BÁO CÁO TÌNH HÌNH KINH TẾ – XÃ HỘI NĂM 2011, KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI NĂM 2012 VÀ 5 NĂM 2011 – 2015 (Phần thứ hai)

68th VN độc lập

MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP
PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI 5 NĂM 2011 – 2015 VÀ NĂM 2012

Chúng ta thực hiện nhiệm vụ năm 2012 và 5 năm 2011 – 2015 trong bối cảnh thế giới thay đổi rất nhanh và rất khó lường. Kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nhân tố đe dọa sự ổn định và tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Tình hình này sẽ tác động tiêu cực vào nền kinh tế nước ta. Ở trong nước, bên cạnh những thành tựu, cũng còn nhiều tồn tại, yếu kém, chưa thể khắc phục ngay trong thời gian ngắn. Đây là những khó khăn, thách thức rất lớn đối với nước ta.

Tuy nhiên, những thành tựu to lớn, toàn diện của hơn 25 năm đổi mới cùng với chính trị xã hội ổn định, sự đồng thuận của toàn dân, lợi thế của một nước đi sau đang trong quá trình công nghiệp hoá, nền nông nghiệp giàu tiềm năng và thị trường nội địa gần 90 triệu dân với sức mua đang tăng lên… là những thuận lợi cơ bản trong thực hiện nhiệm vụ kế hoạch năm 2012 và những năm còn lại của kế hoạch 5 năm.

I. MỤC TIÊU TỔNG QUÁT PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 2011 – 2015 VÀ NĂM 2012

Tình hình kinh tế thế giới rất khó dự báo, mặt khác chúng ta thực hiện nhiệm vụ kế hoạch 5 năm 2011 – 2015 mới được một năm; vì vậy, cần tiếp tục khẳng định mục tiêu tổng quát mà Đại hội 11 của Đảng đề ra cho cả nhiệm kỳ 5 năm, đó là: Phát triển kinh tế nhanh, bền vữnggắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh. Bảo đảm phúc lợi xã hội và an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tăng cường hoạt động đối ngoại và nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế. Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và trật tự an toàn xã hội. Tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Trong năm 2012 và năm 2013, cần tiếp tục thực hiện tốt các chủ trương theo tinh thần Kết luận số 02 của Bộ Chính trị, Kết luận của Hội nghị Trung ương lần thứ III và Nghị quyết 11 của Chính phủ phù hợp với tình hình trong nước và thế giới; tạo sự chủ động để ổn định vững chắc hơn kinh tế vĩ mô từ cuối năm 2013. Những năm còn lại của kế hoạch 5 năm, tranh thủ những điều kiện thuận lợi của kinh tế thế giới, phát huy nội lực, tập trung sức phấn đấu để bình quân 5 năm đạt mục tiêu Đại hội Đảng đề ra.

Mục tiêu tổng quát của năm 2012 là: Ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; bảo đảm phúc lợi xã hội, an sinh xã hội và cải thiện đời sống nhân dân; giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế.

Trong quá trình thực hiện các mục tiêu này, cần phát huy tốt hơn nữa vai trò có ý nghĩa quyết định của Nhà nước trong kiến tạo và điều tiết sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta.

II. VỀ CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU

1. Các chỉ tiêu kinh tế

– Chỉ tiêu lạm phát: Năm 2012 phấn đấu kiềm chế lạm phát dưới 10%, các năm sau thấp hơn, đến năm 2015 lạm phát khoảng 5 – 7%.

– Chỉ tiêu tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP): Năm 2012 tăng GDP khoảng 6 – 6,5%. Để chủ động ứng phó với diễn biến phức tạp của tình hình và tập trung cho nhiệm vụ ổn định kinh tế vĩ mô, Chính phủ đề nghị điều hành theo phương án tăng trưởng khoảng 6%, khi có điều kiện thuận lợi sẽ phấn đấu để đạt mức 6,5%.

Trong giai đoạn 5 năm 2011 – 2015, tăng trưởng GDP bình quân khoảng 6,5 – 7%. Phấn đấu đạt 7%.

– Các chỉ tiêu về bội chi ngân sách nhà nước và nợ công: Năm 2012, bội chi ngân sách nhà nước bằng 4,8% GDP, các năm sau giảm dần để đến năm 2015 giảm xuống còn 4,5%.

Đến năm 2015, nợ công khoảng 60 – 65% GDP.

– Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2012 dự kiến tăng khoảng 12 – 13% so với năm 2011; nhập siêu 11,5 – 12% tổng kim ngạch xuất khẩu. Phấn đấu đến năm 2015, nhập siêu khoảng 10%.

– Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội: Năm 2012 bằng khoảng 33,5 – 34% GDP. Bình quân 5 năm khoảng 33,5 – 35% GDP.

