Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 2 (Năm 1944)

Đầu năm

– Bài Chào xuân, đăng trên báo Đồng minh, số Xuân Giáp Thân nhìn lại tình hình thế giới trong năm qua để đoán định triển vọng năm mới: Từ xuân năm ngoái, quân các nước Đồng minh đã đứng vào chủ động. Quân các nước Trục – Tâm đứng về bị động. Tình hình trên diễn ra ở khắp mặt trận, đặc biệt ở Mặt trận Đức – Nga. Quân Nga thắng khắp nơi, đặc biệt trong trận giải vây thành Xtalingrát “đuổi quân Đức chẳng những ra khỏi đất Nga, mà lại vào sâu gần 60 cây số trong nước Ba Lan”. Ở mặt trận Địa Trung Hải, châu Phi, Thái Bình Dương, quân Đồng minh cũng thắng trận.

“Đoán trước để xét sau, xem sự chuyển biến nói trên, thì chúng ta có thể nói rằng: Xuân này sẽ là một Xuân thắng lợi cho mặt trận phản xâm lược”. Muốn thế “chúng ta phải gắng sức công tác”.

Kết luận: “Rót cốc rượu Xuân, mừng cách mạng.

  Viết bài chào Tết, chúc thành công!”.

– Cũng trong báo Đồng minh, số Xuân Giáp Thân, có bài Trả lời cho bọn De Gaulle, Nguyễn Ái Quốc trả lời ý định của “Pháp quốc giải phóng uỷ hội ở Alger, tuyên bố rằng sau cuộc chiến tranh này, nước Pháp sẽ sẵn lòng ban cho dân Việt Nam vài sự cải thiện”. Người chỉ rõ, Pháp đang bị Đức thống trị “xin Ngài lo cứu nước và dân tộc của Ngài đã”, còn nhân dân Việt Nam “quyết dùng súng, đạn, gươm, dao để đạp đổ ơn huệ ấy và giành lại độc lập tự do cho Việt Nam”.

– Báo Đồng minh, số Xuân Giáp Thân.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 445-449, 450.

Đầu năm (trước Tết âm lịch)

Hồ Chí Minh dự bữa tiệc rượu do Đàm Liên Phương, Quân đoàn trưởng Quân đoàn 84 Quốc dân Đảng đóng ở Liễu Châu, tổ chức tại Hương Viên, nhà riêng của ông ta. Cùng dự có Dương Đông Thuần (Trưởng ban Giáo dục Trường Cán bộ kiến thiết địa phương Quảng Tây), Sái Đình Khải (Tổng tư lệnh du kích vượt biên), Việt Quế, Nguyễn Hải Thần, Diệp Thuỵ Đình1), v.v..

Trong bữa tiệc, nhân Đàm Liên Phương nói nhiều đến quan niệm của ông ta về quốc thể và quốc sách của Việt Nam sau khi độc lập, Hồ Chí Minh nói đại ý:

“Bất kỳ ý kiến nào về các vấn đề quốc sách, quốc thể của Việt Nam sau độc lập, đều phải do sự lựa chọn của nhân dân Việt Nam sau khi được độc lập quyết định, đều phải giải quyết thông qua việc bỏ phiếu rộng rãi của công dân”…

Ở châu Âu, Đồng minh trì hoãn chưa mở mặt trận thứ hai, nhưng Hồng quân Liên Xô dưới sự lãnh đạo của nguyên soái Xtalin, một mình đương đầu một phía, đã từ thế yếu chuyển sang thế mạnh. Tín hiệu tổng tiến công hướng tới Béclin chẳng bao lâu nữa sẽ phát. Ở châu Á, sau trận tập kích Trân Châu Cảng của Nhật ngày 2-12-1941, Mỹ mới thấy rõ bộ mặt của Nhật. Từ đó, Mỹ không thể không liên minh với Trung Quốc để đánh bại Nhật. Có thể dự đoán rằng, vấn đề Liên Xô đánh bại Đức chỉ khoảng nửa năm nữa có thể giải quyết được. Với sự hiệp đồng của các nước Đồng minh, trên dưới một năm nữa, Trung Quốc có thể đánh bại Nhật Bản. Chiến tranh thế giới như vậy có thể kết thúc. Việt Nam chắc chắn trong một thời gian không xa lắm sẽ hoàn toàn đánh bại thực dân Pháp mà giành được độc lập hoàn toàn. Đó là điều không một lực lượng nào có thể ngăn trở được. Hai nước Trung – Việt có quan hệ hết sức mật thiết. Trung Quốc là một lực lượng hoà bình to lớn, là bảo đảm chắc chắn cho Việt Nam chúng tôi hoà bình kiến quốc. Từ nay về sau chúng tôi sẽ được sự giúp đỡ huynh đệ của Trung Quốc sau chiến tranh, đó là điều chắc chắn…

– Diệp Thuỵ Đình: Đôi điều về hoạt động của Việt Nam cách mạng đồng minh hội ở Liễu Châu cuối thời kỳ kháng chiến. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 101.

