Archive | 2012

Nỗi nhớ của mẹ

Bà mẹ Việt Nam anh hùng

QĐND-Trong một ngôi nhà bé nhỏ trên sườn đồi, Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Nhứt ngồi trên chiếc ghế gỗ, đôi mắt sâu thẳm nhìn ra những bụi cúc quỳ cuối mùa ánh lên sắc vàng sậm đến nao lòng. Mẹ kể chuyện về những đứa con của mình.

Xuân Sơn, xã Xuân Trình, huyện Cầu Đất, tỉnh Lâm Đồng là một thôn nằm trên sườn núi. Những mái nhà giản dị, bình yên. Người dân Xuân Sơn hiền lành, cần cù, chân chất. Ngày tôi gặp, mẹ Nguyễn Thị Nhứt đang sống trong ngôi nhà ở Đà Lạt nhưng tâm hồn mẹ đã gởi lại mảnh đất chôn nhau cắt rốn ở Xuân Sơn.

Thời con gái của mẹ có biết bao kỷ niệm gắn bó ở Xuân Sơn. 17 tuổi, mẹ Nhứt đã là cô y tá giỏi nghề, tháo vát. Năm 18 tuổi, mẹ kết hôn với một chiến sĩ vệ quốc. Mẹ Nhứt không có điều kiện sống gần chồng. Năm 1954, đôi vợ chồng trẻ mới được sống bên nhau dưới nếp nhà lá ẩn dưới rặng cây xanh. Họ sinh những đứa con. Nhưng chiến tranh đã lan rộng đến cái thôn trên sườn núi xa xôi, hẻo lánh ấy. Mẹ lại tiễn chồng đi làm cách mạng.

Mẹ ở lại Xuân Sơn đào hầm bí mật nuôi cán bộ. Dưới lớp áo của một nông dân chăm chỉ làm ăn, mẹ nắm tình hình địch, báo cho “Đội Công tác đặc biệt”. Mẹ là một hộp thư mật giữa thôn trên sườn núi. Kẻ thù dù có lê máy chém khắp nơi, ra sức dồn dân vào ấp chiến lược, o ép mọi bề nhưng người Xuân Sơn vẫn ngoan cường, quật khởi. Mẹ Nhứt lại lần lượt tiễn đưa các con: Lê Thị Diệu Minh, Lê Văn Tân, Lê Hùng Việt ra trận. Hết con ruột đến con nuôi, con rể tương lai. Tự tay mẹ gói cho đứa con nuôi Trà Văn Thắng bộ quần áo, nắm cơm gia nhập “Giải phóng quân”. Mẹ lại tiễn đưa anh Phạm Thanh Tấn, người yêu của chị Diệu Minh vào “Đội Công tác đặc biệt”.

Khi bị địch phong tỏa, lương thực cho bộ đội trở thành khan hiếm. Mẹ đã dành dụm từng quả mít, nồi cơm nếp, từng chùm bánh lá để sẵn nơi bìa rừng đã quy ước điểm tiếp tế. Ngày hôm sau mẹ quay trở lại với mớ bắp luộc, khoai sắn luộc… Mẹ nhìn vào gốc cây. Nếu như những bọc thức ăn có người lấy đi rồi, mẹ thở phào nhẹ nhõm vì vui mừng. Nhưng có những lúc mẹ lặng người nhìn những gói thức ăn còn nguyên đó. Xa xa, có tiếng súng nổ, bọn địch bố ráp ngăn chặn mọi con đường. Nước mắt mẹ chảy trên má. Mẹ dõi theo hướng tiếng súng, ngực đau thắt vì lo âu. Dự cảm đó của mẹ là đúng. Bao nhiêu lần mẹ đã chít khăn tang lên mái đầu điểm bạc.

Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Nhứt.

Chị Lê Thị Diệu Minh hy sinh năm 1971 trên dòng sông Sài Gòn. Kể lại những ký ức về đứa con gái thân yêu, tim mẹ vẫn đau nhức. Chị Diệu Minh thoát ly công tác năm 1971 khi mới ngoài 20 tuổi. Chị phục vụ ngành dân y tỉnh. Chị cũng có người yêu là bộ đội, nhưng anh đã hy sinh trong một trận công đồn. Đồng đội chỉ mang được cho chị Minh chiếc áo thủng đầy vết đạn của anh. Chị Diệu Minh hy sinh trong chuyến công tác cuối cùng, trước khi được lệnh ra Hà Nội học bác sĩ. Chiếc xuồng gồm 8 người chở đầy lương thực, thuốc men, hàng hóa rơi vào phục kích của bọn giặc. Chiếc xuồng chở quá tải lại lướt quá nhanh nên bị lật úp. Chị Diệu Minh bị dòng nước cuốn trôi. Chính Giám đốc Bệnh viện Đơn Dương hiện nay đã an táng chị Diệu Minh bên bờ sông Sài Gòn, cùng với chiếc áo đầy vết đạn của người yêu chị mang bên mình. Mãi sau này, đồng đội chị mới tìm được mộ, đưa hài cốt chị về Nghĩa trang liệt sĩ Lâm Đồng. Họ mang về cho mẹ Nhứt chiếc cặp ba lá của cô con gái thương yêu.

Mẹ Nhứt còn giữ nguyên quyển nhật ký của anh Lê Hùng Việt. Nhập ngũ năm 1968, anh Việt hy sinh năm 1972. Đồng đội của anh Việt mang về cho mẹ quyển nhật ký đựng trong chiếc ba lô của anh. Anh ghi lại những bài thơ, bài hát rừng rực bầu nhiệt huyết một thời. Chính những bài thơ ấy đã thôi thúc anh ra đi.

Những đứa con nuôi của mẹ: Anh Trà Văn Thắng, con rể Phạm Thanh Tấn cũng lần lượt hy sinh. Mẹ nói bằng giọng đẫm nước mắt: “Con ruột, con nuôi, con rể, đứa nào cũng là con. Nghe nó hy sinh, ruột mẹ như đứt ra từng đoạn”. Nhưng mẹ đã nén lại đau thương, len lỏi trong hàng ngũ binh lính địch, dùng lời lẽ phải trái để thuyết phục, vận động họ giải ngũ, cung cấp súng đạn cho cách mạng. Dường như có một thứ ánh sáng được soi rọi từ tâm linh để mẹ vượt qua những thứ giết người, hoàn thành công tác liên lạc, dẫn đường tiếp tế của mình. Mẹ nói: “Năm đứa con tôi (ba người con ruột, hai người con nuôi) đã yên nghỉ ở mảnh đất này. Nhưng còn bao nhiêu người con khác, của những bà mẹ khác không tìm được hài cốt. Con chết lòng người mẹ đau đớn khôn lường, đó là lẽ đương nhiên. Nhưng nếu ai cũng sợ nỗi mất mát này thì làm sao có được ngày hòa bình”. Trong đôi mắt của bà mẹ Xuân Sơn còn ẩn chứa một niềm khắc khoải không nguôi. Bìa rừng này, nơi ngày xưa mẹ mang thức ăn cho những đứa con, những chiến sĩ Giải phóng quân vẫn còn đây. Nhưng các anh giờ ở đâu?

Bài và ảnh: Trầm Hương
qdnd.vn

Một đời tận tụy với đất nước

Luật sư Phan Anh

QĐND – Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, với chủ trương đại đoàn kết dân tộc, cầu hiền dựng nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thu hút được đông đảo các nhân sĩ, trí thức danh tiếng để xây dựng chính quyền mới: Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Văn Tố, Phan Kế Toại, Phạm Ngọc Thạch, Hoàng Minh Giám, Nguyến Xiển, Tạ Quang Bửu, Vũ Đình Hòe, Nguyễn Văn Huyên, Trần Duy Hưng, Nghiêm Xuân Yêm, Vũ Đình Tụng…

Luật sư Phan Anh là một người trong số đó

Phan Anh sinh năm 1911 tại làng Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ (Hà Tĩnh), một miền đất hiếu học sản sinh nhiều nhân tài cho đất nước. Mẹ ông mất sớm. Bố ông-cụ đồ Phan Điện là một nhà nho nghèo nên anh em Phan Anh từng phải đi ở, làm thuê. Nhưng trong hoàn cảnh khó khăn ấy, ông và người em trai của mình là Phan Mỹ (sau này là Bộ trưởng, Chánh văn phòng Chủ tịch nước) đã quyết tâm học thành tài. Phan Anh vào học trường Bưởi (Hà Nội) từ năm 1926, khi tốt nghiệp đã dạy học ở trường Thăng Long, đồng thời theo học luật ở Trường Đại học Đông Dương năm 1937. Tốt nghiệp, ông được cấp học bổng sang Pháp tiếp tục học lên thạc sĩ, tiến sĩ…

Từ một luật sư nổi tiếng dưới thời Pháp thuộc, con đường nào dẫn Phan Anh đến với Chính phủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh? Ông kể: Sau khi học ở Pháp về, ông làm nghề luật sư bào chữa cho nhiều vụ án cách mạng Việt Minh. Cách mạng Tháng Tám thành công, ông được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên ở Hà Nội. Trong cuộc gặp đó, ông nhớ câu nói của Bác Hồ: Tin vào trí thức và động viên khuyến khích trí thức tham gia cách mạng bằng mọi cách có thể được.

Luật sư Phan Anh (1911-1990).

Sau cuộc gặp mặt đó, Bác Hồ đã giao cho Phan Anh nhiệm vụ tập hợp anh em trí thức lập một tổ chức gọi là “Hội đồng kiến thiết quốc gia” và chỉ định ông làm Chủ tịch. Sau đó ít lâu, Tổng tuyển cử đã bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Để bầu Chính phủ mới thực sự đoàn kết, chống nguy cơ quân Tàu Tưởng ở lỳ và quân Pháp quay trở lại, cần phải có một Chính phủ hợp pháp, tiêu biểu cho sự đoàn kết quốc gia. Một vấn đề khó giải quyết là giữa phía Việt Minh và phía đối lập không bên nào nhường bên nào hai bộ: Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ, nên cuối cùng đi đến thỏa thuận là để hai bộ đó cho người trung lập nắm giữ. Chính trong hoàn cảnh đó, Bác Hồ đã giao cho Phan Anh làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ngày 3-5-1946 ở phiên họp khai mạc Quốc hội. Việc Bác giao những nhiệm vụ quan trọng cho ông và những trí thức khác thể hiện lời nói với hành động của Người là nhất quán: Luôn tin vào trí thức. Nhớ lại sự kiện này, luật sư Phan Anh viết: “Tôi rất xúc động và cảm kích trước tấm lòng bao dung của Bác. Bác đã không lấy việc tôi tham gia chính phủ Trần Trọng Kim làm điều, mà vẫn cho tôi là một trí thức yêu nước và trọng dụng. Thấm sâu tinh thần của Bác: Đoàn kết, đại đoàn kết và cảm ơn tri ngộ, tôi đã nhận nhiệm vụ Bác giao với một ý thức trách nhiệm sâu sắc” (Phan Anh- “Tôi đã tham gia Chính phủ Liên hiệp kháng chiến như thế nào?”-Tạp chí Lịch sử quân sự, số 36, tháng 12-1988, tr.9). Đáp lại niềm tin của Bác, ông cũng như bao trí thức khác đã đem hết khả năng, trí tuệ và nhiệt tình để đi theo Bác phục vụ Cách mạng từ những ngày đầu khó khăn gian khổ cho đến suốt hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc.

Hồi ấy, chỉ huy về quân đội và các lực lượng vũ trang trong cả nước thuộc về Quân sự ủy viên hội do đồng chí Võ Nguyên Giáp đứng đầu, còn Bộ Quốc phòng chủ yếu tập trung về vấn đề chính trị, công tác quản lý hành chính quân sự như chỉ đạo xây dựng tổ chức, biên chế, trang bị và cấp dưỡng trong quân đội. Nhận nhiệm vụ Bác giao, Phan Anh bắt tay vào công tác tổ chức quân đội với sự cộng tác nhiệt tình của Thứ trưởng Tạ Quang Bửu và các cộng sự khác. Các kiến nghị của Bộ Quốc phòng được Bác Hồ duyệt và ban hành. Các sắc lệnh về tổ chức quân đội, về việc bổ nhiệm những người phụ trách đã ra đời. Rồi sắc lệnh 33/QP ngày 23-3-1946 xác định Vệ quốc đoàn là quân đội quốc gia nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Việc thành lập trường Võ bị Trần Quốc Tuấn cũng được Phan Anh đề đạt và được Bác Hồ thông qua.

Việc quyết định mời một luật sư nổi tiếng đảm nhiệm cương vị Bộ trưởng Quốc phòng đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa của Chủ tịch Hồ Chí Minh làm nhiều người ngạc nhiên, nhưng thực tế Bác đã rất hiểu con người Phan Anh. Trước tháng 8-1945, luật sư Phan Anh cùng giáo sư Tạ Quang Bửu thành lập Trường Thanh niên Tiền tuyến ở Huế. Đây thực chất là trường đào tạo các chỉ huy quân sự nhằm “mục đích quốc gia và mục đích xã hội”. 43 học viên của trường này đa số đều là tú tài của Trường Quốc học Huế, rồi ra Hà Nội học lên cử nhân. Có người như Lê Thiệu Huy là học sinh giỏi nhất Đông Dương, con của Giải nguyên Hán học Lê Thước. Nhiều người trong số họ là con nhà “danh gia vọng tộc” như Lê Quang Long là cháu ngoại vua Thành Thái, gọi Bảo Đại bằng cậu; Tôn Thất Hoàng là con Thượng thư Tôn Thất Quảng: Võ Sum là con Án sát Võ Chuẩn, Đặng Văn Việt con trai Tổng đốc Nghệ An…Thế mà họ học ở Thanh niên tiền tuyến một thời gian, được Luật sư Phan Anh và Giáo sư Tạ Quang Bửu dìu dắt, với dòng máu yêu nước thương nòi luôn chảy trong huyết quản, nhiều người đã đi theo Cách mạng trọn đời, phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Trong số đó, có 8 vị đã trở thành tướng lĩnh của Quân đội nhân dân Việt Nam: Trung tướng Cao Văn Khánh, các Thiếu tướng Phan Hàm, Đoàn Huyên, Nguyễn Thế Lâm, Vũ Quang Hồ, Đào Hữu Liêu, Nguyễn Thế Lương (Cao Pha), Mai Xuân Tần.

