Nhớ Tết Quý Sửu năm ấy

QĐND – Những ngày cuối tháng 1-1973, mặc dù Tết Nguyên đán Quý Sửu đã sát gần nhưng tình hình chiến sự trên mặt trận đường 19 Tây Nguyên vẫn diễn ra vô cùng quyết liệt. Cả ta và địch đều quyết tâm giành thêm đất, thêm dân, mở rộng vùng kiểm soát trước khi Hiệp định Pa-ri có hiệu lực.

Hiệp định Pa-ri về Việt Nam có hiệu lực từ 0 giờ ngày 27-1-1973 nhưng thời điểm ngừng bắn lại vào 8 giờ ngày 28 (tức 29 Tết). Đại đội 1 súng máy cao xạ 12,7mm của chúng tôi tiếp tục được phối thuộc với Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 48 có nhiệm vụ chốt chặn đường 19 ở khu vực làng Yít-đồn Tầm. Chúng tôi hiểu rằng, kẻ thù đang cay cú trước thất bại liên tiếp vừa qua, nhất định chúng sẽ bất chấp lệnh ngừng bắn và Tết cổ truyền, tiếp tục tiến công trên hướng này hòng củng cố lại thế trận.

Đúng như vậy, sáng 27-1, địch điều Tiểu đoàn 62 biệt động quân và một chi đoàn xe tăng của Thiết đoàn 21 đến tăng cường cho khu vực đồn Tầm. Đến khoảng 16 giờ, địch bắt đầu tấn công. Mở đầu, chúng cho các trận địa pháo ở Thanh Bình, Thanh An bắn cấp tập vào tuyến chốt chặn của ta. Chúng còn dùng cả súng phun lửa bắn vào khu vực trận địa của chúng tôi làm cháy rụi cây cối và những nhà dân còn sót lại. Sau đợt pháo, địch cho bộ binh có xe tăng dẫn dắt tiến vào. Nhưng chúng đã vấp phải sự chống trả quyết liệt của bộ đội ta, một xe tăng M41 bị thiêu cháy, hàng chục tên địch bị diệt… Tối đó, bộ phận tuyên truyền đấu tranh chính trị gồm một số cán bộ của Trung đoàn 48 và huyện 5 vừa được thành lập cũng vào triển khai công sự gần trận địa chốt của chúng tôi để chuẩn bị tác chiến sau giờ ngừng bắn.

Sáng 28-1, mặt trời vừa nhô lên, địch đã cho pháo bắn liên tục hàng giờ liền vào trận địa ta. Tiếng pháo vừa dứt, chúng tôi đã thấy 4 xe tăng M41 cùng bộ binh địch triển khai đội hình hai bên đường 19 tiến vào hướng trận địa chốt của Đại đội 1 và Đại đội 3 (Tiểu đoàn 1), vừa đi chúng vừa bắn như đổ đạn sang hai bên. Nhưng vừa lọt vào vùng kiểm soát của ta, một chiếc xe tăng địch đã bị trúng mìn bốc cháy, một chiếc khác bị đạn B41 của chiến sĩ ta nổ tung. Cùng lúc, bộ binh địch cũng bị các cỡ súng của ta bắn mãnh liệt vào đội hình, hàng chục tên trúng đạn ngã vật. Thấy vậy, hai chiếc xe tăng còn lại vội vã quay đầu chạy. Bộ binh địch không còn biết bấu víu vào đâu, vội nằm rạp xuống đất giơ súng bắn loạn xạ lên trời. Một lúc sau, quân địch rút lui. Không gian trở lại yên tĩnh. Chúng tôi tranh thủ củng cố lại trận địa chờ địch đến. Bỗng ở phía trước, tiếng súng tiểu liên AR15 nổ liên hồi xen lẫn tiếng reo hò huyên náo. Thì ra đã đến giờ ngừng bắn, binh lính địch bắn súng ăn mừng và reo vang vì họ nghĩ không phải chiến đấu nữa. Tiếng súng ngớt, binh lính địch trèo hết lên thành công sự cầm súng huơ huơ lên trời tiếp tục kêu lên: “Hòa bình rồi. Sống rồi, anh em ơi!”. Một lúc sau, từ bên phía địch bật lên tiếng cọt kẹt, rồi tiếng loa công suất lớn phát ra những lời lẽ tô vẽ cho cái gọi là “chánh nghĩa quốc gia”. Đáp lại, tổ công tác của ta cũng dùng loa tuyên truyền về các điều khoản thi hành Hiệp định Pa-ri và các bài ca cách mạng; có điều, loa của ta là loa pin, công suất nhỏ, lại ngược chiều gió…

