Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 1 (Từ năm 1911 đến năm 1919)

NĂM 1911

Khoảng tháng 2

Sau mấy tháng dạy học ở Trường Dục Thanh, Nguyễn Tất Thành rời trường đi Sài Gòn, thực hiện hoài bão từng nung nấu là tìm cách sang Pháp và các nước phương Tây để xem “họ làm như thế nào rồi trở về giúp đồng bào chúng ta” 1).

            – Tư liệu của cuộc Hội thảo khoa học Bác Hồ với Thuận Hải, Thuận Hải với Bác Hồ, tháng 5-1986. Tài liệu lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 6, trước ngày 2

Nguyễn Tất Thành bàn với một người bạn thân về chuyện đi ra nước ngoài. Anh nói:

“- Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta. Nhưng nếu đi một mình, thật ra cũng có điều mạo hiểm, ví như khi đau ốm… Anh muốn đi với tôi không?”.

Khi người bạn hỏi lấy đâu ra tiền mà đi, anh Thành vừa nói vừa giơ hai bàn tay:

“Đây, tiền đây… chúng ta sẽ làm việc. Chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi”.

            – Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr. 13-14.

Tháng 6, ngày 2

Nguyễn Tất Thành xin việc làm ở tàu Amiran Latusơ Tơrêvin (Amiral Latouche Tréville) 2), một tàu lớn vừa chở hàng vừa chở khách của hãng Năm Sao 3) đang chuẩn bị rời cảng Sài Gòn đi Mácxây (Marseille) Pháp.

            – Đơn của Nguyễn Tất Thành gửi Tổng thống Pháp, ngày 15-9-1911. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr. 14-15.

Tháng 6, ngày 3

Nguyễn Tất Thành bắt đầu làm việc ở tàu Amiran Latusơ Tơrêvin, nhận thẻ nhân viên của tàu với tên mới: Văn Ba.

            – Sổ lương của tàu Amiran Latusơ Tơrêvin. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 6, ngày 5

Nguyễn Tất Thành từ bến cảng Nhà Rồng, thành phố Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh) rời Tổ quốc đi sang Pháp.

Người thanh niên 21 tuổi ấy ra đi với mục đích gì? Để kiếm kế sinh nhai, hay để thoả mãn một ước mơ xa lạ nào đó của tuổi trẻ. Điều đó, hơn mười năm sau chính anh đã trả lời một nhà báo Nga 4) rằng:

“Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp TỰ DO, BÌNH ĐẲNG, BÁC ÁI. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những chữ ấy”.

Một lần khác, trả lời một nhà văn Mỹ 5), Người nói: “Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”.

            – Bài Thăm một chiến sĩ cộng sản – Nguyễn Ái Quốc, Báo Ogoniok, số 39, ngày 23-12-1923.

            – Báo Nhân dân, ngày 18-5-1965.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.476-479.

Tháng 6, sau ngày 5

Sau khi nhận việc ở tàu Amiran Latusơ Tơrêvin, Nguyễn Tất Thành viết thư về cho thầy giáo Hải, dạy tiếng Pháp ở Trường Dục Thanh báo tin mình đã đi ra nước ngoài 6).

            – Hồi ức của các ông: Nguyễn Quý Phầu, Nguyễn  Đăng Lầu, Từ Trường Phùng, học sinh Trường Dục Thanh năm học 1910 – 1911. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            – Tư liệu của cuộc Hội thảo khoa học Bác Hồ với Thuận Hải, Thuận Hải với Bác Hồ, tháng 5-1986. Tài liệu lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 6, ngày 8

Nguyễn Tất Thành ghé cảng Xingapo (Singapore) theo hành trình của tàu.

         – Sổ nhập cảng của tàu Amiran Latusơ Tơrêvin. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 6, ngày 14

Nguyễn Tất Thành ghé cảng Côlômbô (Colombo) của Xâylan (Ceylan) nay là Xơri Lanca, theo hành trình của tàu.

            – Sổ nhập cảng của tàu Amiran Latusơ Tơrêvin. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 6, ngày 30

Nguyễn Tất Thành ghé cảng Xaít (Sa’id) của Aicập theo hành trình của tàu.

            – Sổ nhập cảng của tàu Amiran Latusơ Tơrêvin. Bản chụp  lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 7, ngày 6

Sau một tháng vượt biển, tàu Amiran Latusơ Tơrêvin đến Mácxây, một hải cảng quan trọng của nước Pháp.

Lần đầu tiên Nguyễn Tất Thành đặt chân lên đất Pháp.

            – Sổ nhập cảng của tàu Amiran Latusơ Tơrêvin. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 7, sau ngày 6

Nguyễn Tất Thành sống những ngày đầu tiên trên đất Pháp, trong thời gian chờ tàu dỡ hàng.

Anh đã được chứng kiến ở nước Pháp cũng có những người nghèo như ở xứ sở của mình, nhận thấy người Pháp trên đất Pháp tốt và lịch sự hơn những tên thực dân Pháp ở Đông Dương.

Anh nói với người bạn điều anh nghĩ: “Tại sao người Pháp không “khai hoá” đồng bào của nước họ trước khi đi “khai hoá” chúng ta”.

            – Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr. 17-18.

Tháng 7, ngày 15

Nguyễn Tất Thành tới Lơ Havơrơ (Le Havre), một hải cảng ở miền Bắc nước Pháp, theo hành trình của tàu.

            – Sổ nhập cảng của tàu Amiran Latusơ Tơrêvin. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 8, ngày 26

Nguyễn Tất Thành đến Đoongkéc (Dunkerque), một hải cảng của Pháp trên bờ biển Măngsơ (Manche), theo hành trình của tàu.

            – Sổ nhập cảng của tàu Amiran Latusơ Tơrêvin. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 9, ngày 15

Nguyễn Tất Thành viết đơn gửi Tổng thống Pháp và Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp trình bày nguyện vọng muốn vào học Trường Thuộc địa7). Đơn được gửi từ Mácxây ngày 15-9-1911, có đoạn viết:

“Tôi vinh hạnh, xin một đặc ân với lòng nhân từ cao cả của ông được thu nhận vào học Trường Thuộc địa như một học sinh nội trú.

Hiện tại tôi là nhân viên của Hãng Sácgiơ Rêuyni (Chargeurs Réunis) 8) tàu Amiran Latusơ Tơrêvin”.

            – Đơn ngày 15-9-1911 của Nguyễn Tất Thành gửi Tổng thống Pháp. Bản chụp bút tích lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 10, trước ngày 31

Nguyễn Tất Thành vẫn làm việc trên tàu Đô đốc Amiran Latusơ Tơrêvin, theo hành trình con tàu trở về Sài Gòn.

         – Hồi ký của Từ Trường Phùng.

            – Sổ lĩnh lương tàu Đô đốc Amiran Latusơ Tơrêvin (bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh, ghi rõ nhận lương tại Sài Gòn, ngày 16-10-1911, chữ ký Văn Ba).

Tháng 10, ngày 31

Từ Sài Gòn Nguyễn Tất Thành gửi thư cho Khâm sứ Trung Kỳ nhờ chuyển số tiền 15 đồng cho cha là Nguyễn Sinh Huy. Số tiền trên đã được ông Nguyễn Sinh Huy ký nhận ngày 9-11-1911.

         – Hồ sơ của Chánh mật thám Trung Kỳ lập tại Huế, ngày 12-1-1923. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            – D. Hémery: Jeunesse d’un colonisé, genese d’un exil…, Approche – Asie No11 – 1992, p.132.

NĂM 1912

Trong năm

Nguyễn Tất Thành làm thuê cho một chiếc tàu của hãng Sácgiơ Rêuyni đi vòng quanh châu Phi, đã có dịp dừng lại ở những bến cảng của một số nước như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Angiêri, Tuynidi, Cônggô, Đahômây, Xênêgan, Rêuyniông… Đến đâu anh cũng thấy cảnh khổ cực của người lao động dưới sự áp bức bóc lột dã man, vô nhân đạo của bọn thống trị. Một trong những cảnh tượng ấy anh đã trông thấy ở Đaca (Dacar) như sau: “Đến Đaca, bể nổi sóng rất dữ. Tàu không thể vào bờ. Cũng không thể thả canô xuống vì sóng rất to. Để liên lạc với tàu, bọn Pháp trên bờ bắt những người da đen phải bơi ra chiếc tàu. Một, hai, ba, bốn người da đen nhảy xuống nước. Người này đến người kia, họ bị sóng bể cuốn đi”.

