Archive | 2012

Bốn câu đố lớn về bà Tống Mỹ Linh

QĐND – Báo điện tử “Lịch sử Trung Hoa” (www.xyz6666.com) ngày 19-12-2010 đăng tải bài “Tại sao không hợp táng với Tưởng Giới Thạch? Bốn câu đố lớn về Tống Mỹ Linh”. Chúng tôi trích dịch tư liệu trên, giúp bạn đọc tham khảo, hiểu thêm về một người phụ nữ phương Đông đã từng được mệnh danh là “Người đàn bà thép”. Tống Mỹ Linh (sinh ngày 5-3-1897, mất ngày 24-10-2003), thọ 106 tuổi, đã từng là Tưởng phu nhân, Đệ nhất phu nhân của Trung Hoa Dân quốc.

Câu đố thứ nhất: Vì sao không về Đài Loan an táng?

Trước kỷ niệm sinh nhật lần thứ 106, do tình hình sức khỏe của bà Tống Mỹ Linh đã xấu đi, cho nên khi ấy đã có rất nhiều thông tin về chuyện hậu sự của bà phát tán ra ngoài.

Những tin tức ấy đều chưa được chứng thực, nhưng có một điều đã được khẳng định, đó là bà hy vọng sau khi mình chết không đưa về Đài Loan an táng. Vì sao lại có yêu cầu như vậy, bên ngoài có rất nhiều dư luận.

Bà Tống Mỹ Linh tại Niu Y-oóc sinh nhật 100 tuổi.

Cách nói thứ nhất là: Bà Tống Mỹ Linh là một người rất sùng tín đạo Cơ đốc, trước đó đã từng biểu thị, tất cả đều giao cho Thượng đế, sau này bản thân sẽ không theo Tưởng Giới Thạch an táng tại Đài Loan. Không ai biết đích xác vì sao bà dứt khoát không trở về Đài Loan. Nhưng có người phân tích rằng, sau khi qua đời, Tưởng Giới Thạch và Tưởng Kinh Quốc vẫn chưa an táng, điều này có thể liên quan đến việc Tưởng Giới Thạch luôn luôn muốn “lá rụng về cội”, trở về đại lục. Tưởng Kinh Quốc chỉ rõ, khi còn sống Tưởng Giới Thạch đã lựa chọn 3 địa điểm: Tử Kim Sơn, Phương Sơn, Tứ Minh Sơn. Tưởng Kinh Quốc hy vọng trở về an táng bên cạnh mộ phần của mẫu thân tại Phụng Hóa, Chiết Giang. Khi ấy, là người phát ngôn hợp pháp duy nhất đời thứ ba của gia tộc họ Tưởng là Tưởng Hiếu Dũng đã nói rõ: Di chuyển linh cốt là chuyện nội bộ gia đình, Tưởng gia có phương thức xử lý của Tưởng gia.

Cách nói thứ hai là Tống Mỹ Linh hy vọng “lá rụng về cội”. Bởi vì nghĩa trang họ Tống đặt tại Thượng Hải, ngoài mộ phần của Tống Khánh Linh, chị hai trong ba chị em họ Tống, cha mẹ của ba chị em họ Tống cũng đều an táng tại đây. Do bị hạn chế bởi nhân tố chính trị của hai bờ eo biển, Tống Mỹ Linh chưa có cách nào trực tiếp đến nghĩa trang bái tế cha mẹ, cho nên mấy năm trước, bà đặc biệt ủy thác người khác thay mặt bà kính viếng vòng hoa, bày tỏ lòng thành kính với đấng sinh thành. Bởi vậy, có người suy đoán, bà Tống Mỹ Linh có thể lựa chọn sau khi qua đời, bà có thể yên ngủ lâu dài bên cạnh cha mẹ tại nghĩa trang họ Tống tại Thượng Hải.

Cách nói thứ ba là giới Hoa Kiều ở Niu Y-oóc (Mỹ) đưa tin rằng, Tống Mỹ Linh đã mua xong một phần mộ tại đây, làm nơi an táng mình. Do bà Tống Mỹ Linh đã từng nói rõ sau khi chết muốn an táng tại Niu Y-oóc, nghĩa trang Phin-cơ Ri-vơ (Fink Reeve) tại bang Niu Y-oóc Thượng đã chuẩn bị tốt phần mộ nội thất của bà Tống Mỹ Linh.

Câu đố thứ hai: Vì sao không để lại bất cứ văn tự nào?

Khi còn sống, bà Tống Mỹ Linh không để lại bất cứ một truyện ký hoặc dòng hồi ức nào, cũng không để lại tư liệu băng ghi âm hoàn chỉnh. Cũng có người khuyên bà Tống Mỹ Linh viết một số truyện để lại, nhưng đều bị bà khéo léo từ chối, nói rằng tất cả đều để lại cho lịch sử. Bà kiên trì cho rằng, thời gian sẽ cho phép lịch sử trả lại các sự kiện như nó vốn có (lịch sử hoàn nguyên).

Nhưng, trước mắt, những người quan tâm ở Đài Loan lại căn cứ vào những bộ phim tài liệu tản mạn vụn vặt chiếu trên truyền hình công cộng Đài Loan, trong đó có phim “Thế kỷ Tống Mỹ Linh”. Bộ phim này chia làm 3 tập, tập 1 là “Phương Đông và phương Tây”, mở màn thời kỳ chói sáng nhất của cuộc đời Tống Mỹ Linh đến thời kỳ năm 1943, Trung Quốc đối mặt với thời kỳ khó khăn gian khổ nhất của cuộc kháng chiến chống Nhật, Tống Mỹ Linh diễn thuyết bằng tiếng Anh với giọng miền Nam nước Mỹ lưu loát tại Quốc hội Mỹ. Tiếp đó là cuộc phỏng vấn của đoàn làm phim “Thế kỷ Tống Mỹ Linh” với giáo sư Thạc Chi Du, giáo sư hệ Chính trị, Trường Đại học Đài Loan phân tích về “hiện tượng Tống Mỹ Linh” thịnh hành tại nước Mỹ khi ấy.

Câu hỏi thứ ba: Cuối đời tại sao kiên trì ở Mỹ?

Ngày 21-9-1991, bà Tống Mỹ Linh lại một lần nữa rời khỏi Đài Loan, sang Niu Y-oóc. Bà Tống Mỹ Linh vốn không muốn sang Mỹ, vì sao lại thay đổi chính kiến?

Tưởng Giới Thạch, Tống Mỹ Linh và tướng Mỹ Stin-oen thăm Miến Điện, tháng 4-1942.

Theo phân tích của báo chí Đài Loan, thì có mấy nguyên nhân dưới đây:

Thân tộc của bà Tống Mỹ Linh tại Đài Loan ít ỏi, sinh hoạt tịch mạc. Trong thời gian 5 năm, kể từ sau khi bà Tống Mỹ Linh từ nước Mỹ trở về Đài Loan vào tháng 10-1986 đến tháng 9-1991, gia tộc họ Tưởng gặp 3 biến cố lớn: Một là Tưởng Giới Thạch qua đời, hai là trưởng nam Tưởng Kinh Quốc qua đời, ba là cháu trai Tưởng Hiếu Vũ rất có tài cũng đột nhiên từ trần. Đặc biệt là sự qua đời của Tưởng Hiếu Vũ, gián tiếp ảnh hưởng đến tuyên cáo của mọi người: “Gia tộc họ Tưởng khống chế cục diện chính trị Đài Loan lâu dài đến 40 năm, đã chính thức rút khỏi vũ đài chính trị.”

Tuy bà Tống Mỹ Linh tỏ ra “tương đối kiên cường”, nhưng sau cái chết của Tưởng Hiếu Vũ, nhân vật quan trọng của đời thứ ba của gia tộc họ Tưởng rõ ràng là một đòn nặng nề đối với bà. Hơn nữa, sự mất mát ấy lại có quan hệ mật thiết với sự nổi dậy của phong trào “độc lập của Đài Loan”.

Từ sau năm 1978, Tống Mỹ Linh thị lực, thính lực suy thoái nghiêm trọng, bác sĩ cho rằng khí hậu của Đài Loan không thích nghi với bà, mà khí hậu ở Niu Y-oóc tương đối thích hợp.

Tống Mỹ Linh đã từng bị coi là “một vị tượng trưng tinh thần cuối cùng của gia tộc họ Tưởng”, bà đi Mỹ chuyến này coi như viết dấu chấm hết về sự ảnh hưởng của gia tộc họ Tưởng trên chính trường Đài Loan.

Câu hỏi thứ tư: Khoản chi khổng lồ tại Mỹ dựa vào ai?

Tờ “Thời báo Chu San” (Đài Loan) đưa tin: Dưới cái tên Tống Mỹ Linh không có một chút tài sản, cũng không có bất cứ khoản thu nhập nào, thế thì những năm này bà dựa vào đâu mà sinh hoạt, mỗi năm cần khoảng bao nhiêu tiền?

Sau khi rút ra khỏi vũ đài chính trị Đài Loan, bà Tống Mỹ Linh có quan hệ mật thiết nhất với một số bộ ngành ở Đài Loan mà cái chính là “Tổng thống phủ”, ngoài ra, còn nhà trường và bệnh viện mà bà trực tiếp ra tay sáng lập.

Bà tuy sống tại nước Mỹ, năm 2003 “Tổng thống phủ” lãnh thổ Đài Loan (Trung Quốc) vẫn biên chế cho bà 3 nhân viên phục vụ và 2 người lái xe, với tổng dự toán khoảng 4,16 triệu TWD (đô-la Đài Loan, 1 đô-la Đài Loan tương đương 28,88TWD-ND). Hơn nữa, còn phái nhân viên y tế thường trú tại Mỹ, tiền lương mỗi người mỗi tháng chí ít cũng 5 vạn TWD, cộng thêm tiền thưởng ngày Tết ngày nghỉ phép, 6 người mỗi năm chí ít cũng tiêu tốn 60 triệu TWD. Cho nên, để chăm sóc phục vụ bà Tống Mỹ Linh, mỗi năm phải chi ít nhất cũng là 100 triệu TWD.

Đãi ngộ hậu hĩnh với bà Tống Mỹ Linh như vậy, đương nhiên có cơ sở của nó. Sau khi Tưởng Giới Thạch qua đời, tháng 5-1978, nhà đương cục Đài Loan ban bố “Biện pháp thực thi Điều lệ đãi ngộ Tổng thống mãn nhiệm”, quy định vợ (hoặc chồng) của “Tổng thống mãn nhiệm” ngoài việc được mời tham gia các cuộc lễ lớn, còn có thể được thụ hưởng 2 xe giao thông và 2 lái xe; 3 hoặc 4 nhân viên giúp việc và kinh phí sự vụ; điều trị bệnh tật trong và ngoài khu vực Đài Loan, bao gồm tất cả những chi phí cần thiết trả lương cho bác sĩ riêng và kinh phí kiểm tra sức khỏe, đồng thời căn cứ vào tình hình thực tế sẽ do “Cục An ninh quốc gia” cung cấp cảnh vệ an ninh.

Nhưng, cũng có tin truyền miệng nói rằng, bà Tống Mỹ Linh không hoàn toàn dựa vào chi tiêu do phía Đài Loan cung cấp, mà còn có “nguồn tài chính bí mật” năm xưa của những người trong gia tộc họ Tưởng, về chân tướng việc này như thế nào, có lẽ chỉ có bà Tống Mỹ Linh tự mình am hiểu.

“Đây là một người đàn bà cứng như thép”

Sau khi cuộc nội chiến giữa Quốc dân đảng với Đảng Cộng sản Trung Quốc nổ ra, Tống Mỹ Linh làm sứ mệnh đặc sứ ngoại giao con thoi giữa Quốc dân đảng và những nhân vật chóp bu của chính phủ Mỹ.

Ngày 18-2-1943, Tống Mỹ Linh trở thành người nước ngoài đầu tiên đăng đàn diễn thuyết tại Hội nghị liên tịch Hạ viện và Thượng viện Mỹ.

Khi tại Mỹ, Tống Mỹ Linh cố ý giữ gìn hình ảnh về cử chỉ lời nói biểu lộ phái dân chủ kiểu Trung Quốc, nhưng người Mỹ rất nhanh nhận ra sự chuyên chế độc tài ẩn giấu trong nội tâm bà ta.

Một lần, trong một bữa tiệc chiêu đãi ban trưa tại Nhà Trắng, đúng vào lúc bàn luận về công hội của công nhân mỏ Mỹ đang bãi công, Tổng thống Ru-dơ-ven (Roosevelt) bèn hỏi Tống Mỹ Linh: “Nếu như Tưởng Giới Thạch gặp chuyện như thế này, thì sẽ xử lý ra sao?”. Tống Mỹ Linh không nói, trái lại dùng móng tay dài thoa son đỏ vạch một đường cong vào cổ họng. Ru-dơ-ven bất giác thót tim, nghĩ thầm may mà mình ngồi đối diện với bà ta, mà không phải ngồi cùng trên một ghế sô-pha.

“Đây là người đàn bà cứng rắn như thép”. Sau này, Tổng thống Ru-dơ-ven đã nhận định bà ta như vậy.

Vũ Phong Tạo
qdnd.vn

Làm điệp viên vì tình yêu với Cu-ba

QĐND – Năm 2010, Bộ Tư pháp Mỹ đã chính thức tuyên bố sự vụ một đôi vợ chồng người Mỹ từng làm việc tại Bộ Ngoại giao bị bắt vì tội làm gián điệp cho Cu-ba suốt 30 năm. Đó là cựu quan chức cấp cao Bộ Ngoại giao Mỹ Uôn-tơ Ken-đô Mai-ơ (Walter Kendall Myers) 72 tuổi và vợ là Goen-đô-lin Xtên-gra-bơ Mai-ơ (Gweldolyn Steingraber Myers) 71 tuổi.

Hai vợ chồng Mai-ơ đã bị FBI (Cơ quan Điều tra liên bang Mỹ) bắt giam vào 4-6-2009 vì bị nghi làm gián điệp cho Cu-ba. Đây là kết quả của chiến dịch mà các nhân viên phản gián Mỹ đã chuẩn bị kỹ lưỡng trong suốt nhiều tháng. Uôn-tơ từng có chân trong biên chế Bộ Ngoại giao Mỹ từ năm 1977 đến năm 2007. Vào năm 1985, ông được phép tiếp cận với thông tin mật, từ năm 1999 ông được sử dụng các tài liệu có đóng dấu “đặc biệt quan trọng”. Theo khẳng định của các phương tiện thông tin đại chúng Mỹ, việc phát giác thành công hai điệp viên của La Ha-ba-na sau khi một nhân viên FBI mạo nhận là điệp viên Cu-ba và liên lạc với họ vào tháng 4-2009. Hai vợ chồng Mai-ơ đã tin tưởng người này và đã gặp ông ta vài lần tại các khách sạn ở Oa-sinh-tơn. Tổng hợp các tội danh được đưa ra thì họ có nguy cơ bị kết án không dưới 30 năm tù. Theo giới báo chí Mỹ khẳng định thì Mai-ơ và vợ ông đã làm việc cho Cu-ba gần 30 năm.

Uôn-tơ và Goen-đô-lin Mai-ơ.

Uôn-tơ Mai-ơ là cựu viên chức ngoại giao Mỹ đã có cuộc tiếp xúc với các cơ quan đặc vụ Cu-ba ngay từ năm 1978 trong thời gian đi thăm Cu-ba. Theo khẳng định của ông thì chuyến đi này được thực hiện vì những lợi ích cá nhân và chỉ mang tính khoa học thuần túy. Mai-ơ có bằng tiến sĩ luật của Trường Đại học tổng hợp Giôn Hốp-kin (John Hopking). Theo như thông báo của Bộ Tư pháp Mỹ thì 6 tháng sau chuyến thăm Cu-ba của ông Mai-ơ, có một nhân viên của một trong những cơ quan mật vụ Cu-ba đã tới nhà vợ chồng Mai-ơ khi đó còn ở bang Nam Dacota và đề nghị họ cộng tác. Hai người này đã đồng ý. Uôn-tơ được mang bí số “Điệp viên 202”, còn bà Goen-đô-lin có bí số “Điệp viên 123”. Họ đã duy trì mối liên hệ với tình báo Cu-ba qua những phương tiện đã được kiểm tra từ lâu. Hai vợ chồng Mai-ơ đã sử dụng đài thu phát sóng ngắn, bảng chữ cái moóc-xơ và những bức điện được viết bằng loại mực đặc biệt. Chỉ mãi những năm gần đây họ mới dùng thư điện tử để gửi tin tức hợp tác với La Ha-ba-na. Họ gửi những thông báo dạng mật mã từ quán cafe-internet. Những buổi gặp gỡ của hai vợ chồng điệp viên với các nhân viên đặc vụ Cu-ba được thực hiện trong các chuyến đi khắp Nam Mỹ và các nước vùng biển Ca-ri-bê.

