Thống trị về hành chính
Chiếm Hà Nội năm 1883, ngoài các hành động quân sự, việc đầu tiên mà người Pháp quan tâm là tổ chức lại bộ máy cai trị thành phố theo kiểu mới. Một viên công sứ được chỉ định làm công việc quản lý hành chính thành phố. Đó là ông Bon-nan (Bonnal), người đã chọn một ngôi nhà trên phố Hàng Gai làm trụ sở. Trên tấm ảnh chụp năm 1884 ta còn thấy ngôi nhà trước cửa treo tấm biển hình bầu dục ghi tên “Tòa công sứ Pháp” (vị trí nhà này về sau là nhà in Lê Văn Phúc, nay là Công ty sản xuất và xuất khẩu Thủ công mỹ nghệ, 80 Hàng Gai). Công việc của công sứ buổi đầu chủ yếu là việc trị an và ổn định việc chiếm đóng của người Pháp. Về sau tòa công sứ lại được chuyển về phố Nhà Chung, gần với dinh cơ của Tổng đốc Hà Nội. Còn cảnh binh Pháp thì đóng tại hai ngôi nhà xây kiểu Tàu ở phố Hàng Bồ và Hàng Bè. Nhưng các ngôi nhà đó quá đổ nát nên đến năm 1893 lại phải chuyển sang đóng tạm ở phố Cầu Gỗ và trên đất trường thi hương cũ của Hà Nội. Mãi đến tháng 9-1904, doanh trại chính thức của cảnh binh mới được xây dựng trên đất trường thi cũ, để trở thành phố Trường Thi.
Tòa Công sứ Pháp ở phố Hàng Gai. Ảnh tư liệu
Nhưng Hà Nội không thể duy trì lối cai trị như các tỉnh, mà phải được tổ chức như các thành phố ở châu Âu. Vì vậy, ngày 19-7-1888 Thống sứ Bắc Kỳ ký quyết định thành lập Hội đồng thị chính thành phố Hà Nội và chỉ định một viên đốc lý trong thời hạn 3 năm. Cùng lúc đó, chính quyền bảo hộ Pháp yêu cầu triều đình Huế chuyển Hà Nội thành lãnh thổ của Pháp tức là thành khu nhượng địa, do người Pháp trực tiếp cai trị, khác với các tỉnh khác ở Bắc Kỳ là đất bảo hộ (theo dụ ngày 1-10-1888 của vua Đồng Khánh). Địa giới Hà Nội cũng được mở rộng, năm 1899 phần đất còn lại của hai huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận và một số xã thuộc hai huyện Từ Liêm, Thanh Trì được nhập vào thành phố thành khu ngoại thành. Năm 1915, Pháp đổi tên khu này thành huyện Hoàn Long, nhưng lại nhập vào tỉnh Hà Đông. Đến năm 1942, huyện Hoàn Long gồm 8 tổng, 60 xã được nhập lại vào thành phố, gọi là Đại lý đặc biệt Hà Nội, tồn tại cho đến năm 1945.
Viên đốc lý Hà Nội do Thống sứ Bắc Kỳ chỉ định, về sau do chính Toàn quyền Đông Dương quyết. Ông đốc lý gọi theo tiếng Pháp là “công sứ-thị trưởng” (résident-maire), có nghĩa là ông ta chỉ như một viên công sứ cai trị một tỉnh của xứ bảo hộ, không có quyền quyết định về ngân sách, mà phải theo chỉ thị của Thống sứ Bắc Kỳ.
Hội đồng thị chính đầu tiên gồm 12 người Pháp, 2 người Việt và 2 người Tàu. Họ họp 4 lần mỗi năm, và quyết định của nó chỉ có giá trị thực hiện sau khi được Thống sứ chuẩn y. Tòa thị chính tất nhiên có một thành huy với một câu châm ngôn bằng chữ La-tinh rất kỳ quặc, biểu trưng cho tính tự trị của thành bang phương Tây, nhưng lại phụ thuộc chặt chẽ vào chính quyền cấp trên. Châm ngôn của Hà Nội là Dislecta fortitudine prosfera, có thể là tiếng La-tinh của các giáo sĩ Dòng Tên thế kỷ 17, nhưng thực ra nghĩa của nó không rõ ràng, có thể suy diễn theo nhiều cách, hoặc do viết sai chính tả. Có thể hiểu là “Cái ta muốn được phát hiện bằng lòng dũng cảm”, cũng có thể hiểu “Của cải ta mong muốn chỉ đạt được bằng lòng dũng cảm”. Thành huy của Hà Nội là hình tượng hai con rồng quấn hai bên thanh kiếm đâm xuống hồ (truyền thuyết về Lê Lợi), trên có một mặt trời màu đen, có tường thành bao quanh.