Cảnh đó làm cho Nguyễn Tất Thành hết sức đau xót, anh khóc. Hỏi tại sao, anh buồn rầu trả lời:

“Những người Pháp ở Pháp phần nhiều là tốt. Song những người Pháp thực dân rất hung ác và vô nhân đạo. Ở đâu chúng nó cũng thế. Ở ta, tôi cũng thấy những chuyện như thế xảy ra ở Phan Rang. Bọn Pháp cười sặc sụa trong khi đồng bào ta chết đuối vì chúng nó. Đối với bọn thực dân, tính mạng của người thuộc địa, da vàng hay da đen cũng không đáng một xu”.

            – Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr. 23 – 24.

Tháng 12, trước ngày 15

Nguyễn Tất Thành đến nước Mỹ 9).

            – Điện tín số 125.S của Chánh mật thám Sài Gòn. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Đêvít Đenlingiơ: Nói chuyện với Hồ Chủ tịch, Tạp chí Libération, tháng 10-1969.

Tháng 12, ngày 15

Từ Niu Oóc (New York), Nguyễn Tất Thành gửi thư cho Khâm sứ Trung Kỳ nhờ cho biết tình hình và địa chỉ của cha là Nguyễn Sinh Huy. Thư cho biết đã gửi cho ông Nguyễn Sinh Huy ba ngân phiếu nhưng mới chỉ nhận được một lần trả lời. Thư ký tên Paul Tất Thành, kèm theo địa chỉ hòm thư lưu: Số 1, đường Đô đốc Cuốcbê (Courbet), Lơ Havơrơ, Pháp.

            – Điện tín số 125.S của Chánh mật thám Sài Gòn. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – D. Hémery: Jeunesse d’un colonisé, genese d’un exil…, Approche – Asie No11 – 1992, p.132.

Tháng 12

Cùng với bức thư gửi cho phụ thân, Nguyễn Tất Thành còn gửi một bức thư cho ông Nguyễn Sinh Khiêm thời kỳ này đang giúp việc vặt ở Toà Khâm sứ Trung Kỳ. Nguyễn Tất Thành nhờ anh trai vận động xin cho Thành vào học Trường Thuộc địa tại Pari. Ông Khiêm đã gửi bức thư cho Toàn quyền Anbe Xarô (Albert Sarraut) và lá thư đã được chuyển tới Khâm sứ Trung Kỳ 10).

            – Thu Trang: Nguyễn Ái Quốc ở Pari (1917- 1923), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.427- 428.

Từ sau khi đến Niu Oóc

Nguyễn Tất Thành vừa đi làm thuê để kiếm sống vừa tìm hiểu đời sống của những người lao động Mỹ.

Năm 1966, trong một lần tiếp nhà báo Mỹ Đêvít Đenlingiơ (David Delingher), Bác Hồ có nói: “Khi trở về Mỹ ông có thể nói rằng tôi đã đi ở cho người ta ở Brúclin (Brooklin) với lương tháng 40 đôla, còn bây giờ làm Chủ tịch nước Việt Nam tôi được lĩnh 44 đôla”.

“… Tôi làm việc không đến nỗi vất vả lắm và dùng một số thời gian rảnh để học tập và đi thăm những khu vực trong thành phố”.

Người còn nhắc đến chuyện đi xe điện ngầm tới thăm khu Háclem và rất xúc động trước điều kiện sống của người da đen.

            – Đêvít Đenlingiơ: Nói chuyện với Hồ Chủ tịch, Tạp chí Libération, tháng 10- 1969.

Khoảng cuối năm 1912

Nguyễn Tất Thành gửi thư cho cụ Phan Châu Trinh. Toàn văn bức thư như sau:

Hy Mã Nghi Bá đại nhân,

Cách lâu không tiếp được tôn tín, không hay bác hành chỉ thế nào và sự thể bên ta thế nào? Và cháu muốn biết như cháu có thể gặp bác trước lúc bác đi 11) hay không, vì cháu rất cần một ít tôn hội, xin bác trả lời liền cho cháu biết vì chừng nào trong tuần lễ cháu sẽ xuống tàu “đi chưa biết đi đâu”. Kính chúc bác, M. Trường 12), em Dật 13) và các đồng bào yên hảo”.

C. Đ Tất Thành

Số 10 quảng trường Oocsat (Orchard Place)

Xaotamtơn – Anh (Southampton England)

         – Thu Trang: Nguyễn Ái Quốc ở Pari (1917 -1923), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 429.

NĂM 1913

Khoảng quý I

Nguyễn Tất Thành theo tàu rời Mỹ trở về Lơ Havơrơ, sau đó sang Anh.

Sau khi đến nước Anh, để sinh sống, anh nhận cào tuyết cho một trường học. Công việc quá vất vả mệt nhọc, anh đành phải bỏ việc. Anh tìm được một việc khác là đốt lò. Từ 5 giờ sáng, anh đã phải chui xuống hầm để nhóm lửa, suốt ngày đổ than, thay than trong lò, sống trong cảnh tranh tối tranh sáng, ngột ngạt đáng sợ. Nhưng cũng ngay từ những ngày đầu tiên đến nước Anh, Nguyễn Tất Thành bắt tay ngay vào việc học tiếng Anh. Hằng ngày, sáng sớm và buổi chiều, nghĩa là trước và sau giờ lao động để kiếm tiền sống, anh miệt mài tự học. Hằng tuần, vào ngày nghỉ, anh học tiếng Anh với một giáo sư Italia.

         – Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr. 25-28.

            – Thư Nguyễn Tất Thành gửi cụ Phan Châu Trinh. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Quý I

Từ Xuphơrarét (Anh), Nguyễn Tất Thành gửi cụ Phan Châu Trinh (lúc này đang sống ở Pháp) một bài thơ theo thể thất ngôn bát cú. Toàn văn như sau:

       “Xuphơrarét

       Chọc trời khuấy nước tiếng đùng đùng,

       Phải có kiên cường mới gọi hùng.

       Vai cứng long lanh ngoài ách tớ,

       Má đào nóng nảy giới quyền chồng.

       Lợi chung dầu sẽ mua về được,

       Kiếp mong chi nài sự có không.

       Ba hột đạn thầm hai tấc lưỡi,

       Sao cho ích giống mấy cam lòng.

       Hy Mã Nghi Bá đại nhân thấu

Cuồng điệt: Tất Thành

            – Bản chụp bút tích. Lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Khoảng giữa năm

Từ nước Anh, Nguyễn Tất Thành gửi thư cho cụ Phan Châu Trinh ở Pháp. Toàn văn bức thư như sau:

“Hy Mã Nghi Bá đại nhơn,

“Cháu kính chúc bác, em Dật và ông Trạng và các anh em ta ở Pari đều mạnh giỏi. Nay cháu đã tìm nơi để học tiếng.

“Mấy bốn tháng rưỡi nay thì chỉ làm với Tây, nói tiếng Tây luôn luôn. Tuy ở Anh nhưng chẳng khác gì ở Pháp và tháng ngày luống những chỉ lo làm việc khỏi đói, chớ chẳng học được bao nhiêu. Và cháu ước ao rằng bốn, năm tháng nữa, lúc gặp bác thì sẽ nói và hiểu được tiếng Anh nhiều nhiều.

“Bên ta có gì mới không? Và nếu bác dịch mấy hồi sau 14) xong, xin bác gửi cho cháu.

“Chuyến này bác sẽ đi nghỉ hè ở đâu?