Mùa xuân

Hồ Chí Minh đến dự lễ bế mạc lớp huấn luyện đặc biệt ở Đại Kiều và nói chuyện với lớp. Người nói:

Chính sách Nam tiến của Nhật đã thất bại, cuộc kháng chiến của Trung Quốc nhất định giành được thắng lợi, tình hình cách mạng Việt Nam rất tốt đẹp. Một nước Việt Nam mới độc lập và dân chủ sẽ xuất hiện ở phương Đông. Dù thực dân Pháp xảo quyệt, đế quốc Nhật hung tàn đến mấy cũng không ngăn nổi bước chân của chúng ta. Người động viên thanh niên nhận rõ yêu cầu của thời đại, sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới.

– Diệp Thuỵ Đình: Đôi điều về hoạt động của Việt Nam cách mạng đồng minh hội ở Liễu Châu cuối thời kỳ kháng chiến. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 102.

Tháng 2, khoảng cuối tháng

Hồ Chí Minh tham dự Hội nghị trù bị Đại hội đại biểu toàn quốc của Việt Nam cách mạng đồng minh hội.
Tại Hội nghị, Người đề nghị mở rộng thành phần Đại hội, trong đó có đại biểu của Việt Minh và các tổ chức thuộc Việt Minh ở trong nước tham dự. Từ đó, Người đề nghị đổi tên Đại hội đại biểu toàn quốc của Việt Nam cách mạng đồng minh hội thành Đại hội đại biểu các tổ chức cách mạng Việt Nam ở hải ngoại. Đề nghị của Hồ Chí Minh được Trương Phát Khuê tán thành và uỷ thác cho Người khởi thảo kế hoạch triệu tập Đại hội quan trọng nàya).

– Lê Tùng Sơn: Bác Hồ ở Trung Quốc. Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số tháng 3-1977.

– Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 102-103.

Tháng 3, từ ngày 25 đến ngày 28

Hồ Chí Minh tham dự Đại hội các đoàn thể cách mạng Việt Nam ở nước ngoài họp tại Lễ đường Bộ Tư lệnh Chiến khu IV ở Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Quốc). Tại Đại hội, Người đọc Báo cáo của Phân hội Việt Nam thuộc Hội Quốc tế chống xâm lược. Báo cáo gồm các phần:

I- Nguyên nhân tổ chức: Mở đầu báo cáo, Người viết: “Trong lịch sử 80 năm mất nước đau khổ và đen tối, chúng ta đã không ngừng làm rạng rỡ ngọn cờ nghĩa cứu nước vẻ vang”. Điều này được thể hiện qua các cuộc khởi nghĩa từ sau năm 1862 đến năm 1941. Để giành thắng lợi “chúng ta lại càng cần toàn dân nhất trí, càng cần sự giúp đỡ của bên ngoài”. Do đó, “Phân hội Việt Nam chính là một đoàn thể ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu đó của thời đại”.

II- Hệ thống tổ chức: Gồm có hai loại hội viên: “hội viên cá nhân” và “hội viên đoàn thể”. Việc tập hợp các cá nhân, tổ chức, đảng phái “xem chừng như rất phức tạp, rất mâu thuẫn, khó tránh khỏi va chạm và xung đột, nhưng trên thực tế thì rất đơn giản” vì đã xác định mục tiêu đấu tranh chung và tuân thủ một số quy định chung.

III- Cách lãnh đạo: Mọi người đều cùng nhau bàn bạc và “phân công nhau mà làm”, “tuân thủ những nguyên tắc” và “tuỳ cơ ứng biến”.

IV- Cách tuyên truyền: Bằng nhiều cách: tuyên truyền bằng miệng, tuyên truyền bằng văn tự và tuyên truyền bằng hành động. “Cương lĩnh tuyên truyền phải hết sức giản đơn, ai ai cũng hiểu được, nhớ được. Đoàn kết, đánh địch, cứu nước, chỉ sáu chữ ấy thôi là đủ rồi”.

V- Cách huấn luyện: Theo “một chương trình học tập” đã định, biên soạn bài giảng, “phải hoàn toàn căn cứ vào yêu cầu của học viên”.

