Archive | 2012

Cuộc tiến công lúc giao thừa

Huế 1968

QĐND – Năm 2004, NXB Schiffer Publishing phát hành cuốn Cửa vào Hoàng cung: Cuộc giải vây Huế Tết 1968 (Palace Gate: Under Siege in Hue City: TET January 1968)[1] của Trung tá phi công hồi hưu Ri-sớc Brao (Richard Brown). Người lái máy bay trinh sát Mỹ này đã chứng kiến những khoảnh khắc hệ trọng, khởi đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, tạo nên bước ngoặt cho cuộc kháng chiến chống Mỹ tại địa bàn quan trọng thứ hai trên toàn miền Nam: Thành phố Huế.

Tiệc và pháo hoa ngày Tết

Các dịp Lễ tạ ơn, Thiên chúa giáng sinh và Tết Dương lịch ở Huế không có gì khác so với những ngày thường, chỉ có thực đơn nhà ăn sĩ quan là thay đổi. Vào kỳ Giáng sinh 1967, có thấy nói ngừng bắn, nhưng chúng tôi vẫn phải bay tất cả các phi vụ như ngày thường.

Bìa cuốn sách “Cửa vào Hoàng cung: Cuộc giải vây Huế Tết 1968”.

Tiệc tùng ngày Tết đều là các đại tiệc. Tôi đi dự hai trong số đó, trong đó có một đại tiệc do tướng Ngô Quang Trưởng làm chủ tiệc. Một ban nhạc dân tộc Việt mặc áo thụng đỏ và vàng công diễn cạnh một biệt thự của Pháp bên bờ sông Hương, gửi những giai điệu qua tất cả các cửa sổ nào mở. Hầu hết các nhạc công đều đã cao tuổi, khoảng từ 60 đến 70. Nhiều người trong họ để râu dài đến gần thắt lưng. Có lẽ họ đã từng chơi nhạc cho vua nhà Nguyễn.

Một đơn vị VNCH tăng cường cho sư đoàn BB 1 của quân đội Sài Gòn mời tất cả bộ phận giám sát không kích tại tiền duyên của không lực Mỹ tới dự tiệc Tết của họ. Mỗi chúng tôi cũng đóng tiền túi vào hỗ trợ chi phí cho bữa tiệc. Một trong các nghi thức là giết một con bò và xẻ thịt nó thành miếng cho món nướng. Một số thùng phuy loại 55 galon (200 lít) được xẻ dọc làm đôi. Nửa số thùng phuy bổ đôi này được đem đựng hỗn hợp sền sệt của gia vị và các đồ mắm xốt cay nóng để tạo thêm nhiệt từ chính chúng. Một nửa số thùng bổ đôi còn lại đựng than củi đốt cho hồng lên, trên đậy sẵn các vỉ lớn bằng sắt. Cách ăn là dùng một xiên tre nhúng một miếng thịt vào thùng đựng gia vị, tẩm nó cho đến khi thấm đẫm hương liệu, rồi kẹp vào vỉ nướng trên lửa. Khi miếng thịt đã chín, chúng tôi cần đến một quyết tâm cao để ăn hết nó. Bản năng tự đề kháng của cái bụng trước thách thức của món ăn nóng hừng hực này buộc ta phải nốc tất cả những chất lỏng nào trong tầm tay mình. Ấy vậy mà cuối tiệc tôi quay lại bãi nướng (barbecue) để tìm chút thịt nướng được mệnh danh là “cái chết đen”, nhưng chẳng còn một miếng nào. Một vài “con ma” (ý nói lính Mỹ, lính Sài Gòn) liều mạng đang cố thọc tay vào chỗ gia vị còn nóng, tìm một vài miếng thịt tuột khỏi xiên khi ngâm tẩm gia vị. Chỉ uống có dăm ngụm rượu, nhưng tôi cũng thấy ngà ngà say.

Sáng hôm sau, một nhân viên FAC xòe cho tôi cẳng tay cháy trụi hết lông. Không lẽ chúng tôi nhét ngần ấy thức ăn vào bụng. Không lẽ chúng tôi ăn hết một con bò?

Nửa đêm 29 Tết, tựa như mọi cỡ súng ở Nam Việt Nam đều tuôn hết đạn lên trời. Đạn súng máy, đạn vạch đường, pháo sáng, mọi hỏa khí nào có thể tạo tiếng nổ, hoặc soi sáng, đều phát hỏa. Ở Trung Quốc người ta đốt pháo để đuổi tà ma. Còn ở Việt Nam, tà ma bị súng bắn rụng.

Hàng triệu đô-la Mỹ bị bắn lên trời, và gần như mỗi xu đều đến từ người đóng thuế suốt đời tận tâm ở Hoa Kỳ. Nhưng những loạt tiếng nổ mà tôi sẽ được biết sau 24 giờ nữa sẽ chẳng ồn hơn bao nhiêu.

Trước giờ G

Sau khi giải quyết một số trục trặc kỹ thuật, tôi cất cánh theo kế hoạch, lên hướng thung lũng A Sầu vào rạng sáng 30 Tết. Điều kiện khí tượng như sau: Trời u ám, có mây mù. Quan sát không được tốt, do đó tôi hạ độ cao xuống, hướng về một điểm phía trên ngọn núi đầu tiên trên hướng này, tính toán sao cho không dễ bị trúng đạn từ mặt đất.

Một phần của phi vụ trinh sát là phát hiện bất cứ biểu hiện khác lạ nào, bất cứ thay đổi nào của địa hình. Trong thời gian 9 tháng ở đất nước này, tôi chưa hề nhìn thấy một bóng người nào trên mạng đường mòn trải từ mảnh đất dốc thoai thoải từ góc phía nam Huế tới ngọn núi đầu tiên, rồi từ đó tới rừng. Tôi nghĩ những con đường mòn này là do những người thiểu số sống ở đây thành đường. Một khi hàng tháng nay không có ai qua lại, cỏ đã mọc um tùm trên đường mòn.

Tôi không nhìn thấy ai trên đường mòn, nhưng những đám cỏ từng mọc bời bời trên đó cũng biến mất. Những đường mòn trở nên sậm màu và rộng ra; hoàn toàn không còn vết tích của màu xanh. Có nghĩa là đã có nhiều người đi trên con đường này hồi đêm.

Quân Mỹ phản kích tại Huế.

Tôi vẫn bay về hướng ngọn núi, nhưng linh cảm sẽ không có cách nào thật an toàn để bay vượt được tới A Sầu vào sáng hôm đó.

Hơn nữa, những con đường mòn thật đáng chú ý. Tôi vòng lại rồi bay về góc tây của thành Huế.

Tôi hạ cánh rồi đánh xe tới sở chỉ huy sư đoàn BB 1 của quân đội Sài Gòn. Không có ai ngoài một sĩ quan trực nhật không nói được tiếng Anh và vài người thư ký. Đại tá cố vấn A-đam (Adams) có vẻ không mấy quan tâm tới những gì tôi quan sát được. Tôi trình một báo cáo tình báo qua các kênh của không lực Mỹ rồi quay về trại. Đa số các cố vấn Mỹ xem nhẹ báo cáo này, vì các chỉ huy VNCH mà họ cố vấn cho sẽ không làm việc ngày Tết.

Tôi muốn quân lực VNCH báo động nhưng không thể tìm được ai có đủ thẩm quyền. Chiều tối hôm đó tôi lại cất cánh để quan sát những gì xảy ra tại địa bàn phía tây Huế. Trời rất mù, tầm nhìn giảm xuống tới chỉ khoảng 1 dặm (1,6km), trần mây hạ thấp xuống khoảng 500 feet (150m), quá thấp so với thiết bị trinh sát trên máy bay của tôi. Tôi đưa máy bay vào bãi đỗ, rồi đi về phía nhà ăn…

Thời khắc số không

Các pháo thủ của Quân Giải phóng bắn thật chính xác. Quả đạn pháo 122mm đầu tiên rơi trúng nóc sở chỉ huy của viên tỉnh trưởng Thừa Thiên. Phòng ngủ của tôi ở tầng 2 ngôi nhà, chỉ cách sở chỉ huy trên có một con phố hẹp, nên tiếng nổ ghê gớm này bảo với tôi rằng đêm giao thừa âm lịch này sẽ trở thành một thời khắc vô cùng đặc biệt…

Tôi choàng dậy, tìm đường lần về Sở chỉ huy bay (SCH). Một quả rốc-két rơi trúng hàng rào dây thép gai chạy dọc theo con đường giáp dãy nhà ngủ của sĩ quan Mỹ gần nơi tôi ở. May thay, cánh cửa nhà che chắn tôi khỏi trái này. Các mảnh đạn và mảnh dây thép gai từ các phía cày lên các bờ tường và đồ đạc, nhưng chỉ có vài miếng đâm vào má, cánh tay tôi. Đáng kể có một mảnh cứa mạnh vào tay trái.

Một số xe cộ đỗ dọc theo hàng rào bắt lửa, tạo ánh sáng cho tôi bật chiếc máy thu âm cá nhân, rồi băng vết thương trên tay trái và tìm thấy một chiếc áo bay. Tôi khoác khẩu M-16 của tay phi công cùng phòng vào người (khẩu của tôi bị phá hủy ở Khe Sanh) rồi tìm cách lần ra Sở chỉ huy bay. Không ai biết quả rốc-két tiếp theo rơi ở đâu, nên chuyến đi này giống như trò chơi cò quay kiểu Nga (roullette – một quả cầu nhỏ chạy vòng vòng trên bàn sòng bạc có hình nón quay tít, không ai biết khi bàn quay dừng lại quả cầu sẽ rơi vào vị trí nào trên bàn).

Tôi vừa vào đến SCH thì có ai đó, mặt đầy máu, bước vào, gào lên rằng quân Mỹ trong tòa nhà cao cấp (VIP house) đang khốn đốn, cần hỗ trợ. Tôi lao tới đó.

Một quả B-40 bắn trúng vào một máy điều hòa nhiệt độ lắp trong tường, mảnh đạn bắn tung khắp trong phòng. Một số sĩ quan Mỹ bị thương. Một quả khác bắn trúng tháp canh, làm một người Mỹ khác bị thương rất nặng. Có vẻ như quân tấn công định đột nhập vào trại Mỹ theo hướng này. Đại tá Ki-lơ (Keeler) đã đoán đúng.

Trời tối đen như mực, mây đen và sương mù dày đặc. Quân đối phương ào ạt tới. Chúng tôi bắn dữ dội về góc phố đó đến mức tôi nghĩ khó ai có thể sống sót. Chúng tôi phải ghìm đối phương xuống để có thể sơ tán thương binh Mỹ từ tháp canh ra. Cùng lúc, có tiếng ai hỏi đèn pin. Tôi tìm cách đi ra chiếc xe jeep của mình, đỗ gần SCH. Không có cách gì tiếp cận. Chiếc jeep đỗ gần hàng rào, không xa những chiếc xe đang cháy. Sẽ là tự sát nếu cứ cố ra xe, vì lửa cháy chiếu rõ toàn cảnh. Nó đã bị thủng lốp, và bị phá hỏng một số chỗ. Quay trở vào SCH, tôi nghe tiếng chuông điện thoại. Tôi thật ngạc nhiên vì Quân Giải phóng chưa phá hỏng đường dây. Tôi gọi cho trung tâm hỗ trợ trực tiếp đường không ở Đà Nẵng, giải thích rằng chúng tôi cần một máy bay chiếu đèn pha từ trên không. Người ở đầu dây kia khá lịch sự, nhưng không tin vào tình hình chiến sự ở Huế mà tôi mô tả, nhưng cũng hứa sẽ cho máy bay chiếu đèn pha. Chẳng có chiếc nào đến. Nhưng cuối cùng trời cũng hửng sáng.

Không thể có được điều kiện khí tượng nào thuận lợi hơn cho tấn công Huế mà Quân Giải phóng đã có được trong dịp Tết này. Trừ một số khoảng thời gian ngắn vào các buổi tối, khí tượng 4 ngày liền (năm sớm âm lịch), trời luôn bao phủ bởi trần mây thấp với mây mù hoặc sương mù, không có khả năng sử dụng đại bác cỡ nhỏ của máy bay chiến đấu Spu-ky (Spooky) (AC-47). Nhưng chúng tôi được chiếu đèn từ máy bay rất tốt kể từ đêm thứ hai của cuộc tiến công Tết trở đi (từ đêm 1 âm lịch, hoặc ngày 1-2 dương lịch)…

Lính thủy đánh bộ Mỹ đã tới và với một giá khủng khiếp về thương vong, từng bước chiếm lại khu vực phía nam sông Hương. Một bãi đáp được thiết lập ở công viên nhỏ nằm giữa Dinh tỉnh trưởng và bờ nam sông Hương. Ở bên bờ Bắc tình hình cũng không mấy sáng sủa nên tôi đáp trực thăng Hu-uây (Huey) sang phía SCH sư đoàn 1 quân Sài Gòn để xem không quân Mỹ có thể trợ chiến tốt hơn cho tướng Ngô Quang Trưởng và các đơn vị của ông ta…

Lê Đỗ Huy (dịch)
qdnd.vn

[1]http://www.amazon.com/Palace-Gate-Under-Siege- January/dp/0887407455

Nhà tù Tân Hiệp và cuộc giải thoát táo bạo

Đây là cuộc vượt ngục lớn chưa từng có trong lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta. Giữa những hàng rào dày đặc dây thép gai và họng súng của quân thù, những chiến sĩ Cộng sản tay không đã mưu trí, dũng cảm đứng lên giải thoát 462 tù chính trị trở về với cách mạng, với nhân dân.

“Trung tâm huấn chính” trá hình

Tháng 7-1955, đế quốc Mỹ thay chân Pháp lập ra chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm ở miền Nam, ngoan cố cự tuyệt Tổng tuyển cử, thẳng tay khủng bố, đàn áp phong trào cách mạng miền Nam. Chúng lập ra nhiều nhà tù tại tỉnh Biên Hòa, trong đó có nhà tù Tân Hiệp. Đến tháng 12-1956, chính quyền Ngô Đình Diệm đã bắt giam lại nhà lao Tân Hiệp 1.872 tù nhân, có 79 nữ, số đông là Đảng viên Cộng sản…

Nhà tù Tân Hiệp là một trong 6 nhà tù lớn nhất của Mỹ-ngụy ở miền Nam (Côn Đảo, Phú Quốc, Chí Hòa, Thủ Đức, Phú Lợi và Tân Hiệp). Nhà tù được xây dựng trên địa bàn ấp Tân Hiệp, xã Bình Trước, quận Đức Tu, tỉnh Biên Hòa, nay là phường Tân Tiến thuộc thành phố Biên Hòa.

Toàn bộ khu vực nhà tù nằm trên một khu đất cát hình chữ nhật, địa hình ẩm thấp, có tổng diện tích là 36.000m2. Phía đông nhà tù giáp cụm dân cư Tân Hiệp, phía tây giáp rạch Đồng Tràm, phía nam giáp đường xe lửa Bắc-Nam, phía bắc giáp Quốc lộ 1 (đối diện với Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa).

Đài tưởng niệm cuộc nổi dậy phá nhà lao Tân Hiệp (Biên Hòa). Ảnh: Nguyễn Thành

Nơi đây vào những năm đầu của thế kỷ 20 còn là một vùng đất hoang hóa, rừng đồi lúp xúp, dân cư thưa thớt. Đến khi phát xít Nhật đảo chính thực dân Pháp để độc chiếm Đông Dương ngày 9-3-1945, chúng bắt đầu tiến hành xây dựng một đồn nhỏ do một tiểu đội lính Nhật chốt đóng để bảo vệ chiếc cầu bắc qua rạch Đồng Tràm trên Quốc lộ 1, con đường huyết mạch đi vào Biên Hòa và thành phố Sài Gòn.

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, thực dân Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai và đến tháng 10-1945 chúng tái chiếm lại thị xã Biên Hòa. Trên cơ sở đồn binh nhỏ của Nhật, Pháp củng cố lại, mở rộng thêm và đưa một trung đội lính lê dương đến trấn giữ với nhiệm vụ bảo vệ tuyến đường Quốc lộ 1 và cơ sở nhà thương điên Biên Hòa.