Hồ Chủ tịch và phái đoàn Chính phủ Việt Nam dự Hội nghị Phông-ten-nơ-blô (Fontainebleau) ở Bi-a-rít (Biarritz). (Luật sư Phan Anh ngồi hàng đầu, thứ tư từ trái sang).

Tháng 7-1946, Luật sư Phan Anh tham gia phái đoàn Việt Nam đàm phán với chính phủ Pháp ở Phông-ten-nơ-bơ-lô (Fontainebleau) với tư cách là Tổng thuyết viên của đoàn Việt Nam do đồng chí Phạm Văn Đồng dẫn đầu. Từ đầu năm 1947 cho đến năm 1976, ông được cử giữ chức vụ Bộ trưởng các bộ: Kinh tế, Công Thương, Ngoại thương. Ông liên tục được bầu là đại biểu Quốc hội từ khóa 2 (1960) đến khóa 8 (1987).

Từ một luật sư dưới chế độ cũ, ông đã trở thành chính khách của nước Việt Nam mới, với 30 năm giữ cương vị Bộ trưởng, 30 năm là đại biểu Quốc hội, thành viên ủy ban Pháp luật của Quốc hội, Phó chủ tịch Quốc hội khóa 8.

Học vấn uyên bác, sự nhạy cảm về chính trị, tâm hồn, đạo đức trong sáng, suốt đời là “công bộc của nhân dân” theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh là những yếu tố giúp Phan Anh thành công trong hoạt động chính trị trong nước và quan hệ với chính khách nước ngoài.

Năm 1955, Hội luật gia Việt Nam được thành lập. Trong 35 năm trên cương vị Chủ tịch hội (1955-1990), Luật sư Phan Anh từng bước đưa tổ chức nghề nghiệp mang tính chính trị, xã hội từng bước trưởng thành, lớn mạnh. Hoạt động của Hội Luật gia Việt Nam và bản thân Luật sư Phan Anh đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia nhằm bảo vệ lợi ích dân tộc, chủ quyền quốc gia, đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Được bầu vào cơ quan lãnh đạo Hội luật gia dân chủ quốc tế, Phan Anh đã đại diện cho giới luật gia Việt Nam tham gia nhiều Đại hội Hội Luật gia dân chủ quốc tế ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Ông còn tham gia các hoạt động của Hội đồng hòa bình thế giới với cương vị Phó chủ tịch Hội đồng. Trên mặt trận này, là một trí thức yêu nước, một luật gia lỗi lạc, ông đã thuyết phục được các đồng nghiệp nước ngoài về tính chính nghĩa cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam và tranh thủ sự đồng tình của các đại biểu tham gia Đại hội ủng hộ nhân dân ta. Đánh giá về luật sư Phan Anh, ông Rô-mét Chan-đra (Romesh Chandra), Chủ tịch danh dự Hội đồng Hòa bình thế giới viết: “Luật sư Phan Anh là tấm gương sáng chói và đã chiếm được cảm tình của hàng nghìn người bằng sự khiêm tốn và lòng thiết tha chống đế quốc. Đối với cá nhân tôi, Phan Anh luôn là người chỉ dẫn, người thầy giáo, một biểu tượng của nhân dân Việt Nam anh hùng”.

Ông rất quan tâm đến việc tập hợp đội ngũ luật gia Việt Nam phục vụ công cuộc xây dựng đất nước. Trong những năm cuối đời (1987-1990), cùng với Ban dân chủ-Pháp luật của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mà ông là Trưởng ban, Luật sư Phan Anh đã góp ý kiến về nhiều văn bản pháp luật quan trọng như Bộ luật Tố tụng Hình sự (1987), Pháp lệnh Tổ chức Luật sư (1987). Ông nhấn mạnh vai trò của luật sư trong nhà nước Việt Nam, khẳng định vị trí và tầm quan trọng của tổ chức này trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng một nên tư pháp của dân, do dân và vì dân.

Như vậy, trong suốt cuộc đời sôi nổi của mình, Luật sư Phan Anh được Đảng và Bác Hồ trao nhiều trọng trách. Nhiệm vụ nào ông cũng tận tâm, tận lực, tận tụy phục vụ đất nước và để lại dấu ấn quan trọng. Phan Anh không phải là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng ông sống, lao động và chiến đấu như một người cộng sản. Bởi lẽ, thời đại của ông sống là một thời đại lịch sử rất vẻ vang mà trung tâm là cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân và thống nhất toàn vẹn lãnh thổ. Thời đại ấy đã làm nên những phẩm chất của một đội ngũ trí thức Việt Nam yêu nước, thương nòi, sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc, vì nhân dân. Và điều quan trọng là thời đại ấy được dẫn dắt bởi một con người đã hoàn toàn chinh phục trái tim và khối ốc đội ngũ trí thức như ông. Đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trần Thiên
qdnd.vn

Chí sĩ Tượng Phong Ngô Quang Đoan

Chuyện xưa nay

QĐND-Làng Trình Phố thuộc xã An Ninh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, xưa có hai gò cây thiêng, tên là Gò Cá (Ngư Phong) và Gò Voi (Tượng Phong).

Địa danh trở thành danh hiệu, khi bậc danh sĩ ở thế kỷ 19 của làng là Ngô Quang Bích: Đình nguyên Hoàng giáp Tiến sĩ – Tuần phủ Hưng Hóa triều Tự Đức, Lễ bộ Thượng thư – Hiệp biện Đại học sĩ – Hiệp thống Bắc Kỳ, quân vụ đại thần triều Hàm Nghi, chọn lấy “Ngư Phong” làm tên hiệu của mình. Còn người con trai là Ngô Quang Đoan thì noi theo cha, dùng nốt danh hiệu “Tượng Phong” để tự gọi.

Ngô Quang Đoan, 18 tuổi vào năm 1890, đang nổi tiếng ở quê nhà về sự học hành chữ nghĩa giỏi giang, sức vóc và tài cưỡi ngựa múa đao mạnh như thần, đàn dịch ca ngâm càng điêu luyện, thì tin dữ đã từ căn cứ Tôn Sơn ở giữa vùng rừng núi Yên Lập (Phú Thọ) – nơi đặt đại bản doanh chỉ huy phong trào yêu nước Cần Vương (giúp vua Hàm Nghi) chống thực dân Pháp xâm lược trên miền Tây Bắc đất nước và cả xứ Bắc Kỳ của cha mình bay về: Thủ lĩnh Ngô Quang Bích lâm trọng bệnh, đã từ trần!

Lập tức, Ngô Quang Đoan lội bộ một mạch từ Trình Phố lên Tôn Sơn. Để vừa làm lễ tế viếng cha trước nấm mồ mới đắp bên chân núi, giữa rừng già, vừa gặp gỡ các thuộc tướng trung thành của vị thủ lĩnh Cần Vương quá cố – những Đề Kiều, Đốc Ngữ, Lãnh Vân, Lãnh Hoan, Lãnh Gáo, Đốc Đen… lừng danh trận mạc đang trông chờ người kế vị ngôi chủ tướng để kế tục sự phát triển phong trào. Nhưng dứt khoát chối từ chuyện “cha truyền con nối”, lấy cớ mình còn ít tuổi, chưa có gì đóng góp cho phong trào, Ngô Quang Đoan chỉ xin được sát cánh cùng các thuộc tướng của cha mình, rèn tập việc chiến đấu, đấu tranh.

Tượng phong-Ngô Quang Đoan 1872-1945.

Và thế là 10 năm của giai đoạn đầu sự nghiệp nhà yêu nước tuổi 20 Ngô Quang Đoan, từ đây mở ra. Sự trẻ trung và sự tráng cường đã khiến người con trai của cố thủ lĩnh Cần Vương Ngô Quang Bích nhanh chóng dội vang những thành tích sôi nổi: Hết đánh những trận diệt thù ở Khả Cửu cùng tướng Đề Kiều; ở Suối Rút cùng các tướng Lãnh Vân, Lãnh Hoan; ở Nam Định cùng các tướng Lãnh Gáo, Đốc Đen… lại cầm đầu đoàn tải lương sang tận Trung Quốc mua sắm vũ khí, vận chuyển về cho nghĩa quân. Đặc biệt, lấy danh nghĩa con trai thủ lĩnh Cần Vương Tây Bắc và cả Bắc Kỳ, Ngô Quang Đoan đã nhiều lần vượt đường trường và hàng rào vây hãm của kẻ địch, vào sâu các vùng đồng bào thiểu số, đến tận căn cứ các dư đảng Cần Vương: Hương Khê, Bãi Sậy…, cả Yên Thế của Đề Thám nữa, nhóm lại và thổi bùng lên ngọn lửa đấu tranh anh hùng. Đương thời, nhiều người yêu nước đều rất ấn tượng về một vị tướng trẻ Cần Vương (và “hậu Cần Vương”) cao lớn, tài hoa, hoạt động không biết mệt mỏi ở khắp nơi. Và, đi tới đâu thì để lại… thơ đến đấy. Như những vần điệu tráng chí nổi tiếng (dịch từ Hán Ngữ) khi vào tận Vũ Quang gặp Phan Đình Phùng:

Lòng son cứu nước tim ngời sáng

Gươm báu diệt thù chí ngút trời

Cha tôi ngày trước dựng cờ nghĩa

Ngày nay tôi tới nối cơ ngơi…

Nhưng đến những năm cuối cùng của thế kỷ 19, phòng trào Cần Vương rồi cũng bị kẻ thù dập tắt. Sang tới những năm đầu thế kỷ 20, sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc chuyển tiếp thành những hình thế mới. Ngô Quang Đoan lúc này đã vào tuổi 30, trưởng thành mà hòa mình được vào những trào lưu mới ấy: Duy Tân, Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Việt Nam Quang Phục… Một gương mặt từ thời Cần Vương, bây giờ sáng lên cùng với những Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Lương Văn Can, Tăng Bạt Hổ… của thời kỳ đấu tranh mới. Chí sĩ Ngô Quang Đoan, khi thì nấp dưới hầm than tàu thủy chạy từ Hải Phòng sang Hương Cảng, tóe máu chân trong đôi hài sảo rơm băng rừng tìm gặp tướng quân Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc, cạo răng trắng thành “Bạch xỉ chân nhân” hộ tống hoàng thân Cường Để đi Nhật, bí mật trở về nước để cùng các sĩ phu, nhà tân học, làm thơ hỏi sông Bạch Đằng:

“Hồng giang trùng khởi lãng

Sát tặc thị hà thi?”

(Sóng Hồng gầm vang dội

Giết giặc đợi ngày nào?)

Hoặc lên tận đền Hùng, xin với vua Hùng:

Tinh linh phảng phất, Lăng còn đó

Đất nước tan tành, Tổ biết không?

Cầu khẩn xin cho soi xét lại

Mau mau cứu vớt giống Tiên Rồng !

Có đến hai lần bị giặc bắt nhốt cũi sắt, phải chứng kiến cảnh chúng chặt đầu người cùng hoạt động ở ngay bên cạnh nhưng Ngô Quang Đoan – đến khi các phong trào đấu tranh đầu thế kỷ bị một lần nữa thoái trào vẫn kiên trì bền bỉ, cả gan góc nữa, dấn mình tiếp vào sự nghiệp đấu tranh cứu nước. Ở về những thập kỷ thứ hai, thứ ba của thế kỷ 20, khi nhà chí sĩ đã đến tuổi năm, sáu mươi, có một sự nghiệp được giao từ thời Đông Kinh Nghĩa Thục, mà chỉ còn một mình Ngô Quang Đoan lúc này thực hiện được. Ấy là: Tận tụy, miệt mài, lặn lội lên các vùng núi rừng thượng du, đồi gò trung du, khai hoang lập ấp trại, tạo cơ sở hậu cần cho những chiến sĩ bí mật hoạt động cách mạng. Hết ở Luống, Ngòi Lao (Phú Thọ) lại Tam Lộng, Bàn Long, Đạo Hoàng (Vĩnh Yên)… Các trang thực chất là doanh trại của nhà chí sĩ, hết bị hoang vu thú dữ, nước độc và bệnh tật tàn phá, lại bị giặc giã đánh sập…

Đến tuổi sắp “cổ lai hy”, chí sĩ Tượng Phong đã có 5 lần mất trại, lại 5 lần gây dựng tiếp. Và vào một đêm, giữa mịt mù hoang vắng trong căn nhà tre nứa giữa trại Đạo Hoàng dưới chân Tam Đảo, nhà chí sĩ với tay lấy trên vách xuống cây nguyệt cầm tự tạo. Và vừa gẩy mấy ngón đàn diệu vợi, vừa ngâm nga mấy câu thơ sầu lụy:

Trốn tránh bao năm sống chẳng an

Đêm thâu trằn trọc lệ tuôn tràn

Trăng hờn khuất bóng, mây mờ hận

Sương buốt gieo cành, gió khóc than…

Bất chợt nghe thấy có tiếng động bên ngoài. Và tiếng ngón tay gại vào vách nứa. Rồi một giọng nói thầm thì lọt qua khe cửa:

– Chúng tôi là các nhà cách mạng đi hoạt động qua đây. Nghe giọng đàn và tiếng thơ, biết ngay là bậc chí sĩ. Xin cho được vào bái kiến…

Đó là các đồng chí Xứ ủy viên Bắc Kỳ của Đảng Cộng sản Bùi Lâm, Trần Đình Long. Và tin vui liên tiếp báo: Mặt trận Việt Minh đã ra đời! Trào lưu cách mạng mới – Tân Trào – đang lên tới cao trào!

