Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ toạ phiên họp Hội đồng Chính phủ để xem xét tình hình thế giới và trong nước tháng 9 vừa qua, nghe báo cáo của các Bộ: Quốc phòng, Giao thông công chính, ra nghị quyết về vấn đề tổ chức các Bộ; công tác thanh tra và bàn chương trình công tác tháng 10.
Trong thời gian họp, Chủ tịch cùng Ban Thường trực Quốc hội và Chính phủ đã tiếp Đoàn đại biểu Nam Bộ do ông Phạm Hùng dẫn đầu, nghe Đoàn báo cáo về tình hình kháng chiến ở Nam Bộ.
Nói chuyện với Đoàn, Người khen ngợi các đại biểu trong Đoàn, nhất là những hy sinh to lớn, những cố gắng bền bỉ của quân dân Nam Bộ trong bốn năm kháng chiến và sự đoàn kết chặt chẽ của toàn dân trong cuộc đấu tranh vì sự nghiệp độc lập và thống nhất Tổ quốc.
Người đã mời Đoàn dự bữa cơm thân mật.
Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 111/SL, cử uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu IV.
– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
– Lê Văn Hiến: Nhật ký của một Bộ trưởng, Nxb. Đà Nẵng, 1995, t. 2, tr. 116.
Tháng 10, ngày 7
Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục điều khiển phiên họp của Hội đồng Chính phủ.
– Lê Văn Hiến: Nhật ký của một Bộ trưởng, Nxb. Đà Nẵng, 1995, t. 2, tr. 117.
Tháng 10, ngày 8
Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp với Hội đồng Quốc phòng tối cao.
– Lê Văn Hiến: Nhật ký của một Bộ trưởng, Nxb. Đà Nẵng, 1995, t. 2, tr. 118.
Tháng 10, ngày 13
Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi các võ quan và chiến sĩ Đội quân Bắc Phi độc lập 8), đăng trên báo Cứu quốc, số 1370.
Người cảm ơn về những lời chúc mừng của họ nhân dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và chúc Đội quân Bắc Phi độc lập lập được nhiều chiến công oanh liệt.
Người tin chắc: với sự giúp đỡ của những người bạn Việt Nam, với lòng quả cảm sẵn có và với kỷ luật sắt của họ, họ sẽ xứng đáng với danh hiệu vẻ vang của quân đội Bắc Phi độc lập. “Nước Việt Nam được giải phóng sẽ giúp cho sự giải phóng nước các bạn được dễ dàng và cuộc chiến thắng của Việt Nam sẽ giúp cho các bạn chiến thắng sau này”.
Cùng ngày, số báo trên còn đăng điện trả lời của Chủ tịch về 21 câu hỏi của A.Xtinlơ (A.Steele), phóng viên báo Mỹ New York Herald Tribune, về các vấn đề liên quan đến lập trường của Việt Nam trong việc giải quyết “cuộc xung đột” giữa “Việt Minh và Pháp”; về sự giúp đỡ “Cộng sản Trung Hoa”…
Trả lời câu hỏi: Liên hợp quốc có thể giúp ích gì một cách có hiệu quả để chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam không?. Người nói: “Có, Liên hợp quốc có thể buộc Pháp phải tôn trọng những hiến chương của mình và bắt Pháp phải rút quân đội khỏi Việt Nam.
Tôi muốn hỏi nhân dân Mỹ một câu này, và mong ông cho biết những câu trả lời của nhân dân Mỹ: Nếu Pháp hoặc một ai khác xâm phạm nước Mỹ, giết người đốt phá thành phố và làng mạc Mỹ, với mục đích là để bắt Mỹ làm nô lệ, thì nhân dân Mỹ sẽ đối phó như thế nào?”.
– Báo Cứu quốc, số 1370, ngày13-10-1949.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 5, tr. 691-697.
Tháng 10, ngày 15
Bài Dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ký bút danh X.Y.Z., đăng trên báo Sự thật, số 120.
Người trình bày ngắn gọn, súc tích những vấn đề cơ bản về bản chất dân chủ của Nhà nước ta (mục Nước ta là nước dân chủ), về nội dung của công tác dân vận (mục Dân vận là gì?), về những người có trách nhiệm làm công tác dân vận (mục Ai phụ trách dân vận?) và về những phẩm chất phải có ở những người phụ trách dân vận (mục Dân vận phải thế nào?).
Bài viết kết luận: “Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”.
– Báo Sự thật, số 120, ngày 15-10-1949.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 5, tr. 698-700.
Giữa tháng
Được tin giặc Pháp nhảy dù xuống Phát Diệm, xâm phạm đất Thánh, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi đồng bào Công giáo, vạch rõ âm mưu thâm độc của giặc định bôi nhọ đồng bào, làm mọi người hiểu lầm đồng bào Công giáo phản Tổ quốc, theo thực dân, nhằm gây cảnh nồi da nấu thịt, huynh đệ tương tàn.
Người thông báo: “Chính phủ đang phái quân đội đến đánh giặc thực dân, để cứu đồng bào Công giáo vùng này khỏi xiềng xích của bọn ác quỷ” và yêu cầu đồng bào “cần phải ra sức giúp đỡ bộ đội ta về mọi mặt để đánh tan lũ giặc, để cứu mình, cứu nước”.
