Thượng tướng Hoàng Cầm và giờ phút tiến vào Sài Gòn

Thượng tướng Hoàng Cầm.

Đôi mắt mệt mỏi của vị tướng già chợt bừng lên khi nghe nhắc tới ngày 30/4 của 30 năm trước. Ký ức về chặng đường binh nghiệp hào hùng của ông, người gắn bó với 2 cuộc kháng chiến vĩ đại, được tái hiện.

Vào ngày 30/4/1975 lịch sử, Quân đoàn 4 -đội quân chủ lực trên chiến trường B2 (Nam Bộ và Nam Trung Bộ) do tướng Hoàng Cầm chỉ huy cùng các cánh quân khác hội tụ tại dinh Độc Lập, giải phóng một Sài Gòn nguyên vẹn, kết thúc cuộc chiến tranh chống Mỹ. Trò chuyện với VnExpress, ông kể lại:

“Ngày 1/7/1974, tại vùng căn cứ huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Long, Quân ủy, Bộ Tư lệnh Miền đã họp thông qua phương án thành lập Quân đoàn 4. Lực lượng này gồm ba sư đoàn bộ binh 5, 7, 9 và năm trung đoàn binh chủng. Với chức năng là quả đấm chủ lực, lực lượng cơ động của Bộ ở chiến trường B2, nhiệm vụ của Quân đoàn là tiêu diệt địch, giải phóng nhân dân, làm nòng cốt cho lực lượng vũ trang ba thứ quân, làm chỗ dựa vững chắc cho lực lượng đấu tranh chính trị của quần chúng, đảm nhận một hướng chiến lược, một khu vực chiến trường và mục tiêu cuối cùng là giải phóng thành phố Sài Gòn – Gia Định.

Chiến công đầu tiên của Quân đoàn 4 là chiến dịch tấn công địch ở đường 14 – Phước Long. Mục tiêu cụ thể là diệt 2 chi khu Đồng Xoài, Bù Đăng, yếu khu Bù Na và một loạt đồn bốt nhỏ, giải phóng quốc lộ 14 đoạn từ Đồng Xoài đến Bù Đăng. Sau đó đánh phản kích, diệt từ một đến ba tiểu đoàn chủ lực địch, cô lập tiểu khu Phước Long.

Thượng tướng Hoàng Cầm, tên thật là Đỗ Văn Cầm, xuất thân từ một gia đình nông dân ở xã Sơn Công, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây. Năm 24 tuổi, ông giác ngộ cách mạng và nhập ngũ. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 209 (Đại đoàn 312), chỉ huy trung đoàn đầu tiên đánh thọc sâu vào khu trung tâm Mường Thanh, bắt sống toàn bộ Bộ tham mưu của cứ điểm.

10 giờ sáng ngày 29/4/1975, tôi nhận được mệnh lệnh tiến công số 03/ML của Trung tướng Lê Trọng Tấn – Phó tư lệnh Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh. Nhiệm vụ của Quân đoàn 4 là nhanh chóng tiêu diệt địch, đánh chiếm Hố Nai, Tam Hiệp, Biên Hoà, Cầu Ghềnh, Cầu Mới, phát triển tiến công đánh chiếm vững chắc đầu cầu ở hữu ngạn sông Đồng Nai, mở đường tiến về Sài Gòn. Tiếp đó, đột kích vào nội đô tiêu diệt địch, đánh chiếm quận 1, nhằm vào mục tiêu chủ yếu là Dinh Độc Lập và đài phát thanh.

Rút kinh nghiệm từ cuộc giải phóng Lâm Đồng trước đó, Sư đoàn 7 đang tập kết ở đường quân sự cách Trảng Bom 5 km đã tổ chức thành hai thê đội, mỗi thê đội là một trung đoàn bộ binh. Trước giờ xuất quân, tôi đã trao lá cờ “Quyết chiến Quyết thắng” cho anh Lê Nam Phong, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 7. Lúc 4h sáng ngày 30/4/1975, tôi đã cùng Bộ tư lệnh Quân đoàn ở tại Biên Hoà.

Cũng lúc ấy, phân đội đi trước của Sư đoàn 7 tiến đến cầu xe lửa Biên Hoà (cầu Ghềnh). Cầu có trọng tải 12 tấn, xe tăng không qua được. Lúc này, trên tất cả các hướng, quân ta đang vượt qua những điểm phòng thủ cuối cùng của địch, ào ạt tiến vào Sài Gòn. Hướng Đông Nam, Sư đoàn 325 (Quân đoàn 2) đánh chiếm chi khu Nhơn Trạch, khu kho thành Tuy Hạ, phát triển đến phà Cát Lái. Lực lượng thọc sâu của Quân đoàn 2 đã tiến đến cầu Xa Lộ trên sông Đồng Nai, bắt liên lạc với Trung đoàn đặc công 116, đơn vị đã chiếm và giữ cầu từ trước, cùng tiến vào Sài Gòn. Hướng Bắc, Quân đoàn 1 đã đánh chiếm chi khu Tân Uyên, căn cứ Lái Thiêu. Hướng Tây Bắc, Quân đoàn 3 diệt căn cứ sư đoàn 25 ngụy tại Đồng Dù, trung đoàn huấn luyện Quang Trung, đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất. Hướng Tây Nam, Đoàn 232 đã giải phóng thị xã Hậu Nghĩa, đưa lực lượng đến sát vùng ven thành phố.

Trên hướng Đông Sài Gòn, Quân đoàn 4 đã đánh tới thị xã Biên Hoà. Nhưng đường số 1 làm từ thời Pháp, lòng đường hẹp, cầu yếu. Quân địch ở khu căn cứ Biên Hoà, khu vực phòng thủ mạnh nhất của địch trước cửa ngõ Sài Gòn vẫn tiếp tục chống trả. Trước tình hình rất khẩn trương như vậy, tôi và Bộ tư lệnh Quân đoàn lệnh cho Sư đoàn 6 (thuộc Quân khu 7 nhưng tại thời điểm đó do Quân đoàn 4 chỉ huy) tiếp tục truy quét tàn binh địch, diệt các mục tiêu còn lại. Sư đoàn 341 (được Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh tăng cường đứng trong hàng ngũ Quân đoàn 4 từ ngày 2/3/1975) vượt qua cầu đường sắt bằng xe tải, đánh chiếm các mục tiêu đã được phân công ở quận Gò Vấp, quận 3 và quận 10. Sư đoàn 7 không tiến theo đường số 1 nữa mà quay ra đường Xa Lộ để vào quận 1.

12h30 ngày 30/4/1975, Đại đội 7, Sư đoàn 7, tiến theo đường Hồng Thập Tự, quẹo qua đại lộ Thống Nhất, tới thẳng dinh Độc Lập. Một giờ trước đó, Lữ đoàn xe tăng 203 và Trung đoàn bộ binh 66 (Quân đoàn 2) đã tiến vào dinh Độc Lập, buộc Tổng thống Dương Văn Minh và toàn bộ nội các ngụy đầu hàng. Lúc ấy, tôi cùng Bộ tư lệnh Quân đoàn vào thẳng dinh Độc Lập. Tổng thống Dương Văn Minh và chính quyền cũ lúc đó có khoảng hơn 10 người”.

Tuấn Dũng ghi
Việt Báo (Theo_VnExpress.net)
vietbao.vn

Sức mạnh của những bức ảnh trong cuộc chiến ở Việt Nam

Tim Page là một trong những phóng viên ảnh nổi tiếng thời chiến tranh Việt Nam, bắt đầu sự nghiệp ở Lào năm 1964, khi mới 18 tuổi. Ông trở thành phóng viên ảnh mẫu mực trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam và những bức ảnh của ông trở thành nguồn cảm hứng của nhiều bộ phim thời kỳ đó. Trong thời gian ở Việt Nam, Tim Page bị thương 4 lần.

Tim Page.

“Cuộc chiến ở Việt Nam là cuộc chiến đầu tiên được các phóng viên độc lập tường thuật, cuộc chiến đầu tiên được chụp ảnh màu, cuộc chiến đầu tiên được tường thuật qua truyền hình, và cuộc chiến đầu tiên không bị kiểm duyệt”, Tim Page nói về báo ảnh trong cuộc chiến tranh cách đây hơn 30 năm.

– Ông đã đến với nhiếp ảnh như thế nào?

– Câu trả lời là tôi được mời một công việc không thể từ chối trên phương diện chuyên môn. Tôi đang ở Lào vào năm 1964, và tôi đi chụp ảnh thay cho một người bạn khi đó đang làm việc cho hãng UPI (United Press International), khi anh ấy phải đi ra nước ngoài. Và tôi đã có được những bức ảnh duy nhất về cú đảo chính tại đó. Thế rồi UPI đề nghị tôi đi sang Việt Nam, làm phóng viên nhiếp ảnh cho hãng.

– Khi ông tới Việt Nam vào tháng 2/1965, ấn tượng đầu tiên của ông về Việt Nam là gì?

– Thật là khó nói, vì lúc đó Việt Nam còn mang nhiều sắc thái của Pháp và chiến tranh còn chưa in những dấu ấn đậm nét như vài năm sau đó. Miền nam Việt Nam vẫn là một nơi đầy lính Mỹ và giao thông tấp nập. Người ta có cảm giác nơi đây vẫn là một thuộc địa của Pháp.

– Xin ông kể lại một vài kỷ niệm đáng nhớ nhất về thời gian ông có mặt tại Việt Nam làm phóng viên nhiếp ảnh chiến tranh?

– Tôi không nghĩ là có thể đưa ra một sự kiện nào đó duy nhất. Nếu chúng ta hỏi bất cứ ai đã từng có mặt tại Việt Nam trong thời gian đó, đều khó có thể đưa ra một sự kiện nổi bật nhất. Tôi cho là không thể nói một sự kiện nào là quan trọng nhất trong ký ức của tôi.

Có lẽ hai điều phải nhắc tới, đó là được là một nhân chứng, được chứng kiến cuộc chiến diễn ra. Phải nói đấy là một đặc ân vô cùng to lớn, được chứng kiến cuộc đấu tranh giải phóng, được tiếp cận gần gũi đến vậy với những người tham gia cuộc chiến, dù là người Mỹ, người Việt… khi họ phải đối mặt với cái chết.

Chính bản thân tôi cũng đã từng bị thương và trải qua những đau đớn, chịu đựng, và đồng thời được có mặt tại một đất nước mà người dân đầy lòng vị tha, tập làm quen với những tình huống có thể nói cực kỳ điên rồ trút xuống đầu họ.

Việt Nam cũng là một nơi dễ sống, vui vẻ và đầy những điều thú vị. Tất cả chúng tôi, những phóng viên chiến tranh hồi đó đều rất trẻ và có thể nói là chúng tôi rất ý thức về tính mạo hiểm, về ý nghĩa của việc mình làm.

Những bức ảnh được đăng trên tạp chí Life, hay trên các báo chí khác ngày đó không giống như những hình ảnh được đăng ngày nay và chúng tôi có thể có những tác động, ảnh hưởng tới người xem, và người ta có thể rút ra một điều gì đó từ những bức ảnh ấy. Chúng đã giúp thay đổi cả tiến trình của cuộc chiến.

Tôi không nghĩ là ngày nay có thể làm được điều đó, và trên phương diện này thì phải nói cuộc chiến Việt Nam là cuộc chiến đầu tiên được các phóng viên độc lập tường thuật, cuộc chiến đầu tiên được chụp ảnh màu, cuộc chiến đầu tiên được tường thuật qua truyền hình, và cuộc chiến đầu tiên không bị kiểm duyệt. Cuộc chiến đầu tiên và cũng là cuối cùng trên nhiều phương diện.

Để sống thì đây cũng là một nơi tuyệt vời, vì Việt Nam là một đất nước rất đẹp, con người cũng đẹp, đồ ăn thức uống rất ngon. Và là một thanh niên thì những trải nghiệm đó là một điều không thể quên được.

– Là một thanh niên rất trẻ, khi tới Việt Nam trong thời gian chiến tranh ông mới 21 tuổi, ông đã làm thế nào để có thể đương đầu và trụ được trong bối cảnh chiến tranh như vậy?

– Tôi đã đương đầu, chống chọi với cuộc chiến như thế nào ư? Hoặc là trụ được hoặc là không. Bạn buộc phải đương đầu thôi vì như chúng tôi vẫn nói, phải đè nén nỗi sợ hãi, vì nếu không thì nó sẽ bao trùm, vượt lên trên chính bạn và bạn sẽ không thể bước ra để chụp thêm một bức ảnh nào nữa. Bạn trở nên quá sợ hãi, quá hoảng loạn, quá lo lắng, hốt hoảng trước sự điên rồ của chiến tranh.

Còn bản thân tôi đã đương đầu với chiến tranh như thế nào ư? Có lẽ là sau khi có mặt tại chiến trường, trở về sau những chiến dịch và chứng kiến cảnh người chết trong cuộc chiến, chụp những bức ảnh vô giá mang về, thì chúng tôi ngồi xuống với nhau, hút điếu thuốc lá, uống chút gì đó và nói về những điều đã chứng kiến, cố gắng thư giãn, cố không nghĩ tới những chuyện đã xảy ra tại chiến trường.

Nhưng vẫn biết rằng, ngày mai hay ngày kia, sẽ lại phải bước ra đối mặt với nó. Tôi không nghĩ là có thể thực sự “giải quyết” được tâm lý ấy mà chỉ có thể đè nén nó. Và trên một phương diện nào đó thì bạn biến trạng thái tiêu cực đó sang thành sự sáng tạo trong nhiếp ảnh, trong viết lách hay trong phim ảnh.

Tôi cho rằng sau này các vấn đề mới nảy sinh. Đó là khi nhìn lại quá khứ, và có cảm giác tội lỗi khi mình thì sống sót mà những người khác thì không. Và mãi sau này ta mới thực sự thích nghi được với những gì đến xảy ra với mình vào thời điểm đó.

– Ông đã bị thương nhiều lần và vài lần thương nặng tưởng chết, cảm giác của ông ra sao khi trở lại chiến trường sau mỗi lần bị thương như vậy?

– Khi còn trẻ, có lẽ người ta tin rằng, chẳng điều gì có thể xảy ra với mình được và rằng mình được Thượng đế hay một thánh nhân nào đó phù hộ. Nhưng đến khi chính mình bị thương thì bỗng nhận ra rằng mình cũng chỉ làm bằng xương bằng thịt như những người khác. Trong chiến tranh thì không ai có thể nói trước được là mình có thể bị trúng đạn ở đâu, trong rừng rậm, trong khi ngủ, trên đường phố hay trong vùng có giao tranh. Mối đe dọa đó đến từ mọi phía, vào mọi thời điểm, bất kể ngày hay đêm.

Và không có cách gì có thể tự bảo vệ mình trước những đe dọa như thế, vì vậy cách duy nhất có lẽ là tự tạo ra một vỏ bọc che chắn tâm trí của mình trước những đe dọa đó. Rồi khi bị thương, con người ta bắt đầu tự đặt câu hỏi với chính mình, tại sao lại ở đây, và ở đây để làm gì, họ tự vấn chính động cơ của mình.

Sau mỗi lần bị thương như vậy và lại bước vào cuộc chiến, lại đối mặt với sự điên rồ của chiến tranh thì nó cũng giống như sau khi ngã ngựa vậy, chỉ có điều ta có thể điều khiển được con ngựa mình cưỡi trong khi lại chẳng có chút quyền lực gì điều khiển được cuộc chiến cả. Vì thế sau mỗi lần bị thương, khi phải trở lại đối mặt với cuộc chiến thì việc tiếp tục làm việc lại ngày càng trở nên khó khăn hơn. Tới một lúc nào đó bạn tự nhủ rằng chỉ có thể chịu đựng tới mức này thôi, không thể chịu đựng thêm được nữa.

– Điều gì đã khiến ông tiếp tục, có phải vì danh tiếng, vì tính mạo hiểm, hay vì một lý tưởng nào đó?

– Đây là một câu hỏi khó trả lời vì khi con người ta trưởng thành hơn, già dặn hơn, thái độ chính trị của ta cũng dần thay đổi. Vào thời điểm khi tôi trở lại Việt Nam hồi năm 1968, tôi đã ở Mỹ và đã chụp ảnh tường thuật phong trào chống chiến tranh. Tôi trở thành người có tư tưởng chống chiến tranh hơn, và đối với tôi toàn bộ cuộc chiến trở nên điên rồ và vô nghĩa lý hơn.