Sau khi bị bắt, Uôn-tơ Mai-ơ kể với các nhà điều tra rằng những tin tức mật được họ chuyển cho giới lãnh đạo Cu-ba được ông thuộc lòng, hoặc là được đánh dấu để không bỏ qua những chi tiết quan trọng. Theo tin tức của báo chí, chỉ trong năm cuối cùng trước khi nghỉ hưu, điệp viên Uôn-tơ đã cung cấp cho La Ha-ba-na 200 tài liệu mật của Bộ ngoại giao Mỹ. Theo tuyên bố của một cựu nhân viên cơ quan đặc vụ Mỹ thì mọi người đều biết rằng, chính quyền Cu-ba không trả một khoản đáng kể nào cho những người cung cấp thông tin. Và quả thật là trong quá trình điều tra sơ bộ đã xác định được rằng, đôi vợ chồng này chỉ nhận được một khoản thưởng không đáng kể cho công lao của họ. Ông bà Mai-ơ khẳng định rằng động cơ chính cho những hoạt động của họ là tình yêu sâu sắc đối với đất nước Cu-ba và cơ cấu xã hội ở Hòn đảo Tự do.

Vợ chồng Mai-ơ đã sống ở một trong những vùng có đặc quyền đặc lợi của Oa-sinh-tơn trong nhiều năm và được tự do đến phòng của các thành viên chính phủ, các nghị sĩ, thượng nghị sĩ và các viên chức cấp cao của Bộ Tư pháp. Họ đã tích cực tiếp xúc với cả cựu ứng cử viên tổng thống Mỹ Ba-ry Gôn-oát-tơ (Barry Goldwater). Theo thông báo của đại diện các cơ quan bảo vệ pháp luật, Cu-ba đã tặng vợ chồng Mai-ơ một số huy chương.

Uôn-tơ Mai-ơ là cháu trai của Gin-bớc Grô-xvơ-nơ (Gilbert Grosvenor), người được công nhận là tác giả kinh điển của ảnh phóng sự Mỹ, hơn 50 năm làm lãnh đạo Hội Địa lý Mỹ, là Tổng biên tập và là nhà xuất bản tạp chí nổi tiếng National Geographic Magzine – tạp chí Địa dư quốc gia. Mai-ơ cũng là chắt của một nhà khoa học Mỹ về đại dương cũng không kém phần nổi tiếng – nhà sáng chế và kinh doanh gốc Xcốt-len, người đặt nền móng chính của công nghệ điện thoại A-lếch-xăng Beo (Aleksandr Bell), người sáng lập công ty Bell Telephone Company, định ra toàn bộ sự phát triển tương lai của ngành truyền thông Mỹ.

(Theo Báo Độc lập – Nga)

Ngọc Bích
qdnd.vn

81 ngày đêm rực lửa tại Thành Cổ Quảng Trị năm 1972 (Tiếp theo và hết)

Bài III: Vang danh Vĩnh Định

QĐND – Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320) được thành lập ngày 22-1-1946; đã lập nhiều chiến công lừng lẫy trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; hai lần được Bác Hồ khen, tặng danh hiệu: “Trung đoàn Quyết thắng” và “Trung đoàn dũng cảm, đánh hăng”.

Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Sư đoàn 320 được tách làm 2 khung sư đoàn, gồm Sư đoàn 320A và Sư đoàn 320B. Trung đoàn 64 thuộc Sư đoàn 320B, có nhiệm vụ huấn luyện chiến sĩ để chi viện cho chiến trường miền Nam. Từ tháng 1-1972, sau mấy tháng nhận quân, huấn luyện ở Thanh Hóa, Nghệ An, đơn vị hành quân vào chiến trường Quảng Trị. Những ngày tháng gian khổ, hiểm nguy cùng những chiến công đang chờ Trung đoàn…

Ngày 1-5-1972, toàn bộ tỉnh Quảng Trị, vị trí đầu cầu chiến lược được giải phóng. Không chịu nổi sự thất bại, ê chề và nhằm cứu vãn tình thế ở Hội nghị Pa-ri, ngụy quyền Sài Gòn tập trung binh lực, được hậu thuẫn tối đa của vũ khí hiện đại và cố vấn Mỹ, hòng tái chiếm Quảng Trị. Cuộc chiến khốc liệt, giành giật từng mét đất diễn ra trong 81 ngày đêm, không chỉ xảy ra ở Thành cổ và thị xã mà trên toàn tỉnh Quảng Trị, từ cánh Đông, duyên hải đến cánh Tây, rừng núi.

Trung đoàn 64 đứng chân ở đồng bằng ven biển, phía bắc huyện Hải Lăng và phía đông nam huyện Triệu Phong thuộc mặt trận cánh Đông. Địa hình tác chiến chủ yếu nằm dọc sông Vĩnh Định, một nhánh của sông Thạch Hãn. Vì thế mà Trung đoàn 64 còn gọi là Trung đoàn Vĩnh Định.

Chiến sĩ trẻ trong Thành Cổ. Ảnh: Đoàn Công Tính.

Đêm 27-6-1972, Tiểu đoàn 9, do đồng chí Lê Triệu làm Tiểu đoàn trưởng, là đơn vị chủ công của trung đoàn, được tăng cường hai đại đội thiếu, vượt qua “bức tường lửa” của bom B52, pháo hạm và pháo mặt đất, vào chốt ở hai thôn Đồng Dương, Diên Khánh. Sáng sớm 28-6, 3 tiểu đoàn thủy quân lục chiến cùng ba chi đoàn tăng thiết giáp của địch, được phi pháo dọn đường, máy bay lên thẳng yểm trợ, chia làm hai mũi, tạo gọng kìm, tấn công hai thôn trên. Vào 8 giờ cùng ngày, đơn vị nổ súng, mở màn cuộc chiến đấu của Trung đoàn 64.

Tại mũi 1, chính diện, các chiến sĩ đương đầu với hai tiểu đoàn lính thủy đánh bộ và hai chi đoàn xe tăng. Khi địch cách 300m thì khẩu ĐKZ của Đại đội 11 khai hỏa, phát đạn đầu thiêu cháy một chiếc xe tăng. Đạn B40, B41, AK nhất loạt chụp xuống đội hình địch, diệt nhiều tên. Cùng lúc, trận địa 12,7mm của Đại đội 12, do khẩu đội trưởng Vũ Thanh Bình chỉ huy, cũng bắn trúng một chiếc trực thăng khiến nó lao xuống cát bốc cháy. Xác địch nằm ngổn ngang trước trận địa.

Ở mũi thứ hai, một tiểu đoàn thủy quân lục chiến, có xe tăng đi cùng phối hợp với lực lượng đổ bộ từ phía bờ biển, đánh vào phía đông trận địa của ta. Ở hướng này, kẻ thù vô cùng xảo quyệt và hèn hạ. Chúng đã đẩy hàng trăm phụ nữ, trẻ em, người già đi trước để làm bia đỡ đạn. Trước tình huống phức tạp này, một câu hỏi đặt ra, làm thế nào để đánh được địch mà vẫn bảo đảm được tính mạng cho dân. Đồng chí Nguyễn Văn Bình, được đơn vị giao chỉ huy một tổ, thực hiện kế hoạch cứu dân.

Mặc cho kẻ thù bắn như vãi đạn, cả tổ vẫn trườn trên bãi cát trống trải, tiếp cận đông đảo bà con đang bị chúng xua lên phía trước. Khi các chiến sĩ ở khoảng cách rất gần, Bình liền bắn loạt đạn chỉ thiên rồi hô to cho nhân dân nằm rạp xuống. Thấy địch lộ mặt ra, không còn được che chắn, tổ bắn mấy loạt đạn, vừa bắn vừa lui để dụ chúng đuổi theo, nhằm tách xa địch với quần chúng nhân dân. Địch hí hửng, xua quân lên hòng bắt sống “mấy tên Việt cộng” to gan. Thế là, chúng dẫn xác vào trận địa phục kích của ta.

Đại đội trưởng Nguyễn Văn Bốn phát lệnh nổ súng. Từ các công sự, đạn AK, đại liên, trung liên, B40, B41, nổ giòn giã, xé nát đội hình địch. Ta tiêu diệt ngay tên chỉ huy và tên mang máy thông tin PRC-25 cùng hàng trăm tên khác. Số sống sót, bỏ chạy tán loạn.

Bị đánh bật ở cả hai mũi, giặc gọi máy bay và pháo binh, đánh phá suốt nhiều giờ rồi mở đợt tấn công mới. Trong một ngày, với 3 tiểu đoàn thủy quân lục chiến, 2 chi đoàn tăng thiết giáp, 20 máy bay lên thẳng cùng sự chi viện tối đa của không quân và pháo binh, địch mở tới 6 đợt tấn công nhưng vẫn không chiếm nổi Đồng Dương và Diên Khánh. Ngay trận đầu ra quân, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 64 đã phát huy truyền thống “Trung đoàn Quyết thắng”, “Dũng cảm đánh hăng”, chiến đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Tượng đài Thành cổ Quảng Trị. Ảnh: Việt Cường.

Ngày 18-7-1972, diễn ra trận đánh vào nhà thờ Trí Bưu, ở phía sau bờ sông Thạch Hãn, cách Thành cổ Quảng Trị khoảng 1km. Đây là một hang ổ của địch, như một thách thức với ta. Trong nhà thờ, có ngụy quân và dân. Nếu diệt địch thì sẽ làm thương vong cả dân. Do đó, ta phải dùng loa kêu gọi nhiều lần để giãn dân, bảo vệ bà con, ít đổ xương máu. Song giặc vẫn ngoan cố, tử thủ đến cùng. Nhiều lần, các đơn vị của Trung đoàn, thay nhau đánh vào nhà thờ, đều vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của chúng.

Tối 18-7-1972, Tiểu đoàn 9 xung trận. Màn đêm xuống, các mũi, các hướng đã bố trí sẵn sàng. Chiến sĩ giữ B40, Đại đội 10, Bùi Duy Dân đi theo mũi do Tiểu đoàn phó Kiều Ngọc Luân dẫn đầu. Lúc này, trên trời giặc thả pháo sáng, máy bay lượn vè vè. Dưới đất, đạn cối, pháo tầm xa của chúng bắn liên tục như giã giò. Mũi của Luân vấp phải ổ trung liên từ phía cửa sổ tầng 2 của nhà thờ bắn ra rát mặt, không tiến lên được. Dân ẩn mình dưới một hố bom, tìm mục tiêu và được lệnh bóp cò. Đạn B40 bay đi, để lại phía sau một vệt sáng và khói mù. Ổ đề kháng súng trung liên của địch câm bặt. Bắn xong, Bùi Duy Dân lao xuống hào, lập tức, mấy quả cối cá nhân của giặc bắn tới nổ ngay cạnh làm anh bị thương vào thái dương, máu ra nhiều. Đồng đội kịp thời băng bó và đưa Dân về tuyến sau. Tại trận này, anh được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng ba vì đã góp phần cùng đơn vị, chiếm được nhà thờ Trí Bưu.

Noi gương Tiểu đoàn 9, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 8, cũng ra sức đánh giặc, lập công. Thời điểm Trung đoàn 64 bắt đầu nổ súng chiến đấu đúng vào lúc địch mở cuộc hành quân Lam Sơn 72, hòng tái chiếm Quảng Trị. Các tiểu đoàn đã kiên cường bám trụ, quyết chiến quyết thắng, đánh 230 trận, diệt hơn 5.000 tên, bắn cháy 70 xe tăng, thiết giáp và xe quân sự, bắn rơi 49 máy bay. Những trận đánh của Trung đoàn như: Đồng Dương, Diên Khánh, nhà thờ Trí Bưu, Bích La Đông, Thành Cổ, Phương Lạng Đông, chốt thép Long Quang, cảng Cửa Việt… đã góp phần làm nên trang sử vẻ vang, chiến đấu giành độc lập, tự do cho dân tộc.

Trong số những đơn vị, cá nhân được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, có tên Trung đoàn 64 – Trung đoàn Vĩnh Định và Anh hùng liệt sĩ Kiều Ngọc Luân.

Anh Luân là trợ lý tác chiến của tiểu đoàn. Trong trận chốt giữ làng Linh Chiểu, Tiểu đoàn trưởng Lê Triệu điều Đại đội 10 (thay thế Đại đội 11), đương đầu với một tiểu đoàn và 10 xe tăng địch, có pháo binh và trực thăng vũ trang chi viện. Giặc chia làm 3 mũi, ào ạt tấn công vào chốt. Kiều Ngọc Luân dũng cảm dùng súng AK, chờ địch đến gần, chỉ cách dăm, bảy mét mới bắn. Anh phát hiện ở gò cát, chân điểm cao 16, có ụ súng đại liên đang bắn cấp tập về phía ta. Luân nhanh chóng tìm cách tiếp cận rồi tiêu diệt tên lính và chiếm luôn được khẩu đại liên, quay nòng, bắn mãnh liệt vào sườn đội hình giặc. Chúng bất ngờ và kinh hoàng, xác địch nằm la liệt. Sau hai ngày chiến đấu quyết liệt, đơn vị diệt gần 300 tên; trận địa vẫn giữ vững. Trận này, Tiểu đoàn 9 giành thắng lợi lớn nhất. Kiều Ngọc Luân đạt thành tích cao trong chiến đấu, được trên đề bạt giữ chức Tiểu đoàn phó. Anh đã 13 lần đạt danh hiệu: Dũng sĩ diệt Mỹ.

Trung tuần tháng 8-1972, Kiều Ngọc Luân được lệnh ra ngoài Cửa Tùng, gặp các nhà báo để kể về tình hình chiến đấu của bản thân và đơn vị. Song thật không may, Luân chưa kịp lên đường thì trận đánh nhà thờ Trí Bưu xảy ra. Sau tiếng súng báo hiệu, các đại đội cùng khẩu đội ĐKZ do anh chỉ huy đồng loạt nhả đạn vào các mục tiêu định trước. Kẻ thù chống cự mãnh liệt và Kiều Ngọc Luân đã anh dũng hy sinh.

Như vậy là, khi hành quân vào chiến trường Quảng Trị, Trung đoàn 64 có hơn 2.000 cán bộ, chiến sĩ. Quá trình tham gia chiến đấu, bổ sung quân nhiều đợt, sau chiến dịch, đơn vị có 600 đồng chí hy sinh; 1.700 đồng chí bị thương. Khúc tráng ca Quảng Trị được viết bằng máu của cả một thế hệ tuổi thanh xuân cho Tổ quốc, trong đó có sự cống hiến, hy sinh của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 64 – Trung đoàn Vĩnh Định, đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, còn vang danh mãi trong lòng người dân yêu nước Việt Nam.

————–

Bài I: Khí phách kỳ diệu
Bài II: Người anh hùng và trận đánh huyền thoại

Ghi chép của CHI PHAN
qdnd.vn

81 ngày đêm rực lửa tại Thành cổ Quảng Trị năm 1972 (Bài 2)

Bài II: Người anh hùng và trận đánh huyền thoại

QĐND –  Đường về xã Quỳnh Hoàng, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, đã láng nhựa nhẵn thín. Xã có 16 xóm với gần 2.800 hộ. Nhà xây kiên cố đã chiếm hơn 90%. Sản lượng bình quân đầu người đã đạt 1000kg thóc/năm. Khung cảnh yên bình, no ấm đang bao trùm lên Quỳnh Hoàng.

Nhân dân địa phương cũng như tuổi trẻ ở đây không bao giờ quên nỗi vất vả gian khổ, sự hy sinh xương máu của cha, anh trong các cuộc chiến đấu chống giặc, cứu nước. Với miền Nam, Đảng bộ và nhân dân Quỳnh Hoàng luôn thực hiện khẩu hiệu “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Một số gia đình có hai đến ba con nhập ngũ và đều trở thành liệt sĩ. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, hơn 1.200 con em của xã Quỳnh Hoàng, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình lên đường bảo vệ Tổ quốc, trong đó có 167 là liệt sĩ. Đặc biệt, trong một con ngõ nhỏ, dài khoảng 300 mét, nối liền hai thôn An Trực và Đồng Trực của xã Quỳnh Hoàng, đã xuất hiện 3 Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, đó là: Nguyễn Thế Thao, Nguyễn Công Dị (tức Hồng Quân) và Nguyễn Hồng Thế. Chuyện này xưa nay thật hiếm có.

