Mậu Thân 1968 – Cuộc tiến công lúc giao thừa

Huế 1968

QĐND – Năm 2004, NXB Schiffer Publishing phát hành cuốn Cửa vào Hoàng cung: Cuộc giải vây Huế Tết 1968 (Palace Gate: Under Siege in Hue City: TET January 1968)[1] của Trung tá phi công hồi hưu Ri-sớc Brao (Richard Brown). Người lái máy bay trinh sát Mỹ này đã chứng kiến những khoảnh khắc hệ trọng, khởi đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, tạo nên bước ngoặt cho cuộc kháng chiến chống Mỹ tại địa bàn quan trọng thứ hai trên toàn miền Nam: Thành phố Huế.

Tiệc và pháo hoa ngày Tết

Các dịp Lễ tạ ơn, Thiên chúa giáng sinh và Tết Dương lịch ở Huế không có gì khác so với những ngày thường, chỉ có thực đơn nhà ăn sĩ quan là thay đổi. Vào kỳ Giáng sinh 1967, có thấy nói ngừng bắn, nhưng chúng tôi vẫn phải bay tất cả các phi vụ như ngày thường.

Bìa cuốn sách “Cửa vào Hoàng cung: Cuộc giải vây Huế Tết 1968”.

Tiệc tùng ngày Tết đều là các đại tiệc. Tôi đi dự hai trong số đó, trong đó có một đại tiệc do tướng Ngô Quang Trưởng làm chủ tiệc. Một ban nhạc dân tộc Việt mặc áo thụng đỏ và vàng công diễn cạnh một biệt thự của Pháp bên bờ sông Hương, gửi những giai điệu qua tất cả các cửa sổ nào mở. Hầu hết các nhạc công đều đã cao tuổi, khoảng từ 60 đến 70. Nhiều người trong họ để râu dài đến gần thắt lưng. Có lẽ họ đã từng chơi nhạc cho vua nhà Nguyễn.

Một đơn vị VNCH tăng cường cho sư đoàn BB 1 của quân đội Sài Gòn mời tất cả bộ phận giám sát không kích tại tiền duyên của không lực Mỹ tới dự tiệc Tết của họ. Mỗi chúng tôi cũng đóng tiền túi vào hỗ trợ chi phí cho bữa tiệc. Một trong các nghi thức là giết một con bò và xẻ thịt nó thành miếng cho món nướng. Một số thùng phuy loại 55 galon (200 lít) được xẻ dọc làm đôi. Nửa số thùng phuy bổ đôi này được đem đựng hỗn hợp sền sệt của gia vị và các đồ mắm xốt cay nóng để tạo thêm nhiệt từ chính chúng. Một nửa số thùng bổ đôi còn lại đựng than củi đốt cho hồng lên, trên đậy sẵn các vỉ lớn bằng sắt. Cách ăn là dùng một xiên tre nhúng một miếng thịt vào thùng đựng gia vị, tẩm nó cho đến khi thấm đẫm hương liệu, rồi kẹp vào vỉ nướng trên lửa. Khi miếng thịt đã chín, chúng tôi cần đến một quyết tâm cao để ăn hết nó. Bản năng tự đề kháng của cái bụng trước thách thức của món ăn nóng hừng hực này buộc ta phải nốc tất cả những chất lỏng nào trong tầm tay mình. Ấy vậy mà cuối tiệc tôi quay lại bãi nướng (barbecue) để tìm chút thịt nướng được mệnh danh là “cái chết đen”, nhưng chẳng còn một miếng nào. Một vài “con ma” (ý nói lính Mỹ, lính Sài Gòn) liều mạng đang cố thọc tay vào chỗ gia vị còn nóng, tìm một vài miếng thịt tuột khỏi xiên khi ngâm tẩm gia vị. Chỉ uống có dăm ngụm rượu, nhưng tôi cũng thấy ngà ngà say.

Sáng hôm sau, một nhân viên FAC xòe cho tôi cẳng tay cháy trụi hết lông. Không lẽ chúng tôi nhét ngần ấy thức ăn vào bụng. Không lẽ chúng tôi ăn hết một con bò?

Nửa đêm 29 Tết, tựa như mọi cỡ súng ở Nam Việt Nam đều tuôn hết đạn lên trời. Đạn súng máy, đạn vạch đường, pháo sáng, mọi hỏa khí nào có thể tạo tiếng nổ, hoặc soi sáng, đều phát hỏa. Ở Trung Quốc người ta đốt pháo để đuổi tà ma. Còn ở Việt Nam, tà ma bị súng bắn rụng.