Cũng trên tuyến đường Quốc lộ 1, ở khu vực Hố Nai (cách Tân Hiệp khoảng 2km về phía Đông), từ đầu năm 1946 giặc Pháp cũng thiết lập một trại đóng quân của một đơn vị thiết giáp và một trại giam để giam giữ những cán bộ, chiến sĩ và du kích của ta bị chúng bắt được trong các cuộc hành quân càn quét.

Quy mô chiến tranh ngày càng phát triển, trại giam Hố Nai không đủ sức chứa hết tù nhân, Pháp mở rộng đồn binh Tân Hiệp và biến nó thành trại giam “Tù binh chiến tranh” của tỉnh Biên Hòa. Trại tù này tồn tại cho đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp tháng 7-1954.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, cùng với việc ráo riết xây dựng bộ máy thống trị từ Trung ương tới địa phương, chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm tiến hành khủng bố, bắt bớ, giam cầm số cán bộ chiến sĩ kháng chiến cũ, đồng bào yêu nước và các phe nhóm chính trị, quân sự không ăn cánh với chúng như: Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo.

Một công cụ không thể thiếu được đối với bộ máy phát xít Mỹ-Diệm là hệ thống nhà tù-trại giam. Vì vậy giữa năm 1955, nhà tù Tân Hiệp được chúng cải tạo, mở rộng thành một nhà tù lớn ở miền Nam.

Để che đậy bộ mặt phản động, tránh sự phản ứng tố cáo của Ủy ban kiểm soát và giám sát quốc tế và dư luận tiến bộ trong và ngoài nước, Mỹ-Diệm cải tên nhà tù Tân Hiệp thành cái tên mị dân là “Trung tâm huấn chính Biên Hòa”. Nhưng thực chất đây là địa ngục trần gian. Theo nhiều nhân chứng kể lại, hằng ngày những tên cai ngục dùng nhiều thủ đoạn thâm độc và dã man để tra tấn về thể xác và tinh thần tù chính trị, nhưng không thể khuất phục được ý chí chiến đấu kiên cường của những chiến sĩ cách mạng.

Cuộc vượt ngục dũng cảm

Ngày 2-12-1956, những người tù chính trị ở nhà tù Tân Hiệp đã nổi dậy vượt ngục trở về với cách mạng, với nhân dân.

Trước đó, các Đảng viên Cộng sản đã bí mật liên lạc nhau hình thành các tổ chức Đảng, thành lập Đảng ủy của nhà lao có 5 đồng chí do Nguyễn Trọng Tâm làm Bí thư. Đảng ủy lãnh đạo cuộc vượt ngục, bầu Chỉ huy trưởng là đồng chí Cội, Huyện đội phó Củ Chi, lập 4 đội xung kích gồm những cán bộ, đảng viên khỏe mạnh làm nòng cốt, phân công cụ thể đánh chiếm các mục tiêu.

Thời điểm nổ ra cuộc vượt ngục, nhà tù Tân Hiệp đã được củng cố, xây dựng hoàn chỉnh. Toàn khu vực được bao kín bằng hai lớp kẽm gai và một hệ thống 9 tháp canh lớn, mỗi tháp canh có 3 tên lính gác. Các tháp canh số 1, 3, 5, 7 được trang bị súng trung liên. Cổng trại giam bằng thép dày, rộng 4m, cao 2,4m. Cạnh cổng là đồn canh lớn và kho súng. Nơi đây thường xuyên có một tổ lính bảo an canh gác suốt ngày đêm.

Lúc 17 giờ 45 phút ngày 2-12-1956, cuộc nổi phá nhà tù Tân Hiệp bắt đầu. Sau khi tiếng kẻng của tên lính gác báo cho tù vào trại cũng là hiệu lệnh, 4 đội xung kích với khoảng 120 đồng chí đồng loạt xung phong đánh chiếm các mục tiêu. Khoảng 70 người nhằm kho súng phía trước trại ào tới. Tất cả đều tay không, xông vào đánh giáp lá cà với một trung đội địch, thu 50 khẩu súng, rồi bắn kiềm chế lô cốt số 1 và số 2 để cho các chiến sĩ tù chính trị thoát ra ngoài. Số người chạy ra ngoài cổng như làn sóng lớn, xô đổ cả cổng sắt vốn được làm rất chắc chắn. Sục sôi tiếng hô xung phong, tiếng bước chân rầm rập vượt qua cổng sắt, rồi băng qua Quốc lộ 1, vượt rạch Đồng Tràm tỏa về các hướng tìm cơ sở cách mạng và chiến khu.

Trong những phút đầu, lực lượng xung kích của ta hoàn toàn làm chủ tình hình. Bị tấn công bất ngờ, địch trong nhà tù vô cùng hoảng hốt, chỉ lo bảo toàn tính mạng nên chưa có hành động chống trả. Theo chủ trương của Đảng ủy, ta không giết một tên lính nào nhằm hạn chế sự trả thù của chúng với những người còn lại. Hơn 15 phút sau, bọn địch trong nhà tù mới hoàn hồn, vội vã nổ súng truy đuổi. Súng trung liên ở các lô cốt bắn xối xả ra cổng nhà tù và hướng các tù nhân chính trị đang chạy. Dười làn đạn dày đặc của kẻ thù, nhiều đồng chí trúng đạn bị thương và hy sinh nằm rải rác trước cổng trại, ven bờ suối. Đồng chí Phan Văn Rô là chiến sĩ xung kích dũng cảm đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng; Nhà thơ, nhà báo, người Đảng viên Cộng sản Dương Tử Giang bị thương nặng, cố lết được đến bên bờ suối thì hy sinh, trên tay còn ôm chặt chiếc đàn ghi-ta, người bạn thân thiết và là vũ khí chiến đấu của anh suốt những năm tháng bị giam cầm trong ngục tù.

Trong cuộc vượt ngục này địch đã bắn chết 22 đồng chí và bắn bị thương 6 đồng chí khác. Chúng ta thu được 53 súng, có 2 trung liên, đã giải thoát 462 tù nhân chính trị. Số cán bộ này sau đó về làm nòng cốt xây dựng Đảng ở các tỉnh thành, xây dựng lực lượng vũ trang ở miền Đông Nam Bộ, lập các Đại đội 250, 59, 80… và xây dựng một tiểu đoàn quân chủ lực của tỉnh Long An. Trong số đó, có người sau này trở thành Anh hùng LLVT nhân dân như bí thư Đảng ủy nhà tù Nguyễn Trọng Tâm, có người trở thành cán bộ lãnh đạo như ông Nguyễn Văn Thông, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Biên Hòa.

Cuộc vượt ngục Tân Hiệp là cuộc giải thoát kỳ diệu của những người tù Cộng sản kiên trung bất khuất, mưu trí, sáng tạo, anh dũng tuyệt vời để trở về với đồng đội và nhân dân tiếp tục hoạt động cách mạng cho đến ngày Toàn thắng.

Tháng 10-2009, UBND tỉnh Đồng Nai đã phê duyệt diện tích xây dựng gần 5.200m2, kinh phí hơn 5 tỷ đồng để trùng tu tôn tạo nhà lao Tân Hiệp tại phường Tân Tiến, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, để giáo dục truyền thống vẻ vang cho thế hệ hôm nay và thế hệ trẻ mai sau.

Huỳnh Văn Tám
qdnd.vn

Mỏ neo trong “Tết Mậu Thân”

Bình luận viên W.Cron-kai-tơ:

QĐND – Được đánh giá là chiếc mỏ neo của truyền thông Mỹ, W.Cron-kai-tơ (1916-2009) đã làm việc suốt hai thập kỷ (1962-1981) trên buổi phát tin tối của kênh CBS. Ở thời hoàng kim (1960-1970) của kênh truyền hình này, ông được xem là “người đáng tin cậy nhất nước Mỹ”. Sinh thời, ông đã tường thuật nhiều sự kiện lớn nhất trong thế kỷ 20 của nước Mỹ như Thế chiến II, tòa án Nu-rem-béc (Nuremberg) xử tội phạm phát xít, cuộc chiến tranh Việt Nam, các chương trình chinh phục vũ trụ của Mỹ, vụ ám sát Tổng thống Giôn Ken-nơ-đi (John Kennedy)…

Thả chệch neo tại “Vịnh Bắc Bộ”

Ngày 12-8-2004, nhân kỷ niệm 40 năm sự kiện Vịnh Bắc Bộ, W.Cron-kai-tơ (Walter Cronkite) có bài bình luận trên Đài Phát thanh quốc gia Hoa Kỳ NPR nhan đề Cuộc tiến công của những con ma trên Vịnh Bắc Bộ: Sai sót tình báo góp phần dẫn đến quyết định đánh Việt Cộng (Gulf of Tonkin’s Phantom Attack: Faulty Intelligence Played Role in Decision to Engage Viet Cong). Qua bài này, Cron-kai-tơ muốn tự bào chữa cho truyền thông Mỹ và bản thân ông vào năm 1964 đã bị “nhử” vào dàn đồng ca về “vụ Vịnh Bắc Bộ” của chính quyền Giôn-xơn (Johnson), chỉ vì “đã quá tin vào các báo cáo chính thức”.

Những diễn biến tiếp theo của cuộc chiến tranh cục bộ ở Việt Nam hẳn đã làm con người có lương tri Cron-kai-tơ tìm kiếm cơ hội “phản pháo”, hoàn trả cho mô hình “súng và bơ” bộ mặt thật của nó. Sang Nam Việt Nam về sau khi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân nổ ra, Cron-kai-tơ đã đăng đàn phát biểu trên CBS News ngày 27-2-1968, khi cao điểm đợt 1 các “làn sóng tiến công của Việt Cộng” dâng tràn trên các kênh truyền thông Mỹ.

Tết 1968: Lời nói đọi máu

Phong trào chống chiến tranh ở Mỹ hôm nay vẫn nhớ những lời bình luận quả cảm của Cron-kai-tơ trong đêm 27-2-1968. Sau khi ông kết bài bình luận bằng câu: “Đây là Cron-kai-tơ. Chúc ngủ ngon”, thì lương tri Mỹ bắt đầu những đêm mất ngủ, sẽ kéo dài suốt 7 năm sau.

Bình luận của Cron-kai-tơ có tựa đề gây chấn động: “Chúng ta đang ngập vào vũng lầy không lối thoát”. Ông bắt đầu như sau:

“Hôm nay, trở lại với không gian quen thuộc quanh Niu Y-oóc, chúng tôi muốn tóm tắt những gì đã tai nghe mắt thấy ở Việt Nam, trong một phân tích có tính suy đoán, riêng biệt, tự cảm nhận. Ai thắng, ai thua trong cuộc tiến công đại quy mô các thành phố? Tôi không biết. Việt Cộng đã không thắng được nhờ một đòn nốc ao, nhưng chúng ta cũng vậy. Lịch sử sẽ phán xét và sẽ rút ra bài học…”.

Một câu trong bình luận, được dẫn rất nhiều trong sách báo phương Tây:

“Chúng ta đã quá thường xuyên phải thất vọng bởi sự lạc quan của các nhà lãnh đạo nước Mỹ, ở cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ, đến mức khó có thể tiếp tục tin vào những an ủi giữa cơn bĩ cực mà họ vẫn tìm thấy trong những đám mây đen tối nhất”.

W.Cron-kai-tơ trầm ngâm giữa đường phố Hà Nội, đầu năm 1973.

Tổng thống Giôn-xơn than thở sau buổi phát hình ngày 29-2-1968 của Cron-kai-tơ: “Mất Cron-kai-tơ, có nghĩa là tôi mất tầng lớp trung gian ủng hộ chính quyền. Ba tuần sau, Giôn-xơn lên truyền hình tuyên bố sẽ không tìm cách tái cử tổng thống một nhiệm kỳ nữa và quyết tìm giải pháp cho chiến tranh qua đàm phán với đối phương.

1968: Năm bạo lực và chia rẽ ở Mỹ

Sau những phát súng của Tết Mậu Thân “như nổ trên đường phố Hoa Kỳ” và tuyên bố “làm thế giới sửng sốt” của Tổng thống Giôn-xơn (31-3) là cuộc ám sát Lu-thơ Kinh (Luther King), lãnh tụ phong trào đòi bình quyền của người da đen (4-4), dẫn đến loạt bạo động trên khắp nước Mỹ, cuộc ám sát ứng cử viên hòa bình Đảng Dân chủ Rô-bớt Ken-nơ-đi (Robert Kennedy) (5-5)… Trong thời gian Hội nghị Đảng Dân chủ đề cử ứng cử viên tổng thống cuối tháng 8-1968, Đảng này chia tách thành hai phái: Ủng hộ và phản đối chiến tranh. Từ 26 đến 29-8 những người biểu tình ủng hộ ứng viên hòa bình Mắc Ca-thi (McCarthy) tuần hành một cách ôn hòa trên các đường phố chính của Chi-ca-gô (Chicago), nơi diễn ra hội nghị Đảng Dân chủ. Nhưng ở cao điểm, chiều 27-8, nhiều người biểu tình “chiếm” ngọn đồi trong Công viên Lớn (Grand Park), phất cờ của Mặt trận giải phóng và “Bắc Việt Nam”. Thống đốc Chi-ca-gô thuộc phe chủ chiến trong Đảng Dân chủ, điều cảnh sát và 6000 vệ binh quốc gia tới đàn áp cuộc biểu tình. Toàn nước Mỹ xem tường thuật trực tiếp cuộc động loạn này, chia sẻ với bình luận của Cron-kai-tơ trên kênh CBS, sự căm phẫn với chính sách thẳng tay đàn áp của nhà cầm quyền…

Sinh viên Mỹ giương cờ Việt Nam dân chủ cộng hòa và cờ Mặt trận dân tộc giải phóng tại Công viên Lớn, Chi-ca-gô, tháng 8-1968. Ảnh tư liệu

Hàng trăm người biểu tình và hơn 100 cảnh sát bị thương. Trong số 700 người bị bắt có những người đấu tranh vì hòa bình nổi tiếng và là khách thường xuyên của Hà Nội như: Đê-vít Đen-linh-gơ (David Dellinger), Tôm Hay-đơn (Tom Hayden)…

Truyền thông Mỹ cũng nhắc nhở rằng, chính lúc này Ních-xơn đã lợi dụng sự chia rẽ của nước Mỹ và cả trong Đảng Dân chủ đối lập, đưa ra những chiêu bài chính trị để “đánh lộn sòng”, theo đuổi đường lối chiến tranh trong gần hai nhiệm kỳ nữa.

Thuật ngữ quân sự mới

Cuối bình luận trên kênh CBS đêm 27-2-1968, Cron-kai-tơ kêu gọi Nhà Trắng hãy đàm phán với Hà Nội và “Việt Cộng” hơn là đánh ra miền Bắc, hay dùng vũ khí hạt nhân, hay đưa thêm 100.000, 200.000 hay 300.000 quân Mỹ nữa sang Việt Nam. Ông đưa ra một khái niệm mới cho nền chính trị của chiến tranh và can thiệp quân sự: “Hiện đã rõ ràng hơn bao giờ hết là sự trải nghiệm bằng máu của Mỹ ở Việt Nam đang mắc kẹt trong tình thế không lối thoát”.

Trước Tết Mậu Thân, người Mỹ chỉ nhìn nhận hoạt động chiến tranh trong hai khái niệm thắng – thua, biểu thị bằng con số: Đếm được nhiều xác “địch” hơn, kiểm soát được nhiều lãnh thổ hơn. Từ sau 27-2-1968, trong từ điển quân sự Mỹ xuất hiện một từ mới: Stalemate, có nghĩa là thế bí, là tiến thoái lưỡng nan, bó tay, lạc nước… Còn một thuật ngữ nữa hình thành trong thời kỳ cuối 1967 – đầu 1968 là “Việt Nam-cuộc chiến trên truyền hình”.

Tháng 6-2011, đã xuất bản cuốn Không có chiến thắng rõ ràng: Đo đếm hiệu lực và tiến bộ của quân đội Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Tác giả G.Đát-đi (G.Daddis) đã dùng thuật ngữ của Cron-kai-tơ, đặt tên cho Chương 6 của sách là Năm của cuộc tiến công Tết: Thắng lợi, Thất bại, hay Bế tắc? Theo G.Đát-đi, Mỹ thất bại ở Việt Nam vì thứ nhất, các nhà chiến lược chỉ chú trọng thu thập dữ liệu mà không tập trung vào phân tích dữ liệu, đồng thời, quân đội Mỹ sản xuất tới 14.000 pound (gần 7 tấn) báo cáo trong một ngày, một số lượng quá lớn để có thể phân tích hiệu quả; thứ hai, do quân Mỹ đã đo lường sai các chỉ tiêu thắng lợi và do nhầm lẫn về… thuật ngữ, chẳng hạn, khái niệm tiến triển (progress) và hiệu quả (effectiveness) là khác nhau.

