Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 2 (Năm 1941)

Tháng 1, ngày 1

Nguyễn Ái Quốc ở làng Tân Khư (Tĩnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc).

– Đặng Văn Cáp: Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 53.

Tháng 1, khoảng ngày 5

Đồng chí Lôi (Hoàng Văn Thụ)1) được Thường vụ Trung ương cử sang Tĩnh Tây gặp Nguyễn Ái Quốc để báo cáo tình hình trong nước, những công tác đã thực hiện, việc chuẩn bị Hội nghị Trung ương lần thứ tám và đề nghị Người nên về nước theo hướng Cao Bằng vì trình độ giác ngộ của nhân dân vùng biên giới này cao, cán bộ lãnh đạo ở đây khá vững vàng.

– Đặng Văn Cáp: Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 53.

– Vũ Anh: Những ngày gần Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 23.

Tháng 1, khoảng ngày 6

Nguyễn Ái Quốc cùng với Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên và Đặng Văn Cáp được Hoàng Sâm đưa đi dọc theo đường Long Lâm qua Nậm Bo xuống Nậm Quang, một làng ở sát biên giới Việt – Trung.

– Đặng Văn Cáp: Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 54.

Tháng 1, đầu tháng

Tại làng Nậm Quang (Tĩnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc tổ chức lớp học và trực tiếp huấn luyện chính trị cho 43 cán bộ cách mạng Việt Nam. Cộng sự của Người có Phùng Chí Kiên, Vũ Anh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp…

Chương trình huấn luyện gồm ba phần chính, nhằm chuẩn bị thành lập mặt trận dân tộc rộng rãi ở nước ta:

– Tình hình thế giới và trong nước.

– Tổ chức đoàn thể quần chúng.

– Cách điều tra, tuyên truyền, tổ chức, huấn luyện và đấu tranh cách mạng.

(Các tài liệu huấn luyện do Người tổ chức biên soạn, sau in litô thành sách nhan đề Con đường giải phóng).

– Vũ Anh: Những ngày gần Bác, in trong cuốn Đầu nguồn, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr. 247-248.

– Lê Quảng Ba: Bác Hồ về nước, in trong cuốn Avoóc Hồ, Nxb. Văn hóa dân tộc, 1977, tr. 10-12.

– Bằng Giang: Lớp huấn luyện đầu tiên, in trong cuốn Bác Hồ ở Việt Bắc, Nxb. Việt Bắc, 1975, tr. 21-24.

Tháng 1, đầu tháng

Sau hôm khai giảng lớp chính trị, Nguyễn Ái Quốc cùng tất cả các học viên đi lấy củi giúp dân. Ngay từ những ngày đầu của lớp học, Người căn dặn học viên kỹ lưỡng về năm điều nên làm và năm điều nên tránh đối với dân:

Năm điều nên làm là:

1. Giúp dân những công việc thiết thực hàng ngày.

2. Tìm hiểu phong tục tập quán, nghiêm túc chấp hành điều kiêng.

3. Học tiếng địa phương, dạy hát, dạy chữ, gây tình cảm tốt với dân.

4. Tuỳ nơi, tuỳ lúc mà tuyên truyền cách mạng cho thích hợp.

5. Làm cho dân thấy mình là người đứng đắn, chăm công việc, trọng kỷ luật; do đó dân càng tin và giúp ta.

Năm điều nên tránh là:

1. Tránh việc gì làm thiệt hại đến dân, làm bẩn, làm hỏng nhà cửa ruộng vườn của dân.

2. Tránh năn nỉ mua hoặc mượn thứ gì cho bằng được.

3. Tránh sai lời hứa.

4. Tránh phạm đến phong tục, tập quán, tín ngưỡng của dân.

5. Tránh lộ bí mật.

– Vũ Anh: Những ngày gần Bác, in trong cuốn Đầu nguồn, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr. 247-248.

– Lê Quảng Ba: Bác Hồ về nước, in trong cuốn Avoóc Hồ, Nxb. Văn hóa dân tộc, 1977, tr. 10-12.

– Bằng Giang: Lớp huấn luyện đầu tiên, in trong cuốn Bác Hồ ở Việt Bắc, Nxb. Việt Bắc, 1975, tr. 21-24.

Tháng 1, ngày 26 (29 Tết âm lịch, tháng Chạp (thiếu), năm Canh Thìn)

Kết thúc lớp huấn luyện chính trị gần một tháng, Nguyễn Ái Quốc cùng Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Thế An, Đặng Văn Cáp và Hoàng Văn Lộc chuẩn bị về nước 2).