Nay kính

Cuồng điệt: Nguyễn Tất Thành

            – Bút tích bức thư lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Khoảng cuối năm

Sau hai tuần nghỉ việc đốt lò vì bị cảm, Nguyễn Tất Thành đến làm thuê ở khách sạn Đraytơn Cơớc, đại lộ Đraytơn, khu Oét Ilinh (Drayton Court, Drayton Av., West Ealing), Tây Luân Đôn.

Một thời gian sau, Nguyễn Tất Thành lại chuyển sang làm phụ bếp ở khách sạn Cáclơtơn (Carlton), phố Hây Makét, một khách sạn sang nổi tiếng ở Luân Đôn. Anh làm việc dưới sự điều khiển của vua đầu bếp người Pháp Étcốpphie (Escophier).

Công việc của anh là dọn dẹp bát đĩa và đồ đạc. Anh làm rất cẩn thận. Đáng lẽ vứt thức ăn thừa vào một cái thùng thì anh lại để riêng những thức ăn còn sạch sẽ, có lúc là một phần tư con gà hoặc còn nguyên cả miếng bít tết để đưa lại cho nhà bếp.

Ông già Étcốpphie chú ý tới việc làm đó và hỏi anh:

– Tại sao anh không quẳng thức ăn thừa vào thùng như những người khác?

Tất Thành trả lời:

– Không nên vứt đi. Ông có thể cho người nghèo những thứ ấy.

Étcốpphie vừa nói vừa cười và có vẻ bằng lòng:

– Tạm thời anh hãy gác ý nghĩ cách mạng của anh lại một bên, và tôi sẽ dạy cho anh cách làm bếp, làm ngon và anh sẽ được nhiều tiền.

Từ đó, Tất Thành được ông vua bếp đưa vào chỗ làm bánh với số lương cao hơn.

Những người trong khách sạn cho đó là một việc lớn vì lần đầu tiên ông vua bếp làm như thế.

            – Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.21, 28, 29.

NĂM 1914

Tháng 8, đầu tháng

Từ nước Anh, Nguyễn Tất Thành gửi thư cho cụ Phan Châu Trinh ở Pháp. Bức thư có đoạn:

“Kính gửi Nghi Bá đại nhơn,

“Tiếng súng đang rền vang và thây người đang phủ trên đất. Năm cường quốc đã vào vòng chiến và chín nước đang đánh nhau. Cháu chợt nhớ đến thư cách đây mấy tháng đã viết về cơn giông bão này. Định mệnh sẽ dành cho chúng ta nhiều bất ngờ và không thể nói trước được ai sẽ là người thắng.

Các nước trung lập đang còn lưỡng lự và các nước tham chiến chưa rõ được ý họ. Tình hình như vậy, ai nhúng mũi vào thì chỉ có thể đứng về phía này hoặc phía kia. Hình như người Nhật có ý nhúng tay vào. Cháu nghĩ trong vòng ba, bốn tháng nữa, số phận châu Á sẽ thay đổi và thay đổi nhiều”.

Xin gửi lời thăm Nghi bá và em Dật. Xin trả lời cháu sớm về địa chỉ sau đây:

Nguyễn Tất Thành

Số 8 đường Xtêphen Tôttenham, Luân Đôn” 15).

         – Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

NĂM 1915

Tháng 4, ngày 16

Nguyễn Tất Thành ký tên Pôn Thành (Paul Thành), từ Anh viết thư cho Toàn quyền Đông Dương, qua lãnh sự Anh tại Sài Gòn, nhờ chuyển cho cha mình, nhưng bức thư không đến người nhận vì không tìm được địa chỉ.

            – Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

NĂM 1917

Khoảng cuối năm

Nguyễn Tất Thành từ Anh trở lại Pháp 16).

         – Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.30.

NĂM 1918

Trong năm

Nguyễn Tất Thành lần đầu tiên gặp Misen Decsini (Michele Zecchini) đảng viên Đảng Xã hội Italia, lúc đó là đại diện cho những nhà cách mạng thuộc địa bên cạnh Đảng Xã hội Pháp.

Theo lời kể của Misen Decsini, bấy giờ Nguyễn Tất Thành là đại diện được uỷ quyền của Hội Lao động hải ngoại đang náu mình trong một căn phòng cho thuê ở phố Saron (Charonne). Lúc đó các đồng chí trong Đảng Xã hội chưa tìm được cho anh giấy tờ hợp pháp. Misen Decsini đã thu xếp cho anh đến một nơi ở mới, Quận 13, tại nhà một người bạn Tuynidi tên là Mốcta (Moktar).

Lúc này chiến tranh chưa kết thúc, các cuộc vây ráp, bắt bớ lính thuộc địa đào ngũ xảy ra liên miên. Để đảm bảo an toàn anh phải hạn chế đi lại, không được để hàng xóm phát hiện. Khi Mốcta không có nhà, anh không được thắp đèn và đốt lửa. Chiều chiều Mốcta đi làm về, nấu bữa tối cho Tất Thành, để dành lại một phần cho ngày hôm sau, chăm sóc Tất Thành như một người anh em.

            – Michele Zecchini: Le caligraphe (Người viết chữ đẹp). Tạp chí Planète-action, tháng 3-1970, tr.26.

Trong năm

Nguyễn Tất Thành đến đảo Rêuyniông (Réunion) thăm cựu hoàng đế Thành Thái đang bị an trí tại đây. Tất Thành đã để lại những ấn tượng tốt đẹp cho vua Thành Thái. Nhớ lại việc này, năm 1947, khi trả lời các vị trong hoàng tộc, vua Thành Thái đã nói:

“Tôi già rồi, tôi không có ý định trở lại cuộc đời chính trị. Vả lại cụ Hồ Chí Minh đã là người tiêu biểu của phong trào cách mạng của dân tộc Việt Nam. Đối với tôi, cụ Hồ Chí Minh không phải là người xa lạ. Ngay từ năm 1918 khi trốn ra ngoại quốc, cụ Hồ Chí Minh đã đến gặp tôi ở đảo Rêuyniông. Từ hồi ấy tôi đã thấy cụ Hồ Chí Minh là một nhà ái quốc nhiệt thành và sáng suốt”.

            – Báo Cứu quốc, số 748, ra ngày 6-11-1947.

NĂM 1919

Khoảng đầu năm

Nguyễn Ái Quốc vào Đảng Xã hội Pháp.

Khi được hỏi vì sao vào Đảng, Nguyễn Ái Quốc trả lời:

“Chỉ vì đây là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực nước tôi, là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách mạng Pháp: TỰ DO, BÌNH ĐẲNG, BÁC ÁI”.

Vào Đảng Xã hội, Nguyễn Ái Quốc có dịp gần gũi và hoạt động với các nhà hoạt động chính trị và văn hoá nổi tiếng của Pháp như Mácxen Casanh (Marcel Cachin), Pôn Vayăng Cutuyriê (Paul Vaillant Couturier), Lêông Bơlum (Léon Blum), Raymông Lơphevrơ (Raymond Lefèbvre), Giăng Lôngghê (Jean Longuet), Gaxtông Môngmútxô (Gaston Monmousseau), v.v..

            – Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.39.

Tháng 6, từ ngày 7 đến ngày 11

Nguyễn Tất Thành ở tại số nhà 10 phố Xtốckhôm (Stokholm).

            – Hồ sơ của mật thám Pháp. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 6, từ ngày 12

Nguyễn Tất Thành ở tại nhà số 56 phố Mơxiơ Lơ Pranhxơ (Monsieur le Prince).

         – Hồ sơ của mật thám Pháp. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 6, ngày 18

Thay mặt Hội Những người yêu nước Việt Nam tại Pháp, Nguyễn Tất Thành gửi đến Hội nghị Vécxây (Versailles)2 bản yêu sách của nhân dân An Nam. Dưới bản yêu sách Người ký tên: NGUYỄN ÁI QUỐC. Bản yêu sách gồm tám điểm:

1. Tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị;

2. Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu; xoá bỏ hoàn toàn các toà án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam;

3. Tự do báo chí và tự do ngôn luận;

4. Tự do lập hội và hội họp;

5. Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương;

6. Tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ;

7. Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật;

8. Đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra, tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ.