Vì thế những đề tài tôi chụp thường trở nên mang tính chống chiến tranh mạnh mẽ hơn. Thực sự nói cho cùng thì tất cả các hình ảnh về chiến tranh đều trở thành những hình ảnh chống chiến tranh cả. Và tôi cho rằng mình bắt đầu tìm kiếm những hình ảnh để thể hiện thái độ chỉ trích, nhạo báng chiến tranh và cho thấy thực chất chiến tranh là gì.

Chiến tranh ở Việt Nam là độc nhất vô nhị, vì nó kéo dài rất lâu. Các cuộc chiến tranh hiện đại chỉ kéo dài không bao lâu, như cuộc chiến vùng Vịnh, kết thúc sau vài tuần. Trong khi tại Việt Nam người ta sống cùng chiến tranh, và bước vào cuộc chiến như đi làm vậy, và trên phương diện ấy thì nó quả là một kinh nghiệm thật khác thường.

Càng ở đó lâu bao nhiêu thì người ta càng nhận ra những nỗ lực thực dân hóa của Mỹ qua việc ném bom Campuchia và dùng B52 ném bom Việt Nam là một điều thực sự vô nghĩa lý vì đây là một cuộc chiến không thể thắng được.

Thật khó có thể nói với người Mỹ rằng quý vị sẽ không thể thắng được, rằng đó là chuyện sẽ không xảy ra. Trong khi đó người Mỹ tin rằng họ sẽ thắng mà đó lại là một cuộc chiến không thể thắng nổi. Vì thế, những bức ảnh chụp chiến tranh của tôi cũng trở nên có tính chính trị hơn, với những đổi thay trong cách chụp của mình, cách mình nhìn sự vật, và cách mình chọn lựa hình ảnh để chụp.

– Ông tin rằng các phóng viên nhiếp ảnh, các nhà báo có thể thay đổi được chiến cuộc?

Tôi cho rằng vào thời kỳ đó, chúng tôi đã làm thay đổi cuộc chiến qua những tường thuật rất nhiều về cuộc chiến tranh Việt Nam, vì đây là cuộc chiến đầu tiên được các nhà nhiếp ảnh độc lập tường thuật, cuộc chiến đầu tiên và cũng là cuối cùng trên phương diện tường thuật.

Và tôi cho rằng điều đó đã xảy ra được là vì trong thời chiến tranh ở Việt Nam đã có những nhà nhiếp ảnh chiến tranh rất tài năng. Những bức ảnh họ chụp được đăng trên trang nhất của các tờ báo, tạp chí lớn trên toàn thế giới và trên cả truyền hình nữa. Dần dà tất cả những cái đó đã làm thay đổi thái độ của công chúng về cuộc chiến, mà đặc biệt quan trọng là của công chúng tại Mỹ, rồi tại châu Âu, Nhật Bản, Australia và những nơi khác nữa. Thậm chí tới ngày nay, nếu ta hỏi những người ở một độ tuổi nhất định, những người đã từng biết chừng gần một chục tấm ảnh về chiến tranh Việt Nam thì những hình ảnh đó vẫn còn ghi lại trong trí nhớ của họ.

Tôi cho rằng một tập hợp chung những hình ảnh về chiến tranh đó, những trích đoạn trên truyền hình, trên báo chí thực sự đã làm thay đổi ý kiến của công chúng, lối nghĩ và cách nhìn nhận cuộc chiến, và về sự điên rồ của Mỹ trong cuộc chiến tại Việt Nam và tại Đông Dương.

– Nhưng ông không cho rằng nay các nhà báo, phóng viên nhiếp ảnh, truyền hình có thể làm điều đó, như trong cuộc chiến hiện nay tại Iraq?

– Không, đó là điều không thể làm được. Hãy nhìn vào cuộc chiến Iraq sẽ thấy. Về cơ bản đó là hình thức cài phóng viên đi theo tường thuật và do quân đội kiểm soát. Chúng ta không được thấy những thống khổ, khó khăn mà người dân Iraq phải chịu đựng, trừ phi xem các đài truyền hình Ảrập, như Al-Jazeera. Chúng ta không được thấy những gì từ cực bên kia vì chúng bị che giấu trước mắt của chúng ta.

Chúng ta không được thấy hình ảnh của các nạn nhân, và thậm chí cũng chẳng được thấy xác của những lính Mỹ bị thiệt mạng. Báo chí ngày nay gần giống như những quyển catalogue để đặt mua hàng thời những năm 60 vậy.

Trước đây, các tạp chí ra vào thứ bảy là lãnh địa của giới nhiếp ảnh, nhưng ngày nay đã trở thành lãnh địa của giới tiêu thụ. Các bài báo trong các tạp chí này là về thời trang, về nấu ăn, làm vườn, chứ không có những đề tài có chiều sâu hay có ý nghĩa sâu sắc.

Vấn đề là những gì các phóng viên nhiếp ảnh và truyền hình ghi lại trong chiến tranh nghiễm nhiên sẽ khiến người xem buồn và khiến người ta phải suy nghĩ. Và nếu những hình ảnh đó lại được cắt bỏ, biên tập lại thì toàn bộ việc có mặt và ghi lại những hình ảnh đó sẽ chẳng còn ý nghĩa hay tác dụng gì nữa. Tôi cho đây là một vấn đề rất căn bản.

– Ông ở Việt Nam ba năm từ năm 1965 tới 1967 và sau đó ông trở lại vào năm 1968, cũng vẫn trong thời gian có chiến tranh. Lần đầu tiên ông ở trở lại Việt Nam sau chiến tranh là năm 1980. Vậy cảm tưởng của ông về một nước Việt Nam ngày nay là gì?

… Được thấy một đất nước đã từng bị tàn phá thảm khốc vì một cuộc chiến tranh hiện đại và được thấy đất nước đó phục hồi quả là một điều kỳ diệu.

Thật cảm phục khi được thấy những người dân đã từng là nạn nhân của cuộc chiến, khốn khổ vì cuộc chiến nay trở lại cuộc sống bình an mà không hề mang hận thù, đầy lòng vị tha, sống với hiện tại, và bỏ qua quá khứ.

Nhiều người thuộc thế hệ trẻ ngày nay không biết gì về chiến tranh ngoài những gì qua sách vở và trên phương diện đó thì tôi cho rằng nghĩa vụ của chúng ta là phải đem lại cho họ một hình ảnh chính xác về cuộc chiến, về lịch sử.

– Xin hỏi ông một câu cuối cùng, ông có nghĩ là Mỹ cần phải giúp giải quyết hậu quả chiến tranh, như trong vấn đề chất độc da cam, hay giúp những thương binh do cuộc chiến?

– Tôi cho rằng trong vấn đề chất độc da cam thì chắc chắn là nên. Các cựu chiến binh Mỹ tham gia cuộc chiến Việt Nam đã bị ảnh hưởng do chất độc da cam trong thời gian chiến tranh đã kiện và được bồi thường những khoản tiền đáng kể cho chính bản thân họ hay cho các thân nhân của họ. Có sự cố tình tách biệt những người này với những nạn nhân chất độc da cam tại Việt Nam.

Theo tôi cách tốt hơn cả là nên mở cửa, cởi mở hơn. Mỹ trong suốt một thời gian dài đã áp dụng chính sách cấm vận với Việt Nam, trong khi tốt hơn cả là tạo công ăn việc làm và có một nền kinh tế lành mạnh và như thế có nghĩa là các cựu chiến binh có thể được xã hội trông nom. Quá khứ đã qua và tôi cho rằng mọi người cần được sống trong hòa bình.

(Theo BBC)
Việt Báo
vietbao.vn

Chiến trường cũ trong con mắt phóng viên nước ngoài

Cựu phóng viên ảnh chiến trường Việt Nam năm 1972, 1973, bà Barbara Gluck.

Trong đoàn 15 nhà báo nước ngoài thăm Củ Chi hôm 26/3, có 2 người Mỹ, một là cựu phóng viên ảnh tại Sài Gòn những năm ác liệt trước giải phóng và người còn lại đã viết sách về VN. Men theo lối nhỏ chật hẹp của địa đạo, chuỗi ký ức trong họ dần tái hiện.

Thomas A. Bass được chú ý hơn cả trên chuyến xe. Anh có nụ cười rạng rỡ, sống mũi cao, đôi mắt biết nói, phong cách gần gũi, giản dị. Không dấu hiệu nào khác ngoài tấm thẻ do Sở Ngoại vụ cho thấy người này từng là phóng viên kỳ cựu của The New Yorker, tác giả cuốn sách nổi tiếng VietnamericaThe War comes home viết về những đứa con lai, cũng là người tìm ra cha đẻ cho ca sĩ Phương Thảo sau 3-4 năm vật lộn tại Mỹ…

Xe đi qua một rừng cao su, ước chừng mới đây thôi thu hoạch mùa mủ đầu tiên: thân còn cộc, màu lá xanh non không đủ ngăn nắng lửa Củ Chi. Thomas thốt lên: “Chúng đã được trồng lại. Trước đây chỉ là những hố bom, chết chóc, không cây cối. Chiến tranh đã từng hủy hoại tất cả… Điều này tôi được biết qua những cuốn sử và tác phẩm văn học viết về chiến tranh tại Việt nam. Tôi không phải là phóng viên đã từng có mặt ở Việt Nam thời kỳ 1975 vì lúc đó tôi còn nhỏ. Cho đến lần đầu tới Việt Nam năm 1991, tất cả những điều tôi biết về nơi này đều qua những cuốn sách”.

Thomas nhắc tên những cuốn sách từng đọc, trong đó, để lại nhiều ấn tượng, cho anh một hình dung thật nhất chính là Sorrow of War, bản tiếng Anh tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Việt Nam Bảo Ninh. Những trang sách ghi lại câu chuyện tình có thật trong quãng thời gian gian khổ nhất cuộc chiến, những trải nghiệm, niềm đau, nỗi sợ hãi… ám ảnh suốt cuộc đời không chỉ của riêng anh bộ đội trong tác phẩm, mà còn của binh lính Mỹ, những người từng để lại một phần thân thể mình tại Việt Nam vào cái ngày họ không mảy may hy vọng trở về đất mẹ. “Người Việt Nam đã trải qua cuộc chiến tranh dài, từ khi chống Nhật, Pháp, Mỹ để có một chiến thắng đáng ghi nhận vào những ngày tháng 4/1975. Họ có quyền tự hào về điều đó”, Thomas nói.

Từ 22 đến 26/3, khoảng 100 phóng viên, nhà báo nước ngoài đến từ 67 hãng thông tấn quốc tế và trong nước đã dự họp báo, đưa tin về các hoạt động kỷ niệm 30 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước tại TP HCM.Sau cuộc làm việc với lãnh đạo UBND thành phố ngày 22/3, đoàn đã đi thăm Trung tâm Bảo trợ trẻ tàn tật Thị Nghè, Làng Hòa Bình Từ Dũ, địa đạo Củ Chi, Cần Giờ.

Còn 2 cuốn sách của các tác giả Mỹ được nhắc tới là A bright, shining lie của Neal Sheehan,Dispatches của Michael Herr. Chiến tranh, theo những gì đọng lại trong Thomas là một thảm họa, một sai lầm của nước Mỹ vì có quá nhiều người đã chết.

Nói về cuốn sách của mình, Vietnamerica, xuất bản năm 1995, Thomas cho rằng, đây đơn giản chỉ là cuốn sách ghi lại câu chuyện, số phận những đứa con mang hai dòng máu Việt Nam – America, dựa vào sự kiện những năm 1988, 1990, khi Chính phủ Mỹ tìm và đưa tất cả những đứa con lai Mỹ, hiện đang là trẻ bụi đời (children of dust) bị cha đẻ bỏ rơi sau 13 năm giải phóng. “Những đứa con lai lúc này đã lớn, khi sang Mỹ được trả về gia đình hoặc được Chính phủ nuôi, cho ăn học theo văn hóa, đời sống Mỹ, đến khi đủ 18 tuổi có thể sống tự lập như bất kỳ một người Mỹ bình thường”, Thomas nói.

Ngồi ngay sau Thomas trên chuyến xe chính là Barbara Gluck, một cựu phóng viên ảnh đã từng vác máy rong ruổi cùng chồng trên chiến trường miền Nam Việt Nam, cũng là cây bút của The New York Times trong những năm 1972, 1973.

Lần đầu đến Việt Nam vào tháng 4/1968, Barbara làm việc như một cộng tác viên. Bà đến Đông Nam Á trong chuyến đi dài 3 tuần, theo lời mời của Joseph Treaster, phóng viên thường trú của The New York Times, người sau này là chồng của bà.Gặp nhau tại Hong Kong, cả hai bay đến Sài Gòn.

“Tôi đã ở đây 3 ngày trước khi có trận đánh lớn của quân đội Việt Nam. Khi đó, tôi đang ở khách sạn Continental bỗng nghe thấy tiếng bom nổ ở ngay trung tâm thành phố. Ngay sau đó, tôi đã nhìn thấy những thân thể người ở ngay bên bờ sông, nhiều binh lính cầm súng trên tay…, những cảnh tượng một cô gái New York như tôi chưa bao giờ thấy. Lúc đó tôi chưa đầy 30 tuổi”, bà nói.

Chuyến đi Việt Nam tiếp đó là năm 1972, cùng chồng. Barbara nhớ như in khoảnh khắc bấm máy trong 14 giờ bay trên một chiếc B52 thả bom miền Bắc. Bà cũng không thể không nhớ 24 giờ nằm vùng tại một làng ở Mỹ Tho. “Tôi đã chụp ảnh trẻ em, bộ đội Việt Nam. Cái cảm giác lúc đó về ngôi làng là hình như không có chiến tranh đang xảy ra. Lũ trẻ tóc vàng hoe, chạy xung quanh tôi chỉ trỏ như chưa bao giờ nhìn thấy người Mỹ. Người dân đã cho tôi ăn, không có kẻ thù và coi như bạn tốt”, Barbara kể lại.

Thomas và Barbara bên cạnh quả bom B52

Thomas và Barbara bên cạnh quả bom B52

Giờ đây, ngay tại Củ Chi, không khó khăn để Barbara nhận ra hình thù quả bom B52 trong góc nhà trưng bày. Bà chỉ cho nhiều đồng nghiệp đứng cạnh: “Tôi đã nhìn thấy những người phụ nữ bình thường, họ đang làm việc. Một tiếng bom nổ, khói mù mịt. Máu trào ra từ hai bên tai và hốc mũi của người phụ nữ. Những hình ảnh tôi không thể quên”.

Rời nhà trưng bày, đoàn phóng viên đi qua bếp Hoàng Cầm. Ai cũng nhón thử một miếng sắn luộc chấm với muối vừng, món dã chiến của bộ đội Việt Nam. Tranh thủ lúc nghỉ uống nước, Thomas tiết lộ, sau chuyến đi này sẽ viết một bài báo dài 10.000 từ về những cảm nhận Việt Nam sau 30 năm chiến tranh, về chính trị, văn hóa, giáo dục. Còn Barbara sẽ ở lại để ghi những hình ảnh TP HCM vào ngày 30/4 năm nay, đồng thời đến thăm những làng trẻ em nạn nhân chất độc da cam, trẻ mồ côi để làm giàu bộ sưu tập cá nhân của mình.

“30 năm quay lại Việt Nam, tôi thực sự không thể tin nổi những đổi thay nơi thành phố này. Đứng ở quảng trường Nhà hát thành phố, ngắm khách sạn Caravelle, Continental…, tôi có cảm giác như đứng ở Beverly Hill, Mỹ. Tôi chỉ biết nói một điều rằng tôi yêu thành phố này, tôi yêu Việt Nam và các bạn”.

Lê Nhàn Việt Báo (Theo_VnExpress.net)
vietbao.vn

Bảo đảm binh lực cho các chiến dịch Xuân 1975

QĐND Online – Qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, chúng ta đã tiến hành khoảng 50 chiến dịch lớn nhỏ. Chưa bao giờ việc bảo đảm nhân tài,vật lực, trong đó có bảo đảm vũ khí, trang bị lại hùng hậu, sung sức như 3 chiến dịch lớn trong Mùa Xuân 1975.