2. Các chỉ tiêu xã hội và môi trường

Kiên định chủ trương phát triển bền vững, phấn đấu đạt các chỉ tiêu về xã hội và môi trườngnhư Đại hội Đảng lần thứ XI đã đề ra.

Chính phủ đề nghị bổ sung một số chỉ tiêu phản ánh chất lượng tăng trưởng trong Kế hoạch 5 năm là: Năng suất lao động xã hội; Tỷ trọng sản phẩm công nghệ cao trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp; Giảm tiêu hao năng lượng tính trên GDP; Tỷ lệ lao động qua đào tạo; Tỷ lệ đổi mới công nghệ; và Nhân tố năng suất tổng hợp đóng góp vào tăng trưởng, như trong Báo cáo Chính phủ đã trình Quốc hội.

Căn cứ vào tình hình thực tế, hàng năm Chính phủ trình Quốc hội xem xét quyết định phương án tăng trưởng cụ thể và các chỉ tiêu chủ yếu tương ứng.

III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1. Tập trung ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế

Năm 2012, việc ổn định kinh tế vĩ mô phải được xác định là nền tảng quan trọng cho việc thực hiện nhiệm vụ trong cả giai đoạn 2011 – 2015 với các trọng tâm là kiểm soát lạm phát, bình ổn thị trường giá cả, cải thiện cán cân thanh toán và phấn đấu giảm bội chi ngân sách.

Về lạm phát, có nguyên nhân bên ngoài do giá nguyên liệu, vật tư nhập khẩu tăng và do phải điều chỉnh tăng giá theo lộ trình một số hàng hoá và dịch vụ; nhưng nguyên nhân chủ yếu gây lạm phát cao ở nước ta là do hệ quả của việc nới lỏng chính sách tiền tệ, tài khoá kéo dài trong nhiều năm để đáp ứng yêu cầu đầu tư phát triển, bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội trong khi cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư còn kém hiệu quả; cùng những hạn chế trong quản lý điều hành và tác động cộng hưởng của các yếu tố tâm lý. Để kiềm chế lạm phát, phải kiên quyết khắc phục các nguyên nhân chủ yếu nêu trên.

Chính phủ chủ trương điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng và linh hoạt theo tín hiệu thị trường; kết hợp hài hòa giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để kiểm soát lạm phát, bảo đảm tăng tổng phương tiện thanh toán và tăng dư nợ tín dụng hàng năm không vượt quá mức đề ra trong Nghị quyết 11. Giữ mặt bằng lãi suất hợp lý. Điều hành tỷ giá chủ động, phù hợp, không để biến động lớn. Giám sát chặt chẽ hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại; bảo đảm vốn cho sản xuất; kiểm soát chặt cho vay bất động sản và kinh doanh chứng khoán; kiểm soát nợ xấu, bảo đảm thanh khoản và an toàn hệ thống ngân hàng.

Thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ, phấn đấu giảm bội chi ngân sách. Tiếp tục thực hiện chủ trương tiết kiệm chi thường xuyên. Rà soát, sắp xếp lại danh mục đầu tư công, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và chuyển một phần đầu tư nhà nước sang đầu tư từ các nguồn vốn khác. Kiểm soát chặt chẽ hiệu quả đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước. Bảo đảm nợ công trong giới hạn an toàn[22].

Tăng cường quản lý nhà nước về giá. Ngăn chặn và kiên quyết xử lý các hành vi tăng giá bất hợp lý, nhất là đối với các nguyên vật liệu quan trọng và các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu. Tiếp tục lộ trình điều chỉnh giá các mặt hàng theo cơ chế thị trường, thực hiện công khai minh bạch giá các hàng hóa này, đồng thời có cơ chế hỗ trợ cho người nghèo và các đối tượng chính sách. Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền để hạn chế tối đa các tác động tăng giá do yếu tố tâm lý.

Thực hiện đồng bộ các giải pháp để giảm nhập siêu và cải thiện cán cân thanh toán. Đẩy mạnh xuất khẩu, tăng hàm lượng nội địa và giá trị gia tăng của sản phẩm; phát triển sản xuất thay thế có hiệu quả hàng nhập khẩu; kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu các mặt hàng không khuyến khích. Thu hút và đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn ODA và FDI đi đôi với việc kiểm soát, ngăn chặn việc chuyển giá, trốn thuế. Tăng cường quản lý các dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII). Tạo điều kiện thuận lợi để tăng khách du lịch quốc tế và nguồn kiều hối.