Chí sĩ Tượng Phong Ngô Quang Đoan từ đấy trở thành cơ sở cách mạng. Với những vần thơ hào sảng:

Bóng cờ Độc Lập bay rạng đất

Tiếng súng Liên Minh dậy khắp trời

Hùng hồn cổ vũ:

Cờ nghĩa đỏ tươi chờ gió mới

Kiếm mài sáng lóa giục đông qua

Và đoán chắc:

Trời Nam vùng dậy rợp cờ

Nước non còn mất bây giờ là đây

Cùng nhau diệt lũ khuyển Tây

Anh hùng thời thế ra tay chuyển vần!

Chỉ tiếc là người anh hùng – tự mình làm chiếc cầu nối từ lịch sử phong trào Cần Vương tới lịch sử Cách mạng Tháng Tám – đã không kịp trông thấy ngày Cách mạng thành công.

Nạn đói đầu năm Ất Dậu (1945), tuổi tác và đau yếu đã khiến nhà chí sĩ Tượng Phong Ngô Quang Đoan – ở năm thứ 74 của cuộc đời đã phải lìa đời để đi gặp và lần này thì gặp được người cha Ngư Phong Ngô Quang Bích, ở trên cõi Vĩnh Hằng.

Hôm ấy là ngày 8-7-1945. Một tháng trước ngày bùng nổ cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám.

Viết nhân ngày giỗ cụ ở Tiền Hải.

GS. Lê Văn Lan
qdnd.vn

Nguyễn Ái Quốc với đội ngũ thanh niên trí thức yêu nước thời dựng đảng

QĐND – Những năm 20 của thế kỷ 20 là những năm cực kỳ quan trọng trong đời sống chính trị của đất nước, gắn chặt với tên tuổi Nguyễn Ái Quốc. Đó là thời kỳ nước ta trải qua một cuộc khủng hoảng đường lối cứu nước và xuất hiện Nguyễn Ái Quốc như một vị cứu tinh của dân tộc.

Uy tín của Nguyễn Ái Quốc bắt đầu hình thành từ năm 1919 với Bản Yêu sách của nhân dân Việt Nam gửi Hội nghị Versailles mà thời đó báo chí Pháp gọi là “quả bom chính trị nổ giữa Pa-ri”. Uy tín đó được củng cố và tăng lên qua những hoạt động chính trị của Người tại Pháp, đặc biệt từ khi thành lập Hội Liên hiệp thuộc địa và cho ra đời tờ báo Le Paria (Người cùng khổ) và cuốn sách Bản án chế độ thực dân Pháp. Những hoạt động chính trị đó không chỉ có tiếng vang trên đất Pháp, mà còn lan tỏa khắp năm châu, đăc biệt ở các nước thuộc địa và phụ thuộc.

Tên tuổi Nguyễn Ái Quốc lan truyền nhanh chóng trên khắp đất nước, khích lệ những thanh niên trí thức trăn trở với vận nước tìm những con đường khác nhau ra nước ngoài tìm Nguyễn Ái Quốc. Sự háo hức của lớp trẻ thời đó đã tạo ra hai luồng xuất dương tìm đến Nguyễn Ái Quốc, trước hết là sang Pháp, sau đó qua Trung Quốc. Lớp thanh niên trí thức yêu nước sang Pháp tìm Nguyễn gồm Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Khánh Toàn, Bùi Công Trừng, Ngô Đức Trì, Trần Văn Giàu, Trần Đình Long, Dương Bạch Mai… Lớp trẻ sang Quảng Châu đến với Nguyễn là những “chàng trai bãi khóa” trong phong trào truy điệu và để tang nhà chí sĩ Phan Chu Trinh bị cảnh sát Pháp đàn áp, truy lùng như Lê Hữu Lập, Nguyễn Công Thu, Nguyễn Danh Thọ, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Sơn, Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Hới, Nguyễn Văn Hoan, Trịnh Đình Cửu…(Bắc Kỳ), Lê Duy Điếm, Trần Phú, Nguyễn Ngọc Ba, Nguyễn Văn Lợi, Phan Trọng Bình, Phan Trọng Quảng… (Trung Kỳ), Ngô Thiêm, Lê Văn Phát, Nguyễn Mạnh Trinh… (Nam Kỳ). Lớp trẻ đến với Nguyễn Ái Quốc là đến với người tìm ra con đường cứu nước có hy vọng cho dân tộc, là đến với lãnh tụ cuộc cách mạng tương lai.

Bác Hồ với học sinh trường Trưng Vương-Hà Nội (năm 1956). Ảnh tư liệu

Nỗ lực của Nguyễn Ái Quốc sau 5 năm tìm được con đường giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức thực dân đã bắt đầu có chút thành quả: một lực lượng thanh niên trí thức trăn trở với vận mệnh đất nước tại Quảng Châu đã quy tụ bên Người, coi Người là thầy, là lãnh tụ, sẵn sàng theo thầy và xả thân vì đại nghĩa. Đó là một lực lượng chưa đông, nhưng vô cùng quan trọng để Người “gieo mầm cách mạng”. Và trong hoàn cảnh đó, người thầy, người hướng đạo phải làm gì để vươn tới tầm vóc mà các bậc cách mạng lão thành thuộc thế hệ cha chú như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh từng kỳ vọng?

Tháng 6-1923, khi rời nước Pháp sang Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc đã để lại cho những người bạn chiến đấu của mình trong Hội Liên hiệp thuộc địa và Tòa soạn báo Le Paria một lá thư thắm tình đồng đội, chan chứa sự đồng cảm của những người cùng cảnh ngộ và bày tỏ ý định của Người:

“ Chúng ta phải làm gì?…

Đối với tôi câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập”.

Đoạn trích dẫn trên cho ta hình dung được bốn công đoạn (bước) mà Nguyễn Ái Quốc sẽ thực hiện trong tương lai: 1) Trở về nước; 2) Tổ chức; 3) Huấn luyện và 4) Đấu tranh.

Ở bước thứ nhất, trở về nước. Trong hoàn cảnh “các nhà hoạt động bản xứ đều bị giám sát và truy nã rất ráo riết tại chính nước họ. Nhưng ở một nước làng giềng họ có thể hoạt động dễ dàng hơn, vì có ít người biết họ”(1) và bầu không khí chính trị Quảng Châu thuận lợi dưới thời Tôn Trung Sơn. Nguyễn Ái Quốc, khi về đến Quảng Châu vào tháng 11-1924, đã quyết định biến mảnh đất này thành trạm đầu cầu của cách mạng Việt Nam. Từ đó, Quảng Châu trở thành trị sở của Tổng bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên và Tòa soạn các tờ báo mà Người sáng lập, nơi tổ chức huấn luyện đội ngũ cán bộ cách mạng và tuyển chọn thanh thiếu niên gửi đi đào tạo ở các trường bạn. Nguyễn Ái Quốc dựa vào lực lượng thanh niên trí thức yêu nước để thực hiện những nhiệm vụ trọng đại đó.

Đầu tiên, Người tiếp xúc với những thành viên trong Tâm Tâm Xã tìm hiểu những tâm tư, nguyện vọng của họ, giác ngộ họ và đưa họ vào một tổ chức chính trị mang màu sắc tuổi trẻ – Việt Nam Cách mạng Thanh niên và cho ra đời tờ Thanh Niên làm cơ quan ngôn luận của tổ chức vào tháng 6-1925. Tổ chức cách mạng và tờ báo đó cùng với Người tiếp tục chuẩn bị về chính trị-tư tưởng và tổ chức để xây dựng một đảng Cộng sản ở Việt Nam. Tiếp đến, Người tung thanh niên về trong nước thực hiện cùng một lúc hai nhiệm vụ: xây dựng một hệ thống tổ chức cách mạng từ chi bộ lên Kỳ bộ trên toàn quốc và lực chọn những thanh niên trí thức yêu nước sang Quảng Châu dự các lớp huấn luyện chính trị. Với sự nỗ lực của những người tiên phong, đến những tháng đầu năm 1927, một hệ thống tổ chức cách mạng Thanh Niên được phủ khắp đất nước. Không một tổ chức chính trị cùng thời nào (như Hưng Nam-Tân Việt, Việt Nam Quốc dân Đảng…) có được mạng lưới rộng như vậy. Được thế, trước hết nhờ tầm nhìn chiến lược của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Đồng thời với việc mở lớp huấn luyện những người cổ động, những người tuyên truyền, những người tổ chức tại Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc, thông qua Phái bộ Bô-rô-đin, lựa chọn và làm thủ tục cho thanh thiếu niên Việt Nam sang học tại Trường Đại học Phương Đông và các trường khác trên đất nước Xô Viết. Đi theo ngả đường này đến nhập học Trường Phương Đông ở Mát-xcơ-va là Lê Hồng Phong, Trần Phú, Phùng Chí Kiên…Trong một lá thư gửi Ủy ban Trung ương Đội Thiếu niên Tiền phong trực thuộc Đoàn Thanh niên Cộng sản Liên Xô ngày 22-7-1926, Nguyễn Ái Quốc đã bày tỏ:

“ Chúng tôi có tại đây (Quảng Châu, Trung Quốc) một nhóm thiếu niên Việt Nam. Các em đều từ 12 đến 15 tuổi. Đó là những thiếu niên Cộng sản đầu tiên của Việt Nam bị chủ nghĩa đế quốc Pháp áp bức và ở đó mọi việc giáo dục đều bị cấm… Lúc chúng tôi nói với các em về cách mạng Nga, về Lê-nin và các bạn, những chiến sĩ Lê-nin-nít Nga nhỏ tuổi, thì các em rất sung sướng và đòi sang với các bạn để thăm các bạn, học tập với các bạn và để trở thành như các bạn-những chiến sĩ Lê-nin-nít nhỏ tuổi.

Rõ ràng, Nguyễn Ái Quốc đã có ý thức chuẩn bị cho cuộc cách mạng tương lai một đội ngũ cán bộ gồm những người trẻ tuổi đó.

Để lật nhào bộ máy thống trị thực dân-phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân sớm muộn phải cần tới bạo lực vũ trang, vì thế, ở một hướng khác, Nguyễn Ái Quốc từ rất sớm đã chuẩn bị cho cách mạng một đội ngũ cán bộ quân sự. Người đã gửi nhiều thanh niên Việt Nam theo học Trường Quân sự Hoàng Phố của Tôn Trung Sơn dưới sự huấn luyện của các chuyên gia quân sự Xô Viết, trong số đó có Nguyễn Sơn, Phùng Chí Kiên, Đỗ Huy Liêm, Nguyễn Tường Loan, Lê Thiết Hùng… và cho xuất bản báo Lính Cách mệnh. Trong một bài viết trên báo Lính Cách mệnh đã khẳng định tính tất yếu của con đường bạo lực vũ trang đối với cuộc cách mạng dân tộc nước ta: “Cách mệnh vô luận ở về thời đại nào, theo về hoàn cảnh nào, muốn cho thành công thì nhất định phải dùng vũ lực, bởi vì thống trị giai cấp nó đè nén mình, nó hà hiếp mình, là nó cậy nó có vũ lực của bọn nó, nên bây giờ cách mệnh cũng phải có vũ lực của cách mệnh để đánh cho bọn thống trị giai cấp thất thế đi, hết nọc đi thì cách mệnh mới thành công được”.

Ở thời dựng Đảng này, lực lượng thanh niên trí thức yêu nước, một bộ phận năng động và nhạy cảm nhất trong thanh niên là chỗ dựa cơ bản, chủ yếu của Nguyễn Ái Quốc trong quá trình đưa chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Việt Nam.Trước Nguyễn Ái Quốc, các lãnh tụ của phong trào cách mạng chỉ nhìn nhận và sử dụng thanh niên như một phương tiện để đạt tới mục đích của mình. Với Nguyễn Ái Quốc tình hình đã khác. Trong toàn bộ hoạt động cách mạng của mình, cả trên bình diện lý luận và thực tiễn, Nguyễn Ái Quốc hoàn toàn và thực sự đặt sự tin cậy vào lớp người trẻ tuổi, đặc biệt là lớp thanh nhiên trí thức yêu nước. Trên bình diện lý luận Nguyễn Ái Quốc đã viết nhiều tác phẩm như Trung Quốc và Thanh niên Trung Quốc, Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường Cách mệnh, trong đó xác định vai trò to lớn của thanh niên trong tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc. Trên bình diện thực tiễn Người đã lập tổ chức cách mạng theo khuynh hướng mác-xít và cơ quan ngôn luận mang tên Thanh Niên. Người thu hút lực lượng trẻ, giáo dục họ, dìu dắt họ, thử thách họ qua công việc và cuối cùng trao cho họ những trọng trách trong các tổ chức cách mạng. Những người mà Nguyễn Ái Quốc đặt lên vai họ những trọng trách nặng nề đều thuộc lớp trẻ ở độ tuổi đôi mươi. Có thể kể ra một vài ví dụ: Nguyễn Đức Cảnh, Bí thư Tỉnh bộ Thanh niên Hải Phòng năm 19 tuổi; Nguyễn Văn Hoan, Bí thư Liên tỉnh bộ Thanh Niên Hà-Nam-Ninh năm 20 tuổi; Trần Văn Cung, Nguyễn Sĩ Sách, Phạm Văn Đồng… từng giữ những chức vụ công tác quan trọng trong Thanh niên cũng mới ngoài 20 tuổi đời hoặc Trần Phú, Tổng bí thư đầu tiên của Đảng lúc mới 26 tuổi…

Lực lượng trẻ tuổi ấy từ những người tuyên truyền cổ động, những người tổ chức đã trở thành bộ khung quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đầu năm 1930. Có thể nói không quá lời rằng, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc nước ta chủ yếu do thế hệ trẻ được Nguyễn Ái Quốc giáo dục, rèn luyện, khởi xướng và tiến hành.

PGS.TS Phạm Xanh
qdnd.vn

(1) Hồ Chí Minh Toàn Tập. Tập 2. NXB Chính trị quốc gia. Hn,1980, tr 208.

 

 

 

Quân ta đã về!

