CHÚ THÍCH
1. Sự kiện thành lập Đảng:
Vào những năm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác – Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.
Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên vào nửa cuối năm 1929 đầu năm 1930.
Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chính cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là phải làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 10-1929, kỳ bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên Nam Kỳ họp đại hội, tuyên bố giải tán Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và thành lập An Nam Cộng sản Đảng. Tháng 1-1930, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.
Trong vòng nửa năm, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam năm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng theo chủ nghĩa Mác-Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước lại có ba tổ chức cộng sản. Như thế chỉ làm yếu sự thống nhất về tư tưởng, chính trị, tổ chức và hành động của giai cấp vô sản, làm giảm sức mạnh của phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Vì vậy, việc thành lập một đảng duy nhất của giai cấp công nhân theo chủ nghĩa Mác-Lênin là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.
Nhận được tin có ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các nhóm cộng sản này thống nhất lại.
Sau khi nắm được tình hình trên, chấp hành chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hội nghị hợp nhất có giá trị như một Đại hội thành lập Đảng. Hội nghị đã thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắtlà cương lĩnh đầu tiên của Đảng. Hội nghị chấm dứt sự khủng hoảng trong phong trào yêu nước chống Pháp, chấm dứt tình trạng phân tán, chia rẽ của phong trào cộng sản Việt Nam, thống nhất các tổ chức cộng sản trong nước thành một Đảng Cộng sản duy nhất làm cho sức mạnh của hạt nhân lãnh đạo tăng lên gấp bội. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là “một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam”. Tr. 5.
2. Quốc tế Cộng sản (Quốc tế thứ ba): tổ chức cách mạng quốc tế của giai cấp vô sản, trung tâm lãnh đạo phong trào cộng sản và công nhân thế giới, hoạt động từ năm 1919 đến năm 1943.
Do ảnh hưởng to lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và sau khi Quốc tế thứ hai đã hoàn toàn phản bội chủ nghĩa Mác, cuộc đấu tranh của Lênin và những người cộng sản chân chính chống bọn cơ hội chủ nghĩa đã thúc đẩy sự ra đời của các Đảng Cộng sản và tổ chức cộng sản ở nhiều nước trên thế giới. Để giúp các tổ chức cộng sản này lãnh đạo phong trào cách mạng các nước đi theo con đường của chủ nghĩa Mác chân chính, tháng 1-1919, dưới sự lãnh đạo của Lênin, Hội nghị đại biểu của 8 Đảng Cộng sản và nhóm cộng sản đã kêu gọi tất cả các Đảng Cộng sản, các tổ chức xã hội chủ nghĩa phái tả tham gia Đại hội thành lập Quốc tế Cộng sản (Quốc tế thứ ba).
Hưởng ứng lời kêu gọi đó, tháng 3-1919, dưới sự lãnh đạo của Lênin, các Đảng Cộng sản và nhóm cộng sản của 30 nước đã tiến hành Đại hội thành lập Quốc tế Cộng sản tại Mátxcơva.
Quốc tế Cộng sản đã có công lao trong việc tổ chức và lãnh đạo phong trào cộng sản và công nhân thế giới. Quốc tế Cộng sản đã rất chú trọng tới vấn đề giải phóng dân tộc. Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin được Đại hội II Quốc tế Cộng sản (1920) thông qua đã đặt nền tảng chính trị và tư tưởng cho việc giải quyết đúng đắn những vấn đề phức tạp của phong trào giải phóng dân tộc. Trên con đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã đọc Luận cương, hoàn toàn tin theo Lênin và Quốc tế thứ ba.
Tháng 5-1943, căn cứ vào hoàn cảnh mới và đặc điểm phát triển cách mạng mỗi nước, Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản với sự tán thành của đa số các Đảng Cộng sản, đã thông qua nghị quyết giải tán tổ chức quốc tế này. Tr. 7.
3. Trường đại học Phương Đông (tên gọi tắt của Trường đại học cộng sản của những người lao động Phương Đông): thành lập tại Mátxcơva (Liên Xô trước đây) năm 1921 theo quyết định của Quốc tế Cộng sản, để đào tạo cán bộ cách mạng ở các nước thuộc địa và phụ thuộc.
Tại đây, các học viên được trang bị những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, phương pháp tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh cách mạng. Trong thời gian học tập, các học viên phải nắm vững các môn quan trọng như chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, kinh tế chính trị, lịch sử phong trào công nhân quốc tế, lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc, v.v..
Trong gần 20 năm tồn tại, Trường đại học Phương Đông đã đào tạo cho các nước phương Đông hàng ngàn cán bộ, trong đó có những người về sau trở thành cán bộ lãnh đạo có uy tín của các Đảng Cộng sản ở các nước.
Quan tâm sâu sắc tới phong trào giải phóng dân tộc và vấn đề đào tạo cán bộ cách mạng cho các nước thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc đã viết rất nhiều bài báo cổ vũ, giới thiệu Trường đại học Phương Đông. Từ năm 1925, sau khi về hoạt động ở Quảng Châu (Trung Quốc), cùng với việc mở các lớp huấn luyện cán bộ cách mạng, Người đã lựa chọn và cử nhiều cán bộ Việt Nam và một số nước ở châu Á, sang học tập tại Trường đại học Phương Đông. Người luôn luôn quan tâm theo dõi việc học tập và sự tiến bộ của các đồng chí này.
Trong số những cán bộ Việt Nam được đào tạo tại Trường đại học Phương Đông có nhiều đồng chí sau này đã trở thành những lãnh đạo xuất sắc của Đảng ta như các đồng chí Trần Phú, Lê Hồng Phong… Tr. 10.
4. Cuộc bạo động Yên Bái:
Cuộc khởi nghĩa do Việt Nam Quốc dân Đảng tổ chức và thực hiện vào đầu năm 1930.
Việt Nam Quốc dân Đảng là một tổ chức cách mạng theo xu hướng quốc gia tư sản, thành lập ngày 25-12-1927.
Việt Nam Quốc dân Đảng không có một đường lối chính trị thật rõ rệt, thành phần kết nạp chủ yếu là tiểu tư sản, trí thức thành thị, học sinh, công chức, người làm nghề tự do, do đó hoạt động của Đảng bị hạn chế, không liên kết được với phong trào đấu tranh của công nhân và nông dân. Đảng cũng chưa có tổ chức chặt chẽ trong toàn quốc; cơ sở vững nhất chủ yếu ở Bắc Kỳ. Do đường lối không rõ ràng, tổ chức không chặt chẽ, lại kết nạp đảng viên dễ dàng, để bọn mật thám chui vào nên đầu năm 1930, cơ sở đảng bị vỡ ở nhiều nơi, nhiều cán bộ, đảng viên bị bắt. Trước tình hình đó, các lãnh tụ của Đảng là Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Nhu quyết định khởi nghĩa, vì cho rằng: đằng nào Đảng cũng bị khủng bố và bị tiêu diệt, cho nên cứ bạo động, “không thành công cũng thành nhân”.
Kế hoạch bạo động được đưa ra, nhưng bị lộ nên phải làm sớm mấy ngày.
Theo kế hoạch này: lực lượng chính là binh sĩ Việt Nam trong quân đội Pháp. Du kích là phụ. Vũ khí cũng do binh sĩ khởi nghĩa chuyển cho. Bạo động nổ ra ở tất cả mọi nơi, rồi đưa tất cả lực lượng chiếm một thành phố lớn. Nguyễn Khắc Nhu chỉ huy các tỉnh Sơn Tây, Phú Thọ, Yên Bái. Nguyễn Thái Học chỉ huy ba tỉnh Hải Dương, Hải Phòng, Kiến An.
Trước khi nổ ra bạo động, do người liên lạc bị Pháp bắt nên hai lãnh tụ không liên lạc được với nhau.
Khởi nghĩa bắt đầu nổ ra vào đêm 9 rạng sáng ngày 10-2-1930. Nghĩa quân chiếm các đồn Pháp ở Yên Bái. Một số bộ phận binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp phản chiến tham gia vào quân khởi nghĩa. Nghĩa quân chiếm được nhà dây thép, nhà ga, phát truyền đơn, hô hào quần chúng và binh lính hưởng ứng. Nhưng còn một bộ phận binh lính Việt Nam đã không tham gia khởi nghĩa. Ngay sáng hôm sau, thực dân Pháp đã phản công; cuộc bạo động bị thất bại. Trong vòng một tuần, phong trào khởi nghĩa bị dập tắt ở các nơi. Nguyễn Thái Học và các lãnh tụ khác bị bắt và bị xử tử. Việt Nam Quốc dân Đảng cũng bị tan rã.
Trong lúc Việt Nam Quốc dân Đảng chuẩn bị khởi nghĩa, Nguyễn Ái Quốc đang ở Xiêm (Thái Lan). Nghe tin đó, Người đã nhận xét: “Cuộc bạo động nổ ra lúc này là quá sớm, và khó thành công”. Người muốn gặp các lãnh tụ của Việt Nam Quốc dân Đảng để “bàn lại kế hoạch” nhưng không thực hiện được. Trong lúc Nguyễn Ái Quốc vượt biên giới Thái Lan đến Trung Quốc, cuộc bạo động vẫn được chuẩn bị và đã nổ ra như trên. Tr. 14.
5. Đoàn Thanh niên Cộng sản quốc tế (Quốc tế Thanh niên Cộng sản): tổ chức quốc tế của thanh niên lao động cách mạng. Theo sáng kiến của Lênin, Đại hội lần thứ nhất của thanh niên xã hội chủ nghĩa được triệu tập ở Béclin (Đức) từ ngày 20 đến ngày 26-11-1919 (có 29 đại biểu của 13 nước tham dự) đã thông qua nghị quyết thành lập Quốc tế Thanh niên Cộng sản. Tổ chức này đã gia nhập Quốc tế Cộng sản với tư cách là một phân bộ.
Quốc tế Thanh niên Cộng sản có những bộ phận riêng của mình ở 56 nước. Các cơ quan lãnh đạo của Quốc tế Thanh niên Cộng sản là Đại hội quốc tế và Ban chấp hành. Quốc tế Thanh niên Cộng sản hoạt động dưới sự lãnh đạo về tư tưởng và tổ chức của Quốc tế Cộng sản. Nó đã có tác dụng quan trọng trong việc tuyên truyền, giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lênin trong thanh niên, đề ra mục tiêu, phương pháp cho thanh niên trong sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân thế giới.
Năm 1943, cùng với việc giải tán Quốc tế Cộng sản, Quốc tế Thanh niên Cộng sản cũng tự giải tán. Tr. 29.
6. Trường Quốc tế Lênin: trường dành cho những người cộng sản nước ngoài, nhằm giúp đỡ các Đảng Cộng sản trong công tác đào tạo cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt. Trường Quốc tế Lênin thành lập năm 1926, theo quyết định của Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản, nhằm mục đích:
– Giúp đỡ các chi bộ của Quốc tế Cộng sản, nâng cao trình độ lý luận Mác – Lênin và kinh nghiệm chính trị của Đảng Cộng sản Liên Xô cũng như giai cấp vô sản nhiều nước châu Âu khác.