Anh hùng Nguyễn Thế Thao sinh năm 1944, dân tộc Kinh. Sau hai năm trong quân ngũ, tháng 3-1964, anh chuyển ra công tác tại Khu gang thép Thái Nguyên. Tháng 6-1967, Thao tái ngũ, cùng đơn vị sang làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào.

Bộ đội chiến đấu trong Thành cổ Quảng Trị. Ảnh tư liệu.

… Đầu tháng 3-1972, hoàn thành nhiệm vụ quốc tế giúp bạn Lào, đơn vị chuyển về nước, tham gia chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị. Sau một thời gian nghỉ ở Nghệ An, với cương vị Tiểu đoàn trưởng, Nguyễn Thế Thao đã cùng đồng đội góp phần viết nên trang chiến sử huyền thoại trong những ngày hè rực lửa ở Quảng Trị. Trận đánh của đơn vị làm kẻ thù bị bất ngờ, khiếp đảm, kinh hoàng là trận Đồi Cháy.

Điểm cao này nằm ở phía đông nam làng Như Lệ, xã Hải Lệ, huyện Hải Lăng, đã bị địch đốt cháy trụi, do một đơn vị lính thủy đánh bộ ngụy chiếm giữ. Chúng rất huênh hoang, cho đây là cứ điểm bất khả xâm phạm. Tại đây, chúng cho xây dựng nhiều lô cốt, được bao bọc bởi nhiều hàng rào thép gai xen với các bãi mìn. Địch gọi Đồi Cháy là “con mắt của thị xã Quảng Trị”, đồng thời chọn nơi này làm bàn đạp, lấn dũi các địa bàn giải phóng khác. Hơn nữa, từ đây, chúng có thể phát hiện và ngăn chặn lực lượng, phương tiện, hàng hóa của ta từ Bắc vào thị xã Quảng Trị.

Trước đó, đơn vị bạn đã tiến công Đồi Cháy 3 lần nhưng không diệt được cứ điểm trên. Với Tiểu đoàn 6, Bộ chỉ huy Mặt trận B5 giao: “Trong hai ngày, phải giải quyết xong Đồi Cháy”. Mọi người ý thức được rằng, trận này cầm chắc sự ác liệt, hy sinh. Nhưng không ai tỏ ra lo sợ. Trong đầu họ chỉ có một suy nghĩ, đó là làm thế nào để bảo đảm bí mật, bất ngờ, chắc thắng?

Sau khi đi trinh sát trận địa, một phương án táo bạo, độc đáo được Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thế Thao cùng Ban chỉ huy tiểu đoàn vạch ra: Thay vì đánh địch vào lúc nửa đêm, gần sáng như phương án của đơn vị bạn trước đây đã thực hiện, Tiểu đoàn 6 sẽ đánh địch từ khoảng 17 giờ trở đi. Đây là thời điểm chúng lơ là, mất cảnh giác nhất. Ngày 8-9-1972, đơn vị bí mật đưa 300 quân của 3 Đại đội 9, 10, 11 áp sát Đồi Cháy và chỉ cách địch khoảng 70 mét. Việc giấu quân ở cự ly này là rất thích hợp bởi vừa tiện cho xung phong tiêu diệt mục tiêu, vừa tránh được hỏa lực sát thương bằng pháo binh và không quân của địch.

Cán bộ, chiến sĩ của 3 đại đội đã vùi mình trong cát gần một ngày trời: Nhịn đói, nhịn khát, không dám ho… Chỉ một sơ suất nhỏ thì địch sẽ phát hiện được ngay và gây thương vong cho tiểu đoàn. Đến 3 giờ chiều, máy bay của chúng nhiều lần đến giội bom quanh Đồi Cháy nhưng quân ta vẫn an toàn vì ở rất gần địch.

Bộ đội chiến đấu trong Thành cổ Quảng Trị. Ảnh tư liệu.

Đúng 17 giờ 25 phút ngày hôm sau, lợi dụng lúc bọn địch đang nấu cơm chiều, sau những loạt hỏa lực phủ đầu, các chiến sĩ từ trong lòng đất, nhất tề bật lên như trận gió lốc. Tiếng hô xung phong vang động một vùng. Súng B41 nhả đạn. Các khẩu AK nhả đạn. Hàng loạt lựu đạn tới tấp quăng về phía địch. Kẻ thù bị tấn công bất ngờ nên rất hoảng loạn. Tuy nhiên, sau ít phút choáng váng, chúng bắt đầu phản công. Mũi đột kích của Đại đội 9 nhanh chóng chọc thủng tuyến phòng thủ vòng ngoài song bị chững lại ở lưng đồi, vì pháo của địch trùm lên Đồi Cháy. Từ trên cao, một ổ 12,8mm quét chéo xuống sườn đồi khiến quân ta không tiến lên được. Trước tình huống phức tạp, ác liệt, Hoàng Đăng Miện trườn lên, tìm vị trí thuận lợi, rồi bỗng đột nhiên đứng vụt dậy, giương khẩu B41, bóp cò! Sau tiếng nổ đanh, ổ 12,8mm của địch câm bặt (nếu nằm bắn, đạn sẽ vọt qua mục tiêu, không tiêu diệt được chúng). Các chiến sĩ tiếp tục tràn lên tiêu diệt kẻ thù. Miện đang lắp tiếp vào đầu súng quả đạn mới thì một vầng sáng chớp lóe trước mặt anh. Hoàng Đăng Miện đã anh dũng hy sinh.

Sau hai lần xung phong, đến 19 giờ ngày 9-9-1972, toàn bộ 160 tên địch bị tiêu diệt. Ta làm chủ hoàn toàn Đồi Cháy. Do có cách đánh bí mật, bất ngờ, táo bạo của Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thế Thao và đồng đội, “con mắt của thị xã Quảng Trị” như tướng ngụy Bùi Thế Lân thường rêu rao ở Đồi Cháy, đã bị “chọc mù”.

Với thành tích đặc biệt xuất sắc trong trận này, Nguyễn Thế Thao và liệt sĩ Hoàng Đăng Miện, người bị thương trong cả hai lần xung phong, vẫn xông lên tiêu diệt địch, được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vào ngày 23-9-1973. Như vậy là, trong trận Đồi Cháy, Đại đội 9, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 165, Sư đoàn 312 có hai cán bộ, chiến sĩ được phong tặng Anh hùng; mang lại niềm tự hào lớn cho đơn vị.

Về với đời thường, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Đại tá Nguyễn Thế Thao, hiện ở số nhà 194, đường Hoàng Văn Thái, Hà Nội. Đận đầu năm 2012, tôi đã gặp anh tại Hội nghị thành lập Ban tổ chức kỷ niệm 40 năm Chiến dịch Quảng Trị (1972-2012) ở Hội trường Bảo tàng Phòng không – Không quân. Nguyễn Thế Thao là Trưởng ban tổ chức Lễ kỷ niệm lớn này. Trước các đồng chí, đồng đội, anh xúc động nói: “…Cách đây 40 năm, Chiến dịch mùa hè năm 1972 và Chiến dịch phòng ngự Quảng Trị 1972 là chiến dịch kéo dài nhất, ác liệt nhất, mật độ bom đạn cao nhất. Từ mặt trận Quảng Trị đến trận “Điện Biên Phủ trên không” và Hội nghị Pari là bản Anh hùng ca về chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, mà thắng lợi đó đã mở toang khu giới tuyến, cánh cửa ngăn cách hai miền Nam – Bắc, tạo ra cục diện mới rất thuận lợi cho chiến dịch toàn thắng mùa xuân năm 1975.

Thắng lợi huy hoàng nhưng cũng có nhiều hy sinh, tổn thất: Hàng chục nghìn cán bộ, chiến sĩ và nhân dân vĩnh viễn nằm lại trên chiến trường. Đau thương thật là vô hạn. Đã 40 năm qua rồi mà cảnh tượng bi hùng ấy ngỡ như ngày hôm qua. Những cảm xúc luôn đau đáu trong lòng khiến ai nấy còn sống trở về càng gần gũi, giúp đỡ nhau hơn trong cuộc sống đời thường. Hơn nữa, nhiều vấn đề tồn đọng sau chiến tranh cần được giải quyết như việc quy tập hài cốt liệt sĩ, chăm lo các gia đình chính sách còn gặp khó khăn, thiếu thốn.

Xuất phát từ những suy nghĩ đó, Ban tổ chức Lễ kỷ niệm 40 năm Chiến dịch Quảng Trị được thành lập và bắt đầu hoạt động…”.

Cùng ở trong Ban chỉ đạo và Ban tổ chức Lễ kỷ niệm trên, tôi có dịp gặp gỡ, trò chuyện với Đại tá Nguyễn Thế Thao. Nhỏ nhẹ, khiêm nhường, không ồn ào mà thầm lặng, sâu sắc là bản tính của anh. Qua tâm sự, Thao cho biết: Trong trận tập kích sân bay Thầm Lửng ở Lào, như trên đã nói, anh bị thương nặng. Song không hiểu sao, bản thân vẫn còn sống. Thật kỳ lạ. Thao bị ngất nhiều lần và khi tỉnh lại, sờ vào đâu trên cơ thể cũng có máu. Cảm giác đầu tiên là khát. Anh quờ quạng xung quanh chẳng có gì uống được; thoáng nghĩ, phải cố bò về hang đá, chỗ sở chỉ huy đơn vị. Thao vừa thở vừa lê lết trên đất đá lởm chởm, khét mùi thuốc súng. Anh bò tới cửa hang thì đồng đội phát hiện được, vội dìu anh vào. Thao lại ngất xỉu…

Điều trị lành vết thương, Thao tiếp tục trở về đơn vị chiến đấu. Từ Tiểu đoàn trưởng, anh lần lượt được đề bạt lên làm Trung đoàn phó, Trung đoàn trưởng rồi Lữ đoàn trưởng, Sư đoàn phó. Hòa bình lập lại, Nguyễn Thế Thao về Hà Nội giám định sức khỏe mới biết, mảnh đạn M79 quái ác của địch đã xuyên từ vai trái, thấu phổi của anh. Mảnh đạn đó vẫn găm ở đỉnh phổi trái và không thể mổ để lấy ra được vì đúng chỗ động mạch phổi. Gần 40 năm qua, những lúc thời tiết thay đổi, Thao phải ôm ngực, đau đớn, mồ hôi vã ra, hai mắt tối sầm. Vết thương khiến anh trở thành thương binh nặng với tỷ lệ thương tật tới 81%.

Đại tá Nguyễn Thế Thao tiếp tục tâm sự với tôi. Anh rủ rỉ, hóm hỉnh nói về “thời hiện tại” của mình:

– Tôi bị thương thế này, tưởng “ế” rồi kia đấy! Nhưng may “ông giời” thương, đến năm 1982, khi gần 40 tuổi vẫn lấy được vợ. Bà xã lại là bác sĩ cơ đấy, cùng quê Quỳnh Phụ, Thái Bình. May hơn nữa là chúng tôi sinh được hai cháu, đủ cả “nếp”, “tẻ” và đều đã tốt nghiệp đại học.

Những năm cuối thời kỳ bao cấp, cuộc sống của hai vợ chồng vất vả lắm. Lúc đầu, nhà cửa chưa có, vợ con phải đi trú nhờ Trạm khách 354 của quân đội, rồi ra ở cái “tổ tò vò” cạnh đường Điện Biên Phủ. Khi ấy tôi luôn nghĩ đồng đội, nhiều người cũng còn khó khăn, không lẽ bản thân mang cái “danh hiệu Anh hùng”, cái “máu thương binh” ra để đòi hỏi chăng? Thôi thì, anh em sống được, mình cũng sống được. Mãi sau này, hồi ở Lữ đoàn 144, đơn vị lấp mấy cái ao rau muống, chia cho mỗi cán bộ mấy chục mét vuông, mình mới có chỗ “an cư”. Được cái vợ tôi có việc làm ổn định ở Bệnh viện Thanh Nhàn, hai cháu ngoan hiền, sau khi tốt nghiệp đại học đều đã có việc làm, trong đó cháu thứ hai cũng theo bố mang nghiệp nhà binh (cháu thứ hai nhà anh Thao đã tốt nghiệp Học viện Kỹ thuật quân sự).

Tôi thành thật chúc mừng Đại tá Nguyễn Thế Thao. Quả nhiên anh có được “cái kết có hậu”. Nguyễn Thế Thao vì giữ “chức” Phó ban liên lạc Sư đoàn 312 nên đã cùng đồng đội làm nhiều việc như: Tổ chức thăm hỏi đồng đội lúc ốm đau, giúp đồng đội làm kinh tế, hoàn tất hồ sơ cho hơn hai chục cán bộ, chiến sĩ bị thương ở chiến trường, làm thủ tục công nhận thương binh, dẫn các đoàn đại biểu thăm lại chiến trường xưa và viếng những Nghĩa trang liệt sĩ ở Quảng Trị…

Những công việc ấy giúp Đại tá, Anh hùng Nguyễn Thế Thao luôn được gần gũi đồng đội, tri ân đồng đội, những người đã ngã xuống trong những trận đánh huyền thoại để đất nước mãi mãi trường tồn.

—————–

Bài 1: Khí phách kỳ diệu

Bài 3: Vang danh Vĩnh Định

Ghi chép của CHI PHAN
qdnd.vn

81 ngày đêm rực lửa tại Thành cổ Quảng Trị năm 1972 (Bài 1)

Bài I: Khí phách kỳ diệu

QĐND – Qua các cuộc chiến tranh vệ quốc, cùng với biết bao vùng đất quả cảm, kiên cường của đất nước, tỉnh Quảng Trị huyền thoại là minh chứng hùng hồn cho đỉnh cao khí phách và trí tuệ Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Bắt đầu từ trưa ngày 30-3-1972, sau hai cuộc tiến công bất ngờ và quả cảm, với binh chủng hợp đồng quy mô lớn của quân ta, ngày 2-5-1972, thị xã Quảng Trị được giải phóng, sau 18 năm, bị Mỹ-ngụy chiếm đóng. Trong chiến dịch này, ta đã đánh tan tập đoàn phòng ngự mạnh nhất của địch ở Quảng Trị. Hơn ba vạn quân giặc bị loại khỏi vòng chiến đấu; 178 máy bay, 11 tàu chiến, 320 xe tăng, 237 khẩu đại bác và nhiều vũ khí đạn dược của địch bị phá hủy hoặc lọt vào tay Quân giải phóng.

Sau những giờ phút hoàn hồn, để lấy lại tinh thần và nhằm gây sức ép với ta tại Hội nghị Pa-ri, họp lại vào ngày 13-7-1972, đã nhiều lần trì hoãn, địch dốc toàn bộ lực lượng, mở cuộc phản kích, tái chiếm Quảng Trị, mà mục tiêu số 1 là chiếm lại tòa Thành cổ. Chúng gọi tên cuộc hành quân này là “Lam Sơn 72” và bắt đầu từ ngày 28-6-1972.

Địch huy động máy bay phản lực, bình quân mỗi ngày 150-170 lần (có ngày 220 lần), 70-90 lần chiếc B-52; 12-16 tàu khu trục hạm và tuần dương hạm, thuộc Hạm đội 7; 2 sư đoàn dự bị chiến lược là sư dù và sư thủy quân lục chiến, một liên đoàn biệt động, 4 trung đoàn thiết giáp (mỗi trung đoàn có 79 xe tăng và xe bọc thép), cùng hàng chục tiểu đoàn khác.

Đây là cuộc hành quân cực kỳ tàn bạo mà kẻ thù không từ một hành động tội ác nào: Ném đủ các loại bom bi, bom 7 tấn, bom điều khiểu bằng la-de; bắn đủ các loại pháo chụp, pháo khoan; thả chất độc hóa học, hơi độc và hơi ngạt… Số bom đạn chúng ném xuống đây khoảng 328 nghìn tấn, tương đương với sức công phá của 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống hai thành phố Hi-rô-si-ma và Na-ga-sa-ki (Nhật Bản), năm 1945.

Thanh niên, sinh viên nhập ngũ vào chiến đấu tại mặt trận Quảng Trị năm 1972. Ảnh tư liệu.