– Lê Quảng Ba: Bác Hồ về nước, in trong cuốn Avoóc Hồ, Nxb. Văn hoá dân tộc, 1977, tr. 10-12.

– Bằng Giang: Lớp huấn luyện đầu tiên, in trong cuốn Bác Hồ ở Việt Bắc, Nxb. Việt Bắc, 1975, tr. 21.

– Đặng Văn Cáp: Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 56.

Tháng 1, ngày 27 (mồng 1 tháng Giêng năm Tân Tỵ)

Nguyễn Ái Quốc cùng các đồng chí trong cơ quan đi chúc Tết nhân dân hai làng Nậm Quang và Nậm Tấy (Tĩnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc). Người mặc bộ quần áo Nùng mầu chàm, đầu vấn khăn, tay chống gậy. Người đi thăm hỏi từng gia đình. Theo phong tục người Nùng ở đây, Nguyễn Ái Quốc tặng mỗi nhà một tờ giấy hồng điều, trên đó Người viết dòng chữ Hán “Cung chúc tân niên” (Chúc mừng năm mới). Các cháu nhỏ nhận được tiền phong bao, mỗi gói một xu đồng.

– Lê Quảng Ba: Bác Hồ về nước, in trong cuốn Avoóc Hồ, Nxb. Văn hoá dân tộc, 1977, tr. 12.

– Vũ Anh: Những ngày gần Bác, in trong cuốn Đầu nguồn, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr. 249.

Tháng 1, ngày 28

Nguyễn Ái Quốc lên đường về nước. Khi bước tới cột mốc 108 nằm trên biên giới Việt – Trung (thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng), Người đứng lặng hồi lâu, xúc động.

– T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 69.

Tháng 2, ngày 8

Nguyễn Ái Quốc đến ở hang Cốc Bó 3) với bí danh Già Thu.

Thu xếp chỗ ở xong, Người phái Hoàng Văn Lộc đi Tĩnh Tây.

– Đặng Văn Cáp: Có Bác dẫn đường, in trong cuốn Đường ta sáng mãi, Nxb. Lao động, Hà Nội, 1974, tr. 42.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 38.

– Lê Quảng Ba: Bác Hồ về nước, in trong cuốn Avoóc Hồ, Nxb. Văn hoá dân tộc, 1977, tr. 12-15.

Tháng 2, sau ngày 8

Nguyễn Ái Quốc sáng tác bài thơ: Pác Bó hùng vĩ

“Non xa xa, nước xa xa,

Nào phải thênh thang mới gọi là.

Đây suối Lênin, kia núi Mác.

Hai tay xây dựng một sơn hà”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 195.

Tháng 2, sau ngày 8

Dùng tảng đá bên bờ suối Lênin làm bàn viết, Nguyễn Ái Quốc dịch tiếp (đã dịch một phần khi ở Trung Quốc) cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Nga (tóm tắt) ra tiếng Việt, để làm tài liệu huấn luyện đảng viên. Bản dịch nhấn mạnh những nội dung chủ yếu sau:

– Trước Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga, nhân dân Nga bị bọn địa chủ, tư sản bóc lột. Các dân tộc trong đế quốc Nga không bình đẳng; phụ nữ bị khinh rẻ, nông dân không có ruộng đất, nhà máy trong tay bọn tư sản.

– Đảng Cộng sản (b) Nga là đảng kiểu mới, do V.I. Lênin sáng lập. Đảng chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

– Cách mạng Tháng Mười do Đảng Cộng sản (b) Nga lãnh đạo thành công đã lật đổ ách thống trị của Nga hoàng và chính quyền tư sản, giải phóng nhân dân khỏi mọi ách áp bức bóc lột, đem lại cho họ cuộc sống tự do, bình đẳng.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 48.

Tháng 2, sau ngày 8

Nguyễn Ái Quốc sáng tác bài thơ: Tức cảnh Pác Bó

“Sáng ra bờ suối, tối vào hang,

Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng.

Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng,

Cuộc đời cách mạng thật là sang”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 196.

Tháng 3

Sau khi xảy ra việc hai quần chúng cơ sở của cách mạng đi liên lạc cho đoàn thể bị tổng đoàn 4) bắt, Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí khác đã rời Pác Bó lên Lũng Lạn5), rồi qua Khuổi Nậm.

– Lê Quảng Ba: Bác Hồ về nước, in trong cuốn Avoóc Hồ, Nxb. Văn hoá dân tộc, 1977, tr. 12-15.

– Dương Đại Lâm: Ngày xuân, Bác về Pác Bó, in trong cuốn Uống nước nhớ nguồn, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1973, tr. 76-77.