– Nghiên cứu kinh tế thế giới và các bộ phận của nó, đặc biệt về quan hệ các nước tư bản chủ nghĩa, thuộc địa và Liên Xô.
– Nghiên cứu những vấn đề chiến lược và sách lược của Quốc tế Cộng sản, những kinh nghiệm tổ chức và chính trị của các Đảng Cộng sản các nước và nhận xét, phê bình những công tác hiện thời của Quốc tế Cộng sản… Kết thúc các khoá học, học viên thường được đi thực tế ở nhiều vùng, nhiều nhà máy, xí nghiệp ở Liên Xô. Các giảng viên đa số là người Liên Xô.
Trong những năm 1934-1935, Nguyễn Ái Quốc đã nghiên cứu tại Trường Quốc tế Lênin. Để bảo đảm bí mật, đồng chí có bí danh tại trường là Lin, bí số 375. Nguyễn Ái Quốc là đại biểu do Đảng Cộng sản Đông Dương gửi đến học, do đó, lúc đầu Người được xếp trong nhóm nghiên cứu nói tiếng Trung Quốc. Sau được chuyển sang nhóm nói tiếng Pháp cho phù hợp hơn.
Nhiều lãnh tụ khác của các nước xã hội chủ nghĩa sau này, đã từng là học viên của Trường Quốc tế Lênin. Tr. 56.
7. Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản: Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản họp từ ngày 25 tháng 7 đến ngày 20-8-1935 tại Mátxcơva. Hơn 500 đại biểu đại diện cho 65 Đảng Cộng sản trên thế giới về dự Đại hội.
Đại hội nhận định rằng nguy cơ phát xít và chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa phát xít đang đe doạ nghiêm trọng hoà bình và an ninh của các dân tộc. Đại hội chỉ rõ điều kiện chủ yếu để đấu tranh thắng lợi là thực hiện sự thống nhất và phát huy tính tích cực cách mạng của giai cấp công nhân, đồng thời phải mở rộng đoàn kết với nông dân và các tầng lớp khác, nhằm thành lập mặt trận rộng rãi ở các nước trên cơ sở mặt trận thống nhất của giai cấp công nhân. Do đó, Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản đã quyết định nhiệm vụ trước mắt của các Đảng Cộng sản là thành lập mặt trận nhân dân rộng rãi ở các nước, chống chủ nghĩa phát xít, chống chiến tranh, bảo vệ hoà bình. Khẩu hiệu trung tâm của các Đảng Cộng sản lúc này là “đấu tranh cho hoà bình”.
Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương gồm các đồng chí Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai và Hoàng Văn Nọn đã tham dự và đọc tham luận tại Đại hội. Đại hội cũng đã công nhận Đảng Cộng sản Đông Dương là một bộ phận của Quốc tế Cộng sản.
Trong thời gian này, Nguyễn Ái Quốc đang công tác, học tập ở Liên Xô. Người đã tham dự Đại hội với tư cách là đại biểu của Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản. Người đã tích cực tham gia vào các công việc của Đại hội, đồng thời, mang hết sức mình giúp đoàn đại biểu Đảng ta hoàn thành nhiệm vụ ở Đại hội. Tr. 60.
8. Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa: Trước kia, những người cộng sản ở các nước Đông Dương và thuộc địa được cử sang học tập ở Liên Xô thường học trong một ban đặc biệt của Trường đại học cộng sản của những người lao động phương Đông, thành lập năm 1921 (tiếng Nga viết tắt là KYTB). Đến năm 1932, Ban này tách ra thành Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa (tiếng Nga viết tắt là NINKP, đọc là Ninkapê), trực thuộc Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản. Tr. 65.
9. Notre Voix (Tiếng nói của chúng ta): tuần báo công khai bằng tiếng Pháp của Đảng Cộng sản Đông Dương, xuất bản tại Hà Nội trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ (1936-1939). Trong thời gian trở lại hoạt động ở Trung Quốc (1938), Nguyễn Ái Quốc đã theo dõi sát sao cuộc vận động thành lập Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Dưới danh nghĩa một nhà báo Trung Quốc, Người viết một số bài báo gửi đăng trên tờNotre Voix. Trên các bài báo đó, Người đều ghi: Quế Lâm, ngày… và ký tên P.C. Lin. Thông qua những bài báo này, Người truyền đạt cho Đảng ta những nội dung chính về đường lối, chủ trương của Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản và góp phần chỉ đạo cách mạng trong nước. Tr. 82.
10. Chủ nghĩa Tờrốtxki: một trường phái tư tưởng của những kẻ đi theo đường lối và quan điểm phản động của Tờrốtxki. Đó là khuynh hướng tư tưởng cơ hội chủ nghĩa “tả” khuynh, đối lập với chủ nghĩa Lênin. Trong phong trào công nhân Nga, Tờrốtxki là kẻ luôn luôn chống lại Lênin trên những vấn đề cơ bản của cách mạng như: vai trò lãnh đạo của giai cấp vô sản, tính tất yếu của liên minh công nông, thái độ của Đảng đối với cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa, khả năng thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong một nước…
Chủ nghĩa Tờrốtxki có ảnh hưởng đến một số phần tử cơ hội chủ nghĩa trong các Đảng Cộng sản ở các nước. Các Đảng Cộng sản đã tiến hành đấu tranh không khoan nhượng chống bọn tờrốtxkít trên các mặt tư tưởng và chính trị để thực hiện đúng đắn đường lối Mác – Lênin do Quốc tế Cộng sản đề ra.
Ở nước ta, bọn tờrốtxkít được chính quyền thực dân Pháp lợi dụng, đã ra sức khiêu khích và chống phá cách mạng. Nguyễn Ái Quốc đã vạch rõ thái độ của Đảng Cộng sản Đông Dương đối với bọn chúng: “Đối với bọn tờrốtxkít, không thể có một thoả hiệp nào, một nhượng bộ nào. Phải dùng mọi cách để lột mặt nạ chúng làm tay sai cho chủ nghĩa phát xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị…”. Tr. 86.
11. Việt Nam hưởng ứng Trung Quốc kháng địch hậu viện hội (Hội những người Việt Nam hưởng ứng Trung Quốc chống địch): một tổ chức quần chúng do Việt kiều yêu nước ở Côn Minh lập ra để thu hút các lực lượng yêu nước ủng hộ Trung Quốc kháng chiến chống phát xít Nhật, đồng thời phân hoá những phần tử phản động của Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam cách mạng đồng minh hội ở vùng này.
Tổ chức Đảng Cộng sản Đông Dương ở Côn Minh đã lãnh đạo Hội này tiến hành một số công tác tuyên truyền, liên lạc… lấy danh nghĩa công khai của Hội đã được chính quyền Quốc dân Đảng cho phép, để hoạt động cách mạng. Tr. 100.
12. Khởi nghĩa Nam Kỳ: Sống dưới hai tầng áp bức của Pháp và Nhật, nhân dân Việt Nam vô cùng cực khổ. Năm 1940, thực dân Pháp bắt binh lính người Việt đi đánh nhau với quân Thái Lan. Việc đó gây hoang mang và bất bình trong binh lính người Việt Nam và gia đình họ. Phong trào chống chiến tranh, phản đối việc điều ra mặt trận đã lan rộng và sôi nổi trong binh lính người Việt và nhân dân Nam Kỳ. Trước tình hình sôi sục đó, tháng 7-1940, Xứ uỷ Nam Kỳ quyết định khởi nghĩa trước khi xin chỉ thị của Trung ương.
Nhận định rằng cuộc khởi nghĩa đó chưa được chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, chưa có đủ điều kiện khách quan và chủ quan, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tháng 11-1940 đã quyết định đình chỉ cuộc khởi nghĩa và cử đồng chí Phan Đăng Lưu về truyền đạt quyết định của Trung ương. Nhưng lệnh khởi nghĩa đã được phát đi.
Đêm 23-11-1940, cuộc khởi nghĩa đã nổ ra rất anh dũng. Nhiều đồn bốt địch bị hạ, nhiều cầu, cống, đường sá… bị phá, chính quyền địch ở một số xã và quận hoang mang, tan rã. Chính quyền cách mạng những nơi đó được thành lập, đã thực hiện những quyết định dân chủ, bảo vệ trị an, xét xử bọn phản cách mạng… Lá cờ đỏ sao vàng đã xuất hiện lần đầu tiên.
Nhưng sau đó, thực dân Pháp điều động lục quân Pháp và cả lính lê dương từ Bắc Kỳ vào tàn sát rất dã man nhân dân khởi nghĩa.
Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ tuy thất bại, nhưng đã tỏ rõ lòng căm thù sâu sắc của nhân dân ta đối với bọn thực dân Pháp, tinh thần đấu tranh vô cùng anh dũng của quần chúng cách mạng. Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ cùng với cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn nổ ra trước đó ít lâu là những tiếng súng báo hiệu cuộc khởi nghĩa toàn quốc đang đến, nhân dân các dân tộc Đông Dương đã kiên quyết đứng lên dùng bạo lực cách mạng để giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức của bọn thực dân và bè lũ tay sai. Tr. 117.
13. Việt Nam độc lập đồng minh hội: Một tổ chức quần chúng do ông Hồ Học Lãm, một chí sĩ yêu nước sống ở Trung Quốc, đứng ra vận động thành lập ở Nam Kinh đầu năm 1936, có đăng ký chính thức với Trung ương Quốc dân Đảng Trung Quốc nhằm tạo danh nghĩa hợp pháp cho hoạt động của những người yêu nước và cách mạng Việt Nam ở Nam Kinh; đồng thời cũng để tranh thủ sự giúp đỡ của Chính phủ Trung Quốc đối với các dân tộc nhỏ yếu theo Di chúc của Tôn Trung Sơn. Tuy nhiên, Hội cũng mới chỉ có cái tên được đăng ký chứ chưa có hoạt động gì trong thực tế.
Cuối năm 1940, Nguyễn Ái Quốc về đến Quảng Tây, lực lượng cách mạng của ta tại đây ngày càng lớn mạnh. Thời gian này, ông Hồ Học Lãm cũng đã chuyển về Quế Lâm chữa bệnh. Để tạo danh nghĩa hoạt động, theo chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc, cần tận dụng danh nghĩa hợp pháp của Việt Nam độc lập đồng minh hội (gọi tắt là Việt Minh) đã đăng ký ở Nam Kinh trước đây. Người cho lập ra Biện sự xứ hải ngoại (Văn phòng làm việc) của Việt Nam độc lập đồng minh hội ở Quế Lâm, do ông Hồ Học Lãm làm Chủ nhiệm và đồng chí Phạm Văn Đồng (bí danh Lâm Bá Kiệt) làm Phó chủ nhiệm, để quan hệ với Lý Tế Thâm. Từ đó, tổ chức Việt Nam độc lập đồng minh hội gọi tắt là Việt Minh đã có những hoạt động nổi bật và được biết đến một cách rộng rãi ở hải ngoại.