VI- Tài chính của hội: Do hội viên đóng góp theo nguyên tắc “có tiền góp tiền”, “có sức góp sức”.

VII- Công tác của hội: Trong thời gian qua có thành công và thất bại: thành công là do đoàn kết và hoạt động tích cực của cán bộ, hội viên; thất bại về hoạt động khó khăn, thiếu kinh nghiệm, giao thông liên lạc không thuận lợi, thiếu sự tuyên truyền đối ngoại.

VIII- Mấy vấn đề khó khăn: Ỷ lại vào đoàn thể, chưa giải quyết các thắc mắc của hội viên về “bao giờ thì đánh” (địch), bao giờ có sự giúp đỡ ở ngoài (Trung Quốc).

IX- Hy vọng của chúng tôi: Chấn chỉnh tổ chức, đoàn kết thực sự các lực lượng cách mạng, tranh thủ sự giúp đỡ ở ngoài giúp cho “sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam nhất định sẽ sớm thành công”.

Cũng tại Đại hội này, Hồ Chí Minh còn trình bày Báo cáo về tình hình các đảng phái trong nước. Người nói: Ở Việt Nam có nhiều đảng phái và đoàn thể chính trị không đảng phái. Các tổ chức này đều liên hiệp với nhau trong một mặt trận cứu quốc, tức Phân hội Việt Nam của Hội Quốc tế chống xâm lược. Trong những chính đảng đó, “nổi bật nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam”. Nhiệm vụ của các đảng là phải “mở rộng khối đoàn kết đến toàn dân để đạt tới mục đích: Bên trong có lực lượng của mình, bên ngoài tranh thủ được sự giúp đỡ của các nước Đồng minh, trước hết là của Trung Quốc, đặng hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc”.

Người đặt vấn đề “Người Việt Nam có sợ cộng sản không?” và tự trả lời “Không” vì ở Việt Nam “không có một nhà băng nào là của người Việt Nam, không có một người Việt Nam nào là nhà tư bản lớn”; người có học thức cũng không sợ cộng sản vì “tư tưởng cộng sản truyền bá khắp thế giới. Đó là trào lưu tư tưởng của thời đại, sợ nó thì thật không đúng”.

Bây giờ, “cần nêu khẩu hiệu “Đoàn kết các đảng phái”, vì điều này đã trở thành hiện thực, mà cần phải mở rộng khối đoàn kết đến toàn dân để đạt tới mục đích… hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc”.

Đại hội đã thông qua hai nghị quyết và bầu lại Ban Chấp hành và Ban Kiểm tra mới. Hồ Chí Minh và Lê Tùng Sơn được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành.

– Tài liệu chữ Hán, lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 451-461, 462-465.

– Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Sao Mới, bản tiếng Việt, tháng 8-1990, tr. 185.

Tháng 3, ngay sau Đại hội

Hồ Chí Minh đến dự tiệc chiêu đãi của Trương Phát Khuê nhân kết thúc Đại hội đại biểu các đoàn thể cách mạng hải ngoại của Việt Nam cách mạng đồng minh hội. Sau đó, Người giao cho Lê Tùng Sơn trích 5.000 đồng trong số 10.000 đồng (tiền Trung Quốc lúc đó) của hai người (Hồ Chí Minh và Lê Tùng Sơn) do Trương Phát Khuê tặng (mỗi đại biểu 5.000 đồng) đem gửi biếu các sĩ quan và binh lính Trung Quốc đang chiến đấu ngoài mặt trận.

– Lê Tùng Sơn: Bác Hồ ở Trung Quốc. Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số tháng 3-1977.

– Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Sao Mới, bản tiếng Việt, tháng 8-1990, tr.185-186.

– Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 103.

Tháng 5

Quyển Chiến thuật du kích (Cách đánh du kích) do Nguyễn Ái Quốc biên soạn được Việt Minh xuất bản.

Sách gồm 13 chương: Du kích là gì; Tổ chức đội du kích; Nguyên tắc của cách đánh du kích; Cách tiến công, tập kích; Phục kích; Cách phòng ngự; Cách đánh đuổi giặc; Cách rút lui; Phá hoại; Thông tin và liên lạc; Hành quân; Đóng quân; Căn cứ địa.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 467-504.

Khoảng tháng 7

Hồ Chí Minh tới Nam Ninh nói chuyện thời sự cho một số học viên do Việt Minh gửi sang học Trường Quân chính Liễu Châu2). Người phân tích tình hình chiến tranh thế giới, những thuận lợi của phong trào giải phóng dân tộc đang tới và kêu gọi họ cố gắng học tập thành tài để về nước phục vụ cách mạng.