2. Ưu tiên nguồn lực thực hiện ba đột phá chiến lược và tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh

Thực hiện nhất quán chủ trương đổi mới mô hình tăng trưởng từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, từ dựa chủ yếu vào tăng vốn đầu tư, khai thác tài nguyên và lao động chất lượng thấp sang dựa vào hiệu quả, năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế trên cơ sở áp dụng những thành tựu mới về khoa học, công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao và kỹ năng quản lý hiện đại. Đây là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa cơ bản và lâu dài, cần được tiến hành đồng bộ gắn với các đột phá chiến lược theo một chương trình tổng thể.

Hoàn thiện cơ chế huy động các nguồn lực để thực hiện các đột phá theo một lộ trình hợp lý. Ưu tiên cho các lĩnh vực, dự án có tác động lan tỏa cao, tạo tiền đề tái cơ cấu nền kinh tế. Ngay từ năm 2012 cần tập trung vào 3 lĩnh vực trọng tâm là tái cơ cấu đầu tư, trước hết là đầu tư công, góp phần thúc đẩy tái cơ cấu các ngành kinh tế và phân bố lại lực lượng sản xuất trên từng vùng lãnh thổ; tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là các tập đoàn và tổng công ty; tái cơ cấu hệ thống tài chính tiền tệ, trọng tâm là hệ thống ngân hàng thương mại và các định chế tài chính.

Phải đổi mới tư duy về đầu tư, từng bước điều chỉnh cơ cấu đầu tư công theo hướng giảm dần tỷ trọng và nâng cao hiệu quả; kiên quyết khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải và tăng cường huy động các nguồn vốn khác cho phát triển. Năm 2012, phải thực hiện nghiêm kết luận của Hội nghị Trung ương lần thứ III và Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước, trái phiếu chính phủ và kiểm soát chặt chẽ đầu tư của doanh nghiệp nhà nước. Phải đổi mới cơ chế phân bổ vốn đầu tư; kiên quyết tập trung vốn cho các công trình dự án cấp thiết, sớm hoàn thành, nhanh đưa vào sử dụng để phát huy hiệu quả. Ưu tiên bố trí vốn cho các công trình đã hoàn thành và đã đưa vào sử dụng, các công trình cần thiết phải hoàn thành trong năm 2012 và vốn đối ứng cho các dự án ODA. Các dự án, công trình khởi công mới phải được kiểm soát chặt chẽ, xác định rõ nguồn vốn, bảo đảm hiệu quả và đủ thủ tục đầu tư. Đối với các dự án đang được đầu tư bằng vốn ngân sách nhà nước, vốn trái phiếu chính phủ nhưng không có nguồn để bố trí tiếp thì chuyển sang các hình thức đầu tư khác hoặc phải tạm đình chỉ.

Khẩn trương sửa đổi quy chế phân cấp quản lý đầu tư, trước hết là đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước và trái phiếu chính phủ theo hướng bảo đảm quản lý thống nhất của Trung ương về mục tiêu và danh mục các chương trình, dự án theo quy hoạch; đồng thời phát huy sự năng động, sáng tạo của địa phương trong đầu tư phát triển. Thực hiện cân đối vốn đầu tư theo kế hoạch trung hạn. Chú trọng tái cơ cấu đầu tư của khu vực dân doanh và đầu tư nước ngoài thông qua việc hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, định hướng thu hút đầu tư, nâng cao chất lượng quy hoạch và kiên quyết thực hiện đầu tư theo quy hoạch. Quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA.

Đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá và sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước. Phải rà soát đánh giá toàn diện hiệu quả hoạt động của các tập đoàn kinh tế và tổng công ty. Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước chỉ tập trung vào những ngành nghề kinh doanh chính; kiên quyết thực hiện thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp mà Nhà nước không cần chi phối và thoái vốn đã đầu tư vào các hoạt động ngoài ngành kinh doanh chính. Có phương án sắp xếp kiện toàn các doanh nghiệp thua lỗ. Đổi mới mô hình tổ chức và quản trị tại các doanh nghiệp Nhà nước nắm giữ 100% vốn; đồng thời, hoàn thiện các quy định về quyền đại diện chủ sở hữu và người quản lý trong doanh nghiệp có vốn nhà nước, về cơ chế quản lý tài sản nhà nước tại doanh nghiệp, cơ chế giám sát, kiểm tra và chế tài xử lý. Thực hiện công khai kết quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, đặt doanh nghiệp nhà nước vào môi trường cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Đồng thời, có cơ chế, chính sách để thúc đẩy tái cơ cấu khu vực doanh nghiệp dân doanh.