Trong lịch sử chiến tranh thế giới, chưa hề có một cuộc hành quân nào mà mục tiêu chủ yếu chỉ đánh vào một tòa Thành cổ, có chu vi 2.080m, rộng chưa đầy 3km2, khiến đối phương có thể huy động một lực lượng hải, lục, không quân đông và sử dụng một khối lượng chất nổ khổng lồ như vậy.

Chính trong chiến dịch phản kích mang tính hủy diệt đó của kẻ thù, Thành cổ Quảng Trị đã mở đầu trang sử vô cùng oanh liệt, hào hùng bằng cuộc chiến đấu cực kỳ gian khổ, hiểm nguy và dũng cảm qua 81 ngày đêm mùa hè rực lửa, rung chuyển cả nước và toàn cầu từ ngày 28-6-1972 đến ngày 16-9-1972.

Lực lượng ta ở vòng trong thị xã, lúc đầu có Trung đoàn 48, Sư đoàn 320B và hai tiểu đoàn bộ đội địa phương. Khi cao điểm, có thêm Trung đoàn 95, Sư đoàn 325 và Tiểu đoàn 8 của Trung đoàn 64. Chỉ huy sở của Mặt trận thị xã đặt tại hầm trong dinh Tỉnh trưởng ngụy, bên bờ sông Thạch Hãn. Lực lượng vòng ngoài có Sư đoàn 320B ở cánh Đông, Sư 308 ở cánh Nam, cùng các đơn vị xe tăng, pháo cao xạ và lực lượng du kích các xã phụ cận. Các chốt quan trọng như: Long Quang, nhà thờ Trí Bưu, ngã ba Long Hưng, trường Bồ Đề, ngã ba Cầu Ga… là những nơi, quân ta bất chấp mọi nguy hiểm, gian khổ, hy sinh, kiên quyết đập tan các đợt phản kích của địch. Đặc biệt, trong Thành cổ Quảng Trị, là tiêu điểm ác liệt nhất và cũng là nơi thể hiện tinh thần chiến đấu phi thường, huyền thoại, cực kỳ dũng cảm, hy sinh của quân dân ta. Tại đây, trung bình, một chiến sĩ phải hứng chịu hơn 100 quả bom và 200 quả đạn pháo. Có ngày như ngày 25-7-1972, kẻ thù bắn vào Thành Cổ 5.000 quả đạn. Bốn dãy tường thành ở bốn phía đông, tây, nam, bắc, dày 12m, đều bị vỡ dần; đến một viên gạch nơi đây cũng không còn nguyên vẹn.

Cuộc chiến đấu ở đây diễn ra như một huyền thoại. Và cách đánh địch nhiều khi cũng vượt ra khỏi những quy ước thông thường: Súng cối 60mm, được các chiến sĩ kẹp nách, bắn ứng dụng liên tục mấy chục quả một lần; lựu đạn sau khi rút chốt, phải tính toán sao cho khi nó vừa bay tới mục tiêu là nổ. Có lúc, chiến sĩ bò sát miệng hầm của địch rồi mới tung lựu đạn vào. Trong một trận đánh, có chiến sĩ bắn tới 14 quả đạn B40, diệt 32 tên địch. Tại mặt trận, nhiều chiến sĩ bị thương một, hai, thậm chí ba lần, vẫn chiến đấu, không chịu về tuyến sau. Các chiến sĩ bộ binh, công binh, quân y, thông tin, đều cầm súng đánh địch. Bằng tính kỷ luật tuyệt vời, tinh thần dũng cảm, ý chí ngoan cường và sự hy sinh vô bờ, ai nấy kiên quyết giữ vững trận địa trong suốt 81 ngày đêm. Đó là 81 ngày đêm lịch sử bi tráng, ác liệt, hào hùng, đầy hy sinh và mãi mãi bất tử.

Đại đội 1, Tiểu đoàn 25 vận tải, Sư đoàn 320B nhận thấy, nếu chỉ dùng sức người mang vác vũ khí vào thị xã và dùng võng cáng thương binh ra, với quãng đường dài hàng chục cây số, dưới làn bom đạn của máy bay, pháo mặt đất và pháo hạm của địch thì khá vất vả, hiểm nguy mà hiệu quả thấp. Còn như dùng thuyền, vận chuyển qua sông Thạch Hãn, sẽ được nhiều hơn. Ban chỉ huy đại đội bàn bạc và thống nhất với phương án của Đại đội trưởng Nguyễn Thanh Mai (sau này, đồng chí là giảng viên của Học viện Lục quân Đà Lạt), vận động địa phương cho dùng thuyền máy của bà con ngư dân đi sơ tán, để lại ở các thôn, xóm ven sông, làm phương tiện vận chuyển. Được cấp trên chuẩn y, các chiến sĩ khẩn trương tìm những chiếc thuyền có máy móc còn tốt và một số thùng dầu ma-dút để chạy máy.

Nhớ lại những ngày ấy, các chiến sĩ không thể quên sự giúp đỡ tận tình, có hiệu quả và tình cảm chân thành của nhân dân cũng như du kích bốn thôn: Nhĩ Hạ, Vĩnh Quang, Mai Xá, Lâm Xuân… Những chiếc thuyền đánh cá, đầu máy xe tải nhỏ, máy bơm nước, máy xay xát thóc gạo, các thùng nhiên liệu chạy máy… đều là tài sản lớn mà bà con chắt chiu, dành dụm trong nhiều năm để làm ăn sinh sống. Nhưng khi bộ đội xin được trưng dụng thì ai cũng sẵn sàng ủng hộ và nói: “Mấy chú từ miền Bắc vô đây chẳng tiếc máu xương để giải phóng cho bà con, thì tụi tôi tiếc chi các thứ đó…”.

Thôn Nhĩ Hạ có o Hồng, du kích, mới 17 tuổi, mặt tròn, da trắng, mắt bồ câu. Hồng đang dẫn đường cho bộ đội thì bị pháo địch bắn dữ dội. Một số chiến sĩ mới vào chiến trường, chưa quen trận mạc nên hốt hoảng, lúng túng. Giữa lúc ấy, o bình tĩnh hướng dẫn anh em xuống trú ẩn vào các hố bom vừa nổ, bảo toàn lực lượng.

Có thuyền và nhiên liệu chạy máy, phân đội vận tải thủy của đơn vị được thành lập, kèm theo một tổ bảo đảm kỹ thuật mà nòng cốt là mấy chiến sĩ quê ở hai huyện Giao Thủy và Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Ngay trong 5 đêm đầu tiên, đơn vị đã vận chuyển được 8 tấn vũ khí vào thị xã Quảng Trị và đưa gần 100 thương binh về tuyến sau an toàn. Nhưng rồi địch phát hiện ra, nên cuộc chiến ác liệt trên sông Thạch Hãn bắt đầu…

Để tìm diệt thuyền tiếp tế của ta, đêm đêm, chúng cho máy bay thả đèn dù sáng rực và rải bom từ trường trên sông, nhiều nhất là đoạn từ cầu Quảng Trị, thôn Nhan Biều đến căn cứ Ái Tử. Với ánh sáng đèn dù, các chiến sĩ cứ nghe tiếng máy bay và tiếng nổ “bụp” trên trời, liền cho thuyền đã ngụy trang, tắt máy, áp sát vào bờ; đợi đèn dù tắt, máy bay đi xa, lại tiếp tục công việc. Nhưng đối phó với bom từ trường thì không dễ, bởi bom chìm sâu dưới lòng sông, rất khó phát hiện. Nếu thuyền đi qua, tác động của chân vịt, bom sẽ phát nổ, gây thương vong, nhấn chìm vũ khí, đạn dược.

Thời gian đầu, bom từ trường của địch đã phá hủy nhiều thuyền của ta và làm hàng chục cán bộ, chiến sĩ hy sinh. Đồng chí Phạm Vụ, Chính trị viên đại đội, dẫn một tổ đi tìm kiếm thi hài đồng đội để chôn cất, đã phải thu nhặt từng mảnh thi thể liệt sĩ bị bom địch hất lên bờ sông. “Cái khó ló cái khôn”, phải tìm cách chế ngự sự hiểm nguy này.

Đơn vị cử một tổ được tăng cường ba chiến sĩ công binh của Sư đoàn 320B và có du kích địa phương giúp đỡ, thực hiện rà phá bom từ trường bằng phương pháp thủ công: Dùng dây ni-lông, buộc các thùng đạn đại liên của địch (cách 5m một thùng), với độ sâu từ 1,5 đến 2m, có cây chuối làm phao; rồi chăng ngang sông và kéo xuôi dòng chảy để kích cho bom nổ. Trong quá trình rà phá bom, anh chị em phát hiện nhiều thi thể bộ đội ta hy sinh trong lúc vượt sông sang Thành cổ Quảng Trị, trôi theo dòng nước khiến anh chị em sục sôi căm thù giặc. Đêm đêm, khi đưa thuyền ngang qua các đoạn sông có bom từ trường, để hạn chế thương vong, ta tắt máy, chỉ để một người trên thuyền cầm sào giữ hướng, số còn lại, buộc dây vào mũi thuyền, lội theo mép nước, kéo qua đoạn nguy hiểm.

Trong 81 ngày đêm diễn ra chiến dịch bảo vệ thị xã, Thành cổ Quảng Trị, thì có đến gần 40 đêm, thuyền của Đại đội 1, vận chuyển vũ khí, đạn dược, thương binh cho các đơn vị bộ đội. Thường thì, mỗi đêm từ một đến ba chiếc qua sông và hầu như, đêm nào cũng có đồng đội hy sinh. Khó khăn, gian khổ và hiểm nguy như vậy, nhưng với khẩu hiệu “Đoàn Quang Sơn còn thì thị xã, Thành cổ Quảng Trị còn”, “Đại đội 1 còn thì Đoàn Quang Sơn còn được cung cấp vũ khí, đạn dược”. Anh em trong đơn vị đã đoàn kết một lòng, kiên quyết vượt qua mưa bom, bão đạn của quân thù để đưa những chuyến hàng tới đích.

Trong 81 ngày đêm, ngược xuôi dòng Thạch Hãn làm nhiệm vụ, một phần ba số quân của Đại đội 1 đã mãi mãi hóa thân vào dòng sông đầy máu lửa. Cùng với những con thuyền, hài cốt liệt sĩ của đơn vị còn nằm dưới lòng sông này. Linh hồn của các anh trở thành hồn thiêng sông nước.

… Đò lên Thạch Hãn ơi… chèo nhẹ

Đáy sông còn đó, bạn tôi nằm

Có tuổi hai mươi thành sóng nước

Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm

(Thơ Lê Bá Dương)

Cuộc chiến đấu anh hùng trong 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị, kết thúc bằng thất bại của một đội quân xâm lược đông hơn 5 vạn tên, với thừa thãi vũ khí, bom đạn hiện đại, một lần nữa làm sáng ngời chân lý: Kẻ thù dù có vũ khí tối tân đến đâu cũng phải khuất phục trước những con người có ý chí kiên cường, một lòng chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Đúng như cố Tổng bí thư Lê Duẩn tôn vinh về cuộc chiến đấu trong Thành cổ Quảng Trị: “Chúng ta đã chịu được không phải chúng ta là gang thép; vì gang thép cũng chảy với bom đạn địch; mà chúng ta là những con người thực sự, con người Việt Nam với truyền thống hàng nghìn năm, đã giác ngộ sâu sắc trách nhiệm trọng đại trước Tổ quốc, trước thời đại”.

Thành cổ cùng với thị xã Quảng Trị đã được Nhà nước ta tuyên dương danh hiệu: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Lập nên những chiến công vang dội đó, nơi đây đã thấm đẫm máu của 18 nghìn cán bộ, chiến sĩ, đồng bào Quảng Trị và cả nước. Dưới lớp cỏ non Thành cổ, ngã ba Long Hưng, được gọi là “ngã ba bom”, “ngã ba lửa”, dòng sông Thạch Hãn… bao nhiêu người con yêu nước đã mãi mãi nằm lại. Đời đời, con cháu luôn luôn tưởng nhớ một thời máu lửa, một thời oanh liệt, hào hùng mà cha anh đã làm tất cả để đánh đuổi giặc ngoại xâm, đem lại cuộc sống hòa bình, tươi đẹp như hôm nay.

————-

Bài II: Người anh hùng và trận đánh huyền thoại

Ghi chép của CHI PHAN
qdnd.vn

Sĩ quan Việt Nam Cộng hòa dưới mắt các nhà địch vận

QĐND – Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cơ quan địch vận các đơn vị đã tiến hành nghiên cứu đội ngũ sĩ quan Quân đội Sài Gòn (nhất là số sĩ quan từ cấp đại tá trở lên), đi sâu khai thác về lai lịch, xu hướng, thái độ chính trị, quan hệ phe phái và cả… cách kiếm tiền của đội ngũ này. Qua phân tích, tổng hợp từ các nguồn tài liệu và khai thác tù, hàng binh, các cán bộ của ta đã có những đánh giá về thực chất đội ngũ sĩ quan đối phương để phục vụ cho công tác địch vận.

Dưới đây là vài nét “chân dung” những sĩ quan chóp bu thuộc Quân đoàn 3 địch, những sĩ quan từng nằm trong “hồ sơ nghiên cứu” của các cơ quan địch vận ở thời điểm tháng 11-1973.

Viên Tư lệnh thích tiệc tùng

Phạm Quốc Thuần khi đang là Trung tướng, Tư lệnh Quân đoàn 3 của Quân đội Sài Gòn. Ảnh tư liệu

Phạm Quốc Thuần quê gốc miền Bắc (tỉnh Hà Đông cũ). Tháng 8-1951, Thuần đi lính cho Pháp, sau đó theo học và tốt nghiệp Trường Võ bị Đà Lạt. Thuần đã trải qua các chức vụ: Trung đoàn trưởng Trung đoàn 31 – Sư đoàn 21; Tham mưu trưởng Sư đoàn 22; Tham mưu trưởng Sư đoàn 5; Đổng lý Văn phòng Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Tháng 6-1966, khi ở tuổi 40, Thuần được thăng cấp chuẩn tướng, Tư lệnh Sư đoàn 5 bộ binh; 3 năm sau được thăng cấp thiếu tướng và về làm Chỉ huy trưởng Trường Sĩ quan bộ binh Thủ Đức. Sau Hiệp định Pa-ri năm 1973, Thuần được cử làm Trưởng phái đoàn quân sự của chính quyền Sài Gòn tại Ban Liên hiệp quân sự bốn bên, đến tháng 10-1973 được Nguyễn Văn Thiệu cử giữ chức Tư lệnh Quân đoàn 3 và nhận lon trung tướng.

Thuần là người có dáng mập, thường hay đeo kính trắng, ăn nói hoạt bát nhưng tác phong làm việc của viên tướng này lại ít sâu sát cấp dưới, có tính gia trưởng và thường ham thích tiệc tùng. Qua khai thác, các tù binh từng là lính của Thuần cho biết: Trình độ chỉ huy của Thuần ở mức khá và anh ta thường xuyên viết sách phổ biến những kinh nghiệm của mình trong cuộc chiến chống lại Quân giải phóng. Là người thuộc phe thân cận với Tổng thống Thiệu, Thuần đã trực tiếp đề xuất nhiều ý kiến về việc cải tổ quân đội và từng được Thiệu, Mỹ tín nhiệm. Nhà riêng viên tướng 3 sao này nằm trong khu vực dành cho chỉ huy Trường Sĩ quan Thủ Đức, gia đình Thuần thuộc loại giàu có.

Tướng một sao không ưa Mỹ

Viên Tư lệnh phó Quân đoàn 3 Đào Duy Ân sinh năm 1932, quê ở Cần Thơ. Trưởng thành từ “lò” thiếu sinh quân do Pháp đào tạo ở Vũng Tàu, Ân vào học khóa 4 Trường Võ bị Đà Lạt. Sau khi tốt nghiệp, Ân về Binh chủng Pháo binh và sau đó nhận chức Chỉ huy trưởng Pháo binh của Quân đoàn 3. Năm 1960 Ân được cử đi học chuyên ngành pháo binh ở Mỹ, một năm sau về nước giữ chức Chỉ huy trưởng pháo binh Quân đoàn 2 và 4 năm sau là Tham mưu trưởng Trường Sĩ quan Thủ Đức. Tháng 7-1970, Ân được phong chuẩn tướng, Tư lệnh phó Quân đoàn 3.