Hàng triệu đô-la Mỹ bị bắn lên trời, và gần như mỗi xu đều đến từ người đóng thuế suốt đời tận tâm ở Hoa Kỳ. Nhưng những loạt tiếng nổ mà tôi sẽ được biết sau 24 giờ nữa sẽ chẳng ồn hơn bao nhiêu.

Trước giờ G

Sau khi giải quyết một số trục trặc kỹ thuật, tôi cất cánh theo kế hoạch, lên hướng thung lũng A Sầu vào rạng sáng 30 Tết. Điều kiện khí tượng như sau: Trời u ám, có mây mù. Quan sát không được tốt, do đó tôi hạ độ cao xuống, hướng về một điểm phía trên ngọn núi đầu tiên trên hướng này, tính toán sao cho không dễ bị trúng đạn từ mặt đất.

Một phần của phi vụ trinh sát là phát hiện bất cứ biểu hiện khác lạ nào, bất cứ thay đổi nào của địa hình. Trong thời gian 9 tháng ở đất nước này, tôi chưa hề nhìn thấy một bóng người nào trên mạng đường mòn trải từ mảnh đất dốc thoai thoải từ góc phía nam Huế tới ngọn núi đầu tiên, rồi từ đó tới rừng. Tôi nghĩ những con đường mòn này là do những người thiểu số sống ở đây thành đường. Một khi hàng tháng nay không có ai qua lại, cỏ đã mọc um tùm trên đường mòn.

Tôi không nhìn thấy ai trên đường mòn, nhưng những đám cỏ từng mọc bời bời trên đó cũng biến mất. Những đường mòn trở nên sậm màu và rộng ra; hoàn toàn không còn vết tích của màu xanh. Có nghĩa là đã có nhiều người đi trên con đường này hồi đêm.

Quân Mỹ phản kích tại Huế.

Tôi vẫn bay về hướng ngọn núi, nhưng linh cảm sẽ không có cách nào thật an toàn để bay vượt được tới A Sầu vào sáng hôm đó.

Hơn nữa, những con đường mòn thật đáng chú ý. Tôi vòng lại rồi bay về góc tây của thành Huế.

Tôi hạ cánh rồi đánh xe tới sở chỉ huy sư đoàn BB 1 của quân đội Sài Gòn. Không có ai ngoài một sĩ quan trực nhật không nói được tiếng Anh và vài người thư ký. Đại tá cố vấn A-đam (Adams) có vẻ không mấy quan tâm tới những gì tôi quan sát được. Tôi trình một báo cáo tình báo qua các kênh của không lực Mỹ rồi quay về trại. Đa số các cố vấn Mỹ xem nhẹ báo cáo này, vì các chỉ huy VNCH mà họ cố vấn cho sẽ không làm việc ngày Tết.

Tôi muốn quân lực VNCH báo động nhưng không thể tìm được ai có đủ thẩm quyền. Chiều tối hôm đó tôi lại cất cánh để quan sát những gì xảy ra tại địa bàn phía tây Huế. Trời rất mù, tầm nhìn giảm xuống tới chỉ khoảng 1 dặm (1,6km), trần mây hạ thấp xuống khoảng 500 feet (150m), quá thấp so với thiết bị trinh sát trên máy bay của tôi. Tôi đưa máy bay vào bãi đỗ, rồi đi về phía nhà ăn…

Thời khắc số không

Các pháo thủ của Quân Giải phóng bắn thật chính xác. Quả đạn pháo 122mm đầu tiên rơi trúng nóc sở chỉ huy của viên tỉnh trưởng Thừa Thiên. Phòng ngủ của tôi ở tầng 2 ngôi nhà, chỉ cách sở chỉ huy trên có một con phố hẹp, nên tiếng nổ ghê gớm này bảo với tôi rằng đêm giao thừa âm lịch này sẽ trở thành một thời khắc vô cùng đặc biệt…

Tôi choàng dậy, tìm đường lần về Sở chỉ huy bay (SCH). Một quả rốc-két rơi trúng hàng rào dây thép gai chạy dọc theo con đường giáp dãy nhà ngủ của sĩ quan Mỹ gần nơi tôi ở. May thay, cánh cửa nhà che chắn tôi khỏi trái này. Các mảnh đạn và mảnh dây thép gai từ các phía cày lên các bờ tường và đồ đạc, nhưng chỉ có vài miếng đâm vào má, cánh tay tôi. Đáng kể có một mảnh cứa mạnh vào tay trái.