Tháng 3 – tháng 4

Nguyễn Ái Quốc nhiều lần vượt qua biên giới sang Tĩnh Tây. Người thường ở trong nhà bố con ông Trương Đình Duy, Trương Kỳ Siêu ở Long Lâm. Người thường cải trang làm một thầy địa lý (phong thuỷ).

–  Nhân dân nhật báo (Trung Quốc), ngày 17-2-1963.

– Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 78.

Cuối tháng 4

Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ cho Vũ Anh triệu tập hội nghị cán bộ tỉnh Cao Bằng 6) để rút kinh nghiệm tổ chức thí điểm Mặt trận Việt Minh tại Cao Bằng.

– Lê Quảng Ba: Bác Hồ về nước, in trong cuốn Avoóc Hồ, Nxb. Văn hoá dân tộc, 1977, tr. 23.

Tháng 5, từ ngày 10 đến ngày 19

Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị lần thứ tám của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương 7).

Hội nghị xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ cấp thiết của cách mạng Đông Dương lúc bấy giờ: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”.

Theo sáng kiến của Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị đã quyết định thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi mang tên Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh), nhằm liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn.

Theo đề nghị của Người, Hội nghị đã bầu Ban Chấp hành Trung ương mới và cử đồng chí Trường Chinh là Tổng Bí thư của Đảng.

– Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 7, tr. 113.

– Hoàng Quốc Việt: Ánh sáng từ Pác Bó, in trong cuốn Đầu nguồn, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr. 170.

– Vũ Anh: Những ngày gần Bác, in trong cuốn Đầu nguồn, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr. 259.

– Lê Quảng Ba: Bác Hồ về nước, in trong cuốn Avoóc Hồ, Nxb. Văn hoá dân tộc, 1977, tr. 24.

Khoảng giữa năm

Tại Pác Bó, Nguyễn Ái Quốc tổ chức lớp huấn luyện chính trị – quân sự ngắn hạn cho cán bộ địa phương. Người trực tiếp giảng bài, đồng chí Đức Thanh đi sát giúp đỡ học viên hằng ngày.

Trong buổi khai mạc lớp học, sau khi đồng chí Đức Thanh phổ biến chương trình lớp học, Nguyễn Ái Quốc giảng bài tình hình thế giới.

Người chỉ rõ: “Bọn phát xít đã tấn công Liên Xô, Tổ quốc của cách mạng thế giới, nhưng nhân dân Liên Xô nhất định sẽ chiến thắng. Việt Nam ta cũng đứng ở trong phe dân chủ mới, ủng hộ Liên Xô chống lại phe phát xít”.

Trong các buổi học sau, Nguyễn Ái Quốc giảng về tình hình trong nước và nhiệm vụ của cách mạng trước mắt, về năm bước công tác quần chúng. Trong những buổi huấn luyện quân sự, Người giảng về chiến thuật du kích, các hình thức đánh du kích.

Sau bốn ngày huấn luyện, các học viên tập vận dụng những điều đã học vào công tác vận động quần chúng. Nguyễn Ái Quốc đóng vai một quần chúng, các học viên làm người tuyên truyền cách mạng. Sau khi học tập, Người nhận xét chỗ sai, chỗ đúng của từng học viên.

Lớp học kết thúc, Nguyễn Ái Quốc phái ba đồng chí về Hà Quảng tiếp tục hoạt động, hai đồng chí lại sang bên kia biên giới nhận nhiệm vụ khác 8).

– Quang Trung: Đốm lửa chiến khu, in trong cuốn Pác Bó quê tôi, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1967, tr. 69-78.

Tháng 6, ngày 6

Triển khai thực hiện Nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ tám về tổ chức Việt Minh, Nguyễn Ái Quốc viết thư Kính cáo đồng bào 9)gửi các tầng lớp nhân dân cả nước.

Mở đầu bức thư, Người nêu lên tình cảnh khổ nhục của nhân dân ta dưới ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật. Người ca ngợi những tấm gương oanh liệt của các bậc tiền bối trong cuộc đấu tranh giành quyền độc lập tự do. Tuy nhiên, việc lớn chưa thành vì “cơ hội chưa chín” và vì “dân ta chưa hiệp lực đồng tâm”. Người chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng”… Người chỉ rõ hiện thời muốn đánh Pháp, Nhật, ta chỉ cần một điều: “Toàn dân đoàn kết… Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng…”.

Cuối thư, Người kêu gọi: “… Hỡi các chiến sĩ cách mạng! Giờ giải phóng đã đến. Hãy phất cao cờ độc lập, lãnh đạo toàn dân đánh tan thù chung. Tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc đương vang dội bên tai các đồng chí! Máu nóng của bậc anh hùng đương sục sôi trong lòng các đồng chí! Chí phấn đấu của quốc dân đương chờ đợi sự lãnh đạo của các đồng chí!

