Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội năm 2011 (Phần thứ nhất)

68th VN độc lập

KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI NĂM 2012, VÀ 5 NĂM 2011 – 2015
(do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày
tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XIII, ngày 20 tháng 10 năm 2011)

Theo Chương trình Kỳ họp, Chính phủ đã gửi đến Quốc hội Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội 5 năm 2006 – 2010 và Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2011 – 2015, Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội năm 2011 và Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2012; đồng thời, Chính phủ cũng trình Quốc hội 37 Báo cáo và Tờ trình khác trên các lĩnh vực. Thay mặt Chính phủ, tôi xin trình bày với Quốc hội và đồng bào cả nước một số vấn đề lớn về tình hình kinh tế – xã hội năm 2011; mục tiêu, nhiệm vụ và những giải pháp chủ yếu của Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2012 và 5 năm 2011 – 2015.

Phần thứ nhất
VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI NĂM 2011

Trong 5 năm thực hiện kế hoạch 2006 – 2010, kinh tế – xã hội nước ta chịu tác động của những sự kiện và những tiến trình đặc biệt, đó là: (1) Nước ta gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và triển khai sâu rộng các cam kết trong khu vực mậu dịch tự do ASEAN và ASEAN+, tạo ra những cơ hội to lớn cho thu hút đầu tư và phát triển xuất khẩu nhưng cũng đặt ra những thách thức gay gắt đối với sức cạnh tranh của nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi và khả năng phản ứng chính sách trước những diễn biến phức tạp của thị trường; (2) Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu cùng những biến động chính trị ở nhiều nước trên thế giới đã tác động tiêu cực đến kinh tế xã hội nước ta; (3) Sự điều chỉnh chính sách nhằm ứng phó với những biến động của kinh tế thế giới, từ thắt chặt tài khóa và tiền tệ để kiềm chế lạm phát (năm 2008) sang kích cầu đầu tư để thúc đẩy tăng trưởng (năm 2009), và thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ chặt chẽ, linh hoạt để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm tăng trưởng (năm 2010). Đồng thời, chúng ta còn phải thường xuyên đối phó với các âm mưu thủ đoạn gây mất ổn định chính trị xã hội, đe dọa chủ quyền quốc gia và thiên tai, dịch bệnh gây thiệt hại nặng nề[1].

Trong bối cảnh đầy biến động, mặc dù còn có những yếu kém, bất cập trong quản lý, điều hành nhưng với sự nỗ lực phấn đấu vượt bậc, năng động sáng tạo của toàn dân, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và sự quản lý điều hành có hiệu quả của Nhà nước, chúng ta đã vượt qua khó khăn, thách thức, ứng phó có kết quả với diễn biến phức tạp của tình hình, đạt được những thành tựu quan trọng. Kinh tế tăng trưởng khá cao,bình quân đạt 7%/năm[2]; quy mô nền kinh tế tăng lên, các ngành kinh tế xã hội đều có bước phát triển; đời sống nhân dân được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh; đã hoàn thành hầu hết các mục tiêu thiên niên kỷ; dân chủ trong xã hội có nhiều tiến bộ, khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được tăng cường. Chính trị xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia được giữ vững; hội nhập quốc tế và hoạt động đối ngoại đạt được những kết quả tích cực. Vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao, tạo được môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước. Nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình.

Tuy nhiên, thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng. Một số chỉ tiêu chưa đạt kế hoạch. Kinh tế phát triển thiếu bền vững, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh còn thấp; kinh tế vĩ mô chưa vững chắc. Những hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực văn hoá, xã hội, môi trường chậm được khắc phục. Vẫn đang tiềm ẩn những nhân tố đe dọa chủ quyền quốc gia và gây mất an ninh trật tự.