Theo các tài liệu công bố, trong Chiến dịch Tây nguyên, trận mở màn Buôn Mê Thuột, lực lượng ta mạnh áp đảo đối phương: xe tăng, xe bọc thép ta nhiều gấp 1,2 lần địch, pháo lớn ta gấp 2,1địch, còn bộ binh ta gấp tới 5,5 lần địch. Chính vì thế, khi tấn công và cả khi địch tổ chức phản kích hòng chiếm lại thị xã này, ta đã có đủ quân số, vũ khí, sử dụng pháo binh, xe tăng đánh địch phản kích rất hiệu quả. Điều mà ở các chiến dịch truớc đây, chưa bao giờ ta có hoả lực, cơ giới, thiết giáp hiệp đồng binh chủng với bộ binh “đánh nhanh, giải quyết chiến trường nhanh” như thế.

Trận đánh trên đèo Ma-đrắc, cuối tháng 3-1975, mục đích của Sư đoàn 10 Quân Giải phóng là nhằm chọc thủng phòng tuyến này, về duyên hải Trung bộ. Đèo Ma-đrắc do lữ đoàn dù của quân đội Ngụy chốt giữ, có máy bay chiến đấu chi viện mạnh, nhưng tại đây, trung đoàn pháo binh của ta bắn chế áp địch, có ngày bắn liên tục nhiều giờ liền, “khoá mõm” pháo binh địch. Ta còn khống chế các điểm cao, eo núi, sau đó nhiều xe tăng, xe thiết giáp xuất kích, hiệp đồng cùng bộ binh đánh chia cắt đội hình địch. Cuối cùng lữ đoàn dù đối phương đã bỏ trận địa chạy tháo thân thì lại bị bộ phận dưới chân đèo của ta đánh vỗ mặt. Ta giải phóng hành lang đường 21, tiến về Nha Trang. Kết quả ấy nhờ ta đáp ứng đủ đạn pháo, đạn phòng không, xăng dầu cho xe bọc thép kịp thời tác chiến.

Xe tăng quân Giải phóng húc đổ cổng Dinh Độc Lập

Tài liệu của các sĩ quan quân đội Việt Nam cộng hoà sau này thú nhận: Địch rất sợ uy lực, hoả lực và sức đột phá của xe tăng T54, T55 Quân giải phóng, bởi lẽ nòng pháo của xe tăng “cộng quân” cỡ 100mm, trong khi đó xe tăng của chúng chỉ có cỡ 75mm mà thôi. Viên đại tá nguy Đặng Văn Quang, Tư lệnh mặt trận Buôn Mê Thuột và đại tá Tỉnh trưởng Nguyễn Trọng Luật sau này thừa nhận. Khi Buôn Mê thuột bị tấn kích, các pháo đội của họ không đủ tầm bắn chế áp pháo binh đối phương, vì pháo của họ cỡ nòng 105mm, trong khi pháo nòng dài của đối phương bắn đạn 130mm!

Trong chiến dịch Tây Nguyên, có tới hàng trăm máy bay của địch từ 3 sư đoàn không quân tới ném bom, bắn rốc két ứng cứu cho bộ binh. Trong đó phải kể đến F5E, A-37, A1…cùng rất nhiều trực thăng vũ trang bay trên các độ cao chi viện. Tuy nhiên, sự xuất hiện của Tên lửa vác vai A72, (địch gọi là SA-7E), của Quân giải phóng đã tìm diệt khá hiệu quả, bắn rụng nhiều máy bay, khiến cho việc ném bom của địch gặp khó khăn vì không dám hạ thấp chế áp các trận địa. A72 thực sự là “khắc tinh” của phi cơ quân nguỵ. Trong đội hình mỗi sư đoàn bộ binh của ta còn được biên chế 1 tiểu đoàn pháo phòng không (PPK) 37-2mm; 1 đến 3 phân đội tên lửa tầm thấp A-72. Các trung đoàn bộ binh có 1 đại đội súng máy phòng không (SMPK) 12,7mm. Chưa bao giờ bảo đảm súng phòng không theo sư đoàn lại mạnh như thế.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, tên lửa tầm thấp A-72 đã bắn rơi tại chỗ 34 máy bay địch. Ngay trên hướng Tây Bắc Sài Gòn trong ngày 29-4, tên lửa A-72 đã bắn rơi 9 máy bay địch ở Phú Lâm, Tân Tạo, ngã tư Bảy Hiền. Cũng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh chúng ta đã tổ chức thành công hiệp đồng tác chiến giữa lực lượng phòng không với bộ binh, xe tăng và các tổ, đội bộ binh bắn máy bay bay thấp. Phát huy hỏa lực của các loại vũ khí trang bị PPK 57mm, 37mm, 23mm và súng máy phòng không 12,7mm được sử dụng đánh cả địch trên không và địch mặt đất, mặt nước. Riêng 2 trung đoàn phòng không 234 và 284 đã bắn cháy, bắn chìm 10 tàu chiến địch trên sông Đồng Nai.

Có được lực lượng mạnh về hoả lực, sung sức về sức đột phá, cơ động triển khai nhanh nhờ cơ giới…phải kể đến việc bảo đảm vận chuyển của bộ đội Trường Sơn trong 2 năm 1973 và 1974. Khối lượng hàng hoá chuyển vào chiến trường gấp 7 lần năm 1971-1972. Chỉ tính riêng tuyến đường ống xăng dầu cùng với hệ thống cột xăng cấp phát, xuyên qua hàng nghìn cây số núi rừng Trường Sơn, nhiều quãng phải vượt qua địa hình vô cùng hiểm trở – núi cao 700 mét… đã chi viện chiến lược, chuyển tải hơn 270.000 tấn xăng dầu đáp ứng yêu cầu vận tải cơ giới quy mô lớn, cơ động binh khí kỹ thuật cho các chiến trường và có dự trữ.

Đầu năm 1974, lực lượng bộ đội hợp thành trực thuộc Bộ Tư lệnh Trường Sơn gồm 9 sư đoàn binh chủng (4 sư đoàn công binh, 2 sư đoàn ô tô vận tải, 1 sư đoàn phòng không, 1 sư đoàn bộ binh, 1 đoàn chuyên gia giúp bạn), 12 trung đoàn binh chủng cơ động và một sư đoàn cao xạ, một trung đoàn tên lửa do Bộ phối thuộc. Với 2 sư đoàn và 2 trung đoàn xe vận tải, toàn tuyến đã có hơn 10.000 xe vận tải các loại, cộng với hơn 1.500 xe-máy phục vụ các binh chủng. Tổng quân số kể cả lực lượng phối thuộc và thanh niên xung phong là 120.000 người.

Dự kiến ban đầu khối lượng vật chất mà bộ đội Trường Sơn vận chuyển chi viện cho các chiến trường trong mùa khô 1974-1975 là 510.000 tấn nhưng quá trình thực hiện đã lên tới 560.000 tấn. Ngoài hơn 4.500 xe – máy đã có, bộ đội Trường Sơn tiếp nhận hơn 5.500 xe máy do miền Bắc bổ sung, đưa tổng số xe máy toàn tuyến lên hơn 10.000 chiếc; trong đó có hơn 7.000 xe vận tải.

Nhớ lại những năm tháng đầu tiên chiến đấu cấp trung đoàn ở Tây Nguyên, những năm 1965-1966, pháo cối, pháo 85 mm, đạn tính từng viên, lương thực thiếu, nhiều đơn vị phải phát nương tỉa bắp để tự nuôi nhau. Binh lực hạn hẹp đã chi phối rất lớn đến sức chiến đấu của các đơn vị.

Thắng lợi trên chiến trường, có sức đóng góp “thường xuyên quyết định thắng lợi” của hậu phương. Mỗi đồng tiền, bát gạo, viên thuốc, khẩu súng, trái đạn pháo của nhân dân gửi vào chiến tường thực sự đã phát huy hiệu quả.

Chiến dịch giành thắng lợi, cán bộ chiến sĩ luôn ghi nhận có công sức rất lớn của lực lượng bảo đảm. Sau này số chiến lợi phẩm ta thu được như đạn pháo 105, xe cơ giới, xăng dầu, khiến ta càng đánh càng mạnh.

PHÙ VÂN
qdnd.vn

Bắt sống tướng ngụy Lý Tòng Bá

Cuối tháng 3 vừa qua, tôi được chứng kiến cuộc gặp gỡ thật cảm động giữa những cựu cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 20 (K20) thuộc Đoàn 198 đặc công. Họ là những người đã tham gia hàng trăm trận đánh trên chiến trường Tây Nguyên và trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Vào những ngày này, ký ức chiến tranh như đang sống dậy trong lòng họ…

Nghĩa trang liệt sĩ xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn (Thành phố Hồ Chí Minh) hiện có 7 ngôi mộ liệt sĩ từng là cán bộ, chiến sĩ K20 hy sinh trong trận đánh chiếm cầu Bông đêm 29, rạng ngày 30-4-1975. Hôm nay, trong ngày gặp mặt, những cựu chiến binh (CCB) K20 đến nghĩa trang thắp hương, viếng mộ đồng đội. Trong làn khói hương nghi ngút, nhiều CCB không cầm được nước mắt khi nhớ về những đồng đội đã hy sinh chỉ vài tiếng đồng hồ trước giờ toàn thắng.

ại tá Lê Mạnh Hùng, khi đó là quyền Tiểu đoàn trưởng K20 kể lại: “Đêm ngày 28-4, K20 nhận lệnh phải cơ động lực lượng tiêu diệt địch đang chốt giữ cầu Bông mở đường cho đại quân ta tiến về giải phóng Sài Gòn. Đây là cây cầu huyết mạch trên quốc lộ 22, do vậy để chặn đường tiến quân của Quân giải phóng, địch bố trí hệ thống phòng ngự nhiều tầng. Hai bên đầu cầu là hai lô cốt cùng xe tăng án ngữ. Dưới cầu, địch đã gài thuốc nổ để chuẩn bị phá cầu cản đường tiến của đại quân ta. Theo kế hoạch, 2 giờ sáng ngày 30-4, hai mũi tiến công của tiểu đoàn đồng loạt nổ súng. Địch chống trả rất điên cuồng. Cuộc chiến đấu giành giật từng thước đất, từng mố cầu diễn ra quyết liệt. Hai xe tăng của địch đã bị bắn cháy. Trước sức tiến công mãnh liệt của tiểu đoàn, bọn địch chốt giữ cầu Bông hoảng loạn tháo chạy, không kịp phá cầu. K20 tổ chức phòng thủ đề phòng địch tái chiếm cầu. Trong trận đánh này, đơn vị hy sinh 7 đồng chí …”.

Trong lúc cuộc chiến đấu giữ cầu Bông diễn ra thì Sư đoàn 320 của ta đánh vào căn cứ Đồng Dù. Hàng nghìn tên địch từ căn cứ Đồng Dù bỏ chạy nhưng cầu Bông đã bị quân ta chiếm giữ. Chúng lội sình, vượt kênh chạy trốn về Sài Gòn. Vào lúc 5 giờ sáng ngày 30-4, có một nhóm gồm 5 tên địch mặc quần đùi, trong đó một tên dáng người thấp, béo tròn lọt vào điểm chốt giữ phía Đông, cách cầu Bông gần 500m thì bị quân ta bắt sống. Quyền Tiểu đoàn trưởng Lê Mạnh Hùng đoán chắc tên này là chỉ huy, anh dí súng vào bụng hắn, quát:

– Mày ở đơn vị nào?

– Dạ chúng em ở Sư đoàn 25 dù ạ.

-Mày làm gì? Dạ em là Trung tá, Tham mưu trưởng Sư dù 25 ạ.

– Mày nói láo. Mày khai thật, không tao bắn.

Mặt tên địch tái xanh. Lúc này nó mới khai thật: “Dạ em là Chuẩn tướng Lý Tòng Bá, Tư lệnh Sư đoàn dù 25”. Nghe thấy vậy, quyền Tiểu đoàn trưởng Lê Mạnh Hùng ra lệnh:

– Mày phải kêu gọi lính của mày bỏ súng đầu hàng.

Lý Tòng Bá vội dùng loa tay kêu gọi binh lính địch ra hàng. Hàng nghìn tên địch ẩn nấp dưới những đám ruộng, bờ kênh, lóp ngóp đứng dậy buông súng, xin hàng…

Chuyện xảy ra cách đây 35 năm, nhưng những CCB K20 tham gia trận đánh cầu Bông ấy vẫn còn nhớ mãi. Anh Nguyễn Đình Tuất, khi ấy là chiến sĩ liên lạc cười vui: “Lúc bắt được nó, chúng tôi có biết nó là thằng nào đâu. Thấy thằng to béo thì nghĩ nó là chỉ huy. Ai ngờ lại đúng. Mà nó cũng ngoan cố lắm. Đến khi anh Hùng dí súng vào bụng, nó mới khai thật. Lúc ấy, tôi mới rõ mặt chuẩn tướng ngụy Lý Tòng Bá”.

Bây giờ, dù mỗi người một nơi, nhưng cứ vào dịp 30-4 hằng năm, những CCB K20 đặc công vẫn thường tổ chức gặp mặt để cùng nhau ôn lại những kỷ niệm của một thời trai trẻ; để được sống lại với những năm tháng chiến đấu hào hùng.

Phạm Văn Mấy
qdnd.vn

Sài Gòn những ngày cuối qua mắt phương Tây

“Sự sụp đổ của cơ cấu dân sự và quân sự Việt Nam Cộng hòa là bi kịch và cay đắng” – Hen-ri Kít-xinh-giơ (Henry Kissinger) đã phải than vãn như vậy.

Các báo Le Nouvel Observateur, Le Figaro, Thời báo Niu Y-oóc xôn xao đưa tin: “Sức mạnh áp đảo của quân Bắc Việt đã áp sát cửa ngõ Sài Gòn”. Ngày 21-4-1975, tiếng súng từ ngoại vi đã dồn dập vọng vào trung tâm Sài Gòn. Nhà mấy nhân viên ISCC – Viện trợ quân sự Mỹ ở đường Trần Quốc Toản tụ hội lắm giai thoại về chính quyền Cộng hòa Nam Việt. Có người đưa tờ Le Figaro thông báo tin các cố vấn Nhà trắng thúc giục Tổng thống Pho (Ford) tái xác nhận rằng “Mỹ không có ý định cam kết với chính phủ Nam Việt về quân sự”. Giám đốc CIA Uy-li-am Câu-bi (William Colby) nói trắng ra là “phải thay thế Thiệu để đổi lấy sự di tản không bị phía bên kia gây trở ngại”. Các phe phái trong chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng hy vọng tìm được giải pháp tồn tại đang ép ông Thiệu phải từ chức để mở đường thương lượng với phía giải phóng. Tối hôm ấy, Nguyễn Văn Thiệu từ chức với bài phát biểu cay đắng: “Tổng thống Mỹ lừa tôi ký vào Hiệp định Pa-ri rồi bỏ mặc. Họ đã bán đứng chúng ta. Thử hỏi trên thế giới này còn ai tin được lời hứa bạn bè của Mỹ”.

Xe tăng 390 húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập trưa 30-4-1975. Ảnh: Francoise Demulder

Ba hôm sau tình hình nội đô Sài Gòn tĩnh lặng khác thường. Tạp chí Thời đại thông báo: “Ngày 24-4-1975 tại giảng đường Đại học Tulane, Tổng thống Pho đọc bài diễn văn quan trọng “Việc trở lại trong danh dự”, vì rằng là “Cuộc chiến tranh đã kết thúc với Mỹ, người Việt Nam phải tự lo giải quyết số phận của mình”. Ngày 26-4-1975, nhà báo Liên Xô Mi-kha-in (Mikhail) viết rằng cựu tổng thống Thiệu đã rời Sài Gòn đi Đài Loan mang theo 5 tấn vàng và đá quý. Gioóc-giơ Chớt (George Church), phóng viên Thời đại tường thuật: “Cựu tổng thống lúc này không còn giữ kẽ, cứ thút thít theo người tùy tùng lên thang máy bay. Ông ta bước vội vã nói câu từ biệt không rõ lời”. Trong khi đó, Quốc hội Việt Nam Cộng hòa vẫn chưa tìm được gương mặt khả dĩ làm “chiếc cầu thương lượng” với phía bên kia. Đại sứ Mỹ Mác-tin (Martin) không thể chần chừ hơn nữa, liền gây sức ép để Trần Văn Hương từ chức. Người Mỹ đặt cả hy vọng vào Dương Văn Minh – “con bài” cứu vãn tình thế.

