người với người, kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với giải quyết tốt các vấn đề xã hội, chăm lo tốt các đối tượng chính sách; tạo sự đồng thuận của các tầng lớp dân cư trong việc huy động sức người, sức của cho cuộc kháng chiến. Đặc biệt là sự gương mẫu của đội ngũ cán bộ đảng viên.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, chúng ta cũng đang phải đương đầu với những kẻ thù nội xâm, ngoại xâm như tình trạng tham nhũng, lãng phí, âm mưu “diễn biến hòa bình”, xâm phạm lãnh thổ… Để xây dựng và bảo vệ thành công Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, cũng cần thiết phải kết hợp tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, chăm lo các đối tượng chính sách, tạo sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân; kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh và ngược lại; gắn việc thực hiện quốc phòng, an ninh, kinh tế với hoạt động đối ngoại… Sự gương mẫu, tiên phong của đội ngũ cán bộ, đảng viên vẫn là bài học trong giai đoạn sau này.

Đỗ Phú Thọ
qdnd.vn

Ký ức qua trận đánh

QĐND Online – Một ngày tháng 4 lịch sử, tôi gặp Trung tướng Dương Công Sửu, người con của quê hương Bắc Sơn, Lạng Sơn hiện là Phó Tư lệnh Quân khu 1, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Bằng giọng nói ấm áp, ông đã kể cho tôi nghe ký ức về một thời khói lửa, đầy bom rơi, đạn nổ trên chiến trường năm xưa…

Với ánh mắt xa xăm, thoáng buồn ông chầm chậm nói: “Chuyện chiến trường kể mãi cũng không hết, nhưng tôi nhớ nhất trận chiến đấu ngày 28-3-1971. …Hồi ấy, quan điểm của Đảng ta là “Cả nước là một chiến hào, 3 nước Đông Dương là chiến trường” nên bộ đội chủ lực của ta luôn cơ động nhanh, lúc ở miền Nam, khi sang Cam-pu-chia. Năm 1971, địch tổ chức càn quyét lớn vào tỉnh Công-pông-chàm, thuộc vùng Đông Bắc Cam-pu-chia, nhằm tiêu diệt căn cứ của ta. Địch tấn công theo trục đường số 22, từ miền Nam đến giáp sông Mê Công và một đoàn quân ngụy đã lọt vào trận địa của ta. Để tiêu diệt quân địch, ta phải vây hãm, chốt chặn đánh địch từ phía sau lên ứng cứu, đồng thời khóa chặt đường rút lui của chúng. Ngày 26-3-1971, tôi trên cương vị Đại đội trưởng Đại đội 25 đặc công, Trung đoàn 209, Sư đoàn 7, cùng Đại đội nhận lệnh lên đường làm nhiệm vụ tuyệt mật. Chúng tôi mải miết hành quân hai ngày hai đêm, vượt qua núi cao, vực sâu và những cánh rừng nguyên sinh trên đất bạn. Gần sáng, chúng tôi tới thị trấn Suông Chúp. Đồng chí Vũ Việt Hồng, Phó Trung đoàn trưởng giao nhiệm vụ: “Phải chốt cứng, chặn đứng không cho giặc tiến công và rút chạy qua đây“.

Trung tướng Dương Công Sửu, Phó Tư lệnh quân khu 1.

Quân ta xây dựng trận địa chiến đấu trên cánh đồng rộng lớn, trống trải. Đơn vị tiến hành xây dựng công sự trên khoảng diện tích chiều dài 50m, rộng gần 40m. Trước đây, chúng tôi chủ yếu đánh giặc đêm, nhưng nhiệm vụ hôm ấy là phải giao chiến ban ngày, thế nên tâm lý bộ đội cũng có nhiều băn khoăn, trăn trở và hồi hộp. Có đồng chí hỏi “Giữa đồng không, mông quạnh” thì tác chiến thế nào cho hợp lý? Chỗ này quân ta bị lộ thì không có đường rút lui, dễ thương vong nhiều…”. Tôi động viên: “Các đồng chí yên tâm, chúng ta không tác chiến độc lập, cùng “chia lửa” còn có Tiểu đoàn 9, đánh chặn không cho địch rút chạy“.