Bước vào năm 2011, khó khăn và thách thức đều lớn hơn so với dự báo. Giá lương thực thực phẩm, giá dầu thô và nguyên vật liệu trên thị trường quốc tế tăng cao; thị trường chứng khoán sụt giảm mạnh; khủng hoảng nợ công ở nhiều nước; tăng trưởng kinh tế thế giới chậm lại, lạm phát cao tại hầu hết các quốc gia… tác động tiêu cực vào nền kinh tế nước ta. Ở trong nước, chính sách nới lỏng tài khóa, tiền tệ trong nhiều năm để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế, đầu tư phát triển hạ tầng, bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội đã đem lại những thành tựu quan trọng nhưng cũng làm phát sinh những hệ quả tiêu cực. Lạm phát và mặt bằng lãi suất tăng cao; nhập siêu lớn, cán cân thanh toán quốc tế thâm hụt, dự trữ ngoại hối giảm mạnh gây áp lực lên thị trường tiền tệ và tỷ giá; giá vàng trên thị trường biến động bất thường. Sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn. Nguy cơ mất ổn định kinh tế vĩ mô trở thành thách thức lớn. Chính phủ đã phân tích kỹ tình hình, tham vấn các chuyên gia và ngay đầu tháng 2 đã ban hành Nghị quyết số 11 về những giải pháp điều hành phát triển kinh tế – xã hội trong tình hình mới. Bộ Chính trị đã có Kết luận số 02. Chính phủ đã báo cáo và Quốc hội đã có Nghị quyết số 59 điều chỉnh mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế – xã hội năm 2011. Đó là những quyết sách kịp thời, đúng đắn, thể hiện bước tiến mới trong tư duy phát triển và khả năng phản ứng chính sách của Đảng và Nhà nước ta, được nhân dân đồng tình ủng hộ và quốc tế đánh giá cao.

Trên cơ sở tình hình 9 tháng đầu năm và dự báo các tháng cuối năm, Chính phủ đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội năm 2011 trên một số nội dung chủ yếu như sau:

1. Lạm phát giảm dần, kinh tế vĩ mô có bước chuyển biến tích cực

Nhờ xác định đúng nhiệm vụ ưu tiên là kiềm chế lạm phát và nỗ lực thực hiện đồng bộ các giải pháp để kiểm soát giá cả, điều tiết cung cầu, bình ổn thị trường nên từ tháng 5 năm 2011 mức tăng giá tiêu dùng đã giảm dần, 9 tháng tăng 16,63%, ước cả năm tăng khoảng 18%[3].

Đã điều hành chính sách tài khoá thắt chặt, tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước, đồng thời rà soát, cắt giảm và sắp xếp lại đầu tư công, tập trung vốn cho các công trình quan trọng, cấp bách, sắp hoàn thành[4]; miễn, giảm nhiều loại thuế cho doanh nghiệp và cá nhân[5]. Kết quả là, bội chi ngân sách nhà nước cả năm 2011 giảm xuống còn 4,9% GDP (kế hoạch là 5,3%), thu ngân sách tăng, đáp ứng nhu cầu chi và dành một phần để tăng chi trả nợ.

Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, linh hoạt; ước cả năm, tổng dư nợ tín dụng tăng 12%, tổng phương tiện thanh toán tăng 12,5%[6]. Vốn tín dụng được ưu tiên cho sản xuất nông nghiệp, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Giảm tỷ trọng vốn vay của khu vực phi sản xuất; lãi suất tín dụng đã có xu hướng giảm. Thị trường ngoại hối chuyển biến tích cực, tỷ giá dần ổn định, trạng thái ngoại hối của hệ thống ngân hàng, dự trữ ngoại tệ và cán cân thanh toán quốc tế được cải thiện. Mua bán ngoại tệ và kinh doanh vàng được kiểm soát có kết quả bước đầu. Nợ công được giữ ở mức an toàn[7]. An ninh năng lượng và an ninh lương thực được bảo đảm[8].

2. Trong khó khăn, sản xuất kinh doanh được duy trì và tiếp tục phát triển

Cùng với những định hướng đúng, những ưu tiên trong chính sách, sự chỉ đạo điều hành quyết liệt và sự nỗ lực, sáng tạo của nhân dân: Nông nghiệp phát triển khá toàn diện, đạt mức kỷ lục về sản xuất lương thực và xuất khẩu gạo, thu nhập và đời sống của nông dân được cải thiện, giá trị sản xuất nông nghiệp 9 tháng tăng 4,1%, ước cả năm tăng 3,6%; chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP[9]) 9 tháng tăng khá, đạt 7,8%, ước cả năm tăng khoảng 7%; khu vực dịch vụ tiếp tục phát triển, 9 tháng tăng 6,24%, dự báo cả năm tăng 6,4%[10].