Chiều 28-4-1975, mấy tốp máy bay từ đâu ào tới Tân Sơn Nhất, hai loạt bom nổ lộng óc. Tối đó lễ tấn phong tổng thống kế nhiệm được tiến hành gấp gáp, mặc dù hơn 60 nghị sĩ đã bỏ cuộc họp, chỉ còn lại những bộ mặt lo âu thấp thỏm. Các nhân viên ISCC rò rỉ tin Tân Sơn Nhất bị tê liệt, đại sứ quán lo di tản khẩn cấp. Đại sứ Mác-tin nhận được thông báo bên kia: “Mỹ phải ra đi trong 24 giờ”. Mác-tin sụp xuống nói được mỗi câu: “Đi đứt cả rồi”.

Các kế hoạch di tản lập tức được thực hiện. Các sân thượng cao ốc và tòa đại sứ là sân bay di tản. Tuy nhiên Mác-tin vẫn hy vọng biện pháp thương thuyết trì hoãn kéo dài sự có mặt của Mỹ ở Sài Gòn. Sau khi thu xếp cho vợ lên máy bay, Mác-tin về phòng chờ kết quả đề nghị phía giải phóng cho mình gặp trực tiếp. Phía bên kia đã từ chối gặp Đại sứ Mỹ. Trong khi đó lại có tin hàng trăm pháo, tên lửa Bắc Việt đã bao quanh Sài Gòn, có thể giội lửa vào trung tâm thành phố bất cứ lúc nào. Mác-tin vội nhờ thông báo phía bên kia đừng pháo kích và nói “người Mỹ đang tiếp tục ra đi”. Nhưng quá nửa đêm 28-4-1975, kế hoạch “Giông tố” của đại sứ Mỹ vẫn chưa thực hiện.

Rạng sáng 29-4-1975, các cánh quân giải phóng từ 5 hướng nhất tề tấn công. Tình thế không cho phép chần chừ, Mác-tin ra lệnh bắt đầu chiến dịch “Giông tố” từ 11 giờ ngày 29-4-1975. Tín hiệu do đài phát thanh thông báo “Nhiệt độ 105 độ F (hơn 40 độ C)”, tiếp đến giọng ca nữ hát bài “Tôi mơ đêm Nô-en tuyết phủ” cứ 15 phút báo hiệu một lần đến khi kết thúc cuộc di tản.

Hàng ngàn, vạn người ào tới điểm quy định. Giá vé xuất cảnh tăng 20.000 đô-la một tấm vẫn khó len qua được chiếc cổng sắt, trừ phi là thân nhân người Mỹ. Tuy vậy số người qua được rất ít. Thậm chí một số người thân của tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa còn bị gạt lại. Một số người bị giẫm đạp chết ngay ở cổng tòa đại sứ.

Thực trạng cho Mác-tin thấy rõ sự tuyệt vọng đã đến cùng cực. Mác-tin rũ người, quan chức sứ quán phải nâng lên máy bay. Đúng 4 giờ 58 phút ngày chót cùng tháng 4-1975, chiếc H53 rời tòa đại sứ đưa Mác-tin ra chiến hạm. 11 giờ, chiếc xe tăng Bắc Việt xông tới húc đổ cánh cửa dinh tổng thống Sài Gòn. Xe ô tô TS1 chở bộ binh bám sát tiến vào giữa sân. Tổng thống Dương Văn Minh và nội các ngồi chờ ở phòng tình hình dưới mặt đất.

11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, lá cờ giải phóng được kéo vút lên nóc Dinh Độc Lập. Phóng viên Le Nouvel Observeteur đứng sững lắng nghe muôn đợt âm thanh ập tới, tiếng hoan hô bật lên từ mọi phía: “Việt Nam thống nhất, độc lập muôn năm”. Người phóng viên này đã ghi lại mở đầu bài “Mười hai điều cần biết để hiểu một cuộc chiến tranh” như sau: “Vì rằng suốt 30 năm trường, một dân tộc nhỏ đã phải chịu biết bao đau khổ hy sinh, một dân tộc đã trở thành một vấn đề mà toàn thế giới bị lương tâm cắn rứt, đồng thời cũng là niềm hy vọng của kẻ yếu, niềm tin của những người bị áp bức, hiện thân tinh thần ngoan cường bất khuất của chủ nghĩa dân tộc cách mạng đã đánh bại chủ nghĩa đế quốc, siêu cường phương Tây tưởng rằng mình có thể đè bẹp được một nền độc lập dân tộc… Việt Nam đã thật sự thắng. Trước mắt ta không có cảnh tan hoang, cũng không có đoàn người lếch thếch run rẩy trước mũi lê tuốt trần… Làm gì có chuyện tắm máu như người Mỹ rêu rao”.

Nguyễn Việt Phương
qdnd.vn

Người anh hùng đánh kho bom sân bay Đà Nẵng

QĐND Online – Chuẩn bị mở chiến dịch “Tấn công tìm diệt căn cứ Thượng Đức”, cửa ngõ án ngữ phía tây thành phố Đà Nẵng, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 quyết định phải đánh nổ bằng được kho bom sân bay Đà Nẵng nhằm làm tê liệt sân bay, không cho địch dùng máy bay lấy bom đạn tại đây khống chế quân ta ở mặt trận Thượng Đức. Người được giao nhiệm vụ đặc biệt này là đồng chí Võ Văn Minh.

Sinh trưởng trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng của xã Điện Minh, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, mới 15 tuổi, Võ Văn Minh đã sôi nổi tham gia phong trào học sinh sinh viên đấu tranh chống Mỹ-nguỵ. Năm 22 tuổi, anh nhận nhiệm vụ đánh kho bom sân bay Đà Nẵng.

Ảnh minh họa/tư liệu internet.

Làm việc trong phân đoàn đạn dược thuộc quân đoàn 1 chuyên bảo quản bom đạn ở kho bom, được giác ngộ cách mạng, Võ Văn Minh dùng chiếc hon đa 67 chở nhiều lần 8 kg thuốc nổ C4 và 8 kíp nổ chậm vào sân bay. Đến 5 giờ 30 phút sáng ngày 29-11-1974, anh khéo léo đột nhập vào 4 kho bom đặt thuốc nổ và tra kíp hẹn giờ. Xong việc anh về nhà tắm rửa, đúng 7h30 phút trở lại trong đội hình phân đoàn đạn dược điểm danh, vào kho làm việc. 9giờ 30, một tiếng nổ long trời vang lên. Anh bình tĩnh hoà trong dòng người chạy thục mạng theo đường băng về hướng bắc sân bay. Kết quả 20.000 quả bom từ 250 đến 1.000kg, 2 kho đạn đại liên, 2 kho đạn rốc két bị phá huỷ, một số máy bay trúng mảnh bom hư hỏng, 2 đường băng bị cày phá, sân bay bị tê liệt trong nhiều ngày.

Hay tin kho bom sân bay bị nổ, cả mặt trận Thượng Đức reo mừng, hăm hở xông lên tiêu diệt quân thù. Võ Văn Minh được Bộ Tư lệnh Quân khu 5 gửi điện khen ngợi vì đã lập “một chiến công phối hợp đẹp với chiến trường Thượng Đức, giảm bớt tổn thất về thương vong của mặt trận” và đề nghị trên tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất.

Sau trận đánh, mặc dù bị kẻ thủ nghi ngờ, tra tấn dã man, Võ Văn Minh đã dũng cảm, mưu trí, giữ vững thế hợp pháp. Năm 1975, anh có mặt trong Uỷ ban khởi nghĩa, hoàn thành tốt việc bảo vệ, quản lý tài sản của sân bay không cho địch phá huỷ. Hoà bình lập lại, anh làm bí thư Đoàn khu phố Hải Châu, công nhân Công ty xây dựng Đà Nẵng, cán bộ hành chính, bảo vệ Công ty thực phẩm miền Trung. Anh mất năm 1997 do bị bệnh hiểm nghèo.

Ghi nhận những thành tích đặc biệt xuất sắc trong chống Mỹ, cứu nước, ngày 23-2-2010 vừa qua, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ký quyết định truy tặng danh hiệu anh hùng LLVT ND cho đồng chí Võ Văn Minh.

Đỗ Thị Ngọc Diệp
qdnd.vn

Một góc nhìn về chiến thắng 30-4

Đầu năm 2003, trong một cuộc hội thảo về Văn học phản kháng của người da màu tại trường Đại học Massachusetts (Mỹ), Giáo sư Nguyễn Bá Chung – một Việt kiều luôn tâm huyết với văn hóa dân tộc, và cùng giáo sư Kevin Bôwen, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu chiến tranh và hậu quả của nó có tên là William Joiner, cũng là một trong những người có công đầu trong việc nối kết nền Văn học cách mạng thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ ở Việt Nam tới nhân dân Mỹ vào những năm 1980-1990, kể với chúng tôi: Vào những năm 1980, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara có buổi nói chuyện quan trọng về cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam tại Đại học Harvard. Đúng vào thời khắc quan trọng nhất của buổi diễn thuyết, ông ta ngưng lại giây phút. Sau đó, bằng một giọng trầm cay đắng, gương mặt trĩu nặng, ông ta hối tiếc tuyên bố: Cuộc chiến tranh của chúng ta ở Việt Nam là một sai lầm… Ông vừa dứt lời, cả hội trường lớn chật cứng người nghe lặng đi, rồi bỗng nhiên tất cả òa khóc nức nở…

Mừng ngày chiến thắng 30-4-1975. Ảnh tư liệu. Nguồn: baoninhbinh

Đó là một ngày buồn. Một ngày mà cả nước Mỹ chính thức thừa nhận với toàn thế giới rằng họ là kẻ bại trận, rằng cuộc chiến tranh họ gây ra ở Việt Nam là sai lầm không thể sửa chữa. Từ đó về sau, một câu hỏi luôn vang lên ở mọi nơi trên nước Mỹ: Tại sao Việt Nam lại chiến thắng, tại sao Mỹ bại trận? Đó là điều người Mỹ không thể hiểu nổi…

Ít ngày sau, chúng tôi tham dự một buổi dạ tiệc do những người bạn Mỹ từng tham gia chống chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam tại thành phố Iowa, một học giả người Mỹ còn nhấn mạnh thêm:Cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam không phải căn bản chỉ là sai lầm mà còn là phi đạo đức. Và chính những người từng ủng hộ Việt Nam trong chiến tranh cũng không thể ngờ tới chiến thắng lớn 30-4.

Vào buổi tối rất tình cờ, tôi và nhà văn Nguyễn Việt Hà, nhà thơ trẻ Nguyễn Quyễn tới quán bia để giải khát thì gặp một cựu chiến binh Mỹ mất một cánh tay. Khi biết chúng tôi là người ViệtNam, anh ta vô cùng xúc động chạy đến bắt tay, miệng thốt ra câu tiếng Việt chưa sõi: Chiến thắng, chiến thắng… Sau này, chúng tôi biết, anh ta trước đây từng là lính thủy quân lục chiến tại chiến trường Đà Nẵng. Hôm đó anh ta nồng nhiệt ngồi uống bia cùng chúng tôi, ánh mắt luôn mở sáng, thân thiện và mến trọng…

Trong thời gian ở Mỹ, chúng tôi cảm nhận được hầu hết những người lính Mỹ trở về sau chiến tranh Việt Nam đều bị ám ảnh nặng nề bởi cuộc chiến tranh; cho dù giới bảo thủ Mỹ đã dùng mọi phương tiện truyền thông để viết lại lịch sử, để biện minh cho cuộc chiến tranh phi đạo đức mà họ đã gây ra ở Việt Nam, bằng lời giải thích nhợt nhạt rằng, cuộc xâm lăng của họ là chính đáng, rằng lẽ ra họ đã thắng. Thậm chí có người còn hoang đường rằng, Mỹ không muốn thắng… Tuy nhiên, hầu hết nhân dân Mỹ đã chán ngán, đã mất niềm tin vào những lời biện minh vô căn cứ.

Trên thực tế, cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã tạo ra một “Hội chứng Việt Nam” trên khắp nước Mỹ, và những người lính Mỹ cho dù thời gian đi qua đã lâu, họ không sao thoát ra khỏi nỗi dày vò bại trận, để lại một di sản hoang tàn ở Việt Nam …

Nhiều năm sau này, cứ đến dịp 30-4, những người lính trận chúng tôi lại tổ chức gặp gỡ nhau để tưởng nhớ những đồng đội đã mất, để ôn lại kỷ niệm. Trong những buổi gặp gỡ như vậy, có rất nhiều câu chuyện xoay quanh chiến thắng 30-4. Lý giải về chuyện này, các học giả, các nhà chiến lược quân sự cả trong và ngoài nước đã tổng kết ở tầm vĩ mô, đã có nhiều công trình đồ sộ nghiên cứu về chiến thắng 30-4 một cách thuyết phục. Điều này được cả thế giới thừa nhận và nhân dân ta hài lòng. Tuy nhiên, một chiến thắng lớn như vậy không phải mọi lý giải đều đã đầy đủ. Vì thế mới có chuyện nhiều học giả lớn ở Mỹ bỏ biết bao công sức nghiên cứu về thất bại của họ và chiến thắng của chúng ta, nhưng vẫn nghi hoặc đặt câu hỏi: “Tại sao ViệtNam lại thắng được Mỹ?…”. Ở bài viết này, chúng tôi chỉ đưa ra minh chứng từ góc nhìn thực tế, rất giản dị, bình thường nhưng là yếu tố không thể nói là không quan trọng, góp phần vào chiến thắng 30 tháng 4, đó là nhìn từ Văn hóa làng quê Việt…

Tôi còn nhớ rất rõ rằng, vào độ tuổi chúng tôi hồi chiến tranh, ở quê tôi không phải tất cả mọi thanh niên đến tuổi đều bắt buộc phải nhập ngũ ra chiến trường. Luật là như vậy nhưng cũng không hiếm trường hợp ngoại lệ; ví dụ nhà con một, nhà có nhiều người ra chiến trường, con liệt sĩ, tử sĩ… thường là được miễn nghĩa vụ quân sự.

Nhưng trên thực tế có nhiều người từ chối những ưu đãi mà họ được hưởng, sẵn sàng làm đơn xung trận. Cũng không ít thanh niên chưa đến tuổi nghĩa vụ và cả những người được miễn nghĩa vụ quân sự đã viết đơn bằng máu đi chiến trường, mặc dù trong luật không ai bắt họ phải viết đơn bằng máu. Vì sao họ làm vậy, có thể có rất nhiều lý do, nhưng theo tôi, có một lý do quyết định tới cách hành xử kiểu này là danh dự và tự trọng; tinh thần tự giác khao khát lập chiến công của đàn ông khi đất nước gặp tai họa. Danh dự và lòng tự trọng này được cả xã hội cổ súy và kính trọng. Nó tự nhiên thế, có sẵn trong mỗi con người được truyền từ đời này sang đời khác.

Không phải là chuyện bắt buộc hay chỉ là khoảnh khắc bột phát nảy sinh – nó là tâm thức Việt, được nuôi dưỡng ngàn đời, qua nhiều thế hệ, thấm sâu trong dòng máu văn hóa làng quê Việt, dân tộc Việt.

Trường hợp ngược lại, một ai đó trốn nghĩa vụ, chưa cần đến luật pháp, thì ngay lập tức họ đã bị cả làng lên án, xỉ vả, coi thường… Tôi đã chứng kiến một thanh niên con nhà khá giả trốn nghĩa vụ bị người yêu, khi đó đang là sinh viên đại học, từ chối kết hôn, xóm làng, họ hàng xa lánh đến mức anh ta xấu hổ quá phải bỏ làng tha hương… Vì sao vậy, vì người dân ở làng không chấp nhận những kẻ hèn nhát, ích kỷ, chỉ biết vun vén vụ lợi cho bản thân mình; mà ngược lại họ chỉ tôn vinh tinh thần cộng đồng trượng nghĩa, gắn kết, dám xả thân, hy sinh khi đất nước bị xâm lăng. Những kẻ đào ngũ với người dân làng mặc nhiên bị coi là tha hóa về đạo đức, không phải là người có tư cách, người tốt… không thể chấp nhận. Họ đương nhiên bị lạc lõng giữa cộng đồng.