QĐND – Tháng 10, Bắc Trung Bộ lũ chồng lên lũ. Tháng 11, Nam Trung Bộ, rồi Trung Trung Bộ chìm trong mưa lũ. Nơi đâu lũ lụt tàn phá nặng nề, nước ngập sâu cũng có bộ đội dầm mình cứu dân. Còn chòm xóm nào cô lập, còn người dân nào chới với trên nóc nhà là bộ đội tìm đến. Còn chiếc thuyền nào trôi giữa biển khơi bão tố là Bộ đội Biên phòng, Hải quân tìm mọi phương cách dò tìm, ứng cứu. Những miếng lương khô bộ đội, những bữa ăn quân dân xì xụp vội vã quanh nồi mì ăn liền…

Cán bộ, chiến sĩ Bộ CHQS tỉnh Quảng Ngãi và Đồn biên phòng 288 giúp nhân dân xã Bình Hải, huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi) khắc phục hậu quả sau đợt lũ tháng 11-2010. Ảnh: Trí Tín.

Bộ đội ta đã về miền Trung, quân-dân cá nước là đây. Dường như, vẫn là anh chiến sĩ năm xưa xuyên qua trận giặc đến với dân, bám dân rồi ôm súng lao lên nã đạn vào căn cứ địch. Dường như vẫn là anh chiến sĩ năm xưa, mặc bom rơi đạn réo vẫn ngâm mình hướng nòng pháo thẳng hướng máy bay, tàu chiến giặc trời, giặc biển che chở cho xóm làng. Con cháu Bộ đội Cụ Hồ năm xưa chính là Bộ đội Cụ Hồ hôm nay, khi đất nước quê hương hữu sự, khi nhân dân lâm nạn là bộ đội ta có mặt. Năm 2007, xả thân cứu dân, anh hùng Phạm Hữu Huyên đã hy sinh giữa dòng sông Gianh cuộn xiết. Năm nay, hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ noi gương anh lăn lộn ngang dọc trên khắp các con sông, biển nước miền Trung. Và Đoàn Trọng Giáp đã ngã xuống trên đường làm nhiệm vụ…

Sau thuyền, ghe bộ đội cứu hộ là thuyền, là xe bộ đội cứu trợ, là nườm nượp xe đồng bào các ngả từ Bắc vào, từ Nam ra. Xe bị lầy, thụt, lập tức có tre, có ván của dân từ xóm này xóm khác mang ra. Các thôn làng phía trong, phía xa cũng đang đói, thiếu. Có gì gợi nhớ năm xưa “xe chưa qua, nhà không tiếc”. Bức tranh chống chọi với thiên tai cứu làng, cứu dân là bức tranh đồng bào, đồng chí, quân dân máu thịt. Thời chiến-thời bình, nhiều sự, nhiều điều đã khác. Bây giờ, ai chẳng phải lo cơm áo, làm giàu, tiến thân, vun vén cho hạnh phúc riêng… Nhưng với Bộ đội Cụ Hồ, nơi đâu dân còn khổ đau, hoạn nạn, nơi đâu đất nước, nhân dân cần đến, vẫn trước sau tiên phong tấm lòng trung hiếu, sắt son.

Dằng dặc miền Trung chìm trong biển nước, cơn thủy tai thế kỷ, nhà nào, làng nào cũng ngập, đến thành phố cũng ngập mà không đâu hoảng loạn, hãi hùng, miền Trung cùng cả nước khẩn trương ứng cứu trong tâm thế bình tĩnh, tự tin. Có thế trận “4 tại chỗ” ở mỗi địa phương, có thế trận hiệp đồng quân-binh chủng cùng ba thứ quân, có thế trận hiệp đồng quân đội-công an-dân quân tự vệ cùng mỗi gia đình, làng xóm. Quân ta về trong thế trận ấy-thế mạnh của đất nước hòa bình, đang vươn lên phát triển mạnh mẽ.

“Các anh về mái ấm nhà vui. Tiếng hát câu cười rộn ràng trong xóm nhỏ…”. Tháng 12, biên giới, hải đảo, thôn quê, thị thành, đâu đâu cũng vui vầy ngày hội quân-dân. Qua đạn bom, qua gian lao vất vả, câu hát “Bộ đội về làng” tiếng hát-tiếng reo vui “Quân ta đã về, quân ta đã về!” càng nồng, càng đượm. Bây giờ đây, ngày đông tháng giá nhưng tình quân dân, nghĩa đồng bào trong cơn hồng thủy đã hòa quyện cùng đồng đất trở thành thứ phù sa ấm áp đang làm xanh lên ngô khoai, rau đậu suốt dọc dài miền Trung.

Anh Nguyễn
qdnd.vn

Tìm đường đi mới

QĐND – “Cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, nền kinh tế nước ta rơi vào tình trạng khủng hoảng, thiếu hụt trầm trọng cả vật tư đầu vào cho sản xuất lẫn lương thực và hàng tiêu dùng cho nhân dân. Từ thực tiễn ấy, Đảng ta đã tìm tòi, thử nghiệm những giải pháp mới, từng bước đưa đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng. Những giải pháp ấy đã không ngừng được hoàn thiện trở thành đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Dưới đây là câu chuyện của Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, nguyên Phó chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam về hoạt động của các doanh nghiệp ở thời điểm “đêm trước” đổi mới…

“Xé rào”

Bà Phạm Chi Lan. Ảnh: Trần Hoàng.

Khi đó, các doanh nghiệp nước ta đứng trước những cơ hội về “cầu” to lớn để mở mang công việc sản xuất, kinh doanh nhưng lại vẫn bị cơ chế cũ trói buộc nặng nề. Khi vào miền Nam, nhiều doanh nghiệp nhà nước (DNNN) có dịp nhìn thấy những hình thái, phương thức hoạt động kinh doanh khác hay hơn, hiệu quả hơn, những cơ hội làm ăn phong phú hơn. Từ đó, những ý tưởng mới, những mong muốn thay đổi thôi thúc họ. Còn với các doanh nghiệp phía Nam, dù cơ chế kinh tế mới có đè nén hoạt động của họ, thì cũng không thể bóp chết tư duy, ý chí kinh doanh và sức sống của cả một xã hội, cả một tầng lớp doanh nhân vốn đã rất quen với quy luật cung cầu của thị trường.

Không thể bó mình trong chiếc áo quản lý chật chội, một số doanh nghiệp tư nhân (DNTN), công tư hợp doanh và cả DNNN, chủ yếu là DNNN địa phương, đã tìm cách tự vùng vẫy. Họ lặng lẽ mở rộng sản xuất, làm ăn với nhau ngoài khuôn khổ được phép, tăng cường trao đổi hàng hóa “ngoài luồng”, nhất là luồng hàng Bắc-Nam. Hành động “xé rào” này giúp giảm đỡ phần nào những khó khăn do thiếu hụt nghiêm trọng nguồn cung các vật phẩm thiết yếu, nên được một số cơ quan và địa phương đồng tình, nới tay hoặc ngầm ủng hộ cho làm. Riêng ở Thành phố Hồ Chí Minh, những vị lãnh đạo cao cấp nhất của Thành ủy và Ủy ban nhân dân thời đó như các ông Võ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ đã rất sớm ủng hộ hoạt động của các doanh nghiệp theo hướng thị trường. Các ông đã đề xuất việc để cho Thành phố Hồ Chí Minh được áp dụng cơ chế thị trường, và tuy điều đó không được Bộ Chính trị cho phép, các ông vẫn thực hiện một cơ chế kinh tế linh hoạt ở thành phố. Đến đầu thập kỷ 80, dựa trên Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 của Trung ương Đảng khóa IV (tháng 9-1979), một số quyết định theo tinh thần cởi trói cho sản xuất, kinh doanh được Chính phủ ban hành, chính thức mở đường cho các DNNN “bung ra”, bước đầu tiếp cận với thị trường. Trên cơ sở đó, hoạt động kinh doanh của DNTN trên thực tế cũng được nới lỏng hơn.

Bước đầu nới “độc quyền ngoại thương”

Trong công việc thực tế của mình rất gắn với hoạt động ngoại thương ngày đó, tôi nhớ mãi không khí phấn chấn khi sau hơn hai thập kỷ, trước sức ép của cuộc sống, “độc quyền ngoại thương”, theo kiểu chỉ hơn 20 công ty xuất nhập khẩu quốc doanh trực thuộc Bộ Ngoại thương được quyền kinh doanh xuất nhập khẩu, bắt đầu được nới ra. Một đất nước thống nhất, vừa ra khỏi chiến tranh, có những nhu cầu và cơ hội cực kỳ to lớn về mở rộng quan hệ thương mại với thế giới bên ngoài, chắc chắn không thể giao toàn bộ quan hệ đó cho chỉ một bộ phụ trách, với chỉ hơn 20 công ty đảm nhận mọi hoạt động ngoại thương như trước.

Trung tâm Thương nghiệp quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh thời bao cấp đang bán hàng phân phối cho nhân dân. Ảnh tư liệu.

Từ năm 1976-1977, Nhà nước ta bắt đầu cho phép một số bộ phụ trách các ngành sản xuất và một vài địa phương được thành lập các công ty quốc doanh trực tiếp kinh doanh xuất nhập khẩu để phục vụ nhu cầu của ngành, địa phương mình. Công ty xuất nhập khẩu hàng dệt may Textimex (trực thuộc Bộ Công nghiệp), Công ty xuất nhập khẩu than Coalimex (trực thuộc Bộ Điện-Than), ba Liên hiệp công ty xuất nhập khẩu gọi tắt là Unimex Hà Nội, Unimex Hải Phòng và Imexco Thành phố Hồ Chí Minh (trực thuộc Ủy ban nhân dân ba thành phố)… là những đơn vị đầu tiên ra đời trong những năm đó. Tiếp theo, những công ty xuất nhập khẩu quốc doanh ở một số ngành và các địa phương khác lần lượt hình thành. Khắp nơi đang khát vật tư, thiết bị đầu vào tối cần thiết cho sản xuất công nông nghiệp, thậm chí cả các vật phẩm cho nhu cầu cái ăn, cái mặc của người dân, nên sự cải thiện bước đầu này trong kinh doanh xuất nhập khẩu đã ngay lập tức nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ của các ngành, các địa phương, các doanh nghiệp trên cả nước, thực sự mở màn cho những thay đổi lớn về ngoại thương và cả các hoạt động kinh tế gắn kết với nó, tiếp diễn trong những năm sau.

Các doanh nghiệp sản xuất, các công ty tư nhân, với bản năng và sự nhanh nhạy luôn tiềm ẩn, đã mau chóng chủ động bám sát các công ty xuất nhập khẩu, tham gia các cuộc giao dịch, đàm phán với các công ty nước ngoài nhiều hơn để phục vụ cho yêu cầu xuất nhập khẩu của mình. Các công ty được quyền trực tiếp xuất nhập khẩu, cũ cũng như mới, mau chóng mở rộng và thắt chặt quan hệ với các doanh nghiệp, các ngành, các địa phương, tăng cường liên kết với nhau, tìm tòi các cách để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của các đơn vị trong nước. Dù trong cơ chế quản lý vĩ mô vẫn còn “cấm chợ ngăn sông”, nhưng dòng chảy của hàng hóa lưu thông giữa các tỉnh, các ngành trong nước vẫn mạnh dần lên, một phần lớn phục vụ cho nhu cầu trong nước, một phần khác tạo nên nguồn hàng ngày càng khá hơn cho xuất khẩu để trao đổi lấy hàng nhập từ nước ngoài về.

Các công ty xuất nhập khẩu cũng chủ động khai phá thêm quan hệ thương mại với nhiều bạn hàng ở các nước ngoài khối xã hội chủ nghĩa, trước hết là các bạn hàng Nhật Bản, Hồng Công (Trung Quốc), Xin-ga-po… Phần thương mại với các nước ngoài khối XHCN lúc đó tuy chưa nhiều, nhưng rất quan trọng để có thể nhập được một số thiết bị, phụ tùng, vật tư giúp cho các nhà máy ở miền Nam tiếp tục hoạt động. Bộ Ngoại thương và các cơ quan ngoại giao, thương vụ của ta ở các nước xung quanh cũng rất tích cực hỗ trợ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp của chúng ta trong những công việc này.

Một số công ty nước ngoài, đặc biệt là các công ty đã có quan hệ thương mại với miền Bắc hoặc miền Nam Việt Nam trong chiến tranh, cũng lần lượt tìm đường trở lại buôn bán với chúng ta, bất chấp cấm vận kinh tế của Mỹ đối với Việt Nam tồn tại rất nặng nề trong thời kỳ đó. Trong số này có hai nhóm công ty tôi ấn tượng nhất, là các công ty Nhật Bản và các công ty Hàn Quốc. Doanh nghiệp Nhật có mặt rất sớm ở Việt Nam, thông qua các công ty con do chính họ lập ra để buôn bán với ta, thậm chí như Nissho Iwai còn trực tiếp vào nước ta làm ăn từ trước khi ta đổi mới. Các công ty Hàn Quốc bắt đầu vào nước ta từ năm 1982, mở đầu là Samsung, tiếp theo là Sunkyong, Daewoo, Lucky Goldstar (nay là LG), Hyundai…, đều là đại gia – “chaebol” theo tiếng Hàn. Các công ty này, cùng nhiều công ty khác đến từ một số nước ngoài khối XHCN, đã góp phần làm cho thị trường nước ta sống động lên với những hoạt động kinh doanh sôi nổi, thiết thực, khác hẳn cách làm “truyền thống” trong quan hệ gọi là “thương mại” nhưng hoàn toàn không có tính chất kinh doanh giữa ta với các nước XHCN thời đó.

Chắc hẳn phải có “đèn xanh” từ chính phủ họ, các công ty Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước khác mới có gan làm như vậy, nhưng rõ ràng sự có mặt khá sớm của các công ty này ở Việt Nam trong bối cảnh môi trường kinh doanh của nước ta còn đầy khó khăn trước đổi mới đã góp phần giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam có thêm kênh làm ăn với các nước ngoài khối XHCN, vừa đáp ứng những nhu cầu trao đổi hàng hóa trước mắt, vừa làm quen dần với kinh doanh ở các thị trường tư bản bên ngoài. Cũng nhờ những mối quan hệ sớm hình thành đó, nên khi Liên Xô và các nước khối XHCN Đông Âu sụp đổ, phần thương mại của Việt Nam với khối đó-vốn chiếm tới 70-80% xuất nhập khẩu của nước ta-đã được nhanh chóng bù đắp bằng quan hệ với các nước trong khu vực.