Xuất khẩu tăng cao, nhập khẩu được kiểm soát[11]. Nhập siêu giảm mạnh, cả năm dự kiến khoảng 10 tỷ USD, bằng 10,5% tổng kim ngạch xuất khẩu, thấp hơn chỉ tiêu kế hoạch (không quá 18%), đã góp phần tích cực cải thiện cán cân thanh toán và ổn định tỷ giá.

Trong điều kiện phải tập trung kiềm chế lạm phát, giảm mạnh tăng trưởng tín dụng, thắt chặt chi ngân sách nhưng kinh tế vẫn tăng trưởng liên tục, quý sau cao hơn quý trước[12], cả năm ước đạt khoảng 6%.

3. Tập trung chăm lo bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội và giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc

Trong điều kiện giá cả thị trường tăng cao, thiên tai, dịch bệnh xảy ra liên tiếp, Chính phủ đã tập trung chỉ đạo bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội. Cùng với việc ưu tiên nguồn lực để thực hiện các chương trình và chính sách hiện có, trọng tâm là hỗ trợ xóa đói giảm nghèo; tạo việc làm gắn với đào tạo nghề; trợ giúp xã hội, nhất là trợ giúp khó khăn và khắc phục hậu quả thiên tai; hỗ trợ nhân dân tham gia hệ thống bảo hiểm và tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản; nhiều chế độ, chính sách về an sinh xã hội và phúc lợi xã hội đã được ban hành mới hoặc sửa đổi bổ sung theo hướng tăng mức hỗ trợ và mở rộng diện thụ hưởng nhằm giúp người nghèo, người có thu nhập thấp, các đối tượng chính sách vượt qua khó khăn[13]. Trong điều kiện ngân sách hạn hẹp, nhưng chi ngân sách nhà nước cho công tác an sinh xã hội ước tăng khoảng 20% và dư nợ tín dụng ưu đãi thực hiện chính sách xã hội tăng khoảng 17% so với năm 2010[14]. Cả năm, ước tạo được 1,54 triệu việc làm mới, thất nghiệp ở khu vực thành thị khoảng 4%; tỷ lệ hộ nghèo giảm khoảng 1,5%. Chương trình hỗ trợ xây nhà ở cho người nghèo, nhà ở sinh viên và xây dựng cụm tuyến dân cư vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long đạt kết quả tích cực[15]. Số người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm y tế đều tăng[16]. Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới được quan tâm triển khai.

Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, dân số, kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ và chăm sóc trẻ em, bình đẳng giới đã có nhiều cố gắng và đã cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu Quốc hội giao. Các hoạt động y tế dự phòng được tích cực triển khai, nhất là phòng chống dịch bệnh, đẩy mạnh thực hiện chương trình tiêm chủng mở rộng; tăng cường quản lý chất lượng, kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm. Tỷ lệ người mắc bệnh và chết do một số bệnh truyền nhiễm giảm so với năm 2010, không để dịch lớn xảy ra, ngộ độc thực phẩm giảm. Đã tích cực thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân. Hệ thống y tế cơ sở tiếp tục được củng cố và phát triển. Việc đầu tư xây dựng, nâng cấp mạng lưới bệnh viện được quan tâm triển khai, nhiều dự án đã hoàn thành đưa vào sử dụng, góp phần giảm tải ở nhiều bệnh viện. Đẩy mạnh xã hội hóa trong y tế, khuyến khích phát triển các cơ sở y tế ngoài công lập và khám chữa bệnh bằng công nghệ cao; thực hiện có hiệu quả việc luân chuyển cán bộ y tế hỗ trợ cho tuyến dưới; tăng cường quản lý thuốc chữa bệnh và phát triển y dược cổ truyền.

