(ĐCSVN) – “Việc phúc quyết Hiến pháp là vấn đề rất hệ trọng đối với một quốc gia. Để thực hiện được vấn đề này phải có những điều cần và đủ sao cho việc phúc quyết đó khi được tiến hành phải thể hiện được ý chí và bảo vệ được quyền lợi của quốc gia, của dân tộc và của đại đa số các tầng lớp nhân dân.”Nhân dịp năm mới, Tiến sĩ luật học- Nguyễn Đình Quyền, Phó Chủ nhiệm Ủy ban tư pháp của Quốc hội đã chia sẻ với Phóng viên Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam xung quanh các nội dung cơ bản trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.
Phóng viên (bên phải) trao đổi với đồng chí Nguyễn Đình Quyền, Phó Chủ nhiệm
Ủy ban tư pháp của Quốc hội xung quanh các nội dung cơ bản trong Dự thảo
sửa đổi Hiến pháp năm 1992.
Phóng viên: Theo đồng chí, mục tiêu và yêu cầu sửa đổi Hiến pháp năm 1992 lần này được đặt ra như thế nào?
Đồng chí Nguyễn Đình Quyền: Thứ nhất, theo tôi bản Hiến pháp lần này cần có tên gọi là “Hiến pháp năm 1992 sửa đổi”, bởi vì những vấn đề cốt lõi nhất của một bản Hiến pháp, những tư tưởng, nguyên lý, nguyên tắc về thể chế chính trị, bộ máy nhà nước, mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, giữa Đảng và Nhà nước đều được kế thừa từ Hiến pháp năm 1992. Điểm khác nhau cơ bản giữa bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp lần này và Hiến pháp năm 1992 ở điểm nó được hoàn thiện hơn về mọi phương diện để phúc đáp một cách toàn diện yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tôi thấy trên một số báo, truyền hình, bài viết có sử dụng thuật ngữ Hiến pháp là “đạo luật gốc”, “đạo luật mẹ” nhưng theo tôi nên sử dụng đúng thuật ngữ của ngành luật Hiến pháp đó là: “đạo luật cơ bản” của Nhà nước.
Thứ hai, mục đích và yêu cầu của bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp lần này là tiếp tục khẳng định và làm sâu sắc hơn nữa, hoàn thiện hơn nữa về chủ quyền nhân dân. Hay nói cách khác là hoàn thiện hơn nữa nguyên lý ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Hiến pháp của Mỹ, Hiến pháp dân quyền của Pháp cũng có những quy định tương tự về vấn đề này. Tuy nhiên, chủ quyền nhân dân trong Hiến pháp của nước ta được thể hiện trên các phương diện về chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, nguyên tắc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước và đặc biệt là trách nhiệm của các cơ quan trong việc thực hiện quyền lực Nhà nước. Chủ quyền nhân dân được thực hiện thông qua hai hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Hiến pháp năm 1992 đã thể hiện khá rõ về chế độ dân chủ đại diện, nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Dân chủ trực tiếp cũng đã được thể hiện nhưng chưa hoàn thiện, chưa sâu sắc và lần sửa đổi này chúng ta có nhiệm vụ phải làm cho hoàn thiện và sâu sắc hơn. Thứ ba, ở nước ta quyền lực Nhà nước là thống nhất và thuộc về nhân dân, nhưng có sự phân công phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Dự thảo sửa đổi Hiến pháp lần này làm rõ hơn phạm vi, nội hàm của quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp để tránh việc trùng dẫm dẫn đến làm giảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động của nhau; chỉ ra chủ thể của việc thực hiện các quyền này và điều quan trọng là hoàn thiện hơn nữa về sự phối hợp và nhất là vấn đề kiểm soát quyền lực, để sao cho quyền lực mà nhân dân giao cho các cơ quan Nhà nước phải được bảo đảm thực hiện một cách công khai, minh bạch, có trách nhiệm, vì dân và đặt dưới sự giám sát của nhân dân. Điểm nhấn về vấn đề này là hoàn thiện hơn nữa các phương diện thể hiện trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong mối quan hệ với công dân.