Chúng ta hãy tiến lên! Toàn thể đồng bào tiến lên!

Đoàn kết thống nhất đánh đuổi Pháp, Nhật!

Việt Nam cách mạng thành công muôn năm!

Thế giới cách mạng thành công muôn năm!”.

– Bản chụp các bức thư in bằng chữ Việt và chữ Hán, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 197-198.

Tháng 6, khoảng cuối tháng

Nguyễn Ái Quốc yêu cầu các đồng chí Dương Hoài Nam (Võ Nguyên Giáp) và Lâm Bá Kiệt (Phạm Văn Đồng) chọn một số thanh niên Cao Bằng đi học lớp vô tuyến điện ở Liễu Châu (Trung Quốc) 10).

Mỗi học viên được nhận một tên mới, lý lịch mới và thống nhất gọi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là Hoàng Quốc Tuấn.

– Hồi ký của Hoàng Việt Huy, Phan Việt Bắc, Lưu Minh Đức, lưu tại Bảo tàng Thông tin.

– Băng ghi âm của Lưu Minh Đức, lưu tại Tổ Nghiên cứu lịch sử Đảng, Ban Tuyên giáo, Tỉnh uỷ Cao Bằng.

Tháng 7

Nguyễn Ái Quốc viết bài Hoan nghênh thanh niên học quân sự theo thể lục bát gồm 44 câu.

Mở đầu, Người phân tích nguyên nhân nỗi khổ cực của đồng bào ta:

Nước ta mất đã lâu rồi,

Đồng bào cực khổ, suốt đời gian nan!

Suốt đời chịu kiếp lầm than,

Sưu cao thuế nặng, cơ hàn xót xa!

Vì ai tan cửa nát nhà,

Chồng lìa vợ, con lìa cha tơi bời?

Vì ai non nước rã rời

Giống nòi sỉ nhục chơi vơi thế này?

Vì giặc Nhật, vì giặc Tây!

Người chỉ rõ:

Muốn đánh Nhật, muốn đánh Tây,

Thanh niên ta phải ra đây học hành.

Một là học việc nhà binh.

Hai là học biết tình hình người ta.

Thanh niên là chủ nước nhà

Phải cho oanh liệt mới là thanh niên.

….

– Tư liệu của Vũ Anh, dẫn theo Tổng tập văn học Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1980, t.36, tr. 547-548.

Tháng 8, ngày 1

Bài Khuyên đồng bào mua báo Việt Nam độc lập15 của Nguyễn Ái Quốc gồm 17 câu, đăng trên báo Việt Nam độc lập, số đầu tiên 11).

“Báo “Độc lập” hợp thời đệ nhất,

Làm cho ta mở mắt mở tai.

Cho ta biết đó biết đây,

Ở trong việc nước, ở ngoài thế gian:

Cho ta biết kết đoàn tổ chức.

Cho ta hay sức lực của ta.

Cho ta biết chuyện gần xa.

Cho ta biết nước non ta là gì…”

– Báo Việt Nam độc lập, số 101, ngày 1-8-1941.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 199.

Tháng 8, ngày 9

Nguyễn Ái Quốc viết bài Xã luận cho báo Việt Nam độc lập.

Sau khi phân tích: “Tây có hai cách làm cho ta ngu hèn, một là cách bưng mắt…, hai là cách lừa gạt”. Người chỉ rõ:

“Tây cốt làm cho ta ngu hèn. Báo Việt Nam độc lập cốt làm cho dân ta hết ngu hèn, biết các việc, biết đoàn kết, đặng đánh Tây, đánh Nhật, làm cho Việt Nam độc lập, bình đẳng, tự do”.

– Hồ Chủ tịch với công tác báo chí, Hội Nhà báo Việt Nam, 1972, tr. 16.

Tháng 8, ngày 21

Hai bài thơ Việt Nam độc lập và Dân cày, cùng bức tranh cổ động của Nguyễn Ái Quốc, đăng trên báo Việt Nam độc lập.

Bài Việt Nam độc lập gồm bốn câu in ngay dưới bức tranh cổ động 12):

Việt Nam độc lập” thổi kèn loa.

Kêu gọi dân ta trẻ lẫn già

Đoàn kết vững bền như khối sắt

Để cùng nhau cứu nước Nam ta!

Bài Dân cày gồm 18 câu, nội dung đề cập đến nỗi khổ cực của người nông dân:

“Thương ôi! những kẻ dân cày,

Chân bùn tay lấm suốt ngày gian lao”.

