Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 1 (Năm 1923)

NĂM 1923

Tháng 1, đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc gửi báo cáo cho Ban biên tập báo Le Paria về tình hình tài chính của báo.

Người đã thống kê các nguồn thu từ ngày 1-4-1922 đến ngày 31-12-1922 bao gồm tiền quyên góp của các thành viên trong Ban biên tập, tiền ủng hộ báo, tiền bán báo dài hạn và bán lẻ, tổng cộng được 1.171 phrăng. Trong khi đó mọi khoản đã phải chi tới 2.845,40 phrăng.

Người đề nghị các đồng chí đã hứa quyên góp phải giữ đúng lời hứa. Ngoài ra cần tăng số trang, dành một trang “đăng quảng cáo để tờ báo có thể sống được”, “Xtêphani hứa rằng từ số 13 sẽ không yêu cầu các đồng chí đóng góp nữa”.

Cuối báo cáo Người kêu gọi:

“Hãy dũng cảm, có nghị lực và bắt tay vào việc”.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr. 178 – 180.

Tháng 1, đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc đã viết truyền đơn cổ động, hô hào mọi người mua báo Le Paria. Sau khi nêu rõ mục đích của tờ báo, truyền đơn viết:

“Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hoà bình, hạnh phúc, nói tóm lại là nền cộng hoà thế giới chân chính, xoá bỏ những biên giới tư bản chủ nghĩa cho đến nay chỉ là những vách tường dài ngăn cản những người lao động trên thế giới hiểu nhau và yêu thương nhau”.

Truyền đơn kêu gọi “Tất cả mọi người hãy đứng lên quanh lá cờ đỏ để chinh phục thế giới” và kết thúc bằng khẩu hiệu: “Lao động tất cả các nước, đoàn kết lại!”.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 1, tr. 461.

Đầu năm

Nguyễn Ái Quốc viết bài cổ động cho báo Việt Nam hồn mà Người có ý định xuất bản và lưu hành trong những người Việt Nam sinh sống ở Pháp.

Bài cổ động được viết theo kiểu văn vần, toàn văn
như sau:

“Ở trong thế giới, ống nói, tàu bay. Việc lạ tin hay, ngày ngày thường có. Nào ai muốn rõ, phải có nhật trình. Mình ở gia đình, mắt soi vạn lý. Á, Âu, Úc, Mỹ, rút lại một tờ. Con trẻ đàn bà, ai ai cũng biết.

Một người nước Việt, khách địa làm ăn. Chẳng đọc Hán văn, không xem Pháp tự. Việc đời hay dở, lành dữ mặc ai. Tuy có mắt tai, cũng không nghe thấy. Phận mình đã vậy, phận nước thế nào. Anh chị đồng bào, có hay chăng nhẽ! Cũng vì nghĩ thế, tôi muốn làm ra, một báo tiếng ta, cho đồng bào đọc. Chẳng nói khó nhọc, dám kể công trình. Mong mỏi người mình, mở mày mở mặt.

Báo này sẽ đặt, tên Việt Nam hồn. Mỗi tháng hai lần, một lần trăm bản 1). Xin anh em bạn, ai có muốn coi, cắt gửi cho tôi, cái toa mãi chỉ2).

            Mấy lời chung thuỷ, như bất tận ngôn

            Chúc Việt Nam hồn

            Vạn tuế, vạn vạn tuế.

Cắt gửi toa này cho ông Nguyễn Ái Quốc, nhà số 3 phố Mácsê đê Patơriácsơ, Pari, Quận 5.

Tên tôi là …

Ở số nhà …

Tỉnh …

Gửi lại 12 quan để mua báo Việt Nam hồn 6 tháng.

            –  Bài cổ động báo Việt Nam hồn. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 1, ngày 3

Nguyễn Ái Quốc nhận thư của Chi bộ Cộng sản số 12 vùng Xen mời họp tại Nhà Công đoàn, số 33 đường La Grănggiơ Ô Benlơ. Trong buổi họp, Mácxen Casanh và Môngmútxô đã phát biểu ý kiến.

         –  Báo cáo của mật thám ngày 23-1-1923.

            –  Thu Trang: Nguyễn Ái Quốc ở Pari (1917 – 1923), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.306.

Tháng 1, ngày 8

Nguyễn Ái Quốc đến gặp Phan Văn Trường tại một quán rượu trong ngõ Côngpoanh từ 16 giờ đến 17 giờ.

Nguyễn Ái Quốc đã lên án Chính phủ Poăngcarê chiếm cứ vùng Rua (Rhur), một việc làm mà “nhân dân vô sản trên thế giới không cho phép”.

Nguyễn còn nói thêm là cách thức phản động và đe doạ của Chủ tịch Hội đồng Pháp chỉ đem lại kết quả là gây phản ứng trong quần chúng thợ thuyền và có thể gây ra những hậu quả tai hại bất ngờ.

            –  Báo cáo của mật thám ngày 23-1-1923.

            –  Thu Trang: Nguyễn Ái Quốc ở Pari (1917 – 1923), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.306.

Tháng 1, ngày 9

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Vực thẳm thuộc địa, đăng trên báo L’Humanité.

Bằng những số liệu cụ thể, tác giả tố cáo tội ác của thực dân Pháp ở các nước thuộc địa đã phung phí những số tiền lớn mà người dân thuộc địa “đã phải đổ mồ hôi, nước mắt mới kiếm ra được” đem chi cho “hết những điên rồ này đến những sự điên rồ khác” của chúng, như vậy việc cho Khải Định sang du ngoạn bên Pháp, cho cuộc triển lãm thuộc địa ở Mácxây, cho việc đi lại của các “quan toàn quyền”, v.v.. Mà tất cả những khoản tiền lớn đó, bọn chúng đều “gõ vào dân bản xứ”.

         –  Báo L’Humanité, ngày 9-1-1923.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 1, tr. 130 – 132.

Tháng 1, ngày 12

Sau cuộc họp của Hội liên hiệp thuộc địa tại trụ sở báo Le Paria (số 3 phố Mácsê đê Patơriácsơ), Nguyễn Ái Quốc giữ Nguyễn Văn Ái và Trần Tiến Nam ở lại để bàn việc tổ chức Tết Nguyên đán Quý Hợi. Người giao nhiệm vụ chuẩn bị Tết cho hai người, với điều kiện là chi phí mỗi suất không quá 10 phrăng.

         –  Báo Quân đội nhân dân, ngày 25-1-1990.

Tháng 1, ngày 15

Hai bài viết của Nguyễn Ái Quốc: Những người bản xứ được ưa chuộng và Thư ngỏ gửi ông Lêông Ácsimbô (Léon Archimbaud)  3), đăng trên báo Le Paria, số 10.

Trong bài Những người bản xứ được ưa chuộng, tác giả giễu cợt:

Những người dân bản xứ nếu còn sống sót sau Đại chiến thế giới thứ nhất, đều “có thể tự hào rằng vì công lý và nền dân chủ của chủng tộc cao đẳng, họ không những đã hiến đời mình, xương máu mình, mà còn hiến cả niềm  tin của mình nữa”, thì bây giờ đây họ lại đang “hoặc là được thích ứng hoặc là được thích thú” cho những thị hiếu của các “cô nàng da trắng” hay “các bà đầm xinh đẹp” và “các cửa hàng thời trang lớn ở Pari… sẽ tung ra những kiểu vải thuộc địa và kiểu quần áo thuộc địa”, với đủ thứ tên như Thị Ba, v.v..

Bài báo nhại theo câu mở đầu bài Quốc ca Pháp: (“Hỡi những người con của Tổ quốc! Ngày vinh quang đã tới rồi!”) để kết thúc bài viết bằng lời kêu gọi mỉa mai: “Hỡi những người con của thuộc địa! Ngày vinh quang đã tới rồi”.

Trong Thư ngỏ gửi ông Lêông Ácsimbô, tác giả đã vạch trần và lên án những hành vi bất công, những chuyện xấu xa bỉ ổi, những việc làm khinh rẻ coi thường dân thuộc địa của bọn thực dân Pháp; và chất vấn Lêông Ácsimbô về những điều đã biện bạch cho những tội ác ấy khi ông ta đọc diễn văn tại Hạ nghị viện và khi viết bài đăng trên báo Le Rappel 4).

            –  Báo Le Paria, ngày 15-1-1923.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 1, tr. 133 – 138.

Tháng 1, ngày 18

Nguyễn Ái Quốc dự kỳ họp hằng tháng của tổ chức Hội liên hiệp thuộc địa. Dự họp có Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Văn Ái, Trần Tiến Nam, Toàn Hải (con trai của Nguyễn Văn Vĩnh). Ngoài ra còn có 10 người da đen, 2 người da trắng và 2 phụ nữ.

         –  Báo cáo của mật thám Đờ Vilie (De Villier).

            –  Lê Thị Kinh: Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, Nxb. Đà Nẵng, 2003, t. II, tr.312.

Tháng 1, ngày 19

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Sự liêm khiết thực dân, đăng trên báo La Vie Ouvriève.