Thứ tư, việc hoàn thiện hơn nữa mọi thiết chế dân chủ trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân là một yêu cầu khách quan, cần thiết trong sửa đổi Hiến pháp lần này, phúc đáp yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thiết chế dân chủ phải được thể hiện rõ trên mọi phương diện và nhất là phương diện trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước.
Thứ năm, một trong những nội dung cơ bản của dự thảo sửa đổi Hiến pháp lần này đó là hoàn thiện hơn nữa những quy định về quyền con người, quyền công dân. Hiến pháp năm 1992 quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Các quyền và nghĩa vụ phát sinh trong mối quan hệ với Nhà nước, theo đó quyền luôn đi liền với nghĩa vụ của công dân. Tuy nhiên, con người sinh ra có những quyền tự nhiên như quyền được sống, quyền sống trong môi trường lành mạnh, quyền lao động… mà không cần phải gắn với một nghĩa vụ nào cả. Về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được hoàn thiện theo hướng thể hiện rõ hơn trên các phương diện, nhất là việc bảo đảm những điều kiện thực hiện từ phía các cơ quan Nhà nước. Điểm nhấn cơ bản trong phần này của bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp đó là kế thừa cách quy định của Hiến pháp năm 1946 đã đưa Chương về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ngay sau Chương thứ nhất về chế độ chính trị. Các bản Hiến pháp nói chung có hai nội dung cơ bản nhất đó là chính thể và mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân được thể hiện ở quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Do đó, việc sắp xếp bố cục trong bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp cũng thể hiện việc đề cao quyền con người, quyền công dân trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Trên đây là toàn bộ mục tiêu và yêu cầu của việc sửa đổi Hiến pháp lần này, trong đó trọng tâm là hoàn thiện về hệ thống chính trị, nhất là bộ máy Nhà nước; bảo đảm phân công rạch ròi về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp; hoàn thiện và sâu sắc hơn về nền dân chủ, mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân.
Phóng viên: Thưa đồng chí, về bản chất, nhà nước ta là “Nhà nước của dân, do nhân dân và vì nhân dân”. Do vậy, ngoài hình thức sử dụng quyền của mình thông qua các cơ quan Nhà nước thì nhân dân có thể trực tiếp thực hiện thông qua việc phúc quyết hoặc trưng cầu dân ý đối với những vấn đề lớn, hệ trọng của đất nước. Vấn đề này được thể hiện trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 như thế nào?
Đồng chí Nguyễn Đình Quyền, Phó chủ nhiệm Ủy ban tư pháp của Quốc hội
Đồng chí Nguyễn Đình Quyền: Phúc quyết Hiến pháp và trưng cầu dân ý là chế định pháp luật để bảo đảm phương diện nhân dân thực hiện quyền dân chủ trực tiếp của mình. Trên thế giới, tùy thuộc vào chế độ chính trị, nền dân chủ, bản chất giai cấp, truyền thống văn hóa, lịch sử, dân tộc… mà ở mỗi quốc gia nội hàm của quyền dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện cũng rất khác nhau. Ở Việt Nam, qua mỗi giai đoạn phát triển, mỗi thời kỳ của cách mạng các quyền này cũng có sự thay đổi theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn. Việc quy định và thực hiện quyền dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, như chế độ chính trị, cách thức tổ chức bộ máy Nhà nước, nền dân chủ, tính pháp quyền, trình độ dân trí, ý thức pháp luật, kỷ cương xã hội… Việc hoàn thiện các quyền này cả trên quy định của Hiến pháp và pháp luật cũng như trên thực tiễn thể hiện sự văn minh, sự phát triển của một xã hội, một Nhà nước; sự phát triển đó không chỉ phụ thuộc vào chính thể