– Hoàng Mỹ Đức: Hai lần gặp Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 273-277.

Tháng 8, ngày 9

Hồ Chí Minh được Tướng Trương Phát Khuê trả lại tự do và cho phép trở về Việt Nam3) cùng với 18 thanh niên do Người chọn4).

Trước khi rời Liễu Châu, Người nói với Tướng Trương: “Tôi là một người cộng sản, nhưng điều mà tôi quan tâm hiện nay là độc lập và tự do của nước Việt Nam, chứ không phải là chủ nghĩa cộng sản. Tôi có một lời bảo đảm đặc biệt đối với ông rằng: chủ nghĩa cộng sản sẽ chưa được thực hiện ở Việt Nam trong vòng 50 năm tới”5).

Người cám ơn sự giúp đỡ của Tướng Tiêu Văn và nói: “Những gì mà tôi đã nói với ông (về Việt Nam và phong trào cách mạng Việt Nam) là sự thật 99%. Chỉ có 1% tôi chưa nói với ông mà thôi”6).

– Dẫn theo King C. Chen: Vietnam and China 1938-1954, Princeton University, Press Princeton, New York, 1969, p. 77, 82.

Tháng 8

Hồ Chí Minh về đến Long Châu, trú chân tại “Việt Nam dân tộc giải phóng đồng minh hội đệ nhất biện sự xứ” (Văn phòng 1, Hội đồng minh giải phóng dân tộc Việt Nam) đặt tại Đức Hưng Xa y điếm, số 82, đường Đông Quan ngoại thị trấn Long Châu. Người ở lại đây mấy hôm.

– Tài liệu chữ Hán, lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

– Thư Hồ Đức Thành gửi Nông Kỳ Chấn, nguyên Phó chủ tịch huyện Long Châu, Quảng Tây. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 104-105.

Tháng 8

Tại Long Châu, Hồ Chí Minh gặp lại Tăng Thiên Tiết7) và được Tăng Thiên Tiết giúp đỡ ký giấy cho về Việt Nam.

– Tăng Thiên Tiết: Những mẩu hồi ức về Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Trung Quốc lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 105.

Tháng 9, đầu tháng

Hồ Chí Minh đến khu Hạ Đống8) (huyện Long Châu), tiếp giáp với Việt Nam, trú chân trong trường tiểu học của khu. Lúc này, Người và những người cùng đi đều đang mặc quân phục Quốc dân Đảng. Người đến xóm Nà Tạo tìm Nông Kỳ Chấn9), nhờ lo giúp quần áo để thay. Rời Hạ Đống, Người gửi lại một tấm chăn quân dụng và một số sách vở giấy tờ, nhờ Nông Kỳ Chấn giữ hộ.

– Nông Kỳ Chấn: Tình hình hoạt động của các đồng chí Việt Nam ở Long Châu. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 105.

Tháng 9, đầu tháng

Rời khu Hạ Đống, Hồ Chí Minh và những người cùng đi đến Thuỷ Khẩu Quan, giáp biên giới. Bị lính canh ải của Quốc dân Đảng Trung Quốc khám xét và làm khó dễ, Người gọi điện cho Phòng đốc sát quân cảnh Long Châu, nhờ Tăng Thiên Tiết can thiệp và đã được phép đi qua.

– Tăng Thiên Tiết: Những mẩu hồi ức về Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Trung Quốc lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 106.

Tháng 9, cuối tháng

Hồ Chí Minh trở về Pác Bó (Cao Bằng). Sau khi nghe báo cáo về việc Liên uỷ Cao – Bắc – Lạng quyết định khởi nghĩa giành chính quyền ở địa phương, Người chỉ thị hoãn cuộc khởi nghĩa để tránh những khó khăn tổn thất khi việc chuẩn bị ở các nơi chưa đầy đủ10).

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 474.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 122-124.

Tháng 10

Hồ Chí Minh viết Thư gửi đồng bào toàn quốc. Người phân tích tình hình và nhiệm vụ cấp bách của cách mạng Việt Nam và cho rằng: “Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh!”.

Muốn vậy cần phải có một “Toàn quốc đại biểu Đại hội gồm tất cả các đảng phái cách mệnh và các đoàn thể ái quốc trong nước bầu cử ra”, “phải có một cái cơ cấu đại biểu cho sự chân thành đoàn kết và hành động nhất trí của toàn thể quốc dân ta”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 505-506.