Cùng ngày, Nguyễn Tất Thành, ký tên là Nguyễn Ái Quốc gửi thư cho Tổng thống Mỹ. Toàn văn bức thư như sau:

Pari, ngày 18-6-1919

Kính gửi Ngài Tổng thống Cộng hoà Hợp chúng quốc, Đại biểu ở Hội nghị Hoà bình.

Thưa Ngài,

Nhân dịp chiến thắng của Đồng minh, chúng tôi xin mạn phép gửi đến Ngài, kèm theo đây bản ghi các yêu sách của nhân dân An Nam. Tin tưởng ở độ lượng cao cả của Ngài, chúng tôi mong Ngài ủng hộ trước những người có thẩm quyền.

Xin Ngài vui lòng nhận sự biểu thị lòng kính trọng sâu sắc của chúng tôi.

Thay mặt nhóm những người yêu nước An Nam

Nguyễn Ái Quốc

56, phố Mơxiơ Lơ Pranhxơ, Pari 17).

Cùng ngày, bức thư với nội dung trên còn gửi đến Đoàn đại biểu Nicaragoa 18).

            – Báo L’Humanité, ngày 18-6-1919.

            – Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.32.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.435-436, 437.

Tháng 6

Bản Yêu sách của nhân dân An Nam được Nguyễn Ái Quốc phổ thành thơ lục bát để phổ biến rộng rãi trong Việt kiều ở Pháp, có đoạn như sau:

            … Lòng thành tỏ nỗi sút sa,

            Dám xin đại quốc soi qua chút nào.

            Một xin tha kẻ đồng bào

            Vì chưng chính trị mắc vào tù giam.

            Hai xin phép luật sửa sang,

            Người Tây người Việt hai phương cùng đồng.

            Nhưng toà đặc biệt bất công,

            Dám xin bỏ dứt rộng dung dân lành.

            Ba xin rộng phép học hành,

            Mở mang kỹ nghệ, lập thành công thương.

            Bốn xin được phép hội hàng,

            Năm xin nghĩ ngợi nói bàn tự do.

            Sáu xin được phép lịch du,

            Bốn phương mặc sức, năm châu mặc tình.

            Bảy xin hiến pháp ban hành,

            Trăm điều phải có thần linh pháp quyền.

            Tám xin được cử nghị viên,

            Qua Tây thay mặt giữ quyền thổ dân.

            Tám điều cặn tỏ xa gần,

            Chứng nhờ vạn quốc công dân xét tình.

            – Tư liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại (CAOM) tại Ai xen Provence (Pháp), Hồ sơ SPCE/364.

Tháng 7

Nguyễn Ái Quốc chuyển đến nhà số 6 phố Vila đê Gôbơlanh (Villa des Gobelins), Quận 13, Pari, ở chung với Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh.

Trong tháng, Nguyễn Ái Quốc viết bài Tâm địa thực dân nhân đọc trên tờ Thông tin thuộc địa, một bài báo khá dài của “một chàng thực dân đã muốn dùng bản Yêu sách của nhân dân An Nam để mở một cuộc tấn công gián tiếp vào chính sách của ông Anbe Xarô, Toàn quyền Đông Dương”.

Bằng giọng văn châm biếm sắc sảo, cách lập luận chặt chẽ, đanh thép, tác giả đi sâu phân tích một số đoạn trong bài báo của “chàng thực dân” đó để vạch trần cái tâm địa của bọn thực dân cho dù nó đã được che đậy một cách khéo léo và “chỉ cho ông thấy rằng cái chân lý theo tâm địa của ông, cái chân lý theo quan niệm của bọn thực dân thù ghét dân bản xứ, không có gì là giống với chân lý của chúng tôi…, cũng như không có gì là giống với chân lý theo quan niệm của những người Pháp tốt ở nước Pháp cả”.

            – Báo cáo của mật thám Đơvedơ. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.1 – 5.

            – Tư liệu của Cục Lưu trữ Pháp. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            – Báo cáo (từ ngày 18 đến ngày 28-11-1919) của Pie Ghétxđơ (Pierre Guesde), Tổng thanh tra kiểm soát người Đông Dương tại Pháp. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 8, ngày 2

Bài viết Vấn đề dân bản xứ của Nguyễn Ái Quốc, đăng trên báo L’ Humanité3.

Bài báo nhắc lại những nội dung chính của bản Yêu sách của nhân dân An Nam gửi Hội nghị Vécxây hồi tháng 6-1919, khẳng định nguyện vọng đó của nhân dân Việt Nam là chính đáng; đồng thời tố cáo, lên án chính sách cai trị, những thủ đoạn đàn áp, cướp bóc của thực dân Pháp ở Đông Dương và tin tưởng rằng nhân dân tiến bộ Pháp sẽ đồng tình, ủng hộ cuộc đấu tranh vì tự do và công lý của nhân dân Việt Nam.

            – Báo L’Humanité, ngày 2-8-1919.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.6 – 10.

Tháng 8, ngày 3

Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Giăng Ajanbe (Jean Ajalbert) 19). Toàn văn bức thư như sau:

Pari, ngày 3-8-1919

Thưa Ngài,

Được biết Ngài quan tâm đến đất nước chúng tôi, tôi xin mạn phép gửi đến Ngài:

1. Bản Yêu sách của nhân dân An Nam;

2. Một bài của báo L’Humanité viết về các yêu sách đó;

3. Một bài báo của Courrier Colonial cũng viết về đề tài đó;

4. Bản tin của Liên minh nhân quyền có đăng bài điều trần của cụ Phan Châu Trinh.

5. Địa chỉ của Ngài là do Giáo sư Gabrien Xailơ (Gabriel Seailles) vui lòng cung cấp cho chúng tôi.

Nguyễn Ái Quốc

6 Villa des Gobelins

         – Tư liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại (CAOM) tại Aix en Provence, Hồ sơ SPCE/364.

Tháng 9, trước ngày 2

Nguyễn Ái Quốc tiếp một phóng viên Mỹ – nhờ sự giới thiệu của Đại diện của Chính phủ lâm thời Triều Tiên tại Pari là ông Kim Tchong Wen và Kim Koei Tche, phóng viên Mỹ đã có dịp phỏng vấn Nguyễn Ái Quốc.

Hỏi : Anh đến Pháp với mục đích gì?

Đáp: Để đòi quyền tự do cho dân An Nam.

Hỏi : Bằng cách nào?

Đáp: Bằng cách làm việc hết mình và luôn xông xáo tiến lên.

Hỏi: Nhưng đất nước đã sẵn sàng chưa? Các phong trào vũ trang hiện nay ra sao?

Đáp: Tình cảnh nước Việt Nam thật đáng buồn. Ngoài chúng tôi (chỉ một số người yêu nước) chưa có sự chuẩn bị nào cả và các hoạt động vũ trang gần đây đã hoàn toàn thất bại và không có tiếng vang nào…

Hỏi: Từ lúc đến Pari tới nay, anh đã đạt kết quả nào rồi?

Đáp: Ngoài các nghị sĩ, tôi đã gặp tất cả những người chịu giúp chúng tôi. Những người Xã hội nghĩ rằng Chính phủ Pháp không khi nào chấp nhận những yêu cầu của chúng tôi nhưng họ vẫn vui lòng giúp đỡ. Và đó là chỗ dựa quan trọng đối với chúng tôi. Chúng tôi cũng hoạt động trong những tầng lớp khác nữa.

            – Báo cáo của mật thám P. Ôcua (P.Aucourt) ngày 2-9-1919. Tài liệu gốc lưu tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại (CAOM) tại Aix en Provence, Hồ sơ SPCE/272.

            – Lê Thị Kinh: Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, Nxb. Đà Nẵng, 2003, t.II, tr.104 – 105.

Tháng 9, ngày 4

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Đông Dương và Triều Tiên, đăng trên báo Le Populaire4.

