QĐND – Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta, nhằm giành lại ưu thế, địch truy xét gắt gao các cơ sở của ta và đàn áp nhân dân. Để mở rộng vùng giải phóng trên đất bạn Lào, giúp đỡ xây dựng lực lượng vũ trang cho bạn và tập kết, bảo vệ an toàn cho lực lượng của ta, Quân khu Nam Lào quyết định mở mặt trận A – Nam Lào.
Nhằm tăng cường bảo vệ phòng không cho mặt trận, Đoàn 559 điều động Đại đội phòng không 18 cho Quân khu Nam Lào. Đại đội 18 trang bị chủ yếu súng máy phòng không 12,7mm. Nhiệm vụ của đại đội là phải bắn rơi máy bay địch tại sân bay A-ta-pơ nhằm xây dựng niềm tin cho nhân dân các bộ tộc Lào và tạo điều kiện thuận lợi khi làm công tác dân vận.
Sau khi tiến hành trinh sát thực địa tại sân bay, đại đội nhận thấy đây là một sân bay do quân ngụy Lào nắm giữ, nhưng chủ yếu là máy bay của Mỹ với các loại như L19, OV10, AD6, DC4, C47 có nhiệm vụ là vận chuyển hàng hóa, vũ khí, lương thực thực phẩm cho ngụy Lào, cũng như chiến trường Đông Dương của Mỹ. Sân bay được bảo vệ bằng trận địa hỏa lực pháo cối, ĐKZ… Đại đội xác định, vị trí để bắn máy bay là đầu đường băng, nơi địch ít chú ý hơn. Tuy nhiên lực lượng tiếp cận để đánh không thể đông người vì dễ bị lộ. Do vậy đơn vị quyết định sử dụng lực lượng nhỏ đánh nhanh rồi rút, mục tiêu là máy bay vận tải. Điểm ngắm được xác định là bắn theo vật chuẩn chứ không theo cách thông thường của súng 12,7mm.
Cuối tháng 2-1968, Tổ phòng không tầm thấp của đại đội với 2 khẩu đội 12,7mm vào chiếm lĩnh trận địa. Súng được ngụy trang bằng vải dù, cành cây; người ban ngày chỉ có cách nằm im, ban đêm lực lượng tiếp tế của ta mới đưa lương thực vào. Sau hai ngày nằm tại vị trí mà chưa có cơ hội nổ súng vì máy bay chủ yếu là các loại máy bay trinh sát chưa đúng ý định của cấp trên, cơ hội thành công là không cao. Đến ngày thứ ba, khoảng 8 giờ, một chiếc máy bay DC4 hạ cánh xuống và lúc 10 giờ chuẩn bị cất cánh. Toàn tổ được lệnh nổ súng. Khi chiếc máy bay cất cánh bay lên ở độ cao khoảng 50m với vật chuẩn là ngọn cây, cả 2 khẩu đội cùng khai hỏa. Chiếc máy bay DC4 bị trúng đạn chao đảo, phụt khói đen và rơi xuống. Cả 2 khẩu đội khẩn trương rút khỏi trận địa ẩn nấp tại hầm ếch ở khe một con suối cạn.
Bị tiến công bất ngờ, một lúc sau, địch mới dùng hỏa lực bắn dồn dập về vị trí có tiếng súng nhằm tiêu diệt lực lượng của ta. Song chúng đã bắn vào trận địa trống, toàn tổ phòng không đã rút về đơn vị an toàn. Trận đánh táo bạo, vào tận nơi để tiêu diệt máy bay địch đã tạo niềm tin cho nhân dân.
LÊ HỒNG PHI
Ông cha ta đánh giặc
* Liên lạc viên “đặc biệt”
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, ở mặt trận Thừa Thiên-Huế, cơ quan thông tin Bộ chỉ huy chiến dịch đã tổ chức một phân đội thông tin liên lạc cơ động làm nhiệm vụ triển khai hệ thống thông tin ở Sở chỉ huy tiền phương. Ngoài tổ chức sử dụng hệ thống vô tuyến điện sóng ngắn, hữu tuyến điện và thông tin truyền đạt, để giữ liên lạc với Trung đoàn 6 và các lực lượng của ta tiến công vào thành phố Huế, cơ quan thông tin còn đặt một máy thông tin vô tuyến điện sóng ngắn loại PRC-25 làm nhiệm vụ canh và tiếp chuyển thông tin liên lạc từ Sở chỉ huy chiến dịch đến các đơn vị.