Tác giả trích dẫn những tin tức đăng trên tờ Journal Officiel 5) chung quanh vụ ngành bưu điện Pháp đã gian lận, biển thủ những ngân phiếu của nhiều lính châu Phi gửi cho gia đình trong thời kỳ chiến tranh, để minh chứng cho sự “liêm khiết” thực dân.

Mượn lời của bản tin và cũng là câu hỏi của tác giả bài viết “ở trong một ngành nào đó, đôi khi có thể có một vài viên chức gian tham, song rất ít khi lại có cả một ngành suốt từ trên xuống dưới nhiễm phải bệnh ăn cắp đến như vậy; điều kỳ lạ hơn nữa là tại sao tất cả bọn ăn cắp ấy lại có thể hoành hành được trong khi mấy năm ròng mà vẫn được bình yên vô sự”.

             –  Báo La Vie Ouvrière, ngày 19-1-1923.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr. 139 – 140.

Tháng 2, ngày 1

Ba bài viết của Nguyễn Ái Quốc: Bộ sưu tập động vật, ký tên Nguyễn Ái Quốc; Y như nước mẹ, với bút danh N.A.Q.  Lòng ngay thẳng của Chính phủ thuộc địa, với bút danh N., cùng đăng trên báo Le Paria, số 11.

Bài báo bàn về Bộ sưu tập động vật nhân việc mấy “ông bà” người Pháp thành lập cái tổ chức “Hội bảo trợ các loài vật” mặc dù theo tác giả “hiện nay còn có biết bao nhiêu là con người cùng khổ đang đòi hỏi được người ta săn sóc đến họ một chút mà cũng chẳng được”.

Tác giả đã nêu lên một số con vật tượng trưng cho một số nước đế quốc và một số hạng người trong chính giới, qua đó vạch trần và phê phán tính chất phản động, tham nhũng, cướp bóc của bọn tư bản thực dân đế quốc, đồng thời nêu lên nỗi khổ của người dân thuộc địa đang rất cần được cứu trợ.

N.A.Q. trong bài Y như nước mẹ cho biết: Trên thế giới chỉ có thành phố Tuynlơ (Tulle) ở tây nam Thủ đô nước Pháp là nơi nổi tiếng vì những bức thư nặc danh. Vậy mà ở cái xứ thuộc địa Nam Kỳ này cũng lại xảy ra câu chuyện thư nặc danh y như ở nước Pháp: Một viên “hương cả” bị bắt giam oan uổng không phải vì đã lạm dụng thư nặc danh (như trường hợp ở Pháp), mà vì bị thư nặc danh tố cáo ông ta giết chết gia nhân của mình. Sự thật là gia nhân này chết vì bị bọn cướp bắn, và thân quyến của người bị nạn đã làm đơn minh oan cho ông “hương cả”, nhưng ông ta vẫn bị tống giam và hiện “vẫn còn nằm trong bóng tối để chờ ánh sáng của công lý”.

Để “chứng minh” cho lòng ngay thẳng của Chính phủ thuộc địa, trong bài Lòng ngay thẳng của Chính phủ thuộc địa, tác giả đã dẫn chứng: “Trong thời chiến tranh vinh quang, để có được những “tình nguyện quân”, người ta đã hứa trời hứa biển với dân bản xứ. Chiến tranh hết, những lời hứa trang trọng ấy cũng được trang trọng quên đi”. Cũng như trong vụ công trái vừa qua, dân bản xứ đã hưởng ứng “một cách tự nguyện với một tấm lòng sốt sắng và phấn khởi” vì “ngoài những biện pháp thúc ép, người ta còn hứa với những người mua, phẩm hàm, hoàn tiền dễ dàng, và hàng lô cái khác nữa”. Đến bây giờ, khi lòng trung thành của đám dân bản xứ đã được chứng tỏ, họ mới được vào xiếc, “phiếu” trở thành “phiệu” cả.

Bài viết kết thúc bằng lời tái bút: “Phủ Toàn quyền Đông Dương sắp được phép phát hành đợt hai công trái 90.000.000 phrăng. Khéo đấy, anh em ơi!”.

            –  Báo Le Paria, ngày 1-2-1923.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.141 – 148.

Tháng 2, ngày 2

Nguyễn Ái Quốc nhận được tờ báo La Vague  Le Libertaire.

Người đến số 6 phố Vila đê Gôbơlanh thăm Phan Văn Trường và nói chuyện hàng giờ liền với ông.

            –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 3

Nguyễn Ái Quốc nhận được thư của Bí thư Chi bộ Đảng Cộng sản Pháp Quận 17 mời tham gia biểu tình nhân ngày mất của Luidơ Misen6), sẽ tổ chức tại nghĩa địa Rơvaloa (Revalloir).

            –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 5

Ba bài viết của Nguyễn Ái Quốc: Chế độ thực dân; Từ vụ bê bối này đến vụ bê bối khác; Nạn thiếu trường học, đăng trên báo L’Humanité.

Trong bài Chế độ thực dân, tác giả vạch rõ việc báo chí và các diễn giả tư sản cùng lên tiếng phản đối sự khắc nghiệt mà người bản xứ phải chịu đựng, phản đối sự vô sỉ của bộ máy cai trị thuộc địa, phản đối tình trạng thiếu hẳn một chính sách thuộc địa. Theo tác giả, việc làm đó chính là vì quyền lợi của họ, vì nghĩ đến việc tăng cường hệ thống thuộc địa để khai thác lợi nhuận cao hơn, vì sợ những người bị bóc lột nổi dậy mà phải có những biện pháp xoa dịu để ngừa trước những hậu quả xấu do những thủ đoạn tàn nhẫn quá hung bạo. Tóm lại, vấn đề vẫn chỉ là buộc các thuộc địa phải làm nhiều hơn vì lợi nhuận tối đa của các công ty tư bản, chứ không phải là từ bỏ chủ nghĩa thực dân.

Lập trường của những người cộng sản về vấn đề này, tác giả viết: “Những người cộng sản đòi hỏi chấm dứt bóc lột thuộc địa, một bộ phận của bóc lột tư bản nói chung”. “Những người cộng sản đấu tranh cho sự giải phóng dân tộc và kinh tế của các thuộc địa, chứ không phải cho những biện pháp tạo điều kiện dễ dàng cho sự cướp bóc”. “Đối với những người cộng sản, vấn đề không phải là cải thiện hệ thống thuộc địa mà phải bãi bỏ nó”.

Trong bài Từ vụ bê bối này đến vụ bê bối khác cho biết: Khi chiếc ghế bị cáo mà viên quan cai trị “thanh liêm” Lanô vừa rời khỏi chưa kịp nguội thì đã có tin về vụ Buđinô, một “nhà khai hoá” điển hình, một quan cai trị chuyên ăn hối lộ mà việc làm của hắn “giống như một cuốn tiểu thuyết thực sự, trong đó, viên cựu công sứ đã bộc lộ trí tưởng tượng của mình với một sự vô sỉ không thể tưởng tượng nổi”. Tiếp đó là vụ Têa, giám đốc một hãng lớn của Pháp ở Hải Phòng đã câu kết với Giám đốc Sở đoan Xcala, ngoặc với chính quyền để bán thuốc phiện…

Tác giả mỉa mai: “Nếu tên đao phủ Đáclơ, Công sứ tỉnh Thái Nguyên, được cử làm Uỷ viên Hội đồng thành phố Sài Gòn, còn ông Bôđoanh, người đang được quan toà Oaren nóng lòng mong đợi, đã trở thành Quyền Toàn quyền Đông Dương, thì các ông Têa và Buđinô ít ra cũng nên được gắn bội tinh mới phải”.

Bài Nạn thiếu trường học đề cập đến tình trạng “Mỗi năm, cứ đến ngày khai trường, các bậc cha mẹ dù có đi gõ cửa khắp nơi, cầu xin mọi sự giúp đỡ, thậm chí xin nộp gấp đôi tiền ăn học mà họ vẫn không gửi được con cái đến trường. Và những đứa trẻ này, có đến hàng nghìn, bị đày vào cảnh ngu dốt chỉ vì không có đủ trường sở”.

Theo tác giả bài báo, nguyên nhân của tình hình trên không hẳn vì ngân sách không đủ cho Chính phủ xây thêm trường mới, mà vì “Trong số 12 triệu đồng của ngân sách Nam Kỳ, thì 10 triệu đồng đã tìm được cách lọt vào túi các công chức”.

Mặt khác, cũng theo tác giả, “sợ rằng thanh niên An Nam bị tiêm nhiễm chủ nghĩa bônsêvích, Chính phủ thuộc địa làm mọi cách có thể làm để ngăn cản họ sang học ở chính quốc”.

Kết luận, bài báo viết: “Làm cho u mê để thống trị”, đó là phương pháp mà nhà cầm quyền ở các thuộc địa của chúng ta ưa dùng nhất”.

            –  Báo L’Humanité, ngày 5-2-1923.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 1, tr.149 – 155.