Nhắc đến sắc lệnh của Thiên Hoàng công bố tại Tôkyô ngày 19-8-1919 với nội dung định rõ quyền bình đẳng giữa người bản xứ Triều Tiên với người Nhật trong tất cả các luật lệ, bài báo so sánh chính sách cai trị của đế quốc Nhật ở Triều Tiên và của đế quốc Pháp ở Đông Dương, nghiêm khắc lên án chính sách ngu dân của Pháp và đặt câu hỏi: nước Pháp có thể đối với Đông Dương ít nhất một cách sáng suốt như Nhật đối với Triều Tiên không?

            – Tư liệu của Cục Lưu trữ Pháp. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            – Báo Le Populaire, ngày 4-9-1919.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.11 – 14.

Tháng 9, ngày 6

Nguyễn Ái Quốc được Anbe Xarô 209) – Bộ trưởng Bộ Thuộc địa, mời đến trụ sở Bộ Thuộc địa. Anbe Xarô đã đích thân kiểm tra lai lịch của Nguyễn Ái Quốc.

            – Tư liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại (CAOM) tại Aix en Provence, Hồ sơ SPCE/364.

Tháng 9, ngày 7

Sau một ngày gặp Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Anbe Xarô, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Anbe Xarô. Toàn văn như sau:

Pari, ngày 7-9-1919

Kính gửi Ngài Anbe Xarô, Toàn quyền Đông Dương 21).

Thưa ngài Toàn quyền!

Tiếp theo cuộc trao đổi với Ngài hôm qua, tôi xin phép gởi đến Ngài kèm theo đây bản trình bày các yêu cầu của người An Nam. Vì Ngài có nhã ý nói với tôi rằng Ngài luôn luôn muốn làm sáng tỏ mọi vấn đề, tôi xin phép yêu cầu Ngài cho biết là trong 8 điểm yêu cầu của chúng tôi có điểm nào đã được thực hiện, và chúng tôi phải liên hệ với những tư liệu nào để chứng minh điều đó. Vì tôi xin khẳng định là cả 8 điểm đều còn nguyên vẹn và chưa có điểm nào được giải quyết một cách thoả đáng.

Xin Ngài vui lòng tiếp nhận.

Ký tên: Nguyễn Ái Quốc

6 Vila đê Gôbơlanh, Pari 13

            – Thu Trang: Nguyễn Ái Quốc ở Pari (1917 – 1923), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.420.

Tháng 9, ngày 18

Bản Yêu sách của nhân dân An Nam gửi Hội nghị Vécxây do Nguyễn Ái Quốc thay mặt Hội những người yêu nước Việt Nam tại Pháp đứng tên, được đăng trên báo Yiche Pao (Nghị xã báo) xuất bản ở Thiên Tân (Trung Quốc).

         – Tài liệu của mật thám Pháp. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            – Báo Yiche Pao, ngày 18-9-1919. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Khoảng hạ tuần tháng 9

Nguyễn Ái Quốc cùng với Phan Văn Trường sang Đức, trở về Pháp vào khoảng trung tuần tháng 10 22).

            – Theo Lê Thị Kinh dẫn mật báo của Êđua ngày 5-11-1919. Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại (CAOM) tại Aix en Provence, Hồ sơ SPCE/364 (Dẫn theo Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, Nxb. Đà Nẵng, 2003, t.II, tr.53).

Tháng 10, ngày 14

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Thư gửi ông Utơrây, đăng trên báo Le Populaire.

Bài báo tố cáo Utơrây (Outrey) xuyên tạc sự thật về tình hình Đông Dương.

            – Báo Le Populaire, ngày 14-10-1919.

Tháng 10, ngày 16

Nguyễn Ái Quốc gửi thư cho Utơrây 23). Trong bức thư dài này, Nguyễn Ái Quốc vạch trần thái độ xấu xa và những luận điệu xuyên tạc sự thật của ông ta trong các cuộc thảo luận tại Nghị viện Pháp, ngày 18-9-1919.

         – Tài liệu của Cục lưu trữ Pháp. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.15 – 19.

Tháng 11, ngày 15

Nguyễn Ái Quốc gặp ông Pie Pátxkiê 24) (Pierre Pasquier), một quan chức Bộ Thuộc địa Pháp theo giấy mời đề ngày 14-11-1919 của Chánh văn phòng Bộ Thuộc địa.

Cuộc gặp mặt này nói về tổ chức nghi lễ tại Đền Nôgiăng (Nogent), nơi nhà cầm quyền Pháp lập nên để tưởng niệm binh lính Đông Dương đã chết trong chiến tranh 1914 – 1918.

Khi ông Pátxkiê hỏi: “Việc lập đền thờ các tử sĩ Đông Dương ở Nôgiăng sẽ tác động đến dân Nam như thế nào?”, Nguyễn Ái Quốc trả lời: “Về tình cảm thì chưa rõ nhưng giá như quan tâm nhiều hơn về vật chất cho vợ con họ thì tốt hơn”.

Nguyễn Ái Quốc nói thêm: “Mỹ sau 10 năm đã cho Philíppin tự trị, Nhật vừa cho Triều Tiên tự trị sau 14 năm. Sao Pháp chưa làm gì cho Đông Dương?”.

Nguyễn Ái Quốc hứa với ông Pátxkiê là sẽ đến dự lễ, nhưng các bạn của anh thì không chắc vì họ còn phải làm việc…

            – Báo cáo của mật thám Êđua. Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại (CAOM) tại Aix en Provence, Hồ sơ SLOTFOM 15/1.

            – Lê Thị Kinh: Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, Nxb. Đà Nẵng, 2003, t.II, tr.55.

Tháng 12, ngày 1

18 giờ 30 Nguyễn Ái Quốc gặp gỡ nói chuyện với một vài người Việt Nam đến chơi nhà.

            – Báo cáo của mật thám Giăng (Jean). Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 8

Buổi tối Nguyễn Ái Quốc nhận được thư của Phan Châu Trinh.

         – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 9

Nguyễn Ái Quốc hai lần đến thư viện Xanhtơ Giơnơvievơ (Sainte Geneviève) và đến nhà Trần Văn Quốc, 44 phố La Cơlê (La Clef), nhưng không gặp.­

         – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 10

Nguyễn Ái Quốc nhận được một bức thư gửi từ Mayăngxơ (Mayence) – một thành phố của Đức, đến thư viện Xanhtơ Giơnơvievơ và ở đó đến 16 giờ.

Nguyễn Ái Quốc đi cùng với Lê Văn Hạo đến nhà bác sĩ Tơri (Trie) ở 47 phố Clôđơ Bécna (Claude Bernard) và ở đó đến 19 giờ 20.

Trước khi về nhà, Nguyễn Ái Quốc gặp và nói chuyện với một người Việt Nam ở đại lộ Gôbơlanh (Gobelins).

            – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 11

Nguyễn Ái Quốc đến nhà Trần Văn Quốc, hai lần đến thư viện Xanhtơ Giơnơvievơ, sau đó đến nhà số 40 phố Êcônlơ (Écoles) hỏi thăm ông Hon, trở về nhà hồi 17 giờ 45.

         – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 12

Sáng, từ 10 giờ đến 11 giờ 30, và chiều, từ 13 giờ 50 đến 14 giờ 45, Nguyễn Ái Quốc đến thư viện Xanhtơ Giơnơvievơ.

16 giờ đến Văn phòng Hội liên minh nhân quyền5 ở nhà số 10 phố Uynivécxitê (Université) trong 5 phút.

Từ 18 giờ 45 đến 20 giờ lại đến thư viện Xanhtơ Giơnơvievơ.

Từ 20 giờ 15 đến 20 giờ 35 gặp Trần Văn Quốc ở nhà số 44 phố La Cơlê.

            – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 13

Từ 8 giờ 55 đến 12 giờ 13 và từ 13 giờ 10 đến 13 giờ 50, Nguyễn Ái Quốc ở thư viện Xanhtơ Giơnơvievơ. Sau đó rời thư viện đến vườn hoa Luýchxămbua (Luxembourg), đi dạo chừng nửa giờ như đang chờ đợi ai.

         – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 14

Nguyễn Ái Quốc nhận được thư của toà soạn báo L’Humanité.