Tái cơ cấu các ngân hàng thương mại và các định chế tài chính, tín dụng theo hướng tăng hợp lý về quy mô, giảm nhanh số lượng các ngân hàng và tổ chức tín dụng yếu kém; nâng cao chất lượng tín dụng và phát triển các dịch vụ ngân hàng. Có cơ chế chính sách để những ngân hàng có điều kiện phát triển, mở rộng phạm vi hoạt động, đủ sức cạnh tranh trong nước và quốc tế. Kiểm soát chặt chẽ nợ xấu, bảo đảm thanh khoản và an toàn hệ thống ngân hàng thương mại. Kiên quyết khắc phục tình trạng đô la hoá; thiết lập trật tự kỷ cương trong việc sử dụng ngoại tệ; nâng giá trị đồng Việt Nam. Quản lý có hiệu quả thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán, thị trường vàng và thị trường ngoại hối. Từng bước giảm tỷ lệ cung cấp vốn cho đầu tư phát triển từ hệ thống ngân hàng thương mại, tăng tỷ trọng huy động vốn từ thị trường chứng khoán và trái phiếu doanh nghiệp.

3. Tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh và mở rộng thị trường

Trong khi thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ chặt chẽ để kiềm chế lạm phát, phải tập trung đẩy mạnh sản xuất, phát triển dịch vụ và thu hút đầu tư. Phát triển mạnh sản xuất kinh doanh là giải pháp cơ bản, lâu dài, tạo hiệu quả trực tiếp, nhiều mặt đến đời sống kinh tế, xã hội; bảo đảm tăng nguồn cung các hàng hoá và dịch vụ, vừa là nguồn gốc của tăng trưởng, vừa trực tiếp góp phần kiềm chế lạm phát, giảm nhập siêu. Phải đặc biệt quan tâm tháo gỡ các khó khăn vướng mắc, bảo đảm đủ vốn, đủ ngoại tệ cho sản xuất các ngành hàng, các sản phẩm mà thị trường trong nước và xuất khẩu đang có nhu cầu lớn. Thu hút mạnh và giải ngân nhanh các nguồn vốn đầu tư, nhất là các dự án đầu tư sản xuất sản phẩm công nghệ cao và có giá trị xuất khẩu lớn.

Hoàn thiện cơ chế chính sách để huy động các nguồn lực cho phát triển và nâng cao hiệu quả đầu tư; đa dạng các hình thức đầu tư theo các cơ chế BOT, BT, BTO…; đẩy mạnh hình thứchợp tác công – tư (PPP) để phát triển hạ tầng có quy mô lớn nhằm tạo bước đột phá trong lĩnh vực quan trọng này.

Cải thiện khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp. Ưu tiên tín dụng cho các sản phẩm trọng điểm. Sử dụng công cụ thuế một cách linh hoạt, hiệu quả, phù hợp với cam kết quốc tế đểgiúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn, phát triển sản xuất, tăng xuất khẩu và giảm nhập siêu.Tiếp tục rà soát sửa đổi các quy định, thủ tục hành chính, tạo thuận lợi hơn nữa cho người dân và doanh nghiệp. Phát triển các dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp. Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại để mở rộng thị trường, tăng nhanh xuất khẩu. Coi trọng thị trường nội địa, nhất là thị trường nông thôn, miền núi; đẩy mạnh cuộc vận động người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam.

Có giải pháp thiết thực, hiệu quả nhằm phát huy tiềm năng và thế mạnh của nền nông nghiệp. Tập trung tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ, khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp gắn với phát triển công nghiệp chế biến. Nhân rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp hàng hóa lớn, có kỹ thuật cao và công nghệ quản lý hiện đại; gắn kết chặt chẽ giữa các khâu sản xuất, chế biến, phân phối, hình thành chuỗi giá trị, bảo đảm phân phối hợp lý lợi ích giữa các công đoạn trong chuỗi giá trị đó, coi đây là định hướng cơ bản để hiện đại hóa nền nông nghiệp nước ta và bảo đảm lợi ích của nông dân. Kiên quyết duy trì đất trồng lúa theo quy hoạch, bảo đảm an ninh lương thực. Có chính sách hợp lý để hỗ trợ các vùng đồng bằng chuyên tâm sản xuất, chế biến lúa gạo và các hàng nông sản, thực phẩm khác, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, hoàn thiện các tiêu chí để phù hợp với từng vùng.

Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu, phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, có nhiều sản phẩm xuất khẩu. Chú trọng phát triển công nghiệp cơ khí trọng điểm, công nghiệp hỗ trợ. Phát triển các dạng năng lượng tái tạo đi đôi với đổi mới công nghệ theo hướng tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng. Rà soát lại quy hoạch các khu kinh tế, khu công nghiệp, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, lãng phí. Tăng cường quản lý các khu kinh tế cửa khẩu, ngăn chặn tình trạng gian lận thương mại, trốn, lậu thuế.

Đẩy mạnh phát triển các lĩnh vực dịch vụ có tiềm năng và lợi thế, các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao, nhất là các dịch vụ thông tin truyền thông, giáo dục đào tạo, logistic, du lịch, tài chính và hỗ trợ kinh doanh… Thực hiện có hiệu quả Chiến lược phát triển khu vực dịch vụ.