Tháng 2, ngày 9

Lúc 15 giờ, Nguyễn Ái Quốc rời nhà đến toà soạn Le Journal du Peuple ở phố Đờ Grănggiơ Batơliê (De Grange Battelir). Sau đó đến toà soạn báo L’Humanité ở số 142 phố Môngmáctơrơ, nói chuyện khá lâu với Uylixơ Lơrisơ, rồi trở về phố Vila đê Gôbơlanh.

            –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 16

Nguyễn Ái Quốc dự buổi nói chuyện của Phan Văn Trường tại trụ sở Hội liên hiệp thuộc địa, số nhà 16 đường Xêveranh, về đề tài Lịch sử Việt Nam, có 15 người Việt Nam dự.

Ông đã ca ngợi nhiệt tâm và sự anh dũng của các vị lãnh đạo tiền bối, họ sẵn sàng chọn cái chết hơn là chấp nhận ách thống trị của người ngoại quốc. Ông cũng nhắc đến sự giúp đỡ của nước khác để người Việt Nam giữ gìn nền tự chủ.

Cuối cuộc họp, Nguyễn Ái Quốc đã giải thích về bổn phận của mỗi người dân thuộc địa là cần ủng hộ và tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản. Nguyễn Ái Quốc còn đề nghị mọi người tuyên truyền, giới thiệu, truyền bá tờ báo Le Paria cho nhiều người đọc.

            –  Thu Trang: Nguyễn Ái Quốc ở Pari (1917 – 1923), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 308 – 309.

Tháng 2, ngày 17

Nguyễn Ái Quốc cùng kiều bào ở Pháp đón Tết Nguyên đán Quý Hợi tại hiệu ăn Luynivécxitê, phố Pie Quiri (Pierre Curie). Buổi tiệc được tổ chức vừa để mừng Xuân mới, vừa để công bố sự hoạt động trở lại của Hội ái hữu 7).

            –  Báo Quân đội nhân dân, ngày 25-1-1990.

Tháng 2, ngày 19

Truyện ngắn của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Vi hành, đăng trên báo L’Humanité.

Tác giả đã tạo ra trong thiên truyện một tình huống nhầm lẫn rất độc đáo, rất hài hước để dựng lên hình ảnh hết sức mỉa mai và lố bịch về “đấng hoàng thượng Khải Định” trong chuyến “vi hành” sang Pháp, dưới con mắt của những người dân Pari đang háo hức những trò giải trí mới lạ.

            –  Báo L’Humanité, ngày 19-2-1923.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.156 – 160.

Tháng 2, ngày 21

Nguyễn Ái Quốc ăn tối cùng với Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền tại số 6 phố Vila đê Gôbơlanh.

20 giờ 45, cả ba người cùng đi đến trụ sở của Hội liên hiệp thuộc địa.

            –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 24

Từ 20 giờ 30, Nguyễn Ái Quốc họp Chi bộ Đảng Cộng sản Pháp Quận 17 tại số 100 phố Cácđinê.

            –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 27

Nguyễn Ái Quốc họp Chi bộ Đảng Cộng sản Pháp Quận 17 tại số 52 Balanhi.

         –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 2

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Viện hàn lâm thuộc địa, đăng trên báo Le Paria số 12 (tháng 3-1923) và đăng tiếp trên số 14 (tháng 5-1923).

Với lối chơi chữ hóm hỉnh và những mẩu đối thoại đầy tính châm biếm, tác giả mỉa mai cái gọi là “Viện hàn lâm khoa học thuộc địa” của Pháp mới được thành lập và những thành viên của nó gồm toàn những người “lương thiện”, “liêm khiết”, “yêu nước” mà theo tác giả “đúng là những người đại diện vừa cho quyền lợi thật sự của cử tri ở Quốc hội Pháp, vừa cho quyền lợi và nền văn hóa Pháp ở thuộc địa”.

            –  Báo Le Paria, số 12 (tháng 3-1923) và số 14 (tháng 5-1923).

            –  Nguyễn Ái Quốc: Những bài đăng trên báo Le Paria, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.58 – 64.

Tháng 3, ngày 3

Từ 18 giờ đến 20 giờ, Nguyễn Ái Quốc thăm Phan Văn Trường tại số 6 phố Vila đê Gôbơlanh. Sau đó, đi họp chi bộ ở số 33 phố La Grănggiơ Ô Benlơ.

         –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 3, ngày 9

Nguyễn Ái Quốc dự cuộc họp của Uỷ ban hành động chống chiến tranh và chủ nghĩa đế quốc của Quận 17 tổ chức tại nhà Công đoàn ở phố Lơgiăngđrơ.

Dự cuộc họp này còn có một số đoàn viên của Liên hiệp Công đoàn quận Xen như Phrômăngtanh (Fromentin), Xarốt (Sarotte), Phrađanh…

         –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 3, ngày 14

Nguyễn Ái Quốc chuyển chỗ ở từ số 9 ngõ Côngpoanh đến số 3 phố Mácsê đê Patơriácsơ, trụ sở của Hội liên hiệp thuộc địa và báo Le Paria.

Đồ đạc mang theo chỉ có một chiếc giường xếp.

            –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 3, ngày 16

Nguyễn Ái Quốc nhận được giấy mời họp Chi bộ Quận 17 Đảng Cộng sản Pháp và dự mít tinh ở nhà máy Rênô Vétsphaliêng (Rhéno Westphalien) vào thứ bảy 17-3.

Các diễn giả trong cuộc mít tinh có Bis (Bish), Đuyđiliơ (Dudilieux), P.Vayăng Cutuyariê, Lui Xeliê (Louis Sellier).

Cùng ngày, bài viết của Nguyễn Ái Quốc, nhan đề Những người làm công tổ chức lại, chống bóc lột của chủ nghĩa tư bản, đăng trên báoLa Vie Ouvrière, giới thiệu về bước phát triển mạnh mẽ của giai cấp công nhân Trung Quốc.

Tác giả nhận định: “Mặc dầu nền công nghiệp lớn và cơ khí lớn chưa được phát triển hoàn toàn ở Trung Quốc, những tập tục gia trưởng chưa mất hẳn, công nhân Trung Quốc bị hai tầng áp bức của tư bản nước ngoài và của bọn quân phiệt bản xứ, đã bắt đầu hoạt động mạnh. Có khoảng một triệu người lao động đã chịu ảnh hưởng (trực tiếp hoặc gián tiếp) của sự tuyên truyền nghiệp đoàn và cách mạng”.

Phong trào đấu tranh của công nhân Trung Quốc đã rất sôi nổi. Liên hiệp hải viên công hội Hồng Công với 30.000 hội viên đã phát động một cuộc đình công bốn tháng, được quần chúng ngoài công hội nhiệt liệt hưởng ứng, kết quả công nhân được tăng lương từ 20 đến 40%. Liên hiệp hội viên công hội Thượng Hải có 15.000 hội viên, tuyên bố đình công ba tuần, kết quả công nhân Thượng Hải được tăng lương 20%. Nhiều cuộc đấu tranh đã nổ ra trong ngành công nghiệp bông sợi đòi cải thiện điều kiện làm việc. Một cuộc đình công của thợ dệt Nam Kinh đã ngăn cản được việc độc quyền tơ sợi của thành phố rơi vào tay một tập đoàn kinh doanh Nhật. Nghiệp đoàn những người làm thuê cho chủ xe kéo nước ngoài đã đình công, đấu tranh bằng hình thức tổ chức một đoàn “ăn xin” đi diễu hành trong tô giới Pháp, để phản đối việc giảm lương theo “sáng kiến” của các chủ người Pháp, v.v.. Ngoài ra, công nhân Trung Quốc còn xuất bản những tờ báo riêng để nói lên tiếng nói của mình.

Tác giả kết luận: “Mặc dầu bọn tư bản nước ngoài và tư bản bản xứ cố hết sức dập tắt hoặc ngăn cản mọi phong trào giải phóng, nhưng những người công nhân Trung Quốc được sự giúp đỡ mạnh mẽ của những người trí thức tận tụy, đã tổ chức lại một cách nhanh chóng và hành động tốt đẹp”.

            –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            –  Báo La Vie Ouvrière, ngày 16-3-1923.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.167 – 168.

Tháng 3, ngày 18

Bài Cuộc bạo động ở Đahômây của Nguyễn Ái Quốc đăng trên báo L’Humanité.

Bài báo viết về cuộc bãi công phản đối nhà cầm quyền thuộc địa của những công nhân bản xứ làm việc trên các công trường xây dựng ở Poóctô Nôvô (Porto Novo), Thủ đô xứ Đahômây (Dahomey).

Nhận xét về sự kiện trên, tác giả viết:

“Trong các thuộc địa, công nhân đã bắt đầu hiểu thế nào là đấu tranh giai cấp. Cần phải làm thế nào để cho công nhân da đen và da vàng cũng hiểu rằng: kẻ thù duy nhất của họ nằm ngay trong bản thân cái chế độ này, chế độ đang dẫn đến một chế độ nô lệ tinh vi hơn, nặng nề hơn, và vô nhân đạo hơn chế độ trước đây. Và chỉ với sự giúp đỡ của những người anh em bị áp bức của mình ở các nước châu Âu họ mới sẽ có thể tự giải phóng được mình”.