Khoảnh khắc hòa bình đến quá nhanh giữa bãi chiến trường còn vương khói súng làm chúng tôi cũng lâng lâng một niềm vui cảnh giác. Chưa biết việc thực thi hiệp định rồi sẽ ra sao, nhưng lúc này chúng tôi ai cũng thấy phấn chấn. Thế là, sau gần một tháng liên tục cơ động chiến đấu, chịu đựng nhiều gian khổ hy sinh, Sư đoàn 320 chúng tôi đã quét sạch quân địch, làm chủ đường 19 từ Đức Cơ đến làng Yít và đường 14 từ Phú Mỹ đến Mỹ Thạch, mở ra vùng giải phóng rộng lớn ở phía tây nam Gia Lai, nối thông với hành lang vận tải chiến lược ở phía Tây. Lá cờ giải phóng khổ lớn ngạo nghễ tung bay trên cột cờ ở đầu làng Yít trên đường 19 và ở Phú Mỹ trên đường 14, chỉ cách Bộ chỉ huy Quân đoàn 2 ngụy ở Plei-cu chưa đầy 30km là niềm tự hào của mỗi chúng tôi.

Ngày hôm sau, từ sáng đến chiều, địch chỉ mở đài, phát loa mà không có hoạt động gì đáng kể, chúng tôi vẫn cảnh giác và luôn ở tư thế chiến đấu. Còn bộ phận tuyên truyền của ta đã rút được kinh nghiệm, chờ đến buổi chiều có gió tây thổi ngược lại mới phát loa tuyên truyền, nhờ có gió nên mặc dù loa tay công suất nhỏ vẫn đánh bại được tiếng loa công suất lớn của địch. Tối hôm đó, đơn vị tổ chức ăn Tết Quý Sửu. Bữa cơm Tết duy nhất của chúng tôi có thêm món chuối rừng ninh xương và thịt kho. Mỗi chúng tôi còn được Bác Tôn gửi tặng một điếu thuốc lá Điện Biên và hai chiếc kẹo Hải Hà.

Suốt ba ngày Tết, địch chủ yếu phát loa, hết tuyên truyền xuyên tạc đến mở băng ca nhạc với những giọng ca não nề buồn tẻ, rồi kêu gọi “các cán binh cộng sản trở về với chánh nghĩa quốc gia”. Bộ phận tuyên truyền của ta đã được trang bị thêm loa công suất lớn và máy phát điện. Các anh tập trung tuyên truyền những điều khoản thi hành Hiệp định Pa-ri, chính sách nhân đạo và khoan hồng của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam.

Sau Tết Nguyên đán Quý Sửu, theo đề nghị của ta, địch đồng ý cùng ta làm Nhà hòa hợp để trao đổi việc thực thi các điều khoản của Hiệp định Pa-ri. Nhà hòa hợp được dựng lên ở khu đất bằng phẳng cách đềutuyến chốt của ta và của địch 200m. Khi Nhà hòa hợp đi vào hoạt động, chúng tôi được lệnh rút về tuyến hai, chỉ để lại một bộ phận nhỏ bảo vệ Đoàn hòa giải hòa hợp dân tộc của ta đấu tranh với địch.

HÙNG TẤN
qdnd.vn