4. Tiếp tục chăm lo bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, tập trung giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc

Phát triển các lĩnh vực văn hóa xã hội, chăm lo bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc vừa là mục tiêu vừa là yêu cầu của phát triển bền vững. Nhà nước ưu tiên đầu tư, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa và huy động các nguồn lực quốc tế để phát triển.

Khẩn trương thực hiện Chiến lược an sinh xã hội giai đoạn 2011 – 2020 và Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững. Phấn đấu mỗi năm giảm 2% tỷ lệ hộ nghèo và giảm nhanh hơn tại các huyện nghèo nhất. Đẩy mạnh thực hiện các chương trình dạy nghề, nhất là dạy nghề cho lao động nông thôn gắn với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn. Phấn đấu mỗi năm tạo việc làm mới cho 1,6 triệu lao động. Tiếp tục thực hiện tốt chính sách đối với người có công, các chính sách trợ giúp xã hội; hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai; chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; phấn đấu thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân vào năm 2014. Tích cực thực hiện Chương trình quốc gia về an toàn và vệ sinh lao động.

Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Mở rộng việc thực hiện chế độ luân phiên cán bộ y tế xuống các bệnh viện tuyến dưới. Tiếp tục củng cố và phát triển hệ thống y tế cơ sở; đẩy nhanh tiến độ cải tạo, nâng cấp và xây dựng hệ thống bệnh viện. Đổi mới cơ chế tài chính, cơ chế quản lý, chính sách viện phí trong các cơ sở y tế công lập; khuyến khích đầu tư phát triển cơ sở y tế ngoài công lập và khám chữa bệnh bằng công nghệ cao; tích cực triển khai công tác y tế dự phòng, không để dịch bệnh lớn xảy ra; đẩy mạnh công tác quản lý và phòng chống các bệnh nguy hiểm không lây nhiễm; thực hiện các giải pháp nâng cao sức khỏe và tăng tuổi thọ cho nhân dân. Nâng cao năng lực giám sát, phát hiện và khống chế dịch bệnh, đặc biệt là HIV/AIDS và các dịch bệnh mới phát sinh. Tăng cường quản lý nhà nước về thuốc chữa bệnh, kiểm soát chặt chẽ giá thuốc. Đẩy mạnh nghiên cứu và sản xuất thiết bị y tế, thuốc chữa bệnh, vắc xin và sinh phẩm y tế; phát triển y dược cổ truyền.

Phát triển mạnh giáo dục và đào tạo, tạo bước đột phá về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tập trung triển khai thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục và Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2011 – 2020. Khẩn trương rà soát, hoàn thiện quy hoạch hệ thống các cơ sở giáo dục đào tạo. Đổi mới quản lý giáo dục đồng thời với việc đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, nhất là giáo dục đại học và dạy nghề. Hoàn thiện cơ chế tài chính và đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục. Chú trọng phát triển giáo dục ở các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn. Tăng cường đào tạo theo nhu cầu xã hội.

Thực hiện có hiệu quả phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”. Thực hiện Chiến lược phát triển thể dục thể thao và đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao. Tăng cường quản lý các lễ hội, hoạt động văn hoá nghệ thuật, thể thao, bảo đảm tiết kiệm, an ninh trật tự, giữ gìn thuần phong mỹ tục và bản sắc văn hóa dân tộc. Hạn chế sử dụng ngân sách nhà nước để tổ chức lễ hội. Tiếp tục triển khai các đề án lớn, chương trình mục tiêu quốc gia trong lĩnh vực thông tin và truyền thông; nâng cao chất lượng các hoạt động thông tin, báo chí, xuất bản. Phát huy quyền làm chủ và bảo đảm quyền tự do của công dân đồng thời với tăng cường kỷ luật kỷ cương. Thực hiện tốt các chính sách dân tộc và tôn giáo. Tích cực triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới và làm tốt công tác bảo vệ bà mẹ, chăm sóc, giáo dục trẻ em.

Tập trung thực hiện các giải pháp xử lý ùn tắc, bảo đảm trật tự an toàn giao thông. Kiềm chế và ngăn chặn có hiệu quả các loại tội phạm và tệ nạn xã hội.