Hồi 10 giờ 30, anh đến nhà thợ may Sarông (Charon) ở 8 bis phố Gôbơlanh, hai người đi uống ở quán rượu số 1 phố Gôbơlanh. Sau đó Nguyễn Ái Quốc đi tàu điện ngầm đến trụ sở báo La Dépêche coloniale.

Trở về nhà lúc 12 giờ 45. Hồi 13 giờ 15, Nguyễn Ái Quốc lại ra khỏi nhà và mất hút phía Quảng trường Italia.

Gần 17 giờ 30, mới thấy về nhà và 15 phút sau lại đến nhà Sarông.

Hồi 20 giờ 30, Nguyễn Ái Quốc đi bỏ thư tại phòng bưu điện phố Gôbơlanh.

            – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 15

Nguyễn Ái Quốc nhận được một thư dán tem ga Pari đuy No (Paris du Nord).

Lúc 10 giờ 50, anh ra khỏi nhà, mua một tờ L’Humanité. Sau đó đến thư viện Xanhtơ Giơnơvievơ, ở đó đến 11 giờ 55, rồi đi dạo ở vườn hoa Luýchxămbua.

13 giờ, Nguyễn Ái Quốc trở lại thư viện, ở đó đến 16 giờ, rồi lại đi dạo 20 phút ở vườn hoa trước khi về nhà.

19 giờ, Nguyễn Ái Quốc đến nhà số 16 phố Phốtxê Xanhtơ Bécna (Fossée Sainte Bernard). Lát sau, cùng với Đrigiông (Drijon) và Vécđơgien (Verdegene) đến quán rượu ở cùng phố.

20 giờ 10, Nguyễn Ái Quốc về nhà.

         – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 16

Lúc 14 giờ 35, Nguyễn Ái Quốc và Ai Cam (một thợ ảnh đã đến nhà Nguyễn Ái Quốc ở mấy ngày) rời nhà, đến phòng bưu điện ở phố Clôđơ Bécna tra bộ Niên giám Pari, rồi đến hiệu sách Tơranh mua một quyển sách. Sau đó đến một nhà chuyên đánh máy chữ ở số 27 phố Clôđơ Bécna thuê sao lại bài viết nhan đề Chính trị Đông Dương.

Nguyễn Ái Quốc và Ai Cam còn đến các địa chỉ sau đây:

– Nhà ông Lui Blăngsa (Louis Blanchard), bán tranh ảnh, ở 40 phố Êcôlơ (Écoles.)

– Hiệu giầy Lanhcomparablơ (L’Incomparable).

– Quán ăn Phrăngcô Sinoa (Franco Chinois) ở 11 bis phố Cácmơ (Carmes).

– Trụ sở báo La Dépêche coloniale.

– Nhà số 22 phố Satôđoong (Châteaudun).

Lúc 17 giờ 10, Nguyễn Ái Quốc và Ai Cam rời nhà số 22 phố Satôđoong xuống ga tàu điện ngầm Lơ Pôlơchiê (Le Poletier) để trở về nhà.

            – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 17

Nguyễn Ái Quốc rời khỏi nhà lúc 9 giờ 45, đi đến thư viện Xanhtơ Giơnơvievơ.

14 giờ 15, ra khỏi thư viện, đến Trụ sở Hạ nghị viện ghi giấy xin gặp Mácxen Casanh.

15 giờ 45, rời lâu đài Buốcbông (Bourbon) mua một tờ Journal officiel rồi về nhà.

Cùng ngày, Nguyễn Ái Quốc còn đến văn phòng của hai tờ báo L’Humanité  Le Populaire hỏi xin việc làm nhiếp ảnh cho Phan Châu Trinh.

            – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 18

Nguyễn Ái Quốc gặp Khánh Ký cho biết đã gặp toà soạn báo L’Humanité và báo Le Populaire để tìm cho Phan Châu Trinh một chỗ làm thợ ảnh ở Pari.

            – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 19

Buổi sáng, Nguyễn Ái Quốc rời khỏi nhà lúc 10 giờ, đến thư viện Xanhtơ Giơnơvievơ.

11 giờ 50, rời thư viện đến hiệu ảnh Păngtêông (Panthéon) rồi đến hiệu sách Lasông ê Rơnu (Lachon et Renouf) mua một quyển sách, sau đó trở lại thư viện.

14 giờ 30, Nguyễn Ái Quốc đến Hạ nghị viện xin gặp Mácxen Casanh; 25 phút sau, rời địa chỉ trên và đi dạo.

16 giờ 30, Nguyễn Ái Quốc mất hút trong đám đông ở gần Cung điện Luvơrơ (Louvre).

17 giờ 35, Nguyễn Ái Quốc về đến nhà.

Buổi tối, Nguyễn Ái Quốc tranh luận với các ông Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường và Khánh Ký tại nhà số 6 phố Vila đê Gôbơlanh.

            – Báo cáo của mật thám Giăng. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 20

Nguyễn Ái Quốc đến thư viện Xanhtơ Giơnơvievơ hồi 10 giờ 20 đến 11 giờ 45. Mua một tờ L’ Humanité.

17 giờ 30, đến Acađêmi Luyđô chơi bi-a với cụ Phan Châu Trinh.

18 giờ 30, rời Luyđô về số 6 Vila đê Gôbơlanh.

20 giờ 10, Nguyễn Ái Quốc cùng với một người Việt Nam xuống tàu điện ngầm đến Basti (Bastille) rồi mất hút.

         – Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại  (CAOM) tại  Aix en Provence, Hồ sơ  SPCE/364.

            – Theo Lê Thị Kinh: Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, Nxb. Đà Nẵng, 2003, t.II, tr.60.

Tháng 12, ngày 22

Nguyễn Ái Quốc dự cuộc mít tinh do Công đoàn C.G.T6 tổ chức và phân phát tại đấy một số bản Yêu sách của nhân dân An Nam.

         – Thư của Pie Ghétxđơ, Tổng thanh tra kiểm soát người Đông Dương tại Pháp gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa đề ngày 12-10-1920. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 23

Nguyễn Ái Quốc cùng với Phan Châu Trinh rời số 6 Vila đê Gôbơlanh vào lúc 14 giờ 10, cùng đến phố Clôđơ Bécna có hiệu nhuộm Béctông (Berthon) đưa đồ giặt, đến bác sĩ Trinh không có nhà, gặp một sinh viên độ 32 tuổi, trước ở đường Môngtơpacnaxơ (Montparnasse). Ba người Việt Nam đến gặp họ.

17 giờ 30, Phan Châu Trinh, Nguyễn Ái Quốc đi bỏ thư, Nguyễn Ái Quốc về nhà trước.

18 giờ 25, Khương đến gặp Nguyễn Ái Quốc tại 6 Vila đê Gôbơlanh.

            – Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại (CAOM) tại Aix en Provence, Hồ sơ SPCE/364.

            – Theo Lê Thị Kinh: Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, Nxb. Đà Nẵng, 2003, t.II, tr.61.

Tháng 12, ngày 24

Nguyễn Ái Quốc rời nhà lúc 10 giờ, mua một tờ L’Humanité và một tờ Le Libertaire. Đến số nhà 70, đại lộ Gôbơlanh nhà in Sácpăngchiê (Charpentier) rồi trở về.

13 giờ 30, đến thư viện Xanhtơ Giơnơvievơ.

15 giờ 25, đi bỏ thư. Sau đó đi tàu điện ngầm đến ga Ext (Est).

20 giờ trở về.

            – Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại (CAOM) tại Aix en Provence, Hồ sơ SPCE/364.

            – Theo Lê Thị Kinh: Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, Nxb. Đà Nẵng, 2003, t.II, tr.61.

Tháng 12, trước ngày 26

Nguyễn Ái Quốc nói chuyện với Êđua tại số 6 Vila đê Gôbơlanh về ý muốn lập Hội tương tế Đông Dương, gồm những người dân Đông Dương đã ở ít lâu trên đất Pháp nhằm giữ gìn và phát triển những ý kiến tốt và những kiến thức đã thu lượm được tại Pháp.