Cuối năm 1986, Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức phát động công cuộc đổi mới toàn diện, trước hết là về kinh tế, ở nước ta. Đó cũng là cột mốc quan trọng nhất đánh dấu chặng đường mới đi tới hình thành môi trường kinh doanh theo thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam. Ba trong những nội dung cốt lõi của đổi mới là đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế kinh tế theo hướng thị trường; phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, và mở cửa trong quan hệ kinh tế, thương mại giữa Việt Nam với các nước khác trên thế giới. Trên tinh thần đổi mới, các chính sách, biện pháp cải cách kinh tế mạnh bạo được hình thành dần trong những năm cuối cùng của thập kỷ 80. Chỉ trong vài năm, công cuộc đổi mới đã mang lại những kết quả tốt đẹp, giúp Việt Nam chặn được đà của cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội kéo dài nhiều năm trước đó, dần dần ổn định lại và đứng vững được trước sự sụp đổ đột ngột vào đầu thập kỷ 90 của các nước trong Hội đồng Tương trợ Kinh tế mà Việt Nam là một thành viên…

Hoàng Tiến (Ghi theo lời kể của bà Phạm Chi Lan, nguyên Phó chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam).
qdnd.vn

Chuyện viết thêm về danh sách Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân

QĐND – Trong các năm từ 1992 đến 1994, Ban liên lạc Việt Nam giải phóng quân đã cùng một số cơ quan phối hợp xác minh danh sách 34 chiến sĩ đầu tiên của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân – tổ chức tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đại tá Nguyễn Huy Văn – bí danh Kim Sơn, nguyên cán bộ Cục Tác chiến (Bộ Tổng tham mưu), hiện là Ủy viên thường trực Ban liên lạc Việt Nam giải phóng quân – đã kể lại những kỷ niệm xung quanh việc tìm kiếm thông tin về tên tuổi, quê quán của 34 chiến sĩ ngày ấy.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và ông Nguyễn Huy Văn (ngoài cùng, bên trái) trong lần về thăm Cao Bằng (1992). Ảnh do nhân vật cung cấp.

Ngày 15-8-1992, khi tới dự cuộc họp của Ban liên lạc Việt Nam giải phóng quân tổ chức ở Thái Nguyên, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đề cập đến sự cần thiết phải có những cuốn sách ghi lại tên tuổi cán bộ, chiến sĩ các đội vũ trang, các đơn vị Cứu quốc quân, nhất là các chiến sĩ đầu tiên của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (VNTTGPQ). Tại cuộc họp, Đại tướng nhấn mạnh: “Bây giờ làm là chậm, nhưng vẫn còn kịp và vẫn phải làm”. Thực hiện lời căn dặn của Đại tướng, Ban liên lạc Việt Nam giải phóng quân đã bắt tay vào việc thu thập tư liệu, gặp gỡ nhân chứng là các lão thành cách mạng và một số ít những đội viên còn sống ở thời điểm năm 1992.

Để có được danh sách sơ bộ về các chiến sĩ khi sự kiện thành lập Đội VNTTGPQ đã trôi qua gần nửa thế kỷ, việc đầu tiên các thành viên trong Ban liên lạc tiến hành là tham khảo tư liệu từ cuốn hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Từ đây, Ban liên lạc đã có được danh sách khoảng 20 chiến sĩ. Tiếp đó, Ban liên lạc đã tiếp cận một số nhân chứng là các lão thành cách mạng như: Đàm Quang Trung, Thu Sơn, Nông Văn Lạng… đồng thời sưu tầm tư liệu của các cơ quan, ban ngành, các bảo tàng ở trung ương và địa phương để tìm kiếm thông tin về quê quán, tên tuổi, bí danh của các chiến sĩ. “Cuối cùng, chúng tôi thu được 8 bản danh sách, sau khi đối chiếu, Ban liên lạc lọc ra những người trùng tên và có được danh sách lên tới… 74 người. Danh sách này mới chỉ dựa vào trí nhớ của từng người, hơn nữa các chiến sĩ trong Đội gặp nhau trong hoàn cảnh hoạt động bí mật, lại cùng chiến đấu trong khoảng thời gian không dài nên việc xác định rõ những người trong danh sách 34 chiến sĩ đầu tiên là việc làm rất khó”, Đại tá Nguyễn Huy Văn nhớ lại.

Trong quá trình tìm kiếm, sưu tầm thông tin quanh danh sách 34 chiến sĩ có khá nhiều ý kiến khác nhau. Có nhân chứng kể lại, hôm diễn ra buổi lễ thành lập có tới hàng trăm người, một số khác cho rằng, danh sách 34 người còn có cả đội viên nữ… Để làm sáng tỏ vấn đề, trong các năm từ 1992 đến 1994, Ban liên lạc Việt Nam giải phóng quân đã tổ chức 3 cuộc họp và hội thảo tại Cao Bằng, Thái Nguyên, Hà Nội để rà soát lại danh sách. Tại hội thảo, lại có những ý kiến khác nhau về việc đưa người này, bỏ người khác. Sau đó các ý kiến đều thống nhất đánh giá hôm diễn ra sự kiện thành lập Đội VNTTGPQ (ngày 22-12-1944) tại Khu rừng Trần Hưng Đạo (tỉnh Cao Bằng), số người tham dự buổi lễ có tới gần 100 người nhưng chủ yếu là đứng xung quanh, chỉ có 34 chiến sĩ nam đứng giữa dự lễ tuyên thệ. Vì buổi lễ diễn ra vào khoảng 17 giờ, lại ở trong rừng và là mùa đông nên trời tối, nhiều người không nhìn rõ mặt. Đại tá Nguyễn Huy Văn kể: “Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong đội có một chiến sĩ người Mông. Các ý kiến tại hội thảo cũng nói khá nhiều về trường hợp này. Một thời gian sau, chúng tôi mới xác minh được chiến sĩ đó tên là Hồng Cô, do tập tục du canh du cư của đồng bào nên ông đã chuyển từ Cao Bằng về sinh sống ở Lạng Sơn. Thật tiếc là cho tới lúc mất, chiến sĩ người Mông này vẫn chưa được hưởng chế độ chính sách của Nhà nước. Nhiều lần con cháu ông lặn lội từ Lạng Sơn xuống Hà Nội làm thủ tục giải quyết chế độ, các cán bộ ở Viện Lịch sử Quân sự đã phải hỗ trợ tiền tàu xe để họ về quê”.

Với sự nỗ lực sau gần 3 năm tìm kiếm, xác minh thông tin, tháng 11-1994, Trưởng ban liên lạc Việt Nam giải phóng quân Đàm Quang Trung đã báo cáo danh sách 34 chiến sĩ đầu tiên của Đội VNTTGPQ lên Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các cơ quan chức năng. Vào đúng dịp chuẩn bị kỷ niệm 50 năm thành lập Quân đội, ngày 2-11-1994, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ký xác nhận bản danh sách này.

Đại tá Nguyễn Huy Văn bộc bạch: “Với lương tâm và trách nhiệm của những người lính già đầu bạc, Ban liên lạc chúng tôi nhận thấy đã phần nào thực hiện được tâm nguyện của Đại tướng, đồng thời góp phần làm sáng tỏ thêm tư liệu lịch sử về một tổ chức tiền thân của Quân đội ta”.

Minh Tuệ
qdnd.vn

Hà Nội 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không”

QĐND – Trong 12 ngày đêm từ 18-12-1972 đến 29-12-1972, quân dân Hà Nội đã lập một kỳ tích lịch sử: bắn rơi 23 máy bay B-52, bắt sống nhiều phi công Mỹ. Dư luận thế giới cho đây là một “Điện Biên Phủ trên không” tại Hà Nội. Sau sự kiện này, Tổng thống Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom trên toàn miền Bắc Việt Nam từ 30-12-1972, đi đến việc ký kết Hội nghị bốn bên về “chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam” tại Pa-ri ngày 27-1-1973.

Hệ thống phòng không S-75 trong trận “Điện Biên Phủ trên không” (1972) đã bắn rơi nhiều máy bay B-52 của Mỹ, bảo vệ bầu trời miền Bắc. Ảnh: Tuấn Tú.

Trước những thất bại nặng nề ở cả hai miền Nam Bắc Việt Nam, ngày 22-10-1972, Tổng thống Ních-xơn phải ra lệnh ngừng ném bom và bắn phá từ Bắc vĩ tuyến 20 trở ra.

Thời gian này, Hội nghị bốn bên ở Pa-ri đã họp đến gần 160 phiên nhưng phía Mỹ vẫn dây dưa, lật lọng. Bộ Tổng tư lệnh đã lệnh cho các lực lượng vũ trang:

“Có nhiều khả năng địch sẽ đánh phá trở lại toàn miền Bắc với mức độ ác liệt hơn kể cả việc dùng B-52 đánh vào Hà Nội, Hải Phòng. Do đó nhiệm vụ của Quân chủng Phòng không-Không quân là tập trung mọi khả năng, nhằm đúng đối tượng B-52 mà tiêu diệt”.

Đúng vậy, ngày 14-12-1972, Tổng thống Mỹ Ních-xơn ký phê chuẩn chiến dịch Lai-nơ Bếch-cơ 2, ra lệnh sẽ bắt đầu tập kích trên không vào Bắc Việt Nam bằng B-52 vào 7 giờ sáng ngày 18-12-1972 (giờ Hà Nội là 19 giờ ngày 18-12-1972).

B-52 là loại “siêu pháo đài bay chiến lược” do hãng Bô-inh sản xuất, chiếc đầu tiên được đưa bay thí nghiệm vào 16-4-1952 nên được gọi B-52. Sau 20 năm, năm 1972, B-52 đã được qua 8 lần cải tiến từ B-52A đến B-52G, B-52H. Mỗi chiếc B-52G hoặc H (loại bị bắn rơi tại Hà Nội tháng 12-1972) có thể mang trên dưới 100 quả bom với trọng lượng từ 17 đến 30 tấn cùng nổ chỉ trong phạm vi 3 đến 10 giây đồng hồ. Mỗi B-52 được trang bị 15 máy điện tử phát nhiễu chống các loại ra-đa của đối phương. Khi B-52 tấn công mục tiêu còn có máy bay EB66 gây nhiễu phía ngoài và nhiều tốp F4 thả nhiễu tiêu cực là những bó sợi hợp kim nhôm trong khu vực độ dài từ 40km đến 70km, dày khoảng 2km để gây nhiễu. Trung bình mỗi B-52 đi chiến đấu có 7 máy bay chiến thuật đi kèm.

Hoa Kỳ cho rằng “Đối phương không thể có cách chống đỡ và không còn một sinh vật nào tồn tại nổi dưới những trận mưa bom kinh khủng của loại B-52 bất khả xâm phạm”.

Thượng tướng, Phó tổng Tham mưu trưởng Phùng Thế Tài nhớ lại: “Từ mùa xuân năm 1968, Bác Hồ đã nói: sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ dùng B-52 ném bom Hà Nội rồi có thua mới chịu thua. Trước đây, trước khi ký hiệp định đình chiến ở Triều Tiên, Mỹ đã cho không quân hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Đêm 18 rạng sáng ngày 19-12-1972, đế quốc Mỹ cho 87 lần chiếc B-52, 135 lần chiếc máy bay chiến thuật ném bom Hà Nội. Đêm 19-12, chúng tổ chức tiếp 3 đợt bắn phá dã man Hà Nội với 93 lần chiếc B-52 và 163 lần chiếc máy bay chiến thuật. Đêm 20 rạng sáng 21-12-1972, không quân Mỹ đánh phá Hà Nội với 8 tốp B-52 (24 chiếc), gần 170 chiếc máy bay chiến thuật. Đêm đầu, quân dân Hà Nội đã bắn rơi 3 B-52 Mỹ, 4 máy bay chiến thuật, bắt sống 6 giặc lái. Chiếc B-52G đầu tiên rơi tại chỗ ở Phù Lỗ, Đông Anh. Sau đó ta hạ tiếp 7 B-52, bắt sống nhiều giặc lái. Tuy nhiên, tổn thất của ta cũng khá lớn: riêng Hà Nội đêm 18 rạng sáng 19-12-1972 đã có 300 người chết, 156 người bị thương.

Trong phiên 171 của hội nghị bốn bên ở Hội nghị Pa-ri tại Klê-be ngày 21-12-1972, vừa vào họp, trưởng đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa tuyên bố:

“Để biểu thị sự phản đối những cuộc ném bom cực kỳ dã man và thái độ đàm phán lật lọng của phía Mỹ, đoàn đại biểu Việt Nam dân chủ cộng hòa với sự đồng ý của đoàn đại biểu Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam quyết định bỏ phiên họp lần thứ 171”.

Cả 2 đoàn Việt Nam rời hội nghị bỏ ra về. Cuộc họp chỉ kéo dài 58 phút.

Đêm 28-12-1972, được thông báo có B-52, Thượng úy phi công Vũ Xuân Thiều nhận lệnh xuất kích. Anh báo cáo với trung đoàn trưởng: “Bắn mà B-52 địch không rơi tại chỗ, tôi sẽ xin lao thẳng vào nó”.

21 giờ 45 phút ngày 28-12-1972, Vũ Xuân Thiều bắn bị thương chiếc B-52D của Lơ-uýt rồi anh đã lao thẳng chiếc Mig của mình vào B-52 địch. Phía Hoa Kỳ công nhận đây là chiếc máy bay cuối cùng của Mỹ bị không quân Bắc Việt bắn hạ tại chỗ.

Sau này liệt sĩ Vũ Xuân Thiều đã được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. Một đường phố ở Hà Nội đã mang tên anh: phố Vũ Xuân Thiều.

Tính ra, trong những đợt không kích năm 1972, đế quốc Mỹ đã huy động hơn 40.000 lần máy bay bắn phá miền Bắc Việt Nam trong đó có hơn 3.250 lần chiếc B-52.