Đầu năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước chủ toạ Hội nghị Trung ương lần thứ 8, thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, cũng gọi tắt là “Việt Minh”, chỉ đạo xây dựng thí điểm các Hội Cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh ở Cao Bằng, sau đó phát triển ra cả nước, tập hợp lực lượng đoàn kết của toàn dân tộc, dẫn đến thắng lợi lịch sử của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Như vậy, tuy có sự trùng hợp về tên gọi nhưng giữa Việt Nam độc lập đồng minh hội do ông Hồ Học Lãm lập ra ở Nam Kinh và Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh do Nguyễn Ái Quốc sáng lập, về thực chất vẫn là hai tổ chức có vai trò lịch sử rất khác nhau. Tr. 118.
14. Việt Nam dân tộc giải phóng uỷ viên hội: Cuối năm 1940, chính quyền Quốc dân Đảng (Trung Quốc) âm mưu chuẩn bị thực hiện chủ trương “Hoa quân nhập Việt” (quân đội của Tưởng Giới Thạch sẽ thay mặt Đồng minh vào Việt Nam sau chiến tranh). Chúng giao cho Trương Bội Công, người Việt Nam sang Trung Quốc và làm việc cho Quốc dân Đảng nhiều năm, giả danh “cách mạng” đứng ra thành lập tổ chức Việt Nam dân tộc giải phóng uỷ viên hội. Tổ chức này, trên danh nghĩa kết nạp những người Việt Nam có tinh thần đấu tranh chống phát xít Nhật giải phóng đất nước, nhưng thực chất đó là một tổ chức làm tay sai cho Quốc dân Đảng Trung Quốc. Nhờ có sự đấu tranh kiên quyết và khôn khéo của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương, Trương Bội Công và đồng bọn đã bị lột trần mặt nạ và bị cô lập, chỉ còn là một tổ chức trên danh nghĩa. Tr. 118.
15. Báo Việt Nam độc lập: Cơ quan tuyên truyền của Ban Việt Minh tỉnh Cao Bằng, do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập ở Pác Bó.
Mục đích của tờ báo là “cốt làm cho dân ta biết, biết các việc, biết đoàn kết, đặng đánh Tây, đánh Nhật làm cho Việt Nam độc lập, bình đẳng tự do” (Việt Nam độc lập, số 101 (tức số 1), ngày 1-8-1941). Các bài đăng trên báo Việt Nam độc lập luôn luôn chĩa mũi nhọn vào kẻ thù chính của dân tộc là phát xít Nhật – Pháp và bọn tay sai, tố cáo những tội ác dã man của địch, kịp thời vạch trần những âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt của chúng trên mọi lĩnh vực. Tờ báo đã cổ động mọi tầng lớp nhân dân tham gia các Hội cứu quốc như Nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc… Báo cũng thường xuyên có các bài phân tích sâu sắc, nhạy bén về tình hình và nhiệm vụ cách mạng, giúp cho cán bộ và nhân dân hiểu đúng tình hình và hành động đúng với chủ trương của Đảng.
Trong thời gian hoạt động ở Cao Bằng, mặc dù bận nhiều công việc chung của cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành cho báo Việt Nam độc lập sự chỉ đạo trực tiếp và Người còn tham gia duyệt bài, viết bài, có khi cả việc trình bày, minh hoạ và in báo. Nhiều thơ ca của Người lần đầu tiên in trên báo này và thường không ký tên. Báo Việt Nam độc lập dưới sự chỉ đạo và tham gia của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ số 1, ngày 1-8-1941 đến tháng 8-1942, Người ra nước ngoài công tác là trên 30 số, 400 bản, mỗi tháng ra 3 số, mỗi số trên 2 trang, khổ nhỏ, in đá. Báo Việt Nam độc lập số 1 đánh số 101 và tiếp theo 102, 103 với ý nghĩa kế tục lịch sử của những tờ báo cách mạng ra đời từ trước đó.
Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ra nước ngoài công tác, đồng chí Phạm Văn Đồng được phân công trực tiếp chỉ đạo tờ báo đến tháng 4-1945.
Lúc đầu, Việt Nam độc lập là của Ban Việt Minh tỉnh Cao Bằng. Sau này, căn cứ địa cách mạng mở rộng ra hai tỉnh Cao Bằng và Bắc Cạn, báo Việt Nam độc lập trở thành cơ quan của liên tỉnh bộ Việt Minh – Cao Bằng – Bắc Cạn, từ số 229 đến số 286 (tức là từ số 129 đến số 186), rồi liên tỉnh bộ Việt Minh ba tỉnh Cao Bằng – Bắc Cạn – Lạng Sơn, từ số 287 đến số 325 (tức là từ số 187 đến số 225). Sau Cách mạng Tháng Tám, báo Việt Nam độc lập tiếp tục xuất bản ở Cao – Bắc – Lạng, rồi Cao Bằng. Tr. 144.
16. Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945): Cuộc chiến tranh do bọn phát xít Đức, Italia, Nhật gây ra với âm mưu chia lại thị trường thế giới và tiêu diệt Liên Xô. Do tính chất của cuộc chiến tranh và âm mưu của các thế lực phát xít, cuộc chiến tranh nổ ra ở từng vùng có tính chất khác nhau. Từ tháng 5-1939 đến tháng 6-1941 diễn ra chiến tranh giữa nước Đức phát xít với các nước đế quốc; từ tháng 6-1941 đến tháng 8-1945, cuộc chiến tranh chủ yếu diễn ra trên mặt trận Xô – Đức và từ tháng 12-1941 đến tháng 9-1945, cuộc chiến tranh do phát xít Nhật gây ra ở châu Á Thái Bình Dương.
Với quy mô và sự ác liệt của nó, cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai cuốn hút 76 nước tuyên bố trong tình trạng chiến tranh, động viên 110 triệu lượt người tham gia vào quân đội, phục vụ chiến tranh, trong đó 60 triệu người bị chết, 90 triệu người bị thương, tàn phế, gây thiệt hại vật chất lên tới 4000 tỷ USD.
Kết quả của cuộc chiến tranh là sự thắng lợi của lực lượng Đồng minh như Liên Xô, Mỹ, Anh, v.v., trong đó Liên Xô đóng vai trò quyết định. Các lực lượng phát xít đã bị tiêu diệt. Liên Xô không những đã giành được thắng lợi vẻ vang trong cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại (1941-1945) mà còn trực tiếp giải phóng nhân dân nhiều nước châu Âu khỏi tai họa phát xít. Thắng lợi ấy đã tạo điều kiện cho nhiều nước châu Á hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ và tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa. Tr. 152.
17. Đồng minh: Liên minh các nước chống chủ nghĩa phát xít trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945), hình thành vào cuối năm 1941 đầu năm 1942.
Tháng 1-1942, tại Oasinhtơn (Mỹ), 26 nước Đồng minh trong đó có Liên Xô, Anh, Mỹ ký chung vào bản Tuyên ngôn chống phát xít xâm lược và bảo đảm trong cuộc chiến tranh này không có sự giảng hoà riêng rẽ. Nhưng mục đích của việc ký Tuyên ngôn đó rất khác nhau. Liên Xô ký Tuyên ngôn này nhằm tiêu diệt chủ nghĩa phát xít, khôi phục chế độ dân chủ ở châu Âu; còn Mỹ và Anh ký Tuyên ngôn nhằm đánh bại thế lực của Đức và Nhật để xác lập quyền bá chủ thế giới. Về sau, các chính phủ Mỹ và Anh đã phản bội Đồng minh, phá hoại tất cả các điều khoản trong Tuyên ngôn. Tr. 173.
18. Nhật ký trong tù: Tháng 8-1942, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Cao Bằng sang Trung Quốc với danh nghĩa đại biểu của Việt Nam độc lập đồng minh và Phân bộ quốc tế chống xâm lược của Việt Nam để tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế. Khi đến Túc Vinh (một thị trấn thuộc huyện Tĩnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc), Người bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam. Trong hơn một năm, Người bị giam trong khoảng 30 nhà tù của 13 huyện ở tỉnh Quảng Tây. Trong thời gian này, Người đã ghi Nhật ký trong tù, bằng chữ Hán.
Tập Nhật ký gồm 134 bài, có số thứ tự trước mỗi bài, được ghi vào một cuốn sổ tay, bìa màu xanh. Trang đầu có vẽ hình hai cánh tay bị xích kèm theo bài thơ không đề với bốn câu thơ:
Thân thể ở trong lao,
Tinh thần ở ngoài lao;
Muốn nên sự nghiệp lớn,
Tinh thần càng phải cao.
Số thứ tự và tên các bài thơ trong tập này là theo Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia xuất bản lần thứ hai, Hà Nội, tập 3, 1995 đánh số 1 từ bài không số. Vì vậy, số thứ tự các bài thơ trong tập sách này so với sách Hồ Chí Minh: Nhật ký trong tù, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1990, cao hơn 1 số. Tr.179.
19. Chiến thuật du kích: Tác phẩm đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết về quân sự. Hiện nay ngoài cuốn Chiến thuật du kích (quyển II) do Việt Minh xuất bản năm 1942 còn có cuốn Chiến thuật du kích do Việt Minh xuất bản tháng 5-1944.
Chiến thuật du kích được viết ngắn gọn, giản dị nhưng đầy đủ, phù hợp với việc huấn luyện quân sự và điều kiện hoạt động của thời kỳ này. Tr. 188.
20. Liên hợp quốc: một tổ chức quốc tế được thành lập tại Hội nghị của đại diện 51 nước họp tại Xan Phranxítxcô (Mỹ), từ ngày 25 tháng 4 đến ngày 26-6-1945 trên cơ sở liên minh tự nguyện của các nước có chủ quyền, nhằm giữ gìn hoà bình và phát triển sự hợp tác giữa các nước.
Theo Hiến chương của Liên hợp quốc, nhiệm vụ của Liên hợp quốc là giữ gìn hoà bình và an ninh bằng cách áp dụng những biện pháp chung nhằm ngăn ngừa và loại trừ những mối đe doạ với hoà bình và chống lại những hành động xâm lược, phát triển quan hệ thân thiện giữa các dân tộc và thực hiện sự hợp tác nhằm giải quyết những vấn đề quốc tế có tính chất kinh tế, xã hội, văn hoá, nhân đạo cũng như phát triển sự tôn trọng nhân quyền và quyền tự do căn bản của con người, không phân biệt chủng tộc, nam, nữ, tiếng nói và tín ngưỡng. Liên hợp quốc thành lập theo nguyên tắc bình đẳng đối với tất cả mọi thành viên và không can thiệp vào công việc nội bộ của bất cứ nước nào.
Những cơ quan chủ yếu của Liên hợp quốc là Đại hội đồng, Hội đồng bảo an, Hội đồng kinh tế và xã hội, Hội đồng bảo trợ, Toà án quốc tế và Ban thư ký.
Năm 1977, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam gia nhập tổ chức quốc tế này. Việt Nam cùng các nước yêu chuộng hoà bình đã và đang đấu tranh để bảo vệ những nguyên tắc dân chủ của Liên hợp quốc. Tr. 241.
21. Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Hoa Kỳ: Trong cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân các thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ chống chủ nghĩa thực dân Anh (1775-1781), đã tổ chức các cuộc đại hội đại biểu để thảo luận những biện pháp chống bọn thực dân Anh. Đại hội lần thứ hai họp ở Philađenphia năm 1775 đã cử ra một uỷ ban do Giépphécxơn làm Chủ tịch để thảo ra một bản nghị quyết tuyên bố các xứ thuộc địa là những nước tự do độc lập, tách khỏi phạm vi, quyền lực của Anh hoàng. Bản dự án nghị quyết này được đại biểu 13 bang thông qua ngày 4-7-1776 và trở thành Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ.
Bản Tuyên ngôn Độc lập này thể hiện nguyện vọng của các dân tộc thuộc địa ở Bắc Mỹ đấu tranh để giành lại độc lập, tự do cho nhân dân Mỹ lúc bấy giờ.
Sau khi giành được độc lập, giai cấp tư sản Mỹ lên nắm chính quyền đã phản bội quyền lợi của nhân dân, thi hành chính sách phân biệt chủng tộc, áp bức bóc lột nhân dân trong nước, đồng thời xâm lược các nước khác. Chúng đã thực hiện những thủ đoạn tàn bạo của chủ nghĩa thực dân, áp dụng chính sách thâm độc và nham hiểm của chủ nghĩa thực dân mới, thống trị về mặt kinh tế và lũng đoạn về chính trị nhằm thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới, chà đạp trắng trợn lên những nguyên tắc tự do, bình đẳng đã ghi trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ.
Vận dụng tinh thần, tư tưởng tự do, bình đẳng – tiêu biểu cho nguyện vọng độc lập, tự do của nhân dân Mỹ, khi soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích một câu trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ, khẳng định quyền bình đẳng, tự do và độc lập của nhân dân Việt Nam.
Tr. 250.
BẢN CHỈ DẪN TÊN NGƯỜI
C
CHENNAULT, Claire Lee (Sênôn) (1890 – 1958): sinh tại Texas.
Năm 1920, vào không quân Mỹ với quân hàm trung uý. Nổi tiếng về kỹ thuật bay lão luyện và táo bạo, cầm đầu phi đội được mệnh danh là “Ba người trên một hình thang bay” trong thập kỷ 30 của thế kỷ XX. Năm 1937, bị buộc từ chức vì tai điếc, sang Trung Quốc làm cố vấn cho không lực Trung Hoa. Năm 1941, tổ chức một phi đoàn tình nguyện người Mỹ ở Trung Quốc – phi đoàn Phi hổ (Cọp bay), tham gia chống Nhật. Năm 1942, Mỹ tham chiến, Sênôn được gọi tái ngũ phục vụ không quân Mỹ với quân hàm chuẩn tướng, được chỉ huy không lực cơ động ở Trung Hoa, và năm 1943, được thăng thiếu tướng, là Tư lệnh phi đoàn 14 không quân Mỹ.
Sênôn rời Bộ tư lệnh không quân ngày 15-7-1945 và đến ngày 31 tháng 10 năm đó ra khỏi không quân. Trở lại Trung Quốc năm 1946, Sênôn tổ chức ngành hàng không dân dụng cho Tưởng Giới Thạch và tiếp tục điều khiển công ty ở Đài Loan cho đến tháng 1-1949, năm 1958 mất tại Niu Oócliân (New Orleans).
CƯỜNG ĐỂ (1882-1951): tên thật là Nguyễn Phúc Đản, cháu đích tôn của Hoàng Thái tử Nguyễn Phúc Cảnh (con Vua Gia Long), tước Kỳ ngoại hầu. Được Phan Bội Châu và Nguyễn Hàm đưa lên làm Hội trưởng Hội Duy tân, thành lập cuối năm 1904 tại Quảng Nam với tôn chỉ đấu tranh chống Pháp. Tháng 1-1907, sang Nhật học tại Trường võ bị Chấn Vũ, sau chuyển sang học tại Trường Đông Á Đồng văn. Tháng 2-1909, ông bị Nhật trục xuất. Tháng 12-1912, là Hội trưởng Việt Nam Quang phục hội do Phan Bội Châu thành lập tại Quảng Đông, Trung Quốc, kiêm Bộ trưởng Bộ Tổng vụ của Hội. Ông đã sang Đức năm 1913 và sang Anh năm 1914. Khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, ông từ Anh về Trung Quốc và ở đó đến năm 1919, sau đó lại sang Nhật. Từ năm 1923, ông được Nhật trực tiếp nuôi dưỡng. Cuối năm 1931, nhận được tin Nguyễn Ái Quốc bị giam và ốm tại Hồng Kông, Cường Để đã gửi thư và một số tiền giúp Nguyễn Ái Quốc chữa bệnh.
Tháng 12 – 1939, Cường Để thành lập tổ chức Việt Nam Phục quốc đồng minh hội (Hội phục quốc), đặt bản doanh tại Đài Loan. Ngày 11-1-1944, được Nhật và giáo phái Cao Đài hỗ trợ, ông phát đi bức thông điệp sẽ trở về Tổ quốc. Sau vụ Nhật đảo chính Pháp ngày 9-3-1945, Cường Để bị Nhật bỏ rơi và sống lưu vong tại Nhật đến khi mất.
D
DIỆP KIẾM ANH (1897 – 1986): người Quảng Đông. Năm 1917, học tại Vân Nam giảng võ đường. Sau khi tốt nghiệp, đi theo Tôn Trung Sơn. Năm 1924, tham gia sáng lập Trường Sĩ quan lục quân Hoàng Phố.
Tháng 7-1927, bí mật tham gia Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tháng 11-1927, cùng Trương Thái Lôi, Diệp Đĩnh lãnh đạo Quảng Châu khởi nghĩa, là Phó tổng chỉ huy Hồng quân công – nông. Từ năm 1928 đến năm 1930, học tập ở Liên Xô. Năm 1931, đến khu Xôviết Trung ương. Năm 1934, tham gia Vạn lý trường chinh.
Là Nguyên soái, từng giữ chức Phó chủ tịch Uỷ ban quân sự cách mạng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó chủ tịch và Chủ tịch nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa.
Là người bạn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông từng dẫn đầu đoàn đại biểu quân sự Trung Quốc sang thăm Việt Nam năm 1960.
E
ÊRENBUA, Ilia (1891-1967): nhà văn ưu tú, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng của Liên Xô, là đại biểu Xôviết tối cao Liên Xô khoá III và khoá IV. Trong thời kỳ cách mạng 1905-1907, I. Êrenbua tham gia tổ chức bí mật của Đảng Bônsơvích; năm 1908 bị bắt, bị chính quyền Nga hoàng kết án, buộc phải sang Pháp sống lưu vong. Từ năm 1915 đến năm 1917, làm phóng viên và viết ký sự về chiến tranh cho hai tờ báo Nga ở Mátxcơva và Pêtơrôgrát. Năm 1917, trở về nước Nga. Từ năm 1918 đến năm 1924, cho ra nhiều tập thơ và tiểu thuyết tỏ rõ thái độ phê phán và phủ định đối với xã hội châu Âu và chiến tranh đế quốc, đã được Lênin đánh giá tốt. Cuối những năm 20 và đầu những năm 30 của thế
kỷ XX, ông đã thâm nhập vào cuộc sống, miêu tả công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân Xôviết. Những năm 1936-1939, I. Êrenbua sống và hoạt động ở Tây Ban Nha. Các tác phẩm nổi tiếng như Pari sụp đổ (Giải thưởng quốc gia năm 1942), Bão táp (Giải thưởng quốc gia năm 1948), v.v. là những bức tranh tổng hợp của nhiều nước trong Chiến tranh thế giới thứ hai, ca ngợi tinh thần đấu tranh anh dũng của nhân dân Xôviết và khơi dậy lòng căm thù đối với chủ nghĩa phát xít. Êrenbua còn là một chiến sĩ hoà bình nổi tiếng thế giới được trao tặng giải thưởng Hoà bình quốc tế Lênin về công lao “củng cố hoà bình giữa các dân tộc”. Ông mất ở Mátxcơva năm 1967.
G
GIENKIN PH. C (Jenkin F.C.): Luật sư Ph. C. Gienkin tới Hồng Kông năm 1912. Ông bào chữa thành công nhiều vụ án nổi tiếng ở Hồng Kông.
Những năm 1930-1933, luật sư Ph. C. Gienkin được luật sư Ph. H. Lôdơbi uỷ nhiệm bào chữa cho Tống Văn Sơ (Nguyễn Ái Quốc) lúc bị bắt giam ở Hồng Kông trước toà án Hồng Kông. Tại phiên toà thứ 9, luật sư Ph. C. Gienkin thay mặt Nguyễn Ái Quốc tuyên bố kháng án lên Hội đồng Cơ mật Hoàng gia Anh. Ông sống giản dị và được nhiều đồng nghiệp, bầu bạn quý mến.
H
HÍTLE A. (Adolf Hitler) (1889-1945): nhà hoạt động chính trị người Đức gốc Áo, Quốc trưởng Đức trong thời kỳ nước Đức phát xít, tội phạm chiến tranh số một trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Sinh ra ở Braonao (Áo), trong một gia đình nông dân và viên chức tiểu tư sản (cha làm viên chức hải quan). Mồ côi cha từ năm 14 tuổi. Sau khi mẹ chết (12-1908), Hítle sống lang thang ở Viên (Áo). Tháng 8-1914 đi lính, hai lần bị thương và được tặng thưởng “Chữ thập sắt”. Tháng 9-1919, gia nhập một nhóm chính trị ở Muynkhen (Muchen, cg. Muyních). Năm 1921, thành lập Đảng Công nhân quốc gia Xã hội Đức (tức Đức Quốc xã). Cuốn sách Cuộc chiến đấu của tôi (1924) tuyên truyền tư tưởng chiến tranh, âm mưu lập lại trật tự mới, bá chủ thế giới. Hítle chủ mưu đốt toà nhà Quốc hội nhằm vu cho những người cộng sản là thủ phạm, để lấy cớ tiến hành cuộc khủng bố Đảng Cộng sản Đức và người Do Thái, thiết lập nền thống trị độc tài của Đảng Quốc xã. Sau khi Hinđenbua (P. von Hindenburg) chết (1934), Hítle được cử làm Quốc trưởng. Từ đó, Hítle ráo riết chuẩn bị cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai (9-1939 – 5-1945). Ngày 30-4-1945, quân đội Liên Xô đánh bại quân đội phát xít Đức, Hítle tự sát.