Ân có dáng người thấp bé, nước da trắng và là người thích đọc sách. Theo thông tin khai thác từ tù binh, Ân có cảm tình với Pháp nhiều hơn với người Mỹ, đồng thời thái độ chính trị của anh ta đối với chính quyền Sài Gòn cũng không rõ ràng. Leo tới chức Tư lệnh phó Quân đoàn nhưng Ân luôn là kẻ được bạn bè tin tưởng và cả trên, dưới đều được lòng. Khác với số đông những gia đình tướng lĩnh Quân đội Sài Gòn, đời sống gia đình Ân không thuộc diện giàu có mà chỉ ở mức trung bình.

Tướng dù “thất thế”

Viên tướng một sao Hồ Trung Hậu sinh năm 1931, quê ở Kiến Hòa (nay là tỉnh Bến Tre). Hậu đi lính từ tháng 11-1953, sau đó tốt nghiệp Trường Sĩ quan bộ binh Thủ Đức. Năm 1970, Hậu leo dần tới chức Tư lệnh Sư đoàn dù và tháng 5-1971 được thăng chuẩn tướng.

Viên tướng gốc dù này có vóc dáng cao lớn và nổi tiếng với các cuộc nhậu nhẹt, rượu chè. Binh lính dưới quyền từng kể lại rằng Hậu có thể nhậu từ sáng tới tận khuya. Hậu thường có thói quen chửi đổng và không ưa ai trong đội ngũ các tướng tá. Ít sâu sát cấp dưới nhưng lại là kẻ ham danh vọng, Hậu từng nhờ vả Cao Văn Viên và Ngô Quang Trưởng – những người thuộc phe cánh của Thiệu – lo lót, chạy chọt để leo lên chiếc ghế Tư lệnh Sư đoàn 21 – Quân đoàn 4. Đầu năm 1972, Hậu được giao chức Tư lệnh Sư đoàn 21, nhưng sau 7 tháng cầm quân ở địa bàn nóng bỏng thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long mà không “thể hiện” được vai trò của mình, Hậu bị đưa đi học tại Trường Cao đẳng Quốc phòng. Sau đó, viên tướng dù “thất thế” này được cử về Quân đoàn 3 giữ chức Chánh Thanh tra. Đời sống gia đình Hậu thuộc diện giàu có do cô vợ luôn biết dựa vào thế của chồng để kiếm tiền thông qua những phi vụ áp phe, buôn lậu…

Bùi Vũ Minh
qdnd.vn

Trần Bá Di và “bài thu hoạch” trong trại cải huấn

Trần Bá Di. Ảnh tư liệu

QĐND – Trong số các viên tướng của Quân đội Việt Nam Cộng hòa, Trần Bá Di không phải là một tên tuổi nổi bật bởi trước khi chế độ Sài Gòn sụp đổ, Di đang là Chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện Quang Trung. Song trong những ngày ở lớp cải huấn dành cho sĩ quan cấp tướng, viên tướng 2 sao này lại gây chú ý cho các cán bộ ở lớp cải huấn bởi một “bài thu hoạch” dài tới 15 trang viết tay. Trong bản “tổng kết chiến tranh” ấy, Di đã rút ra một số “kinh nghiệm” và không ít những bài học đắt giá trong quãng đời binh nghiệp của mình…

Hồ sơ “Khai thác sĩ quan Quân đội Sài Gòn” của Cục Địch vận (tháng 11-1973) có ghi: Trần Bá Di sinh năm 1931, quê ở tỉnh Định Tường (nay là tỉnh Tiền Giang). Tháng 8-1951, Di đi lính cho Pháp và sau đó theo học Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt. Năm 1957, Di được cử làm Tiểu khu trưởng Gò Công rồi leo lên chức Trưởng phòng 3 Quân khu Thủ Đức. Các năm 1958-1961, Di lần lượt được cử làm Phó tỉnh trưởng, rồi Tỉnh trưởng tỉnh Phong Dinh (nay là tỉnh Hậu Giang). Năm 1966, Di được cử đi học Tham mưu cao cấp ở Mỹ, hai năm sau về làm Tham mưu trưởng Quân đoàn 4; đến tháng 7-1968, là Đại tá, Tư lệnh Sư đoàn 9 bộ binh (thế chỗ của Lâm Quang Thơ được cử về làm Chỉ huy trưởng Trường Sĩ quan Đà Lạt). Tháng 4-1970, Trần Bá Di được thăng cấp chuẩn tướng, một năm sau được điều về làm Phó tư lệnh Quân đoàn 4 và nhận lon thiếu tướng.

Trần Bá Di luôn ra vẻ là một viên tướng có tác phong giao tiếp đàng hoàng, đứng đắn. Nhưng theo thông tin của binh lính dưới quyền và qua khai thác tù binh, được biết: Trong cuộc hành quân sang Cam-pu-chia năm 1970, Di đã tranh thủ vơ vét nhiều tài sản của nhân dân Cam-pu-chia về để làm giàu.

Trong nỗ lực thay tướng nhằm “đổi vận”, ít tháng trước khi chế độ Sài Gòn sụp đổ, chính quyền Sài Gòn đã đưa Trần Bá Di về Trung tâm huấn luyện Quang Trung làm Chỉ huy trưởng, để rồi sau ngày 30-4-1975, viên tướng hai sao này đã trở thành học viên trong các lớp cải huấn của chính quyền cách mạng… Giống như các học viên cấp tướng khác, trong lớp cải huấn, Trần Bá Di đã có nhiều thời gian “nghiền ngẫm” để viết ra những bản đánh giá, tổng kết chiến tranh theo yêu cầu của lớp học.

“Kinh nghiệm” từ Sư đoàn 9

Những năm nắm quyền chỉ huy Sư đoàn 9 bộ binh là thời gian mà Trần Bá Di có nhiều va chạm với thực tế, vì thế Di đã rút ra một số “kinh nghiệm” nhằm “nâng cao tinh thần chiến đấu” cho binh sĩ của mình.

Di sớm nhận rõ điểm mạnh, điểm yếu của hai loại binh sĩ dưới quyền, đó là lính quân dịch và lính tình nguyện. Số lính quân dịch được viên Tư lệnh Sư đoàn chia ra thành hai loại: Quân dịch loại A là những thanh niên tự ý trình diện để thi hành nghĩa vụ, số này thường cam chịu số phận, ít đào ngũ, nhưng lại tham chiến rất chiếu lệ, chỉ mong được sống sót chờ ngày giải ngũ; quân dịch loại B là số bị bắt trong các cuộc hành quân, các đợt kiểm soát đột xuất của cảnh sát trên các trục lộ giao thông, số này do sợ hoặc không thích đi lính nhưng do bị cưỡng ép nên thường tìm đủ mọi cách để tự hủy hoại thân thể hoặc trốn tránh. Trần Bá Di đã không lạ lẫm với việc binh sĩ dưới trướng từng tìm cách hủy hoại thân thể bằng cách tự bắn vào chân, vào lòng bàn tay; cho lựu đạn nổ giữa hai ngón chân; buộc dây cao su ở ngón chân để ngón chân bị hoại tử, phải cắt bỏ hoặc bày trò lấy mủ cây xương rồng chà vào mắt để gây hỏng một mắt…

Khi phần đông binh sĩ trong Sư đoàn chủ yếu là lính quân dịch (chiếm 60%-70% quân số tác chiến), Di đã hạn chế tình trạng đào ngũ bằng cách cho kiểm soát chặt chẽ số lính quân dịch thông qua các tổ “đồng tâm”, tức tổ ba người, gồm: Một lính tình nguyện, hai lính quân dịch. Trong các đơn vị trực thuộc, Di còn thường xuyên “hâm nóng” các sắc luật trừng phạt tội đào ngũ và chỉ cho số binh sĩ của mình những “tấm gương” là các “lao công chiến trường” đang bị kỷ luật ngay tại đơn vị để họ từ bỏ ý định đào ngũ. Ngoài ra, Di còn xây dựng một đội ngũ hạ sĩ quan nòng cốt và bắt buộc các cấp chỉ huy từ Tư lệnh sư đoàn cho tới chỉ huy trung đội đều phải quan tâm, đảm bảo từ quân trang cho tới thực phẩm hằng ngày, tìm cách để các binh sĩ có gia đình riêng được vào hết trong trại gia binh… bởi theo Trần Bá Di, cách làm hiệu quả nhằm nâng cao tinh thần binh sĩ chính là dùng quyền lợi vật chất để lôi kéo và đề cao cá nhân thông qua những đợt khen thưởng đột xuất trong chiến đấu; cùng đó là một hệ thống “kìm kẹp” lẫn nhau bằng chính các binh sĩ và bộ máy an ninh chìm.

Bản “tổng kết chiến tranh” do Trần Bá Di viết trong thời gian ở trại cải huấn. Ảnh: Vũ Minh

Nhằm mục đích “lên dây cót tinh thần” cho binh sĩ, Sư đoàn 9 của Di còn tổ chức những buổi nói chuyện do các “hồi chánh viên” lên lớp với nội dung chính là cách thức đưa người vào hoạt động nội tuyến của đối phương, những hình thức mua chuộc, lôi kéo binh sĩ hoạt động cho cách mạng và một nội dung không thể thiếu là phần mô tả về “đời sống cực khổ” của người dân miền Bắc…

Thất trận vì tướng-quân “rệu rã”

Trong “bản thu hoạch” của mình, Di đã dành khá nhiều trang để kể về các hoạt động đấu tranh, phản chiến trong binh lính dưới quyền và khái quát thành 3 hình thức chính là: Chống hành quân; binh biến khởi nghĩa; đứng về phía nhân dân nhằm chống lại âm mưu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

Khi Trần Bá Di về làm Tư lệnh Sư đoàn 9, cũng là khoảng thời gian chiến sự đang trở nên khốc liệt và các lực lượng từ quân chủ lực cho tới quân địa phương đều ghi nhận nhiều trường hợp binh sĩ tham gia vào các hoạt động phản chiến. Tại sư đoàn của Di, đã có biểu hiện một số sĩ quan cấp úy thường cố tình trình diện muộn lúc bắt đầu xuất phát hành quân hoặc giả ốm vào phút chót. Một số khác lấy lý do bỏ đơn vị không xin phép ngay trước lúc chuẩn bị hành quân rồi ở trong tình trạng vắng mặt trái phép tới 14 ngày (vì 15 ngày vắng mặt sẽ bị báo cáo đào ngũ và bị đưa ra tòa án quân sự). Sau 14 ngày, số này trở về đơn vị để rồi sau đó tiếp tục diễn lại trò “vắng mặt” trước khi có đợt hành quân mới…

Trong các năm từ 1969-1973, ở các tỉnh: Vĩnh Bình, Vĩnh Long, Chương Thiện, Sóc Trăng, Cần Thơ, Cà Mau, Định Tường, Kiến Hòa – những nơi mà Sư đoàn 9 thường đến tăng cường, chính Trần Bá Di đã phát hiện nhiều lần tại những đơn vị quân địa phương – nhất là cấp đại đội – có tình trạng binh sĩ tránh né các vùng căn cứ của cách mạng. Trên đường hành quân, chỉ cần gặp sự kháng cự nhỏ từ phía Quân giải phóng thì các đơn vị này đã tìm cách né sang hướng khác. Di viết: “Có tới 2/3 số báo cáo của các đơn vị trực thuộc sư đoàn thường hay phóng đại hoặc báo cáo hoàn toàn sai về các cuộc chạm súng để xin yểm trợ hỏa lực hoặc tăng viện. Nhiều lúc các bản báo cáo còn cho ra những số liệu “ẩu” là đã tới mục tiêu, trong khi họ vẫn còn ở cách mục tiêu chạm súng với Quân giải phóng tới 1-2 cây số…”. Theo Di, sở dĩ quân lính dám làm ẩu như vậy là vì họ biết lợi dụng những lúc sư đoàn không có máy bay lên thẳng hoặc máy bay kiểm soát vị trí của các đơn vị dưới mặt đất.

Năm 1973, khi hoạt động ở vùng Lái Hiếu (Long Mỹ, Chương Thiện) và vùng Hồng Ngự (Kiến Văn, Kiến Phong), có từ 4-6 tiểu đoàn của Sư đoàn 9 đã tìm cách tiến quân một cách chậm chạp. Lúc chạm súng, số này chỉ tham gia lẻ tẻ rồi ém quân nằm một chỗ, sau đó xin hỏa lực yểm trợ, tới sáng hôm sau khi Quân giải phóng ngưng nổ súng thì mới tiến vào trận địa trống. Khoảng tháng 3-1974, Tiểu đoàn quân địa phương thuộc Tiểu khu Phong Dinh xuất phát từ Hòa An hành quân vào vùng Xáng Bộ (Long Mỹ, Chương Thiện) có 30 lính và hạ sĩ quan đã bỏ súng, quân trang, lẩn trốn về nhà để tránh hành quân. Tình trạng này sau đó xảy ra đều khắp ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ, trầm trọng nhất là tại các tỉnh: Chương Thiện, Phong Dinh, Sóc Trăng, Cà Mau, Vĩnh Bình.

Trần Bá Di chua chát thừa nhận: “Khi Mỹ rút, quân lính Việt Nam Cộng hòa bắt đầu lo ngại, tinh thần chống đối cách mạng có khuynh hướng giảm. Trước những chiến thắng dồn dập của cách mạng ở Quân khu 2, Quân khu 3, áp lực nặng nề đã ảnh hưởng lên khắp miền Tây Nam Bộ, cả chỉ huy lẫn binh sĩ đều mất tinh thần. Số quân chủ lực tuy vẫn còn nòng cốt kìm kẹp nhưng phần lớn đã không còn muốn chiến đấu nữa. Tình trạng đào ngũ tăng vọt, cộng với việc tuyển mộ khó khăn, nên quân số ở các đơn vị chiến đấu đã trở nên hết sức bi đát”. Trong phần cuối bản “báo cáo tổng kết chiến tranh” của mình, Trần Bá Di còn nêu lên một thực trạng ở thời điểm những năm 1973-1975: “Số lính quân dịch vẫn còn bị kiểm soát nhưng trong thực tế họ không còn tinh thần chiến đấu nữa; với số lính bảo an, dân vệ, tình trạng còn bi đát hơn, họ rút khỏi các vùng chiến sự hoặc tìm cách tiếp xúc với Quân giải phóng cả bằng cách gặp trực tiếp lẫn qua máy truyền tin”.

Những lời thú nhận của viên tướng hai sao Trần Bá Di đã cho thấy phần nào nguyên nhân thất trận của một bộ máy mà trong đó các “tướng” đã từng được huấn luyện, đào tạo bài bản còn “quân” thì luôn được lên dây cót tinh thần bằng đủ mọi hình thức. Vậy mà bộ máy ấy đã sớm rệu rã và trở thành “đứa con rơi” ngay sau khi các “quan thầy” rút lui khỏi chiến trường miền Nam…

Bùi Quang Huy
qdnd.vn

Cảng Phòng Thành – tuyến hàng hải bí mật trung chuyển hàng viện trợ Việt Nam

QĐND – Ông Bao Văn Sinh không thể nào quên hai quyết sách mang tầm chiến lược của Thủ tướng Chu Ân Lai: Phê chuẩn “Công trình 322 Quảng Tây”, xây dựng cảng Phòng Thành trở thành khởi điểm của “Tuyến hàng hải bí mật chi viện Việt Nam” (22-3-1968) và Tiếp tục xây dựng mở rộng cảng Phòng Thành hiện đại cho tương lai (11-11-1972).

Nơi trung chuyển hàng viện trợ Việt Nam

Đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, đế quốc Mỹ leo thang trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Năm 1967, hai nước Trung -Việt đã ký kết Nghị định thư về sử dụng tuyến hàng hải bí mật trên biển hai nước Trung-Việt và tàu, thuyền Việt Nam sơ tán đến cảng biển Trung Quốc.

Ngày 5-6-2009, Đồng chí Huỳnh Đảm, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, khách mời của Liên hoan hữu nghị thanh niên hai nước Trung-Việt, thăm Cảng Phòng Thành.

Nhằm viện trợ tốt hơn cho cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc xem xét tình thế, quyết định xây dựng một cảng biển tại vùng duyên hải Quảng Tây. Thông qua thám trắc thực địa nhiều nơi, cuối cùng nhận định đảo Ngư Vạn cửa sông Phòng Thành khá lý tưởng.

Đây là một vịnh che giấu tốt, tránh gió tốt, mà cách đảo Cái Lân của tỉnh Quảng Ninh chỉ có 35 hải lý, rất thuận tiện cho việc vận chuyển hàng hóa sang Việt Nam.

Sau khi lựa chọn xác định địa điểm, ngày 22-3-1968, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc ra văn bản phê chuẩn xây dựng cảng biển này, đặt tên là “Công trình 322 Quảng Tây”, bao gồm hai hạng mục phụ thuộc Xưởng đóng tàu Vệ Đông và Kho chứa dầu Ngưu Đầu.