Và chỉ rõ, muốn phá bỏ nỗi bất bình đó, bà con nông dân phải tham gia Việt Minh, cùng toàn dân đánh Pháp, đuổi Nhật, để:

“Mai sau thực hiện chương trình 13):

Việt Nam nông dã tất canh kỳ điền”.

– Báo Việt Nam độc lập, số 103, ngày 21-8-1941.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 200, 201.

Tháng 9, ngày 1

Bài ca Phụ nữ của Nguyễn Ái Quốc gồm 20 câu, đăng trên báo Việt Nam độc lập.

Sau khi nêu những tấm gương anh hùng của phụ nữ Việt Nam từ Bà Trưng, Bà Triệu đến Nguyễn Thị Minh Khai, Người kêu gọi chị em phụ nữ Việt Nam đoàn kết đấu tranh:

… “Chị em cả trẻ đến già,

Cùng nhau đoàn kết đặng mà đấu tranh.

Đua nhau vào hội Việt Minh

Trước giúp nước, sau giúp mình mới nên.

Làm cho thiên hạ biết tên

Làm cho rõ mặt cháu Tiên, con Rồng”.

– Báo Việt Nam độc lập, số 104, ngày 1-9-1941.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 202.

Tháng 9, ngày 21

Bài thơ Trẻ con của Nguyễn Ái Quốc gồm 20 câu, đăng trên báo Việt Nam độc lập.

Bài thơ miêu tả cuộc sống tôi đòi của thiếu nhi Việt Nam dưới ách giặc Nhật, giặc Tây:

… “Chẳng may vận nước gian nan,

Trẻ em cũng bị bực thân cực lòng”…

Và kêu gọi thiếu nhi Việt Nam:

“Vậy nên con trẻ nước ta

Phải đoàn kết lại để mà đấu tranh!

Kẻ lớn cứu quốc đã đành,

Trẻ em cũng phải ra dành một vai.

Bao giờ đánh đuổi Nhật, Tây,

Trẻ em ta sẽ là bầy con cưng”.

– Báo Việt Nam độc lập, số 106, ngày 21-9-1941.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 203.

Tháng 10, khoảng đầu tháng

Tại Pác Bó, Nguyễn Ái Quốc gặp Lê Thiết Hùng mới ở Trung Quốc về nước. Sau một thời gian ngắn, Người giao cho Lê Thiết Hùng và Lê Quảng Ba, Hoàng Sâm cùng cộng tác mở lớp huấn luyện quân sự.

– Lê Thiết Hùng: Mãi mãi nhớ ơn Người, in trong cuốn Đầu nguồn, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr. 291-293.

Tháng 10, ngày 11

Bài thơ Công nhân của Nguyễn Ái Quốc gồm 20 câu, in trên báo Việt Nam độc lập.

Bài thơ nêu lên nỗi khổ cực của công nhân Việt Nam dưới ách thống trị và bóc lột của bọn Pháp, Nhật: bị đánh đập, bị phạt, bị bớt xén tiền lương; và kết thúc bằng lời kêu gọi:

“Thợ thuyền ta phải đứng ra,

Trước ta cứu nước, sau ta cứu mình.

Cùng nhau vào hội Việt Minh,

Ra tay tranh đấu hy sinh mới là.

Bao giờ khôi phục nước nhà,

Của ta ta giữ, công ta ta làm”.

– Báo Việt Nam độc lập, số 108, ngày 11-10-1941.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 204.

Tháng 10, từ giữa tháng đến cuối tháng

Một buổi trưa, Nguyễn Ái Quốc yêu cầu các đồng chí Lê Thiết Hùng, Lê Quảng Ba báo cáo về việc thành lập đội vũ trang. Người chỉ định Lê Quảng Ba làm đội trưởng, Lê Thiết Hùng làm chính trị viên, Hoàng Sâm làm đội phó và căn dặn:

– Huấn luyện xong toàn đội đi hoạt động ngay.

Người nói thêm với Lê Thiết Hùng:

– Trước chú quen chỉ huy hàng ngàn người, bây giờ chú thử chỉ huy chục người xem khác nhau chỗ nào?

– Lê Thiết Hùng: Tôi được làm người học trò nhỏ của Bác. Tạp chí Lịch sử quân sự, số tháng 11-1986, tr. 79.

– Lê Quảng Ba: Bác Hồ với đội vũ trang Cao Bằng, Tạp chí Lịch sử quân sự, số tháng 9-1987, tr. 80.

Khoảng cuối tháng 10

Nguyễn Ái Quốc viết diễn ca Mười chính sách của Việt Minh. Mở đầu, Người giới thiệu mục tiêu đấu tranh của Việt Minh:

…“Quyết làm cho nước non này,

Cờ treo độc lập, nền xây bình quyền”.