Tuy nhiên, sau khi tiến hành tổng tiến công và nổi dậy ở Thừa Thiên và thành phố Huế, tình hình chiến sự phát triển rất nhanh. Lực lượng thông tin liên lạc phải chia thành nhiều tổ, đội bảo đảm, song chưa đáp ứng yêu cầu khẩn trương của chiến dịch. Bộ chỉ huy chiến dịch trên mặt trận Thừa Thiên-Huế lúc này phải sử dụng lực lượng liên lạc viên là những cơ sở cách mạng, cán bộ Đảng, kể cả Bí thư Huyện ủy dẫn đường cho bộ đội vào tác chiến ở thành phố Huế, các huyện và xã, phường, thị trấn. Nhờ lực lượng liên lạc viên “đặc biệt”, sự giúp đỡ tích cực của cán bộ địa phương, hệ thống giao liên của Đảng, nên Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ huy được thông suốt, các đơn vị chiến đấu giành thắng lợi, làm chủ thành phố Huế gần một tháng.
QUANG PHÁT
“Tương kế, tựu kế” phá thủ đoạn phục lót
Sau cuộc Tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968, lợi dụng khó khăn tạm thời của ta, quân đội chính quyền Sài Gòn và chư hầu sử dụng thủ đoạn phục kích, lót sẵn (bộ đội ta gọi là phục lót) rất lì lợm và nham hiểm nhằm đánh phá, ngăn chặn tiếp xúc giữa cán bộ với quần chúng; chặt đứt hành lang giao thông, đảm bảo hậu cần từ đồng bằng lên các căn cứ, thực hiện bao vây, cô lập “tát nước, bắt cá”… gây cho ta một số tổn thất nhất định.
Quyết tâm phá tan âm mưu, thủ đoạn của địch, Huyện ủy Tuy Hòa (Phú Yên) tập trung lãnh đạo đấu tranh bằng nhiều biện pháp, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng vũ trang và quần chúng nhân dân. Tổ chức Đảng các cấp, các đảng viên trung kiên kiên trì bám trụ, bám quần chúng và lãnh đạo các đoàn thể; bộ đội địa phương, du kích tập trung nghiên cứu thủ đoạn và quy luật “phục lót” của địch để đề ra biện pháp khắc chế; trinh sát vũ trang, du kích trừng trị những tên ác ôn có nhiều nợ máu để răn đe… Qua trinh sát, phân tích, ta phát hiện quy luật: Khi phát hiện lực lượng ta, địch sử dụng toán phục kích nhỏ, mỗi tên bí mật cõng một tên; bố trí trận địa phục kích nhiều vòng có chiều sâu nhằm nghi binh và đánh lạc hướng ta…
Đêm 12-8-1969, ta phát hiện 20 tên địch cõng nhau, phủ tăng che kín tổ chức hành quân đi phục lót. “Tương kế, tựu kế”, Huyện đội Tuy Hòa cơ động Đại đội 377 bộ đội địa phương bí mật, bố trí trận địa sẵn tại các địa điểm mà địch thường phục lót. Đúng như dự kiến của ta, tốp địch vừa lọt vào trận địa Bến Sách (Hòa Tân), đại đội bộ đội địa phương Tuy Hòa nổ súng, tiêu diệt tại chỗ 12 tên, 8 tên còn lại lợi dụng đêm tối tháo chạy. Sau trận này, địch hoang mang, không dám sử dụng thủ đoạn phục lót. Trận đánh phản phục lót thể hiện quyết tâm chiến đấu cao, nghiên cứu, nắm chắc tình hình địch; mưu trí, sáng tạo trong sử dụng lực lượng, bố trí trận địa và cách đánh, phá tan thủ đoạn của địch, thúc đẩy tiến trình cách mạng phát triển trong toàn huyện.
TRẦN VĂN
qdnd.vn