Tháng 6-1968, công trình chính thức xây dựng. Cũng chính vào lúc này, anh Bao Văn Sinh đang làm kế toán đội sản xuất Bạch Sa của công xã Phòng Thành quê hương, từ biệt vợ yêu và hai đứa con nhỏ, với 28 tuổi xuân phơi phới, theo đại đội xây dựng, hăng hái đi đến công trường xây dựng “Công trình 322 Quảng Tây”.

Ông Bao Văn Sinh nhớ lại, đảo Ngư Vạn khi ấy không có đường, không có nước ngọt, không có điện, nơi người ở là lều gỗ, tắm giặt là nước biển, điều kiện công tác, sinh hoạt vô cùng gian khổ. Những việc này chưa thấm tháp gì. Điều khiến anh khó chấp nhận nhất là nhà ở gần trong gang tấc mà mấy tháng không được về nhà một lần, thậm chí không được thư từ, không được thổ lộ đơn vị công tác của mình với người ngoài.

Mặc dầu đại quân xây dựng gần một vạn người đến từ các địa phương trong cả nước, cùng hô vang khẩu hiệu “Nhiều, nhanh, tốt, rẻ”, lòng hướng về một chỗ, sức dồn vào một việc, không oán than, không nuối tiếc. Máy móc thiết bị không đủ, họ sử dụng công cụ thô sơ, lực lượng kỹ thuật mỏng yếu, họ tập trung bồi dưỡng huấn luyện tại chỗ; kinh nghiệm xây dựng cảng thiếu thốn, họ vừa làm vừa học. Không ít người vốn là công nhân xây dựng cầu đường, tại đây lại trở thành thợ cả chế tạo tàu xi măng; có người vốn là công nhân khoan thăm dò địa chất, ở đây cũng lại trở thành kỹ thuật viên khoan giếng nước ngọt; có người vốn là nông dân, tại đây lại trở thành công nhân làm đường…

Trải qua hơn một năm phấn đấu đổ mồ hôi và xương máu, đầu năm 1970, các nhiệm vụ của công trình xây dựng bước đầu cảng Phòng Thành đã hoàn thành mỹ mãn: Xây dựng thành công một cảng nổi cơ động cấp 2000 tấn, 4 cảng nhỏ cấp 500 tấn, một loạt hạng mục phối hợp như đường quốc lộ đi vào cảng, v.v…

Ngày 20-5 cùng năm, Cục Cảng vụ Phòng Thành thành lập.

Ngày 1-8-1972, cảng Phòng Thành đưa vào sử dụng, gánh vác nhiệm vụ trọng đại vận chuyển vật tư, vũ khí, trang bị kỹ thuật của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa chi viện cho cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam.

Từ ấy, cảng Phòng Thành đóng vai trò là khởi điểm của tuyến hàng hải bí mật trung chuyển hàng viện trợ cho Việt Nam.

Vừa thiết kế vừa thi công, vừa vận chuyển hàng hóa

Theo đà khói lửa chiến tranh Mỹ-Việt loãng dần, công năng phục vụ chiến tranh của cảng Phòng Thành cũng ngày càng giảm đi.

Toàn cảnh thành phố cảng Phòng Thành (Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây) hiện nay.

Có người lúc ấy cho rằng: Cảng Phòng Thành chỉ có thể duy trì hiện trạng, bảo lưu là một cảng nhỏ của địa phương.

Nhưng, Thủ tướng Chu Ân Lai đã nhìn xa trông rộng. Ngày 11-11-1972, trên văn kiện “Tóm tắt báo cáo tình hình vận tải viện trợ Việt Nam”, ông đã hạ bút phê chuẩn và chỉ thị: “Bất luận Việt Nam đình chiến hay không, cảng Phòng Thành phải lập tức bí mật mở rộng xây dựng, hoàn thành đúng kỳ hạn”. Thủ tướng đã chỉ rõ phương hướng chiến lược xây dựng cảng Phòng Thành cho tương lai.

Tháng 10-1973, công trình xây dựng mở rộng giai đoạn 1 cảng Phòng Thành chính thức khởi công.

Đương nhiên, ông Bao Văn Sinh không sao quên được, khi ấy thi công dưới nước là vô cùng gian nan. Toàn bộ đội thi công vừa không có máy móc, thiết bị lớn đáp ứng nhu cầu xây dựng bến đỗ nước sâu cấp vạn tấn, cũng thiếu thốn nghiêm trọng lực lượng kỹ thuật xây dựng cảng và kinh nghiệm thi công trên biển.

Những thứ họ có chỉ là máy trộn, máy cuốn, máy bơm nước giản đơn, và mỗi người có đôi bàn tay chưa thạo nghề.

Cuối cùng, vẫn là những kỹ sư của Viện Thiết kế thám sát giao thông Quảng Tây tham chiếu nguyên lý thi công xây dựng cầu đường, tự thiết kế ra phương án kết cấu giếng chìm trọng lực hai tay đòn, mới làm cho công việc xây dựng bến đỗ của cảng được đẩy cao tiến độ một cách hữu hiệu.

Mà nói đến phương pháp nội địa xây dựng hải cảng như vậy, đến nay ông Bao Văn Sinh vẫn không khỏi thấp thỏm trong lòng. Ông nói: Sau khi đặt giếng chìm hình lục giác, toàn bộ dựa vào thủ công cạo gỉ bên trong giếng, có lúc van không chặt, hoặc chân giếng mất thăng bằng, thì sẽ phát sinh hiện tượng nước phun lên, người ở bên trong chẳng khác nào những con kiến rơi vào trong máy giặt đang quay, nếu không kịp níu chặt dây thừng leo lên, thì sẽ nguy hiểm đến tính mạng.

Đưa đá xuống giếng ngầm cũng làm theo cách thủ công, không gánh thì vác, toàn dựa vào “chiến thuật biển người”, từng gánh một, từng khối một, từ trên bờ chuyển vào trong giếng chìm, cứ đi đi lại lại, có lúc làm như một người máy.

Chính là nhờ vào tinh thần cách mạng “khắc phục mọi khó khăn” ấy, những người xây dựng đã sáng tạo một kỳ tích trên biển Trung Quốc.

Ngày 22-3-1975, đã xây dựng thành công bến đỗ nước sâu cấp vạn tấn đầu tiên của tỉnh Quảng Tây, chẳng những kết thúc lịch sử không có bến đỗ nước sâu cấp vạn tấn trên tuyến dọc bờ biển Quảng Tây dài 1.478km, mà còn viết nên một chương mới trong lịch sử xây dựng hải cảng của Trung Quốc.

Vừa xây dựng vừa vận chuyển, từ năm 1968 đến năm 1975, từ cảng Phòng Thành, vật tư viện trợ của các nước Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN bí mật xuyên qua khu vực đế quốc Mỹ phong tỏa thủy lôi, vận chuyển đến cảng Hải Phòng và cảng Cẩm Phả, đã có đóng góp to lớn vào thắng lợi của cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam. Chỉ trong từ năm 1970 đến năm 1972, tuyến này đã trung chuyển hơn 300 chiếc xe tăng, xe bọc thép, 8 vạn bộ áo chống đạn, rất nhiều thiết bị để lắp đặt 3000km đường ống dẫn dầu trên tuyến đường Hồ Chí Minh huyền thoại.

Sau khi ký kết Hiệp định Pa-ri về hòa bình ở Việt Nam, đồng chí Tôn Đức Thắng, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ủy nhiệm Bộ trưởng Bộ Giao thông Việt Nam trao tặng Huân chương Kháng chiến hạng nhất cho cảng Phòng Thành.

Đến tháng 7-1983, Quốc vụ viện nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa phê chuẩn cảng Phòng Thành mở cửa cho tàu thuyền nước ngoài, dần dần vén lên bức màn thần bí của “tuyến hàng hải bí mật”.

Ngày 1-10 cùng năm, cảng Phòng Thành chính thức mở cửa đối ngoại.

Tháng 4-1984, Quốc vụ viện phê chuẩn cảng Phòng Thành là một trong 14 thành phố mở cửa đối ngoại của toàn quốc.

Đến khi ấy, ông Bao Văn Sinh vẫn là một thuyền trưởng có thâm niên.

Ông Bao Văn Sinh không thể nào quên hai quyết sách mang tầm chiến lược của Thủ tướng Chu Ân Lai: Phê chuẩn “Công trình 322 Quảng Tây”, xây dựng cảng Phòng Thành trở thành khởi điểm của “tuyến hàng hải bí mật chi viện Việt Nam” (22-3-1968) và Tiếp tục xây dựng mở rộng cảng Phòng Thành hiện đại cho tương lai (11-11-1972).

Nhờ hai quyết sách chiến lược ấy, Trung Quốc mới có thành phố cảng đối ngoại hiện đại hóa Phòng Thành như ngày nay: Có bến đỗ cấp 20 vạn tấn, có sức mạnh cạnh tranh trên trường quốc tế, với nhiều cái “nhất”: Cảng công-ten-nơ thứ nhất Quảng Tây, cảng cấp 20 vạn tấn thứ nhất Quảng Tây, cảng nhập khẩu lưu huỳnh lớn nhất toàn quốc, cảng vận chuyển lưu huỳnh chuyên nghiệp hóa duy nhất toàn quốc, v.v…

Vũ Phong Tạo (trích dịch theo http://www.xinhuanet.com, 22-2-2011)
qdnd.vn

Vì sao Hải quân ngụy Sài Gòn không chặn nổi “những chiến binh bí mật”?

QĐND – Hải quân Sài Gòn được phương Tây xem là một lực lượng phát triển nhanh nhất, rất hiện đại vào đầu những năm 70 của thế kỷ 20, nhưng lực lượng này đã không ngăn chặn được những “chiến binh bí mật” của Đoàn 125 Hải quân nhân dân Việt Nam, làm nhiệm vụ tiếp tế đường biển cho cách mạng miền Nam.

Di sản thực dân cũ

Trần Văn Chơn thời là Trung úy Hải quân của Pháp đầu những năm 50 của thế kỷ trước. Ảnh: Lưu trữ Hoa Kỳ

Cuối những năm 40 của thế kỷ 20, hải quân (ngụy) thuộc Pháp và chỉ có vỏn vẹn dăm tàu thuyền nhỏ.

Cuối năm 1954, người Pháp cho “Quân đội quốc gia” của Bảo Đại thừa hưởng một phần gia tài ở Đông Dương của họ. Đáng kể có 70 tàu chở quân và chiến xa (LCM), 3 tàu quét mìn, hai tàu tuần duyên (garde côtière GC), 200 ca-nô tuần tiễu nhỏ (vedette) các loại, và 3 tàu tuần tiễu (PC), 15 sà lan, trong đó chỉ có một sà lan máy, 3 tàu dắt (remorqueur)… Tất cả đều đã được khai thác nhiều năm.

Trong số sĩ quan hải quân (ngụy) của Pháp, chỉ có một đại úy, còn lại là trung úy, thiếu úy, trong đó có một số vừa tốt nghiệp Trường Hải quân Bơ-rét (Brest) (École Navale de Brest). Trần Văn Chơn, năm 1953 còn giữ chức Phó chỉ huy Biệt đoàn Hải giang xung kích số 23, tới 1956 đã được đôn lên Tư lệnh phó Hải quân cho chế độ Ngô Đình Diệm.

Tới tháng 7-1955, Hải quân Việt Nam cộng hòa (VNCH) chia làm Hải lực và Giang lực, có 3.858 quân, kể cả 1.291 lính thủy quân lục chiến (quân Sài Gòn lúc đó khoảng 150.000). Có 22 tàu chiến loại lớn. Hải quân VNCH bắt đầu nhận được sự chi viện ồ ạt của Mỹ về vật chất và các cố vấn, thông qua Cơ quan Viện trợ và Cố vấn quân sự Mỹ (MAAG).

Các căn cứ hải đoàn của Sài Gòn thời Diệm đặt ở Cần Thơ, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Long Xuyên, Cát Lái. Các căn cứ của lực lượng tuần tiễu ven bờ (duyên khu), đặt ở Phú Quốc, Nha Trang (gồm cả Trung tâm huấn luyện Hải quân), Vũng Tàu, Đà Nẵng.

Khởi chiến chống “Đoàn tàu không số”

Theo Nach Jim (Nát-sơ Gim) trong Lịch sử hình thành cơ cấu chỉ huy và lực lượng vũ trang của VNCH(1), từ cuối những năm 50 (thế kỷ 20), Bắc Việt Nam bắt đầu đưa người và vũ khí vào lãnh thổ VNCH bằng đường biển. Để ngăn chặn, chính quyền Sài Gòn đã thành lập Lực lượng Hải thuyền (Coastal Junk Force), lấy quân từ lực lượng bán chính quy để tuần biển, sau đổi tên thành các Duyên đoàn (Costal Groups). Lực lượng này được điều binh bố trận bởi các Vùng chiến thuật, hơn là thuộc quyền chỉ huy trực tiếp của Hải quân VNCH.

Năm 1964, khi “Chiến tranh đặc biệt” thất bại, quân số là 8.100 lính; năm 1967, hải quân Sài Gòn đã lên tới 16.300 quân, 639 tàu chiến. Phương Tây đánh giá: “Với sự hiệp trợ của Mỹ, hải quân Sài Gòn đã nhanh chóng trở thành một trong những hải quân lớn nhất thế giới, với 4,2 vạn quân, gần 1.500 chiến thuyền (672 tàu xuồng đổ bộ, 20 tàu rải thủy lôi, 450 tàu tuần tiễu, 56 tàu hậu cần trợ chiến, và 242 ca-nô chiến đấu(2)).

Về các chiến dịch chống Đường Hồ Chí Minh trên biển như Market Times (Phiên chợ) hải quân Sài Gòn hợp lực với hệ thống kiểm soát của hải quân và không lực Mỹ đồ sộ, dày đặc, hiện đại. Tuy vậy, một câu hỏi lớn đặt ra: “Chiến hạm của Hoa Kỳ nhập cuộc rất đông, xem như vây kín duyên hải VNCH. Thế nhưng Cộng sản Bắc Việt có chịu chùn bước xâm nhập không?”.

Theo các cố vấn Mỹ, ngay sau Hiệp định Pa-ri, hải quân Sài Gòn được đánh giá đứng hàng thứ tư thế giới về trang bị. Nhưng Sài Gòn vẫn “xin” thêm tàu to hơn, hiện đại hơn. Theo tờ Vietnam Courrier (Tin tức Việt Nam), phỏng vấn các cựu “đô đốc, đề đốc Sài Gòn”, họ làm thế chủ yếu để làm giàu.

Nguyễn Văn Thiệu xây dựng Hải quân VNCH như… thương vụ tỷ đô, ém sẵn các tay chân của mình. Đề đốc Chung Tấn Cang (Tư lệnh những năm 1963-1965), đã trục lợi trong vụ cứu trợ nạn nhân lụt năm 1965; Lâm Ngươn Tánh, bạn đồng khóa với Thiệu tại Trường Hàng hải cuối những năm 40 của thế kỷ 20, đã khét tiếng buôn lậu từ hồi còn chỉ huy cụm căn cứ Rạch Sỏi – Tân Châu – Long Xuyên. Trần Văn Chơn, hai lần tư lệnh, không hẳn do hai lần làm Giám đốc Binh xưởng Hải quân và từng là Tư lệnh Hải quân thời Diệm, mà có lẽ do luôn “bao (và) che” Thiệu, khi “tổng thống” này xuống Ô Cấp (Vũng Tàu) du hí.

Gần đây, các cựu chỉ huy hải quân Sài Gòn vẫn còn ca ngợi Bộ tư lệnh Hải quân Mỹ thời “Việt Nam hóa”, đã cấp tốc chuyển giao hơn 500 chiến hạm, tàu chiến các loại cho hải quân VNCH, theo đúng lịch trình của kế hoạch ACTOV (Accelerated Turnover to the Vietnamese)(3).