            –  Báo L’Humanité, ngày 18-3-1923.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.169 – 170.

Tháng 3, ngày 24

Nguyễn Ái Quốc nhận được giấy mời họp các nhóm tuyên truyền của phố Batinhon (Batignolles) và Êpinét (Epinettes) thuộc Chi bộ Quận 17, sẽ họp vào buổi tối tại số nhà 100 phố Cácđinê.

         –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 3, ngày 30

Nguyễn Ái Quốc, Xarốt, Rexprét và Uylixơ Lơrisơ dự cuộc họp của Ban Nghiên cứu thuộc địa tại số 120 phố Laphayét, bàn về việc tuyên truyền chủ nghĩa xã hội tại các nước thuộc địa và vấn đề in tài liệu cho nhóm cách mạng ở Đahômây.

Cùng ngày, bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Khởi nghĩa ở Đahômây, đăng trên báo La Vie Ouvrière.

Dưới ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp, nhân dân Đahômây “phải chịu cái kiếp lầm than của người dân bản xứ, cái chế độ đã hạ con người xuống hàng con vật và làm điếm nhục cho cái gọi là thế giới văn minh. Dân bản xứ, không nhịn nhục được nữa, vùng lên. Thế là cuộc đàn áp đẫm máu được tiến hành”. Tình cảnh đó và chính sách khủng bố đẫm máu đó chẳng riêng gì đối với Đahômây mà ở cả Đông Dương và các thuộc địa khác của Pháp từng chịu chung số phận. Đủ thấy công cuộc khai hoá đó là “đẹp đẽ và dịu dàng” biết chừng nào.

Tác giả kết luận: “Đấy, đức nhân từ của công cuộc khai hoá như thế đấy”.

             –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            –  Báo La Vie Ouvrière, ngày 30-3-1923.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr. 172 – 173.

Tháng 4, đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc đăng quảng cáo nghề làm ảnh của mình trên báo La Vie Ouvrière. Nội dung như sau:

“Xin giới thiệu với độc giả và bè bạn:

Mọi loại ảnh cũ, hoặc trích trong báo chí, v.v. đều có thể chụp lại, làm thành như ảnh mới, ảnh kỹ thuật.

Giá từ 20 phrăng, do Nguyễn Ái Quốc số 3 đường Mácsê đê Patơriácsơ”.

         –  Thu Trang: Nguyễn Ái Quốc ở Pari (1917 – 1923), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 315.

Tháng 4, ngày 2

Nguyễn Ái Quốc họp với Phan Văn Trường, Nguyễn Văn Ái, Nguyễn Văn Hai, ông Lê Đức Long và ba người Việt Nam khác do ông Ái mời đến tại số 6 Vila đê Gôbơlanh để bàn vấn đề thành lập một hội, lấy tên là Hội Thân ái.

Cuộc họp đặt vấn đề cần nhanh chóng lập Hội Thân ái và trao đổi ý kiến về vấn đề chọn người làm chủ tịch.

Hội Thân ái được thành lập xong vào cuối tháng
4-1923, Chủ tịch hội là Trần Tiến Nam, Phó Chủ tịch là Lê Đức Long.

            –  Mật báo ngày 4-4-1923 của Đơ Viliê.

            –  Thu Trang: Nguyễn Ái Quốc ở Pari (1917 – 1923), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.310.

Tháng 4, ngày 4

Nguyễn Ái Quốc, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Văn Ái đã họp tại trụ sở Hội liên hiệp thuộc địa, số 3 đường Mácsê đê Patơriácsơ.

Nguyễn Ái Quốc đã trình bày về tình hình tài chính của tờ báo Le Paria bị hụt mất 1.500 phrăng, trong đó một phần là phải trả cho nhà in.

Nguyễn Ái Quốc nêu ý kiến rằng tờ báo phải sống bằng bất cứ giá nào, vì nếu tờ báo bị chết trong lúc này sẽ làm thiệt hại lớn đến công việc tuyên truyền, mà lúc này hơn lúc nào hết đang cần để nhân dân vô sản thế giới chống bọn đi bóc lột.

Nguyễn Ái Quốc còn đề nghị tổ chức một buổi quảng cáo cho tờ báo.

             –  Mật báo của Đơ Viliê.

              –  Thu Trang: Nguyễn Ái Quốc ở Pari (1917 – 1923), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.313.

Tháng 4, ngày 13

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Chủ nghĩa quân phiệt thực dân, đăng trên báo La Vie Ouvrière.

Bài báo nêu những dẫn chứng cụ thể về thủ đoạn bắt lính cực kỳ dã man ở thuộc địa, để khẳng định: “Sự tàn ác của bọn bắt lính ở các thuộc địa tinh vi tới mức thậm chí người Pháp ở chính quốc cũng không thể hình dung được một cái gì giống như thế”. Và, đó “là một trong những nguyên nhân thúc đẩy” những người dân bản xứ đứng lên bạo động, chống lại chủ nghĩa quân phiệt thực dân.

             –  Báo La Vie Ouvrière, ngày 13-4-1923.

              –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.174 – 175.

Tháng 4, ngày 16

Nguyễn Ái Quốc nhận được giấy mời dự Đại hội thường kỳ lần thứ 7 Hội những người bạn phương Đông của Pháp, sẽ họp vào 14 giờ 30 ngày 22-4-1923 tại Bảo tàng Ghimê (Guimet).

             –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 27

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Những kẻ tham tàn đăng trên báo La vie Ouvrière, chỉ trích ông Anbe Xarô vì ông Xarô nói rằng: “Chúng ta là những thực dân tốt và người bản xứ rất bằng lòng, rất bằng lòng chúng ta”.

Sau khi dẫn ra những cuộc khởi nghĩa ở Đông Dương, ở Angiêri và ở châu Úc, Nguyễn Ái Quốc đã công bố những con số mà Chính phủ Pháp đã phải chi phí cho các quân nhân của họ ở thuộc địa:

“183.859.000 phrăng để nuôi 1.617 sĩ quan, 12.277 lính châu Âu, 49.999 lính người bản xứ”.

            –  Báo La Vie Ouvrière, ngày 27-4-1923.

Tháng 4

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc, ký tên N., nhan đề Tinh hoa của xứ Đông Dương, đăng trên báo Le Paria, số 13.

Tác giả kể lại chuyện: Trong đám tang Toàn quyền Lông, một ông tiến sĩ luật học kiêm tiến sĩ khoa chính trị học và kinh tế học nọ, tòng sự tại Tòa biện lý Sài Gòn và một ông kỹ sư kia là Chủ tịch Hội những người Đông Dương đã thành tâm than khóc và tán dương địa vị, công lao, đức độ của Lông bằng những lời lẽ rất chi là mỹ miều.

Bài báo mỉa mai: “Từ sự việc trên, tôi đi đến kết luận rằng: Nếu quả thực tất cả những người An Nam đều cũng luồn cúi sát đất như hai đứa con này của guồng máy cai trị thì quả thực là dân này xứng đáng với cái số phận được cho”.

            –  Báo Le Paria, số 13, tháng 4-1923.

                –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr. 176 – 177.

Tháng 5, ngày 2

Nguyễn Ái Quốc nhận đơn xin gia nhập Hội liên hiệp thuộc địa của một người tên là Valêriuýt Tômát Ăngtoan (Valérius Thomas Antoine) làm việc ở Khách sạn Brơtanhơ (Bretagne) Quận 14, Pari.

            –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 10

Nguyễn Ái Quốc gửi thư cho cô Buđông (Boudhon) báo tin đã làm xong ảnh của cô. Anh tỏ ý muốn làm gấp đôi số ảnh và gửi lại một nửa “để kỷ niệm tình bạn của chúng ta”.

Anh gửi kèm theo lá thư hai tấm ảnh của Buđông và tờ Le Paria số 14.

Bức thư này bị trả lại vì “không có người nhận”.

            –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 15

Nguyễn Ái Quốc dự đám tang Bêrađanh (Béradin). Anh đã chết sau khi bị thương trong cuộc biểu tình ngày 1-5 tại phố La Grănggiơ Ô Belơ.

Tất cả các đảng viên cộng sản đều dự đám tang này.

            –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 23

Nguyễn Ái Quốc họp Chi bộ 5 quận Xen tại số nhà 11 phố Graxiơ (Gracieux).

            –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 28

Nguyễn Ái Quốc dự cuộc mít tinh kỷ niệm Công xã Pari tổ chức tại nghĩa trang Perơ Lasedơ, và đã phát truyền đơn cho những người trong Câu lạc bộ Phôbua.

            –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 5

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc, ký tên N., nhan đề Các vị thống trị của chúng ta, đăng trên báo Le Paria, số 14.