Điều này, nền chính trị Mỹ lúc bấy giờ – với nền văn hóa mà đặc tính của nó là độc tôn, chiếm hữu và thực dụng… sẽ không bao giờ hiểu được và họ cũng không bao giờ có được. Với làng quê Việt Nam, kẻ trốn nghĩa vụ quân sự, bất kể lý do nào cũng bị chê cười. Họ sẽ lạc lõng, cô đơn, bên ngoài cộng đồng. Anh ta sẽ bị người làng khinh bỉ, vì đó là kẻ hèn, suốt đời phải sống trong mặc cảm xấu hổ. Đấy là câu chuyện ở làng quê, của cuộc sống gắn kết, “tắt lửa tối đèn”, của “tình tương thân tương ái”…, sống – chết, hạnh phúc và khổ đau cùng nhau chia sẻ ở làng quê Việt. Vì vậy, hành động xả thân ra trận của họ là sẵn có tính tự giác, tự nguyện, tự chịu trách nhiệm, chứ không phải chỉ vì luật nghĩa vụ quân sự đơn thuần…

Còn ở chiến trường thì sao? Những người lính họ không phải quá lạc quan và vui tươi như nhiều lời cổ động, nhiều bài ca rộn rã mà chúng ta từng nghe. Họ có ý thức chắc chắn rằng, vào chiến trường là đổ máu, là chết chóc, là muôn trùng gian khổ hy sinh… Nhưng họ vẫn đi, vẫn vào trận. Và khi đã vào trận thì sống chết phải thắng. Vì không thắng thì họ phải chết. Họ không thể lùi bước, không thể thua, không thể đào ngũ (đương nhiên có ngoại lệ). Vì sao vậy? Vì họ phải hoàn thành nhiệm vụ. Nhiệm vụ ở đây không đơn giản do cấp trên ra lệnh, mà còn ẩn đằng sau nó một thứ mệnh lệnh rất sâu xa, không lời: Đó chính là nỗi mong chờ và khao khát, niềm tin hy vọng và cả niềm tự hào của người yêu, gia đình bố mẹ, họ hàng và cả làng quê của họ ở phía sau hậu phương. Họ chiến đấu vì cái đó, họ phải chiến thắng vì cái đó, và sẵn sàng xả thân hy sinh. Giá trị này không phải là chuyện bỗng dưng mà là câu chuyện của tâm thức, của văn hóa ngàn đời đã tích tụ lại trong con người họ. Vì vậy, họ thực hiện nhiệm vụ một cách tự nguyện, dứt khoát, đôi khi còn là niềm hứng khởi, lãng mạn. Họ có lý tưởng. Sự tự nguyện này có nguồn gốc là lòng tự hào, tự trọng, danh dự từ một giá trị văn hóa sâu thẳm trong dòng máu họ. Dòng máu sẵn sàng hy sinh để chiến thắng, và chỉ chiến thắng mới là người đàn ông có nhân cách, đạo đức, được mọi người tôn vinh, kính nể cho dù họ biết đó là cái chết…

Có lần trò chuyện với một sĩ quan ở phía bên kia. Anh ta cũng là một nhà văn, tôi có nói: Hãy thật sòng phẳng, loại bỏ mọi cảm xúc chủ quan, anh thử lý giải tại sao các anh bại trận vào ngày 30-4? Anh ấy suy nghĩ lúc lâu rồi trả lời: Có rất nhiều lý do. Vào thời điểm đó lính cộng hòa đã quá chán nản, mỏi mệt với cuộc chiến tranh, chế độ Sài Gòn tham nhũng làm người ta không còn tin cậy; ý thức dựa vào Mỹ, khi Mỹ rút họ hoang mang sợ hãi, không còn sức kháng cự, tinh thần chiến đấu tê liệt… Tôi hỏi: Còn có nguyên nhân nào sâu hơn thế nữa không? Anh ấy nói: “Còn một điều nữa, trong sâu xa đó chính là nguyên nhân dòng máu Việt. Người miền Namluôn có ý thức hướng về miền Bắc. Họ hướng về miền Bắc là hướng về tâm linh, về nguồn cội tổ tiên. Hầu hết dân chúng cho rằng cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là hợp lẽ và hợp đạo lý. Chính quyền Sài Gòn không có quyền và không có khả năng làm ngược lại. Vì thế nhân dân ủng hộ cuộc chiến tranh thống nhất đất nước khởi phát từ miền Bắc. Điều này có thể chứng minh, khi Bác Hồ mất, nhân dân miền Nam đã thương tiếc, than khóc như thế nào! Họ bất chấp mọi ngăn cản của chế độ Cộng hòa. Hay như việc những người lính miền Bắc vào miền Nam chiến đấu sát cánh cùng lực lượng du kích, đằm mình vào lòng nhân dân miền Nam, họ được nuôi dưỡng che chở bảo vệ đến cùng. Những người đồng đội của họ ở miền Nam không đơn giản là mối quan hệ “đồng chí” mà còn là tình huynh đệ, thân thương cố kết, gắn bó ruột thịt, chia cơm sẻ áo, sống chết có nhau khi đất nước bị xâm lăng. Và đây cũng chính là bản chất của làng quê Việt, “ làng quê mở rộng”. Họ gắn bó tự giác trong cộng đồng, cùng chia sẻ sống chết khi đất nước có tai ương. Họ có niềm tin, sức mạnh bắt nguồn sâu xa trong tâm thức.

Một bằng chứng nữa là khi Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời, đã thu hút một lực lượng lớn học sinh, sinh viên, thanh niên từ bỏ đời sống ăn chơi sung túc lên núi tham gia cách mạng. Không ai bắt họ cả. Họ đến với cách mạng là tự giác, là nhân cách Việt, là dòng máu Việt. Và không chỉ thanh niên, sinh viên mà có thể nói phần lớn các tầng lớp nhân dân miền Nam đều hướng về cách mạng. Phong trào đấu tranh của học sinh sinh viên chống sự xâm lăng của Mỹ, phong trào đấu tranh yêu nước giải phóng dân tộc, phong trào đấu tranh đòi chấm dứt chiến tranh, không chấp nhận sự có mặt của ngoại bang… ra đời từ tinh thần này. Nó ra đời trong tâm thức Việt, là sự thôi thúc từ bên trong, của ý thức cội nguồn, dòng máu. Vì dòng máu văn hóa Việt đã thấm đẫm trong từng người dân miền Nam lúc đó, chứ không phải như có người nói “chỉ do Cộng sản tuyên truyền giỏi.”…

Như vậy, bàn về nguyên nhân dẫn tới chiến thắng 30-4 với rất nhiều cách nhìn mở rộng. Các nhà nghiên cứu, các nhà chỉ huy chiến lược… đã tốn biết bao giấy mực, với đa dạng cách tiếp cận khác nhau về chiến thuật, chiến lược quân sự, về tinh thần đoàn kết, đức hy sinh, về thao lược và trí tuệ Việt… và xung quanh vấn đề này còn tiếp tục nhiều đời con cháu sau này nhắc tới. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ đưa ra một góc nhìn về phía những con người bình dị, những tâm tư tình cảm, cách ứng xử văn hóa, ý thức trách nhiệm cộng đồng, tính tự giác, gắn bó ở làng quê Việt… Và đây cũng chính là giá trị bất di bất dịch, tồn tại hàng ngàn năm trong từng con người Việt. Nó tạo ra sức mạnh bền vững sâu xa, góp phần không nhỏ vào chiến thắng quyết định của ngày 30-4. Trong phạm vi bài viết, và với chỉ những suy nghĩ ban đầu của người lính trận, nên không thể diễn giải cặn kẽ. Hy vọng, chiến thắng 30-4 sẽ tiếp tục được làm sáng tỏ hơn, đầy đủ hơn bởi các nhà nghiên cứu, các chiến lược gia… Vì đây là chiến thắng vĩ đại, mang lại sự thống nhất đất nước trọn vẹn nhất, lớn lao nhất trong lịch sử dân tộc.

Trần Anh Thái
qdnd.vn

Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền thực hiện chủ trương tập trung sức mạnh đại đoàn kết toàn dân

Cuộc quyết chiến chiến lược Xuân 1975

LTS – Ngày 20-4, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Quốc phòng và Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức cuộc Hội thảo khoa học “Ðại thắng mùa Xuân 1975 – Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc thời đại Hồ Chí Minh”.

Báo Quân đội nhân dân xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc nội dung cơ bản bài tham luận tại hội thảo của Ðại tướng LÊ ÐỨC ANH, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, nguyên Tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy Miền, nguyên Phó tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Xe tăng Quân giải phóng chiếm giữ Dinh Độc Lập. Ảnh tư liệu

ĐẠI đoàn kết biểu hiện sức mạnh tổng hợp to lớn của dân tộc và thời đại, bảo đảm vững chắc cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Ðại đoàn kết là một nhân tố rất quan trọng quyết định sự thành công của cách mạng Việt Nam. Trong đấu tranh giải phóng miền Nam, nhân tố đó càng được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Ðảng quan tâm lãnh đạo, thực hiện với nhiều quyết định chiến lược, làm cơ sở cho Trung ương Cục miền Nam và Bộ chỉ huy Miền đưa ra những chủ trương và biện pháp chỉ đạo cụ thể, nhằm tăng cường xây dựng, phát triển khối đại đoàn kết toàn dân chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, giành độc lập trọn vẹn và thống nhất đất nước.

Ngay từ đầu sự nghiệp giải phóng miền Nam, tháng 9-1954, Bộ Chính trị đã chủ trương đoàn kết rộng rãi mọi lực lượng dân chủ và hòa bình, đấu tranh đánh đổ chính phủ Ngô Ðình Diệm thân Mỹ, thành lập Chính phủ không thân Mỹ tán thành đình chiến và hòa bình, thừa nhận quyền tự do, dân chủ của nhân dân, tán thành thống nhất, tổng tuyển cử, cải thiện dân sinh.

Năm năm sau, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Ðảng xác định nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam là đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn Ngô Ðình Diệm tay sai đế quốc Mỹ, thành lập chính quyền liên hiệp dân tộc, dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc và các quyền tự do dân chủ…

NGHỊ quyết 15 thật sự là một nghị quyết về “chuyển chiến lược” từ đấu tranh chính trị đơn thuần sang đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng của kẻ địch. Sau khi có Nghị quyết 15, ở miền Nam bắt đầu nổ ra các trận đánh lớn, trong đó có trận đánh Tua Hai đêm 26-1-1960. Các cuộc nổi dậy phá ấp chiến lược, tiến tới “Ðồng khởi” của Bến Tre, rồi phong trào nhanh chóng phát triển khắp miền Nam. Thắng lợi của phong trào Ðồng khởi đã dẫn tới sự ra đời của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam (20-12-1960) – một mặt trận tập hợp đông đảo lực lượng yêu nước nhằm một mục tiêu chung vì miền Nam sạch bóng quân xâm lược, tiến tới hòa bình, hòa hợp dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ra lời kêu gọi “tất cả hãy đứng lên, tất cả hãy đoàn kết lại. Hãy siết chặt hàng ngũ để chiến đấu…”.

Thực chất, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã thực hiện thêm chức năng của chính quyền (sau là Chính phủ Cách mạng lâm thời), ngoài chức năng đoàn kết dân tộc để giải phóng miền Nam. Với cương lĩnh đúng đắn, chương trình hành động thiết thực, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam nhanh chóng tập hợp các tổ chức chính trị, xã hội, đảng phái, tôn giáo như: Hội Lao động giải phóng, Hội Liên hiệp sinh viên – học sinh, Hội Các nhà giáo yêu nước, Hội Phụ nữ giải phóng, Hội Những người công giáo kính chúa yêu nước, Hội Lục hòa Phật tử miền Nam, Ðảng Xã hội cấp tiến của trí thức yêu nước, Ðảng Dân chủ miền Nam của tư sản dân tộc… Ðể mở rộng hơn nữa khối đoàn kết dân tộc, mặt trận chủ trương thành lập chính quyền liên minh dân tộc, dân chủ, tự do, cải thiện dân sinh, giữ vững hòa bình, thi hành chính sách trung lập, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc.

Khi đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, với đường lối chiến tranh nhân dân và bằng các phương pháp đấu tranh của Ðảng và chính sách của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam, quân và dân ta đã giành nhiều thắng lợi trong đấu tranh chính trị và quân sự, làm phá sản chiến lược “chiến tranh đặc biệt”.

Chiến lược “chiến tranh đặc biệt” đứng trước nguy cơ bị thất bại, đế quốc Mỹ phải toan tính đưa quân Mỹ và đồng minh vào miền Nam Việt Nam trực tiếp tham chiến hòng giành thắng lợi quyết định, buộc nhân dân Việt Nam phải khuất phục trước sức mạnh quân sự của chúng. Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định triệu tập Hội nghị Chính trị đặc biệt (27-3-1964) với hơn 300 đại biểu, đại diện cho hơn 30 triệu đồng bào các dân tộc trong cả nước. Hội nghị biểu thị ý chí, quyết tâm của các tầng lớp nhân dân đoàn kết chung quanh Ban Chấp hành Trung ương Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chiến đấu bảo vệ miền Bắc, đẩy mạnh cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Lúc này, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam công bố Cương lĩnh, mở rộng hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân, tranh thủ tất cả những lực lượng có thể tranh thủ, thu hút rộng rãi hơn nữa những tầng lớp và cá nhân có khuynh hướng hòa bình, trung lập, cô lập triệt để Mỹ – ngụy.

Khi đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh vào miền Nam thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ”, đồng thời phát động cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân chống phá miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi quân và dân cả nước (17-7-1966) đoàn kết một lòng, vượt qua gian khổ, ác liệt, hy sinh chiến đấu vì chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân miền Bắc – Hậu phương chiến lược của miền Nam dấy lên các phong trào thi đua “Vì miền Nam ruột thịt” nhằm mục tiêu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Các phong trào thi đua đã thu hút đông đảo mọi tầng lớp, mọi thành phần, mọi lứa tuổi từ miền xuôi đến miền ngược, từ thành thị đến nông thôn, từ biên giới đến hải đảo. Dưới sự lãnh đạo của Ðảng, với đường lối chiến tranh nhân dân, quân và dân cả nước đã đánh bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965 – 1966 và 1966 – 1967 của chúng ở miền Nam, đồng thời đánh bại một bước chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân Mỹ trên miền Bắc.

CUỐI năm 1967, một mặt, đế quốc Mỹ tiếp tục tăng quân và phương tiện chiến tranh chuẩn bị kế hoạch mở cuộc phản công lần thứ ba với số quân 120 vạn, trong đó có 50 vạn quân chiến đấu Mỹ. Mặt khác, chúng bắt đầu lộ rõ sự dao động lúng túng. Giữa lúc Mỹ đang ở thế ngập ngừng về chiến lược, giới cầm quyền Mỹ có dấu hiệu dao động và đúng thời điểm rất nhạy cảm của năm bầu cử tổng thống Mỹ, lãnh đạo Ðảng ta đã quyết định giáng một đòn bất ngờ, thật mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ, bằng cách chọn hướng chiến lược hiểm và dùng cách đánh mới tạo ra bước ngoặt lớn, làm thay đổi cục diện chiến tranh. Quân và dân miền Nam đã nhằm đúng vào đêm Giao thừa Tết Mậu Thân 1968, đồng loạt tiến công trên toàn miền, đánh vào hầu hết các đô thị, các bộ tư lệnh quân đoàn và sư đoàn địch, 30 sân bay và gần 100 cơ sở hậu cần của chúng…

Ðòn tiến công Mậu Thân đã gây kinh hoàng cho cả nước Mỹ. Khắp các bang của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ rộ lên những cuộc biểu tình với sự tham gia của hàng nghìn, hàng vạn người chống chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Tướng Oét-mo-len, Tổng chỉ huy quân Mỹ ở Nam Việt Nam bị cách chức. Bộ trưởng Quốc phòng Mắc Na-ma-ra thôi việc. Ngày 31-3-1968, Giôn-xơn buộc phải tuyên bố: Ngừng ném bom Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra, chấp nhận ngồi vào bàn hội nghị đàm phán với ta tại Pa-ri và tuyên bố không ra tranh cử tổng thống nhiệm kỳ thứ hai.

Cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân đã đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ”, buộc Mỹ phải rút quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam. Nhưng rút quân, thì đồng thời Mỹ lại thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Cả Mỹ và ngụy tập trung bình định, giành đất, giành dân, bắt lính xây dựng ngụy quân, ngụy quyền. Trong quá trình rút quân, Mỹ vừa củng cố và tăng cường ngụy quân, ngụy quyền, tập trung lực lượng tấn công quyết liệt giành đất, giành dân và đánh phá miền Bắc ác liệt hơn, kể cả máy bay ném bom chiến lược B.52. Nhưng lúc đó, bộ đội ta, kể cả lãnh đạo, chỉ huy chưa hiểu hết cái khó khăn, khốc liệt của “Việt Nam hóa chiến tranh” và chưa thấy hết sự độc ác của Mỹ, nên từ cuối năm 1968 đến cuối năm 1971, bộ đội chủ lực ta phần lớn đã thoát ly khỏi địa bàn, làm mất chỗ dựa cho dân và cơ sở chống bình định. Do đó gây khó khăn lớn trên chiến trường và không hỗ trợ được thật hiệu quả cho cuộc đấu tranh ngoại giao trên bàn Hội nghị Pa-ri trong thời gian này.

Với bản chất ngoan cố và hiếu chiến, Mỹ, ngụy đã đánh ác liệt vào vùng đông dân và vùng ta mới giải phóng trong những năm 1969 – 1972. Ðặc biệt trong 81 ngày đêm năm 1972, Mỹ đã ném 80 vạn tấn bom (khối lượng chất nổ bằng sức tàn phá của 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ đã ném xuống Hi-rô-si-ma và Na-ga-sa-ki (Nhật Bản) xuống diện tích 3 km2 Thành cổ Quảng Trị. Trong 81 ngày đêm ở Thành cổ Quảng Trị, có hơn 14 nghìn chiến sĩ giải phóng đã hy sinh. Quân và dân ta đã chiến đấu anh dũng bẻ gãy nhiều đợt tiến công của địch, giữ được thị xã và Thành cổ trong 81 ngày đêm, góp phần phục vụ đắc lực yêu cầu đấu tranh ngoại giao và đã đạt được yêu cầu của đợt tác chiến tạo thế, tổ chức phòng ngự.

Với đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, quân và dân ta đã anh dũng vượt qua mọi thử thách, hy sinh tiến công mãnh liệt đập vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài kiên cố của địch ở Trị Thiên, Bắc Tây Nguyên, Ðông Nam Bộ, đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B.52 của Mỹ trên vùng trời Hà Nội, Hải Phòng (tháng 12-1972), buộc đối phương phải ký kết Hiệp định Pa-ri (tháng 1-1973), rút hết quân Mỹ và quân đồng minh của Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam.

Hiệp định Pa-ri về Việt Nam được ký kết, nhưng chính quyền Ních-xơn vẫn chưa từ bỏ chính sách áp đặt chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam, âm mưu chia cắt lâu dài nước ta. Tranh thủ thời gian trước khi ký hiệp định, Mỹ gấp rút chuyển cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu thiết bị, các vật dụng chiến tranh và dần chuyển giao các căn cứ quân sự ước tính nhiều tỷ USD. Với sự giúp đỡ của Mỹ, ngụy quyền có đội quân hơn 1 triệu tên, 2.000 máy bay (xếp hạng thứ tư về lực lượng không quân trên thế giới)(1) và khối lượng lớn xe tăng, pháo; bộ máy đàn áp gồm 140.000 cảnh sát, 44.000 nhân viên “bình định”… ráo riết thực hiện khẩu hiệu “Tràn ngập lãnh thổ” xóa “thế da báo” lấn chiếm vùng giải phóng. Với tinh thần anh dũng chiến đấu, quân và dân Quân khu 9 đã đánh bại nhiều trung đoàn, tiểu đoàn địch tràn ngập lãnh thổ, đánh bại âm mưu phá Hiệp định Pa-ri của địch, củng cố niềm tin và củng cố được khối đại đoàn kết toàn dân, là một căn cứ để Trung ương Ðảng ra Nghị quyết 21 (7-1973) chỉ đạo các địa phương ở miền Nam tiếp tục con đường cách mạng bạo lực, tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ để tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam.

SAU hơn một năm ta đẩy mạnh đấu tranh vũ trang hỗ trợ trực tiếp cho đấu tranh chính trị và binh vận, bắt quân địch phải thi hành Hiệp định và chặn đứng một cách cơ bản kế hoạch “Tràn ngập lãnh thổ” của chúng, thế và lực của ta đã được củng cố và phát triển một bước mới. Từ thế và lực mới này, chúng ta đã vạch ra kế hoạch tiến công mùa khô 1974 – 1975, tiến tới tổng tiến công và nổi dậy.

Khi Trung ương Cục và Bộ chỉ huy B2 chúng tôi có kế hoạch quân sự mùa khô rồi, thì hai anh Phạm Hùng, Bí thư Trung ương Cục và Trần Văn Trà, Tư lệnh B2 ra họp Trung ương. Trong khi ngoài Bắc, Trung ương đang họp thì trong Nam, Quân ta giải phóng Phước Long và núi Bà Ðen. Chiến thắng Ðồng Xoài – Ðường 14 – Phước Long có ý nghĩa là “trận trinh sát chiến lược” thăm dò khả năng quân ngụy và sự can thiệp của Mỹ, làm rõ hơn những cơ sở để Bộ Chính trị hạ quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam.

Sau khi đánh được Phước Long, Bộ chỉ huy Miền chúng tôi làm kế hoạch tiến công giải phóng Sài Gòn. Cả Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền gần như thống nhất là sẽ tiến công giải phóng Sài Gòn vào tháng 4 vì sang tháng 5 đã vào đầu mùa mưa, việc cơ động của ta sẽ khó khăn. Cùng với việc soạn thảo kế hoạch là xây dựng “quyết tâm chiến đấu”, sơ đồ đã phác ra năm hướng tiến công vào sào huyệt cuối cùng của quân thù. Khi hai anh Lê Ðức Thọ, Ủy viên Bộ Chính trị và Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng được Bộ Chính trị cử vào, các anh xem và nói: “Kế hoạch làm tốt, nhưng phải thêm quân”. Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền đã vạch rõ sách lược đoàn kết rộng rãi quần chúng nhân dân, huy động mọi tầng lớp, mọi lực lượng, mọi lứa tuổi trên cả ba vùng chiến lược thực hiện tốt ba mũi giáp công trong cuộc quyết chiến chiến lược Xuân 1975. Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền quyết định nhiều chủ trương và biện pháp tăng cường vận động đồng bào các dân tộc thiểu số, nhất là đồng bào các dân tộc Tây Nguyên và đồng bào Khơ-me, các tín đồ Phật giáo, Cao Ðài, Hòa Hảo và nhiều tôn giáo khác cùng tham gia vào trận quyết chiến chiến lược này. Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền còn vận dụng nhiều sách lược khai thác mâu thuẫn trong hàng ngũ địch, chỉ đạo sát sao cơ sở cách mạng của ta lôi kéo các phe phái đối lập với chính phủ tay sai Mỹ và tập hợp lực lượng thứ ba chuẩn bị đón thời cơ, thành lập chính phủ liên hợp.

THỰC hiện chỉ thị của Bộ Chính trị về kết hợp đòn tiến công quân sự với phong trào nổi dậy của quần chúng, Trung ương Cục phân công anh Nguyễn Văn Linh, Phó bí thư Trung ương Cục và anh Võ Văn Kiệt, Ủy viên Trung ương Cục lo vấn đề tổ chức và chỉ đạo kế hoạch nổi dậy của quần chúng phối hợp với lực lượng quân sự, trong đó có các binh đoàn chủ lực ta vào thành phố; phân công đồng chí Cao Ðăng Chiếm, Giám đốc Công an B2 tổ chức mạng liên lạc của các đồng chí trong Chính phủ Cách mạng lâm thời với cơ sở trong nội thành. Trung ương Cục chỉ đạo các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long tự giải phóng với phương châm: Xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện, tỉnh giải phóng tỉnh.

Hướng ra tiền tuyến lớn, miền Bắc dốc toàn bộ sức mạnh to lớn của mình cho miền Nam. Miền Bắc đã chi viện liên tục, toàn diện cả sức người, sức của với nhịp độ ngày càng tăng, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của chiến trường miền Nam. Chỉ riêng 4 tháng đầu năm 1975, miền Bắc đã đưa nhanh vào miền Nam 110 nghìn cán bộ, chiến sĩ, 230 tấn vật chất các loại, góp phần quyết định để quân và dân ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giành thắng lợi hoàn toàn.

SÁNG 10-3-1975, ta đánh Buôn Ma Thuột mở đầu Chiến dịch Tây Nguyên, cũng là mở cửa đột phá của cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa Xuân 1975. Ðại tướng Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng trực tiếp chỉ đạo Chiến dịch Tây Nguyên. Trước khi đánh Buôn Ma Thuột, từ ngày 4 đến 10-3, ta bắt đầu đánh một số cứ điểm ở tây Plei-cu, cắt đường 14 giữa hai tỉnh Kon Tum, Gia Lai. Ngày 4-3, cắt đường 19, đường 21. Ngày 9-3, ta đánh Ðức Lập, nam Buôn Ma Thuột. Ngày 14-3, Nguyễn Văn Thiệu quyết định rút bỏ Tây Nguyên, co về giữ đồng bằng. Ý định của địch tháo chạy theo các đường 21, 19, 14 nhưng bị ta chiếm giữ, buộc chúng phải rút theo đường số 7 đi Cheo Reo. 19 giờ, ngày 16-3, Ðại tướng Văn Tiến Dũng điện cho Bộ tư lệnh chiến dịch: “Ðịch rút chạy trên đường số 7, tổ chức truy kích ngay”. Ðồng thời, điện cho Bộ tư lệnh Khu 5 cho lực lượng vũ trang Phú Yên kịp thời tổ chức chặn địch ở Củng Sơn. Cuộc rút lui của địch trên đường số 7 bị ta đánh tan tác, khối chủ lực mạnh của địch ở Tây Nguyên cơ bản bị bắt sống và tan rã. Ngày 16-3, lực lượng địa phương giải phóng Kon Tum; ngày 19-3, giải phóng Plei-cu. Ðến ngày 24-3, quân ta đã giải phóng Tây Nguyên, sau đó, lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị của Khu 5 tiếp tục giải phóng các tỉnh.

Chiến thắng Buôn Ma Thuột và cả Tây Nguyên tạo ra bước phát triển nhảy vọt cả về thời cơ và thế chiến lược mới. Ngày 25-3, lực lượng quần chúng ở cả ba vùng chiến lược đã trong tư thế sẵn sàng phối hợp với bộ đội chủ lực thực hiện 3 mũi giáp công (chính trị, quân sự, binh vận và địch vận).

Phối hợp với hướng tiến công chiến lược của ta ở hướng chủ yếu Tây Nguyên, quân và dân Khu Trị Thiên và Khu 5 đã đồng loạt tiến công giải phóng Quảng Ngãi, Tam Kỳ (ngày 24-3), giải phóng thành phố Huế (trưa 25-3) và giải phóng toàn bộ tỉnh Thừa Thiên – Huế (trưa 26-3). Sau đó bằng một đòn tiến công và nổi dậy mạnh mẽ của quân và dân Khu 5 (cụ thể là Sư đoàn 2 cùng lực lượng vũ trang và chính trị của Ðà Nẵng) đã nhanh chóng đập tan toàn bộ Quân đoàn 1, Quân khu I địch ở Ðà Nẵng. 12 giờ trưa ngày 29-3, các sư đoàn, các cơ quan quan trọng, cứ điểm lớn của địch cơ bản đã sụp đổ. Quân đoàn II của Bộ từ Huế vào giải phóng Nam Ô, cách Ðà Nẵng 15km, tiến đánh bán đảo Sơn Trà. Ðến 3 giờ chiều 29-3, ta hoàn toàn giải phóng Ðà Nẵng.

Sau khi giải phóng Tây Nguyên, Huế, Quảng Nam, Bình Ðịnh, Quảng Ngãi, thì lực lượng Khu 7, Khu Sài Gòn – Gia Ðịnh, Khu 8, Khu 9 đã bám sát trong và ngoài đô thị với tư thế sẵn sàng phối hợp với quân chủ lực thực hiện ba mũi giáp công, giải phóng toàn miền Nam.

NGÀY 1-4-1975, Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền nhận được Ðiện của đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương truyền đạt nội dung Nghị quyết Bộ Chính trị họp ngày 31-3-1975 và chỉ thị: “… Cách mạng nước ta đang phát triển với nhịp độ “một ngày bằng 20 năm”. Do vậy Bộ Chính trị quyết định: Chúng ta phải nắm vững thời cơ chiến lược, quyết tâm thực hiện Tổng tiến công và nổi dậy, kết thúc thắng lợi chiến tranh giải phóng trong thời gian ngắn nhất. Tốt hơn cả là bắt đầu và kết thúc trong tháng 4 năm nay, không để chậm. Phải hành động “thần tốc, táo bạo, bất ngờ”. Phải tiến công ngay lúc địch hoang mang, suy sụp… Cần nắm vững nội dung chiến lược của ta là phát huy sức mạnh của ba đòn chiến lược, kết hợp với tiến công và nổi dậy, từ ngoài đánh vào và từ trong đánh ra… Cần gấp rút tăng thêm lực lượng ở hướng Tây Sài Gòn, nhanh chóng thực hiện nhiệm vụ chia cắt và bao vây chiến lược từ phía Tây, áp sát Sài Gòn, triệt đường số 4… Tập trung lực lượng lớn hơn nữa vào những mục tiêu chủ yếu trên từng hướng, từng lúc”. Liền sau đó, đồng chí Phạm Hùng phân công từng đồng chí trong Trung ương Cục thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, xong, sang Sở chỉ huy Miền chỉ đạo bổ sung kế hoạch theo chỉ thị của đồng chí Lê Duẩn và chỉ rõ: Phải huy động lực lượng cắt quốc lộ số 4 không cho địch rút chạy từ Sài Gòn về Cần Thơ. Lúc này, Trung ương Cục nhận được điện của Ðại tướng Văn Tiến Dũng: Quân đoàn 3 từ Tây Nguyên sẽ vượt các cụm địch còn lại trên đường đi vào B2 ngay. Và nhận được điện của đồng chí Võ Chí Công, Bí thư Khu ủy Khu 5 là, sẽ chuyển xe, pháo, đạn dược thu được của địch vào B2 và nhấn mạnh: Thời gian là sức mạnh.

Đội nữ pháo binh tỉnh Cà Mau trong những ngày trước giải phóng (tháng 4-1975). Ảnh: Võ An Khánh

Ngày 9-4-1975, ta bắt đầu cuộc chiến đấu tạo thế ở đông bắc – tây nam Sài Gòn và đánh địch ở toàn miền Ðông Nam Bộ, đồng thời huy động lực lượng lớn, gồm 4 quân đoàn và một đơn vị tương đương quân đoàn, với năm cánh quân theo năm hướng đã vào thế bao vây Sài Gòn, đợi lệnh đồng loạt tấn công. Lực lượng vũ trang và phong trào nổi dậy của quần chúng ở ven đô và nội đô đã chuẩn bị sẵn sàng chờ dịp vùng lên.

Ngày 26-4-1975, ta bắt đầu Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử tiến công giải phóng Sài Gòn – Gia Ðịnh. Ngày 29-4, Hô-mơ-si-mít, Trưởng đoàn cố vấn quân sự Mỹ, núp dưới bóng Ðại sứ quán, lên máy bay bay ra biển. 11 giờ 30 phút, ngày 30-4-1975, Tổng thống ngụy phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Lúc này, lực lượng quân sự, chính trị của Khu 8, Khu 9 bằng ba mũi giáp công giải phóng các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, góp phần cùng cả nước chấm dứt cuộc chiến tranh giải phóng kéo dài 30 năm.