Người vạch rõ vai trò to lớn của Mười chính sách của Việt Minh:

“Có mười chính sách bày ra,

Một là ích nước, hai là lợi dân”.

Tiếp đó là diễn ca nội dung các chính sách về ruộng đất, quyền tự do, về thuế khoá.

Cuối cùng, Người kêu gọi mọi người đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh.

“Khuyên ai xin nhớ chữ đồng,

Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 205-206.

Tháng 11, ngày 1

Bài Ca binh lính của Nguyễn Ái Quốc gồm 22 câu, đăng trên báo Việt Nam độc lập. Bài ca mở đầu bằng lời tự vãn của người cầm súng giặc:

“Hai tay cầm khẩu súng dài,

Nhắm đi nhắm lại, bắn ai thế này?”…

Và chỉ nhớ là nhằm thẳng vào kẻ thù mà bắn, để cứu nước, cứu nhà, chứ không nên vì danh lợi chống lại cách mạng, chống lại nhân dân.

Và kết thúc là lời kêu gọi:

“Trong tay đã sẵn súng này,

Quyết quay đánh Nhật, đánh Tây mới đành.

Tiếng thơm sẽ tạc sử xanh:

“Việt binh cứu quốc” rạng danh muôn đời!”.

– Báo Việt Nam độc lập, số 110, ngày 1-11-1941.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 207.

Tháng 11, khoảng đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc đến dự lễ thành lập đội vũ trang đầu tiên ở Cao Bằng.

Nói chuyện với đội, Người nhắc nhở phải đoàn kết, chấp hành kỷ luật tốt, khiêm tốn học hỏi, giúp nhau thực sự về chính trị, quân sự cũng như trong sinh hoạt; đối với dân phải như cá với nước.

Sau đó, Người trao cho các đồng chí Lê Thiết Hùng và Lê Quảng Ba một tờ giấy ghi mười điều kỷ luật của đội và những nguyên tắc hoạt động của đội.

– Lê Quảng Ba: Bác Hồ với đội vũ trang Cao Bằng. Tạp chí Lịch sử quân sự, số tháng 9-1987, tr. 80.

Tháng 11

Sau khi quyết định thành lập đội vũ trang đầu tiên của Cao Bằng, Nguyễn Ái Quốc biên soạn Mười điều kỷ luật và Chiến thuật cơ bản của du kích cho các đội viên học tập và trực tiếp huấn luyện cho họ.

– Lê Quảng Ba: Bác Hồ về nước, in trong cuốn Đầu nguồn, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr. 214-215.

Tháng 12, ngày 6

Tại Pác Bó, Nguyễn Ái Quốc dự lễ kết nạp Nông Thị Trưng vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Lễ kết nạp do chi bộ cơ quan tổ chức.

Là một trong hai người giới thiệu, Người phát biểu:

“Qua một thời gian khá dài, trong quá trình học tập và công tác, đồng chí Trưng đã tỏ ra có nhiều cố gắng, có đức tính hy sinh, kiên quyết cách mạng… Đồng chí đã xứng đáng là một đảng viên…”.

– Nông Thị Trưng: Những ngày sống gần Bác, Nxb. Dân tộc, Việt Bắc, 1966, tr. 41.

Tháng 12, ngày 21

Bài Thế giới đại chiến và phận sự dân ta của Nguyễn Ái Quốc đăng trên báo Việt Nam độc lập, số 113.

Sau khi phân tích diễn biến của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai16, Người nêu câu hỏi: “Thế thì dân ta nên làm sao để tránh khỏi cái nạn ấy?” và Người tự trả lời: “Dân ta nên làm 2 việc:

1 là – Bất kỳ quân đội nào tới gần vùng mình, dân ta phải làm cách “nhà không vườn trống”… Bao giờ quân đội tới gần làng, trai tráng sẽ tránh đi, chớ để cho chúng bắt phu. Chỉ bao giờ Việt Minh có lệnh giúp cho quân đội nào thì dân ta sẽ giúp quân đội ấy.

2 là – Dân ta phải mau mau tổ chức lại. Nông dân phải vào “Nông dân Cứu quốc hội”. Thanh niên phải vào “Thanh niên Cứu quốc hội”. Phụ nữ vào “Phụ nữ Cứu quốc hội”. Trẻ con vào “Nhi đồng Cứu quốc hội”. Công nhân vào “Công nhân Cứu quốc hội”. Binh lính vào “Binh lính Cứu quốc hội”. Các bậc phú hào văn sĩ vào “Việt Nam Cứu quốc hội””.