Với tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, đến ngày 29-12, riêng Hà Nội đã bắn rơi 23 B-52, nhiều chiếc bị rơi ngay tại chỗ, bắt sống nhiều giặc lái.

Những chiến thắng này thuộc công lao của toàn thể cán bộ, chiến sĩ Phòng không-Không quân, từ Tư lệnh đến anh em các đơn vị tên lửa, cao xạ, ra-đa; của toàn thể lực lượng vũ trang, công an, tự vệ…

Ngoài ra, không thể quên công lao của các chiến sĩ áo trắng ngành Y. Ngay khi có báo động B-52, mặc cho bom rơi đạn nổ trên đầu, anh chị em không ngại hy sinh, nhanh chóng từ nhà đến bệnh viện cấp cứu những người bị thương do bom đạn giặc Mỹ. Hàng chục bác sĩ, dược sĩ, công nhân viên các bệnh viện Bạch Mai, Việt Đức…, sinh viên Trường Đại học Y thực tập tại các bệnh viện đã trở thành liệt sĩ.

Trước những đống gạch đổ nát của Bệnh viện Bạch Mai, nữ bác sĩ Y-vo-nơ, chuyên gia huyết học người Pháp đã không cầm nổi nước mắt nói:

– Tôi chỉ là một bác sĩ, một người làm khoa học nhưng lúc này thấy cần phải làm chính trị để tố cáo tội ác man rợ của đế quốc Mỹ đã ném bom tàn phá một bệnh viện mà ở đó chỉ có tình thương.

Cũng tại đây, chị Giên Phôn-đa, một nghệ sĩ nổi tiếng người Mỹ bày tỏ:

– Tôi sẵn sàng từ bỏ những thu hoạch kinh tế lớn đến hàng trăm nghìn đô-la mỗi lần hợp đồng đóng phim của tôi để dành cho một việc làm chính trị: đấu tranh chấm dứt cuộc chiến tranh tàn bạo ở Việt Nam, chấm dứt những hành động bất nhân của những tên G.I. (có nghĩa là sen đầm quốc tế) khét tiếng.

Tổng thư ký Hội đồng hòa bình thế giới, ông Rô-mét Chan-đra nói:

– Cuộc chiến tranh của các bạn Việt Nam đã trở thành cuộc chiến tranh mới trong lịch sử, trong từ điển của tất cả các thứ tiếng. Nó có nghĩa là lòng dũng cảm tuyệt vời, lòng quyết tâm và chủ nghĩa anh hùng, nó có nghĩa là tất cả những gì mà mọi người mong muốn tìm trên thế giới này.

Trước những thắng lợi to lớn của ta, ngày 30-12-1972, Hoa Kỳ buộc phải tuyên bố chấm dứt ném bom trên toàn miền Bắc Việt Nam.

Và đến 18-1-1973, Hội nghị bốn bên ở Pa-ri họp phiên công khai lần thứ 174, phiên họp cuối cùng tiến tới thắng lợi hoàn toàn của phía ta.

Ngày 27-1-1973, Bộ trưởng ngoại giao bốn bên dự Hội nghị Pa-ri ký Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.

Sau ngày thắng lợi giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, tôi đã có một số lần được gặp một số nhân chứng trong những sự kiện vừa nói ở bài viết này. Đó là Trung tướng Hoàng Phương, nguyên Chính ủy Bộ tư lệnh Phòng không-Không quân, Trung tướng Anh hùng phi công Phạm Tuân, người Việt Nam đầu tiên bay vào vũ trụ, Đại tá Anh hùng phi công Nguyễn Tiến Sâm, nguyên Tham mưu trưởng Bộ tư lệnh Phòng không-Không quân, Đại tá không quân Vũ Đình Rạng, các Đại tá Nguyễn Bắc, Nguyễn Thân, nguyên Phó tham mưu trưởng Bộ tư lệnh Phòng không-Không quân, Đại tá Trần Quốc Hanh, nguyên bí thư Đảng ủy Học viện Không quân… các Giáo sư Đỗ Doãn Đại, nguyên Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai; Trần Đỗ Trinh, nguyên Viện trưởng Viện Tim mạch quốc gia Việt Nam; Tôn Thất Bách, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Y; Đặng Hanh Đệ, nguyên Chủ nhiệm khoa ngoại Bệnh viện Hữu nghị… là những người đã luôn có mặt tại bệnh viện cấp cứu cho những người bị thương do B-52 Mỹ gây ra trong những ngày “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972.

Những liệt sĩ đã vĩnh viễn ra đi như Anh hùng Không quân Vũ Xuân Thiều thì được các bạn chiến đấu và gia đình kể chuyện lại.

Toàn là những câu chuyện đã trở thành những bài ca không bao giờ quên của mười hai ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không” của miền đất Thăng Long-Hà Nội vừa tròn 1000 năm tuổi.

Đỗ Sâm
qdnd.vn

Bình Trị Thiên 90 ngày đêm đọ sức

QĐND – Giữa tháng 10-1946, Tổng chỉ huy Pháp ngạo mạn ra lệnh cho tướng sĩ: Đẩy nhanh quyền kiểm soát chặt trên toàn cõi Việt Nam, cả việc xuất nhập cảng.

Tại địa bàn Liên khu 4 lúc này địch có quân đóng ở Vinh và Thừa Thiên. Riêng tại Huế có 750 tên. Lực lượng vũ trang chấp hành chủ trương Liên khu ủy tích cực phòng ngự, bám chặt địch, hễ thấy chúng có động dạng phản bội cam kết thì tấn công ngay. Ngày 17-12, máy bay Pháp rà lượn khắp trời Hà Nội, rục rịch thủ đoạn đánh phá. Ngày 18-12, Bộ chỉ huy Pháp liên tiếp gửi thông điệp cho ta đòi phải đình chỉ mọi hoạt động chuẩn bị quân sự, đòi giữ quyền an ninh các thành phố.

Trưa 19-12, Liên khu 4 nhận nhiệm vụ của Ban Thường vụ Trung ương Đảng: “… Giặc Pháp đã hạ tối hậu thư đòi tước khí giới của quân đội, tự vệ, công an ta. Chính phủ đã bác bức tối hậu thư ấy. Như vậy, chỉ trong vòng 24 giờ là cùng, chắc chắn giặc Pháp sẽ nổ súng. Chỉ thị của Trung ương: “Tất cả sẵn sàng”.

Nửa đêm 19-12-1946, Trung đoàn Cao Vân nổ súng phát lệnh đồng loạt tấn công các trại lính Pháp ở Huế. Ngày 20-12 trung đoàn cùng bộ đội địa phương, dân quân tự vệ dựng chiến lũy dọc sông Hương và sông An Cựu vây hãm địch. Các đội cảm tử áp sát tấn công các lô cốt địch. Hai trái bom đánh sập khu vực phòng thủ của quân Pháp, diệt hơn 50 tên. Chúng chui xuống công sự, nhân dân giúp bộ đội lấy rơm trộn ớt bột hun ngạt hàng chục tên giặc. Những tốp lính chiếm giữ Nhà đèn, trường dòng bị bộ đội và dân quân tự vệ bao vây diệt gọn.

Thi đua với Trung đoàn Thủ Đô, bộ đội cùng nhân dân Huế vây hãm địch 50 ngày liền trong thành phố, diệt hơn 200 tên. Bộ chỉ huy Pháp vội điều 5000 quân từ Đà Nẵng ra giải vây cho Huế. Đám quân này cũng không sao tiến nhanh được, hơn 10 ngày đụng độ ở các điểm Hải Vân, Lăng Cô, Phước Tường, Mũi Né, Truồi… chúng phải bỏ mạng hơn 200 tên. Cùng thời gian, cánh quân địch từ Trung Lào theo Đường số 9 xuống Quảng Trị vấp phải những trận đánh dữ dội của Trung đoàn Thiện Thuật. Trung đoàn trưởng Hùng Việt đã tận dụng địa hình phức tạp, bố trí nhiều trận địa mìn, địa lôi đánh suốt dọc đường tiến quân của địch, kết hợp tác chiến tập trung có trọng điểm với đánh du kích gây thiệt hại nặng cho giặc.

Đoàn quân kiêu binh Pháp không ngờ được sự tình, chúng cứ dấn vào các “túi lửa” chờ sẵn ở Lao Bảo, Khe Sanh, Đầu Mầu, Cam Lộ để nhận lấy tổn thất nặng nề. Riêng trận địa lôi cầu Rào Quán đã xóa đi gần một đại đội Pháp. Chúng vội kêu máy bay đến ứng cứu. Lúc này thì đạo lính Tây hết kiêu ngạo, phải dò dẫm trên đoạn đường gần trăm cây số mất một tháng. Hơn 300 tên tử vong tại trận địa mới bám được ngoại vi Đông Hà. Khi chúng men tới thị xã Quảng Trị, lại đụng cảnh “vườn không nhà trống” ắng lặng đến rùng rợn, chúng phải chờ hội đủ quân mới dám vào sâu. Điều quân giặc nghi ngại bất chợt ập xuống, những trái bom treo trên các lùm cây, nóc cổng rớt xuống, mìn từ các hốc cây hè phố bung lên. Quan quân địch đang hốt hoảng nháo nhác, đột nhiên toàn thị xã bùng lên hàng trăm đống lửa ngùn ngụt… Trận đòn chí tử này làm quân giặc thất thần cả tháng. Cái giá cuộc hành binh quá đắt, hơn nửa số binh lính bị xóa sổ, 15 ô tô chở đầy binh lính bị thương hối hả chạy khỏi trận địa.

Giặc Pháp không dám thực hiện cuộc “Hành binh dạo mát” ra Quảng Bình. Mãi đến sáng 27-3-1947, hải quân Pháp mới tiến đến cửa Gianh và cửa Nhật Lệ. Lại một bất ngờ mới: Tàu chiến Pháp bị đánh ngay từ ngoài biển chỉ do một tiểu đội du kích đánh chặn bằng thủ pháo, bộc phá, mìn định hướng. 80 tên giặc bị giết, địch phải gọi máy bay đến yểm trợ mới tiến được vào bờ. Quân đông, vũ khí hiện đại nhưng địch cũng phải mất gần một tháng mới chiếm được Đồng Hới và hai bến cảng với cái giá 465 tên chết và hơn 10 xe quân sự bị tiêu hủy. Nhưng chúng chưa được yên, Chi đội Lê Trực đã phân nhỏ lực lượng làm nòng cốt cho dân quân du kích bám đánh suốt ngày đêm. Rất nhiều đồn bốt lẻ của địch đã bị tiêu diệt.

Sau cuộc mở màn đọ sức 90 ngày đêm với địch, quân dân Bình Trị Thiên từ thế mình, sức mình đã nhận rõ: Có thể đánh được Pháp. Tin tưởng hào hứng đón vần thơ chúc Tết của Bác Hồ:

“Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến.

Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng

Sức ta đã mạnh, người ta đã đông

Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi

Thống nhất độc lập, nhất định thành công!”.

Nguyễn Việt Phương
qdnd.vn

Chuyện đời thường của Nguyên soái G.Giu-cốp

Trong cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của nhân dân Liên Xô chống phát xít Đức xâm lược, Ghê-ô-ghi Giu-cốp là một trong số ít các vị nguyên soái tài ba lỗi lạc nhất, đóng góp công lao to lớn có tính quyết định vào chiến thắng quân thù. Tên ông đã trở nên nổi tiếng không những với các dân tộc của Liên bang Xô-viết mà còn vang khắp thế giới. Thế nhưng, trong một khoảng thời gian dài, đời sống riêng tư của ông thì không được “trơn tru” như ý sau danh hiệu được quân và dân Xô-viết phong tặng –“Nguyên soái chiến thắng”.

Mới đây, bà Ma-ga-ri-ta-con gái đầu lòng của ông đã cởi mở kể lại một số tình tiết trong cuộc sống gia đình vào “những năm tháng xa xưa ấy” với tuần báo Luận chứng và Sự kiện của Liên bang Nga.

Chuyện bắt đầu từ năm 1919

Năm 1919, Ghê-ô-ghi Côn-xtan-ti-nô-vích Giu-cốp lúc đó là Trung đoàn trưởng của Hồng quân Công nông Xô-viết, đã bị thương trong một trận kịch chiến với quân Bạch vệ phản cách mạng của tướng Côn-trắc, An-tô Ya-nin-người đồng đội của Giu-cốp đã cứu và đưa ông từ chiến trường rừng rực lửa đạn tới Xi-ri-xưn trên một chiếc xe ngựa kéo. Lúc đó người vợ chưa cưới của Ya-nin là Pô-li-na đã cùng với em gái mình là Ma-ri-a Vôn-khô-va (là mẹ của bà Ma-ga-ri-ta sau này) tới thăm ông. Thấy Giu-cốp nằm “cô đơn” trong quân y viện, họ đề nghị Ma-ri-a tới chăm sóc vị trung đoàn trưởng đang dưỡng thương này. Về sau, ông kể lại với con gái-bà Ma-ga-ri-ta: “Khi tỉnh giấc, bố thấy một cô gái có đôi mắt xanh như lá cây lưu ly”. Từ cái nhìn đầu tiên ấy, ông tuyên bố với Ya-nin: “Quả là tuyệt! Cậu hãy cưới Pô-li-na, còn tớ thì lấy Ma-ri-a”.

Tuy nhiên, Giu-cốp đã không kịp cưới Ma-ri-a. Ông được đi nghỉ dưỡng thương, còn Ma-ri-a thì trở về nhà bố mẹ. Mối tình đầu bị “tạm hoãn”. Năm 1921, Giu-cốp và Ya-nin trên đường công tác đã nghỉ đêm tại nhà của một vị mục sư ở tỉnh Vô-rô-ne-giơ. Khi họ đang ngồi uống trà thì Giu-cốp nghe thấy tiếng sột soạt. Ông nói nhỏ với Ya-nin: “Phía sau bếp này có ai đó đang cựa quậy”. Rồi đứng dậy và đi tới bếp lò, ông nói: “Nào, ai đó, hãy ra đây!”. Từ bếp lò, một cô gái vẻ luống cuống xuất hiện. Giu-cốp nhìn thẳng vào cô ta: “Cô là ai?”. Cô ta đáp: “Tôi là con gái của cha (linh mục-TG)”.Ghê-ô-ghi cười to với chiến hữu: “An-tôn, có lúc nào cậu nhìn thấy một cô con gái của cha không?”. Rồi ông mời cô ta ngồi vào bàn. “Khởi đầu” của câu chuyện đầu tiên của Giu-cốp và cô gái A-lếch-xan-đra Zui-cốp-va đã diễn ra như vậy. Rồi tự nhiên họ đã thành “đôi lứa”.