Tháng 10, cuối tháng

Hồ Chí Minh đến Pác Bó kiểm tra Đại đội tự vệ vũ trang chiến đấu Hồng Phong11). Người nói: “Hiện nay, đế quốc Pháp và phát xít Nhật ở Đông Dương, khác gì hai con gà trống nhốt trong chuồng. Trước sau chúng cũng chọi nhau. Tất cả hai con bị thương nặng, có con què. Lúc đó ta bắt mới dễ! Làm cách mệnh phải biết dựa vào thời cơ, và phải nhìn chung phong trào mọi nơi mọi chốn, mới chắc thắng!… Việc lớn nhất hiện nay là phải củng cố lại phong trào cách mệnh các địa phương cho vững chắc, chống khủng bố. Chúng ta huấn luyện vài buổi nữa, rồi chia tay nhau đi các địa phương”.

– Dương Đại Long: Từ chân nương bên suối Lênin hôm ấy, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 112.

Tháng 12, khoảng đầu tháng

Hồ Chí Minh triệu tập Võ Nguyên Giáp và Vũ Anh đến Pác Bó. Người nghe Vũ Anh báo cáo về tình hình phong trào cách mạng trong ba tỉnh Cao – Bắc – Lạng và chủ trương phát động chiến tranh du kích của Liên tỉnh uỷ. Người chỉ định Võ Nguyên Giáp đảm nhiệm công tác thành lập lực lượng vũ trang tập trung.

Đêm ấy, ba người cùng ngủ trong một căn lều lạnh giá, không đèn đóm, mỗi người gối trên một khúc gỗ cứng, trò chuyện đến hai, ba giờ sáng.

Chiều hôm sau, Người gặp Võ Nguyên Giáp và Lê Quảng Ba, thông qua kế hoạch thành lập Đội. Người thêm hai chữ “Tuyên truyền” vào tên Đội Việt Nam giải phóng quân.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 129-135.

Tháng 12, đầu tháng

Hồ Chí Minh tiễn chân Võ Nguyên Giáp trở về tổng Hoàng Hoa Thám để xúc tiến thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân.

Người căn dặn: “Nhớ bí mật: ta ở đông, địch tưởng ta ở tây. Lai vô ảnh, khứ vô tung”.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 126-127.

Tháng 12, khoảng giữa tháng

Nguyễn Ái Quốc gửi một bức thư nhỏ (được đặt trong bao thuốc lá) cho Võ Nguyên Giáp. Đó là Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Nội dung chỉ thị gồm ba vấn đề chủ yếu:

1. Tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền. “Đội” có nhiệm vụ dìu dắt cán bộ vũ trang của các địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên. Nguyên tắc tổ chức lực lượng là “sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao – Bắc – Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực”.

2. Đối với các đội vũ trang địa phương: tập trung huấn luyện các cán bộ địa phương rồi đưa về huấn luyện ở các địa phương, trao đổi kinh nghiệm, liên lạc thông suốt, phối hợp tác chiến.

3. Về chiến thuật: “vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay Đông mai Tây, lai vô ảnh, khứ vô tung”.

Người khẳng định: “Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”.12)

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 507-508.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 131-132.

Khoảng cuối năm

Hồ Chí Minh ghi bài thơ Tặng cháu Nông Thị Trưng, trên trang đầu quyển vở Người biên dịch tác phẩm Phép dùng binh của ông Tôn Tử:

“Vở này ta tặng cháu yêu ta,

Tỏ chút lòng yêu cháu gọi là.

Mong cháu ra công mà học tập,

Mai sau cháu giúp nước non nhà”.

– Hồ Chí Minh: Thơ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1970, tr. 47.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 509.

_______________________________

1Diệp Thuỵ Đình: nguyên là phó quan lớp huấn luyện đặc biệt, kiêm tổ trưởng quản lý của Đệ tứ chiến khu, lúc đó được mời làm Uỷ viên quân sự đặc biệt của Việt Nam cách mạng đồng minh hội (B.T).

a) Tại Hội nghị trù bị Đại hội đại biểu toàn quốc của Việt Nam cách mạng đồng minh hội do Trương Phát Khuê triệu tập, Hồ Chí Minh nêu rõ: Thành phần Đại hội, ngoài Ban Chấp hành Việt Nam cách mạng đồng minh hội, đại biểu Quốc dân Đảng (Việt Nam) và Đảng Đại Việt ra, nên có đại biểu của Việt Minh và các tổ chức khác ở trong nước như Hội Phật giáo, Hội truyền bá chữ quốc ngữ, Hội Ánh sáng…

Nhưng khi thảo luận, một số người không đồng ý cho các tổ chức thuộc Việt Minh cử đại biểu tham dự. Về thời gian đại hội, Hội nghị trù bị cũng không nhất trí được.