Cuối thư, Người viết: “Tôi cầu nguyện Đức Chúa phù hộ đồng bào giữ vững tinh thần ái quốc, đủ sức chống lại giặc Pháp, đặng làm tròn nhiệm vụ thiêng liêng là:
Phụng sự Đức Chúa
Phụng sự Tổ quốc”.
– Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 5, tr. 701-702.
Tháng 10, ngày 17
Chủ tịch Hồ Chí Minh chuyển đến ở Hang Bòng, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
– Ban Tuyên huấn Tỉnh uỷ Hà Tuyên: Bác Hồ với Hà Tuyên, 1986, tr. 92.
Tháng 10, ngày 18
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:
– Sắc lệnh số 114/SL, cử Thiếu tướng Văn Tiến Dũng, Cục trưởng Cục Chính trị, giữ chức Chính trị uỷ viên Liên khu III thay ông Lê Quang Hoà được cử giữ chức vụ khác.
– Sắc lệnh số 115/SL, chỉ định các ông: Phạm Văn Bạch làm Chủ tịch, Phạm Ngọc Thuần làm Phó Chủ tịch, Nguyễn Bình làm Uỷ viên quân sự, các ông Ca Văn Thỉnh, Ung Văn Khiêm, Nguyễn Thành Vinh và Kha Vạng Cân làm Uỷ viên trong Uỷ ban kháng chiến hành chính Nam Bộ.
– Sắc lệnh số 116/SL, cử ông Lê Liêm, Cục trưởng Cục Dân quân, kiêm chức Cục trưởng Cục Chính trị thay Thiếu tướng Văn Tiến Dũng.
– Sắc lệnh số 117/SL, sửa đổi khoản 3, điều 7 của Sắc lệnh số 131/SL ngày 20-7-1946, ghi rõ bốn trường hợp đặc biệt các viên chức có thẩm quyền được phép vào nhà tư nhân ban đêm.
– Sắc lệnh số 118/SL, thành lập Uỷ ban xí nghiệp tại các xí nghiệp nhà nước.
– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 10, ngày 20
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:
– Sắc lệnh số 119/SL, cử ông Dương Quốc Chính giữ chức Chính trị uỷ viên Bộ Tư lệnh Nam Bộ thay ông Phạm Ngọc Thuần chuyển công tác khác.
– Sắc lệnh số 120/SL, đặt một Ban Cố vấn bên cạnh Uỷ ban kháng chiến hành chính Nam Bộ, gồm các ông: Cao Triều Phát, Nguyễn Văn Hưởng, Phạm Văn Chương và Lê Duẩn.
– Sắc lệnh số 121/SL, sửa đổi điều 4 của Sắc lệnh số 33/SL ngày 22-3-1946, về việc chuẩn định cấp bậc, phù hiệu, cấp hiệu và quân phục cho quân đội.
– Sắc lệnh số 121/SL, ấn định các cấp được quyền chuẩn định cấp bậc cho quân nhân bậc binh, bậc sĩ, bậc uý; các bậc tá đến cấp trung tá và từ cấp đại tá trở lên.
– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 10, ngày 21
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 122/SL, bổ sung điều 1 của Sắc lệnh số 26/SL ngày 25-4-1949, về việc truy tố những vụ vi phạm thể lệ mậu dịch.
– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 10, ngày 27
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:
– Sắc lệnh số 123/SL, quy định điều kiện những người được phép chữa bệnh theo Tây y 9).
– Sắc lệnh số 124/SL, quy định điều kiện cho phép những người muốn mở “hiệu bào chế” thuốc chữa bệnh theo Tây y 10).
Các sắc lệnh trên đồng thời cũng quy định rõ hình phạt áp dụng đối với những người chữa bệnh, bào chế thuốc trị bệnh theo Tây y 11) mà không có đủ các điều kiện đã quy định.
– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 10, ngày 31
Bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhan đề Rút kinh nghiệm, trao đổi kinh nghiệm, ký bút danh A.G., đăng trên báo Sự thật, số 121.
Từ những kinh nghiệm qua việc Người mua gạo khao quân, bài báo nhấn mạnh: “Sau mỗi một việc cần phải rút kinh nghiệm.
Kinh nghiệm riêng từng cán bộ, từng địa phương. Kinh nghiệm chung tất cả các cán bộ và các địa phương. Kinh nghiệm thất bại và kinh nghiệm thành công. Rồi tổng kết và phổ biến những kinh nghiệm ấy cho khắp tất cả cán bộ, tất cả địa phương. Mỗi cán bộ, mỗi địa phương sẽ học những kinh nghiệm hay; tránh những kinh nghiệm dở, áp dụng những kinh nghiệm cũ vào những công việc mới.
Như vậy khuyết điểm ngày càng bớt, ưu điểm ngày càng thêm, công việc sẽ rất mau tiến bộ”.
– Báo Sự thật, số 121, ngày 31-10-1949.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 5, tr. 703-705.
Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Bạn phải đăng nhập để bình luận.