Khi Êđua nêu vấn đề do anh ta đang làm việc trong cơ quan nhà nước nên nếu tham gia phải được cấp trên cho phép, Nguyễn Ái Quốc nói: “Dù sao thì tôi tin là Chính phủ không có lý do nào để không cho phép lập một hội không có mục đích chính trị nào cả như vậy. Nếu anh chịu lo thì chắc chắn Nhà nước sẽ cho phép”.

Khi nói đến vấn đề tư pháp, Nguyễn Ái Quốc đả kích mạnh mẽ việc lập toà đại hình ở Bắc Kỳ.

Nguyễn Ái Quốc khẳng định đã tận mắt trông thấy những người dân Trung Kỳ chỉ đến Toà Khâm với tay không để phản đối sưu thuế quá nặng, thế mà người ta đã nổ súng để giải tán họ. Nguyễn Ái Quốc cho rằng biện pháp đó là tàn bạo và vô nhân đạo, cho rằng các quan lại An Nam là nguyên nhân của cuộc nổi loạn và bắn giết đó, sau đó lại xử tội chém hoặc đi đày nhiều người vô tội.

         – Mật báo của Êđua. Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại (CAOM) tại Aix en Provence, Hồ sơ SPCE/364.

            – Theo Lê Thị Kinh: Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, Nxb. Đà Nẵng, 2003, t.II, tr.61.

Tháng 12, ngày 26

Nguyễn Ái Quốc rời số 6 Vila đê Gôbơlanh lúc 15 giờ 25, đến nhà in Cácpăngchiê cùng phố. Mua một tờ Journal du peuple rồi đi mua thuốc và đồ dùng, về nhà lúc 16 giờ 55.

Nguyễn Ái Quốc nhận được một thư từ Ruy Đuy Phôbua, Xanh Đờni.

         – Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại (CAOM) tại Aix en Provence, Hồ sơ SPCE/364.

            –  Theo Lê Thị Kinh: Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, Nxb. Đà Nẵng, 2003, t.II, tr.61.

Tháng 12, ngày 27

Nguyễn Ái Quốc rời nhà lúc 10 giờ 25, mua một tờ báo L’Humanité, đi tàu điện ngầm đến ga Rêpuyblic (République) thì mất hút.

12 giờ 10, về tới nhà xách một túi hàng.

14 giờ, ra khỏi nhà, đến bưu điện bỏ một thư.

16 giờ, đến Quảng trường Italia, đi tàu điện ngầm đến chi nhánh Bộ Thương mại xuất nhập khẩu. Mười phút sau ra ôtô buýt rồi mất hút.

            – Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại (CAOM) tại Aix en Provence, Hồ sơ SPCE/364.

           – Theo Lê Thị Kinh: Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, Nxb. Đà Nẵng, 2003, t.II, tr.62.

Tháng 12, ngày 28

Nguyễn Ái Quốc rời nhà lúc 10 giờ 20, mua một tờ L’Humanité và một tờ Journal du peuple. Đi tàu điện ngầm tới ga Ar Ê Mêchiê (Art et Métiers) rồi mất hút. 12 giờ 35 trở về nhà.

        – Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại (CAOM) tại Aix en Provence, Hồ sơ SPCE/364.

            – Theo Lê Thị Kinh: Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, Nxb. Đà Nẵng, 2003, t.II, tr.62.

Tháng 12, ngày 29

Nguyễn Ái Quốc rời nhà lúc 14 giờ 40. Đi tàu điện ngầm từ Quảng trường Italia đến ga Lơ Pelơchiê (Le Pelletier). Dạo chơi một vòng ở Ruy duy Phôbua (Rue du Faubourg). Nhận một thư từ Năngtơi (Nanteuil) và một bưu thiếp từ Gay Luytxăc (Gay Lussac). Có Khương, Lâm và Trần Văn Quang đến.

             – Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại (CAOM) tại Aix en Provence, Hồ sơ SPCE/364.

              – Theo Lê Thị Kinh: Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, Nxb. Đà Nẵng, 2003, t.II, tr.62.

Cuối năm

Vào những tháng cuối năm 1919, Uỷ ban Quốc tế III7 của Đảng Xã hội Pháp được thành lập. Mục đích của Uỷ ban này là vận động Đảng gia nhập Quốc tế III và bảo vệ cách mạng Nga đang bị các chính phủ tư sản kể cả Chính phủ Clêmăngxô (Clémanceau) của Pháp, tiến công dữ dội.

Nguyễn Ái Quốc tích cực tham gia các hoạt động của tổ chức này.

Anh thường lui tới phòng họp Hội phổ biến kiến thức ở khu Latinh, phòng họp Muyliê ở gần lâu đài Luýchxămbua, rạp chiếu bóng phố Satô dô (Château d’eau) ở Quận 10, v.v. để dự các cuộc họp của Uỷ ban Quốc tế III tại Pari. Trong các cuộc họp, Nguyễn Ái Quốc thường thông báo cho các bạn Pháp về tình hình Việt Nam và những tội ác của thực dân Pháp ở đó.

Nguyễn Ái Quốc cùng một số đảng viên Đảng Xã hội Pháp đi quyên góp tiền trong các phố Pari để giúp cách mạng Nga vượt qua nạn đói, hậu quả của việc Chính phủ Pháp và chính phủ các nước Đồng minh bao vây nước Nga Xôviết. Cùng với việc quyên tiền, Nguyễn Ái Quốc tham gia phân phát các truyền đơn của Đảng Xã hội Pháp kêu gọi lao động Pháp lên án sự can thiệp vũ trang của Chính phủ Pháp vào nước Nga, hoan nghênh Cách mạng Tháng Mười Nga8.

            – Giắc Đuyclô: Những ngày Pari. In trong tập Bác Hồ ở Pháp, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1970, tr.28.

            – Báo Nhân dân, ra ngày 22-5-1975.

Cuối năm

Nguyễn Ái Quốc tổ chức in bản Yêu sách của nhân dân An Nam thành truyền đơn để tuyên truyền rộng rãi trong công nhân Pháp, binh lính người Việt và Việt kiều
ở Pháp.

Với số tiền ít ỏi dành dụm được, Nguyễn Ái Quốc đến nhà in Sácpăngchiê ở 70 phố Gôbơlanh thuê in 6.000 bản truyền đơn nói trên, và đã phân phát trong các cuộc mít tinh ở Pari và một số thành phố khác. Nguyễn Ái Quốc còn tổ chức những cuộc nói chuyện giới thiệu bảnYêu sách và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam đòi độc lập, tự do.

         – Báo cáo mật của Văn phòng Tổng Giám đốc Sở An ninh Pháp, ngày 30-1-1920 về phong trào đòi độc lập của người Đông Dương.

            – Tài liệu của Cục Lưu trữ Pháp. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

 ______________________

 1) Theo lời khai của Nguyễn Tất Đạt, thời gian đầu Nguyễn Tất Thành xin vào học trường thợ máy (école des mécaniciens), sau vài tháng học mới làm phụ bếp trên tàu của hãng Chargeurs Réunis.

2) Tàu A.L.Tơrêvin được đóng tại xưởng Sinazaire (Pháp) hạ thuỷ năm 1901, đăng ký tại cảng Lơ Havơrơ năm 1904, dài 110,02m; rộng 15,21m; cao 8,046m; sức chở 3.436 tấn; tốc độ tối đa 12 hải lý/giờ.

3) Hãng Năm Sao chính là Sácgiơ Rêuyni (Chargeurs Réunis) trên ống khói có năm ngôi sao năm cánh nên dân ta gọi nôm na là hãng Năm Sao.

4) Nhà báo, nhà thơ Nga Ôxíp Manđenxtam (B.T).

5) Nhà văn Mỹ Anna Luy Xtơrông (B.T).

6) Theo hồi ức của một số học sinh cũ của Trường Dục Thanh, bức thư đó đã được đọc cho thầy trò của trường nghe trong bữa tiệc tiễn số học sinh ra Huế học.