Hồ Chí Minh bàn với các thành viên Việt Minh nêu ý kiến đổi tên Đại hội đại biểu toàn quốc thành Đại hội đại biểu các đoàn thể cách mạng hải ngoại. Ý kiến này được giao cho Lê Tùng Sơn báo cáo với Trương Phát Khuê. Trương Phát Khuê đồng ý và uỷ thác cho Hồ Chí Minh khởi thảo kế hoạch triệu tập Đại hội đại biểu các đoàn thể cách mạng Việt Nam ở hải ngoại.

 Kế hoạch được thảo rất nhanh, trong đó Hồ Chí Minh đề nghị thành phần đại hội gồm: các uỷ viên chấp hành của Việt Nam cách mạng đồng minh hội, đại biểu “lớp huấn luyện đặc biệt” ở Đại Kiều, đại biểu người Việt trong biệt động quân Nam Ninh, đại biểu “Hội giải phóng” ở Vân Nam, đại biểu Việt Nam phục quốc quân, đại biểu Đảng Đại Việt và đại biểu Phân hội Việt Nam Hiệp hội quốc tế chống xâm lược, v.v.. Kế hoạch cũng đề ra cách bầu lại Ban Chấp hành Việt Nam cách mạng đồng minh hội và một số điểm về việc quá độ từ Đại hội đại biểu hải ngoại đến Đại hội đại biểu toàn quốc. Trong một buổi tiệc trà do Trương Phát Khuê mời các đại biểu Hội nghị trù bị tham dự, kế hoạch do Hồ Chí Minh thảo ra được Trương giới thiệu và khẳng định trước mọi người. Phái phản đối cũng đành phải nghe theo.

Cuối tháng 3-1944, Đại hội đại biểu các đoàn thể cách mạng Hải ngoại được tổ chức tại Bộ Tư lệnh Đệ tứ chiến khu. Tham gia đại hội này có Trương Bội Công, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ, Trương Trung Phụng, Trần Báo, Nông Kính Du, Bồ Xuân Luật, Trần Đình Xuyên, Lê Tùng Sơn, Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Thanh Đồng, Hồ Đức Thành, Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng. Họ thay mặt cho Ban Chấp hành của Việt Nam cách mạng đồng minh hội (7 đại biểu), Hội giải phóng Việt Nam ở Côn Minh (1 đại biểu), Liên đoàn giải phóng Việt Nam ở Long Châu (1 đại biểu), Đảng Đại Việt (1 đại biểu), các thành viên Phân hội đặc biệt ở Nam Ninh (1 đại biểu) và Phân hội Việt Nam Hiệp hội quốc tế chống xâm lược (1 đại biểu). Đã nổ ra những cuộc tranh luận giữa các đại biểu quốc gia và đại biểu cộng sản. Về Việt Nam cách mạng đồng minh hội, Trần Dân Tiên viết: “Trong nhà tù Quốc dân Đảng Trung Quốc, Cụ Hồ được biết ở Liễu Châu có tổ chức Việt Nam cách mạng đồng minh hội… Cụ được biết rằng mình bị cầm tù lâu hơn nữa vì người ta nghi Cụ sang Trung Quốc để phá tổ chức đó.

Cách mạng đồng minh hội có hai lãnh tụ: Trương Bội Công và Nguyễn Hải Thần, cả hai đều đã ở Trung Quốc 40 năm nay. Trương Bội Công là quan năm, làm việc trong quân đội Quốc dân Đảng. Trước kia, Trương tránh liên lạc với những người đồng hương và không tham gia một phong trào cách mạng nào. Nguyễn Hải Thần gần 70 tuổi đã quên hết tiếng Việt Nam, sang Trung Quốc năm 1905 với cụ Phan Bội Châu. Cụ Phan đã rời bỏ Nguyễn Hải Thần từ những ngày đầu. Từ đấy, Nguyễn Hải Thần làm nghề xem số tử vi để kiếm ăn. Nhờ nghề này, Nguyễn Hải Thần quen biết nhiều quan lại Trung Quốc. Cũng như Trương Bội Công, Nguyễn Hải Thần không hoạt động gì. Nhưng sau khi cụ Phan mất, Nguyễn Hải Thần tự nhận là người kế thừa của Cụ. Trương và Nguyễn tranh nhau làm lãnh tụ. Còn một “lãnh tụ” thứ ba: Trần Báo, một thanh niên phiêu lưu, lai lịch không rõ ràng. Trương Bội Công và Trần Báo ăn cánh với nhau. Cho nên họ mạnh hơn Nguyễn Hải Thần. Tổ chức này trông vào sự giúp đỡ của Quốc dân Đảng mà sống”.