HOÀNG SÂM (1915 – 1968): Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, tên thật là Trần Văn Kỳ, quê ở huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình. Tham gia cách mạng từ năm 1927, năm 1942 là Tỉnh uỷ viên tỉnh Bắc Cạn. Năm 1944, khi Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân thành lập, được cử làm Trung đội trưởng và sau đó là Đại đội trưởng. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, là Uỷ viên Quân uỷ hội và được giao phụ trách Quân khu II. Những năm 1946-1950, là Khu trưởng Khu II, chỉ huy Mặt trận Tây Tiến. Từ năm 1951, là phái viên Bộ Quốc phòng trong các chiến dịch tại Đại đoàn 304, 312. Từ năm 1953, là Đại đoàn trưởng Đại đoàn 304, Chỉ huy trưởng Mặt trận Trung Lào, Đại đoàn trưởng Đại đoàn 320. Năm 1955, làm Phó Chủ tịch Uỷ ban Quân chính Hải Phòng. Trong kháng chiến chống Mỹ, là Tư lệnh quân khu Trị Thiên. Hy sinh năm 1968. Đại biểu Quốc hội khoá II, III. Được tặng Huân chương Quân công hạng Nhất và nhiều Huân chương cao quý khác, được truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh (1999).
HOÀNG VĂN THÁI (1915-1986): tên thật là Hoàng Văn Xiêm, nhà hoạt động cách mạng và quân sự Việt Nam, Đại tướng (1980), quê ở Tân An, Tiền Hải, Thái Bình. Tham gia cách mạng từ năm 1936, đảng viên Đảng Cộng sản (1936); tháng 9-1940, bị thực dân Pháp bắt giam một thời gian. Năm 1941, học quân sự ở Trung Quốc; tháng 12-1944, tham gia Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, phụ trách công tác tham mưu, trinh sát. Tháng 3 đến tháng 7-1945, chỉ huy cánh quân cướp chính quyền ở Chợ Đồn, phụ trách Trường Quân chính kháng Nhật ở Tân Trào. Tháng 8-1945, tham gia cướp chính quyền ở Lục An Châu và đưa quân về phối hợp cướp chính quyền ở Tuyên Quang. Tháng 10-1945, được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao tổ chức Bộ Tổng tham mưu. Tổng tham mưu trưởng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam (1945-1953). Trong kháng chiến chống Pháp, làm Tham mưu trưởng các chiến dịch lớn như Biên giới (1950), Điện Biên Phủ (1954). Năm 1958, Chủ nhiệm Tổng cục Quân huấn; năm 1960, kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban Thể dục Thể thao của Chính phủ. Trong Kháng chiến chống Mỹ, đã trải qua các chức vụ như: Tư lệnh kiêm Chính uỷ Quân khu V; năm 1966, Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam; những năm 1967-1973, Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam; Phó Bí thư Quân uỷ miền Nam, chỉ đạo, chỉ huy nhiều chiến dịch lớn ở Nam Bộ. Năm 1974, Thứ trưởng Quốc phòng, Phó Tổng tham mưu trưởng thứ nhất, Uỷ viên Thường vụ Đảng uỷ Quân sự Trung ương. Tác giả của một số tác phẩm chính trị và lịch sử quân sự có giá trị về lịch sử quân sự hiện đại. Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khoá II, IV, V; đại biểu Quốc hội khoá VII. Được tặng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, hạng Hai, hạng Ba; Huân chương Chiến thắng hạng Nhất và nhiều huân chương cao quý khác.
HOÀNG VĂN THỤ (1906-1944): người dân tộc Tày, quê ở huyện Văn Uyên (nay là huyện Văn Lãng), tỉnh Lạng Sơn. Tham gia cách mạng từ năm 1926. Bỏ học, sang Trung Quốc, gia nhập đội quân Bắc phạt, được phong trung uý.
Năm 1932, làm ở Sở tu giới (sửa chữa vũ khí) Long Châu. Tại đây, bắt liên lạc được với Lê Hồng Phong rồi trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương từ năm 1933.
Năm 1935, về nước, hoạt động tại Việt Bắc, làm Chủ bút báo Tranh đấu, cơ quan ngôn luận của Mặt trận phản đế Việt Bắc, viết báo Lao động, lãnh đạo phong trào Mặt trận dân chủ ở Bắc Kỳ.
Khi Xứ uỷ Bắc Kỳ lập lại, được bổ sung vào Xứ uỷ rồi vào Thường vụ, khi Lương Khánh Thiện bị bắt, được cử làm Bí thư Xứ uỷ (khoảng năm 1939).
Năm 1940, được cử vào Trung ương và tại Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (tháng 4-1940) được cử vào Ban Thường vụ Trung ương. Đầu năm 1941, được Trung ương cử ra chắp nối liên lạc với Quốc tế Cộng sản và bộ phận hải ngoại của Đảng. Tháng 1-1941, gặp Nguyễn Ái Quốc tại Tân Khư (Quảng Tây, Trung Quốc).
Sau Hội nghị Trung ương lần thứ 8, phụ trách công tác binh vận, là một trong những người sáng lập ra báo Cờ giải phóng.
Tháng 8-1943, bị thực dân Pháp bắt, và bị xử bắn ngày 24-5-1944, tại Bạch Mai.
HOÀNG QUỐC VIỆT (1905-1992): tên thật là Hạ Bá Cang, quê ở Đáp Cầu, Võ Giàng, Bắc Ninh. Tham gia cách mạng từ năm 1925 và gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên năm 1928. Năm 1930, là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng Cộng sản Đông Dương do Hội nghị hợp nhất cử ra. Năm 1937, là Thường vụ Xứ uỷ Bắc Kỳ. Từ tháng 5-1941, là Uỷ viên Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1945, là Uỷ viên Thường vụ Trung ương. Từ năm 1951 đến năm 1957, là Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam và là Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam. Năm 1960, là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Năm 1976, được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Năm 1977, được bầu làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Năm 1983, là Chủ tịch danh dự của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
HỒ HỌC LÃM: tên thật là Hồ Xuân Lan, hiệu là Hinh Sơn (1883-1943), quê ở Quỳnh Lưu, Nghệ An, là cháu Hồ Bá Ôn và là chú của Hồ Tùng Mậu. Ông Lãm có tinh thần yêu nước, xuất dương từ phong trào Đông Du, đã tốt nghiệp khoá II Học viện Quân sự Bảo Định, đã từng làm giáo viên Trường Quân sự Hoàng Phố, và làm việc trong quân đội Trung Quốc (Quốc dân Đảng). Ông là người sáng lập của Việt Nam độc lập đồng minh hội, tổ chức ở Nam Kinh năm 1936. Ông Lãm đã tiếp xúc với Đảng Cộng sản Đông Dương từ năm 1930. Có công lớn trong việc giúp đỡ các nhà cách mạng Việt Nam tại Trung Quốc. Ông mất năm 1943 tại Liễu Châu.
HỒ TÙNG MẬU (1896-1951): tên thật là Hồ Bá Cự, quê ở huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ lúc còn trẻ và đã nhiều năm hoạt động ở Thái Lan và Trung Quốc. Năm 1923, cùng Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn, Phạm Hồng Thái lập ra nhóm Tâm tâm xã.
Ông là một trong những người đầu tiên tham gia tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam – Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên – và đã tham dự các lớp huấn luyện cán bộ cách mạng ở Quảng Châu, do Nguyễn Ái Quốc tổ chức.
Ông còn là người tích cực liên hệ với Hội quốc tế Cứu tế đỏ và vận động luật sư Lôdơbi đấu tranh về mặt pháp lý đòi chính quyền Anh ở Hồng Kông phải trả tự do cho Nguyễn Ái Quốc khi Người bị chúng bắt giam trái phép tại Hồng Kông (1931). Bị trục xuất khỏi tô giới Anh, ông bị thực dân Pháp bắt tháng 6-1931 đưa về nước, kết án tử hình, sau giảm xuống chung thân. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông được Đảng và Nhà nước ta giao giữ nhiều chức vụ quan trọng như Chủ tịch Uỷ ban hành chính kháng chiến Liên khu V (1946), Tổng thanh tra Chính phủ (1947). Tại Đại hội lần thứ II của Đảng (1951), ông được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Hồ Tùng Mậu đã hy sinh trên đường đi công tác tại Thanh Hoá ngày 23-7-1951. Ông được Đảng và Nhà nước ta truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh.
L
LÊ QUẢNG BA (1914-1988): tên thật là Đàm Văn Mông, nhà hoạt động cách mạng và quân sự Việt Nam, Thiếu tướng, người dân tộc Tày, quê Cao Bằng. Tham gia cách mạng từ năm 1935. Đảng viên Đảng Cộng sản (1936), phụ trách đội quân du kích đầu tiên ở Cao Bằng (1941). Từ năm 1944 đến năm 1945, Uỷ viên quân sự liên tỉnh Cao – Bắc – Lạng, phái viên Kỳ bộ Việt Minh ở Cao – Bắc – Lạng. Trong kháng chiến chống Pháp, lần lượt giữ các chức vụ: Khu trưởng Khu Hà Nội, Khu trưởng Chiến khu 12 và Chỉ huy trưởng Chiến dịch Thập vạn đại sơn. Từ tháng 12-1949, Tư lệnh Liên khu Việt Bắc. Tháng 5-1951, Đại đoàn trưởng Đại đoàn 316, tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ. Từ năm 1960, làm Trưởng Ban Dân tộc Trung ương và đảm nhiệm nhiều trọng trách khác, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khoá III, đại biểu Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI. Được tặng Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều huân chương cao quý khác.
LÊ THIẾT HÙNG (1908-1986): tên thật là Lê Văn Nghiệm, Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam (1948), quê ở xã Hưng Thông, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1925). Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1930. Năm 1940, sau khi tốt nghiệp Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc), về nước hoạt động ở căn cứ địa cách mạng Cao – Bắc – Lạng, tổ chức và làm chính trị viên Đội vũ trang đặc biệt, Giám đốc Trường Quân sự Cao Bằng. Tháng 8-1945, chỉ huy lực lượng vũ trang giành chính quyền ở Thất Khê – Na Sầm – Đồng Đăng. Sau Cách mạng Tháng Tám, làm Khu trưởng Khu IV, Tổng chỉ huy tiếp phòng quân (3-1945); Tổng thanh tra quân đội, chỉ huy mặt trận Bắc Cạn – Tuyên Quang; Hiệu trưởng Trường Bổ túc cán bộ Quân đội trung cấp (1947 – 1950); Cục trưởng Cục Quân huấn; Hiệu trưởng Trường Lục quân Việt Nam (1950-1954); Tư lệnh pháo binh Việt Nam (1954-1963); Đại sứ Việt Nam tại Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (từ năm 1963); Phó Trưởng Ban Đối ngoại của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (5-1970). Được tặng Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều huân chương cao quý khác.
LÊ HỒNG PHONG (1902-1942): tên thật là Lê Huy Doãn, sinh ra trong một gia đình nông dân ở làng Đông Thôn, tổng Thông Lạng (nay là xóm 10, xã Hưng Thông), huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.
Năm 1924, Lê Hồng Phong tham gia nhóm Tâm tâm xã, tham gia lớp huấn luyện Quảng Châu do Nguyễn Ái Quốc phụ trách và gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Sau khi tốt nghiệp Trường Quân sự Hoàng Phố và Trường Hàng không Quảng Châu, được Chính phủ Quảng Châu và Nguyễn Ái Quốc giới thiệu đi học tại Liên Xô. Tại Liên Xô, Lê Hồng Phong đã học Trường Lý luận quân sự không quân Lêningrát, sau đó học Trường đào tạo phi công Bôrítxgơlépxcơ và từ cuối năm 1928 đến năm 1931 được chuyển đến học và tốt nghiệp Trường đại học Phương Đông (khoá 3 năm).