5. Đẩy mạnh phát triển khoa học công nghệ và tăng cường bảo vệ, cải thiện môi trường

Tiếp tục đổi mới đồng bộ cơ chế chính sách và tổ chức bộ máy quản lý khoa học và công nghệ. Phát triển kinh tế tri thức, thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tập trung triển khai các chương trình, đề án khoa học công nghệ cấp quốc gia[23]. Quản lý có hiệu quả các quỹ đổi mới và phát triển khoa học công nghệ. Hoàn thiện chính sách phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ; khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nhất là công nghệ cao, công nghệ tiết kiệm nguyên liệu và năng lượng. Tăng cường các hoạt động nghiên cứu ứng dụng gắn với sản xuất và chuyển giao công nghệ. Phát triển mạnh các dịch vụ khoa học và công nghệ, nhất là dịch vụ thông tin, tư vấn, môi giới, thẩm định, giám định công nghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. Phát triển và kiện toàn hệ thống các trung tâm ứng dụng khoa học công nghệ.

Tập trung hoàn thiện thể chế và tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ tài nguyên, môi trường. Phân cấp quản lý gắn với đề cao trách nhiệm, đồng thời tăng cường kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm, nhất là đối với hoạt động khai thác tài nguyên. Xử lý nghiêm các vi phạm và các dự án không đáp ứng yêu cầu về môi trường. Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư, ứng dụng khoa học, công nghệ vào cải thiện môi trường, thu gom, xử lý, tái chế chất thải. Triển khai có hiệu quả các chương trình, đề án lớn về môi trường, nhất là về nước sạch và vệ sinh môi trường; quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên nước; bảo vệ và phát triển rừng, bảo tồn đa dạng sinh học; xử lý chất thải, các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng; ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

6. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và tăng cường công tác phòng chống tham nhũng

Thực hiện có hiệu quả chương trình cải cách hành chính, chú trọng cải cách thể chế và thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và nhân dân. Tập trung hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, nhất là thị trường tài chính, tiền tệ và thị trường bất động sản. Sửa đổi Luật Đất đai, bảo đảm quyền của Nhà nước trong việc thu hồi đất cho mục đích phát triển, xử lý hài hoà lợi ích của người giao đất và người nhận đất để đầu tư sản xuất kinh doanh. Coi trọng phản biện xã hội, tăng cường tham vấn nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp và các chuyên giakhi xây dựng thể chế, đề cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước.

Phân tích đánh giá về chỉ số cạnh tranh quốc gia và chỉ số tự do kinh tế, tập trung khắc phục các khâu yếu, phấn đấu nâng bậc xếp hạng tín nhiệm của nước ta.

Tiếp tục đổi mới tổ chức và phương thức vận hành của bộ máy Nhà nước. Hoàn thiện quy chế quản lý cán bộ công chức, quy định rõ chức danh, tiêu chuẩn của từng vị trí, xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn, nghĩa vụ và quyền lợi. Hoàn thiện chế tài xử lý vi phạm đối với cán bộ, công chức. Đổi mới chế độ tiền lương và chính sách động viên, khuyến khích cán bộ công chức.

Nâng cao chất lượng quy hoạch và quản lý phát triển theo quy hoạch, bảo đảm tính liên ngành, liên vùng. Rà soát, hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý giữa Trung ương và địa phương; gắn phân cấp với tăng cường kiểm tra, giám sát và tính tự chịu trách nhiệm. Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động và có chế tài cụ thể để nâng cao ý thức thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng chống tham nhũng, tập trung vào các biện pháp phòng ngừa. Tiếp tục rà soát hoàn thiện thể chế, tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động của bộ máy Nhà nước. Xử lý kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật những trường hợp vi phạm.

7. Tăng cường quốc phòng, an ninh và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại

Thực hiện có hiệu quả các giải pháp để phát huy sức mạnh tổng hợp bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ và an ninh quốc gia. Từng bước tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; củng cố thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Chủ động phát hiện, ngăn chặn mọi âm mưu chống phá, gây rối, gây bạo loạn của các thế lực thù địch. Thực hiện có hiệu quả Chương trình quốc gia về phòng, chống tội phạm.

Tăng cường công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế. Phối hợp chặt chẽ giữa ngoại giao Nhà nước với đối ngoại của Đảng và ngoại giao nhân dân. Chủ động tham gia có trách nhiệm vào các cơ chế khu vực và toàn cầu, tạo môi trường thuận lợi để huy động có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài cho xây dựng và bảo vệ đất nước. Tăng cường công tác tuyên truyền và thông tin đối ngoại, giới thiệu, quảng bá bản sắc văn hoá dân tộc và hình ảnh quốc gia. Tạo điều kiện hỗ trợ đồng bào ta làm ăn, sinh sống ở nước ngoài và làm cầu nối hữu nghị giữa Việt Nam với các nước. Khuyến khích cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp thiết thực vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Chúng ta đang phấn đấu thực hiện đạt kết quả cao nhất nhiệm vụ còn lại của năm 2011, năm phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức rất nặng nề. Bước sang năm 2012, bên cạnh những thuận lợi, chúng ta sẽ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức mới, đòi hỏi toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và cả hệ thống chính trị phải đồng tâm hiệp lực với quyết tâm, tinh thần đổi mới và năng lực sáng tạo cao nhất. Các cấp các ngành các đơn vị phải khẩn trương triển khai thực hiện nhiệm vụ kế hoạch năm 2012 ngay sau khi được Quốc hội thông qua; lựa chọn đúng trọng tâm, trọng điểm và làm tốt công tác chính trị tư tưởng, thông tin tuyên truyền, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội, phấn đấu thực hiện thắng lợi Kế hoạch năm 2012 và Kế hoạch 5 năm 2011 – 2015 mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã đề ra.