mà còn phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển của chính thể đó. Ở Việt Nam, từ khi thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cho đến nay, dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp luôn được khẳng định, kế thừa và phát triển qua từng giai đoạn phát triển của đất nước và thể hiện rõ nhất qua bốn bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980 và Hiến pháp năm 1992. Việc sửa đổi lần này tất yếu phải được hoàn thiện hơn kể cả về mặt quy định và các biện pháp bảo đảm thực hiện từ phía nhà nước. Phúc quyết Hiến pháp và trưng cầu dân ý là nội dung quan trọng của việc hoàn thiện này. Trên thế giới, các quốc gia theo hệ thống luật án lệ như Anh, Mỹ, Canada, Australia, New Zealand… thường hay sử dụng hình thức trưng cầu dân ý nhiều hơn so với các nước theo hệ thống luật châu Âu lục địa như Việt Nam. Chế định trưng cầu dân ý khác với việc lấy ý kiến nhân dân. Trưng cầu dân ý là việc người dân trực tiếp quyết định một vấn đề gì đó theo trình tự, thủ tục do luật định còn việc lấy ý kiến nhân dân thì quyền quyết định thuộc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, như việc lấy ý kiến nhân dân về bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp thì quyền quyết định thuộc Quốc hội. Trong trưng cầu dân ý hoặc phúc quyết Hiến pháp thì ý kiến của người dân là quyết định chứ không chỉ mang ý nghĩa nghiên cứu, tham khảo, tiếp thu. Việc phúc quyết Hiến pháp là vấn đề rất hệ trọng đối với một quốc gia. Để thực hiện được vấn đề này phải có những điều cần và đủ sao cho việc phúc quyết đó khi được tiến hành phải thể hiện được ý chí và bảo vệ được quyền lợi của quốc gia, của dân tộc và của đại đa số các tầng lớp nhân dân. Tư tưởng và hướng sửa đổi về nội dung này trong Hiến pháp làm sao để có thể thể chế hóa cụ thể trong luật để đưa vào cuộc sống khi cần thiết.
Phóng viên: Trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 có bổ sung mới một số nội dung về Hội đồng Hiến pháp, Hội đồng bầu cử Quốc gia, Kiểm toán Nhà nước… Đồng chí có thể cho biết mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của việc bổ sung này?
Đồng chí Nguyễn Đình Quyền:Thực ra những thiết chế trên đây không phải là những vấn đề mới ở nước ta. Trong các kỳ bầu cử Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Hội đồng nhân dân, theo quy định của Hiến pháp và pháp luật chúng ta đã thành lập các tổ chức bầu cử bao gồm Hội đồng bầu cử, Ủy ban bầu cử, Tổ bầu cử. Tuy nhiên, các tổ chức này sau khi hoàn thành nhiệm vụ thì không tiếp tục duy trì và hoạt động nữa. Tham khảo kinh nghiệm hoạt động của một số nước thì thấy Hội đồng bầu cử quốc gia thường là những cơ quan hoạt động thường xuyên để đảm nhiệm những vấn đề liên quan đến bầu cử ở cả Quốc hội và các Hội đồng địa phương. Các tổ chức này cũng làm luôn những vấn đề liên quan đến trưng cầu dân ý và phúc quyết Hiến pháp. Ở một số quốc gia, còn thành lập những Viện nghiên cứu về bầu cử, trưng cầu, phúc quyết trong Hội đồng bầu cử quốc gia để tổng kết, nghiên cứu, kiến nghị hoàn thiện hơn nữa các chế định này qua mỗi lần bầu cử sao cho dân chủ hơn, hiệu quả hơn và phản ánh một cách chính xác, đầy đủ nhất ý chí và nguyện vọng của đa số các tầng lớp nhân dân. Thông qua đó, Hội đồng bầu cử quốc gia sẽ kiến nghị những vấn đề về hoạch định chính sách trong việc hoàn thiện các chế định này. Tuy nhiên, ở Việt Nam chúng ta chưa có tổ chức chuyên nghiên cứu và hoàn thiện về chế định bầu cử, trưng cầu dân ý và phúc quyết Hiến pháp một cách độc lập. Do đó, việc bổ sung Hội đồng bầu cử quốc gia là cần thiết để góp phần hoàn thiện hơn nữa chế độ dân chủ ở Việt Nam.