Quên mình dẫn dắt nhận thức

Một phóng sự truyền hình của Cron-kai-tơ trên kênh CBS được nhiều người Mỹ ghi nhớ là “Danh dự, nghĩa vụ và một cuộc chiến tranh được gọi là Việt Nam”, được ông thực hiện ở Hà Nội năm 1985 về bài học chiến tranh Việt Nam đối với nước Mỹ. Tờ Thời báo Niu Y-oóc có nhận xét rằng, các bức ảnh về “người đáng tin cậy nhất nước Mỹ” ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh 10 năm sau khi chiến tranh kết thúc cho thấy ông thật trầm tư mặc tưởng.

Thời báo Niu Y-oóc nhận thấy, các bài về chiến tranh Việt Nam của CBS, thường do Cron-kai-tơ không hẳn nói về chiến tranh, mà nói đến cảm nhận về nó, rằng các phóng sự Việt Nam của ông thường “nghiêm trang”, thậm chí nhuốm màu “tang tóc”. Và tờ báo cũng nhắc lại rằng, Cron-kai-tơ nhiều lần nói nước Mỹ đã thua, rằng Việt Nam là “thất bại quân sự duy nhất của nước Mỹ”. Bài viết này được xuất bản năm 1985, nhận xét rằng, Cron-kai-tơ luôn mong người Mỹ nuôi hy vọng rằng sẽ không còn một (chiến tranh) Việt Nam nữa, rằng ông muốn Chính phủ Mỹ phải hỏi ý kiến dân trước khi đưa lính Mỹ dấn vào các cuộc viễn chinh.

Nhưng vẫn còn những phái “diều hâu” tới nay vẫn chưa vỡ lẽ tại sao quân đông tướng mạnh mà chính quyền Giôn-xơn phải đề xuất thương lượng để cầu hòa. Vẫn còn những khẳng định Mỹ “thắng về quân sự”, cụ thể về “đếm xác”, về số chiến dịch được tiến hành, số đạn pháo được bắn, số trận phục kích được thực hiện… Vì thế, từ đầu thiên niên kỷ mới, đã xuất hiện những cuộc chiến của Mỹ ở Áp-ga-ni-xtan và I-rắc. Chúng nhanh chóng trở nên không có lời giải và truyền thông Mỹ đã phải “chế” thêm những thuật ngữ mới, như VietIstan, hay AfganisNam, IraqiNam… đồng nghĩa với từ sa lầy, bó tay mà Cron-kai-tơ đã đưa ra từ thời Tết Mậu Thân.

Lê Thành
qdnd.vn

Về bức tranh khắc “Pháp Lan Tây dừ Lưu Nghĩa đại chiến hình đồ” (Cuộc đại chiến giữa quân Pháp và quân của Lưu Vĩnh Phúc)

QĐND – Tạp chí “Những tư liệu lớn có minh họa về Đông Dương của lịch sử một thế kỷ 1843-1944” do Nhà sách Pa -ri xuất bản tháng 10-1995, trang 68-69 có đăng bài viết vào ngày 29-2-1884 kèm một bức tranh quân Pháp đánh thành Sơn Tây (Việt Nam) và một tranh khắc Trung Quốc có nhan đề “Pháp Lan Tây dừ Lưu Nghĩa đại chiến hình đồ” (chiến hình đồ sao bạch bằng vẽ lại, khắc lại) … không đề tác gió, ngày tháng, năm sáng tác.

Bức tranh khắc “Pháp Lan Tây dừ Lưu Nghĩa (Lưu Vĩnh Phúc) đại chiến hình đồ”.

Theo sách “Những tư liệu lớn có minh họa…”, đây là tranh được tờ “Thời báo” (Pháp) có xuất xứ từ Trung Quốc công bố, được phổ biến trong nhiều thành phố ở Trung Quốc khi Sơn Tây thất thủ. Tranh miêu tả quân Pháp với các chiến hạm “đông vô kể” và được sự giúp đỡ của bộ binh, kỵ binh Nhật Bản tấn công Sơn Tây, bấy giờ do Lưu Vĩnh Phúc, Tướng quân Cờ Đen canh giữ, đã đánh lui quân Pháp… Tờ “Thời báo” bình luận có thể đây là “một khoa trương” của quân Cờ Đen chăng?

Lịch sử chiếm đóng Bắc Kỳ qua tài liệu Pháp cho biết: “Ngày 17-12-1883 cờ ba sắc xanh, trắng, đỏ của Pháp đã bay trên thành Sơn Tây sau 3 ngày ác chiến với quân Cờ Đen. Phía Pháp có 320 người bị loại khỏi vòng chiến đấu gồm 80 người chết, 240 người bị thương”. Bài báo không đề cập gì tới sự tham gia của quân Nhật giúp quân Pháp đánh quân Cờ Đen.

Chiến dịch Bắc Kỳ, quân Pháp chiếm Sơn Tây. (tranh vẽ)

Nhưng trên bức tranh, qua các chú thích chữ Trung Quốc (và cả chú thích tiếng Pháp), người đọc có thể nhận biết trên bản vẽ:

Số 3: Quân Cờ Đen của Lưu Nghĩa

Số 6: Quân Cờ Đen

Số 8: Trung quân của quân Cờ Đen

Số 13-14: Quân Cờ Đen

Số 15: Quân Nhật

Số 16: Quân Nhật

Số 19: Kỵ binh Nhật

Số 20: Lính pháo binh Pháp

Số 21: Tàu chiến, thuyền chiến Pháp…

Qua bức tranh này, bên cạnh những sự kiện khác có một thông tin cần kiểm chứng:

– Quân Pháp có thuê quân Nhật đánh thành Sơn Tây không? Nếu có, chỉ có bộ binh hay cả kỵ binh, bao nhiêu người?

Xin bạn đọc và các nhà nghiên cứu cho ý kiến bổ sung.

Thủy Trường
qdnd.vn

Chế độ quân hàm của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc

QĐND – Trước khi thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc đã hai lần dự định thực hành chế độ quân hàm. Nhưng do hoàn cảnh, hai lần dự định ấy đều không thể thực hiện.

Sau khi thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, nhằm tăng cường xây dựng quân đội Trung Quốc chính quy hóa, hiện đại hóa, mùa đông năm 1952, quân đội Trung Quốc đã bắt tay nghiên cứu chế độ quân hàm.

Ngày 26-11-1952, trong báo cáo với Chủ tịch Mao Trạch Đông và Quân ủy Trung ương, Cục Cán bộ Tổng bộ Chính trị đã sơ bộ đệ trình kế hoạch và những vấn đề chuẩn bị thực hành chế độ quân hàm.

Lễ tấn phong quân hàm Nguyên soái nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, năm 1955. Chủ tịch Mao Trạch Đông trao quân hàm cho Nguyên soái Chu Đức.

Năm 1955, quân đội Trung Quốc chính thức thực hiện chế độ quân hàm.

Xây dựng cấp bậc của chế độ quân hàm lần này được dựa trên cơ sở của hệ thống cấp bậc quân hàm truyền thống của Trung Quốc, đồng thời có tham khảo theo chế độ quân hàm của các nước Liên Xô, Triều Tiên.

Chế độ quân hàm đặt 4 cấp 14 bậc, tức Đại nguyên soái nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Nguyên soái nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Đại nguyên soái thực tế không thụ phong); Đại tướng, Thượng tướng, Trung tướng, Thiếu tướng; Đại tá, Thượng tá, Trung tá, Thiếu tá; Đại úy, Thượng úy, Trung úy, Thiếu úy.

Ngày 27-9-1955, Hội nghị lần thứ 22 Quốc hội Trung Quốc đã thông qua Nghị quyết thụ phong quân hàm Nguyên soái nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

Cùng ngày, Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã thụ phong quân hàm Nguyên soái nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cho 10 vị: Chu Đức, Bành Đức Hoài, Lâm Bưu, Lưu Bá Thừa, Hạ Long, Trần Nghị, La Vĩnh Hằng, Từ Hướng Tiền, Nhiếp Vinh Trăn, Diệp Kiếm Anh.

Thủ tướng Quốc vụ viện Chu ân Lai đọc mệnh lệnh và thụ phong quân hàm Đại tướng nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cho 10 người: Túc Dụ, Hoàng Khắc Thành, Đàm Chính, Tiêu Kinh Quang, Vương Thụ Thanh, Trần Canh, La Thụy Khanh, Hứa Quang Đạt, Từ Hải Đông, Trương Vân Dật; Thụ phong quân hàm Thượng tướng cho 55 người; Thụ phong quân hàm Trung tướng cho 175 người; Thụ phong quân hàm Thiếu tướng cho 801 người (trong đó có đồng chí Hồng Thủy -Nguyễn Sơn, người Việt Nam, người nước ngoài duy nhất được phong hàm cấp tướng của Trung Quốc).

Về sau, trong thời gian từ năm 1956 đến năm 1964, lại tiếp tục tấn phong một loạt tướng quân. Đến năm 1965, tổng cộng đã thụ phong quân hàm cấp tướng cho 1.614 người.

Ngày 22-5-1965, Hội nghị Thường vụ lần thứ 9 Quốc hội Trung Quốc khóa 3 đã thông qua “Quyết định về thủ tiêu chế độ quân hàm Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc”, bắt đầu thi hành từ ngày 1-6-1965.

Tháng 3-1980, Chủ tịch Quân ủy Trung ương Đặng Tiểu Bình đề xuất cần thực hiện lại chế độ quân hàm.

“Luật Binh dịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” do Hội nghị Thường vụ lần thứ 2 Quốc hội Trung Quốc khóa 6 họp ngày 31-5-1984 thông qua, đã quy định: “Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc thực hành chế độ quân hàm”.

Tháng 6-1985, Quân ủy Trung ương triệu tập Hội nghị mở rộng, kiên quyết đề xuất cắt đứt thể chế quân hàm đã thực hành từ năm 1965 về trước, “thực hành chế độ quân hàm mới”.

Ngày 1- 7-1988, Hội nghị Thường vụ lần thứ 2 Quốc hội Trung Quốc khóa 7 đã thông qua “Điều lệ Quân hàm Sĩ quan Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc”.

Chế độ quân hàm của hạ sĩ quan, chiến sĩ đồng thời được lập. Chế độ quân hàm mới công bố không lập cấp Nguyên soái, Đại tướng và Đại úy, coi cấp Thượng tướng là quân hàm cao nhất.

Quân hàm sĩ quan thiết lập 3 cấp 11 bậc, tức là Cấp tướng gồm Thượng tướng cấp 1, Thượng tướng, Trung tướng, Thiếu tướng; Cấp tá gồm Đại tá, Thượng tá, Trung tá, Thiếu tá; Cấp úy gồm Thượng úy, Trung úy, Thiếu úy.

Sĩ quan hải quân, không quân quân hàm thêm từ “Hải quân”, “Không quân”.

Sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, trong quân hàm thêm từ “Chuyên môn kỹ thuật”.

Lãnh đạo Quân ủy Trung ương Đặng Tiểu Bình, Dương Thượng Côn chủ động đề xuất bản thân mình không nhận quân hàm, vì thế, bậc Thượng tướng cấp 1 bỏ trống.

Ngày 12-5-1994, Hội nghị Thường vụ lần thứ 7 Quốc hội Trung Quốc khóa 8 thông qua Quyết định về sửa đổi “Điều lệ Quân hàm Sĩ quan Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc”.

Điều lệ Quân hàm sau khi sửa đổi thiết lập 3 cấp 10 bậc, tức Thượng tướng, Trung tướng, Thiếu tướng; Đại tá, Thượng tá, Trung tá, Thiếu tá; Thượng úy, Trung úy, Thiếu úy.

Ngày 10-9-1995, ủy ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc khóa 8 thông qua “Luật Sĩ quan dự bị nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”, quy định quân hàm sĩ quan dự bị thiết lập 3 cấp 8 bậc, tức Thiếu tướng; Đại tá, Thượng tá, Trung tá, Thiếu tá; Thượng úy, Trung úy, Thiếu úy.

“Luật Binh dịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” công bố tháng 12-1998 quy định: Thời gian làm nghĩa vụ quân sự là 2 năm, và không kéo dài thời hạn làm nghĩa vụ nữa. Theo luật này, từ năm 1999 về sau, bỏ quân hàm Hạ sĩ quan và Quân nhân chuyên nghiệp.

Lễ Tấn phong quân hàm Thượng tướng cho 6 sĩ quan cao cấp QGPNDTQ, ngày 23-7-2011. Ảnh tư liệu

Quân hàm biên chế của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, về cơ bản thực hành chế độ một chức vụ biên chế hai bậc quân hàm, “Điều lệnh quân hàm sĩ quan…” sửa đổi do ủy ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc thông qua năm 1994, quy định: Các chức vụ Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương, ủy viên thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng bộ Chính trị biên chế quân hàm là Thượng tướng. Không thụ phong quân hàm Thượng tướng cho Chủ tịch Quân ủy Trung ương.

Biên chế quân hàm cho các chức vụ khác như sau:

Chức Trưởng Đại quân khu: Trung tướng, Thượng tướng;

Chức Phó Đại quân khu: Thiếu tướng, Trung tướng;

Chức Trưởng Quân khu: Thiếu tướng, Trung tướng;

Chức Trưởng Sư đoàn: Đại tá, Thiếu tướng;

Chức Phó Sư đoàn (chức Trưởng Lữ đoàn): Thượng tá, Đại tá;

Chức Trưởng Trung đoàn (Chức Phó Lữ đoàn): Trung tá, Thượng tá;

Chức Phó Trung đoàn: Thiếu tá, Trung tá;

Chức Trưởng Tiểu đoàn: Thượng úy, Thiếu tá;

Chức Phó Tiểu đoàn: Thượng úy, Thiếu tá;

Chức Trưởng Đại đội: Trung úy, Thượng úy;

Chức Phó Đại đội: Trung úy, Thượng úy;

Chức Trung đội: Thiếu úy, Trung úy.

Ngày 23-7-2011, Quân ủy Trung ương nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã tổ chức Lễ tấn phong quân hàm Thượng tướng cho 6 sĩ quan cao cấp là Tôn Kiến Quốc, Hầu Thụ Sâm, Phó tổng tham mưu trưởng; Giả Bình An, Phó chủ nhiệm Tổng bộ Chính trị; Lưu Hiểu Giang, Chính ủy Hải quân; Trương Hựu Hiệp, Tư lệnh Quân khu Thẩm Dương; Lý Trường Tài, Chính ủy Quân khu Lan Châu.

Tính đến ngày 23-7-2011, Quân Giải phóng nhân dân và Bộ đội cảnh sát vũ trang của Trung Quốc đã có 191 sĩ quan cao cấp được phong quân hàm Thượng tướng, quân hàm cao nhất ở Trung Quốc hiện nay.

Vũ Phong Tạo
qdnd.vn

Khám phá trại tù binh Mỹ đầu tiên

QĐND – LTS: Năm 1965, NXB International Publishers New York xuất bản cuốn “Cuộc chiến tranh du kích: tường thuật từ bên trong” của ký giả lão thành Uyn -phrết Bớc -sét (Wilfred Burchett). Độc giả phương Tây rất ấn tượng về chương nói về các tù binh Mỹ thăm vùng giải phóng miền Nam cuối năm 1963.

Chân dung tù binh Mỹ

… Bốn tù binh Mỹ tôi gặp một trong những trại giam lính Mỹ đầu tiên được thiết lập ở Đông Nam á đều là thượng sĩ, và bị bắt tại “Trại huấn luyện lực lượng đặc biệt” Hiệp Hòa đêm 23-11-1963, khi du kích đánh chiếm trại này, phá hủy toàn bộ đồ quân dụng và thu số lượng vũ khí đủ để trang bị cho một tiểu đoàn tăng cường của Quân giải phóng…

Bọn đánh thuê và người yêu nước (Patriots & Mercenaries).