Trần Dân Tiên còn cho biết thêm: “Chính trong nhà giam này (nhà giam quân sự của Liễu Châu), Cụ Hồ biết Nguyễn Tường Tam và những người bạn của ông ta. Nguyễn Tường Tam vốn là một nhà viết tiểu thuyết. Lúc Nhật vào Đông Dương, Tam và bạn hữu tổ chức ra một đảng gọi là “Đảng Đại Việt”, với khuynh hướng triệt để thân Nhật. Người Pháp ở Đông Dương sau khi được người Nhật vuốt ve, quay lại đối phó với các đảng viên “Đại Việt”. Nhật bèn bí mật đưa Tam sang Trung Quốc, âm mưu lật đổ Trương Bội Công, người lãnh đạo cấp cao của Việt Nam cách mạng đồng minh hội. Tam và bè bạn bị bỏ tù, sau đó cũng bị giam như Cụ Hồ, ở cùng một chỗ.

Còn có những người khác muốn tranh quyền lãnh đạo Việt Nam cách mạng đồng minh hội, đó là Vũ Hồng Khanh và Nghiêm Kế Tổ. Hai người này là lãnh tụ “Quốc dân Đảng”. Nhưng Đảng Quốc dân này, là đảng tổ chức ở Côn Minh, chứ không phải Quốc dân Đảng anh dũng đã tổ chức cuộc bạo động Yên Bái. Vì không tranh được quyền lãnh đạo ấy nên các vị này bèn rời Liễu Châu trở về Vân Nam.

Chẳng bao lâu sau khi Cụ Hồ gặp Nguyễn Tường Tam, Việt Nam cách mạng đồng minh hội họp Đại hội đại biểu ở Liễu Châu. Tất cả các chính đảng Việt Nam ở Trung Quốc và Việt Nam đều được mời. Nguyễn Tường Tam đại diện “Đảng Đại Việt”, Cụ Hồ đại diện Việt Minh. Bốn năm đảng khác ở Trung Quốc đều cử đại diện đến dự. Tổng cộng có khoảng hai chục đại biểu. Trương Bội Công giữ chức Chủ tịch, chủ trì lễ khai mạc Đại hội, Nguyễn Hải Thần từ chối dự Đại hội.

Trước khi Đại hội bế mạc, Cụ Hồ được bầu làm Uỷ viên dự khuyết của Ban Chấp hành. Nguyễn Hải Thần được bầu làm Uỷ viên Ban giám sát Trung ương, chứ không phải Uỷ viên Ban Chấp hành, điều này càng khiến ông ta tức giận. Nguyễn Tường Tam thì không được bầu, vì thế Nguyễn Hải Thần và Nguyễn Tường Tam kết thành một nhóm”.

(Đoạn trích dẫn thứ hai trên đây không có trong bản dịch tiếng Việt cuốn sách của Trần Dân Tiên mà có trong một bản dịch Trung văn, tiêu đề chữ Hán là Hồ Chí Minh truyện, người dịch là Trương Niệm Thức, do Bát Nguyệt xuất bản xã ấn hành tại Thượng Hải, tháng 6-1949. Chúng tôi dịch lại để bạn đọc tham khảo).

Thành phần đảng phái của các Ban Chấp hành và Ban Kiểm tra của Việt Nam cách mạng đồng minh hội được bầu tháng 3-1944 như sau:

Vũ Hồng Khanh Việt Nam Quốc dân Đảng
Nghiêm Kế Tổ Việt Nam Quốc dân Đảng
Trương Trung Phụng Việt Nam cách mạng đồng minh hội
Trần Báo Việt Nam Quốc dân Đảng, đảng độc lập
Trương Bội Công Quân nhân
Nguyễn Hải Thần Nhà cách mạng già
Bồ Xuân Luật Phục quốc
Trần Đình Xuyên Phục quốc
Nông Kính Du Phục quốc
Lê Tùng Sơn Đảng Cộng sản Đông Dương
Hồ Chí Minh Đảng Cộng sản Đông Dương

(Theo Báo cáo về Việt Nam của Hsing Shen-Chou tháng 4-1944, in trong Việt Nam văn kiện hội biên. Dẫn theo King C. Chen: Vietnam and China 1938-1954, Princeton University, Press Princeton, New York, 1969, p. 69) (B.T).