Nhân vụ Mácxian Méclanh (Martial Merlin), nguyên Toàn quyền Tây Phi thuộc Pháp sắp được cử sang làm Toàn quyền Đông Dương để “cai trị đất nước mà Ngài không biết gì về nó cả”, tác giả bài báo đã vạch trần tâm địa của “các vị thống trị của chúng ta”, nhất là tâm địa của Anbe Xarô trong việc bổ nhiệm viên “tân thái thú” này.

            –  Báo Le Paria, số 14, tháng 5-1923.

                –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.181 – 183.

Tháng 6, ngày 6

Nguyễn Ái Quốc gửi thư cho cô Buđông (Boudon). Bức thư bỏ ở thùng thư số 3 phố Mácsê đê Patơriácsơ, đã bị mật thám sao chép lại, nội dung như sau:

“Đồng chí thân mến,

Tôi đã đợi đến 16 giờ. Tôi buộc phải đi đến 19 giờ. Mong đồng chí hẹn cho biết ngày đồng chí quay lại đây. Muộn nhất là thứ bảy.

Mong đồng chí thứ lỗi. Gửi đồng chí lời chào trân trọng.

Nguyễn Ái Quốc”.

            –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 6, khoảng ngày 8

Nguyễn Ái Quốc báo cho một vài người bạn rằng anh sẽ cùng một số hội viên Câu lạc bộ Phôbua đi du lịch chừng tám ngày ở vùng Xavoa (Savoie) phía nam nước Pháp.

Anh còn nói chuyện với bà gác cổng nhà số 6 phố Vila đê Gôbơlanh rằng anh muốn đi Thụy Sĩ, nhưng không muốn hạ mình đi xin hộ chiếu và nếu có xin thì chắc cũng sẽ bị nhà đương cục từ chối.

            –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 6, sau ngày 11

Nguyễn Ái Quốc nhận được thư của cô Buđông, đề ngày 11-6-1923, gửi từ địa chỉ số 29 phố Đuy Tămplơ (Du Temple) báo tin đã nhận được thư của anh, đề nghị anh giữ lại những bức ảnh đã in. Cuối thư, cô viết:

“Nếu ông thấy cần thiết tặng ảnh cho tôi thì ngày mai mời ông đến tiệm ăn” 7).

            –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 6, trước ngày 13

Nguyễn Ái Quốc viết thư từ biệt gửi các bạn cùng hoạt động trước khi bí mật rời Pari.

Sau những dòng mở đầu:

“Các bạn thân mến,

“Bao lâu nay chúng ta làm việc với nhau.

Mặc dầu chúng ta là những người khác giống, khác nước, khác tôn giáo, chúng ta đã thân yêu nhau như
anh em.

“Chúng ta cùng chịu chung một nỗi đau khổ: sự bạo ngược của chế độ thực dân. Chúng ta đấu tranh vì một lý tưởng chung: giải phóng đồng bào chúng ta và giành độc lập cho Tổ quốc chúng ta”.

Nguyễn Ái Quốc nêu lên câu hỏi: “Chúng ta phải làm gì?” và trả lời: “Chúng ta không thể đặt vấn đề ấy một cách máy móc. Điều đó tuỳ hoàn cảnh của mỗi dân tộc chúng ta”.

Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập”.

Nói lên tình cảm với các đồng chí của mình, Nguyễn Ái Quốc viết:

“Tôi từ giã các bạn. Tôi xa các bạn, nhưng lòng tôi luôn luôn gần các bạn”.

Cuối thư, Nguyễn Ái Quốc đã dành những lời thắm thiết nhất cho hai cháu nhỏ: “Chú sẽ luôn luôn nhớ đến các cháu. Các cháu luôn luôn vẫn là cô bé Alítxơ và cậu bé Pôn thân yêu của chú…”.

“Các cháu nhỏ thân yêu của chú, chú hôn các cháu rất kêu. Các cháu hôn mẹ hộ chú”.

            –  Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, 1975, tr.53-54.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.191 – 193.

Tháng 6, ngày 13

Buổi tối, Nguyễn Ái Quốc bí mật rời Pari đi Liên Xô, đất nước mà Người mơ ước được đặt chân tới.

Để đi được trót lọt trong hoàn cảnh bị mật thám Pháp thường xuyên theo dõi, Nguyễn Ái Quốc đã mất một thời gian khá dài để chuẩn bị cho cuộc ra đi này. Người đã làm việc và sinh hoạt thật nền nếp: buổi sáng đi làm, buổi chiều đến thư viện, tối dự mít tinh, khuya về nhà ngủ, để mật thám Pháp quen với “quy luật hoạt động” của Nguyễn Ái Quốc.

Người cũng nắm vững “quy luật hoạt động” của chúng: chúng chỉ theo Người từ nhà trọ đến chỗ làm việc, đến chỗ đọc sách, đến nơi hội họp. Sau đó, tin chắc rằng Nguyễn Ái Quốc chẳng đi đâu mất, chúng ra về.

Tối ngày 13-6, Nguyễn Ái Quốc ung dung lên xe buýt đi tham gia một cuộc mít tinh ở ngoại ô Pari. Độ nửa giờ sau, Người lặng lẽ đi quanh về ga xe lửa. Một đồng chí tin cẩn đã chờ sẵn ở đó, trao cho Người một vé xe lửa hạng nhất (khách loại sang thường ít bị mật thám nghi ngờ) và một vali con.

Sau này, nhắc lại cuộc ra đi ấy, Bác Hồ nói: “Bác cố trấn tĩnh, nhưng đến khi xe lửa qua khỏi biên giới Pháp – Đức, trong ngực mới hết phập phồng”.

“Chắc chắn là bọn mật thám phụ trách gác Bác sẽ được quan thượng thư thuộc địa “thưởng” cho một mẻ nên thân! Mà chính quan thượng thư cũng tức mình đến “ung thư phát bối”” 8).

            –  T.Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, tr.18.

            –  Báo cáo của mật thám Đêdirê. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 6, ngày 16

Trên đất Đức, Nguyễn Ái Quốc được Cơ quan đặc mệnh toàn quyền Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết Liên bang Nga tại Béclin cấp cho giấy đi đường. Nguyên văn bằng tiếng Pháp, nội dung dịch như sau:

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết Liên bang Nga

Giấy đi đường số 1829

Người mang giấy: CHEN VANG

Sinh ngày: 15 tháng 2 năm 1895 tại Đông Dương.

Nghề nghiệp: thợ ảnh.

Đi đến: nước Nga.

Giấy này chỉ có giá trị trong khi đi đường.

Béclin, ngày 16 tháng 6 năm 1923

Đại diện đặc mệnh toàn quyền

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết Liên bang Nga tại Đức.

Đã ký:

Xtêphan Brátman Brađốpxki.

            –  Giấy đi đường số 1829. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 6, ngày 18

Nguyễn Ái Quốc, dưới bí danh Chen Vang, được Sở cảnh sát Béclin cấp giấy phép tạm trú và đi lại trên lãnh thổ Đức. Toàn văn giấy phép như sau:

GIẤY PHÉP SỐ 5316 THÁNG 6-1923

CÓ GIÁ TRỊ CHO MỘT CHUYẾN ĐI TỪ BÉCLIN QUA CÁC ĐỒN BIÊN PHÒNG

Tên: CHEN VANG

Đi đâu: ra nước ngoài

Mục đích: về nhà

Thời hạn: không thời hạn

Giấy này có giá trị từ ngày 18-6-1923 đến ngày 22-6-1923

Béclin, ngày 18-6-1923

Chánh cảnh sát

(Đã ký và đóng dấu)

SƠNÂYĐƠ

Phía cuối giấy phép có thêm dòng chữ mực đỏ:

“Tôi xác nhận đã chữa con số 22-6 thành 27-6. Sơnâyđơ” 9).

            –  Giấy phép số 5316. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 6, ngày 25

Nguyễn Ái Quốc dưới bí danh Chen Vang nhận giấy thị thực nhập cảnh số 361370.

Nguyên văn như sau:

THỊ THỰC NHẬP CẢNH SỐ 361370

Ông: CHEN VANG

Đến: Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết Liên bang Nga.

Qua trạm biên phòng: Thương cảng Pêtơrôgrát.

Mục đích chuyến đi: Công tác chuyên môn.

Thời gian ở Nga: 1 tháng

Béclin, ngày 25-6-1923

Ký thay

Đại diện đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết Liên bang Nga tại Đức (ký không rõ tên – B.T).

         –  Giấy thị thực nhập cảnh số 361370. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 6, sau ngày 25, trước ngày 30

Nhờ sự giúp đỡ của cơ quan đại diện Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết Liên bang Nga tại Béclin, Nguyễn Ái Quốc lên tàu Các Lípnếch (Karl Liebnek) của Liên Xô khởi hành từ cảng Hămbuốc (Hambourg) đi Pêtơrôgrát.

             –  Tàu Các Lípnếch và thuyền trưởng Antônốp. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

             –  Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.56.