Cuối năm 1931, Lê Hồng Phong được về nước để tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng với nhiệm vụ trước mắt là khôi phục lại hệ thống tổ chức của Đảng, và đầu những năm 30 của thế kỷ XX, trên thực tế, đồng chí đã trở thành người đứng đầu Ban Chỉ huy ở ngoài.
Tháng 3-1935, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I Đảng Cộng sản Đông Dương họp ở Ma Cao (Trung Quốc) bầu Lê Hồng Phong làm Tổng Bí thư của Đảng.
Lê Hồng Phong là Trưởng đoàn đại biểu Đảng ta tham dự Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản tại Mátxcơva (1935) và được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản.
Tháng 7-1936, Lê Hồng Phong triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng họp tại Thượng Hải (Trung Quốc) để bàn về chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng, mở đầu thời kỳ mới của cách mạng Việt Nam, thời kỳ Mặt trận dân chủ (1936-1939). Đồng chí nhiều lần bị thực dân Pháp bắt và chế độ nhà tù hà khắc của chúng đã giết hại đồng chí ngày 5-9-1942 tại nhà tù Côn Đảo.
LÔDƠBI, Ph. H (Loseby, Francis Henry) (1883-1967): Luật sư Ph. H. Lôdơbi sinh tại Anh trong một gia đình có truyền thống về luật. Ông nội và bố đều là luật sư. Sau khi tốt nghiệp luật, Ph. H. Lôdơbi làm luật sư trong quân đội Anh. Năm 1926, ông sang Hồng Kông làm việc trong Văn phòng luật sư Rớtxơ và Co (RUSS & Co). Năm 1928, ông mua văn phòng này. Năm 1931, ông là cố vấn luật bào chữa thành công trong vụ án Tống Văn Sơ (Nguyễn Ái Quốc) – một vụ án nổi tiếng ở Hồng Kông.
Đầu năm 1960, theo lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, luật sư Ph. H. Lôdơbi cùng phu nhân và con gái đã sang thăm Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa gia đình luật sư thăm nhiều nơi, tặng quà, ảnh kỷ niệm cho gia đình luật sư. Năm 1967, biết tin luật sư Ph. H. Lôdơbi qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua cơ quan Đại diện thương mại Việt Nam tại Hồng Kông đã gửi vòng hoa viếng và căn dặn trên băng tang của vòng hoa chỉ ghi “Hồ Chí Minh”. Năm 1969, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, bà Lôdơbi và con gái đã gửi điện chia buồn.
LÝ TẾ THÂM: một lãnh tụ của Hội đồng cách mạng Quốc dân Đảng Trung Quốc. Sau tháng 10-1949, là Phó chủ tịch nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Chức vụ chính thức ở Quế Lâm là Chánh Văn phòng Quế Lâm của Hội đồng Quân sự Trung Quốc.
LÝ PHÚ XUÂN (1900-1975): người Trường Sa, Hồ Nam (Trung Quốc). Năm 1919, sang Pháp tham gia phong trào “Cần công kiệm học”. Năm 1922, gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Là một trong những người lãnh đạo Tổng bộ tổ chức của Đảng Cộng sản Trung Quốc ở châu Âu. Năm 1925, về nước. Là đại diện của Đảng trong Quân đoàn 2 Bắc phạt, kiêm Chủ nhiệm Ban chính trị, quyền Bí thư Tỉnh uỷ Giang Tây. Sau làm Trưởng ban Tuyên truyền và quyền Bí thư tỉnh Quảng Đông.
Đầu năm 1930, khi biết tin Nguyễn Ái Quốc đến Hồng Kông tổ chức Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí Lý Phú Xuân đã đến thăm Người và tỏ ý rất vui mừng đón nhận sự kiện quan trọng của cách mạng Việt Nam. Năm 1931, lên căn cứ địa cách mạng Trung ương, phụ trách Bí thư Tỉnh uỷ Giang Tây.
Trong thời kỳ chiến tranh kháng Nhật, làm Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương, Trưởng Ban Tài chính Kinh tế Trung ương, Chủ nhiệm Văn phòng Trung ương. Trong thời kỳ chiến tranh giải phóng, làm Phó Chủ tịch Chính phủ nhân dân Đông Bắc, Phó chính uỷ quân khu Đông Bắc.
Sau ngày thành lập nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, đồng chí đảm nhận nhiều chức vụ: Phó chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế Tài chính Trung ương, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nặng, Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Phó Tổng lý Quốc vụ viện. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 5 (khoá VI) Đảng Cộng sản Trung Quốc, được bầu làm Uỷ viên Trung ương dự khuyết. Từ Đại hội VII đến Đại hội X, là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ nhất (khoá VIII), là Uỷ viên Bộ Chính trị. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 5 (khoá VIII), là Bí thư Ban Bí thư Trung ương; Hội nghị Trung ương 11 (khoá VIII) đã bầu đồng chí làm Uỷ viên Thường trực Bộ Chính trị.
M
MÁCTY, Ăngđơrê (1886-1956): Nhà hoạt động chính trị nổi tiếng của Đảng Cộng sản Pháp, người đã tham gia tổ chức và lãnh đạo cuộc phản chiến của hải quân Pháp trên chiến hạm Phơrăngxơ (France), khi được điều đến Biển Đen tham gia cuộc chiến tranh can thiệp của 14 nước đế quốc nhằm chống lại cuộc Cách mạng Nga vào năm 1919; được mệnh danh là “Anh hùng Hắc Hải”, được hải quân Liên Xô lấy tên ông đặt cho một chiến hạm của mình.
Ông gia nhập Đảng Cộng sản năm 1928, sau đó trở thành một trong những nhà lãnh đạo nổi tiếng của Đảng Cộng sản Pháp lúc bấy giờ.
Tại Đại hội VII (1935) của Quốc tế Cộng sản, ông được bầu vào Ban Chấp hành và Ban Bí thư Quốc tế Cộng sản.
Năm 1952, ông bị đưa ra khỏi Đảng Cộng sản Pháp. Ông qua đời năm 1956, trước khi được khôi phục lại đảng tịch.
N
NGUYỄN LƯƠNG BẰNG (1904-1979): tức Sao Đỏ. Quê ở xã Thanh Tùng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Khi lớn lên, làm công nhân tàu biển. Năm 1925, được gặp Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Châu (Trung Quốc) và bắt đầu hoạt động cách mạng và được Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên cử về nước hoạt động. Năm 1928, từ Hải Phòng, được tổ chức phái đi công tác tại Hồng Kông, Quảng Châu, Thượng Hải. Ông gia nhập nhóm cộng sản đầu tiên của người Việt Nam ở Trung Quốc.
Năm 1931, bị mật thám Pháp bắt đưa về nước và bị kết án 20 năm tù khổ sai. Năm 1932, vượt ngục và tiếp tục hoạt động cách mạng. Năm 1933, lại bị thực dân Pháp bắt, bị kết án tù chung thân và đày đi Sơn La. Năm 1943, lại vượt ngục và trở về hoạt động cách mạng. Năm 1944, đồng chí được Đảng chỉ định làm Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phụ trách công tác tài chính và binh vận. Năm 1945, tại Hội nghị toàn quốc của Đảng, đồng chí được bầu làm Uỷ viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tại Đại hội quốc dân Tân Trào, được bầu vào Uỷ ban dân tộc giải phóng toàn quốc. Từ sau Cách mạng Tháng Tám, đồng chí liên tục là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và từ Đại hội III đến Đại hội IV, là Trưởng Ban Kiểm tra Trung ương Đảng.
Đồng chí lần lượt giữ các chức vụ: Tổng giám đốc Ngân hàng quốc gia Việt Nam; Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam tại Liên Xô; Tổng thanh tra của Chính phủ. Tại Quốc hội khoá III, kỳ họp thứ năm, đồng chí được bầu làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Sau khi nước nhà thống nhất, Quốc hội khoá VI cử đồng chí làm Phó Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
NGUYỄN THỊ MINH KHAI (1910 – 1941): còn có tên là Vịnh, con một viên chức xe lửa ở thành phố Vinh, Nghệ An. Năm 1927, Nguyễn Thị Minh Khai tham gia tổ chức Hội Hưng Nam (tiền thân của Tân Việt cách mạng Đảng). Đầu năm 1930, Nguyễn Thị Minh Khai được kết nạp vào Đông Dương Cộng sản Đảng. Năm 1930, Nguyễn Thị Minh Khai được cử sang công tác tại Văn phòng chi nhánh Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản (trụ sở tại Hồng Kông, Trung Quốc).
Tháng 7-1935, đồng chí là thành viên trong đoàn đại biểu do Đảng ta cử đi Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản tại Mátxcơva. Tại Đại hội, với biệt danh Phan Lan, đồng chí đã đọc bản tham luận về vai trò của phụ nữ Đông Dương trong cuộc đấu tranh cách mạng.
Về nước, đồng chí được cử vào Xứ uỷ Nam Kỳ và trực tiếp làm Bí thư Thành uỷ Sài Gòn – Chợ Lớn.
Ngày 30-7-1940, Nguyễn Thị Minh Khai bị thực dân Pháp bắt và giết hại vào ngày 26-8-1941.
NGUYỄN HẢI THẦN (1878-1959): tên thật là Vũ Hải Thu, quê ở Đại Từ, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông cũ. Năm 1905, theo Phan Bội Châu sang Trung Quốc, đã theo học các Trường võ bị Hoàng Phố, Hồ Nam, Thiều Quang, vốn là thành viên Việt Nam Quang phục hội sau là đảng viên Đại Việt, tham gia quân đội Quốc dân Đảng, được cử làm liên trưởng (tương đương như đại đội trưởng) kiêm tri huyện. Sau khi Phan Bội Châu bị bắt, đưa về nước, Nguyễn Hải Thần tự coi mình là người kế tục của Phan Bội Châu ở Quảng Châu.
Năm 1931, Nguyễn Hải Thần về Quảng Châu mở cửa hàng xem số tử vi. Sau đó được Tưởng tập hợp cùng Vũ Hồng Khanh và một số người có tư tưởng chống Cộng lập ra Việt Nam cách mạng đồng minh hội. Năm 1945, Nguyễn Hải Thần theo đoàn quân của Tiêu Văn về Việt Nam.
Để thực hiện sách lược tạm hoà hoãn với quân Tưởng nhằm tập trung lực lượng kháng chiến ở Nam Bộ, ngày 1-1-1946, Nguyễn Hải Thần được cử giữ chức Phó chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và sau đó được bổ sung vào Quốc hội không qua bầu cử và giữ chức Phó chủ tịch Chính phủ liên hiệp chính thức.