Mấy năm sau, Giu-cốp mới tìm gặp được bà Ma-ri-a Vôn-khô-va và lại thành “đôi lứa”, (có thể vì bà Zui-cốp-va không có con). Vậy là người trung đoàn trưởng mưu lược tài năng này phải “sống giữa hai mặt trận”(!). Năm 1929, bà Ma-ri-a sinh được cho ông người con gái đầu tiên-bà Ma-ga-ri-ta sau này-thì Giu-cốp muốn “thoát khỏi” bà Zui-cốp-va. Nhưng bà này đâu có chịu, bà yêu cầu để Ma-ga-ri-ta cho bà nuôi, nếu không thì bà sẽ bêu xấu ông khắp thế gian. Và sau đó bà Zui-cốp-va cũng đã viết đơn tố cáo Giu-cốp lên cấp trên khiến ông bị “cảnh cáo đảng” vì tội “lấy hai vợ”.

Trước việc này, do bà Zui-cốp-va vô sinh, nên họ đã nhận bé gái E-ra làm con nuôi năm 1928, và tới năm 1937 còn nhận thêm En-la. Hai cô gái này luôn luôn cho rằng mình là con ruột đích thực của Giu-cốp và Zui-cốp-va. Bà Ma-ga-ri-ta cũng như nhiều bà con họ hàng ruột thịt không trách điều đó, vì vào thời ấy việc “nhận con nuôi” thì sẽ bị “rắc rối to” theo pháp luật. Hơn nữa, vì bà Zui-cốp-va thực sự bị bệnh “vô sinh” nên việc nhận con nuôi cũng như “nhận thêm” con đẻ của bà Ma-ri-a là để tạo lập một gia đình đàng hoàng và chủ yếu là để giữ được Giu-cốp bên mình. Biệt hiệu “người đeo bám” được người thời đó tặng cho bà A-lếch-xan-đra Zui-cốp-va vì bà đã “có công” níu giữ Giu-cốp, quyết không cho ông “lòng thòng” với những phụ nữ khác, vì lúc đó có biết bao nhiêu người đẹp ngưỡng mộ ông.

Giu-cốp và người vợ cuối Ga-li-na Xê-mi-ô-nốp-na cùng con gái út Ma-sa. Ảnh tư liệu

Con đích thực-bố đích thực?

Bà Ma-ri-a Vôn-khô-va có được đứa con gái với Giu-cốp, rất tự hào điều này, nhưng cũng không chịu đựng nổi với tình thế lúc đó. Khi chị gái bà là Pô-li-na mất vì bệnh thương hàn, người chồng Ya-nin phải vừa chiến đấu vừa chịu cảnh “gà trống nuôi con”. Do vậy, bé Vô-lô-đi-a 3 tuổi được dì Ma-ri-a nuôi dưỡng. Và từ khi Ya-nin hy sinh trên chiến trường thì bà Ma-ri-a làm mẹ nuôi của các đứa con người chị gái… Ma-ga-ri-ta lại có thêm em nuôi nhưng vẫn chưa rõ được bố đẻ mình.

Sau một thời gian dài “nóng ruột tìm hiểu sự thật” thì Ma-ga-ri-ta được mẹ đẻ vừa cho tờ giấy chứng nhận khai sinh, ở mục bố đẻ ghi “Bố-Ghê-ô-ghi Côn-xtan-ti-nô-vích Giu-cốp”. Lập tức con gái Ma-ga-ri-ta viết thư cho bố ngoài chiến trường và được bố viết thư trả lời ngay. Từ đó bố và con luôn viết thư cho nhau trong suốt cuộc chiến tranh. Sự liên lạc qua lại giữa hai bố con được thông suốt là nhờ cô y tá Li-đa Gia-kha-rô-va. Sau mấy lần bị thương, sức khỏe ông “có vấn đề” nên cấp trên đã biệt phái một nữ y tá 19 tuổi-cô Li-đa-để trực tiếp chăm sóc ông. Và giữa họ đã xảy ra “chuyện tình cảm” khó tránh khỏi.

Trong những năm tháng lửa đạn chiến tranh khốc liệt đó, “bà đầu tiên” A-lếch-xan-đra Giui-cốp-va không để cho vị nguyên soái này yên. Bà luôn luôn “đánh thức” ông, thậm chí có lúc ra ngay chiến trường để “kiểm tra và kiềm chế” ông. Ông rất bực dọc, khổ tâm, có lần nói với cô y tá: “Li-đa, cái người luôn luôn “đeo bám” ấy lại tới quấy rầy đấy!”. Cũng may, Giu-cốp là vị danh tướng tài ba luôn luôn say sưa, đam mê suy nghĩ về chiến lược, chiến thuật để giành chiến thắng trước quân thù nên mọi cái “râu ria”, “nhỏ nhặt” đó ông đã bỏ qua.

Sau chiến tranh, người nữ y tá Li-đa gọi điện cho con gái Giu-cốp: “Ma-ga-ri-ta Ghê-ô-ghi-ép-na, tôi mời chị tới chỗ tôi dùng trà”. Ma-ga-ri-ta đến, đi vào nhà bếp thấy một người đàn ông rất giống mình bèn hỏi nhỏ Li-đa: “Ai đấy?”. Cô y tá cười: “Chính là bố chị đấy!”. Hai bố con gặp nhau hàn huyên tâm sự ở “nhà một người khác”. Nhưng rồi vị nguyên soái này cũng buộc phải rời cô y tá Li-đa. Bà Giui-cốp-va đã viết tới 10 bức thư tố cáo sự việc đó, khiến cấp trên phải thải hồi cô. Khi Li-đa bị đưa ra khỏi Quân y viện của Bộ Quốc phòng và trả về Mát-xcơ-va, ông đã giúp đỡ cô tìm được việc làm và một căn hộ ở khu chung cư. Về sau bà đã kết duyên với một vị trung tá về hưu.

Thực ra, Nguyên soái Giu-cốp đã rất nhiều năm phải sống với “người mình không yêu”. Còn bà Giui-cốp-va, ngoài chuyện vô sinh lại là người thích mua sắm các đồ dùng xa xỉ, khoe khoang của cải, hợm hĩnh… Ông rất khổ tâm nhưng vẫn không dứt ra được. Có lẽ cũng do vậy mà ông đã “ga lăng” với một vài phụ nữ thấy “ý hợp tâm đồng”. Ví như chuyện ông với một bác sĩ thạo nghề xoa bóp chữa trị bệnh viêm rễ thần kinh ở một bệnh viện cao cấp của quân đội. Nữ bác sĩ Ga-li-na Xê-mi-ô-nốp-na này tận tình xoa bóp chữa trị cho ông, kết quả nhiều lần hoàn toàn “như ý”. Do hằng ngày “lửa gần rơm” nên họ đã bén duyên. Kết quả của “cuộc tình lãng mạn” này là cô gái Ma-sa ra đời vào năm 1957, là con gái út của ông.

Lần này thì bà Giui-cốp-va “mạnh tay” hơn viết đơn lên Đoàn Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô yêu cầu đày kẻ chia uyên rẽ thúy kia tới Xi-bia. Đáp lại, vị nguyên soái này đã thu gói đồ đạc của mình rời khỏi gia đình đó. Đây là một dịp để Khơ-ru-sốp (lúc đó là Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô) lợi dụng để đả kích Giu-cốp. Vốn hiềm khích với vị nguyên soái được quân và dân Xô-viết yêu kính, ông ta đã đưa “vụ án” về đạo đức và đứa con gái ngoài giá thú của Giu-cốp ra xem xét ở Đoàn Chủ tịch (sau này là Bộ Chính trị-TG).

Vậy là, trong cái gia đình “nhiều vợ” của vị nguyên soái lừng danh này có 4 cô con gái mà ai cũng cho mình là con đích thực của bố Giu-cốp. Nhưng thực ra chỉ có hai người, Ma-ga-ri-ta giống bố như đúc. Tuy về sau tất cả họ đều “ăn nên làm ra”, nhưng sự gắn bó ruột thịt thì “chưa được như ý”.

Để giữ mãi kỷ niệm đầy ý nghĩa về người cha nổi tiếng của mình, người con gái cả đích thực Ma-ga-ri-ta đã lập ra Quỹ “Ghê-ô-ghi Giu-cốp”. Bà nói: “Những gian kế mà Khơ-ru-sốp đã bày trò để mưu hại Giu-cốp chưa thấm vào đâu so với việc ngày nay một vài nhân vật có tiếng cố tình gièm pha tên tuổi của Ghê-ô-ghi Giu-cốp. Do vậy, tôi quyết định lập ra quỹ mang tên cha tôi để quảng bá cho di sản của ông”.

Quỹ này đã được nhiều cá nhân và tổ chức xã hội của nước Nga nhiệt tình tham gia. Và kết quả đầu tiên rất thành công là xây dựng được tượng Giu-cốp trên quảng trường Ma-nhét ở Mát-xcơ-va do nhà điêu khắc Via-trê-xláp Clư-cốp tạc tượng. Ông đã lấy hình mẫu của người con gái đích thực của vị Nguyên soái Chiến thắng-bà Ma-ga-ri-ta để tạo mẫu bức tượng bán thân đặc biệt này.

Nguyễn Hữu Dy
qdnd.vn

Con trai “thi tướng” Huỳnh Văn Nghệ nói về bài thơ “Nhớ Bắc”

QĐND – Bài thơ “Nhớ Bắc” của “thi tướng” Huỳnh Văn Nghệ đã trở thành một tác phẩm kinh điển của văn học Việt Nam. Sức sống của bài thơ, nhất là hai câu “Từ độ mang gươm đi mở cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long” được coi là “thần thi”, một lần nữa được thổi bùng lên như một hào khí nhân dịp thủ đô Hà Nội nghìn năm tuổi. Tuy nhiên, hoàn cảnh ra đời của bài thơ cùng những dị bản của hai câu “thần thi” trên các phương tiện thông tin đại chúng hiện nay đang có nhiều cách hiểu khác nhau. Chúng tôi đã gặp ông Huỳnh Văn Nam, Tổng giám đốc Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh, trưởng nam của gia đình “thi tướng” Huỳnh Văn Nghệ. Ông Nam đã cung cấp cho chúng tôi nhiều tư liệu có giá trị to lớn về thân thế, sự nghiệp của cụ Huỳnh Văn Nghệ, trong đó có tài liệu về bài thơ “Nhớ Bắc”.

PV: Theo tìm hiểu của chúng tôi về xuất xứ của bài thơ, thì hiện nay đang có hai cách lý giải. Những tài liệu nghiên cứu của các tác giả: Nguyễn Tý, Huy Thông, Trần Xuân Tuyết… cùng nhiều tài liệu trích dẫn khác thì cho rằng, bài thơ được Huỳnh Văn Nghệ sáng tác tại Chiến khu Đ năm 1946 trong thời kỳ ông chỉ huy lực lượng kháng Pháp ở đó. Trong cuốn sách “Huỳnh Văn Nghệ-tác giả và tác phẩm” do Nhà xuất bản Đồng Nai ấn hành năm 2008, tác giả Bùi Quang Huy lại cho rằng, bài thơ này ra đời từ năm 1940 ở Sài Gòn. Vậy tài liệu nào là chính xác?

Ông Huỳnh Văn Nam: Tôi là trưởng nam nên hầu hết các tài liệu lịch sử của gia đình do ba tôi để lại, trong đó có bài thơ “Nhớ Bắc” tôi vẫn lưu giữ cẩn thận, trong đó có một bản chép tay do chính ba tôi viết. Ở bản chép tay này, bài thơ có tên là “Tiễn bạn về Bắc”, đề năm sáng tác là 1940, tại ga Sài Gòn. Như vậy bài thơ “Nhớ Bắc” ra đời từ năm 1940 tại Sài Gòn là hoàn toàn chính xác.

“Thi tướng” Huỳnh Văn Nghệ và con trai Huỳnh Văn Nam thời nhỏ. Ảnh chụp lại.

Kết hợp với nhiều nguồn tư liệu khác cùng lời kể của ba tôi thì hoàn cảnh ra đời bài thơ là thế này: Vào năm 1940, thực dân Pháp khánh thành tuyến xe lửa từ Nam ra Bắc đầu tiên. Nhân sự kiện quan trọng này, Sở Hỏa xa Sài Gòn có chủ trương ưu tiên vé cho nhân viên đang công tác tại sở được đi tham quan Hà Nội bằng xe lửa. Do lượng người đăng ký quá đông, trong lúc vé ưu tiên có hạn nên Sở Hỏa xa Sài Gòn phải tổ chức bốc thăm. Ba tôi (thời kỳ này đang công tác tại Sở Hỏa xa) may mắn bốc trúng thăm được đi. Tuy nhiên, đến phút chót thì ông quyết định nhường vé cho một người bạn cùng phòng vì thương bạn. Khi tiễn bạn ra ga lên tàu, từ tâm trạng bồi hồi, xúc động, ông đã sáng tác bài thơ này. Những chất liệu tạo nên cảm xúc cho bài thơ xuất phát từ những câu chuyện kể của người bạn về Hà Nội chứ thực ra trước khi bài thơ ra đời, ba tôi chưa một lần đặt chân đến Hà Nội.

PV: Trong bản chép tay này, không chỉ có đầu đề bài thơ mà một số câu, từ trong đó cũng khác so với một số dị bản đang phổ biến hiện nay. Đặc biệt, hai câu “thần thi” được chép là “Từ độ mang gươm đi giữ nước/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”. Như vậy là nguyên tác của bài thơ là “giữ nước” chứ không phải “mở cõi”?