2) Đồng chí Hoàng Văn Thái, người lãnh đạo nhóm học sinh quân cách mạng Việt Nam trong trường bố trí cuộc họp mặt này (B.T).

3) Theo Tướng Trương Phát Khuê trong báo cáo ngày 9-8-1944 (Việt Nam văn kiện hội biên) và trong cuộc toạ đàm với King C. Chen thì Hồ Chí Minh được cấp một giấy phép đi đường, Giấy chứng minh thư do Tướng Trương ký, một bản đồ quân sự, tài liệu tuyên truyền, thuốc phòng bệnh và 76.000 đồng quan kim để đi đường và làm kinh phí huấn luyện (B.T).

4) 18 thanh niên đó là: Dương Văn Lộc, Vi Văn Tôn, Hoàng Quang Trao, Hoàng Kim Liên, Phạm Văn Minh, Hoàng Sĩ Vịnh, Nông Văn Mưu, Hoàng Gia Tiến, Trương Hữu Chi, Lê Nguyên, Hoàng Nhân, Nông Kim Thanh, Hoàng Thanh Thuỷ, Hà Hiền Minh, Lê Văn Tiến, Dương Văn Lễ, Đỗ Trọng Viên, Đỗ Lạc (B.T).

5) Hồi ký của Trương Phát Khuê, Tuần báo Liên hợp tạp chí, Hồng Kông, 1962 (B.T).

6) Liu San: When President Ho Chi Minh was in South China, Wen hui pao (Văn hối báo), Hồng Kông, ngày 7-9-1953 (B.T).

7) Tăng Thiên Tiết, nguyên Chủ nhiệm lớp huấn luyện đặc biệt của Đệ tứ chiến khu tại khu Đại Kiều (Liễu Châu), được chuyển đến Long Châu từ nửa đầu năm 1944, giữ chức Phó chủ nhiệm Sở chỉ huy Tĩnh Tây, kiêm Chủ nhiệm Phòng đốc sát quân cảnh Long Châu. Tăng Thiên Tiết đã cấp cho Hồ Chí Minh một giấy thông hành, đóng dấu Phòng đốc sát quân cảnh Long Châu (B.T).

8) Khu Hạ Đống là các xóm Nà Tạo, Na Thành, Bản Cát, nơi đồng chí Hoàng Văn Thụ và một số đồng chí khác từng nương náu để hoạt động cách mạng khi cơ sở bí mật của Đảng Cộng sản Đông Dương ở huyện lỵ Long Châu bị lộ (B.T).

9) Nông Kỳ Chấn là cốt cán Nông hội do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo, từng giúp đồng chí Hoàng Văn Thụ và một số đồng chí khác, sau ngày Trung Quốc giải phóng là Phó chủ tịch huyện Long Châu (B.T).

10Liên tỉnh uỷ Cao – Bắc – Lạng triệu tập Hội nghị cán bộ, đi đến quyết định khởi nghĩa nói trên. Ngày 20-9-1944, Hồ Chí Minh về nước, Người chỉ thị hoãn cuộc khởi nghĩa vì chưa có thời cơ (B.T).

11) Châu Hồng Phong là tên bí mật của châu Hà Quảng (B.T).

12Thực hiện chỉ thị của Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập ngày 22-12-1944.

Đội gồm 34 đội viên, được thành lập tại khu rừng Sam Cao (còn gọi là Trần Hưng Đạo) thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy.

Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân biên chế thành một trung đội (chia làm ba tiểu đội). Lực lượng rút từ các đội vũ trang các châu Hà Quảng, Hoà An, Nguyên Bình. Lúc đầu vũ khí chỉ có: 2 mútcơtông, 3 súng săn, 1 môde, giáo mác (Theo Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1984, tr, 108). Song theo Võ Nguyên Giáp trong Từ Pác Bó đến Tân Trào, vũ khí có hai khẩu súng thập, 17 súng trường vừa giáp năm, giáp ba, vừa khai hậu và súng Trung Quốc chế tạo, 14 súng kíp. Sau đó Đội còn nhận được vũ khí do Việt kiều ở Côn Minh gửi về, gồm 1 tiểu liên Mỹ Sub, Machinegun và 150 viên đạn, 6 quả bom lửa, 1 hộp bom nổ chậm. Đội được nhận thêm 500 đồng để chi phí quân nhu.

Thực hiện lời căn dặn của Người: “Trận đầu phải thắng”, Đội đã liên tiếp lập hai chiến công oanh liệt: hạ đồn Phai Khắt ngày 25-12-1944 và đồn Nà Ngần ngày 26-12-1944 (B.T).

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)