7) Trường Thuộc địa (école Coloniale) được thành lập năm 1885 tại Pari với mục đích đào tạo những công chức để gửi sang các nước thuộc địa làm việc. Học viên chủ yếu là người Pháp, rất ít người của các nước thuộc địa, trừ một số do chính quyền ở thuộc địa gửi sang.

8) Lá đơn trên đây viết ngày 15-9-1911 từ Mácxây đặt ra một vấn đề mới để nghiên cứu thêm: sau khi tàu Amiran Latusơ Tơrêvin đến Lơ Havơrơ, Nguyễn Tất Thành chưa rời tàu để đi làm vườn như các tài liệu trước đây viết. Trong sổ lương còn ghi rõ: Văn Ba lĩnh lương tại Sài Gòn vào ngày 16-10-1911 trong chuyến đi của tàu từ Đoongkéc về Hải Phòng.

9) Chúng tôi giới thiệu một tài liệu mới tìm được. Đó là Điện tín số 125.S của Chánh mật thám Sài Gòn gửi Chánh mật thám Huế và Giám đốc Tổng mật vụ Phủ Toàn quyền Hà Nội. Bức điện đó đánh đi từ Sài Gòn ngày 13-11-1923 viết:

“Trong quá trình khẩn trương và được tiến hành với tất cả tinh thần trách nhiệm, tôi đã tìm thấy trong tài liệu lưu trữ bức thư gốc gửi Khâm sứ Trung Kỳ, đề tại Niu Oóc ngày 15-12-1912, ký tên Paul Tất Thành, con trai Phó bảng Nguyễn Sinh Huy. Bức thư đến Nam Kỳ vào cuối năm 1912. Lúc đó Nguyễn Sinh Huy đã có ở đây. Từ lâu ông Huy không có mối liên lạc gì với con trai, chỉ thật hoạ hoằn lắm mới nhắc tới con trai”.

Qua tài liệu này, đối chiếu với một số nguồn tài liệu khác, chúng tôi cho rằng Nguyễn Tất Thành đã có một thời gian sống ở Mỹ vào cuối năm 1912 đầu năm 1913.

10) Ngày 25-5-1912, Khâm sứ Trung Kỳ đã gửi Công văn số R28 – 6971 (lưu tại CAOM – Pari) gửi Toàn quyền Đông Dương, nội dung như  sau: “Phúc Công văn số 263 chuyển đơn của Nguyễn Sinh Khiêm xin cho em là Nguyễn Tất Thành vào Trường Thuộc địa, xin báo Ngài là ông chủ sự giáo dục Trung Kỳ, được hỏi ý kiến đã cho biết người thanh niên này đã bắt đầu học Trường Quốc học Huế, nay qua làm bồi ở Pháp, có thể tiếp tục học ở một trường tại thuộc địa trước khi có tham vọng trở thành sinh viên ở Pháp”.

11)Chỉ việc cụ Phan Châu Trinh đang bị phái hữu trong Bộ Thuộc địa ép phải đi khỏi Pari (B.T).

12) Tức luật sư Phan Văn Trường (B.T).

13)  Em Dật, tức Phan Châu Dật, con trai cụ Phan Châu Trinh (B.T).

14) Chỉ tác phẩm Giai nhân kỳ ngộ diễn ca do Phan Châu Trinh dịch từ tiểu thuyết của nhà văn Nhật Bản Sài Tử Lang xuất bản năm 1885, dựa theo bản dịch Hán văn của Lương Khải Siêu, thành 7.000 câu thơ lục bát. Sách gồm 9 hồi, hồi thứ 9 còn dở dang. Tác phẩm đặt vấn đề về quyền độc lập, tự do, dân quyền ở các nước thuộc địa trên thế giới những năm 50 của thế kỷ XIX. Năm 1926, Ngô Đức Kế cho in lần đầu ở Hà Nội nhưng chưa kịp phát hành đã bị tịch thu hết (B.T).

15) Về địa chỉ này, đến tháng 6 năm 1915 Đại sứ quán Pháp tại Anh đã báo cho Bộ Ngoại giao Vương quốc Anh biết (Theo Hồ sơ số FO.372.668.33562).

16) Về thời gian Nguyễn Tất Thành từ Anh trở lại Pháp có nhiều nguồn tư liệu khác nhau, số đông các nhà nghiên cứu đều cho rằng Nguyễn Tất Thành trở lại Pháp khoảng cuối năm 1917.

17) Sau khi nhận được thư của Nguyễn Ái Quốc, Đại biện sứ quán Mỹ tại Pari đã có thư trả lời. Toàn văn như sau:

“Đoàn Mỹ tại Hội nghị Hoà bình Pari, ngày 19-6-1919.

Thưa ông Nguyễn Ái Quốc,

Đại tá Haoxơ (Haus) giao cho tôi báo để ông biết là đã nhận được bức thư của ông đề ngày 18-6-1919 và cảm ơn ông đã gửi cho chúng tôi bản Yêu sách của nhân dân An Nam nhân dịp chiến thắng của Đồng minh.

Xin ông nhận cho những tình cảm quý trọng của tôi.

Đại biện sứ quán Mỹ

Hôm sau Đoàn Mỹ lại gửi tiếp một bức thư khác:

“Đoàn Mỹ tại Hội nghị Hoà bình Pari, ngày 20-6-1919.

Kính gửi ông Nguyễn Ái Quốc,

Tôi lấy làm hân hạnh báo để ông biết chúng tôi đã nhận được thư ông đề ngày 18-6-1919 và xin nói rằng chúng tôi sẽ trình thư đó lên Tổng thống”.

Thư ký riêng của Tổng thống Mỹ

(đã ký)

18) Ngày 19-6-1919 Đoàn đại biểu Nicaragoa đã viết thư trả lời. Toàn văn như sau:

Khách sạn  Rúytxi (Russie), số 1 phố Đơ Ruyô (De Ruyo), ngày 19-6-1919.

Thưa ông Nguyễn Ái Quốc,

Tôi hân hạnh báo để ông biết chúng tôi đã nhận được thư của ông cùng với bản Yêu sách của nhân dân An Nam mà ông gửi cho ông Xanvađo Xamôrô, đại biểu Nicaragoa tại Hội nghị Hoà bình.

Ông Xamôrô giao cho tôi chuyển lời cảm ơn ông về bản tài liệu nói trên đã làm cho ông ta hết sức chú ý.

Xin ông nhận ở đây những tình cảm quý trọng của tôi.

Thư ký Đoàn đại biểu Nicaragoa

(đã ký)

19) Giăng Ajanbe: nhà văn, nhà báo Pháp đã từng đến Việt Nam vào những năm đầu của thế kỷ XX, có nhiều bài viết về Việt Nam đăng trên các báo Pháp (B.T).

20) Anbe Xarô thời điểm này là Bộ trưởng Bộ Thuộc địa. Trước đó ông ta là Toàn quyền Đông Dương từ tháng 11-1911 đến tháng 1-1914 và nhiệm kỳ thứ hai từ tháng 1-1917 đến tháng 5-1919 (B.T).

21)Lúc này Anbe Xarô là Bộ trưởng Bộ Thuộc địa, nhưng Nguyễn Ái Quốc vẫn ghi là Toàn quyền Đông Dương (B.T).

22) Mật báo viết: “Sau khi nói chuyện dài dòng (với một chàng trai ở Bộ Thuộc địa), tôi đã dắt dẫn anh ta đến chuyện Nguyễn Ái Quốc, Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường. Qua câu chuyện này thì thấy Phan Văn Trường còn ở Đức, nơi anh ta đã sang từ hai tháng nay cùng với Nguyễn Ái Quốc. Nguyễn Ái Quốc quay về Pari có lẽ từ một tuần nay…”.

23) Bức thư đề ngày 16-10-1919, đánh máy bằng chữ Pháp, dài ba trang. So với bài Thư gửi ông Utơrây đăng trên tờ Le Populaire ngày 14-10-1919 thì dài hơn và viết tỷ mỉ hơn.

24) Pie Pátxkiê sau này là Toàn quyền Đông Dương từ ngày 26-12-1928 đến năm 1930 và tiếp đó là năm 1931 – 1932 (B.T).

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)