K.Râu -ra-bách (Kenneth Roraback), một cựu binh chiến tranh Triều Tiên, đã phục vụ được 15 năm trong quân đội Mỹ, là người duy nhất còn thức vào lúc trận đánh nổ ra lúc nửa đêm, khi anh ta đang viết thư cho vợ. “Chuyện gì đã xảy ra?”, tôi hỏi. Râu -ra-bách cho hay, đó là một trận đánh đêm được lập kế hoạch chu đáo, tiến hành tốt, chỉ xảy ra trong 15 phút đồng hồ…

“Anh có kịp cầm vũ khí”, tôi hỏi Râu -ra-bách.

“Không còn thời gian”

“Có tổ chức đề kháng không”

Ba tù binh Mỹ còn lại là Cô -ma-chô, một người bang Tếch -dát da ngăm; Mác Clu -rơ, một chuyên gia phá hoại người Mỹ gốc Phi, và Xmít, một quân y sĩ và phụ trách điện đài, đều có nhận định giống như Râu -ra-bách. “Một cuộc tấn công đêm hoàn hảo”, Xmít nói: “Mở đầu là tập kích bằng súng cối… Mọi thứ bùng cháy chỉ trong vài phút, vì trong các boong -ke có thuốc nổ. Sau vài phút, Việt Cộng xuất hiện, họ trói tay tôi rồi đưa lên khỏi hầm”.

Cả bốn tù binh Mỹ này sau khi bị bắt đã trải qua một cuộc di chuyển nhiều tháng trời, chủ yếu là đi bộ, tuy có lúc trên xuồng ba lá, cứ đi dích dắc như vậy cho đến an toàn khu.

Tôi hỏi Râu -ra-bách, các cuộc không kích có cản trở các cuộc hành trình của họ không. “Máy bay Mỹ đã đánh phá không lâu sau cuộc tiến công vào trại huấn luyện Hiệp Hòa xảy ra… Nhờ trời, tôi đã vô sự. Khoảng hai hôm sau, máy bay B26 xuất hiện trên đầu và thực hiện 12 trận ném bom… Nhờ trời, tôi lại bình an vô sự”. Suy nghĩ của tôi chợt trở về với câu chuyện trước đó với ba chiến sĩ đã tiến công rạp Capitol (khách sạn Kinh Đô, cũng gọi là Capital), Sài Gòn: “muôn ngàn người Việt chúng tôi sẵn sàng hy sinh bất kỳ lúc nào, nhưng chúng tôi phải đổi mạng 5, 10 tên xâm lược Mỹ cho mỗi mạng người Việt chúng tôi”.

Chí nhân và cường bạo

Mỗi tù binh Mỹ cam đoan với tôi, rằng họ được đối xử tốt, và từng người trong họ đều nhấn mạnh sự ngạc nhiên về việc này. “Những người áp giải tôi đều cư xử chu đáo kể từ khi tôi bị bắt”, Râu-ra-bách kể. “Tôi đã lo mình sẽ bị bắn ngay, và tôi nghĩ rằng điều này đã thể hiện trên mặt tôi. Khi điều này không xảy ra trong những ngày đầu, tôi nghĩ họ đưa chúng tôi đi xa hơn, rồi sẽ xử bắn”.

“Tại sao anh lại nghĩ mình sẽ bị bắn?”, tôi hỏi. Râu -ra-bách lúng túng một chút, “Tôi nghĩ điều đó là bình thường”, anh ta nói, sau khi yên lặng, “Du kích không có điều kiện để đối xử với tù binh. Nhưng khi họ nhận thấy tôi sợ, họ đã làm mọi thứ để làm tôi nguôi nỗi sợ”.

“Làm sao các anh có thể giao thiệp được với du kích? “. “Không nói được. Nhưng họ vỗ nhẹ vào lưng tôi, xua tay một cách hữu nghị trước mắt tôi, đập khẽ vào tay tôi và luôn làm các cử chỉ để hiểu rằng: Đừng lo lắng”.

Phổ biến chính sách đối với tù hàng binh của MTDTGP cho đại diện Mỹ đi nhận tù binh Mỹ được phóng thích tại bến Tà Xiêm, Tây Ninh (1-1-1969). Ảnh tư liệu

Người ta có thể đoán ra ngay vì sao Râu -ra-bách và các tù binh Mỹ kia lại lo lắng. Đó là vì họ biết bất kỳ du kích nào nếu bị quân đội Mỹ bắt, sẽ nhất định bị tra tấn ngay lập tức. Và lực lượng đặc biệt mà mấy người Mỹ này tham gia vào là một trong những đội quân tàn bạo, hung hãn nhất. Người ta chỉ cần nhìn vào những tấm ảnh in trên bìa, trên trang nhất của các báo chí Mỹ chụp “tù binh Việt Cộng”, là hiểu ngay vì sao Râu -ra-bách và đồng bọn lại lo lắng. Trên bìa tờ Thời báo Niu Y -oóc ra ngày 24-5-1964 chẳng hạn, có ảnh một người Việt mình trần, nằm trên mặt đất, tay bị buộc lên trên đầu bởi một sợi cáp, nối với một chiếc xe tăng Mỹ. ảnh được chú thích vắn tắt là “Việt Cộng” này được kéo bởi chiếc tăng, kể cả qua sông, để buộc người tù binh này “mở miệng”.

Mác Clu -rơ bị thương trong đợt tiến công bởi mảnh đạn cối. “Tôi được sơ cứu ngày hôm sau và các mảnh cối được lấy ra bốn ngày sau đó”, anh ta kể. “Họ đối xử tốt với chúng tôi. Không có điều gì thô bạo. Tôi không bao giờ nghĩ sẽ được đối xử như thế. Điều này thực sự gây sửng sốt”.

“Họ cư xử thật tử tế”, Xmít nói, “nhất là các du kích làm sao có điều kiện trông coi tù binh Mỹ. Họ đã cố làm tốt nhất trong điều kiện hiện có”.

Ca-ma-chô nhận định: ‘Họ đối xử tốt. Nhưng thật khó cho họ khi phải cung cấp cho chúng tôi những thức ăn của Mỹ”. Tôi thật ngạc nhiên nhận thấy những người lính Mỹ này còn tin chắc rằng, người phương Tây không thể sống bằng cơm gạo thay cho bánh mỳ như lương thực chính. Thực phẩm là vấn đề lớn trong trông coi bốn tù binh này.

Chính sách của Mặt trận Dân tộc Giải phóng là giữ các quân nhân Mỹ bị bắt một vài tháng để giải thích cho họ về cuộc đấu tranh của Việt Nam, sau đó thả họ. Tôi nhận thấy, trại giam nhỏ này có vẻ đang sắp xếp để lo liệu cuộc sống cho nhiều tù binh Mỹ hơn, và việc đàm phán (với phía Mỹ) để thả họ trong tương lai chắc sẽ trở thành vấn đề. Quân phục của tù binh được thu giữ, và họ được may đo hai bộ bà ba. Họ được cấp xà phòng và thuốc đánh răng… Họ ở trong các căn nhà lá, có hầm tránh máy bay, và hàng rào tre vây quanh. Các tù binh Mỹ ngủ trên giường tre truyền thống của Việt Nam. Những người phụ trách trại cho hay, “dù có mong muốn đến mức nào, cũng không thể làm được xưởng bánh mỳ trong rừng”, và họ cố gắng thay đổi thực đơn để đáp ứng cái dạ dày Mỹ.

Họ ngạc nhiên khi nhìn thấy tôi lần đầu bước ra từ trong rừng, cứ như là tôi vừa từ sao Hỏa xuống. Vì họ đã sống tách ra khỏi thế giới bên ngoài vài tháng, tôi hỏi họ có câu hỏi gì không, và ngạc nhiên thấy sự quan tâm của họ quả là hạn chế.

Ca-ma-chô hỏi tôi: “ông có tình cờ biết được ai vừa giành chức vô địch quyền Anh hạng nặng thế giới không?”. May mà tôi có nghe đài nên trả lời được câu này. Một nụ cười thật mãn nguyện hiện trên khuôn mặt anh ta…

Tôi hỏi Râu -ra-bách nghĩ gì về cuộc chiến tranh, một khi anh ta đã có vài tháng để suy tư về nó. Sau khi giải thích rằng, là một quân nhân, anh ta không có quyền để thảo luận các vấn đề chính trị, Râu-ra-bách nói: “Đây thật là một bí ẩn. Tôi không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Ai phải, ai trái, ai thắng, ai thua, tức là nhìn toàn cục, tôi chẳng có khái niệm gì”. Các tù binh khác cũng trả lời tương tự. Họ “không có khái niệm” về cuộc chiến tranh này, hoặc vì sao họ lại ở đây. Họ chỉ quan tâm thuần túy đến vai trò “cố vấn” của mình.

Khi tôi hỏi Râu -ra-bách, anh ta duy trì khả năng tư duy thế nào, vì các tù binh không có gì để làm, ngoài giữ cho nơi ăn chốn ở – một căn nhà lá – cho sạch sẽ. Râu -ra-bách trả lời: “Tôi nghĩ về tất cả những gì mình làm khi về nhà. Tôi tưởng tượng là sẽ làm một cái bếp nướng thịt barbecue; sẽ làm những cái giá trong nhà bếp; làm 6 cái mô hình máy bay cho bọn trẻ và ba chiếc đài. Đấy là cách duy nhất tôi duy trì khả năng tư duy”.

Câu hỏi đặt ra là tại sao có những kẻ chẳng hề quan tâm đến lý tưởng tranh đấu, chẳng cần nhận thức vì sao xảy ra cuộc chiến, những người sẵn lòng lao vào những phận sự dữ dằn, khó chịu? Xin hãy nhìn vào đồng lương của họ. Lương cơ bản của Râu -ra-bách là 353USD hằng tháng (năm 1963, khoảng 2000USD hôm nay – ND), khi sang Nam Việt Nam công tác sẽ đạt tới 858USD thu nhập hằng tháng.

Ba “cố vấn” Mỹ còn lại nhận thêm từ 450 đến 500USD tiền phụ cấp (khi sang Việt Nam), điều làm cho họ trở thành những lính đánh thuê có mức thu nhập cao nhất từ trước đến nay, xét theo quân hàm của những quân nhân Mỹ này. Các đối thủ của họ – cán binh của Mặt trận Giải phóng, từ chiến sĩ đến chỉ huy đơn vị, nhận phụ cấp 40 đồng một tháng, bằng 1USD theo tỷ giá chính thức, và chỉ khoảng 40 xen theo giá chợ đen, cũng là thực giá theo thị trường. Nhưng sự khác biệt giữa những người yêu nước và lính đánh thuê trên gợi nhớ câu chuyện con chó săn giải thích cho chủ, vì sao nó không bắt được con mồi nhỏ, sau một cuộc rượt đuổi khủng khiếp: “Con mồi chạy vì cuộc sống của nó, còn tôi (chó săn) chạy chỉ vì bữa trưa thôi”. Người Việt chiến đấu vì sự tồn vong giống nòi, còn lính đánh thuê Mỹ thì vì bữa ăn, đây cũng là lời giải cho sự khác biệt về thắng lợi và thất bại trong loại hình xung đột đang xảy ra ở miền Nam Việt Nam…

W.BớC -SéT

Lê Đỗ Huy (lược dịch)
qdnd.vn

Cột cờ Hà Nội 200 tuổi

QĐND – Năm 1802 Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấy hiệu là Gia Long, lập vương triều Nguyễn, định đô tại Huế. Cũng bắt đầu từ đó, Gia Long hoạch định xây dựng Kinh thành Huế và các đô thị theo kiểu thành Vô-băng của Pháp.

Ở Việt Nam, kiểu thành này xuất hiện đầu tiên ở Gia Định năm 1790, tiếp đó ở Huế, Thăng Long, Sơn Tây, Nam Định, Bắc Ninh, Thanh Hóa, Vinh, Đồng Hới, Quảng Trị v.v.. Trong cấu trúc thành Vô-băng ở nước ta thường có một điểm nhấn kiến trúc quan trọng là Kỳ đài (Cột cờ). Kỳ đài Huế được xây dựng năm 1807 với chiều cao tổng thể là 54,96m, Kỳ đài Nam Định được xây dựng trong 31 năm, từ 1812 đến 1843 cao 23,84m, Kỳ đài Sơn Tây được xây dựng năm 1822… Kỳ đài Thăng Long (lúc này mang nghĩa mới là Hưng Thịnh, năm 1831, dưới thời Minh Mạng mới đổi ra Hà Nội) được xây dựng cùng với thành Vô-băng năm 1805 trên vị trí Hoàng thành xưa. Trong Đại Nam nhất thống chí có đoạn viết về Hoàng thành Hà Nội như sau: “Các cửa thành đều bắc cầu đá qua hào. Mặt trước chính giữa xây Kỳ đài. Bốn phía trên mặt thành xây 24 pháo đài”. Kỳ đài Thăng Long là điểm nhấn kiến trúc nằm trên trục Bắc-Nam, do kiến trúc sư Đặng Công Chất đốc công xây dựng theo thiết kế đã được Gia Long phê từ năm 1805 đến năm 1812 mới hoàn thành.

Cột cờ Hà Nội. Ảnh: TRUNG NGUYÊN

Kỳ đài Thăng Long (từ đây xin gọi là Cột cờ Hà Nội) gồm 3 tầng đế và một thân cột. Các tầng đế hình chóp cụt, nhỏ dần, chồng lên nhau, xung quanh ốp gạch. Tầng 1, mỗi chiều dài 42,5m, cao 3,1m, có 2 cầu thang gạch dẫn lên. Tầng 2, mỗi chiều 27m, cao 3,7m, có 4 cửa. Cửa hướng Đông, trên có đắp hai chữ “Nghênh húc” (đón ánh nắng ban mai); cửa Tây với hai chữ “Hồi quang” (ánh nắng phản chiếu); cửa Nam với hai chữ “Hướng minh” (hướng về ánh sáng); cửa Bắc không đắp chữ. Tầng 3, mỗi chiều 12,8m, cao 5,1m. Trên tầng 3 là thân cột cờ hình trụ 8 cạnh thon dần lên trên. Trong thân trụ cột cờ có cầu thang xoắn ốc với 54 bậc lên tận đỉnh. Để có ánh sáng và thông thoáng, mỗi mặt trên thân cột cờ người ta tạo ra 4-5 hình hoa thị được xếp so le trên mỗi mặt (tổng cộng có 36 hình). Ở vị trí cao nhất, mỗi mặt có một ô hình dẻ quạt. Đỉnh cột cờ được cấu tạo thành một lầu hình bát giác, cao 3,3m, có 8 cửa tương ứng với 8 mặt. Giữa lầu là một trụ tròn, đường kính 0,4m, cao tới đỉnh lầu, là chỗ để cắm cán cờ (8m). Toàn bộ cột cờ cao 33,4m, nếu kể cả trụ treo cờ thì cao 41,4m.

Trong dân gian truyền tụng:
Kỳ đài năm thước vút trời cao
Thông đạt trong tâm có đường vào
Trong sáng muôn nơi dồn cả lại
Trung tâm thiên hạ đẹp biết bao!

Các Cột cờ ở các địa phương không thể vượt độ cao của Cột cờ kinh đô Huế. Dẫu vậy, Gia Long tạo điểm nhấn kiến trúc Cột cờ trong thành-pháo đài trên các tỉnh thành, đặc biệt khu vực Bắc thành (từ Hà-Nam-Ninh trở lên biên giới Việt-Trung) muốn khẳng định uy quyền của mình trên vùng đất dân chúng còn nặng tình với nhà Lê.

Trong những năm 1894-1897, người Pháp đã tiến hành phá hầu hết thành Hà Nội để xây dựng Thủ phủ Đông Dương theo kiến trúc phương Tây. Một vài công trình kiến trúc Hà Nội đã thoát khỏi sự ứng xử thô bạo của người Pháp, trong đó có cửa Bắc, Đoan Môn và Cột cờ. Một bức ảnh xưa nhất do Louis Sadoul chụp năm 1890 còn lại cho ta thấy khu vực vườn hoa tượng đài Lê-nin dưới chân Cột cờ còn là hồ Voi (nơi tắm cho voi) và quân Pháp đang xây dựng doanh trại và Cột cờ Hà Nội được dùng làm đài quan sát.