Cuối cùng, Người kêu gọi: “Hỡi đồng bào! Cơ hội giải phóng đến rồi, mau mau đoàn kết lại!!!”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 208-209.

Trong năm

Nguyễn Ái Quốc viết cuốn Cách đánh du kích 14).

Tác phẩm gồm 13 chương.

Nội dung mỗi chương nêu ngắn gọn, dễ hiểu để cán bộ, nhân dân nhận thức đúng và thực hiện được.

Chương I: Du kích là gì?”, nêu ra bốn điều cần nhớ để đánh du kích thắng lợi: phải có con đường chính trị đúng; phải dựa trên cơ sở quần chúng; phải có tổ chức vững chắc và nghiêm mật; phải có một lối đánh rất tài giỏi.

Chương II: Tổ chức đội du kích”, hướng dẫn cách tổ chức tiểu tổ du kích, chi đội, xác định tư cách đội viên du kích, và ban chỉ huy.

Chương III: Nguyên tắc của cách đánh du kích”, nhấn mạnh bốn điểm chính: giữ quyền chủ động; hết sức nhanh chóng; bao giờ cũng giữ thế công; phải có kế hoạch thích hợp và chu đáo. Đồng thời phải thực hiện bốn mưu mẹo lớn và thực hiện mấy động tác, như lừa địch, trinh thám, làm cho giặc khốn đốn…

Chương IV: Cách tiến công, tập kích, nêu rõ “du kích bao giờ cũng tiến công” – một là tập kích, hai là phục kích.

Chương V: Phục kích” là cách đánh cần thiết và có hiệu quả đối với du kích, làm quấy rối, làm suy yếu địch.

Chương VI: Cách phòng ngự” và chỉ rõ phòng ngự nghĩa là chống giữ, song phòng ngự là thế công, chứ không phải bị động.

Chương VII: Cách đánh đuổi giặc” là nhằm truy đuổi địch để tiêu diệt chúng với sự giúp sức của quần chúng, song “không nên đuổi theo quá xa”.

Chương VIII: Cách rút lui” là điều quan trọng trong đánh du kích để bảo vệ lực lượng khi nó quá mạnh hoặc chờ phục kích đánh bại chúng rồi rút.

Chương IX: Phá hoại” là công việc trọng yếu để ngăn cản lực lượng địch tấn công. Vì vậy, phải tuân thủ các nguyên tắc của cách phá hoại và biết cách phá hoại cho có hiệu quả.

Chương X: Thông tin và liên lạc” bảo đảm cho đánh du kích được nhanh chóng, chắc chắn và chu đáo. Cần phải dựa vào nhân dân.

Chương XI: Hành quân” cần nhẹ nhàng, nhanh chóng, bí mật.

Chương XII: Đóng quân phải chọn chỗ thuận tiện để nghỉ ngơi và phòng thủ.

Chương XIII: Căn cứ địa” dùng làm nơi dừng chân làm cơ sở.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 467-504.

– Theo sách Việt Minh, xuất bản tháng 5-1944.

____________________________

1) Hoàng Văn Thụ được đồng chí Minh là người hoạt động ở vùng Cao Bằng dẫn đường (B.T).

2) Các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp trở lại Tĩnh Tây. Còn các học viên toả về các địa phương thuộc hai châu Hà Quảng và Hoà An để hoạt động (B.T).

3) Hang Cốc Bó thuộc địa phận làng Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng (Cốc Bó, tiếng Nùng, nghĩa là “đầu nguồn”), địa thế hiểm trở. Hang ăn thông ra một con đường kín dẫn sang bên kia biên giới, có thể rút lui an toàn khi bị lộ.

Phía dưới, cách cửa hang chừng 50m là con suối, nước trong, được Nguyễn Ái Quốc đặt tên là “Suối Lênin”. Một ngọn núi hùng vĩ bên bờ suối được Người gọi là “Núi Các Mác”. Cùng đến Cốc Bó với Nguyễn Ái Quốc còn có Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Hoàng Văn Lộc, Thế An, Đặng Văn Cáp (B.T).

4) Tổng đoàn là tổ chức nửa vũ trang, tay sai của thực dân Pháp ở địa phương (cấp tổng, đơn vị hành chính trên xã, dưới huyện) có nhiệm vụ theo dõi,  truy lùng cách mạng (B.T).

5) Lũng Lạn cách hang Cốc Bó vài trăm mét (B.T).