Về Hội đồng bảo hiến, có rất nhiều quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề này. Riêng tôi thì không mặn mà gì lắm về việc thành lập Hội đồng bảo hiến, vì cơ chế bảo hiến trong hệ thống pháp luật của chúng ta hiện nay cũng đã khá đầy đủ, nhất là về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hậu quả pháp lý của việc hủy bỏ các văn bản pháp luật trái với quy định, tinh thần và nội dung của Hiến pháp. Vấn đề ở chỗ lâu nay chúng ta thực hiện chưa được tốt; việc kiểm tra, thanh tra, giám sát để phát hiện hủy bỏ những văn bản pháp luật trái với Hiến pháp làm chưa được nhiều. Do đó, theo tôi, phải tiếp tục kiện toàn về mặt tổ chức, cán bộ và xác định rõ hơn trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong việc phát hiện, xử lý các văn bản trái với quy định của Hiến pháp. Tham khảo kinh nghiệm của một số nước cho thấy, Tòa án Hiến pháp hoặc Hội đồng bảo hiến thường phát triển mạnh ở những quốc gia có nhiều đảng phái chính trị và bộ máy nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc phân quyền. Khi các đảng phái tranh giành quyền lực trong việc nắm giữ bộ máy Nhà nước, nhất là việc tranh giành đó lên đến cực điểm hoặc các nhánh quyền hành pháp, lập pháp, tư pháp có xung đột thì vai trò của Tòa án Hiến pháp hoặc Hội đồng bảo hiến được phát huy, bảo đảm cho sự tranh giành, xung đột đó không làm phương hại đến lợi ích quốc gia, lợi ích của cộng đồng dân cư, lợi ích của nhân dân. Ở nước ta, quá trình cách mạng dựng nước và giữ nước cũng như xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay luôn bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, là yếu tố quan trọng cho mọi thắng lợi của cách mạng; Nhà nước ta thực hiện khối đại đoàn kết toàn dân với nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp thì không nhất thiết phải có một Tòa án để phán xử về vấn đề liên quan đến phân chia quyền lực trong Hiến pháp. Tôi ủng hộ hơn về việc hoàn thiện cơ chế bảo hiến. Theo đó, Ủy ban pháp luật của Quốc hội phải tăng cường trách nhiệm làm tốt hơn chức năng bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật; Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội tổ chức và tăng cường giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật; các cơ quan khác của Nhà nước phải thường xuyên kiểm tra, thanh tra, xử lý văn bản ban hành trái với quy định của Hiến pháp. Cần sớm hoàn thiện cơ chế, thủ tục của việc phát hiện hủy bỏ, bãi bỏ các văn bản trái với Hiến pháp. Để làm được vấn đề này, chúng ta cần tổng kết thật kỹ lưỡng việc thực hiện cơ chế bảo hiến trong thời gian qua để thấy được những gì đã làm được, chưa làm được, những bất cập về cơ chế chính sách hoặc cách thức tổ chức thực hiện. Vấn đề là Hiến pháp phải được chấp hành một cách nghiêm chỉnh, bảo vệ lợi ích của người dân và xác định rõ, tăng cường được trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong thực thi quyền lực.
Về kiểm toán, trên thế giới đây là tổ chức ra đời và hoạt động đã lâu, đó là một kênh kiểm soát của Nhà nước để bảo đảm từng đồng tiền của người dân nộp thuế vào ngân sách Nhà nước phải được sử dụng công khai, minh bạch, có hiệu quả không bị lãng phí, không bị tham nhũng, không bị tha hóa. Nhà nước là người thay mặt nhân dân sử dụng các nguồn đóng góp của dân từ ngân sách phải bảo đảm đúng pháp luật và đặt dưới sự giám sát của nhân dân. Kiểm toán chính là một chế định để bảo đảm cho việc kiểm soát chi tiêu của Nhà nước được tuân thủ theo đúng pháp luật, công khai, minh bạch và có hiệu quả. Ở nước ta, trong nhiều năm Kiểm toán nhà nước là hệ thống các cơ quan thuộc Chính phủ. Theo luật hiện nay Kiểm toán chịu trách nhiệm trước Quốc hội và trước Chính phủ. Theo tôi, đây là quy định nửa vời. Kiểm toán cần phải được tổ chức độc lập với Chính phủ, các cơ quan của Chính phủ thì mới bảo đảm tính khách quan trong việc kiểm soát chi tiêu và sử dụng ngân sách Nhà nước. Cơ quan Kiểm toán phải do Quốc hội thành lập. Tổng Kiểm toán Nhà nước phải do Quốc hội bầu trong số các vị Đại biểu Quốc hội. Quốc hội các nước rất ngặt nghèo với Chính phủ, các cơ quan của Chính phủ, các cơ quan tổ chức khác trong việc chi tiêu và sử dụng ngân sách Nhà nước. Tôi tin rằng việc hoàn thiện hơn nữa vai trò, địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ và nhất là trách nhiệm của Kiểm toán Nhà nước trong việc kiểm soát chi tiêu, sử dụng ngân sách Nhà nước sẽ là kênh quan trọng giúp Quốc hội trong việc giám sát việc thực hiện ngân sách Nhà nước có hiệu quả hơn.