Tư lệnh Hải quân VNCH Trần Văn Chơn (trái) và Đô đốc Mua-rơ (T. Moore) Tư lệnh các chiến dịch Hải quân Mỹ, thanh tra một đơn vị hải quân Sài Gòn vừa nhận bàn giao tuần tiễu từ một đơn vị Hải quân Mỹ, tháng 9-1969. Lưu trữ quân đội Mỹ

Đó là vì tài sản của họ từng tăng vọt nhờ “Việt Nam hóa”? Các chuyến đi Gu-am, Phi-líp-pin, Ô-ki-na-oa, Hồng Công, ngay cả Oa-sinh-tơn hay Niu Y-oóc để nhận tàu, để huấn luyện trên các tàu chiến hay tại các công xưởng hải quân Mỹ, thường kéo dài hàng tuần, hàng tháng, có khi nửa năm. Đây là dịp tốt cho các sĩ quan cao cấp đầu cơ ngoại tệ, vàng và bạch phiến. Họ thường trở về trong túi đầy ắp đô-la sau những chuyến đi này. Như Trần Văn Chơn thừa nhận với Vietnam Courrier, những chiến hạm do Mỹ chuyển giao gồm cả những chiếc cũ, cần sửa chữa thường xuyên, những dịp này cũng trở thành “thương vụ” béo bở cho sĩ quan hải quân.

Theo Vietnam Courrier, các vụ buôn lậu bạch phiến qua công cán chính thức của Hải quân VNCH khiến công luận Mỹ xôn xao. Bạch phiến phát xuất từ vùng Tam Giác Vàng (Miến Điện – Thái Lan – Lào) được buôn lậu Thái Lan đưa lên các chiến hạm của hải quân VNCH, hoặc từ Hạ Lào qua các tàu chiến trên sông Cửu Long trong lãnh thổ Cam-pu-chia. Đường dây này do Thiệu và tướng Đặng Văn Quang tổ chức, bảo kê, đem lại lời lãi lớn hơn đường buôn lậu hàng không của Nguyễn Cao Kỳ.

Mỗi Bộ tư lệnh Vùng Hải quân (Coastal Zone), mỗi bến cảng quân sự là một cấm địa dành riêng cho một tướng tá. Viện lẽ “an ninh quốc gia”, hay “bảo mật quân sự” cấm dân chúng bén mảng tới các khu tàu đậu. Trên thực tế, đó là những địa điểm bốc dỡ hàng nhập cảng lậu. Hàng hóa càng thuộc loại quốc cấm, càng đầy rẫy tại những khu vực này.

Năm 1976, tại trại cải tạo dành cho các tướng Sài Gòn, có một nhân vật tròn trĩnh, hồng hào, tuổi trạc 55, trông vẻ trẻ trung. Đó là Trần Văn Chơn, cựu Tư lệnh Hải quân Sài Gòn. Ông ta cố sống tách biệt, ăn uống một mình, làm bộ kiêng khem, “tu tại gia”. Ông ta tự giới thiệu mình rất ham đọc sách Kinh Phật “để tìm thấy niết bàn trong tâm hồn”. Tuy nhiên, những cựu sĩ quan các binh chủng khác của Sài Gòn kháo nhau: “Mẹ kiếp, cả một đời sống trong chùa cũng không tẩy rửa được những hành động xấu xa trong hải quân (Sài Gòn)”, Vietnam Courrier viết tiếp.

Đặng Lê
qdnd.vn

(1)http://www.buttondepress.com/secretstuff/ttu2006/Units.pdf, tr. 31.

(2)http://en.wikipedia.org/wiki/Republic_of_Vietnam_Navy

(3)http://haisu.tripod.com/toanthe.htm

Sự chỉ đạo sáng tạo, linh hoạt của Đảng với Đường Hồ Chí Minh trên biển

QĐND – Ngay từ khi mới bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng đã sớm khẳng định công tác chi viện sức người, sức của từ hậu phương lớn miền Bắc vào tiền tuyến lớn miền Nam giữ vai trò hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định.

Năm 1959, sau khi có Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Cách mạng miền Nam có bước phát triển mạnh mẽ. Yêu cầu về người và vũ khí ngày càng lớn.

Nhằm đáp ứng yêu cầu trên, theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, đầu tháng 5-1959, Tổng Quân ủy (nay là Quân ủy Trung ương) và Bộ Tổng tư lệnh thành lập Đoàn 559, có nhiệm vụ mở đường giao liên và vận tải trên bộ, đưa người, vũ khí cùng những mặt hàng thiết yếu từ hậu phương lớn miền Bắc vào chiến trường.

Bác Hồ thăm Bộ đội Hải quân tại đảo Vạn Hoa (Quảng Ninh), năm 1962. Ảnh tư liệu.

Đồng thời với việc tổ chức tuyến đường trên, tháng 7-1959, Bộ Chính trị giao cho Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh nghiên cứu mở tuyến vận chuyển chi viện chiến lược trên biển. Theo nhận định của Bộ Chính trị, trong 3 đến 4 năm tới, dù cố gắng đến mức cao nhất, Đoàn 559 cũng chưa thể mở được đường vận tải dọc theo dãy Trường Sơn vào các chiến trường xa là Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Đường biển sẽ là hướng rất quan trọng vì có thể vận chuyển từng chuyến tương đối lớn, nhanh hơn, kịp thời hơn vào các chiến trường trên. Vì vậy, một mặt Bộ Chính trị giao cho Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo các cơ quan khẩn trương khảo sát hàng hải, nắm địch, tổ chức bến bãi, mặt khác chỉ thị cho các tỉnh ven biển Nam Bộ đưa thuyền ra miền Bắc nhận vũ khí.

Sau một thời gian nghiên cứu chuẩn bị, ngày 23-10-1961, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 97/QP thành lập Đoàn 759 vận tải quân sự đường biển. Được sự quan tâm chỉ đạo của cấp trên, sự ủng hộ, giúp đỡ hết lòng của cấp ủy, chính quyền và nhân dân một số địa phương, Đoàn 759 nhanh chóng xây dựng lực lượng, chuẩn bị phương tiện, tổ chức trinh sát nhằm nắm chắc quy luật tuần tra, ngăn chặn trên biển của địch; hiệp đồng với các tỉnh ven biển Nam Bộ và Nam Trung Bộ xây dựng các bến bãi tiếp nhận và tổ chức lực lượng vận chuyển vũ khí. Theo yêu cầu của đoàn, Bộ Quốc phòng làm việc với Bộ Giao thông vận tải giao nhiệm vụ cho Xưởng đóng tàu 1 Hải Phòng bí mật nghiên cứu đóng loại tàu vỏ gỗ gắn máy đúng theo kiểu dạng ngư dân Nam Bộ vẫn sử dụng để phục vụ cho công tác vận chuyển.

Tổng bí thư Lê Duẩn thăm Đoàn 125. Ảnh tư liệu.

20 giờ ngày 11-10-1962, chiếc tàu vỏ gỗ đầu tiên chở hơn 30 tấn vũ khí mang mật danh Phương Đông I do đồng chí Lê Văn Một làm Thuyền trưởng, đồng chí Bông Văn Dĩa làm Chính trị viên, cùng 13 cán bộ, đảng viên rời bến Vạn Sét (Đồ Sơn) lên đường vào Nam Bộ. Do tính chất quan trọng của chuyến đi, cán bộ, chiến sĩ tàu Phương Đông I được các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Phạm Hùng (Phó thủ tướng Chính phủ); Nguyễn Chí Thanh (Trưởng ban Nông nghiệp Trung ương) và các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Ung Văn Khiêm (Bộ trưởng Bộ Ngoại giao); Phan Trọng Tuệ (Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải); Nguyễn Văn Vịnh (Trưởng ban Thống nhất Trung ương); Trần Văn Trà (Phó tổng Tham mưu trưởng) xuống tận nơi động viên, đưa tiễn. Sáng 19-10, tàu Phương Đông I vào cửa Bồ Đề và cập bến Vàm Lũng (xóm Rạch Gốc, xã Tân An, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau) an toàn.

Tuyến chi viện chiến lược – Đường Hồ Chí Minh trên biển chính thức được khai thông. Khu ủy Khu 9 lập tức điện báo cho Trung ương. Nhận được tin vui, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi ngay điện khen ngợi những người trực tiếp góp công sức lập nên chiến công đầu tiên. Người chỉ thị: “Hãy nhanh chóng rút kinh nghiệm, tiếp tục vận chuyển nhanh hơn nữa, nhiều hơn nữa vũ khí cho đồng bào miền Nam giết giặc, cho Nam Bắc sớm sum họp một nhà”(1). Tin vui đến với Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi ông đang chủ trì cuộc họp Quân ủy Trung ương. Quá mừng vui và xúc động, ông đề nghị hội nghị tạm giải lao, liên hoan nhẹ để mừng thành công của chuyến đi lịch sử này(2).

Xuất phát từ tình hình thực tế không thể cứ dùng tàu vỏ gỗ, Bộ Chính trị giao cho Bộ Giao thông vận tải phối hợp với Bộ Quốc phòng nghiên cứu đóng tàu vỏ sắt có khả năng chịu đựng sóng gió tốt hơn, tốc độ cao hơn, trọng tải lớn hơn. Xưởng đóng tàu 3 Hải Phòng vinh dự được giao nhiệm vụ đóng loại tàu mới này. Ngày 8-12-1963, chiếc tàu vỏ sắt có trọng tải 100 tấn đầu tiên đã được đóng xong và được giao cho Đoàn 759. Trong năm 1964, các tàu 2, 3, 4, 5, 6 lần lượt được hạ thủy và được sử dụng ngay. Sau này, Bộ tư lệnh Hải quân còn đặt các xưởng đóng tàu ở Hải Phòng và nước bạn Trung Quốc đóng hàng chục tàu vỏ sắt trọng tải từ 50 tấn đến 100 tấn để phục vụ cho hoạt động của Đoàn 759.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói chuyện với Tiểu đoàn 1, Đoàn 125, năm 1969. Ảnh tư liệu.

Đồng thời với việc vận chuyển vào Nam Bộ, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ cho Bộ tư lệnh Hải quân nghiên cứu mở đường vận chuyển vũ khí bằng đường biển vào Nam Trung Bộ – một chiến trường có vị trí chiến lược hết sức quan trọng. Vận chuyển bằng đường biển vào Nam Trung Bộ tuy cung đường ngắn hơn nhưng lại hết sức khó khăn, nguy hiểm. Khó khăn lớn nhất là tìm địa điểm tổ chức bến bãi. Địa hình vùng ven biển Nam Trung Bộ trống trải, độ dốc lớn, không có nhiều kênh rạch và rừng ngập mặn như ở Nam Bộ. Các cửa sông mà tàu ta có thể vào để giao hàng thì đã dày đặc đồn bốt và căn cứ hải quân của địch. Đây lại là vùng nằm dọc theo Quốc lộ 1 nên địch tổ chức tuần phòng rất gắt gao. Cũng giống như ở Nam Bộ, việc tổ chức xây dựng các bến bãi ở Nam Trung Bộ đã nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ hết lòng của cấp ủy Đảng và nhân dân các địa phương. Tính đến năm 1965, hàng chục bến bãi tiếp nhận vũ khí đã được bí mật xây dựng ở một số tỉnh ven biển Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Chính hệ thống bến bãi tiếp nhận kể trên cùng với các bến xuất phát ở Hải Phòng, Quảng Ninh… đã góp phần rất quan trọng cùng các con tàu không số làm nên những chiến công huyền thoại.

Sau khi Tàu 143 bị địch phát hiện ở Vũng Rô, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bí thư Quân ủy Trung ương chỉ thị: Phải dừng ngay việc vận chuyển bằng đường biển vào miền Nam. Cần tổ chức rút kinh nghiệm sâu sắc về việc này từ cơ quan cấp trên đến đơn vị cơ sở để tiếp tục làm tốt hơn. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Quân ủy Trung ương chỉ đạo Bộ tư lệnh Hải quân và Đoàn 125 khẩn trương tiếp tế đạn dược cho các chiến trường. Khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh đánh phá miền Bắc, ngày 3-5-1972, Quân ủy Trung ương ra Nghị quyết về nhiệm vụ chống phong tỏa thủy lôi bảo đảm giao thông vận tải biển. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, ngày 24-3-1975, Quân ủy Trung ương báo cáo với Bộ Chính trị: Vừa chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng vừa tiến hành giải phóng các đảo và quần đảo do quân ngụy đang chiếm giữ…

Như vậy, từ đầu cho đến kết thúc chiến tranh, trong từng thời điểm, giai đoạn cụ thể, Đảng ta luôn chỉ đạo sát sao, cụ thể và có những quyết sách chính xác với Đường Hồ Chí Minh trên biển. Cùng với Đường Hồ Chí Minh trên bộ, Đường Hồ Chí Minh trên biển là một sáng tạo chiến lược của Đảng và là kỳ công chiến lược của dân tộc ta trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

————

(1)Lịch sử vận tải Quân đội nhân dân Việt Nam (1945-1975), Nxb QĐND, H, 1992, tr.162.

(2)Dẫn theo: Thuyền trưởng tàu không số đầu tiên, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2006, tr.151.

Đại tá, TS Vũ Tang Bồng
qdnd.vn

Chân tướng đối phương trên chiến trường Khu 5

QĐND – Với phương châm “biết địch biết ta”, đội ngũ cán bộ địch vận các đơn vị thuộc chiến trường Liên khu 5 đã phác họa những nét chân dung cơ bản về đối tượng sĩ quan Quân đội Sài Gòn nhằm phục vụ cho cuộc chiến “tâm công” vào hàng ngũ đối phương. Tư liệu dưới đây đề cập tới các viên tướng thuộc Bộ tư lệnh Quân đoàn 1, việc khai thác được tiến hành vào thời điểm tháng 12-1973.

Ngô Quang Trưởng khi đang là Trung tướng, Tư lệnh Quân đoàn 1 của Quân đội Sài Gòn. Ảnh tư liệu

Viên Tư lệnh Quân đoàn 1 Ngô Quang Trưởng xuất thân trong một gia đình điền chủ giàu có ở tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre), tháng 11-1953 Trưởng tình nguyện đi lính cho Pháp, sau đó được cho đi học sĩ quan. Là sĩ quan gốc lính dù do Pháp đào tạo, năm 1954 Trưởng đã được chuyển ra Bắc bổ sung cho Tiểu đoàn 5 nhảy dù – một đơn vị lính ngụy sừng sỏ thời đó. Thật không may, lúc đó quân Pháp ở Điện Biên Phủ đang có nguy cơ bị tiêu diệt và khi Trưởng ra tới ngoài Bắc thì hai phần ba Tiểu đoàn dù 5 đã được ném xuống lòng chảo Điện Biên. Khi Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc, người Pháp thua trận, Trưởng may mắn sống sót và được cử làm Đại đội trưởng Đại đội 1 của Tiểu đoàn dù còn sót lại. Khi Tiểu đoàn dù 5 được lệnh chuyển vào Nam, Ngô Quang Trưởng lại được coi như một viên sĩ quan trẻ “dày dạn trận mạc”, từng “chết hụt” ở lòng chảo Điện Biên… Cứ thế, đường binh nghiệp của viên sĩ quan dù này tiếp tục trở nên hanh thông. Năm 1964, Trưởng là Thiếu tá, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn dù 5, đầu năm 1966 được thăng cấp Đại tá và làm Lữ trưởng Lữ dù.

Sau khi tham gia vụ đàn áp Phật giáo, tháng 6-1966, Trưởng được điều sang làm Tư lệnh Sư đoàn 1 bộ binh. Tháng 2-1967, Trưởng được thăng cấp Chuẩn tướng. Sau sự kiện Mậu Thân 1968, Sư đoàn 1 do Trưởng làm Tư lệnh được Mỹ trang bị vũ khí tối tân, được huấn luyện chiến thuật mới nhằm phô trương thanh thế. Nhờ vậy, hình ảnh “cần mẫn” của Trưởng luôn cặp kè cùng các chuyên viên huấn luyện Mỹ và gây tiếng vang lớn trên báo chí cũng như dư luận Sài Gòn. Viên Tư lệnh sư đoàn đã được đặc cách thăng cấp Thiếu tướng, trở thành một viên Tư lệnh “tài ba” nắm giữ Sư đoàn “Anh cả đỏ” của Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Năm 1971, Trưởng được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn 4 thuộc Vùng 4 Chiến thuật. Tháng 4 năm sau, Trưởng được điều ra làm Tư lệnh Quân đoàn 1 và sau đó được thăng cấp Trung tướng.

Theo tù hàng binh cung cấp và qua dư luận báo chí Sài Gòn, ở thời điểm cuối năm 1973, Ngô Quang Trưởng được coi là một viên tướng “xông xáo”, hăng tác chiến, được sĩ quan dưới quyền và binh sĩ kính nể, được Tổng thống Thiệu tin dùng. Cũng có thông tin sở dĩ viên tướng 3 sao này được nhanh cất nhắc và thường được giao những nhiệm vụ quan trọng còn do Trưởng luôn coi phu nhân Tổng thống là “người nhà”.