7 giờ sáng ngày 28-3 cách trận địa của ta 2km, xe tăng và bộ binh địch ào ạt tiến công vào trận địa “mai phục” của ta. Các chiến sĩ trong đơn vị sẵn sàng nổ súng. Khi 3 xe tăng địch cách trận địa khoảng 30m, súng B40, B41 “khạc lửa” tiêu diệt xe tăng địch, những tiếng nổ lớn vang lên, 3 chiếc bốc cháy ngùn ngụt. Bị đánh bất ngờ, bộ binh địch hoảng loạn tháo chạy. Xe tăng địch phía sau dùng súng 12,7 ly và M79 nhả đạn xối xả, đồng thời pháo kích oanh tạc dữ dội. Trên trời, từng tốp máy bay L19 của địch quần đảo chỉ thị cho máy bay khác trút bom, trời đất rung chuyển, ngùn ngụt khói. Trận địa ta như “rang” trên chảo lửa. Để tránh chiến sĩ ta thương vong, đơn vị đã nhanh chóng cơ động ra ngoài trận địa, lợi dụng địa hình, địa vật như: Bờ ruộng, đống rơm, cây cối lúp xúp để ẩn náu. Khi máy bay địch ngừng trút bom, bộ đội ta nhanh chóng cơ động trở lại chiếm lĩnh lại trận địa chiến đấu. Tưởng ta đã bị hủy diệt sau trận bom, xe tăng, bộ binh địch chia làm 2 mũi tấn công vào trận địa của ta. Chờ địch vào tầm bắn hiệu quả, bộ đội ta nổ súng tiêu diệt, chúng lại bị đánh bật ra. Cứ thế, trận chiến giằng co ác liệt hơn ba tiếng đồng hồ, địch không sao vượt qua được trận địa ta để lên ứng cứu cho đội quân phía sau. Lúc này, cả đơn vị đã bị thương và hy sinh gần hết, chỉ còn 4 đồng chí lành lặn, trong đó có tôi.

Tôi nhìn đồng đội mà lòng đau như cắt, lòng quyết tâm giết địch càng trỗi dậy… Đúng thời điểm này, chúng tôi được lệnh rời trận địa để trên bắn pháp yểm trợ. Trên trời, máy bay địch bay rất thấp, quần thảo dữ dội nhằm ngăn chặn ta lui quân. Tình thế thật cấp bách, không ngại hiểm nguy, tôi cùng y tá Vũ Hy Vọng, quê ở Lạng Giang, Bắc Giang, băng qua vùng đất trống, đánh lạc hướng, thu hút hỏa lực địch để chính trị viên đưa anh em thương binh về phía sau an toàn. Sau khi chạy được một đoạn, y tá Vọng trúng mảnh bom địch, bị thương nặng. Tôi vừa cõng đồng đội, vừa tìm nơi ẩn nấp. Sau 2 ngày băng rừng, nhịn đói chúng tôi tìm về đến trạm phẫu tiền phương, tôi giao anh Vọng cho trạm phẫu tiền phương và tìm đường về đơn vị.

Dẫu rằng, quân ta cũng có thương vong, mất mát, nhưng đơn vị tôi đã đánh trả và ngăn chặn 3 tiểu đoàn bộ binh địch có máy bay và xe tăng yểm trợ, tiêu diệt 55 tên, làm bị thương hàng trăm tên khác, phá hủy 5 xe tăng. Chặn đứng cuộc hành quân của địch, tạo điều kiện cho các đơn vị trong trung đoàn chia cắt, xé lẻ và tiêu diệt địch ở nhiều địa điểm khác nhau. Sau này tổng kết, trận đánh ấy chúng tôi được cấp trên khen ngợi rất nhiều”…

Khi chúng tôi tạm biệt ông ra về, mắt ông nhìn xa xăm đầy hoài niệm. Ông khẽ nói: “Dù thời gian có thể xóa nhòa đi nhiều thứ, nhưng những ký ức về các trận đánh mà tôi cùng đồng đội vào sinh ra tử thì mãi vẹn nguyên“. Biết bao kỷ niệm về chiến trường khói lửa năm xưa của một thời gian khổ, nhưng rất đỗi hào hùng đã góp phần làm nên chiến thắng lịch sử mùa xuân năm 1975 của dân tộc.

Bài, ảnh: Sầm Thạch
qdnd.vn