Sau khi quân Tưởng rút về Trung Quốc, Nguyễn Hải Thần bỏ trốn theo quân Tưởng về Nam Kinh. Năm 1947, Nguyễn Hải Thần lại về Quảng Châu tiếp tục mở cửa hàng tử vi và sống ở Trung Quốc cho đến khi qua đời (1959).
NGUYỄN TƯỜNG TAM (1905-1963): tức Nhất Linh, quê gốc ở Quảng Nam. Nguyễn Tường Tam là người cầm đầu nhóm Tự lực văn đoàn, Chủ nhiệm báo Phong hoá và Ngày nay. Năm 1940, đứng ra lập đảng Đại Việt Dân chính thân Nhật. Do sách lược của Chính phủ ta tạm thời hoà hoãn với Tưởng, tháng 3-1946, Nguyễn Tường Tam được bổ sung vào Quốc hội không thông qua bầu cử và giữ chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao trong Chính phủ Liên hiệp quốc dân. Được cử làm Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ đi dự Hội nghị Đà Lạt (16-4-1946) và thành viên trong đoàn đại biểu Chính phủ ta dự Hội nghị Phôngtennơblô. Nhưng Nguyễn Tường Tam đã bỏ nhiệm vụ. Sau đó theo Vũ Hồng Khanh đi Vân Nam (Trung Quốc) rồi tiếp tục làm tay sai cho thực dân Pháp và sau này là đế quốc Mỹ. Chết năm 1963 tại Sài Gòn.
P
PHẠM VĂN ĐỒNG (1906-2000): quê xã Đức Tây, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Tham gia phong trào học sinh, sinh viên để tang chí sĩ yêu nước Phan Chu Trinh và bị đuổi học. Năm 1926, dự lớp huấn luyện chính trị do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tổ chức tại Quảng Châu. Năm 1927, về hoạt động ở Nam Kỳ và được cử vào kỳ bộ Nam Kỳ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1929, bị bắt và bị kết án 10 năm tù, đày đi Côn Đảo. Năm 1936, được trả lại tự do, ra hoạt động công khai tại Hà Nội. Năm 1940-1941, hoạt động tại miền Nam Trung Quốc, sau đó trở về nước tham gia tổ chức xây dựng căn cứ địa cách mạng Cao – Bắc – Lạng.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, được cử vào Chính phủ lâm thời, làm Bộ trưởng Bộ Tài chính, được bầu vào Quốc hội liên tục từ khoá I đến khoá VII.
Từ năm 1947, được cử giữ nhiều trọng trách: Đại diện Chính phủ tại Nam Trung Bộ, Phó Thủ tướng Chính phủ (1949), rồi Thủ tướng Chính phủ (1955), sau đó là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đến năm 1987. Ông là Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ ta tham gia các Hội nghị Phôngtennơblô (1946), Hội nghị Giơnevơ (1954), Hội nghị Băngđung (1955) và nhiều Hội nghị quốc tế khác.
Ông là Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng (1947), Uỷ viên chính thức (1949). Từ năm 1951 đến năm 1986, ông liên tục được bầu là Uỷ viên Trung ương Đảng, Uỷ viên Bộ Chính trị. Từ năm 1987, là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
PHÙNG CHÍ KIÊN (1901-1941): tên thật là Nguyễn Vỹ, quê ở làng Mỹ Quang Thượng, xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Năm 1926, sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc tổ chức và gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, vào học Trường Quân sự Hoàng Phố, tham gia Quảng Châu Công xã (12-12-1927). Năm 1931, được Nguyễn Ái Quốc giới thiệu sang Liên Xô học Trường đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản. Năm 1934, được Quốc tế Cộng sản cử về hoạt động tại Hồng Kông, tham gia Ban Chỉ huy ở ngoài.
Năm 1935, dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Đảng tại Ma Cao (Trung Quốc), được bầu vào Ban Thường vụ Trung ương. Năm 1936, về nước hoạt động, chỉ đạo phong trào cách mạng ở Sài Gòn. Được ít lâu, Trung ương Đảng lại điều sang Trung Quốc thay Lê Hồng Phong về nước hoạt động, chỉ đạo công tác đảng ở ngoài nước. Ở Trung Quốc, đã được gặp Nguyễn Ái Quốc và cùng Người về nước hoạt động đầu năm 1941. Tháng 5-1941, tham dự Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 do Nguyễn Ái Quốc chủ trì và được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương. Sau Hội nghị Trung ương, đồng chí được cử làm chỉ huy Trung đội Cứu quốc quân thứ nhất. Hy sinh ngày 20-8-1941 trong lúc đang chỉ huy đơn vị chiến đấu tại Ngân Sơn, Bắc Cạn.
T
THÁI SƯỚNG (1900-1990): người Vĩnh Phong, huyện Tương, Hồ Nam (Trung Quốc). Tên thật là Hàm Hi (nữ). Năm 1919, sang Pháp tham gia phong trào “Cần công kiệm học”. Năm 1923, vào Đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm 1924, sang Liên Xô vào học Trường đại học Phương Đông. Năm 1925, về nước, liên tục đảm nhận nhiều chức vụ: Bí thư Uỷ ban Phụ nữ Khu uỷ Lưỡng Quảng (Quảng Đông – Quảng Tây), Trưởng ban phụ nữ tỉnh Giang Tây, Uỷ viên Uỷ ban Phụ nữ Trung ương Trung Quốc.
Năm 1930, biết tin Nguyễn Ái Quốc đến Hồng Kông chuẩn bị tổ chức Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí Thái Sướng đã đến thăm Người và tỏ ý rất vui mừng đón nhận sự kiện quan trọng của cách mạng Việt Nam.
Năm 1931, là Trưởng ban tổ chức Tỉnh uỷ Giang Tây, Trưởng ban phụ nữ và Chủ tịch Uỷ ban Giám sát công nông của Chính phủ Xôviết tỉnh Giang Tây. Sau đó là Tỉnh uỷ viên Thiểm Cam Ninh, Bộ trưởng Bộ Phụ nữ liên khu Thiểm Cam Ninh. Năm 1941, đảm trách Bí thư Uỷ ban Phụ nữ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm 1945, trúng cử vào Ban Chấp hành Hội liên hiệp Phụ nữ dân chủ thế giới. Năm 1948, làm Phó Chủ tịch tổ chức này. Sau khi thành lập nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, một thời gian dài đảm nhiệm công tác lãnh đạo Hội liên hiệp Phụ nữ toàn quốc, là Chủ tịch Hội các khoá I, II, III. Sau năm 1975, được bầu làm Phó Uỷ viên trưởng Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá IV và V. Năm 1978, được bầu làm Chủ tịch danh dự Hội liên hiệp Phụ nữ toàn quốc. Là đại biểu Quốc hội từ khoá I đến khoá V.
Tại các Đại hội của Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ VII, VIII, IX, X, XI, đều được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
THOREZ, Maurice (Tôrê, Môrixơ) (1900-1964): nhà hoạt động chính trị Pháp và phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Tháng 3-1919, tham gia Đảng Xã hội Pháp và tích cực hoạt động đấu tranh để thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Pháp (1924), Uỷ viên Bộ Chính trị và Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1925), Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Pháp (1930-1964), Uỷ viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản (1928-1943).
TÔN TỬ: là cách gọi suy tôn Tôn Vũ, nhà quân sự lớn sống ở cuối thế kỷ VI trước Công nguyên, tướng nước Ngô dưới triều vua Hạp Lư thời Xuân Thu (722-481 trước Công nguyên), tác giả Tôn Tử binh pháp, bộ binh thư sớm nhất trên thế giới, đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và được đánh giá cao.
TỐNG KHÁNH LINH (1894-1981): xuất thân trong một gia đình đại tư sản (họ Tống là một trong bốn đại gia tộc Tưởng, Tống, Khổng, Trần ở Trung Quốc). Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Wesley (Mỹ), là thư ký của Tôn Dật Tiên năm 1912, sau theo Tôn trốn sang Nhật và từ năm 1915 trở thành Tôn Trung Sơn phu nhân. Sau khi Tôn Trung Sơn mất, bà đã lãnh đạo cánh tả của Quốc dân Đảng, là nhà hoạt động xã hội, một nhà yêu nước và dân chủ nổi tiếng, đã giúp đỡ nhiều đảng viên cộng sản. Tác phẩm Phấn đấu cho nước Trung Hoa mới được giải thưởng Stalin năm 1952. Sau năm 1949, là Phó Chủ tịch nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. 15 ngày trước khi qua đời, bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà là một người bạn quen biết từ năm 1924 ở Quảng Châu, đã giúp Hồ Chí Minh nối được liên lạc với tổ chức vào năm 1938 ở Thượng Hải.
TRẦN PHÚ (1904 – 1931): Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam, quê ở huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
Năm 1925, tham gia Hội Phục Việt, tổ chức đầu tiên của Tân Việt cách mạng Đảng. Năm 1926, tham dự lớp huấn luyện cách mạng ở Quảng Châu (Trung Quốc) do Nguyễn Ái Quốc tổ chức, sau đó được cử sang học tại Trường đại học Phương Đông Liên Xô.
Tháng 4-1930, Trần Phú về nước, được bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
Khởi thảo Luận cương cách mạng tư sản dân quyền. Bản luận cương được Hội nghị Trung ương lần thứ nhất (10-1930) thông qua. Tại Hội nghị này, Trần Phú được bầu làm Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng.
Ngày 19-4-1931, Trần Phú bị thực dân Pháp bắt. Ở trong tù, do bị kẻ thù tra tấn hết sức dã man và bệnh nặng, sức yếu không qua khỏi, đồng chí đã hy sinh ngày 6-9-1931.
TRƯƠNG PHÁT KHUÊ (1896-1980): tự là Hướng Hoa, người Thuỷ Hưng, tỉnh Quảng Đông. Từ trẻ đã tham gia Đồng minh hội (tên đầy đủ là Trung Quốc cách mạng Đồng minh hội, thành lập năm 1905 tại Tôkyô, Nhật Bản; do ba tổ chức hợp thành: Trung Hưng hội, Hoa Hưng hội, Quang Phục hội, do Tôn Trung Sơn làm Hội trưởng). Tốt nghiệp Trường dự bị Sĩ quan lục quân 2. Đã từng làm Quân đoàn trưởng Quảng Đông. Sau năm 1925, nhậm chức Sư trưởng Sư 12 Quân đoàn 4 của Quân cách mạng quốc dân (tên gọi quân đội trong thời kỳ Quốc – Cộng hợp tác lần thứ nhất), rồi sau đó là Quân đoàn trưởng. Năm 1929, nhậm chức Tổng tư lệnh lộ quân thứ ba của Hội Đảng Cứu quốc Quân vùng Quế Lâm. Từ năm 1930, nhậm chức Chỉ huy trưởng lộ quân thứ nhất thuộc Phương diện quân thứ nhất của Quốc dân Đảng, Tổng chỉ huy tiền phương. Tiếp đó là Chủ nhiệm công tác bình định biên khu Tô Triết (Tô Châu và Triết Giang), Tổng tư lệnh tập đoàn quân thứ 8, Tổng tư lệnh Binh đoàn 2 Chiến khu
thứ 9, Tư lệnh Chiến khu 4 và 6 (Đệ tứ chiến khu và Đệ lục chiến khu). Từ cuối năm 1943, trong quá trình chỉ đạo cải tổ Việt Nam cách mạng đồng minh hội, Trung tướng – Tư lệnh Đệ tứ chiến khu Trương Phát Khuê thấy rõ sức mạnh của Việt Minh do Hồ Chí Minh là lãnh tụ, nên đã trả lại tự do cho Hồ Chí Minh và giao cho Người chuẩn bị kế hoạch triệu tập Hội nghị đại biểu các đoàn thể cách mạng hải ngoại của Việt Nam cách mạng đồng minh hội tại Bộ Tư lệnh Đệ tứ chiến khu từ ngày 25 đến ngày 28-3-1944. Tại Hội nghị này, Hồ Chí Minh được bầu vào Ban Chấp hành cách mạng Đồng minh hội.