Ông Huỳnh Văn Nam: Từ nguyên tác đến các văn bản phổ biến sau này đã có sự chỉnh sửa. Hai câu thơ này có rất nhiều dị bản, nhất là các từ đầu và cuối. Nguyên tác của nó là “Từ độ mang gươm đi mở cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”. Nhưng bản in đầu tiên khi bài thơ đến với công chúng thì hai câu thơ này được sửa là: “Từ thuở mang gươm đi mở cõi/ Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long”. Người sửa là nhà thơ Xuân Diệu. Bài thơ sau đó đã nhanh chóng khẳng định vị trí của nó, trở thành vật “gối đầu giường” của thanh niên, thôi thúc ý chí Nam tiến bảo vệ Tổ quốc. Sau này ba tôi có kể lại, nhiều chiến sĩ từ miền Bắc vào Nam đã mang cho ông xem bản in bài thơ đã được chỉnh sửa. Ông đã nói với mọi người về văn bản nguyên tác.

Cuối những năm 50 của thế kỷ hai mươi, ba tôi ra Bắc nhận công tác ở Cục Quân huấn, Bộ Tổng tham mưu. Gia đình tôi ở tại ngôi nhà số 10, phố Lý Nam Đế. Nhiều người hay quen gọi đây là “Phố nhà binh”. Tôi còn nhớ có lần một nhà văn ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội đến nhà gặp ba tôi xin được đăng bài thơ này trên tạp chí theo bản thảo nhà thơ Xuân Diệu đã sửa. Ba tôi đã đồng ý với đề nghị này. Cũng bởi thế nên bài thơ theo văn bản đã chỉnh sửa được lưu truyền sâu rộng trong các tầng lớp bạn đọc từ đó về sau.

Cũng cần nói thêm là trong từng giai đoạn, do hoàn cảnh xã hội, lịch sử, hai câu thơ được lưu truyền trong dân gian với nhiều dị bản khác nữa. Chẳng hạn trong giai đoạn kháng chiến, nhiều cán bộ, bạn bè, đồng đội đã đề nghị ông thay hai chữ “mở cõi” bằng “giữ nước” để phù hợp với tinh thần hiệu triệu toàn dân đánh giặc. Bản chép tay này (in kèm bài viết) được chép trong hoàn cảnh như vậy. Cũng có người thì đề nghị thay hai chữ “mang gươm” bằng “mang cày” cho phù hợp với lịch sử khai khẩn ở phương Nam. Đến nay, hai câu thơ đã được phổ biến theo đúng nguyên tác: “Từ độ mang gươm đi mở cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long” và đã được khắc bia.

PV: Bài thơ “Nhớ Bắc” đã trở thành thi phẩm kinh điển trong đời sống tinh thần hàng triệu người dân Việt. Là con trai của thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, cảm nhận riêng của ông về bài thơ “Nhớ Bắc” như thế nào?

Ông Huỳnh Văn Nam: Cảm nhận  chung đó là chất hào khí của bài thơ, đặc biệt ở hai câu “thần thi”. Hào khí Nam Bộ xuất phát từ hào khí Thăng Long. Hào khí ấy được đúc kết từ tư tưởng, tâm hồn dân tộc từ ngàn đời nay. Dù có đi bốn phương trời, người dân Việt luôn luôn hướng về trái tim đất nước. Với riêng tôi, tôi tự hào khi được là người tiếp nối truyền thống ông cha. Tôi đã viết một bài thơ ngắn, họa lại bài thơ của ba tôi:

Ông tôi xưa mang gươm đi mở cõi

Cha tôi làm thơ thương nhớ đất Thăng Long

Còn tôi suốt hai mùa mưa nắng

Hát mãi về em Hà Nội trái tim hồng!

PV: Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này!

Thanh Kim Tùng (thực hiện)
qdnd.vn

Có hay không nghĩa trang đầu tiên của Liên khu 5?

QĐND – Tháng 5-2010, Trung tướng Nguyễn Trung Thu, Tư lệnh Quân khu (nay là Phó tổng tham mưu trưởng QĐNDVN) nhận được thư của một cựu chiến binh thông báo về nghĩa trang QĐNDVN do Liên khu 5 xây dựng tại sân vận động Quy Nhơn năm 1955 đã bị trôi vào lãng quên. Cũng thời gian này, Đại tướng Nguyễn Quyết, Trung tướng Nguyễn Đôn, đã gửi thư đề nghị Chính phủ, Bộ Quốc phòng xây dựng tượng đài chiến thắng của quân dân Liên khu 5 tại Quy Nhơn. Trung tướng Nguyễn Trung Thu đã chỉ đạo các cơ quan chức năng vào cuộc.

Dấu ấn giữa lòng dân

Trò chuyện với chúng tôi tại nhà riêng số 6 Đội Cấn, thành phố Quy Nhơn, Đại tá CCB Hoàng Liên sôi nổi: “Ngày đó, mặc dù bận rộn trăm công nghìn việc trước khi thực hiện chuyển quân ra miền Bắc theo Hiệp định Giơ-ne-vơ, cùng với làm các công trình dân sinh khác, Bộ tư lệnh Liên khu 5 đã chủ trương xây dựng một nghĩa trang liệt sĩ đầu tiên của Liên khu ở thị xã Quy Nhơn, còn gọi là Nghĩa địa QĐNDVN, tập trung một số hài cốt cán bộ, chiến sĩ hy sinh ở các chiến trường về nhằm mục đích ghi nhớ công lao của các liệt sĩ và để lại dấu ấn lịch sử trong lòng đồng bào”. Trải lên bàn 4 bức ảnh mà ông còn giữ được về nghĩa trang, ông Liên không dứt mạch ký ức: “Những ngày chuẩn bị tập kết sôi động lắm. Tôi cùng các anh trong Ban 300 thuộc Phòng Chính trị Liên khu rong ruổi đến các nơi tuyên truyền chủ trương của Đảng về Hiệp định Giơ-ne-vơ, khi trở về lại Quy Nhơn thì việc xây dựng nghĩa trang đã xong. Tôi may mắn được chọn kéo cờ trong buổi khánh thành. Sau lời diễn văn của đồng chí Nguyễn Đôn, Phó tư lệnh Tham mưu trưởng Liên khu, tôi bước vào vị trí. Các anh trong tổ chụp ảnh của phòng đã kịp bấm máy và tặng cho tôi những tấm ảnh này. Tập kết ra Bắc, tôi gói những tấm ảnh vào giấy bóng, cất sâu trong rương. Khi quay vào Nam chiến đấu thì gửi đồ đạc ở nhà hàng xóm. Sau ngày giải phóng tất cả đều bị thất lạc và hư hỏng vậy mà những tấm ảnh vẫn còn nguyên”.

Lễ khánh thành Nghĩa địa QĐND Việt Nam (năm 1955).

Khi được hỏi, sao có trong tay nhân chứng rõ ràng thế mà không báo cho các cơ quan chức năng sớm hơn, nguyên Phó hiệu trưởng chính trị Trường Văn hóa Quân khu 5 trả lời rằng, mới đây gặp lại những người có mặt tại nghĩa địa năm xưa, các ông mới quyết định lên tiếng với nguyện vọng mong được xây dựng một tượng đài nơi đây để nhắc nhở, giáo dục con cháu mai sau.

Theo ông Hoàng Minh Tùng, nguyên chiến sĩ Đại đội 305, Tiểu đoàn 71 (công pháo) trực thuộc Phòng Tham mưu Liên khu, người trực tiếp xây dựng nghĩa trang hiện ở 94 Nguyễn Thái Học thì việc xây dựng công trình này kéo dài trong khoảng 100 ngày, tức là cuối năm 1954 đến tháng 4-1955 thì xong. Vị trí được chọn là khu đất rộng chừng 300m2 một phần sân vận động (nay là khu vực sân ten-nít), tiếp giáp chùa Long Khánh và các con đường lớn của thành phố, đặc biệt không xa chợ Quy Nhơn và trường Quốc học. Chính nhờ vị trí trung tâm này mà từ khi xây dựng đến sau khi khánh thành, nghĩa trang lúc nào cũng có người đến thăm viếng, thắp hương. Có chuyên môn về ngành công binh, ông Tùng trực tiếp chỉ đạo lực lượng lên thành Bình Định tháo gỡ đá ong về làm khoảng 120 mộ, rất kỹ lưỡng với những tấm đá được kê kích vuông vắn, sâu xuống mặt đất, đồng thời lại dựng những tấm khác kê nhô lên trên gần cả mét. Trước khi đưa ra nghĩa trang, hài cốt liệt sĩ từ các nơi chuyển về đựng trong các tiểu bằng sành hoặc gỗ có tên và không có tên, tập trung ở hội quán chùa Long Khánh, có lập bàn thờ, phủ cờ Tổ quốc, hương khói nghi ngút. Hội quán lúc đó chỉ là căn nhà nhỏ sơ sài (nay đã sửa sang xây dựng lại bề thế). Ngoài hơn 100 chiến sĩ của Đại đội 305 trực tiếp xây dựng, còn có các cháu học sinh đến khắc bia và sơn màu, các mẹ, các chị nấu nước. Nhà chùa do Hòa thượng Thích Tam Hoàng trụ trì đã tổ chức cầu siêu vong linh các liệt sĩ nhiều ngày liền.

Có còn hài cốt liệt sĩ ở sân vận động?

Theo lời giới thiệu của Hòa thượng Thích Nguyên Phước, trụ trì chùa Long Khánh, chúng tôi tìm đến khuôn viên nhà chùa gặp Hòa thượng Thích Nguyên Trạch, hiệu Giác Lâm, người đã sống ở đây thời Pháp thuộc. Hòa thượng Thích Nguyên Trạch nói: “Thời điểm làm nghĩa địa tôi có biết, bởi tấp nập lắm. Vả lại ranh giới giữa nhà chùa và sân vận động chỉ là những bụi cây lúp xúp, thấy rõ mồn một. Qua năm 1956 thì chế độ Ngô Đình Diệm bắt đầu cho di dời. Họ mời tôi ra cầu siêu. Sau lễ là cất bốc, họ làm vội vàng nhưng trật tự, không thấy dùng xe xúc ủi. Mấy ngày sau thì đã trao sân cho bên sở thể thao. Đa số người vùng này là Phật tử, coi trọng tâm linh, việc vùi lấp hài cốt dù là bên nào cũng khó có thể xảy ra…”.

Khiêng bia vào nghĩa địa (năm 1955). Ảnh tư liệu

Chắc chắn không còn hài cốt nào ở sân vận động hiện nay cũng là ý kiến của ông Nguyễn Hậu, hiện ở thôn Vĩnh Hy, Phước Lộc, Tuy Phước (Bình Định). Ông Hậu là y tá của Thị đội Quy Nhơn, đáng lẽ đã tập kết ra Bắc chuyến cuối cùng nhưng do bị sốt cao nên ở lại. Ông nhớ chính xác rằng, ngày chế độ Ngô Đình Diệm dời hài cốt liệt sĩ đi nơi khác là đúng dịp thanh minh (tiết tháng Ba). Chúng dùng xe GMC, có lẽ đến 5, 6 chiếc cất bốc đưa vào các thùng đạn. Ban đầu chúng làm có vẻ thận trọng, mỗi hài cốt kể cả bia mộ bỏ vào một thùng đạn bằng gỗ, nhưng ngày hôm sau trước sự đấu tranh của quần chúng nhân dân không cho di dời, chúng làm hối hả, dùng đèn pha rọi làm luôn đêm của ngày hôm sau để đưa bằng hết các liệt sĩ ra khỏi nghĩa địa. Ông Hậu khẳng định, chắc chắn số hài cốt bị thất lạc, hoặc không có tên là do chúng bỏ lẫn lộn vào thùng đạn, hoặc bị thất lạc tại nghĩa địa Ghềnh Ráng bởi thời gian và cát bụi phủ lấp.

Tìm hiểu chúng tôi được biết, qua 3 lần di dời từ các nơi về nghĩa trang; chính quyền ngụy di chuyển ra khu vực Trại gà (nay là phường Ghềnh Ráng) và Ty thương binh xã hội đưa hài cốt liệt sĩ về Nghĩa trang Quy Nhơn nên số liệt sĩ có tên bị thất lạc nhiều. Hiện nay ở Nghĩa trang Quy Nhơn chỉ còn 41 mộ có tên (Trung đoàn 108: 32 mộ; Trung đoàn 803: 9 mộ) và 58 mộ không có tên. Các Trung đoàn 120, 95 từng có liệt sĩ quy tập thời chống Pháp nhưng không thấy tên. Tiếc là bản danh sách các liệt sĩ được chôn cất lần đầu hiện nay không còn ai lưu giữ nên việc xác minh danh tính là điều rất khó khăn.

Trao đổi với chúng tôi, Đại tá Nguyễn Hữu Chỉnh, Phó chủ nhiệm Chính trị Quân khu 5 cho biết: Bộ tư lệnh Quân khu 5 đã có công văn gửi UBND tỉnh Bình Định nhằm kết luận cuối cùng có nghĩa địa QĐNDVN tại Quy Nhơn vào thời điểm 1954-1955 để UBND tỉnh chỉ đạo các ban ngành chức năng thực hiện theo Nghị định 16/CP của Thủ tướng Chính phủ ngày 26-1-2007 về việc ” Tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, quản lý mộ nghĩa trang, đài tưởng niệm…”. Việc xây dựng tượng đài quy mô cấp tỉnh hay cấp Nhà nước sẽ do các cấp có thẩm quyền quyết định.

Ở sân vận động Quy Nhơn, cuộc sống vẫn tiếp diễn và sôi động hằng ngày. Tôi thầm nghĩ vong linh các liệt sĩ từng nằm đây 55 năm trước ắt hẳn đã có thể mỉm cười nơi chín suối vì đồng đội và nhân dân đã luôn nhớ về họ như nhớ về một giai đoạn lịch sử bi tráng của quân và dân Liên khu 5 anh dũng.

Hồng Vân
qdnd.vn