Cột cờ Hà Nội nằm trên đại lộ Puy-gi-ni-ê, nhưng dân gian thường gọi là đường Cột Cờ. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ta đã chính thức hóa tên gọi thân quen này. Vì thế, nhà thơ Xuân Diệu có câu thơ nhắn nhủ với những người bạn xa gần của mình rằng:

Nhà tôi hai bốn Cột Cờ,
Ai thân thì ghé, ai sơ thì đừng

Cột cờ Hà Nội sừng sững, hiên ngang, kiêu hãnh vươn lên trời xanh, chứng kiến bao kỳ tích của đất nước, của thủ đô Hà Nội kiêu sa. Sau cuộc chiến đấu cầm chân địch suốt 60 ngày đêm cho cuộc rút lui chiến lược của Chính phủ kháng chiến Hồ Chí Minh lên Việt Bắc, Trung đoàn Thủ Đô tạm biệt Hà Nội, ra đi “đầu không ngoảnh lại” và hẹn ngày tái ngộ trên mảnh đất hùng thiêng này.

Ngày 10-10-1954, đoàn quân chiến thắng theo năm cửa ô, trong rừng cờ hoa của người Hà Nội, vào tiếp quản Thủ đô. Chiều hôm đó, cả Hà Nội đổ về khu vực Cột cờ chứng kiến giây phút lịch sử: Lễ thượng cờ Tổ quốc trên đỉnh Cột cờ Hà Nội.

Đúng 15 giờ, sau hồi còi dài từ Nhà hát Lớn thành phố, đoàn quân nhạc cử Quốc thiều theo sự điều khiển của nhạc trưởng Đinh Ngọc Liên, lá cờ Tổ quốc từ từ kéo lên theo nhịp quân hành. Lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên đỉnh Cột cờ Hà Nội. Từ đó trở đi, lá cờ Tổ quốc vẫn hiên ngang tung bay giữa trời đất, trong bão tố mưa sa và cả trong lửa đạn quân thù.

Ngày 7-5-1964, nhân kỷ niệm 10 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, vào lúc 17 giờ 30 phút, thành phố Hà Nội tổ chức trọng thể lễ gắn biển, đổi tên đường Cột Cờ thành đường Điện Biên Phủ. Từ năm 1986, trong bầu không khí đổi mới, được sự chỉ đạo của cấp trên, lá cờ Tổ quốc cỡ 24m2 luôn tung bay trên Cột cờ (trước đó chỉ treo vào dịp lễ, Tết). Trông giữ lá cờ thiêng liêng này là cán bộ, chiến sĩ Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Lá cờ do Xưởng thêu may cờ 67 Hàng Trống sản xuất. Cờ được may bằng loại vải phi bóng sản xuất trong nước. Để chống chọi với gió mạnh trên cao, các đường may phải cần đến 3 lần chỉ, góc cờ được chần hình quả trám. Vì lá cờ có khổ quá lớn nên thợ may khi may xong phần nền đỏ, phải trải ra nền nhà rộng để khoét hình sao trước khi may. Cứ khoảng 2-3 tuần thay một lá cờ. Mỗi năm thay khoảng 20 lá cờ.

Theo cán bộ, chiến sĩ Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam kể lại: Có lần Tổng thống Vê-nê-xu-ê-la, ông Hu-gô Cha-vết đến Hà Nội, khi đi ngang qua Cột cờ đã yêu cầu cho dừng xe và vào thăm. Cán bộ bảo vệ đã hướng dẫn Tổng thống trèo lên đến tận đỉnh Cột cờ để ngắm cảnh thành phố Hà Nội thời mở cửa.

Với sự quan tâm gìn giữ như một báu vật quốc gia, Cột cờ Hà Nội sẽ mãi còn hiên ngang đứng đó để chứng kiến những đổi thay lớn lao của mảnh đất hùng thiêng này, chứng minh cho một chân lý bất di bất dịch: Còn di tích, còn ký ức, còn dân tộc.

PGS.TS Phạm Xanh
qdnd.vn

10 đại văn hào thế giới

QĐND – Theo báo Trung Quốc “Kho Tư liệu”, 10 văn hào nổi tiếng nhất thế giới là: Hô-me (Homer), Đan-tê (Dante), Gớt (Goethe), Bai-rơn (Byron), Sếch-xpia (Shakespeare), Vích-to Huy-gô (Victor Hugo), Ra-bin-đra-nát Ta -go (Rabindranatha Tagore), Lép Tôn -xtôi (Lev Tolstoy), Goóc-ky (Gorky), Lỗ Tấn.

1. Hô -me (Khoảng thế kỷ 8-9 TCN) là nhà thơ khiếm thị Hy Lạp cổ đại, người biên soạn hiệu đính hai bộ sử thi nổi tiếng “I-li-át” (Iliad) và “ô-đít-xây” (Odyssey).

Tác phẩm sử thi của ông là di sản chủ yếu của người Hy Lạp từ thời đại dã man tiến lên thời đại văn minh.

2. A-li-gai-li Đan -tê (Aligaili Dante) (1265-1321) là nhà thơ I -ta-li-a, sinh trưởng trong một gia đình quý tộc sa sút. Tác phẩm tiêu biểu “Thần khúc” của ông đã phản ánh một cách sâu rộng đời sống xã hội và đấu tranh xã hội của nước I -ta-li-a vào cuối thời kỳ trung cổ, hiển thị sự manh nha tư tưởng nhân văn chủ nghĩa, song lại mang đậm sắc thái tôn giáo. Tác phẩm của ông có ảnh hưởng rất lớn đối với văn học châu âu sau thế kỷ 14.

3. Giôn Vôn -gang Phôn Gớt (John Wolfgang Von Goethe) (1749-1832) là kịch tác gia, nhà thơ, nhà tư tưởng quan trọng nhất nước Đức và châu âu từ giữa thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19.

Ngoài các lĩnh vực thi ca, kịch, tiểu thuyết, Gớt còn giành được thành tựu trác việt về các phương diện lý luận văn nghệ, triết học, sử học, thiết kế tạo hình v.v..

Tác phẩm tiêu biểu của ông có “Sự phiền toái của thiếu niên Véc -nơ (Werther)”, “Phao-xtơ” (Faust) và “Prô-mi-tớt-xơ” (Prometheus).

4. Bai-rơn (1788-1824) là nhà thơ Anh quốc.

ông sinh ngày 22-1-1788 trong một gia đình quý tộc sa sút ở Luân Đôn. ông bị thọt một chân bẩm sinh nên rất nhạy cảm với nền chuyên chế áp bức đương thời.

Khi lên 10 tuổi, tước vị và sản nghiệp gia truyền của gia tộc Bai -rơn (Tu viện Vin -ni-út (Vilnius) và những dinh thự khác) thuộc về ông. ông trở thành Huân tước Bai -rơn VI.

Sau khi tốt nghiệp trường công Ha -râu (Harrow), ông học văn học và lịch sử tại trường Đại học Căm -brít-giơ (Cambridge). ông là một học sinh không chăm học, rất ít nghe giảng bài, ngược lại đọc rất nhiều tác phẩm nổi tiếng về văn học, triết học và lịch sử của châu âu và của nước Anh, đồng thời cũng tham gia các hoạt động xạ kích, cờ bạc, uống rượu, săn bắn, bơi lội, đấm bốc v.v..

Tháng 3-1809, là một quý tộc nối dõi, ông vào Viện Quý tộc, tham gia nghị viện và nhiều lần phát biểu ý kiến. Những phát ngôn ấy đều biểu thị rõ ràng lập trường tiến bộ theo chủ nghĩa tự do của Bai -rơn. ông đã ra sức sáng tác nhằm ủng hộ tư tưởng dân chủ của các cuộc cánh mạng nhân dân, suốt đời đấu tranh vì lý tưởng dân chủ, tự do, giải phóng dân tộc. Tác phẩm của ông có ý nghĩa tiến bộ lịch sử và giá trị nghệ thuật quan trọng.

Tác phẩm chủ yếu của ông có “Dị giáo đồ” (Infidels) và “Ha-rôn du ký” (Harrold’s Travels), v.v…

5. Uy-li-am Sếch -xpia (1564-1616), kịch tác gia, nhà thơ vĩ đại của nước Anh thời kỳ phục hưng.

ông sinh ra trong một gia đình thương nhân, từ nhỏ đã say mê sân khấu.

Tác phẩm của ông rất nhiều, hiện còn để lại 37 bộ kịch bản, 2 bộ tác phẩm thơ dài, 154 bài thơ 14 dòng. Tác phẩm tiêu biểu có: Bốn bộ bi kịch lớn “Ham-lét” (Hamlet), “ô -ten-lô” (Othello), “Mác -bét” (Macbeth), “Vua Lia” (Vua Lear); Hài kịch “Nhà buôn thành Vơ -ni-dơ (Venice)”; Chính kịch “Rô-mê-ô và Giu -li-ét”.

Những tác phẩm này đã biểu hiện chủ nghĩa nhân văn tư sản châu âu đầy đủ nhất với trình độ nghệ thuật cao nhất, là đỉnh cao của văn học thời kỳ phục hưng châu âu.

Mác đã ca tụng ông là “Thiên tài sân khấu vĩ đại nhất của nhân loại”.

6. Vích -to Huy-gô (1802-1885), nhà tiểu thuyết, nhà thơ nổi tiếng vĩ đại của nước Pháp thế kỷ 19.

ông sinh ra trong một gia đình sĩ quan quân đội. Khối lượng tác phẩm của ông rất khổng lồ, gồm thi ca, tiểu thuyết, kịch bản và lý luận văn học.

Tác phẩm tiêu biểu có “Nhà thờ Đức Bà Pa -ri” (Notre Dame de Paris), “Những người khốn khổ” (Les Miserables).

Bằng thủ pháp tinh tế, bề rộng cuộc sống và nội dung phong phú, những tác phẩm của ông đã bóc trần và tố cáo mạnh mẽ tội ác của chế độ chuyên chế và giáo hội phản động, đồng cảm với những số phận bi thảm của dân nghèo tận đáy xã hội, phản ánh sâu sắc những sự kiện trọng đại và hiện thực xã hội trong đời sống nước Pháp thế kỷ 19. Tác phẩm của ông đã có ảnh hưởng to lớn đối với các nhà văn thế hệ sau.

7. Ra-bin-đra-nát Ta -go (1861-1941), nhà thơ, nhà tiểu thuyết, kịch tác gia, nhà tản văn, nhà hoạt động xã hội ấn Độ.

ông sinh ra trong một gia đình địa chủ. ông sáng tác hơn 50 tập thơ, 12 bộ tiểu thuyết, hơn 100 truyện ngắn, hơn 20 kịch bản sân khấu.

Tác phẩm tiêu biểu có “Gitanjali”, “Chim bay” (Bird series), “Trăng non”.

Ngoài ra, Ta-go còn công bố nhiều tác phẩm về văn học, triết học, chính trị, du ký, giới thiệu sách, v.v..

Ta-go còn có sở trường về sáng tác ca khúc và hội họa. Nhạc phẩm “ý chí của nhân dân” năm 1950 được lựa chọn là Quốc ca ấn Độ.

Sáng tác của Ta -go chiếm địa vị quan trọng trong lịch sử văn học ấn Độ.

Năm 1913, ông được trao Giải thưởng Nô -ben văn học.

8. Lép Tôn -xtôi (1828-1910), nhà văn vĩ đại nhất nước Nga thế kỷ 19.

ông xuất thân trong một gia đình quý tộc, năm 1840 vào Trường Đại học Kazan, chịu ảnh hưởng tư tưởng khai sáng của Rút -xô (Rousseau), Mông-tét xki -ơ (Montesquieu) v.v..

Từ năm 1851 đến năm 1854, ông làm nghĩa vụ quân sự trong quân đội Cô -ca-dơ (Caucasus) và bắt đầu sáng tác. Từ năm 1854 đến năm 1855, ông tham gia chiến tranh Cơ -ri-mê (Crimean). Cuộc sống quân đội trong mấy năm không chỉ khiến cho ông thấy được sự thối nát của xã hội thượng lưu, mà còn tạo cơ sở vững chắc cho ông sau này miêu tả như thật mọi cảnh tượng chiến tranh trong tác phẩm đồ sộ “Chiến tranh và Hòa bình”.

Tháng 11-1855, ông đến Xanh Pê -téc-bua và gia nhập giới văn học.

Tác phẩm thành danh của ông là “Thời niên thiếu” (1857), phê phán cuộc sống của quý tộc đương thời. Tiểu thuyết “Sáng sớm của một địa chủ” (1856) đứng trên lập trường quý tộc tự do chủ nghĩa đề xuất việc cải cách từ trên xuống dưới.

Sáng tác thập niên 80 của ông có: Kịch bản “Thế lực đen tối” (1886), “Thành quả giáo dục” (1891); Các truyện vừa “Cái chết của I -van In-lích-sơ (Ivan Illich’s)” (1886), “Khúc giao hưởng Cơ -lây (Clay)” (1891), “Hát-xê Mu -rát” (Haase Murat) (1886-1904); Truyện ngắn “Sau vũ hội” (1903). Đặc biệt là tiểu thuyết “Phục sinh” sáng tác 1889-1899 là sự tổng kết về khám phá lâu dài của ông về tư tưởng, nghệ thuật, cũng là một bộ tác phẩm phê phán xã hội nước Nga sâu sắc nhất, toàn diện nhất, mạnh mẽ nhất, trở thành một trong những trước tác bất hủ của văn học thế giới.

Những năm cuối đời, Tôn-xtôi cố gắng sống một cuộc sống bình dân chất phác giản dị. Tháng 10-1910, ông bỏ gia đình ra đi, ngày 7-11-1910 ông ốm chết tại một ga xe lửa nhỏ, hưởng thọ 82 tuổi.

9. Mắc -xim Goóc -ky (1868-1936), nhà văn vô sản vĩ đại, người đặt nền móng cho văn học cách mạng xã hội chủ nghĩa của Liên Xô.

Tác phẩm tiêu biểu của ông có tiểu thuyết tự truyện “Thời thơ ấu” (1855), “Người mẹ”.

Tác phẩm “Người mẹ” của ông đã phản ánh sâu sắc phong trào cách mạng vô sản nước Nga, xây dựng thành công một loạt hình tượng của những người chiến sĩ tiên phong của giai cấp vô sản; là tác phẩm bất hủ đầu tiên của văn học thế giới miêu tả cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản

Lê-nin đánh giá cao “Người mẹ”, nói tác phẩm là “một bộ sách vô cùng kịp thời. Tác phẩm của Goóc -ky là tài sản chung của giai cấp vô sản toàn thế giới, đã đem lại ích lợi khổng lồ cho phong trào công nhân thế giới”.

10. Lỗ Tấn (1881-1936), tên khai sinh là Chu Thụ Nhân, người Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang; Là nhà văn, nhà tư tưởng, nhà cách mạng vĩ đại, một trong những người đặt nền móng cho văn học hiện đại Trung Quốc.

Xuất thân trong một gia đình phong kiến sa sút, ông đã từng học tại Nhật Bản.

Năm 1909 trở về nước, ông làm giáo viên ở Hàng Châu và nhiều nơi khác. Sau Cách mạng Tân Hợi, ông lần lượt nhậm chức trong Bộ Giáo dục tại Nam Kinh, Bắc Kinh, đồng thời giảng dạy tại Trường Đại học Bắc Kinh.

Tháng 5-1918, công bố tác phẩm “Nhật ký người điên”, kịch liệt phê phán đả kích chế độ phong kiến, đặt nền móng cho phong trào văn học mới.

Từ năm 1918 đến năm 1926, ông liên tục sáng tác những truyện ngắn nổi tiếng “Gào thét”, “Bàng hoàng”, v.v..

Từ năm 1927 đến năm 1935, ông đã sáng tác rất nhiều tác phẩm tạp văn, với chủ nhĩa Mác làm tư tưởng chỉ đạo.

Ngày 19-10-1936, Lỗ Tấn ốm nặng rồi từ trần tại Thượng Hải.

ông thường xuyên mặc một bộ áo dài kiểu Trung Quốc rất chất phác giản dị, mái tóc dựng đứng như chiếc bàn chải, bộ râu rậm hình chữ “nhất” kiểu chữ lệ.

Đại văn hào Lỗ Tấn cũng được nhân dân Trung Quốc tôn vinh là “hồn dân tộc”!