Tháng 6, ngày 30

Nguyễn Ái Quốc đến cảng Pêtơrôgrát. Lần đầu tiên Người đặt chân lên mảnh đất của Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết.

Người đã xuất trình hộ chiếu mang tên Chen Vang để bộ đội biên phòng đóng dấu thị thực nhập cảnh.

            –  Hộ chiếu của Chen Vang có dấu thị thực nhập cảnh. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            –  Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, tr.56.

Tháng 6

Ba bài viết của Nguyễn Ái Quốc, đăng trên báo Le Paria, số 15.

Bài thứ nhất: Không phải chuyện đùa.

Nhân một “kiến nghị khôi hài” của các ông nghị thỉnh cầu Chính phủ Pháp cho tất cả các trường học các cấp phải dạy rằng “nước Pháp là một nước 100 triệu dân. Không hơn không kém một người”, bài báo bàn về những hậu quả sẽ như thế nào nếu quả thực kiến nghị ấy được chấp nhận đối với các quan chức trong Bộ Thuộc địa, các vị thống soái và những nhà chính trị, v.v.. Còn đối với nhân dân bản xứ, theo tác giả, chắc họ “cũng hết sức hoan nghênh nó” vì “Một khi chúng tôi là người Pháp, lập tức chúng tôi sẽ gửi một đoàn khai hoá đến khắp nước Pháp… chúng tôi sẽ làm lại ở đây tất cả những gì mà những kẻ nguyên là bề trên của chúng tôi đã làm trên đất nước chúng tôi, cho chúng tôi hoá ra là người Pháp”…

Bài thứ hai: Diễn đàn Đông Dương, tố cáo ông Bôđoanh (Baudoin) giả mạo giấy tờ, ông Đáclơ ăn hối lộ, ông Têa (Théard) tham nhũng, ông Buđinô (Boudineau) nhét túi số tiền lời của một chợ phiên, đòi đút lót khi cấp một giấy phép hay một loại giấy tờ gì đó… nhưng rốt cục, họ vẫn giữ chức quyền không ai làm rầy rà gì họ cả.

Tác giả kết luận:

“Bao giờ người ta cũng vì uy tín chủng tộc, mà xá tội cho lũ “vô lại khả ố”. Bao giờ người ta cũng nhân danh nhân dân Pháp mà bắt công lý làm đĩ bợm.

Văn minh là như thế đó!”.

Bài thứ ba: Trò Méclanh, ký bút danh N., vạch trần một trò hề mà Méclanh đã làm trước khi sang nhậm chức ở Đông Dương.

Bữa đó, “quan lớn” Mácxian Méclanh ra lệnh cho nhóm thanh niên Annammít được trợ cấp, đi theo Ngài đến Vườn Người chết ở Nôgiăng (Nojent) trên sông Mácnơ (Marne) để đọc một bài diễn văn do “quan lớn” cho dàn ý.

Tác giả mỉa mai: “Cố nhiên, bài diễn văn xào nấu trong các thứ nước cốt của quan lớn như vậy, thì hương vị của lòng trung thành và lòng ái mộ bất diệt đối với nước Pháp phải xông lên đến ngạt mũi…

Nếu người chết nói được, như bọn đồng cốt bảo thế, thì những hồn ma An Nam ở Nôgiăng sẽ lên tiếng: “Cảm ơn, ông Toàn quyền! Nhưng xin làm ơn… cút đi cho!”.

         –  Nguyễn Ái Quốc: Những bài đăng trên báo Le Paria, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.71, 74 – 75.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.184-190.

Tháng 7, đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc đến Mátxcơva sau một thời gian rất ngắn lưu lại Pêtơrôgrát.

         –  Thư gửi đồng chí Vôitinxki, ngày 11-9-1924. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            –  Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.57 – 58.

Tháng 7

Từ Mátxcơva, Nguyễn Ái Quốc viết thư cho Trung ương Đảng Cộng sản Pháp nhấn mạnh sự cần thiết phải thực hiện những Nghị quyết của Đại hội lần thứ II của Quốc tế về vấn đề thuộc địa, vì theo nhận xét của Người: “cho đến nay, những Nghị quyết ấy chỉ được dùng để tô điểm mặt giấy! Phân bộ Pháp, Phân bộ Anh và những phân bộ các nước thực dân khác đã làm gì cho các thuộc địa của chủ nghĩa tư bản nước họ? Những phân bộ ấy đã có một chính sách thuộc địa và một cương lĩnh rõ rệt về thuộc địa, chính xác và liên tục chưa? Những chiến sĩ của các bộ phận ấy có hiểu thuộc địa là gì và tầm quan trọng của thuộc địa là như thế nào không? Người ta có thể trả lời là không”.

Người phê bình báo L’Humanité đã bỏ mục Diễn đàn của các thuộc địa, và báo chí của đảng thì đưa tin rất chậm chạp về tình hình các nước thuộc địa.

Cuối thư, Người nêu cụ thể tám yêu cầu đối với Đảng Cộng sản Pháp.

Trong tháng, bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Tệ độc đoán ở Đông Dương – Người được bảo hộ và người đi bảo hộ, đăng trên báo Le Paria, số 16.

Tác giả thuật lại việc một “ông cẩm” (cảnh sát) ở Đà Lạt (Trung Kỳ) cậy quyền thế, bắt một nhà buôn gỗ phải nộp gỗ ván cho hắn. Nhà buôn này không nghe, đòi phải trả tiền. Viên cẩm bèn sai lính đến bắt nhà buôn. Nhà buôn sợ quá, mặc dù đang ốm cũng phải chạy trốn sang tỉnh khác. Một thầy thuốc người Âu thấy thế can thiệp, liền bị đuổi đi, bị đày lên Kon Tum, một nơi nước độc mà người Âu rất sợ. “Viên thầy thuốc đó đang đền cái đại tội thân người bản xứ của ông”. Còn nhà buôn người Việt Nam kia thì “bị ghi tên vào sổ những người bị tình nghi, liệt vào hạng “ghét Tây”, vào số những kẻ còn cần theo dõi”.

            –  Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Cục Lưu trữ Trung ương Đảng.

            –  Nguyễn Ái Quốc: Những bài đăng trên báo Le Paria, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.76-77.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.194 – 199.

Tháng 8

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Ách áp bức không từ một chủng tộc nào, đăng trên báo Le Paria, số 17.

Sau khi thuật lại đám tang của phái viên Xôviết bị bọn phát xít ám sát ở Lôdannơ (Lausanne – Thụy Sĩ) và đám tang một công nhân người Tuynidi bị cảnh sát giết ở Pari, bài báo nêu nhận xét:

“Tất cả những liệt sĩ của giai cấp công nhân, người ở Lôdannơ cũng như ở Pari, những người ở Havrơ cũng như những người ở Máctiních, đều là những nạn nhân của một kẻ giết người: chủ nghĩa tư bản quốc tế. Và hương hồn của những người bị hy sinh này luôn tìm thấy nguồn an ủi cao cả nhất ở lòng tin vào sự nghiệp giải phóng những anh em của họ bị áp bức – không phân biệt chủng tộc hay xứ sở”.

Bài báo kết luận:

“Sau những bài học đau đớn này, những người bị áp bức ở tất cả các nước hẳn phải hiểu đâu là những người anh em thật sự và đâu là kẻ thù của họ”.

         –  Nguyễn Ái Quốc: Những bài đăng trên báo Le Paria, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.78 – 79.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.200.

Tháng 9, ngày 7

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Đội quân chống cách mạng, đăng trên báo La Vie Ouvrière, số 226.

Bằng những số liệu cụ thể, bài báo vạch trần âm mưu của đế quốc Pháp là muốn “dựa vào thuộc địa để chống lại tất cả mọi phong trào giải phóng mà giai cấp công nhân Pháp định mưu đồ”. Âm mưu đó nguy hiểm ở chỗ do bị bọn sĩ quan người Pháp thúc đẩy, những người lính bản xứ, vì sự hiểu biết có hạn, có thể ngoan ngoãn và mù quáng làm những điều mà những người giác ngộ hơn sẽ từ chối. Vì thế, giai cấp công nhân Pháp có nhiệm vụ là phải hành động, phải kết tình anh em với lính bản xứ, phải làm cho binh lính bản xứ hiểu rằng “cả công nhân ở chính quốc lẫn binh lính ở thuộc địa, đều cùng bị chung một bọn chủ áp bức và bóc lột, do đó, họ đều là anh em cùng một giai cấp và khi tới lúc phải chiến đấu, thì cả hai bên đều phải cùng đánh bọn chủ chung của mình, chứ anh em không nên đánh lẫn nhau”.

             –  Báo La Vie Ouvrière, số 226, ngày 7-9-1923.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr. 201 – 202.

Tháng 9, ngày 21

Nguyễn Ái Quốc viết Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản, nêu tóm tắt tình hình Đông Dương về các mặt chính trị, kinh tế, xã hội; về chương trình hoạt động và sự hợp tác quốc tế.