Một số xe cộ đỗ dọc theo hàng rào bắt lửa, tạo ánh sáng cho tôi bật chiếc máy thu âm cá nhân, rồi băng vết thương trên tay trái và tìm thấy một chiếc áo bay. Tôi khoác khẩu M-16 của tay phi công cùng phòng vào người (khẩu của tôi bị phá hủy ở Khe Sanh) rồi tìm cách lần ra Sở chỉ huy bay. Không ai biết quả rốc-két tiếp theo rơi ở đâu, nên chuyến đi này giống như trò chơi cò quay kiểu Nga (roullette – một quả cầu nhỏ chạy vòng vòng trên bàn sòng bạc có hình nón quay tít, không ai biết khi bàn quay dừng lại quả cầu sẽ rơi vào vị trí nào trên bàn).

Tôi vừa vào đến SCH thì có ai đó, mặt đầy máu, bước vào, gào lên rằng quân Mỹ trong tòa nhà cao cấp (VIP house) đang khốn đốn, cần hỗ trợ. Tôi lao tới đó.

Một quả B-40 bắn trúng vào một máy điều hòa nhiệt độ lắp trong tường, mảnh đạn bắn tung khắp trong phòng. Một số sĩ quan Mỹ bị thương. Một quả khác bắn trúng tháp canh, làm một người Mỹ khác bị thương rất nặng. Có vẻ như quân tấn công định đột nhập vào trại Mỹ theo hướng này. Đại tá Ki-lơ (Keeler) đã đoán đúng.

Trời tối đen như mực, mây đen và sương mù dày đặc. Quân đối phương ào ạt tới. Chúng tôi bắn dữ dội về góc phố đó đến mức tôi nghĩ khó ai có thể sống sót. Chúng tôi phải ghìm đối phương xuống để có thể sơ tán thương binh Mỹ từ tháp canh ra. Cùng lúc, có tiếng ai hỏi đèn pin. Tôi tìm cách đi ra chiếc xe jeep của mình, đỗ gần SCH. Không có cách gì tiếp cận. Chiếc jeep đỗ gần hàng rào, không xa những chiếc xe đang cháy. Sẽ là tự sát nếu cứ cố ra xe, vì lửa cháy chiếu rõ toàn cảnh. Nó đã bị thủng lốp, và bị phá hỏng một số chỗ. Quay trở vào SCH, tôi nghe tiếng chuông điện thoại. Tôi thật ngạc nhiên vì Quân Giải phóng chưa phá hỏng đường dây. Tôi gọi cho trung tâm hỗ trợ trực tiếp đường không ở Đà Nẵng, giải thích rằng chúng tôi cần một máy bay chiếu đèn pha từ trên không. Người ở đầu dây kia khá lịch sự, nhưng không tin vào tình hình chiến sự ở Huế mà tôi mô tả, nhưng cũng hứa sẽ cho máy bay chiếu đèn pha. Chẳng có chiếc nào đến. Nhưng cuối cùng trời cũng hửng sáng.

Không thể có được điều kiện khí tượng nào thuận lợi hơn cho tấn công Huế mà Quân Giải phóng đã có được trong dịp Tết này. Trừ một số khoảng thời gian ngắn vào các buổi tối, khí tượng 4 ngày liền (năm sớm âm lịch), trời luôn bao phủ bởi trần mây thấp với mây mù hoặc sương mù, không có khả năng sử dụng đại bác cỡ nhỏ của máy bay chiến đấu Spu-ky (Spooky) (AC-47). Nhưng chúng tôi được chiếu đèn từ máy bay rất tốt kể từ đêm thứ hai của cuộc tiến công Tết trở đi (từ đêm 1 âm lịch, hoặc ngày 1-2 dương lịch)…

Lính thủy đánh bộ Mỹ đã tới và với một giá khủng khiếp về thương vong, từng bước chiếm lại khu vực phía nam sông Hương. Một bãi đáp được thiết lập ở công viên nhỏ nằm giữa Dinh tỉnh trưởng và bờ nam sông Hương. Ở bên bờ Bắc tình hình cũng không mấy sáng sủa nên tôi đáp trực thăng Hu-uây (Huey) sang phía SCH sư đoàn 1 quân Sài Gòn để xem không quân Mỹ có thể trợ chiến tốt hơn cho tướng Ngô Quang Trưởng và các đơn vị của ông ta…

Lê Đỗ Huy (dịch)
qdnd.vn

[1]http://www.amazon.com/Palace-Gate-Under-Siege- January/dp/0887407455