Cùng với việc tiếp tục hoàn thiện và mở rộng quy mô giáo dục đào tạo theo quy hoạch, đã tập trung chỉ đạo thực hiện nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất lượng như phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý; đổi mới phương pháp dạy và học; triển khai các cuộc vận động và phong trào thi đua thiết thực; tăng cường kiểm định chất lượng giáo dục, xây dựng trường chuẩn quốc gia; đã triển khai 35 chương trình đào tạo theo chuẩn của các nước tiên tiến ở nhiều trường đại học. Tổ chức tốt các kỳ thi giáo dục phổ thông, tuyển sinh đại học, cao đẳng. Tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông và tỷ lệ huy động trẻ em đến lớp đúng độ tuổi đều tăng; giáo dục phổ cập đạt kết quả tích cực; các chỉ tiêu tuyển mới về giáo dục đào tạo đều đạt và vượt kế hoạch đề ra[17]. Tích cực triển khai chương trình dạy nghề, nhất là cho lao động nông thôn và đẩy mạnh đào tạo theo nhu cầu xã hội. Tiếp tục thực hiện các chương trình kiên cố hóa trường lớp học, nhà công vụ cho giáo viên và đạt được những kết quả cụ thể[18].

Lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể thao tiếp tục phát triển. Đã tập trung tuyên truyền về các sự kiện chính trị xã hội quan trọng của đất nước, đặc biệt là Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI; bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp; tuyên truyền về thực hiện nhiệm vụ kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia; tích cực triển khai các đề án lớn, chương trình mục tiêu quốc gia nhằm đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về công nghệ thông tin; đáp ứng yêu cầu thông tin của nhân dân; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm quyền tự do của công dân. Tiếp tục triển khai nhiều hoạt động văn hóa; tăng cường quản lý các lễ hội và tiếp tục thực hiện cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa. Quan tâm phát triển văn học nghệ thuật, bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa, văn hóa các dân tộc; xây dựng thể chế và thiết chế văn hóa. Tích cực triển khai Chiến lược phát triển thể dục thể thao.

Nhiều giải pháp giảm ùn tắc và tai nạn giao thông, chống ngập nước đã được triển khai và đạt được kết quả cụ thể. Tai nạn giao thông 9 tháng đầu năm tính trên 1 vạn phương tiện giảm so với cùng kỳ năm trước cả về số vụ, số người chết và số người bị thương[19].

4. Hoạt động khoa học, công nghệ đạt được những kết quả tích cực; công tác bảo vệ môi trường được quan tâm chỉ đạo

Cơ chế, chính sách quản lý khoa học, công nghệ tiếp tục được đổi mới. Năng lực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ có bước tiến đáng kể[20]. Thị trường công nghệ từng bước phát triển, giá trị mua bán công nghệ 8 tháng đầu năm 2011 tăng 76% so với cùng kỳ năm 2010. Hệ thống các tổ chức khoa học, công nghệ được củng cố và nâng cao hiệu quả theo hướng chuyển sang hoạt động theo cơ chế tự chủ hoặc chuyển sang doanh nghiệp. Hoạt động hợp tác, đầu tư với nước ngoài được khuyến khích. Đã triển khai nhiều chương trình, đề án lớn về: đổi mới, phát triển công nghệ quốc gia; nâng cao năng suất, chất lượng hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam; hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ; ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ phục vụ phát triển nông thôn, miền núi; phấn đấu đưa Việt Nam thành nước mạnh trong một số lĩnh vực khoa học và công nghệ. Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia được quản lý có hiệu quả. Các hội chợ và triển lãm công nghệ đã đem lại những kết quả thiết thực[21].

Đã chỉ đạo tạm dừng cấp phép hoạt động khoáng sản, tiến hành rà soát, đánh giá lại thực trạng và hoàn thiện cơ chế quản lý để bảo đảm hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường và an ninh quốc phòng. Triển khai các biện pháp phòng ngừa ô nhiễm môi trường; tăng cường kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm; xử lý kiên quyết các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng. Đã ban hành và tích cực thực hiện các quy định về đánh giá tác động môi trường, cam kết về bảo vệ môi trường, xử lý chất thải rắn. Đến nay 83% dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, 78% dân số đô thị được sử dụng nước sạch. Công tác trồng và bảo vệ rừng được coi trọng, đến cuối năm 2011, độ che phủ rừng đạt 40,5%. Chương trình mục tiêu và Kế hoạch hành động quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu được triển khai tích cực.