CUỘC Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 toàn thắng, biểu hiện sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, trong đó, “quả đấm chủ lực” với những binh đoàn cơ động là lực lượng nòng cốt của đấu tranh quân sự với những đòn điểm huyệt đã đánh trúng, đánh hiểm ở những trận then chốt và then chốt quyết định. Nhưng để giải quyết đồng loạt, rộng khắp, kịp thời làm cho cả bộ máy ngụy quyền và đội ngũ ngụy quân 1,1 triệu tan rã thì phải thấy rõ vai trò tiến công và nổi dậy của lực lượng tại chỗ, của lực lượng chính trị quần chúng, trong đó có lực lượng của những người bị bắt buộc trong hàng ngũ của địch, cơ sở cách mạng trong hàng ngũ địch. “Quả đấm chủ lực” tạo điều kiện cho lực lượng quân sự, chính trị bên trong và ngược lại, lực lượng bên trong đã tạo điều kiện cho các mũi tiến công của chủ lực cơ động. Phải thấy vai trò lãnh đạo nhạy bén, kịp thời của Trung ương Cục và sự thống nhất của Khu ủy, Tỉnh ủy và Ðảng ủy các cấp cơ sở trong những ngày Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Quân và dân tất cả các quân khu đã ở tư thế sẵn sàng, chuẩn bị đầy đủ nên đã chủ động tiến công và nổi dậy thực hiện giải phóng hoàn toàn địa bàn của quân khu.

Trong suốt hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, phong trào đấu tranh của quần chúng đã phát triển thành ba lực lượng: Lực lượng vũ trang cách mạng; Lực lượng chính trị quần chúng; lực lượng quần chúng bị bắt buộc trong hàng ngũ địch và cơ sở cách mạng của ta trong hàng ngũ địch. Cả ba lực lượng này phối hợp nhuần nhuyễn với nhau, chuyển hóa vào từng con người một. Nhưng chỉ có sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt và thấm đẫm tính nhân văn của Ðảng, khi thời cơ cách mạng đến thì cả ba lực lượng này mới bộc lộ, phát huy sức mạnh của đoàn kết, cộng hưởng, tạo nên cuộc Tổng tiến công và nổi dậy thần tốc và hiệu quả, đúng tinh thần chỉ đạo của Trung ương Cục là “xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện, tỉnh giải phóng tỉnh”. Tinh thần “Thần tốc, táo bạo” không chỉ đối với các binh đoàn chủ lực từ xa đến, mà còn đối với các lực lượng tại chỗ – lực lượng chính trị, lực lượng binh vận, kể cả lực lượng nằm trong hàng ngũ địch đã nhanh nhất, táo bạo nhất, phối hợp với lực lượng chủ lực cơ động từ xa. Giờ chúng ta hiểu hai chữ “Thần tốc” mà Bộ Chính trị chỉ đạo như thế mới đầy đủ.

TRONG chiến tranh chống Mỹ, có hai đặc điểm nổi rõ: Một là ta tạo được thế xen kẽ giữa ta và địch ở cả ba vùng chiến lược: Miền núi, đồng bằng và đô thị, nhất là sau Hiệp định Pa-ri, làm cho đối phương không thực hiện được phân tuyến. Hai là ta đã làm thường xuyên việc xây dựng lực lượng và cơ sở cách mạng của ta ở nhiều mức độ khác nhau trong nội bộ ngụy quân, ngụy quyền, mà những cơ sở này liên tục tác động vào tình cảm người lính nên họ đào ngũ thường xuyên và khi có thời cơ đến thì rã ngũ hàng loạt. Các cơ sở này làm suy sụp tư tưởng của bọn ngoan cố. Ðây thật sự là bài học quý.

Ðể phát huy sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại, Ðảng ta đặc biệt coi trọng tăng cường quan hệ đoàn kết với các đảng lãnh đạo ở các nước XHCN và các nước yêu chuộng hòa bình trên thế giới, trong đó có nhân dân Mỹ. Trong những năm đầu của thập niên 1970, Liên Xô, Trung Quốc mâu thuẫn gay gắt, Ðảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn cảnh giác đối với âm mưu chia rẽ của địch, xử lý khôn khéo, “có tình, có lý” mối liên hệ giữa ta với Liên Xô, Trung Quốc nên cả hai nước đều giúp ta đánh Mỹ, nhưng giúp với những quan niệm khác nhau và mức độ khác nhau. Song ta đã hiệp lực được cả hai phía đoàn kết giúp đỡ ta để ta đủ sức đánh Mỹ. Trong 20 năm, Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN anh em đã viện trợ cho Việt Nam tổng khối lượng hàng hóa là 2.362.581 tấn, tương đương 7 tỷ rúp (2). Chưa kể Trung Quốc còn giúp tiền được chuyển qua hệ thống ngân hàng ở Hồng Công về Sài Gòn, từ đó ta rút ra mua gạo, thực phẩm cung cấp cho bộ đội ở miền Ðông Nam Bộ và ở mặt trận Tây Nguyên. Ðây là thắng lợi về ngoại giao có ý nghĩa chiến lược. Thắng lợi này bắt nguồn từ tư tưởng Hồ Chí Minh gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới. Ðúng như Ðảng ta đã khẳng định: “Sức mạnh dân tộc đã kết hợp chặt chẽ với sức mạnh thời đại, tạo nên sức mạnh to lớn chiến thắng quân thù”.

…SAU khi có Hiệp định Pa-ri, đến cuối năm 1974 và nhất là sau khi ta giải phóng Ðà Nẵng, thì ở trong nước và quốc tế đều thống nhất “Ðánh cho Mỹ cút, ngụy nhào”. Ðây là thời điểm vàng ngọc, nó thật sự đã tạo ra sức mạnh tổng hợp – sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế hội tụ lại.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nhằm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc hoàn thành độc lập, thống nhất đất nước là sự nghiệp chính nghĩa, bắt nguồn từ truyền thống văn hóa của dân tộc “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo”. Chiến tranh chính nghĩa chống xâm lược, giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc là động lực cơ bản, tập hợp lực lượng rộng lớn – toàn thể cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tạo nên khối đoàn kết thống nhất toàn dân đứng lên cứu nước, cứu nhà. Ðường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo, độc lập, tự chủ của Ðảng đáp ứng quyền lợi cơ bản của nhân dân, cùng nhiều hình thức tổ chức phù hợp đã phát huy sức mạnh của toàn dân kháng chiến và kiến quốc, không ngừng củng cố và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc, dẫn đến “đại thành công” trong cuộc quyết chiến chiến lược Xuân 1975…

Kế thừa và phát huy truyền thống đoàn kết trong Ðại thắng mùa Xuân 1975, chúng ta cần củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc hơn nữa. Ðể tăng cường khối đại đoàn kết trong giai đoạn cách mạng hiện nay, ngoài những chủ trương, chính sách đúng đắn, hợp lòng dân, cán bộ, đảng viên phải gắn bó máu thịt với nhân dân và phải gương mẫu trong đoàn kết cả tư tưởng và hành động, đặc biệt là học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Ðảng mang bản chất giai cấp công nhân: Ðoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế, kiên định con đường cách mạng, giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

ÐẠI thắng mùa Xuân 1975, được tạo nên bởi ý chí, nghị lực, trí tuệ của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; của sự giúp đỡ của các nước anh em và bạn bè quốc tế dành cho dân tộc ta trong suốt cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Ðại thắng mùa Xuân 1975 đã chứng minh hùng hồn “đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, chiến thắng trọn vẹn” – một trong những sự tích vĩ đại nhất của nhân loại tiến bộ ở thế kỷ 20. Trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, thắng lợi là thắng lợi của toàn dân tộc, đã là người Việt Nam thì ai cũng được hưởng vinh quang của chiến thắng. Phát huy thắng lợi vẻ vang đó, người Việt Nam cả ở trong nước và nước ngoài, đoàn kết thương yêu nhau, cùng chung tay góp sức phát triển kinh tế – xã hội, thực hiện mục tiêu cao cả, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

——————————–

(1) Giô-dép A.Am-tơ, Lời phán quyết về Việt Nam, Nxb QÐND, H.1985, trang 419.
(2) Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh thuộc Bộ Chính trị: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975; Thắng lợi và bài học. Nxb Chính trị quốc gia, H.2000, trang 601.

qdnd.vn

Dám đánh, biết đánh và biết thắng

Thất bại liên tiếp trên chiến trường miền Nam dẫn đến sự phá sản của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” – một hình thức thống trị điển hình của chủ nghĩa thực dân mới. Để cứu vãn tình thế, Tổng thống Mỹ L.Giôn-xơn quyết định đưa quân viễn chinh Mỹ vào trực tiếp tham chiến trên chiến trường miền Nam, thực hiện “Chiến tranh cục bộ” và ném bom đánh phá miền Bắc. Trong khi đó, trên thế giới lại có những quan điểm đánh giá khác nhau về sức mạnh của Mỹ. Thực tế đó, đòi hỏi chúng ta phải tìm lời giải cho các câu hỏi: Ta có dám đánh Mỹ không? Đánh và thắng Mỹ bằng cách nào? Có tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc không?

Đảng ta đã nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo phân tích, đánh giá một cách khách quan về so sánh lực lượng giữa ta và địch. Đảng ta nhận định: Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ chứa đầy mâu thuẫn và bế tắc, nhất là mâu thuẫn giữa mục đích chính trị và biện pháp quân sự. Mục đích chính trị của đế quốc Mỹ ở miền Nam vẫn là tiếp tục thực hiện chính sách thực dân kiểu mới (giấu mặt, trá hình), nhưng biện pháp quân sự lại trực tiếp đưa quân vào tham chiến, từ chỗ dựa vào quân nguỵ là chủ yếu đã phát triển thành một cuộc chiến tranh dựa vào hai lực lượng chiến lược cả quân viễn chinh Mỹ và quân nguỵ. Đảng ta nhận định: Mỹ có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh nhất phe đế quốc chủ nghĩa, nhưng không thể huy động hết vào cuộc chiến ở Việt Nam, bởi Mỹ còn phải đối phó với tình hình thế giới và trong nước, nhằm chống lại phong trào giải phóng dân tộc và CNXH trên thế giới.

Dù đế quốc Mỹ đưa vào miền Nam mấy chục vạn quân, chúng cũng buộc phải phân tán lực lượng trên khắp các chiến trường và ngày càng lâm vào thế bị động, càng sa lầy và thất bại. Quân đội viễn chinh Mỹ cũng không thể nào cứu vãn được nguỵ quân, nguỵ quyền khỏi sự sụp đổ tất yếu.

Đảng ta nhận định: Ta có đầy đủ điều kiện để thắng Mỹ. Tuy ta kém xa Mỹ về tiềm lực kinh tế, quân sự, nhưng ta đang trên thế thắng, thế thuận lợi, thế tiến công cả quân sự và chính trị. Quân và dân ta đã đứng vững trên các địa bàn chiến lược quan trọng; lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, vùng giải phóng phát triển mạnh. Miền Bắc trở thành hậu phương lớn chi viện kịp thời sức người, sức của cho chiến trường miền Nam và đã trở thành căn cứ địa vững chắc của cách mạng cả nước.

Từ sự phân tích, đánh giá toàn diện, Đảng xác định quyết tâm đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược. Tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Đảng là kiên quyết giữ vững và phát triển thế chiến lược tiến công, kiên quyết đánh thắng Mỹ trên chiến trường chính miền Nam. Phương châm chiến lược là đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ thời cơ, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi giành thắng lợi trong thời gian tương đối ngắn; tiếp tục thực hiện phương châm kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, triệt để vận dụng ba mũi giáp công trên cả ba vùng chiến lược. Những nội dung trên thể hiện quyết tâm dám đánh, biết đánh và biết thắng của Đảng ta và là cơ sở để thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân.

Quán triệt tinh thần đó, quân và dân ta đã đánh và thắng Mỹ trong những trận đọ sức đầu tiên như Núi Thành, Vạn Tường và đánh thắng hai cuộc phản công chiến lược mùa khô của Mỹ, nguỵ trên chiến trường miền Nam. Đảng ta quyết định một phương thức tiến công mới nhằm tạo sự chuyển biến cục diện của chiến tranh, tiến lên giành thắng lợi quyết định bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) với phương thức tổng công kích, tổng khởi nghĩa vào tất cả các đô thị trên toàn miền Nam. Ta giành thắng lợi trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, buộc Tổng thống Mỹ L.Giôn-xơn phải tuyên bố đơn phương xuống thang chiến tranh, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Pa-ri. Thắng lợi đó khẳng định quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ của Đảng ta là đúng đắn, củng cố niềm tin của nhân dân vào thắng lợi của cuộc kháng chiến. Quyết tâm đánh Mỹ đúng đắn của Đảng, cùng với sự nỗ lực của toàn quân, toàn dân ta đã làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, tạo bước ngoặt quyết định của cuộc kháng chiến, làm lung lay tận gốc ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, mở ra khả năng thắng Mỹ trong bất kỳ tình huống nào. Mỹ, nguỵ đứng trước nguy cơ sụp đổ hoàn toàn.

Nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, sáng tạo, Đảng ta đã phân tích, đánh giá sâu sắc tình hình và xác định quyết tâm đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ từng bước đến thắng lợi.

Hiện nay, Việt Nam đang chủ động hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục nêu cao tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, đánh giá đúng thời cơ vận hội và những khó khăn thách thức để xác định chủ trương đúng đắn, có biện pháp giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa hội nhập và giữ vững định hướng XHCN, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới.

Thượng tá, Tiến sĩ Nguyễn Văn Bạo
qdnd.vn

Tổng tiến công Xuân 1975: Những điều đáng nhớ

Chiếc xe tăng 843 oanh liệt đã húc đổ cánh cửa Dinh Độc lập ngày 30/4/1975. (Ảnh: Trần Mai Hưởng/TTXVN)

Những sự kiện đáng nhớ trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Ngày 17-3-1975: Ta Giải phóng thị xã Kon Tum, Pleiku và 53 buôn thuộc Phú Nhơn, Phú Thiện.

Sư đoàn 10 bộ binh của ta tiếp tục tiến công cụm quân địch còn lại ở Phước An, tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận quan trọng sinh lực địch cùng nhiều phương tiện chiến tranh.

Hai Trung đoàn 24 và 28 tập trung lực lượng đột phá theo trục đường 21, tiêu diệt Trung đoàn 44 (thiếu) và 3 tiểu đoàn bảo an ở bản Ea Phê và Krông Bút. 500 tàn binh địch chạy đến Chư Cúc bị một bộ phận Trung đoàn 28 chốt chặt phía trước và đơn vị truy kích phía sau tiêu diệt. Địch dùng máy bay ném bom dữ dội phá huỷ một số cầu cống trên dọc đường số 21 hòng ngăn chặn quân ta cơ động lên truy kích tiêu diệt quân rút chạy của chúng.

Cũng trong ngày 17-3-1975, Sư đoàn 320 của ta đã bôn tập về hướng thị xã Cheo Reo thực hiện nhiệm vụ truy kích địch. Lực lượng pháo binh của ta trong ngày đã tập kích hỏa lực áp đảo vào thị xã làm cho địch hoang mang hốt hoảng. Chiều cùng ngày, Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 64 từ phía Đông đường 14 đã đến đường 7, như một “mũi lao nhọn” cắt ngang đội hình địch, chặn đứng một khối lượng rất lớn sinh lực địch. Dọc đường số 7, khoảng 2.000 chiếc xe ngổn ngang xếp hàng ba, hàng bốn tháo chạy. Thị xã Cheo Reo hỗn loạn, đường sá tắc nghẽn.

Cùng với tiến công quân sự, chỉ trong ngày 17-3-1975, lực lượng vũ trang địa phương, các đội công tác đã chớp thời cơ phát động nhân dân nổi dậy giải phóng 53 buôn thuộc quận Phú Nhơn và Phú Thiện. Trung đoàn 19 cùng lực lượng vũ trang tỉnh Kon Tum đã giải phóng thị xã Kon Tum. Trung đoàn 957 và lực lượng vũ trang Gia Lai tiến công giải phóng thị xã Pleiku.