Vũ Phong Tạo
qdnd.vn

Chuyện về biệt hiệu “Bầy quỷ đêm”

QĐND – Trong cuộc Chiến tranh cứu nước vĩ đại của nhân dân Liên Xô chống phát xít Đức xâm lược (1941-1945), hàng triệu phụ nữ đã đóng góp nhiều công sức rất to lớn. Không những thay mặt đàn ông làm mọi việc ở hậu phương, họ còn trực tiếp tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Đặc biệt có 3 trung đoàn không quân nữ mà những chiến công của họ không kém giới mày râu. ở đây, xin kể về 1 trong 3 trung đoàn không quân đặc biệt đó: Trung đoàn không quân nữ Ta -man số 46 được mang danh hiệu “Cận vệ”, còn quân thù thì gọi với nỗi khiếp sợ là “ Bầy quỷ đêm”. Và họ rất tự hào về cái tên đó.

Bảo vệ Tổ quốc – nhiệm vụ thiêng liêng

Ngay từ những ngày đầu, khi quân phát xít Đức bội ước tấn công đất nước Xô viết, hàng chục vạn phụ nữ đã nhanh chóng tình nguyện gia nhập các đơn vị quân đội, các đơn vị dân quân tự vệ và các đội du kích trong vùng tạm chiếm. Hưởng ứng lệnh Tổng động viên của ủy ban Quốc phòng Nhà nước đáp ứng lời kêu gọi của Đoàn thanh niên Cộng sản, từ những ngày đầu cuộc chiến đã có hơn 550 nghìn chiến binh thuộc “phái đẹp” đại diện của tất cả các dân tộc trong Liên bang Xô viết vác súng ra trận. Hơn 300 nghìn cô gái khỏe mạnh được sung vào các các đơn vị Quân chủng Phòng không -Không quân, 25 nghìn người đẹp chiến đấu trong các đơn vị Hải quân, hàng chục vạn nữ thanh niên làm thông tin liên lạc, y tế, cứu thương trên các mặt trận. Trong các tổ chức của Đoàn thanh niên Cộng sản đã đào tạo được 222 nghìn chị em “vừa sản xuất vừa chiến đấu” để tiếp sức cho các chiến trường nóng bỏng.

Chỉ huy trung đoàn không quân cận vệ nữ Ta -man số 46 – E.Đ. Béc -xan-xkai-a.

Đặc biệt, nữ giới Xô viết đã tổ chức một đơn vị của riêng mình. Ví như Lữ đoàn bộ binh độc lập tình nguyện nữ số 1, Trung đoàn bộ binh độc lập nữ số 1… Riêng Quân chủng Không quân có 3 trung đoàn độc lập toàn nữ từ chỉ huy cho tới chiến sĩ bảo dưỡng máy. Đó là Trung đoàn Không quân ném bom 125 do Thiếu tá, anh hùng Liên Xô M.M. Ra -xcô-va (1912-1943) chỉ huy; Trung đoàn cận vệ không quân hoạt động tầm xa do Đại tá, anh hùng Liên Xô V.X. Gri -dô-đu-bô-va chỉ huy, Trung đoàn cận vệ không quân số 46 do Trung tá E.Đ. Béc -xan-xkai-a chỉ huy. Các đơn vị này lập được nhiều thành tích xuất sắc trong phối hợp và hỗ trợ các đơn vị chính quy trên các mặt trận nóng bỏng, chiến đấu trực diện với quân thù cũng như quấy phá, tiêu diệt sinh lực nơi hậu cứ của chúng. Họ đã được ghi vào sử sách của nước nhà và được toàn dân Liên Xô ghi nhớ công lao, là niềm tự hào của phái đẹp Xô viết thời bảo vệ Tổ quốc trước sự xâm lăng của quân phát -xít Hít -le.

“Bầy quỷ đêm” – cái tên tự hào

Đó là cái tên mà quân phát xít với nỗi sợ hãi và khâm phục đặt cho Trung đoàn cận vệ nữ không quân Ta -man số 46. Đây có lẽ là một đơn vị không quân duy nhất của phái đẹp trên trần gian này đi đánh quân thù vào ban đêm. Với tinh thần háo hức quyết chiến để bảo vệ Tổ quốc, họ sử dụng tất cả các loại máy bay được giao. Tuy nhiên, họ dùng nhiều cách và cảm thấy “hợp vị” với loại máy bay Po “ra lò” năm 1940: Nhỏ gọn, nhẹ, thậm chí có nhiều bộ phận làm bằng gỗ.

Với vận tốc bay nhỏ (120-140km/giờ), bay thấp, dễ lái, ít ồn…, họ khá dễ dàng tìm được mục tiêu địch. Rất nhiều vị trí đóng quân, kho súng đạn, kho xăng, dầu, sân bãi chứa xe pháo, các bến phà, sở chỉ huy địch… từng được “ăn” … bom của các người đẹp quả cảm này. Ngoài nhiệm vụ ném bom ban đêm, quấy rối các căn cứ địch, chị em của Trung đoàn Ta -man còn chuyên chở vũ khí, đạn dược, thuốc men, thực phẩm, thư báo… cho các đơn vị du kích ở những nơi không thể vận chuyển bằng đường bộ. Ví như họ đã tiếp tế cho các ngư dân làng En -tin-gơ (Entinger) từng chịu khốn khổ, cơ cực do bị quân Đức bao vây nhiều ngày không có lương thực, thực phẩm. Họ đã từng chở quân đổ bộ lên một vùng đất nhỏ ở bán đảo Crưm trong tình thế bị quân Đức phong tỏa bao vây ngặt nghèo. Rồi có lần đêm tối như mực và rét buốt cắt da thịt, họ đã tìm ra được cái sân trường, hạ độ cao xuống gần 30m để thả xuống rất chính xác các thùng lương thực, đạn dược và thuốc men cho một đội du kích trong vòng vây bốn bề của quân thù.

Vào mùa đông giá lạnh, đêm rất dài, Trung đoàn đã thực hiện từ 8 đến 10, có khi 12 đến 15 trận ném bom vào trận địa và cơ sở hậu cần của quân phát -xít. Trong 24 nghìn lượt đánh đêm, Trung đoàn phi công nữ nổi tiếng này đã ném hơn 3000 tấn bom xuống đầu quân thù. Có nhiều trường hợp ngộ nghĩnh, khó tin nhưng là sự thật: Những quả bom termit nhỏ được các chiến sĩ phái đẹp này đặt lên đùi rồi dùng tay đẩy chúng rơi xuống mục tiêu! Loại máy bay Po -2 này bay chậm, chỉ một phi công và một chiến sĩ ném bom. Không phải bom tạ hay bom tấn nhưng nó có hiệu quả lớn là rơi xuống mục tiêu chính xác và thao tác thì thật “thủ công”, khá đơn giản. Do vậy, “bầy quỷ đêm” này làm kẻ thù lo lắng và sợ hãi hằng đêm, thường bị mất ăn, mất ngủ ngay căn cứ của chúng. Để ngăn chặn và đáp trả sự tấn công của “bầy quỷ đêm”, chúng đã điều từ Mặt trận phía Tây hai chiếc máy bay tiêm kích bay đêm Mét -séc-mít “Meccershmitt -110” săn lùng máy bay của trung đoàn này. Vào đêm 1-8-1943, bọn “săn đêm” của phát -xít Đức trong vòng vài tiếng đồng hồ đã chủ động săn tìm và quần nhau với một đội bay của các người đẹp Xô viết. Cuối cùng, nhờ sự vượt trội về kỹ thuật, chúng đã bắn cháy 4 chiếc máy bay ném bom của trung đoàn và 8 nữ phi công anh dũng hy sinh. Đây là một bài học đắt giá cho các phi công nữ nhưng càng làm tăng ý chí và tinh thần chiến đấu của toàn trung đoàn…

Hai điều kiêng kỵ: Chất cồn và đàn ông

Có một chuyện vui đã được kể lại vào những ngày lửa bỏng đó: Trong Trung đoàn phái đẹp này chỉ có độc nhất một vị “mày râu” – chàng kỹ thuật viên vô tuyến. Trong một lần phát quân phục định kỳ, chàng nhận được một bộ đồ lót dành cho… phụ nữ. Thế là, vị “mày râu cô độc” này đã viết đơn yêu cầu ban chỉ huy xin được chuyển đi bất cứ đâu, miễn là không phải tới các đơn vị như “bầy quỷ đêm” này.

Mặc dù là một đơn vị chiến đấu toàn con gái nhưng chỉ sau 2-3 tháng do hiệu quả chiến đấu tốt, họ đã được đặt ngang hàng với các đơn vị giới mày râu. Rồi chỉ sau nửa năm chiến đấu, trung đoàn này là đơn vị đầu tiên trong sư đoàn được nhận danh hiệu “Cận vệ”. Trong suốt cuộc chiến, Trung đoàn phi công Ta -man số 46 này có 32 cô gái hy sinh trong các trận đánh. Các chiến sĩ hy sinh trong các vùng địch chiếm được nhân dân bí mật chôn cất và ghi lên bia mộ: “Tại đây nữ phi công vô danh yên nghỉ”. Trung đoàn có 25 kiều nữ được phong danh hiệu “Anh hùng Liên Xô”, rất nhiều người được thưởng huân, huy chương, cùng các phần thưởng cao quý của Nhà nước Xô viết.

Vị chỉ huy Trung đoàn từ đầu đến cuối là Trung tá ép -àö-ki-a Đa -vư-àö-vna Béc -xan-xkai-a. Trước đó, chị là một phi công giỏi, có bề dày kinh nghiệm từng làm việc trong ngành hàng không dân dụng Xô viết 10 năm. Không kém các vị giới mày râu, Trung đoàn trưởng Béc -xan-xkai-a là một vị chỉ huy cương nghị, dũng cảm, quyết đoán và tài giỏi, nhưng lại là một nhân cách rất nữ tính. Chị luôn là người đầu tiên xông vào những nơi nào phức tạp, khó khăn trong các trận đánh với quân thù. Nhờ vậy mà toàn bộ trung đoàn không ai ngần ngại, chùn bước vào những giờ phút gay go khốc liệt nhất. Béc -xan-xkai-a là chiến sĩ nữ duy nhất trong cuộc chiến được tặng thưởng Huân chương mang tên vị Đại Nguyên soái lừng danh Nga A.V. Xu -vô-rốp.

Với tinh thần toàn tâm, toàn ý dồn hết sức lực chiến đấu bảo vệ Tổ quốc Xô viết, cả trung đoàn không một ai nghĩ tới chuyện riêng tư. Không chỉ những cô gái trẻ mà ngay cả những người chị lớn tuổi trong trung đoàn cũng không sợ “quá lứa nhỡ thì”. Có người lúc đó (thường là các vị chỉ huy còn trai trẻ) đặt vấn đề “làm bạn” thì các kiều nữ cảm ơn và “dịu dàng”… từ chối. “ôi, các bạn, Tổ quốc đang lâm nguy, chúng tôi chưa ai dám nghĩ gì tới điều đó. Chúng tôi đang muốn “biệt lập” để hoàn thành tốt nhiệm vụ, còn “chuyện ấy” thì để sau ngày chiến thắng…”.

Triệu Hải
qdnd.vn

Điểm quyết chiến chiến lược

Buôn Ma Thuột

QĐND – LTS: Chiến thắng Buôn Ma Thuột (tháng 3-1975), trận mở màn, then chốt của chiến dịch Tây Nguyên trong mắt các học giả phương Tây một lần nữa khẳng định quan điểm kinh điển rằng “ai làm chủ Tây Nguyên sẽ làm chủ Đông Dương”.

Giải phóng Buôn Ma Thuột ngày 11-3-1975.

Chuẩn bị chiến trường hoàn hảo

Trong sách Đường mòn Hồ Chí Minh – con đường dẫn tới tự do (History of the Ho Chi Minh Trail: The Road to Freedom), tác giả Vớc-gi-ni-a Mo-rít-xơ (Virginia L.Morris) nêu bật quá trình chuẩn bị trận đánh do Bộ đội Trường Sơn tiến hành:

“Cuối năm 1974, khi phe cộng sản bắt đầu lập kế hoạch cho trận đánh Buôn Ma Thuột, họ vẫn trù tính là sẽ phải tranh đấu hai năm liền nữa cho tới toàn thắng. Để bảo đảm mọi mặt về hậu cần, tướng Đinh Đức Thiện soạn thảo hai phương án. Phương án thứ nhất, rất tỉ mỉ, cho phép giành thắng lợi sau trận đánh dài ngày, còn kế hoạch thứ hai mang tính thời cơ và dùng khi xuất hiện khả năng chính quyền Sài Gòn lung lay, sắp đổ. Khi kế hoạch tác chiến của chiến dịch Tây Nguyên đã ở giai đoạn hoàn thành, Binh đoàn Trường Sơn được lệnh vận chuyển đến địa điểm tập kết nửa triệu tấn hàng hóa và vũ khí, dành cho mùa khô năm 1974-1975.

Chỉ tiêu này được đưa ra để kiểm nghiệm khả năng vận chuyển “thần tốc” tại điểm cực đại, vì 5000 xe vận tải sẽ được huy động tham gia vào mạng lưới đường của Đoàn 559 (Bộ đội Trường Sơn), vào cùng một giờ xuất hành, làm cho vấn đề ùn tắc trở thành nguy cơ nghiêm trọng. Ở tuyến Đông Trường Sơn, đã mở đường từ huyện Ngọc Hồi (Kon Tum) đến Bù Gia Mập, còn tuyến đường ống dẫn dầu đã được nối dài thêm, từ Plây Khốc về phía nam. Các cứ điểm của quân đội Sài Gòn dọc theo biên giới với Cam-pu-chia cũng bị vây đánh, bảo đảm cho tuyến đường vận tải từ Đắc Min đi Lộc Ninh luôn thông suốt.

Vào ngày 15-12-1974, khi Binh đoàn Trường Sơn được lệnh xây dựng các kho tích hàng cho trận Buôn Ma Thuột và suốt hai tháng tiếp theo, nhiều chỉnh sửa trong kế hoạch bảo đảm đã được thực hiện. Sở chỉ huy (SCH) của Sư đoàn công binh 470 trở thành SCH của Binh đoàn Trường Sơn. Một số đơn vị của Bộ đội Trường Sơn cũng chuyển tới Sa Thầy, các đơn vị khác cũng chuyển tới đóng quân ở Bù Đốp và Lộc Ninh. Tuyến đường ống dẫn dầu được nối dài thêm tới Đắc Đam, bởi Trung đoàn đường ống 537. Trung đoàn 575 mở thêm 60km của gói đường, lấy tên là Đường 48, 50, và 50B. Tới đầu tháng 3-1975, Binh đoàn Trường Sơn đã thông đường chỉ còn cách Buôn Ma Thuột có 20km…

Trong giai đoạn chuẩn bị, yêu cầu tối hậu là phải bảo đảm bí mật tuyệt đối cho trận đánh Buôn Ma Thuột sắp tới. Buôn Ma Thuột là vị trí xung yếu, án ngữ cả miền Trung của Việt Nam, phía đông của đồng bằng sông Mê Kông, Trung và Hạ Lào, lẫn miền Bắc Cam-pu-chia…

Với quyết tâm cao, vào ngày 9-3, Trung đoàn 575 công binh đã thông đường 50B và hai đường nhánh mang tên 50C, cho phép chuyển quân thẳng tới Buôn Ma Thuột. Sư đoàn BB 968 được vận chuyển tới tác chiến tại đông nam Plây-cu, tạo nên mũi nghi binh. Các lực lượng trực thuộc Binh đoàn Trường Sơn trực tiếp tham gia trận Buôn Ma Thuột còn có Sư đoàn phòng không 377 và hai Trung đoàn phòng không 232 và 546…”.

Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 Quân đội Sài Gòn (ngoài cùng bên phải) tiếp Nguyễn Văn Thiệu tại Plei-cu trước khi trận Buôn Ma Thuột nổ ra. Ảnh tư liệu

Cài thế trận

Trong bài Tổng tiến công Xuân 1975: Trận pháp đánh đòn kết thúc chiến tranh(1) có một không hai trong lịch sử (North Vietnam’s Final Offensive: strategic endgame nonpareil) đăng trên tập san Pa-ra-mi-tơ (Parameter) của Mỹ, số Mùa Đông 1999-2000, Mớc-lơ Prai-bơ-nao (Merle L.Pribenow), cựu chuyên viên về Đông Dương của CIA, viết:

“Buôn Ma Thuột là thủ phủ của người thiểu số Tây Nguyên, có dân số chừng một vạn. Ở đây có sở chỉ huy và hậu cứ của Sư đoàn 23 Quân đội Sài Gòn, trong đó có tổng kho Mai Hắc Đế với một số lượng đạn pháo lớn. Thị xã này là một đầu mối với hai “mặt tiền” trên hai quốc lộ giao nhau, đó là đường 14 chạy từ Kon Tum xuống phía Nam về giáp mạn Bắc Sài Gòn, cắt với đường 21 chạy sang phía đông về thành phố lớn Nha Trang miền duyên hải. Nếu Quân đội nhân dân (QĐND) lấy được Buôn Ma Thuột, nhanh chóng kéo lên đánh chiếm Plây-cu, cắt Việt Nam làm đôi. Quân đội Sài Gòn không thể để mất một vị trí chiến lược như vậy và buộc phải phản kích để chiếm lại… Quân phòng thủ Buôn Ma Thuột lại chỉ gồm một trung đoàn tăng cường (Trung đoàn 53), một tiểu đoàn thiết giáp và một tiểu đoàn pháo cùng một số đơn vị địa phương đảm nhiệm, nên một cuộc tiến công áp đảo và bất ngờ sẽ làm thị xã này nhanh chóng rơi vào tay đối phương. QĐND sẽ tổ chức ngay trận địa đón lõng và tiêu diệt viện quân của Sài Gòn ngơ ngác vừa tới, còn trơ trọi giữa đồng không mông quạnh…

Chiến dịch Tây Nguyên của QĐND khá táo bạo và đầy sáng tạo, tựa như một ánh xạ của binh pháp Lít-đeo Han-lơ (B.H. Liddell Hall) về mưu lược. Đòn đánh của QĐND không nhằm vào chỗ mạnh nhất của đối phương mà trái lại, vào một cứ điểm có vai trò chiến lược nhưng yếu về phòng thủ, đồng thời kẻ địch không thể để mất. Kế hoạch hội tụ mọi yếu tố của phép dùng binh: Tập trung binh lực, thần tốc, bất ngờ và nghi binh. Về tổng quan, chiếm được Buôn Ma Thuột, QĐND tất đoạt được quyền lựa chọn rộng rãi để thực hiện đòn đánh tiếp sau. Còn Quân đội Sài Gòn vốn dĩ đã bị kéo căng, dàn mỏng, lại phải ra sức phán đoán trận tới sẽ diễn ra ở đâu. Kịch tính của chiến cuộc này là ở chỗ sẽ đặt Sài Gòn vào thế trận mà nhà quân sự Lít-đeo Han-lơ rất hài lòng gọi là “thế tiến thoái lưỡng nan”…

Một số cuốn sách về trận Buôn Ma Thuột xuất bản ở phương Tây.

Vào cuối tháng 2-1975, các sư đoàn chủ công (gồm các Sư đoàn 10, 320 và 316) của QĐND đã chiếm lĩnh trận địa tiến công. Ngày 1-3, Sư đoàn 968 ở Lào về đánh một số đồn bốt nhỏ phía Tây Plei-cu để tiếp tục thu hút sự chú ý của đối phương vào hướng này. Ngày 4-3, QĐND “phát bóng trước”(2), bằng chỉ một đòn đánh của Trung đoàn 95 A, họ quét sạch một loạt cứ điểm nhỏ của quân Sài Gòn canh giữ trục đường 14 trên đoạn đèo Mang Giang, cắt đứt đường tiếp tế cho Cao nguyên Trung phần (Tây Nguyên-ND). Ở phía đông Quốc lộ 19, Sư đoàn 3 Quân giải phóng miền Nam tiến công cắt đứt con đường huyết mạch này, đánh quỵ luôn Sư đoàn 22 của Sài Gòn. Ngày hôm sau Trung đoàn 25 QĐND cắt nốt Quốc lộ 21, con đường ven biển còn lại, nối Buôn Ma Thuột với Nha Trang… Mồng 8-3, Sư đoàn 320 tràn ngập một huyện lỵ bắc Buôn Ma Thuột, cắt đứt đoạn đường 14 nối với Plei-cu. Đến lúc này, khi Buôn Ma Thuột đã bị cô lập hoàn toàn, chính quyền Sài Gòn vẫn chưa có phán đoán gì ngoài nguy cơ Tây Nguyên sẽ bị cạn kiệt lương thảo. Nhằm đánh lạc hướng, không để cho Sài Gòn tăng quân cho Tây Nguyên, một ngọn trào tấn công của quân cộng sản đã dâng lên: Ngày 5-3 đặc công và du kích đánh vào vùng xuôi ở Quảng Trị-Thừa Thiên; còn vào ngày 8-3 Sư đoàn 324 đánh mạnh vào tuyến phòng thủ quân Sài Gòn ở tây nam thành Huế. Cùng ngày 8, một loạt công kích đã diễn ra ở khu vực Sài Gòn và Đồng bằng sông Cửu Long, mà đỉnh điểm là đánh chiếm một huyện lỵ ở Tây Bắc Sài Gòn. Rõ ràng phe cộng sản sắp đánh lớn đến nơi rồi, nhưng trên toàn Miền đâu là mặt trận chính? Đáp án của Thiệu và các tướng, tá là mối đe dọa sẽ đến với đô thành Sài Gòn. Kế hoạch nghi binh của QĐND quả là vô cùng hoàn hảo…”.

Tạo thế “chẻ tre”

Trong sách Việt Nam chiến sử 1946-1975 (Vietnam at war The History 1946-1975), của tướng Phi-líp Đê-vít-xơn (Phillip Davidson), tác giả nhấn mạnh các yếu tố thiên – địa – nhân trong việc Buôn Ma Thuột trở thành “quyết chiến điểm”.

“Như thường lệ, cuộc tiến công vào Buôn Ma Thuột của QĐND có “sự hỗ trợ” từ chính lãnh đạo của Quân đội Sài Gòn. Sách lược cứng nhắc của Thiệu là chốt giữ mọi nơi đã trói quân họ vào số phận bi đát của cách phòng ngự phân tán, dàn trải, vào đúng lúc đội quân này thiếu năng lực không vận, dẫn tới việc Sài Gòn không thể cơ động được quân dự bị chiến lược, một lực lượng thực ra cũng không còn tồn tại, tới các khu vực bị đe dọa tiến công. Viên tư lệnh Quân đoàn 2, tướng Phạm Văn Phú còn “đóng góp” thêm phần mình vào việc “giúp” chỉ huy của đối phương. Bất chấp những đánh giá của tình báo Quân đoàn, của J-2 (Nha Kỹ thuật, cơ quan tình báo của quân đội Sài Gòn), Phú vẫn chắc mẩm đến phút cuối là Plei-cu hoặc Kon Tum mới là mục tiêu chính của quân Bắc Việt ở Tây Nguyên. Tới tận 1-3-1975, Phú mới không vận Trung đoàn 23 về Buôn Ma Thuột…”.

Tướng Đê-vít-xơn cũng không tiếc lời ca ngợi hệ thống bảo đảm hậu cần của QĐND cho chiến cuộc Xuân 1975, lần đầu tiên trong suốt cuộc chiến tranh, đã đạt trình độ hiện đại, ưu đẳng, cực kỳ chu đáo. Ở cuối sách, trả lời câu hỏi vì sao Việt Nam cộng hòa sụp đổ nhanh chóng, tướng Đê-vít-xơn viết:

“Chính cuộc tiến công Buôn Ma Thuột đã đẩy nhanh Thiệu vào việc chấp nhận kế hoạch khốc hại, là “xén bớt” lãnh thổ (bỏ các khu vực không còn năng lực chốt giữ để thích ứng với cắt giảm của viện trợ Mỹ-ND) và cuộc truy kích của quân cộng sản tại các vùng chiến thuật I và II đã hủy hoại tinh binh của quân đội Sài Gòn… Miền Bắc đã giành được những chiến công như thế là nhờ không chỉ đưa vào trận một lực lượng áp đảo về số lượng, mà còn nhờ đạt được độ thăng hoa cả về chỉ huy, huấn luyện lẫn tinh thần chiến đấu…”.

Lê Đỗ Huy
qdnd.vn

(1) Chữ trong nguyên văn là nước cờ chiếu hết (endgame)
(2) Thuật ngữ bóng đá, bóng ném (kick-off) dùng chỉ trận mở màn chiến dịch.

Nguyễn Công Trứ: Vị quan làm lợi cho nước, cho dân

QĐND – Nhìn lên bản đồ Việt Nam, huyện Tiền Hải (Thái Bình) và huyện Kim Sơn (Ninh Bình), mặc dù về mặt hành chính thuộc hai tỉnh (đến thời Nguyễn Công Trứ chưa có địa danh Thái Bình, mà thuộc hai tỉnh Nam Định và Ninh Bình), nhưng về địa lý lại nằm trong vùng hạ lưu châu thổ sông Hồng, một vùng đất màu mỡ được hình thành bởi phù sa bồi tụ của sông Hồng và sông Trà Lý.

Đến cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, vùng đất bãi bồi ven biển mênh mông hàng nghìn mẫu này hầu như chưa được khai phá bao nhiêu, chỉ mới xuất hiện một số làng tự phát, nhà cửa lèo tèo như Đại Hoàng, Lạc Thành… bên tả ngạn sông Hồng, vẫn trong tình trạng “thủy thăng kiến thủy, thủy giáng kiến thổ”, nghĩa là khi thủy triều lên chỉ mênh mông thấy nước, khi thủy triều xuống thì thấy đất. Vùng đất mọc đầy sú vẹt, lau sậy, cỏ lác này là nơi lui tới của đám hải tặc và trong những năm 1826-1827 là căn cứ của cuộc khởi nghĩa nông dân Phan Bá Vành. Trong những năm làm quan ở Bắc thành, Nguyễn Công Trứ đã để ý đến vùng đất này, đặc biệt khi ông làm tham tán quân vụ trong đạo quân của Phạm Văn Lý đánh dẹp cuộc khởi nghĩa Phan Bá Vành, ông đã đến tận nơi và bằng mắt mình chứng kiến vùng đất và con người nơi đây. Ông suy tư về mối liên hệ giữa vùng đất bãi bồi chưa được khai phá và những toán hải tặc và đặc biệt những người nông dân nghèo khổ tham gia cuộc khởi nghĩa của Phan Bá Vành. Trước đó, được Minh Mệnh khích lệ “sau này có việc gì khẩn yếu, cho được làm tờ nói thực, niêm phong tâu thẳng”(1), nên trong một lần về Kinh, Nguyễn Công Trứ đã mạnh dạn dâng sớ tâu ba việc lớn, trong đó có việc thứ ba liên quan trực tiếp đến việc khai hoang lấn biển. Đại Nam Thực lục có ghi:

Nguyễn Công Trứ (1778-1858). Ảnh tư liệu.

“Vỡ ruộng hoang cho dân nghèo. Đời làm ăn xưa chia ruộng định của, dân có nghiệp thường ở yên, nơi làng mạc không có gian tà. Ngày nay, những dân nghèo túng, ăn dưng chơi không, khi cùng thì họp nhau trộm cướp, cái lệ không ngăn cấm được. Trước thần đến Nam Định thấy ruộng vỡ hoang ở các huyện Giao Thủy, Chân Định mênh mông bát ngát. Ngoài ra, còn không biết mấy trăm nghìn mẫu, hỏi ra thì dân địa phương muốn khai khẩn, nhưng phí tổn nhiều, không đủ sức làm. Nếu cấp cho tiền công thì có thể nhóm họp dân nghèo mà khai khẩn, nhà nước phí tổn không mấy mà mối lợi tự nhiên sẽ đến vô cùng. Vả lại bãi Tiền Châu ở huyện Chân Định hoang rậm, trộm cướp thường tụ họp ở đấy làm sào huyệt, nay khai phá ra, không những có thể cho dân nghèo làm ăn, lại còn dứt được đảng ác…”(2).

Vua Minh Mệnh chuyển sớ cho đình thần bàn bạc và hết thảy đều cho là “Điều khai khẩn ruộng hoang thì thực được ý nghĩa chăm nghề nông làm gốc”(3) nên Minh Mệnh quyết định phong chức mới cho Tả Thị lang Hình bộ Nguyễn Công Trứ là Dinh điền sứ để thực thi công việc quan trọng đó. Trong cuộc yết kiến Vua lần đó, Nguyễn Công Trứ mạnh dạn bộc bạch những suy nghĩ của mình về việc thu nhận những thân phận nông dân khốn khổ đã từng đi theo Phan Bá Vành vào công cuộc khai hoang lấn biển. Nghe xong, Minh Mệnh hạ lệnh cấp cho Nguyễn Công Trứ “một viên Tư vụ, 10 người bát cửu phẩm và một vị nhập lưu thư lại đi theo để sai phái”(4).

Hành trang buổi ban đầu khai hoang lấn biển của ông chỉ có vậy.

Sau khi nhậm chức Dinh điền sứ, Nguyễn Công Trứ nhanh chóng trở lại vùng đất bãi bồi thuộc hai huyện Chân Định và Giao Thủy tức khắc triển khai công việc. Với tư cách người tổ chức và chỉ đạo công cuộc khai hoang lấn biển, vấn đề ông quan tâm trước tiên là thu hút lực lượng vào công việc. Như trong Sớ khai hoang trình vua Minh Mệnh đã nói ở trên, có 4 đối tượng mà ông muốn thu hút vào dự án mở đất của mình:

– Những người địa phương giàu có, những người đồng hương với ông (Nghệ-Tĩnh), những thầy đồ có uy tín. Số người này đóng vai trò tập hợp và tổ chức các đơn vị khai hoang như lý, ấp, trại, giáp;

– Nông dân vùng châu thổ sông Hồng không có ruộng đất;

– Dân du đãng;

– Những người đã tham gia khởi nghĩa của Phan Bá Vành.

Những người tham gia khai hoang thuộc 4 nhóm đó được phân ra thành nhiều hạng, tùy vào công việc và thời gian tham gia. Những người đầu tiên đứng ra tập hợp và tổ chức lực lượng khai hoang được gọi là chiêu mộ hay nguyên mộ. Họ là những người có uy tín, giàu có như chủ đất, thầy đồ, con cháu các danh gia vọng tộc ở những vùng quê lân cận hoặc đồng hương Nghệ Tĩnh. Sau nguyên mộ là thứ mộ, những người góp phần hoàn chỉnh các đơn vị khai hoang. Cuối cùng, lực lượng đông đảo nhất, đến sau gọi là tân mộ hay tòng mộ. Việc phân những người khai hoang thành ba cấp độ như vậy liên quan mật thiết tới quyền lợi ăn chia ruộng đất và địa vị xã hội mà họ được hưởng khi công việc hoàn tất.

Trong công cuộc khai hoang lấn biển lập huyện Tiền Hải (1828) và Kim Sơn (1829), Nguyễn Công Trứ nổi lên như một người có đầu óc tổ chức tuyệt vời.

Trên cơ sở những thông tin thu nhận được qua các cuộc khảo sát điền dã về thế đất và đặc điểm địa lý từng vùng, Nguyễn Công Trứ đã vạch quy hoạch cư trú không giống nhau cho mỗi vùng. Tiền Hải có sông Long Hầu chảy theo hướng Bắc-Nam, chia thành hai vùng khác nhau căn bản: vùng đất phía tây sát vùng đất cũ ít nhiều đã được khai phá, còn vùng phía đông là đất bãi bồi chưa được khai phá nên ông quy hoạch thành hai kiểu làng: Làng xa biển và làng sát biển. Làng xa biển, Nguyễn Công Trứ thường chọn nguyên mộ là người sở tại, lực lượng khai hoang chủ yếu là “dân làng cựu” tách ra, đã có kinh nghiệm thâm canh ruộng đất. Kiểu làng sát biển, phần lớn nằm ở phía đông sông Long Hầu, lực lượng khai hoang phần lớn tập hợp nhiều nơi tới. Còn ở Kim Sơn chỉ có một kiểu làng giống nhau theo hướng Tây-Đông (chiều dài), phía tây giáp với huyện Yên Khánh, chạy ra tới biển. Các làng ở Kim Sơn đều có biển, nên khả năng mở rộng làng còn rất lớn.