“Thành đạt” hơn anh trai

Tư lệnh phó Quân đoàn 1 Lâm Quang Thi sinh năm 1932, quê ở Bạc Liêu, đi lính tháng 10-1950 và tốt nghiệp Khóa 3 Trường Võ bị Đà Lạt. Là lính gốc binh chủng pháo binh.

Sau khi tốt nghiệp, Thi được cho đi học pháo binh ở Pháp, sau đó về chỉ huy pháo binh cho quan thầy trong các năm từ 1946-1954. Năm 1963, với quân hàm Trung tá, Thi được điều về Bộ tư lệnh Pháo binh, sau đó làm Phụ tá hành quân ở Tiền Giang. Hai năm sau, khi ở tuổi 33, Thi được phong Đại tá, Tư lệnh Sư đoàn 9 bộ binh; năm 1967 được phong Chuẩn tướng.

Cũng thuộc phe cánh, “người nhà” của Nguyễn Văn Thiệu nên trong năm 1969 Thi được phong Thiếu tướng và về làm Chỉ huy trưởng Trường Võ bị Đà Lạt từ 1969-1972. Sau đó, người về thay Lâm Quang Thi ở vị trí Chỉ huy trưởng Trường Võ bị Đà Lạt (từ tháng 3-1972 cho tới ngày thất thủ Sài Gòn) lại chính là anh trai Thi – Thiếu tướng Lâm Quang Thơ – trước đó Thơ đang là Tư lệnh Sư đoàn 18 bộ binh.

Thi được thăng cấp Trung tướng năm 1972 và được bổ nhiệm làm Tư lệnh phó Quân đoàn 1 kiêm Tư lệnh tiền phương Quân đoàn 1. Theo khai báo của tù binh, Thi là người tính tình nóng nảy, mặc dù là lính gốc binh chủng pháo binh nhưng lại khá dày dạn, có nhiều kinh nghiệm chiến trường và trình độ tham mưu được quan thầy đánh giá đạt mức khá.

Tướng “xây dựng nông thôn”

Tư lệnh phó Quân đoàn 1 Huỳnh Văn Lạc sinh năm 1927, quê ở Nam Định. Lạc xuất thân từ một thiếu sinh quân rồi đi lính cho Pháp từ năm 1947, sau đó được cử đi học sĩ quan tại Trường Sĩ quan Huế.

Năm 1957, Lạc đã là Trung tá, Tư lệnh Lữ đoàn liên minh phòng vệ Tổng thống, hai năm sau được giao chức Tỉnh trưởng tỉnh Kiến Giang. Năm 1961 Lạc được phong Đại tá và được cử làm Đặc ủy viên phụ trách kế hoạch bình định ở Vùng 3 chiến thuật; năm 1966 là Tổng ủy viên xây dựng nông thôn, sau đó là Thứ trưởng xây dựng nông thôn. Hai năm sau, Huỳnh Văn Lạc được phong Chuẩn tướng và vẫn làm Thứ trưởng xây dựng nông thôn. Tới năm 1970, khi ở tuổi 43, Lạc nhận lon Thiếu tướng và được giao làm Chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện Quang Trung – một Trung tâm làm nhiệm vụ “san sẻ” gánh nặng đào tạo sĩ quan cho các Trường bộ binh, nơi các khóa sinh phải trải qua khóa học 9 tuần trước khi được đào tạo tại các trường sĩ quan.

Năm 1973, Huỳnh Văn Lạc leo lên chức Tư lệnh phó Quân đoàn 1. Viên tướng này có khuôn mặt gầy gò, khắc khổ và luôn tỏ ra là một người kín đáo.

Vũ Minh
qdnd.vn

Từ Hội thề Rừng Rong năm ấy

QĐND-Tại xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh có một địa danh đã được xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia, đó là Căn cứ cách mạng Rừng Rong. Tại đây, vào đêm 30 Tết Ất Dậu, nhằm ngày 1-2-1946, nhóm thanh niên yêu nước An Tịnh gồm 27 người, đã tổ chức cắt máu ăn thề, thành lập tổ chức cách mạng Hội thề Rừng Rong, tham gia kháng chiến chống Pháp. Một trong những thanh niên tham gia sáng lập Hội thề là Nguyễn Thới Bưng (Út Thới).

Khẩu súng Klip và trận chiến “Châu chấu đá xe”

Thật may mắn cho chúng tôi khi đang liên lạc để xin gặp Trung tướng Nguyễn Thới Bưng thì cũng là lúc nhà báo lão thành Đinh Phong và ê kíp làm phim đang thực hiện bộ phim tài liệu về vị tướng già miền Đông Nam Bộ. Ở tuổi 87, sức khỏe của Trung tướng Nguyễn Thới Bưng không cho phép ông làm việc nhiều. Mà cuộc đời binh nghiệp của ông thì mỗi giai đoạn gắn với những sự kiện lịch sử của quân đội và đất nước đều ăm ắp những tư liệu sống. Nhà báo Đinh Phong là người gần gũi, thân thiết với Trung tướng Nguyễn Thới Bưng từ nhiều năm nay. Tôi gặp nhà báo Đinh Phong để xin ông tư vấn, viết về Trung tướng Nguyễn Thới Bưng thì nên chọn giai đoạn nào để có một “lát cắt” điển hình? Nhà báo Đinh Phong nói: “Đó là giai đoạn khởi đầu sự nghiệp. Những giai đoạn lịch sử sau này có thể còn nhiều nhân chứng, nhiều tư liệu, nhưng thời kỳ Cách mạng Tháng Tám và Nam Bộ kháng chiến thì những chứng nhân lịch sử như Trung tướng Nguyễn Thới Bưng hiện còn rất ít. Những người làm báo, viết văn như chúng ta cần phải biết chạy đua với thời gian”.

Nhà báo Đinh Phong đã rất tận tình dẫn tôi đến gặp Trung tướng Nguyễn Thới Bưng và hỗ trợ, cung cấp cho tôi nhiều thông tin, tư liệu quý về vị tướng già trưởng thành từ thời kỳ tiền khởi nghĩa. Tác phẩm điện ảnh về Trung tướng Nguyễn Thới Bưng của nhà báo Đinh Phong đang trong giai đoạn gấp rút hoàn thành. Trong đó, ông dành thời lượng đáng kể tái hiện, khắc họa chân dung vị tướng của quê hương Tây Ninh trong thời kỳ đầu được giác ngộ cách mạng. Câu chuyện được lấy cảm hứng từ cụm công trình tưởng niệm ở Di tích Rừng Rong, nổi bật là tượng đài thể hiện hình tượng những thanh niên trai tráng, vạm vỡ, giơ cao cánh tay xin thề “Chết tự do hơn sống nô lệ” mà Nguyễn Thới Bưng là một nguyên mẫu nhân vật gắn với khu rừng huyền thoại này.

Trung tướng Nguyễn Thới Bưng kể chuyện với các nhà báo về ký ức Rừng Rong.

Dù tuổi cao, sức yếu nhưng Trung tướng Nguyễn Thới Bưng vẫn còn khá minh mẫn. Ông sinh năm 1925 nhưng trong hồ sơ thì khai sinh năm 1927. Ông kể: “Hồi đó tui đã quá tuổi đi học nên muốn đến trường thì phải khai “ăn gian” 2 tuổi. Hồi đó được đi học là một vinh dự lớn lắm”.

Nhưng rồi được một thời gian, người thanh niên Út Thới đã từ bỏ con đường học hành để đi theo cách mạng. Sự kiện đầu tiên ghi dấu tinh thần giác ngộ cách mạng của Út Thới là vào ngày 25-8-1945, anh hăng hái tham gia cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tại huyện Trảng Bàng. Tham gia vào lực lượng Thanh niên tiền phong An Tịnh từ tháng 7-1945 nhưng Trung tướng Nguyễn Thới Bưng lại lấy ngày 23-9-1945 làm ngày nhập ngũ. Chuyện này được ông giải thích: “Lớp bạn bè của tui ngày đó đều lấy ngày 23-9-1945 làm ngày nhập ngũ để kỷ niệm dấu mốc quan trọng trong cuộc đời mình”. Đó cũng là ngày tổ chức Giải phóng quân liên quận Hóc Môn – Bà Điểm – Đức Hòa tổ chức lực lượng tham gia Nam Bộ kháng chiến, quyết tâm chặn bước tiến của quân Pháp đánh vào tỉnh lỵ Tây Ninh. Út Thới tham gia vào Chi đội 12 thuộc tổ chức liên quận, do đồng chí Tô Ký làm Chi đội trưởng. Ngày 23-9-1945, khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, lực lượng Giải phóng quân liên quận ở Tây Ninh tổ chức triển khai đội hình, xây dựng các tuyến phòng thủ sẵn sàng chiến đấu. Trước đó, để chuẩn bị cho cuộc tấn công, quân đội Pháp yêu cầu lực lượng của Nhật ở Tây Ninh phá hoại các căn cứ, trận địa phòng tuyến của ta nhưng trước sự kháng cự quyết liệt của ta và ở cái thế rệu rã, bạc nhược của kẻ thất trận, giặc Nhật không làm gì được. Hưởng ứng lời kêu gọi đánh Pháp của Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam bộ, ngày 25-9-1945, Út Thới cùng lực lượng thanh niên Trảng Bàng gồm hơn 100 người lập phòng tuyến mặt trận Suối Sâu – chiến lũy địa đầu của tỉnh Tây Ninh, chặn đánh địch. Họ đào công sự, lập phòng tuyến phòng thủ linh hoạt và phục kích địch ở những nơi bất ngờ. Toàn đội chỉ có một khẩu súng Klip 12, còn lại là lựu đạn và những vũ khí thô sơ. Út Thới được cấp trên tin tưởng, tín nhiệm giao cho trọng trách sử dụng khẩu súng này. Ngày 8-11-1945, địch huy động đội hình hành quân lên đến hàng trăm xe quân sự, trong đó có nhiều xe tăng, bọc thép rầm rộ tiến quân theo Quốc lộ 1 (nay là Quốc lộ 22) từ Sài Gòn tiến lên Tây Ninh.

Trung tướng Nguyễn Thới Bưng nhớ lại thời khắc oanh liệt đó: “Nhìn thấy đoàn xe địch như những con trâu mộng ầm ầm tiến vào, từ phòng tuyến hai bên vệ đường, chúng tôi đồng loạt tung bộc phá, ném lựu đạn. Tôi nâng khẩu súng Klip nhắm thẳng vào những chiếc xe đi đầu nhả đạn. Địch trên xe bắn ra như vãi trấu. Trận chiến chẳng khác gì “châu chấu đá xe” nên chúng tôi không thể ngăn được bước tiến quân địch. Giặc Pháp sau đó đã chiếm được tỉnh lỵ Tây Ninh.

Vang danh Hội thề Rừng Rong

Sau khi chiếm đóng Tây Ninh, thực dân Pháp dựng lại bộ máy tay sai từ các chủ đồn điền phản động. Chúng tăng cường đàn áp, đốt nhà, bắn giết những người dân vô tội. Trước tình thế quân thù quá mạnh, Út Thới và đồng đội phải rút về rừng Rong xây dựng căn cứ, củng cố lực lượng. Toàn đội có 27 đồng chí, chia thành 4 nhóm. Út Thới làm trưởng của một nhóm. Anh em họp bàn bạc phương hướng tổ chức, đặt ra chương trình hành động cụ thể để phát triển lực lượng, tiến hành hoạt động chính trị kết hợp vũ trang, kháng chiến lâu dài. Trung tướng Nguyễn Thới Bưng hồi tưởng: “Phương châm hoạt động của đội vũ trang là dựa vào dân, tiến hành nhiều hình thức hoạt động uy hiếp tinh thần địch và tạo niềm tin cho nhân dân như trừ gian, giải tán Hội tề tay sai bù nhìn, tuyên truyền vận động cách mạng trên địa bàn 7 xã của huyện Trảng Bàng. Được sự đùm bọc của nhân dân, chúng tôi đã tổ chức thành công nhiều cuộc cướp súng địch để trang bị cho ta. Sau một thời gian chuẩn bị, chúng tôi đã có trong tay 17 khẩu súng, trong đó có 2 khẩu tiểu liên và nhiều lựu đạn. Đêm Giao thừa Tết Bính Tuất, trước sự chứng kiến của đông đảo bà con nhân dân An Tịnh, 27 chiến sĩ Rừng Rong tuyên bố thành lập tổ chức vũ trang lấy tên là “Hội thề Rừng Rong”. Đứng dưới cờ đỏ sao vàng, anh em cắt máu ăn thề quyết tử để Tổ quốc quyết sinh, đọc lời tuyên thệ gồm 5 lời thề do anh em tự viết:

1: Độc lập hay là chết. 2: Chết tự do hơn sống nô lệ: 3: Dù đầu râu tóc bạc vẫn còn chiến đấu. 4: Dù phải hy sinh đời cha thì con cháu tiếp tục chiến đấu. 5: Ai phản bội đầu hàng phải bị xử tử.

Gần 3 tháng sau, trước yêu cầu nhiệm vụ phải mở rộng địa bàn, tăng cường các hình thức hoạt động vũ trang, Hội thề chỉ để lại 8 đồng chí bám căn cứ Rừng Rong xây dựng cơ sở cách mạng, làm nòng cốt cho phong trào du kích địa phương. Út Thới và 18 đồng chí còn lại, do đồng chí Trần Văn Chói làm đội trưởng, gia nhập vào Chi đội 12 tham gia chiến đấu trên địa bàn Hóc Môn – Trảng Bàng. Cuộc kháng chiến chống Pháp diễn ra hết sức cam go. Khốc liệt nhất là những trận anh em tổ chức phục kích chống càn, chống quét của quân Lê Dương. Giữ trọn lời thề sắt son với Tổ quốc, anh em của Hội thề đã chiến đấu ngoan cường, lập nhiều chiến công xuất sắc. Trung tướng Nguyễn Thới Bưng kể: “Bây giờ, dù đã vào tuổi gần đất xa trời nhưng nghĩ đến anh em đồng đội ngày đó, tui vẫn không cầm lòng được. Chỉ trong 2 năm (1946 – 1947), trong số 19 anh em Hội thề gia nhập Chi đội 12, đã có đến 12 đồng chí hy sinh trong các trận đánh trên quê hương Trảng Bàng”.

Thanh

Cùng với hành trình gian nan, trường kỳ của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, những chiến sĩ trong Hội thề Rừng Rong về sau đã phát triển giữ những cương vị trọng trách trong các tổ chức chính quyền, cơ quan, đơn vị. Người chiến sĩ Nguyễn Thới Bưng ngày ấy sau này là Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Vị tướng già tâm sự với chúng tôi, giọng bùi ngùi: “Hội thề Rừng Rong ngày ấy, bây giờ chỉ còn lại 4 người, hiện đều sinh sống ở tỉnh Tây Ninh. Đó là anh Lâm Quang Vinh, anh Tô Văn Ri, chị Trần Thị Đường và tui. Cứ vào dịp đầu Xuân hằng năm, anh chị em tụi tui lại tụ hội về chiến trường xưa, dâng hương tri ân đồng đội. Mấy năm trước còn đi được đông đủ nhưng dịp Tết vừa rồi, chỉ có 3 anh em tui, còn chị Đường không đi được vì sức khỏe yếu. Chẳng ai chống được quy luật nghiệt ngã của thời gian. Điều khiến tụi tui thấy ấm lòng là thế hệ trẻ hôm nay ngày càng có nhiều người quan tâm, tìm hiểu, đề cao giá trị của lịch sử, truyền thống. Mỗi lần gặp đồng đội cũ, thăm chiến trường xưa hay có những cuộc tiếp xúc như thế này, tui lại thấy cái thời trai trẻ ấy vẫn đang ở trong tim mình”.

Bia đá, tượng đài đã được xây dựng, uy nghi, hùng tráng giữa đất trời An Tịnh. Di tích lịch sử cấp quốc gia này đã trở thành một địa chỉ về nguồn, hằng năm thu hút hàng vạn lượt du khách đến tham quan, tưởng niệm. Trên văn bia vinh danh các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống trên mảnh đất An Tịnh, có đến 54 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 7 Anh hùng LLVT nhân dân, hơn 1000 liệt sĩ. Tất cả đều là những người chiến sĩ kiên trung đã ngã xuống trên mảnh đất An Tịnh đầy máu và hoa.

Bài và ảnh: Hạnh Dương
qdnd.vn