Ngày 18-3-1975: Giải phóng thị xã Cheo reo; Bộ Chính trị họp, hạ quyết tâm giải phóng miền Nam trong năm 1975.

Sáng 18-3-1975, Sư đoàn 320 đã chặn được địch ở Đông Nam Cheo Reo. Một bộ phận lực lượng đã tiến công thị xã Cheo Reo. 11 giờ cùng ngày, ta tiến công cụm địch ở Cheo Reo. Pháo ta bắn dồn dập vào thị xã. Bộ binh địch tranh nhau tháo chạy. Xe tăng địch tranh nhau vượt cầu Ba Nu. Cầu bị sập, xe rơi xuống sông, các xe còn lại lội tràn qua sông chạy bừa.

Địch đã cho máy bay A37 đến ném bom hòng chặn lực lượng ta đang truy kích quân rút chạy, nhưng quá hoảng loạn, bom địch đã đánh vào đội hình của Liên đoàn 7 biệt động quân làm thiệt hại lớn về xe cộ, máy móc và binh lính. Tiếp đó, Liên đoàn 7 lại bị ta tiến công tiêu diệt hoàn toàn. Trước tình hình nguy ngập, Tư lệnh Quân đoàn 2 ngụy Phạm Văn Phú điện cho chuẩn tướng Phạm Duy Tất, chỉ huy cuộc rút chạy: “Mở đường máu mà tháo thân. Mạnh đơn vị nào đơn vị ấy chạy, xe không đi nổi thì phá xe, tìm đường, bỏ đi qua mọi tình huống mà luồn cho thoát, lấy Củng Sơn làm tụ điểm”.

Đến 18 giờ ngày 18-3-1975, quân ta chiếm hoàn toàn thị xã Cheo Reo, đập tan về cơ bản cụm chủ yếu của tập đoàn rút chạy của địch.

Cùng ngày, Bộ Chính trị nhận định thắng lợi to lớn có ý nghĩa chiến lược của ta đánh dấu một bước rất mới trong cục diện chung, một bước suy sụp mới của Mỹ-ngụy. Bộ Chính trị hạ quyết tâm hoàn thành giải phóng miền Nam trong năm 1975; nhiệm vụ trước mắt là tiêu diệt quân đoàn 1 của địch không cho chúng rút về Sài Gòn, giải phóng Huế, Đà Nẵng và các tỉnh Trung Bộ.

Theo phóng viên Thông tấn xã Giải phóng, sáng ngày 18-3-1975, Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh Đắk Lắk và Ủy ban quân quản thị xã Buôn Ma Thuột đã làm lễ ra mắt. Hơn 200 đại biểu các tầng lớp nhân dân lao động, công nhân, trí thức, phụ nữ, thanh niên, học sinh, các sư sãi, linh mục, mục sư, ngoại kiều trong thị xã đã đến dự lễ cùng với đại biểu các lực lượng vũ trang giải phóng, các đoàn thể cách mạng trong toàn tỉnh Đắk Lắk.

Ngày 26-3-1975: Giải phóng hoàn toàn tỉnh Thừa Thiên, thành lập Binh đoàn Tây Nguyên (B3).

Trên địa bàn Thừa Thiên-Huế, qua các đợt tiến công và nổi dậy, ta đã tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch gồm: Sư đoàn 1 bộ binh, Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến, 2 lữ đoàn biệt động, 1 lữ đoàn kỵ binh thiết giáp, 3 thiết đoàn, 8 tiểu đoàn pháo, 15 tiểu đoàn và 21 đại đội bảo an, 319 trung đội dân vệ, 7.000 cảnh sát, toàn bộ hệ thống ngụy quyền và hơn 3,6 vạn phòng vệ dân sự; thu toàn bộ vũ khí và phương tiện chiến tranh của địch.

Ngày 26-3-1975, tỉnh Thừa Thiên hoàn toàn được giải phóng.

Nhằm tiếp tục xây dựng các binh đoàn chủ lực cơ động, tạo những “quả đấm quyết định,” ngày 26-3-1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Quốc phòng đã ký Quyết định số 54/QĐ-QĐ thành lập Binh đoàn Tây Nguyên, phiên hiệu công khai là B3, trực thuộc Bộ Quốc phòng, do đồng chí Vũ Lăng làm Tư lệnh, đồng chí Đặng Vũ Hiệp làm Chính ủy.

Cùng ngày, tại Sở chỉ huy tiền phương Quân đoàn 2, các đồng chí trong Bộ Tư lệnh và Tham mưu trưởng họp bàn kế hoạch sử dụng Trung đoàn 18 Sư đoàn 325 tiếp tục phát triển tiến công vào phía Nam theo kế hoạch và quyết định sử dụng Trung đoàn 9 Sư đoàn 304 tiến vào Nam theo hướng đường số 14.

Trên hướng Tây Nguyên phát triển, ngày 26-3-1975, Sư đoàn 2, các Trung đoàn pháo binh 572, cao xạ 573, thiết giáp 574 chuyển đội hình ra Thăng Bình, Quế Sơn, sẵn sàng tiến về Đà Nẵng.

Trên tuyến đường Hồ Chí Minh, Sư đoàn ôtô 571 nhận lệnh tập trung 1.000 xe cùng với lực lượng vận tải ôtô của Cục Vận tải (Tổng cục Hậu cần), cơ động Quân đoàn 1 từ Vĩnh Linh vào Đồng Xoài chuẩn bị tham gia chiến dịch giải phóng Sài Gòn.

Ngày 27-3-1975: Phát triển các mũi tiến công đánh địch ở Đà Nẵng, giải phóng Đệ Đức và Bồng Sơn trên hướng Tây Nguyên phát triển.

Ngày 27-3-1975, Bộ Tổng Tư lệnh chỉ thị cho Quân đoàn 2 và Quân khu 5: “Tình hình Đà Nẵng rất khẩn trương. Cần có những biện pháp đặc biệt nhanh chóng tiến công địch, bỏ qua những mục tiêu dọc đường, đánh thẳng vào Đà Nẵng nhanh nhất, kịp thời nhất, táo bạo nhất với những lực lượng có thể chuyển tới sớm nhất.”

Thực hiện nhiệm vụ mở đường đánh vào Đà Nẵng, Trung đoàn 18 Sư đoàn 325 ngày 27-3-1975 tiếp tục đánh vào tuyến phòng thủ lâm thời của địch ở khu vực đèo Phú Gia. Địch chống cự quyết liệt. Máy bay địch từ sân bay Đà Nẵng liên tục xuất kích. Pháo binh địch từ Lăng Cô, Hải Vân dồn dập bắn ra Phú Gia yểm trợ cho bộ binh “tử thủ Đà Nẵng.”

Với khí thế chiến đấu mạnh mẽ, quân ta nhanh chóng tràn qua đèo Phú Gia rồi thừa thắng giải phóng Sơn Hải. 20 giờ cùng ngày, Trung đoàn 18 Sư đoàn 325 làm chủ khu vực Lăng Cô, mở cửa đột phá lên đèo Hải Vân để đánh vào Đà Nẵng từ hướng Bắc. ở hướng Nam, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 đưa 2 đại đội lên đặt trận địa ở Sơn Khánh.

Trên hướng Tây Nguyên phát triển, ngày 27-3-1975, ta giải phóng Đệ Đức và Bồng Sơn. Trên đường 20, Sư đoàn 7 của ta đánh chiếm chi khu Đắc Oai rồi theo hướng 20 đánh chiếm đèo Ba Cô và cầu Đại Lao (Lâm Đồng).

Cùng ngày, tại Sở chỉ huy chiến dịch Tây Nguyên ở Thuần Mẫn, Đại tướng Văn Tiến Dũng công bố Quyết định thành lập Binh đoàn Tây Nguyên./.

(TTXVN/Vietnam+)
vietnamplus.vn

“Bí mật, bất ngờ, đánh thẳng vào đầu não địch”

Trận địa pháo của địch ở Buôn Ma Thuột bị pháo binh Quân giải phóng dập nát. (Ảnh: Anh Tôn/TTXVN)

Gần bước sang tuổi 80, da mồi, mái tóc đã bạc nhưng Trung tướng Nguyễn Hải Bằng, nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 316 vẫn rất minh mẫn khi tiếp chúng tôi. Nhắc về những năm tháng hào hùng cách đây 35 năm, ông xúc động và đôi mắt ông ánh lên sáng ngời như nhớ lại những ngày tháng trên chiến trường gian khổ nhưng oanh liệt…

Bí mật, bất ngờ

Tháng 3/1975, ông là Sư đoàn phó Sư đoàn 316, đơn vị được giao nhiệm vụ đánh trận mở màn Buôn Ma Thuột. Thời gian dự kiến giải phóng thị xã diễn ra trong ba ngày nhưng trên thực tế, chỉ trong một ngày rưỡi, quân ta đã làm chủ Buôn Ma Thuột.

Nhớ lại trận đánh này, Trung tướng Nguyễn Hải Bằng cho rằng, trận mở màn tiến công thắng lợi này mang ý nghĩa chiến lược. Bởi lẽ, đây là trận then chốt quyết định của chiến dịch Tây Nguyên, tạo ra thời cơ đột biến mở đầu cho cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân 1975.

Nhớ lại trận đánh, Trung tướng Hải Bằng nói: Là người chỉ huy, khi nhận nhiệm vụ đánh vào thị xã, một mục tiêu khá mới lạ vì bộ đội ta đến lúc ấy mới chỉ quen đánh ở địa hình rừng núi là chính. Do vậy, trong quá trình chuẩn bị, các đơn vị đã tiến hành “huấn luyện tại chỗ,” dùng cây cối ghép thành nhà, mục tiêu, xây dựng các dãy phố giả định… để anh em quen dần, khi tiến vào đô thị thật khỏi bỡ ngỡ.

Theo ông, kỷ luật hành quân (sư đoàn phải hành quân chặng đường dài, vượt hàng trăm km từ Nghệ An vào), công tác dân vận khéo, được nhân dân chở che, đùm bọc và sự thành công vượt bậc của công tác nghi binh, lừa địch đã góp phần tạo nên thắng lợi của chiến dịch.

Câu chuyện ông kể lại, chúng tôi thấy vẫn vẹn nguyên tính thời sự và rất bổ ích cho công tác huấn luyện hôm nay. Chẳng hạn, để hành quân vượt qua đường 14 nơi địch đang án ngữ, đơn vị đã bí mật rải nilon lên mặt đường, khi đi qua thì thu lại, không cho địch phát hiện dấu vết khác thường. Để giữ bí mật, bộ đội đã chấp hành nghiêm quy định, rèn bản lĩnh, ý chí tuyệt vời, nhiều đồng chí thèm thuốc lắm nhưng không hề có gợn khói nào…

Trung tướng Nguyễn Hải Bằng cho rằng, cách đánh trong từng trận và toàn chiến dịch là trên tinh thần “bí mật, bất ngờ, đánh thẳng vào mục tiêu đầu não của địch.” Trên thực tế, khi tiến công Buôn Ma Thuột, các mũi, hướng đều nhằm thẳng vào mục tiêu trọng yếu phía trong, nơi đầu não của kẻ địch, trên đường hành tiến, nếu gặp các chốt, cao điểm cản đường mới “nhổ bỏ,” khi giải quyết xong mục tiêu quan trọng mới quay trở lại, giải quyết gọn, sạch vòng ngoài.

Dùng tiền địch nuôi thương binh

Sau khi giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, rất nhiều thương binh, bệnh binh nhẹ được cấp trên quyết định giữ lại điều trị tại bệnh xá của các đơn vị và bệnh xá Sư đoàn nhằm bảo đảm quân số, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ chiến đấu. Mặt khác, hầu hết số cán bộ, chiến sĩ bị thương đều không muốn đi điều trị tại các bệnh viện tuyến trên, vì sợ bị cắt quân số không được tham gia chiến đấu tiếp.

Trong tình thế ấy, chỉ huy Sư đoàn 316 chưa biết giải quyết bằng cách nào. Bởi lẽ, nếu để anh em ở lại dưỡng thương tại đơn vị thì không yên tâm, vì lúc đó sư đoàn không có nguồn kinh phí hoặc vật chất gì đáng kể để bồi dưỡng. Nếu kiên quyết chuyển anh em lên tuyến trên điều trị thì ảnh hưởng đến quân số.

Ban chỉ huy Sư đoàn có ý định dùng số tiền ta thu được trong ngân hàng và các công sở của địch ra thị xã mua thực phẩm và thuốc chữa bệnh cho anh em. Nhưng cũng có không ít ý kiến cho rằng muốn sử dụng số tiền đó phải được sự đồng ý của Bộ Tư lệnh Mặt trận, kẻo “mang tiếng” là tùy tiện sử dụng chiến lợi phẩm.

Đang loay hoay chưa biết làm cách nào thì đồng chí Văn Tiến Dũng đến thăm Sư đoàn, chỉ huy đơn vị báo cáo xin phép được sử dụng khoản tiền chiến lợi phẩm để mua thuốc men và một số thực phẩm bồi dưỡng cho anh em thương binh, bệnh binh. Không những đồng ý, mà đồng chí Văn Tiến Dũng còn phê bình chỉ huy Sư đoàn là máy móc, không linh hoạt trong cách giải quyết.

Cách làm trên không những giúp số thương binh, bệnh binh nhanh chóng phục hồi sức khỏe, mà còn bảo đảm quân số để sư đoàn hoàn thành tốt các nhiệm vụ, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Những ngày tháng hào hùng

Trung tướng Nguyễn Hải Bằng nói tiếp: Chiều 26/4/1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử bắt đầu. Quân đoàn 3 đảm nhiệm tiến công hướng Tây Bắc. Quân đoàn 1 tiến công theo hướng Đông Bắc, Quân đoàn 2 đảm nhiệm hướng Đông Nam, Quân đoàn 4 đánh từ hướng Đông, Binh đoàn 232 đánh hướng Nam.

Các đơn vị đặc công, biệt động được huy động đánh chiếm những cây cầu trên các trục giao thông, đảm bảo cho những binh đoàn bộ binh được tăng cường tăng thiết giáp thọc sâu đánh chiếm các mục tiêu trọng yếu trong nội đô như Sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu, Dinh Độc lập, Biệt khu Thủ đô, Tổng nha cảnh sát…

Để phối hợp với các Sư đoàn trong Quân đoàn và các hướng của Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu đánh Sài Gòn, đêm 26/4, Sư đoàn 316 triển khai toàn bộ lực lượng hoạt động xung quanh các căn cứ địch, hình thành thế bao vây chia cắt, giam hãm quân địch và sẵn sàng tiêu diệt Sư đoàn 25 ngụy. Trung đoàn 148 sẵn sàng đánh chiếm lại căn cứ Bầu Nâu-Trà Vinh và tiêu diệt Trung đoàn 49 (Sư đoàn 25 ngụy). Trung đoàn 174 đánh chiếm cứ điểm Trung Hưng và Phước Hiệp, Phước Mỹ. Trung đoàn 98 đánh chiếm thị trấn Trảng Bàng và tiêu diệt Trung đoàn 46 (Sư đoàn 25 ngụy).

Trong tâm tưởng của người lính năm xưa, Trung tướng Nguyễn Hải Bằng vẫn còn nhớ như in về Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ông cho biết: Tham gia chiến dịch mang tên Bác, Sư đoàn 316 đã hoàn thành nhiệm vụ giam chân và tiêu diệt Sư đoàn 25 ngụy ở tuyến ngoài gồm Trung đoàn 46, Trung đoàn 49, một tiểu đoàn của Trung đoàn 50, Thiết đoàn 10 tăng-thiết giáp, Liên đoàn biệt động quân 32, loại khỏi vòng chiến đấu trên 10.000 tên địch và cùng lực lượng địa phương giải phóng hoàn toàn ba huyện Gò Dầu, Trảng Bàng, Củ Chi.

Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử kết thúc toàn thắng, Sư đoàn 316 cùng quân dân cả nước mang lá cờ vinh quang của Bác Hồ đến đích cuối cùng, hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, thực hiện trọn vẹn di chúc thiêng liêng của Người./.

(Báo Tin Tức/Vietnam+)
vietnamplus.vn