[1] Bình quân 5 năm 2006 – 2010, mỗi năm thiên tai làm chết 496 người, gây thiệt hại về tài sản trị giá gần 16 nghìn tỷ đồng, tương đương 1,1% GDP.

[2] Mức tăng trưởng kinh tế là 7% tuy thấp hơn kế hoạch (7,5 – 8%) nhưng cao hơn bình quân các nước trong khu vực. Theo Ngân hàng Phát triển Châu Á, tăng trưởng bình quân của các nước ASEAN giai đoạn 2006 – 2010 là 5,6%, trong đó: Thái Lan 3,6%, Malaysia 4,5%, Philippin 4,9%, Indonesia 5,7%, Singapore 6,5%.

[3] Giá tiêu dùng tháng 4/2011 tăng 3,32%, tháng 5: 2,21%, tháng 6: 1,09%, tháng 7: 1,17%,tháng 8: 0,93%, tháng 9: 0,82%. So với tháng 12/2010, giá tiêu dùng 9 tháng tăng 16,63%. Dự báo cả năm tăng khoảng 18%.

[4] Đến nay, tổng số vốn cắt giảm, điều chuyển là 81.500 tỷ đồng. Nhờ đó, đã tập trung vốn hoàn thành thêm được 1.053 dự án trong năm 2011.

[5] Giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, giảm 50% mức thuế khoán thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân cho một số đối tượng; giảm từ 50 – 100% thuế thu nhập cá nhân đối với cổ tức được chia trong hoạt động đầu tư chứng khoán; miễn thuế thu nhập cá nhân ở bậc 1 của biểu thuế.

[6] Tổng phương tiện thanh toán đến ngày 20/9/2011 ước tăng 9,14%, tổng dư nợ tín dụng ước tăng 8,2% so với tháng 12/2010.

[7] Nợ công cuối năm 2011 ước khoảng 54,6% GDP.

[8] Dự trữ xăng dầu trước đây là 7 ngày nay tăng lên 40 ngày. Xuất khẩu lương thực năm 2011 đạt mức kỷ lục, trên 7 triệu tấn; đồng thời, vẫn bảo đảm đủ lương thực tiêu dùng trong nước và dự trữ.

[9] Từ tháng 6/2011, chỉ số IIP được chính thức sử dụng, thay thế chỉ tiêu GTSXCN tính theo giá cố định 1994. Việc sử dụng chỉ số IIP phản ánh đúng xu hướng và sát hơn kết quả sản xuất của ngành công nghiệp, sát với tốc độ tăng trưởng tính theo giá trị tăng thêm, bảo đảm so sánh quốc tế.

[10] Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng tăng 22,8%; lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam tăng gần 15,5%; hoạt động vận tải tăng 11,2%.

[11] Kim ngạch xuất khẩu 9 tháng đạt trên 70 tỷ USD, ước cả năm đạt 95 tỷ USD, tăng 31,6%, cao hơn 3 lần chỉ tiêu Quốc hội thông qua (10%). Kim ngạch nhập khẩu 9 tháng đạt gần 77 tỷ USD; ước cả năm 2011 đạt 105 tỷ USD, tăng 23,8% so năm 2010.

[12] GDP quý I tăng 5,43%, quý II tăng 5,67%, quý III tăng 6,11%; tính chung 9 tháng tăng 5,76%.

[13] Đã thực hiện hỗ trợ cho người thu nhập thấp có đời sống khó khăn; hỗ trợ hộ nghèo khi điều chỉnh giá điện; nâng mức tiền ăn cho lực lượng vũ trang; nâng mức cho học sinh, sinh viên vay để học tập; điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu và các chế độ liên quan; thực hiện chế độ phụ cấp công vụ, phụ cấp cho nhà giáo, cán bộ y tế; chính sách đối với người có công, thanh niên xung phong, người cao tuổi, người công tác ở vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn, trợ giúp xã hội cho một số đối tượng; ban hành chuẩn nghèo, cận nghèo mới và Nghị quyết về giảm nghèo bền vững thời kỳ 2011 – 2020…