Việc bổ sung các quy định về Hội đồng bảo hiến, Hội đồng bẩu cử quốc gia và Kiểm toán Nhà nước trong bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp lần này có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện hơn nữa nền dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện của việc xây dựng nhà nước pháp quyền và nhất là hoàn thiện hơn nữa trách nhiệm của Nhà nước với nhân dân.
Phóng viên: Đề nghị đồng chí làm rõ nội dung sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 khẳng định sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và làm rõ về phương thức lãnh đạo như thế nào?
Đồng chí Nguyễn Đình Quyền: Theo tôi, sự lãnh đạo của Đảng là một tất yếu khách quan và được kế thừa, phát triển qua các bản Hiến pháp. Sửa đổi Hiến pháp lần này được nâng ở tầm cao hơn theo hướng Đảng lãnh đạo toàn diện Nhà nước và xã hội nhưng không làm thay công việc của bộ máy Nhà nước. Có thể nói đây là định hướng lớn nhất trong việc tiếp tục đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng. Hiện nay, tại một số địa phương vẫn còn lẫn lộn giữa lãnh đạo chỉ đạo của cấp ủy Đảng và quản lý điều hành của các cơ quan Nhà nước. Sự trùng dẫm này, trong một số trường hợp sẽ làm giảm hiệu lực, hiệu quả hoặc có thể dẫn đến vô hiệu hóa hiệu lực của nhau. Do đó, việc tiếp tục hoàn thiện nội hàm sự lãnh đạo của Đảng (trong Hiến pháp chỉ có thể quy định mang tính nguyên tắc) sẽ bảo đảm nâng cao và tăng cường hơn nữa hiệu lực và hiệu quả sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, đồng thời cũng làm rõ hơn trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong việc hoạch định chính sách, pháp luật cũng như tổ chức thực hiện, tuân thủ các chính sách pháp luật đó. Muốn vậy hoạt động và nhất là trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước phải công khai, rõ ràng, minh bạch và trách nhiệm hơn. Sự lãnh đạo của Đảng là tuyệt đối, toàn diện nhưng phải được đổi mới hơn nữa trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, theo đó, Hiến pháp, luật là độc tôn, là tối thượng.
Phóng viên: Xin đồng chí cho biết về sự cần thiết phải thành lập một cơ quan chuyên trách để làm nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp?
Đồng chí Nguyễn Đình Quyền:Theo tôi, nếu đã tổng kết nghiên cứu kỹ và có cơ chế hữu hiệu hơn so với việc bảo vệ Hiến pháp hiện nay thì việc ra đời một cơ quan chuyên trách cũng là cần thiết, nhưng nếu cơ quan chuyên trách ra đời chỉ để thực hiện cơ chế bảo hiến như hiện nay thì theo tôi không cần thiết. Vấn đề ở chỗ chúng ta phải nghiên cứu để tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp, đồng thời hãy tổ chức thực hiện cho thật tốt những quy định của pháp luật liên quan vấn đề này cũng là tốt lắm rồi. Không phải cứ nhất thiết phải có cơ quan chuyên trách về bảo hiến thì Hiến pháp mới được bảo vệ.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn đồng chí! Kính chúc đồng chí và gia đình năm mới an khang, thịnh vượng.
Thanh Hoa (thực hiện)
dangcongsan.vn