5. Cải cách hành chính đạt những kết quả thiết thực, phòng chống tham nhũng được quan tâm chỉ đạo

Các cơ quan quản lý nhà nước từ Chính phủ đến chính quyền các cấp nhiệm kỳ mới đã nhanh chóng được kiện toàn cùng với việc triển khai đồng bộ, toàn diện nhiều cơ chế chính sách phát triển, tạo được không khí tích cực trong hoạt động quản lý và trong đời sống kinh tế – xã hội. Các Bộ, ngành, địa phương tiếp tục đẩy mạnh đơn giản hoá thủ tục hành chính, đến giữa tháng 9, đã hoàn thành hơn 3.000 thủ tục trong tổng số gần 5.000 thủ tục phải đơn giản hoá, đạt 68%, tạo thuận lợi hơn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và giao dịch của công dân.

Công tác phòng chống tham nhũng tiếp tục được quan tâm chỉ đạo và đạt những kết quả cụ thể. Việc triển khai cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh kết hợp với tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng đã góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về hoạt động phòng chống tham nhũng, lãng phí.

6. Chính trị xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững; công tác đối ngoại đạt những kết quả tích cực

Thành công của Đại hội Đảng lần thứ XI, của cuộc Bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp tạo thêm sự đồng thuận và động lực thúc đẩy phát triển đất nước. Đã quan tâm chỉ đạo tăng cường tiềm lực quốc phòng, nâng cao sức chiến đấu cho quân đội, công an và bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh quốc gia. Công tác phòng chống tội phạm được quan tâm chỉ đạo và đạt nhiều kết quả, góp phần bảo đảm an ninh trật tự và an toàn xã hội. Công tác đặc xá được thực hiện tốt.

Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế được quan tâm chỉ đạo đồng bộ, toàn diện và đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của nước ta trên trường quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Chính phủ cũng nghiêm túc nhìn nhận còn nhiều yếu kém, bất cập. Một số chỉ tiêu quan trọng của Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2011 chưa hoàn thành. Kinh tế vĩ mô chưa ổn định; lạm phát và lãi suất tín dụng còn cao; nợ xấu của hệ thống ngân hàng tăng, thanh khoản của một số ngân hàng thương mại khó khăn; dự trữ ngoại hối thấp, áp lực đối với tỉ giá còn lớn; thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản giảm sút. Sản xuất, kinh doanh còn nhiều khó khăn. Việc đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế còn chậm. Văn hoá, xã hội còn nhiều mặt bức xúc. Đời sống của nhân dân, nhất là người nghèo, các đối tượng chính sách xã hội, người lao động có thu nhập thấp và đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn. Tham nhũng, lãng phí chưa được đẩy lùi. Ùn tắc và tai nạn giao thông còn nghiêm trọng, số người chết và bị thương tăng so với cùng kỳ năm trước; khiếu kiện đông người, đình công xảy ra ở nhiều nơi; tội phạm và tệ nạn xã hội chưa giảm.

Tình hình trên có nguyên nhân khách quan là do tác động nặng nề, phức tạp của khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu; nguyên nhân chủ quan là do những yếu kém nội tại của nền kinh tế với mô hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư kém hiệu quả tích tụ từ nhiều năm, chậm được khắc phục và do những hạn chế, yếu kém trong lãnh đạo, quản lý, nhất là trong quản lý kinh tế vĩ mô, điều hành chính sách tài chính, tiền tệ, trong quản lý đầu tư công, quản lý doanh nghiệp nhà nước, quản lý tài nguyên và trong chỉ đạo giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc. Việc khắc phục những khuyết điểm, yếu kém, bảo đảm phát triển bền vững đòi hỏi sự nỗ lực vượt bậc và quyết tâm cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị trong năm 2012 và những năm tiếp theo.

Nguồn: baodientu.chinhphu.vn
Vkyno (st)