Nhận định về công tác tuyên truyền và tổ chức trong công nhân và nông dân, báo cáo viết: “Tuyên truyền tốt trong nông dân và tổ chức tốt trong công nhân, nếu chúng ta làm tới được điều đó thì tương lai thuộc về chúng ta”.

Báo cáo về chương trình hoạt động, Nguyễn Ái Quốc dự kiến sẽ cho xuất bản một tờ báo nhỏ tiếng Việt; tập hợp những phần tử dân tộc cách mạng; cố gắng đưa những thanh niên người bản xứ đi Mátxcơva; xây dựng đường dây liên tục Mátxcơva – Đông Dương – Pari.

Về hợp tác quốc tế, ngoài những điều đã nêu trong thư gửi Quốc tế Cộng sản nhờ Ban phương Đông chuyển, Nguyễn Ái Quốc nhắc lại việc “Tổng công hội thống nhất, đã hứa làm hết sức mình để 2 hoặc 3 đồng chí người Pháp có thể sang Đông Dương để tổ chức công nhân”. Đồng thời đề nghị “Thanh niên cộng sản Pháp phải lợi dụng chủ nghĩa quân phiệt để đưa những thành viên chắc chắn nhất đăng lính vào đội quân thuộc địa để dắt dẫn sự tuyên truyền trong những người bản xứ”. Cũng theo Nguyễn Ái Quốc, “sự giúp đỡ của Thanh niên Cộng sản Trung Quốc là tuyệt đối cần thiết cho sự hoạt động ở Đông Dương”.

Người hy vọng: “Một cuộc thảo luận giữa những đại biểu của Đảng, của Tổng công hội thống nhất, của Thanh niên và của Ban phương Đông có thể ló ra nhiều ánh sáng khác”.

         –  Bút tích báo cáo. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

             –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr. 203 – 205.

Tháng 9, ngày 28

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Không phải chủ nghĩa quân phiệt đâu, nhưng, đăng trên báo L’Humanité.

Với những số liệu cụ thể, tác giả nêu rõ đạo quân chiếm đóng ở thuộc địa của Pháp ngày càng tăng, do đó ngân sách quân sự lớn gấp rất nhiều lần ngân sách giáo dục và y tế, v.v. để vạch trần, phê phán và chế nhạo luận điệu tuyên truyền bịp bợm của tên cáo già thực dân Clêmăngxô nói rằng “nước Pháp không phải là một nước quân phiệt, cũng không phải là một nước đế quốc chủ nghĩa”.

         –  Báo L’Humanité, ngày 28-9-1923.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr. 206 – 207.

Tháng 10, ngày 3

Nguyễn Ái Quốc gặp Tưởng Giới Thạch và Trương Thái Lôi tại Mátxcơva 10).

            –  Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh và Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1987, tr.10 (bản tiếng Trung Quốc).

Tháng 10, ngày 10

Nguyễn Ái Quốc dự Hội nghị lần thứ nhất Quốc tế Nông dân20 khai mạc tại Cung Anđrâyépxki trong Điện Kremli (Mátxcơva) với tư cách đại biểu chính thức của nông dân Đông Dương. Đại hội có 158 đại biểu, trong đó 122 là chính thức, gồm các lãnh tụ các Đảng Nông dân, các liên minh nông dân, đại biểu nông dân trong các nghị viện và chính phủ, tổng biên tập báo Nông dân.

Trong phiên họp đầu tiên này, sau lời chào của Calinin và phát biểu của Ganvan (Mêhicô) và Rưdơlô (Tiệp Khắc), Nguyễn Ái Quốc được Đoàn Chủ tịch mời phát biểu ý kiến. Từ diễn đàn, Người đã tố cáo tội ác của thực dân Pháp đối với các thuộc địa, nêu lên nỗi khổ cực của người nông dân và kêu gọi:

“Thưa các đồng chí, khi các đồng chí được tổ chức lại, các đồng chí cần phải nêu gương cho chúng tôi, giúp đỡ chúng tôi, dang rộng cánh tay anh em đón chúng tôi để chúng tôi cũng có thể bước vào gia đình vô sản quốc tế”.

            –  Biên bản tóm tắt Hội nghị lần thứ nhất Quốc tế Nông dân, Nxb. Nông thôn mới, Mátxcơva, 1924, tr.15 (bản tiếng Nga).

            –  Tạp chí Cộng sản (Việt Nam), số tháng 5-1986, tr. 41 – 45.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.208.

Tháng 10, ngày 13

Buổi chiều, Nguyễn Ái Quốc phát biểu lần thứ hai tại phiên họp thứ 7 của Hội nghị Quốc tế Nông dân.

Sau khi so sánh tình cảnh của người nông dân Nga với người nông dân Việt Nam nói riêng và người nông dân Đông Dương nói chung, vạch trần những thủ đoạn thực dân như dùng thuốc phiện, nhà thờ, rượu cồn, sưu cao thuế nặng, trắng trợn cướp đoạt ruộng đất, cho vay nặng lãi, chính sách ngu dân… để biến người nông dân thành nô lệ hai bàn tay trắng…, Nguyễn Ái Quốc kết luận: “Quốc tế của các đồng chí chỉ trở thành một quốc tế thật sự khi mà không những nông dân phương Tây, mà cả nông dân ở phương Đông, nhất là nông dân ở các thuộc địa là những người bị bóc lột và bị áp bức nhiều hơn các đồng chí, đều tham gia Quốc tế của các đồng chí”.

            –  Biên bản tóm tắt Hội nghị lần thứ nhất Quốc tế Nông dân, Nxb. Nông thôn mới, Mátxcơva, 1924, tr. 142 – 143 (bản tiếng Nga).

            –  Tạp chí Cộng sản (Việt Nam), số tháng 5-1986, tr.44.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, 1995, t.1, tr.209 -212.

Tháng 10, ngày 16

Nguyễn Ái Quốc được Hội nghị Quốc tế Nông dân bầu vào Hội đồng Quốc tế Nông dân, trở thành một trong số 52 uỷ viên của Hội đồng.

            –  Biên bản tóm tắt Hội nghị lần thứ nhất Quốc tế Nông dân, Nxb. Nông thôn mới, Mátxcơva, 1924, tr.142 – 143 (bản tiếng Nga).

            –  Tạp chí Cộng sản (Việt Nam), số tháng 5-1986, tr.44.

Tháng 10, ngày 17

Nguyễn Ái Quốc dự kỳ họp đầu tiên của Hội đồng Quốc tế Nông dân và được bầu vào Đoàn Chủ tịch của Hội đồng gồm 11 uỷ viên 11).

         –  Tạp chí Cộng sản (Việt Nam), số tháng 6-1986.

Tháng 11, ngày 29

Ba bài viết của Nguyễn Ái Quốc dưới các nhan đề Chính sách thực dân Anh; Phong trào công nhân; Nhật Bản, đăng trên báo La Vie Ouvrière.

Theo tác giả bài Chính sách thực dân Anh thì ngày nay chủ nghĩa tư bản Anh đã không thoả mãn với những đặc quyền đặc lợi mà họ giành được trước đây ở Trung Quốc nữa. “Họ muốn làm hơn thế nữa kia: họ muốn chiếm cả Trung Quốc làm thuộc địa”. Và họ đang tiến hành giai đoạn đầu tiên của chính sách thực dân đó. Bài báo đồng thời nêu rõ nhân dân Trung Quốc, không phân biệt chính kiến, đều chống lại cái chính sách thực dân trá hình này và mong rằng “Trước sự đe doạ của chủ nghĩa tư bản Anh, những người con của Trung Quốc sẽ biết đoàn kết với nhau để phản kháng thắng lợi”.

Bài Phong trào công nhân, nêu chín điểm chính trong các yêu sách của giai cấp vô sản có tổ chức của Trung Quốc và nhận định về phong trào công nhân Trung Quốc như sau:

“Chỉ sau khi Chiến tranh thế giới kết thúc, giai cấp vô sản Trung Quốc mới bắt đầu được tổ chức một cách chặt chẽ, song họ đã thu được một số thắng lợi to lớn trong các cuộc đình công. Mặc dù bị bọn quân phiệt đàn áp và bọn thống trị ngoại lai cản trở, các tổ chức của họ vẫn phát triển bình thường và có thể nói là nhanh nữa. Hiện nay những người thuỷ thủ, công nhân luyện kim, công nhân đường sắt là những lực lượng thật sự mà bọn tư bản buộc phải coi trọng”.

Bài Nhật Bản, viết về sự phát triển nhanh chóng của các tổ chức công nhân công nghiệp và công nhân nông nghiệp ở Nhật Bản, đồng thời cho biết bên cạnh phong trào vô sản đó, các phong trào có tính chất cách mạng cũng lan rộng, tiêu biểu đó là phong trào Eta – một phong trào của những người trong đẳng cấp thấp hèn nhất ở đế quốc Mặt trời mọc, do ảnh hưởng của những người vô sản đã giác ngộ, họ đã thức tỉnh và biết tổ chức nhau lại để đấu tranh, từ một “phong trào lúc đầu với tư cách là cuộc đấu tranh của lớp người riêng lẻ thì hiện nay đã trở thành cuộc đấu tranh giai cấp”.