Ở Tiền Hải cũng như Kim Sơn, Nguyễn Công Trứ rất chú ý tới việc kết hợp hài hòa giữa hệ thống thủy lợi và giao thông vận tải trong khi quy hoạch các đơn vị dân cư. Chẳng hạn như các làng sát biển ở Tiền Hải, do đất nhiễm mặn nặng nên việc đắp đê, đào sông, xây dựng hệ thống thủy nông có ý nghĩa quyết định đối với sự thành bại của công cuộc khai hoang lấn biển. Nguyễn Công Trứ tiến hành cho đắp đê sông Lân, tiếp đó là đê sông Long Hầu, sông Trà Lý. Ranh giới của các làng là những con sông đào mà dân địa phương gọi là “sông chái” hay “sông dọc”. Những sông đào này rộng 4-5m, sâu 3m, thuyền lớn có thể đi lại dễ dàng. Trên đất Kim Sơn, do gặp khó khăn trong việc lợi dụng địa hình, Nguyễn Công Trứ cho đào một con sông từ đầu huyện đến cuối huyện, nối sông Côn với sông Đáy, gọi là sông Ân, dài 13.500m, rộng 12m, sâu 4m, bờ tây con sông này là đê Hồng Ân, dài 435 trượng, mặt rộng 3 thước, đáy rộng 7 thước, cao 3 thước. Lợi dụng chế độ thủy triều ổn định của vùng này, Nguyễn Công Trứ cho quy hoạch một mạng lưới thủy nông tự tiêu-tưới. Hệ thống sông dào, kênh mương chằng chịt ở Tiền Hải, Kim Sơn đóng vai trò thau chua rửa mặn, tưới tiêu, đồng thời đảm nhiệm chức năng giao thông vận tải nông thôn rất hữu hiệu và điều hòa khí hậu tiểu vùng trong vùng đất nắng gió, mặn mòi buổi ban đầu này.

Trong công cuộc khai hoang lấn biển do Dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ chủ trương và tổ chức thực hiện quyết liệt trong hai năm đã lập nên hai huyện Tiền Hải và Kim Sơn. Huyện Tiền Hải khi thành lập có 7 tổng, gồm 47 ấp, lý, trại, giáp với 2.300 suất đinh và hơn 18.970 mẫu. Còn huyện Kim Sơn khi mới thành lập có 16.400 mẫu, chia cấp cho 1.260 suất đinh, tổ chức thành 7 tổng với 63 làng, ấp, trại, giáp. Thành tựu khai hoang lấn biển không chỉ góp phần làm tăng diện tích đất canh tác của đất nước, mà còn góp phần không nhỏ vào việc ổn định tình hình chính trị nông thôn vùng châu thổ sông Hồng vốn đầy biến động và không mấy bình yên lúc mới thành lập vương triều Nguyễn. Công lao đó trước hết thuộc về Nguyễn Công Trứ và những người đi theo tiếng gọi đổi đời của ông. Công lao đó không chỉ được triều đình Huế ghi nhận, mà còn được tạc vào lòng dân bằng việc dân đưa ông vào thờ như thành hoàng làng trong các làng thuộc hai huyện khi Nguyễn Công Trứ còn sống. Và mới đây, trong dịp Tết Nhâm Thìn, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm và làm việc ở Ninh Bình, ông đã về thắp hương đền thờ Nguyễn Công Trứ ở Kim Sơn, như một lần nữa ghi nhận công ơn đối với người có công mở nước.

——

Các trích dẫn trên đều lấy trong Đại Nam Thực lục, tập 2, Nxb Giáo Dục, các trang 579, 710-720 và 721.
qdnd.vn

Bản anh hùng ca ở thế kỷ thứ nhất – Kỳ 1

QĐND – “Bản anh hùng ca ngắn ngủi”- đó là lời Giáo sư Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn, chủ biên bộ quốc sử chính thức của thời kỳ kháng chiến chống Mỹ “Lịch sử Việt Nam” nói về phong trào đấu tranh do Hai Bà Trưng lãnh đạo, diễn ra từ mùa xuân năm Canh Tý 40 đến mùa đông năm Quý Mão 43.

Đúng là “ngắn ngủi”, vì cộng thêm cả năm Kỷ Hợi 39 với những diễn biến của lịch sử trực tiếp dẫn đến sự bùng nổ của phong trào vào mùa xuân năm Canh Tý 40 và cộng thêm cả năm Giáp Thìn 44 là thời gian hung tướng Mã Viện sau khi dìm phong trào đấu tranh của Hai Bà Trưng vào biển máu còn nán lại nước Việt để xử lý các vấn đề hậu chiến, thì tất cả cũng chỉ có 6 năm.

Nhưng đây rõ ràng là những năm tháng đầy ắp các sự kiện trọng đại, những ý nghĩa lớn lao, những bài học quý giá, mà sự hiểu biết và lưu truyền thì lại có nhiều mờ tỏ hoặc bất cập.

Cho nên dưới đây chúng ta sẽ bàn bạc mấy điều-chủ yếu là về phương diện quân sự học-nhân dịp ngày 8-3 mà hằng năm vẫn thường được kết hợp kỷ niệm luôn “Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng”.

Chính thuật ngữ “Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng” này đang được sử dụng chính thức trong nhiều dịp lễ nghi, nhiều văn bản, thậm chí sách giáo khoa… là điều cần được “chính danh” đầu tiên.

Bởi vì phong trào đấu tranh do Hai Bà Trưng lãnh đạo, không chỉ là một “Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng”! Lịch sử phong trào này cho dù 4 hoặc 6 năm thì cũng đã diễn ra, với cấu trúc và theo trình tự:

1. Khởi nghĩa – mùa xuân năm 40; 2. Xây dựng quốc gia độc lập năm 41 và 42; 3. Kháng chiến năm 43. Vì thế, gọi cả phong trào đấu tranh do Hai Bà Trưng lãnh đạo, bằng thuật ngữ “Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng” là đã-về mặt quân sự học-“bỏ qua” mất một thành phần hữu cơ trong cấu trúc và một công trình lớn lao trong sự nghiệp của phong trào đấu tranh do Hai Bà lãnh đạo. Tức thị, cho dù có thể là muốn “nói gọn”, “gọi tắt”, thì cũng là gọi thiếu và do đó: Gọi sai sự thực và giá trị lịch sử của phong trào.

Vì thế, tiếp theo việc xác định tên gọi ta sẽ bàn trước mấy điều về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, với vị thế lịch sử là bước khởi đầu (bùng nổ) của phong trào. Sau đó vì những năm tháng xây dựng quốc gia độc lập của Hai Bà, không nhiều vấn đề quân sự học, nên ta sẽ bàn tiếp ngay mấy điều về cuộc kháng chiến do Hai Bà lãnh đạo, với vị thế là sự kết thúc vẻ vang, oanh liệt của phong trào.

Mấy vấn đề về cuộc khởi nghĩa mùa xuân năm 40 do Hai Bà Trưng lãnh đạo

Sử liệu xuất hiện gần nhất với thời gian khởi nghĩa các sách: “Hậu Hán thư”, “Thủy Kinh chú” (thế kỷ 5, 6) của Trung Quốc nói niên đại bùng nổ cuộc khởi nghĩa là: Giữa mùa xuân năm Canh Tý (40 sau Công nguyên). Vì thế, các bộ chính sử của ta như “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” (xuất hiện muộn hơn vào các thế kỷ 15, 19)-mới chép niên đại đó, cụ thể là: Tháng hai (âm lịch) năm 40. Và xuất phát từ “sự kiện Mê Linh-Chu Diên”.

Lễ rước tượng voi chiến từ đình làng Hạ Lôi tới Đền thờ Hai Bà Trưng (Mê Linh, Hà Nội). Ãnh: Tuấn Tú.

+ Mê Linh: Còn được chép vào sử cũ bằng những ký tự na ná: “My Linh”, “Ma Linh”… Rõ ràng đó là những từ phiên âm Hán-Việt của một từ ngữ Việt Cổ, phát âm gần như “M’ling” và ngữ nghĩa thì có thể là tên một loài chim thiêng, “vật tổ” của cộng đồng cư dân và đất đai xa xưa ở giữa hai triền núi Ba Vì và Tam Đảo-trung tâm “Văn Lang” của đất nước từ thời Hùng Vương.

Còn Chu Diên là từ dịch nghĩa Hán-Việt của “diều hâu đỏ” trong tiếng (chữ) Nôm, là địa danh của miền đất dọc sông Hồng (sông Cái) và sông Đáy (sông Hát), kề cận mạn nam Mê Linh (ở Hạ Mỗ, thuộc huyện Đan Phượng “phượng hoàng đỏ”, gần nghĩa với “diều hâu đỏ”)-quê hương Thái úy Tô Hiến Thành, trên bờ sông Đáy (nay ở Tây Bắc trung tâm Hà Nội)-có “thành cổ Ô Diên”, cũng mang ngữ nghĩa là “diều hâu” (diên) nhưng là “đen” (ô) như vậy).

Hai Bà Trưng là dòng dõi của lạc tướng (người đứng đầu một “bộ” hoặc “bộ lạc” ở thời Hùng Vương) Mê Linh. Thi Sách là con trai lạc tướng Chu Diên. Cuộc hôn nhân Trưng Trắc-Thi Sách, theo hình thức phong tục mà khoa dân tộc học gọi là “hôn nhân vọng môn cư” (vợ chồng lấy nhau, nhưng vẫn người nào ở lại tại nhà người nấy một thời gian). Tàn dư từ thời “mẫu hệ” chuyển sang thời “phụ hệ”, cho đến đầu thế kỷ 20 vẫn thấy còn trong phong tục hôn nhân ở nhiều làng trung du và Đồng bằng Bắc Bộ, trong đó có Đình Bảng-Bắc Ninh. Thực chất chính là một cuộc liên minh thế lực giữa hai miền đất và người ở trung tâm đồng bằng châu thổ sông Hồng-“Cái nôi của dân tộc Việt”, để tạo ra nguồn lực trọng yếu và chủ yếu của cuộc khởi nghĩa. Thái thú Tô Định của nhà Hán đô hộ nhận ra nguy cơ từ cuộc liên minh đó, nhưng vì chưa dám động đến “đất chủ” Mê Linh nên đã giết Thi Sách để bẻ gãy “vây cánh” của liên minh. Do đó, tạo “cớ” cho cái “nguyên” của sự bùng nổ cuộc khởi nghĩa mà 4 “Lời thề sông Hát” của Hai Bà Trưng (xin xem lại Sự kiện và Nhân chứng số 1-2012) đã nói rõ ở lễ xuất quân tại Hát Môn.

+ Hát Môn: Là “Cửa (sông) Hát” (tức sông Đáy), chỗ dòng sông này giao nước với sông Hồng, nay thuộc huyện Phúc Thọ, Hà Nội. Đây chính là điểm tiếp giáp giữa hai miền Mê Linh và Chu Diên xưa. Chọn nơi này làm chỗ tập kết lực lượng và cử hành lễ ra quân đánh giặc-như các sử liệu cũ đều thống nhất nói, là chọn đúng địa bàn biểu tượng (tượng trưng) cho sự liên kết Mê Linh-Chu Diên. Đấy là nói về mặt chính trị. Còn về mặt quân sự thì chỗ ngã ba của hai dòng sông huyết mạch này chính là một đầu mối chiến lược rất thuận cho mọi hướng đi-về, dồn quân và ra quân. Đặc biệt, nếu nhằm vào đầu não giặc ở Liên Lâu mà tiến công thì Hát Môn là căn cứ xuất phát lý tưởng nhất của quân ta.

+ Liên Lâu: Còn được ghi vào sử cũ bằng những ký tự: “Ly Lâu”, “Luy Lâu”… Đây là những từ phiên âm Hán-Việt, của một tiếng Việt cổ đa âm tiết, mà về sau được “đơn âm tiết hóa”, thì thành (nói gọn) là: “Dâu”. Với ngữ nghĩa có thể là: Tên của một miền đất đai và cộng đồng cư dân, từ thời Hùng Vương, đã lấy cây dâu (nuôi tằm) làm nghề nghiệp và biểu tượng. Hiện vẫn đang còn các thực thể và tên gọi: Chùa Dâu, sông Dâu… ở miền này (Thuận Thành, Bắc Ninh). Nhà Hán xâm lược đã lấy nơi đây làm đầu não cai trị, không chỉ là của một “quận” trung tâm tên là Giao Chỉ, với chức Thái thú đứng đầu, mà còn là của cả một “châu”-Giao Châu, gồm nhiều “quận” hợp thành: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam (trên đất Việt Nam bây giờ) và Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố (ở Hoa Nam ngày nay), có quan thứ sử cai trị, đóng dinh, xây thành lũy (chính là tòa thành Liên Lâu, vẫn đang còn rõ dấu vết trên thực địa).

Đánh thẳng vào đầu não của giặc và nhanh chóng chiếm thành, đuổi tướng, khiến cho “các thái thú, thứ sử chỉ còn biết lo việc giữ lấy mạng sống”, như lời sử cũ chép là cách đánh biểu hiện khí thế ngất trời của cuộc khởi nghĩa. Đồng thời, đấy cũng là chủ lực thúc đẩy nên hiện tượng kỳ vĩ: “các quận Nam Hải, Hợp Phố… đều hưởng ứng, lấy được đến 65 thành ở Lĩnh Nam” như lời sách “Đại Việt sử ký toàn thư” đã chép.

+ 65 thành ở Lĩnh Nam: Lĩnh Nam là miền đất ở phía nam núi Ngũ Lĩnh. Ngũ Lĩnh là cửa ngõ ra vào miền Hoa Nam (Quảng Đông, Quảng Tây). Thế kỷ 3 trước Công nguyên, nhà Tần đưa 50 vạn quân đi “bình định Bách Việt”, đã đánh qua Ngũ Lĩnh. Thế kỷ 11, danh tướng Lý Thường Kiệt, trong chiến dịch triệt phá các căn cứ chuẩn bị xâm lược nước Việt của nhà Tống ở châu Khâm, châu Liêm và đặc biệt là châu Ung (miền Nam các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây bây giờ) đã đưa quân lên Ngũ Lĩnh, chẹn đánh các đạo quân cứu viện của nhà Tống. Khoảng trước sau Công nguyên, khi nhà Hán lập ra Giao Châu để đô hộ, thì đó chính là miền Lĩnh Nam.

Cuộc khởi nghĩa giữa mùa xuân năm 40 do Hai Bà Trưng lãnh đạo, có sự hưởng ứng nổi dậy của các quận Nam Hải, Hợp Phố… (bây giờ là miền Nam Quảng Đông, Quảng Tây), lấy (chiếm) được đến 65 thành ở Lĩnh Nam, có nghĩa là đã thắng lợi ở cả trên miền đất phía bắc Giao Châu (phía bắc biên giới Việt-Trung bây giờ). Nhưng 65 thành là những thành nào? Vì hiểu “thành” là “huyện thành” tức: Mỗi “huyện” có một “thành” nên đã có sự thống kê: Quận Nam Hải có 7 huyện nên có 7 thành, Thương Ngô: 11, Uất Lâm: 11, Hợp Phố: 5, Giao Chỉ: 12, Cửu Chân: 5, Nhật Nam: 5, tổng cộng: 56 thành. Do đấy, đã có chủ trương: Con số 65 thành, là do sử cũ viết lộn con số 56 này. Nhưng lại cũng đã có sự hiểu khác về “thành”. Đó chỉ là một vùng (miền) đất! Do vậy, 65 thành ở Lĩnh Nam là 65 đơn vị đất đai ở Quảng Đông, Quảng Tây và miền Bắc, miền Trung Việt Nam ngày nay.

Điều này phản ánh tính rộng khắp (toàn dân) của cuộc khởi nghĩa mùa xuân năm 40 do Hai Bà Trưng lãnh đạo. Trong loạt bài trả lời phỏng vấn của nhà báo, nhà sử học Alain Ruscio về cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 45, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có phần giải thích cặn kẽ tính chất toàn dân của cuộc Tổng khởi nghĩa này. Và nói rõ: Đây là công trình có truyền thống từ hàng nghìn năm trước của dân tộc Việt Nam. Chính là truyền thống từ cuộc khởi nghĩa mùa xuân năm 40.

(Còn tiếp)

Kỳ sau: Mấy vấn đề về cuộc kháng chiến năm 43 do Hai Bà Trưng lãnh đạo

GS Lê Văn Lan
qdnd.vn

Bản anh hùng ca ở thế kỷ thứ nhất – Kỳ 2