6) Hội nghị được tổ chức vào cuối tháng 4-1941 tại Coọc Mu (Pác Bó), do đồng chí Hoàng Văn Thụ chủ trì. Dự Hội nghị có các cán bộ của ba huyện Hoà  An, Hà Quảng, Nguyên Bình là những huyện đã có phong trào quần chúng tương đối mạnh (B.T).

7) Hội nghị họp từ ngày 10 đến ngày 19-5 tại Pác Bó, Cao Bằng. Dự Hội nghị có các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Phùng  Chí Kiên cùng một số đại biểu của Xứ uỷ Bắc Kỳ, Trung Kỳ và một số đại biểu hoạt động ở ngoài nước (B.T).

8) Ba đồng chí về Hà Quảng là Nam Tuấn, Ái Nam, Xuân Trường. Đồng chí Quý và đồng chí Quang Trung vượt biên giới sang Trung Quốc.

9) Thư này được lưu hành bằng hai thứ chữ Việt và Hán.

10) Theo Hoàng Quốc Việt, Phan Việt Bắc, … 10 người được chọn là:

1- Nông Văn Chí (tên thật là Đơ), bí danh Phan Việt Bắc.

2- Nguyễn Văn Chí (tên thật là Liên), bí danh Đông Tùng.

3- Lưu Minh Đức (tên thật là Lưu Khải Hoàn).

4- Lý Đạt Thành (tên thật là Hoàng Văn Ròng), bí danh Hoàng Việt Huy.

5- Lý Quang Vinh (tên thật là Đoàn Văn Mưu), bí danh Dương Công Khởi.

6- Nguyễn Hữu Hào (tên thật là Nguyễn Văn Khanh), bí danh Vũ Lâm.

7- Đoàn Hồng Sơn (tên thật là Đoàn Văn Ngô).

8- Trần Quốc Quang, bí danh Hoàng Hoa.

9- Triệu Văn Minh, chưa rõ tên thật và bí danh.

10- Phạm Văn Quý, chưa rõ tên thật và bí danh (B.T).

11) Báo Việt Nam độc lập (gọi tắt là Việt lập), do Nguyễn Ái Quốc sáng lập và trực tiếp phụ trách. Tờ báo có hai trang, khổ nhỏ, in đá. Mỗi tháng báo ra ba kỳ, mỗi kỳ hơn 400 số. Các bài viết ngắn gọn, dễ hiểu. Tờ báo đóng góp to lớn vào công việc tổ chức, hướng dẫn phong trào cách mạng của quần chúng.

Số đầu tiên báo Việt Nam độc lập (đánh số 101), ra ngày 1-8-1941. Nhiều thơ ca của Nguyễn Ái Quốc trong giai đoạn 1941-1942 đã in lần đầu tiên trên báo này và ký nhiều tên khác nhau: Kim Oanh, Bé Con, Xung Phong….

Tính đến ngày 30-9-1945, Việt Nam độc lập ra được 129 số. Từ tháng 8-1942 đến tháng 5-1945, do đồng chí Phạm Văn Đồng phụ trách(B.T).

12) Bức tranh cổ động cho báo Việt Nam độc lập hoàn toàn do xếp chữ mà thành. Tác giả sử dụng ngay nét chữ trên báo Việt Nam độc lậpđể vẽ thành  một người Việt Nam trẻ trung cường tráng. Người đó đầu đội nón (dấu của chữ ô), tay cầm cờ đỏ sao vàng, mồm thổi kèn (chữ Đ viết hoa được cách  điệu thành cái kèn) cổ động đồng bào cùng nhau đứng lên cứu nước (B.T).

13) Tức là chương trình của Mặt trận Việt Minh. Ngày 19-5-1941, Mặt trận Việt Minh chính thức ra đời, phất cao cờ đỏ sao vàng, kêu gọi toàn dân đánh  Pháp, đuổi Nhật, cứu nước, cứu nhà, kêu gọi toàn thể nhân dân hãy phấn chấn tự cường, tự lực cánh sinh, vì “việc giải phóng của ta phải do ta làm  lấy”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng tháng 5-1941 đã giới thiệu những nội dung chủ yếu của Chương trình Việt Minh (B.T).

14) Đây là một trong những tác phẩm đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc về quân sự, được viết từ năm 1941. Tác phẩm được phổ biến trong các đoàn thể  cách mạng trong thời kỳ 1941-1945. Tháng 5-1944, Cách đánh du kích được Tổng bộ Việt Minh xuất bản và phát hành rộng rãi, ngoài bìa sách ghi “Chiến  thuật du kích”. Cuốn sách được dùng làm tài liệu huấn luyện tại các trường quân – chính ở Việt Bắc trong những ngày chuẩn bị cuộc Cách mạng Tháng  Tám (B.T).

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)