        –  Báo La Vie Ourvière, ngày 9-11-1923.

           –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.213 – 221.

Tháng 12, ngày 4

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Tình hình ở Trung Quốc, đăng trên báo L’Humanité.

Sau khi nêu những nguyên nhân đã dẫn đến tình hình tồi tệ ở Trung Quốc lúc bấy giờ, tác giả viết: “rất may mắn là tiếng vang của cách mạng Nga hình như đã thức tỉnh thế hệ mới của Trung Quốc. Lực lượng trẻ mới ra đời có đầy nhiệt tình và sức sống. Điều này thể hiện đặc biệt rõ rệt nhất là Hội sinh viên cách mạng”.

Bài báo cũng giới thiệu hoạt động của tổ chức đó, đặc biệt là những nội dung cơ bản trong Cương lĩnh chính trị được thông qua tại Đại hội IV toàn Trung Quốc của Liên đoàn.

         –  Báo L’Humanité, ngày 4-12-1923.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr. 222 – 223.

Tháng 12, ngày 11

Nguyễn Ái Quốc chuyển đến ở tại Khách sạn Luých, phòng 176, tạm thời thuộc biên chế Ban phương Đông Quốc tế Cộng sản với khoản tiền phụ cấp hằng tháng từ 50 đến 60 rúp.

        –  Bản chụp Giấy chứng nhận do Trưởng Ban phương Đông ký. Tài liệu lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 12, trước ngày 23

Nguyễn Ái Quốc gặp nhà thơ Xôviết Ôxíp Manđenxtam khi đang hoạt động ở Liên Xô.

Thuật lại cuộc gặp gỡ đó, nhà thơ đã viết một bài báo nhan đề Thăm một chiến sĩ Quốc tế Cộng sản – Nguyễn Ái Quốc, đăng trên Tạp chíOgoniok số 39, ghi lại những lời của Nguyễn Ái Quốc nói về nhân dân Việt Nam dưới ách thống trị của đế quốc Pháp. Khi nêu lên tinh thần đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống chính sách thực dân của Pháp, Nguyễn Ái Quốc nói:

“Thật thú vị là chính quyền Pháp đã dạy cho những người nông dân chúng tôi biết những từ “bônsêvích” và “Lênin”. Chúng lùng bắt những người cộng sản trong dân chúng, trong khi chẳng có người cộng sản nào, hoàn toàn không có ngay cả trong ý niệm; và như vậy chính chúng đã tuyên truyền cho chủ nghĩa bônsơvích và Lênin”.

Nhà thơ cũng nói lên cảm tưởng của mình về Nguyễn Ái Quốc và dân tộc Việt Nam như sau:

“Từ Nguyễn Ái Quốc đã toả ra một thứ văn hoá, không phải văn hoá Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hoá tương lai”.

“Dân An Nam là một dân tộc giản dị và lịch thiệp. Qua phong thái thanh cao, trong giọng nói trầm ấm của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta như nghe thấy ngày mai như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới”.

            –  Ôxíp Manđenxtam: Thăm một chiến sĩ Quốc tế Cộng sản – Nguyễn Ái Quốc, Báo Ogoniok, số 39, ngày 23-12-1923. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.476 – 479.

Tháng 12

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Tình cảnh nông dân An Nam đăng trên báo Le Paria, số 21.

Mở đầu, bài báo viết: “Người An Nam nói chung, phải è cổ ra mà chịu những công ơn bảo hộ của nước Pháp. Người nông dân An Nam nói riêng, lại càng phải è cổ ra mà chịu sự bảo hộ ấy một cách thảm hại hơn: là người An Nam, họ bị áp bức; là người nông dân, họ bị người ta ăn cắp, cướp bóc, tước đoạt, làm phá sản”.

Tác giả vạch trần những thủ đoạn đê tiện của bọn thống trị để bóc lột nông dân, như phân loại ruộng đất để đánh thuế, tăng diện tích ruộng đất bằng cách thay đổi đơn vị đo đạc, cướp đoạt ruộng đất của làng này để cấp cho làng khác, lấy cớ khai khẩn thuộc địa để miễn thuế cho các chủ đồn điền, v.v..

Tác giả viết: “Phác qua như thế, chúng ta thấy rằng dưới chiêu bài dân chủ, đế quốc Pháp đã đem vào An Nam tất cả cái chế độ trung cổ đáng nguyền rủa…”.

            –  Nguyễn Ái Quốc: Những bài đăng trên báo Le Paria, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.83.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, t.1,  tr. 227-229.

Khoảng cuối năm

Nguyễn Ái Quốc vào học Trường đại học Cộng sản của những người lao động phương Đông21 (gọi tắt là Trường Đại học Phương Đông)12) tại Mátxcơva.

Người đến Liên Xô để tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản, nhưng vì V.I.Lênin đang ốm nặng, đại hội phải hoãn họp, nên đã tranh thủ vào học lớp ngắn hạn của trường.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr. 480-483.

            – T.Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Sự thật 

—————————

1) Nếu không đủ 100 người xem thì không thể làm được (chú thích của tác giả trong nguyên bản – B.T).

2) Toa mãi chỉ: phiếu đặt mua báo (B.T).

3) Lêông Ácsimbô – nghị sĩ quận Đrôme (Drôme), Uỷ viên Hội đồng thuộc địa tối cao, báo cáo viên về ngân sách thuộc địa (B.T).

4) Tờ báo do nhà đại văn hào Víchto Huygô sáng lập và xuất bản ở Pari từ năm 1869 (B.T).1) Journal Officiel (tên đầy đủ là Journal Officel de la République Française – Công báo của nước Cộng hoà Pháp), xuất bản từ tháng 9-1870 (B.T).

5) Luidơ Misen (1830 – 1905) – nhà hoạt động cách mạng Pháp, nhiều lần bị bắt, từng bị trục xuất khỏi Pháp vì những hoạt động tuyên truyền cách mạng.

6) Hội ái hữu do hai ông Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường tổ chức hơn 10 năm trước đó, đến năm 1914 hai ông bị bắt và hội cũng tan rã theo (B.T).

7) Sau bức thư viết ngày 10-5-1923 bị trả lại, Nguyễn Ái Quốc đã viết cho cô Buđông một bức thư khác. Thư này đã đến tay cô nên có thư phúc đáp trên.

8) Mật thám Đêdirê được giao nhiệm vụ theo dõi Nguyễn Ái Quốc đến ngày 15-6 báo cáo: “Nguyễn Ái Quốc đi đâu mất từ hôm 13, không mang theo hành lý gì cả”.

9) Trong những ngày cuối tháng 6-1923, công nhân cảng Hămbuốc (Hambourg) bãi công làm cho cảng tê liệt. Do đó Nguyễn Ái Quốc không lên đường như dự định được, phải xin gia hạn tạm trú.

10) Trong thời kỳ Quốc – Cộng hợp tác lần thứ nhất, vào tháng 8-1923, Quốc dân Đảng Trung Quốc cử một đoàn mang tên Đoàn đại biểu của bác sĩ Tôn Trung Sơn, do Tưởng Giới Thạch làm trưởng đoàn có Trương Thái Lôi cùng đi, sang Mátxcơva để nghiên cứu về chính trị, quân sự và đảng vụ, đồng thời bàn vấn đề Liên Xô viện trợ cho cách mạng Trung Quốc. Tác giả Hoàng Tranh đã trích dẫn bài của Mao Tư Thành trên tập san Nam Kinh, xuất bản năm 1937 nhan đề Ngài Tưởng Giới Thạch trước năm Dân quốc thứ 15 nói rõ: Ngày 3-10, Tưởng Giới Thạch “hội ngộ An Nam chí sĩ Nguyễn Ái Quốc” tại Mátxcơva.

11)  Đoàn Chủ tịch Hội đồng Quốc tế Nông dân gồm 11 người:

1. Xmiếcnốp (Nga Xôviết)

2. Đômban (Ba Lan)

3. Buốcghi (Đức)

4. Vadây (Pháp)

5. Rítlơ (Tiệp)

6. Gôrốp (Bungari)

7. Ghêrô (các nước Xcanđinavơ)

8. Cơrin (Mỹ)

9. Ganvan (Mêhicô)

10. K. Hayasi (Nhật Bản)

11. Nguyễn Ái Quốc (Đông Dương).

12) Trường Đại học Cộng sản của những người lao động phương Đông được thành lập ngày 21-4-1921 (theo Hồng Hà: Bác Hồ trên đất nước Lênin). Nhiệm vụ của trường là đào tạo cán bộ cách mạng cho các nước thuộc địa và phụ thuộc. Phần  lớn học viên là những người của các nước Cộng hoà Trung Á và Ngoại Cápcadơ. Sau đó, các nhà cách mạng các nước chủ yếu là từ châu Á, đến học ở trường này ngày một tăng.

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)