[14] Chi ngân sách nhà nước 9 tháng đầu năm 2011 để thực hiện chính sách an sinh xã hội gần 60 nghìn tỷ đồng, ước cả năm khoảng 84 nghìn tỷ đồng, tăng gần 20% so với năm 2010. Dư nợ tín dụng ưu đãi thực hiện chính sách an sinh xã hội đến 30/9 là 97,4 nghìn tỷ đồng, ước đến 31/12/2011 là 104,5 nghìn tỷ đồng tăng 17% so với cùng kỳ năm 2010. Ngoài ra, đã xuất dự trữ quốc gia để cứu trợ, cứu đói cho nhân dân, chủ yếu ở vùng bị thiên tai hơn 62 nghìn tấn gạo và xuất cấp các vật tư, thiết bị khoảng 574 tỷ đồng. Các cấp, các ngành, các đoàn thể cũng đã hỗ trợ các hộ thiếu đói khoảng 17 nghìn tấn lương thực và trên 9 tỷ đồng.

[15] Đến nay, các địa phương đã hỗ trợ được 395/496 nghìn hộ nghèo xây nhà ở, dự kiến cơ bản hoàn thành Chương trình trong năm 2011, trước thời hạn 1 năm. Trong chương trình xây dựng cụm tuyến dân cư, nhà ở vùng ngập lũ tại đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2 đến 8/2011 đã hoàn thành công tác tôn nền, đắp bờ bao của 105/178 dự án, hoàn thành xây dựng 1.770 căn nhà, bố trí cho hơn 8.350 hộ dân vào ở trong cụm tuyến. Kết thúc giai đoạn xây dựng của 54/94 dự án phát triển nhà sinh viên, số còn lại dự kiến sẽ hoàn thành đưa vào sử dụng cuối năm 2011 và đầu năm 2012, đáp ứng chỗ ở cho khoảng 200 nghìn sinh viên.

[16] Số người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tăng từ 9,6 triệu (cuối năm 2010) lên 9,8 triệu (8/2011), bảo hiểm xã hội tự nguyện đến 8/2011 khoảng 87 nghìn người, bảo hiểm thất nghiệp gần 7,6 triệu người. Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đã tăng từ gần 60% năm 2010 lên 62% năm 2011, có hơn 15 triệu người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng khó khăn và khoảng 7 triệu trẻ em dưới 6 tuổi được cấp thẻ BHYT, khám chữa bệnh miễn phí.

[17] Tỷ lệ huy động trẻ mầm non đến trường tăng gần 1%, 57/63 địa phương đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, 63/63 địa phương đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở. Tỷ lệ người lớn biết chữ tăng lên khoảng 94%. Tốt nghiệp THPT năm học 2010 – 2011 đạt 95,72%. Năm 2011, tuyển mới đại học, cao đẳng tăng 11,6%, trung cấp chuyên nghiệp tăng10,8%, tuyển mới cao đẳng nghề và trung cấp nghề tăng 16,7%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 40%.

[18] Sau gần 4 năm thực hiện Đề án, có 84.294 phòng học kiên cố được xây dựng, trong đó có 67.784 phòng học đã hoàn thành đưa vào sử dụng; có 22.792 nhà công vụ giáo viên được xây dựng, trong đó 19.057 nhà đã hoàn thành, đưa vào sử dụng.

[19] 9 tháng đầu năm 2011, xảy ra 10.002 vụ tai nạn giao thông, làm chết 8.416 người, bị thương 7.615 người, giảm 1,38% số vụ, tăng 0,21% số người chết, 1,82% số người bị thương. Tai nạn giao thông đường bộ tính trên 1 vạn phương tiện cơ giới đường bộ là 2,66 vụ; 2,28 người chết và 2,07 người bị thương, so với cùng kỳ năm 2010 giảm 0,31 vụ, giảm 0,23 người chết và giảm 0,17 người bị thương.

[20] Đã tạo ra 19 giống ngô mới năng suất cao và Việt Nam hiện là nước có năng suất ngô đứng đầu khu vực Đông Nam Á; tạo được giống lúa lai 3 dòng có chất lượng gạo tương đương giống lúa có chất lượng tốt nhất của Trung Quốc; kỹ thuật ghép tạng, can thiệp mạch trong ngành y… đã đạt trình độ của các nước tiên tiến trên thế giới …

[21] Đã tổ chức thành công chợ công nghệ và thiết bị tại Quảng Ngãi; các sàn giao dịch công nghệ tại Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh; chợ công nghệ và thiết bị trên mạng Internet…

[22] Dự kiến đến cuối năm 2012 nợ công khoảng 58,4% GDP.

[23] Như: Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia; Chương trình công nghệ cao; Chương trình đổi mới công nghệ; Chương trình phát huy tài sản trí tuệ; Chương trình hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ phục vụ nông thôn, miền núi.

Nguồn: chinhphu.vn
Vkyno (st)