Sau khi kết thúc cuộc kháng chiến, Trương Phát Khuê nhậm chức Chủ nhiệm hành chính tỉnh Quảng Đông. Năm 1949, quyền Tổng thống Lý Tôn Nhân cử ông làm Tổng tư lệnh lục quân. Tháng 7 – 1949, ông từ chức về Hồng Kông cư trú.
TRƯỜNG CHINH (1907-1988): tên thật là Đặng Xuân Khu, nhà hoạt động cách mạng, nhà thơ (bút danh Sóng Hồng), nhà báo, quê ở làng Hành Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1925, gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên năm 1927. Từ năm 1936 đến năm 1939, là Uỷ viên Xứ uỷ Bắc Kỳ, đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương trong Uỷ ban Mặt trận dân chủ Bắc Kỳ. Năm 1940, là quyền Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1941, là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương và năm 1951, được bầu lại là Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam. Năm 1958, là Phó thủ tướng Chính phủ kiêm Chủ tịch Uỷ ban Khoa học Nhà nước. Tại Đại hội III (1960), Đại hội IV (1976), Đại hội V (1982), được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, là Uỷ viên Bộ Chính trị. Từ năm 1960 đến năm 1981, là Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Năm 1981, được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ tháng 7-1986 đến trước Đại hội VI của Đảng, lần thứ ba ông được bầu vào cương vị Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.
TƯỞNG GIỚI THẠCH (1887-1975): người tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Từng học quân sự ở Nhật. Năm 1923, giữ chức Tham mưu trưởng Tổng hành dinh Chính phủ quân sự Quảng Đông. Được Tôn Trung Sơn cử đi khảo sát về quân sự ở Liên Xô, rồi về nước giữ chức Hiệu trưởng Trường Quân sự Hoàng Phố (1924). Sau khi Tôn Trung Sơn mất, Tưởng Giới Thạch giữ chức Chủ tịch Ban Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Quốc dân Đảng, Tổng tư lệnh quân đội Chính phủ Quốc dân. Năm 1943, tái nhiệm chức Chủ tịch Chính phủ Quốc dân Đảng. Năm 1948, làm Tổng thống. Tháng 1-1949, Tưởng Giới Thạch từ chức; cùng năm rút ra Đài Loan tiếp tục giữ chức Tổng tài Quốc dân Đảng và Tổng thống Trung Hoa dân quốc ở Đài Loan.
V
VAXILIÊVA, Vêra (1900-1959): sinh tại Vitépxkaia, đảng viên Đảng Cộng sản (b) Nga từ năm 1918. Tốt nghiệp Đại học “Giáo sư đỏ”, chuyên ngành Lịch sử phương Đông. Nhiều năm đồng chí làm công tác trong bộ máy của Đảng. Từ năm 1931, là chuyên viên của Quốc tế Cộng sản về Đông Dương, đồng thời làm giáo viên, chủ nhiệm một khoa của Trường đại học Phương Đông. Tháng 5-1935, Vêra Vaxiliêva đã viết thư gửi Ban Thư ký Phương Đông thuộc Quốc tế Cộng sản trình bày về những nguyện vọng của Nguyễn Ái Quốc muốn thiết lập mối liên lạc với Đảng và đã chuyển Người tới Trường Lênin tại Mátxcơva làm công tác nghiên cứu. Từ năm 1936, Vêra Vaxiliêva làm Trưởng phòng nghiên cứu Đông Dương với nhiệm vụ chính là xây dựng các kế hoạch nghiên cứu của Phòng, sưu tập lịch sử của Đảng Cộng sản Đông Dương, kiêm công tác giảng dạy cho nghiên cứu sinh và sinh viên về công tác đảng. Vêra Vaxiliêva đã có nhiều đóng góp quan trọng vào công tác của Quốc tế Cộng sản trong việc chỉ đạo và xây dựng Đảng Cộng sản Đông Dương. Đồng chí đã viết một số tác phẩm về Đông Dương; là một trong những người đã tham gia góp ý, soạn thảo Chương trình hành động của Đảng Cộng sản Đông Dươngnăm 1932.
Từ năm 1939 đến năm 1957, đồng chí công tác tại Viện Kinh tế thế giới, từ năm 1957 đến năm 1959 tại Viện Nghiên cứu Phương Đông thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô. Năm 1955, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Liên Xô, Vêra Vaxiliêva đã đến gặp Người. Sau đó, đồng chí được Người mời sang thăm Việt Nam, nhưng do bị ốm nên chuyến thăm không thành.
VAYĂNG CUTUYARIÊ, Pôn (1892-1937): nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà hoạt động chính trị-xã hội nổi tiếng của Đảng Cộng sản Pháp, sinh tại Pari trong một gia đình quý tộc. Sau khi tốt nghiệp đại học, ông bị đẩy ra mặt trận trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), nhờ đó ông nhận ra được bản chất tàn bạo của chiến tranh đế quốc và những nỗi đau khổ, chết chóc mà nhân dân lao động phải gánh chịu.
Chịu ảnh hưởng tư tưởng của Giăng Giôrét, Các Liếpnếch và Lênin, ông đã đến với chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Ông gia nhập Đảng Xã hội Pháp; tại Đại hội Tua năm 1920, ông đã cùng với Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế thứ ba và trở thành một trong những sáng lập viên của Đảng Cộng sản Pháp, nhiều năm được bầu làm Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Pháp, nghị sĩ Quốc hội, Chủ nhiệm báo L’ Humanité từ năm 1928 đến năm 1937.
Vayăng Cutuyariê là một người đồng chí, người bạn thân thiết của Nguyễn Ái Quốc, chính ông đã giới thiệu Nguyễn Ái Quốc vào Đảng Xã hội Pháp, giúp Nguyễn làm quen với các nhân vật nổi tiếng của Đảng lúc bấy giờ: Mácxen Casanh, Giăng Lôngghê, G. Môngmútxô và nhiều người khác. Năm 1933, cũng chính Vayăng Cutuyariê đã tích cực giúp đỡ Nguyễn Ái Quốc chắp nối được liên lạc với tổ chức sau khi thoát khỏi nhà ngục Hồng Kông để trở lại Liên Xô.
VÕ NGUYÊN GIÁP: sinh ngày 25-8-1911, tại làng An Xá, xã Lộc Thuỷ, huyện Lệ Ninh, tỉnh Quảng Bình. Sớm tham gia phong trào yêu nước và gia nhập Tân Việt cách mạng Đảng. Thời kỳ 1936-1939, hoạt động công khai tại Hà Nội. Năm 1940, sang Trung Quốc, được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, sau đó cùng Người trở về tham gia xây dựng căn cứ địa cách mạng ở Cao – Bắc – Lạng. Võ Nguyên Giáp là người được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tháng 12-1944, tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tại Hội nghị toàn quốc của Đảng năm 1945 ở Tân Trào, được bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông được cử giữ nhiều trọng trách trong bộ máy nhà nước: Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ tịch Quân sự uỷ viên hội, Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ ta tại Hội nghị trù bị Đà Lạt. Năm 1948, được phong quân hàm Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Ông được giao nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ huy quân đội qua nhiều chiến dịch từ Việt Bắc Thu Đông (1947) đến Biên giới (1950), Điện Biên Phủ (1954), và cuối cùng là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (1975).
Từ Đại hội II (1951) đến Đại hội IV (1976), liên tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị. Đại hội V (1982), được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ông là đại biểu Quốc hội liên tục từ khoá I đến khoá VII. Từ năm 1955, được cử làm Phó Thủ tướng Chính phủ, sau này là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng liên tục cho đến năm 1991. Hiện là Chủ tịch danh dự Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
VŨ HỒNG KHANH: tên thật là Vũ Văn Giản, người làng Thổ Tang, huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Năm 1928, Vũ Hồng Khanh tham gia Việt Nam Quốc dân Đảng. Sau vụ bạo động của Quốc dân Đảng ở Yên Bái (đầu năm 1930) thất bại, chạy sang Trung Quốc lợi dụng danh nghĩa Quốc dân Đảng để đầu cơ cách mạng. Năm 1945, theo chân quân đội Tưởng về nước. Cuối tháng 6-1946, theo chân quân đội Tưởng lại chạy sang Trung Quốc.
Năm 1949, khi cách mạng Trung Quốc thắng lợi, Vũ Hồng Khanh theo tàn quân của Bạch Sùng Hy chạy về Cao Bằng và ra làm cho Pháp. Năm 1954, Vũ Hồng Khanh chạy vào miền Nam. Năm 1979, Vũ Hồng Khanh được Chính phủ ta khoan hồng cho về quê Thổ Tang và mất tại đây năm 1993.
VƯƠNG MINH (1904-1974): tức Trần Thiệu Vũ, nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc, quê ở Kim Đại, tỉnh An Huy.
Tại Hội nghị Trung ương lần thứ hai (khoá VI) của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Vương Minh được bầu bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương, Uỷ viên Bộ Chính trị. Từ Hội nghị Trung ương lần thứ ba (9-1930), sau khi thanh toán đường lối tả khuynh của Lý Lập Tam, ông được cử đứng đầu Ban Chấp hành Trung ương.
Trong quá trình hoạt động, Vương Minh đã lẫn lộn “cách mạng dân chủ” và “cách mạng xã hội chủ nghĩa”. Về mặt chính trị, chủ trương đấu tranh với tất cả các lực lượng không phải cách mạng, phủ nhận việc liên hiệp với các giai cấp tiến bộ, giải quyết không đúng mối quan hệ giữa các cấp ở Trung Quốc. Về quân sự, lúc đầu ông thực hiện chủ nghĩa “mạo hiểm”, sau đó lại đổi thành chủ nghĩa “bảo thủ” và “tháo chạy”. Về tổ chức, ông theo chủ nghĩa bè phái. Đường lối đó đã thống trị trong Đảng Cộng sản Trung Quốc bốn năm, gây ra những tổn thất to lớn cho Đảng và sự nghiệp cách mạng Trung Quốc.
Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc ở Tuân Nghĩa (Quý Châu) tháng 1-1935 đã xác lập đường lối Mao Trạch Đông, xoá bỏ đường lối Vương Minh.
Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)