Từ năm 1891, hội đồng thị chính được cử tri đoàn bầu lên, được chia thành hai đoàn: Cử tri đoàn người Pháp, bầu ra 10 ủy viên bằng bầu cử phổ thông trực tiếp và một cử tri đoàn “bản xứ”, chỉ những người đóng thuế đến một mức nào đó mới có quyền đi bầu. Cử tri đoàn bản xứ bầu ra 4 ủy viên người Việt, không có người Tàu nữa. Họ không đại diện cho ai vì đều là những người thuộc tầng lớp giàu có mới nổi lên, phần lớn đã Pháp hóa và gắn với hệ thống thuộc địa, bảo đảm sự giàu sang của họ. Cho nên, các ủy viên này không gây trở ngại cho công việc cai trị vì người Pháp vẫn giữ quyền quyết định.
Nhà sử học Pháp Phi-líp Pa-panh (Philippe Papin), khi tìm hiểu lịch sử Hà Nội đã lưu ý đến hình ảnh ông hội đồng thị chính Nguyễn Lễ, sinh năm 1895 ở Bắc Ninh, du học ở Pháp và trở về Việt Nam năm 1914 với tấm bằng kỹ sư cho phép ông ta vào làm ở Hãng rượu Đông Dương. Năm 1926, ông tham gia Hội đồng thị chính thành phố Hà Nội, biểu quyết một cách ngoan ngoãn mọi quyết định do người Pháp đưa ra, rồi nhờ sự ủng hộ của họ, đã trở thành người đứng đầu hướng đạo sinh và ra tờ bán nguyệt san Thẳng Tiến, in đến 1.500 bản. Rõ ràng Nguyễn Lễ và các đồng nghiệp của ông không có cái gì chung với người dân thường thành phố. Có lẽ vì thế mà nhà văn Vũ Trọng Phụng đã dùng hình mẫu này để xây dựng nhân vật trong cuốn tiểu thuyết Giông tố.
Nhà số 80 Hàng Gai ngày nay. Ảnh tư liệu.
Hội đồng thị chính quản lý thành phố Hà Nội trong 60 năm. Nó có phương tiện để đạt tham vọng của mình, vì tòa Thống sứ Bắc Kỳ không muốn mang gánh nặng cai trị thành phố Hà Nội, từ năm 1891 đã giao cho nó quản lý phần thu trực tiếp (thuế đất đai, thuế môn bài và thuế thân). Nhưng các chương trình đô thị hóa, xây dựng và phát triển thành phố rất tốn kém, và tòa thị chính vì thiếu tiền, buộc phải vay mượn, tăng đảm phụ khiến thuế khóa thêm nặng nề. Tăng thuế, khủng hoảng tài chính và các vụ bê bối tạo thành cái nền của lịch sử tòa thị chính Hà Nội.
Bị chiếm đất đai
Trước khi người Pháp đến, 15% đất đai thuộc khu buôn bán của thành phố Hà Nội, cùng với 55% đất đai vùng ngoại vi, đều thuộc sự quản lý của tập thể cộng đồng dân cư địa phương. Sau khi thành lập, Hội đồng thị chính tìm cách chiếm đoạt những đất đai đó nhằm thực hiện chính sách đô thị hóa và xây dựng các công trình công cộng. Được nhà cầm quyền bảo hộ chấp thuận năm 1903, tòa thị chính tuyên bố từ nay sẽ là chủ sở hữu duy nhất những đất công làng xã thuộc thành phố. Đường lối của người Pháp được tiến hành theo ba giai đoạn: Trước hết là tịch thu đất công, rồi cộng đồng người Pháp tìm cách mua lại ồ ạt đất tư, cuối cùng tòa thị chính thi hành chính sách cấm xây dựng đối với người bản xứ, bị coi là làm mất mỹ quan và kém vệ sinh.
Tòa thị chính mở một cuộc “săn lùng đất công” rộng lớn, chỉ trong mấy tháng đã tịch thu gần một phần ba số đất công (2.333 thửa trên 8.528 thửa). Nhưng người dân thành phố đã nhanh chóng phản ứng lại, với sự đồng lõa của chức sắc địa phương. Họ làm giấy chứng nhận các đất công đó thực tế là đất tư, và nộp đơn kiện khiến tòa thị chính lúng túng, không thể trả tiền để chuộc lại và cũng không thể thắng kiện được. Đành phải đi đến thỏa hiệp: Tòa thị chính sẽ thuê những đất công đó, khiến nó trở thành “đất của thành phố”, còn người chiếm hữu vẫn được sử dụng như cũ. Như vậy, người chủ sở hữu có một vị thế hợp pháp và thành phố, ngoài việc được thu tiền thuê đất, còn đảm bảo là trên đất đó sẽ nhanh chóng được xây dựng nhà gạch, nhằm loại bỏ nhà tranh và những kiến trúc tạm bợ. Tiếp đấy, do ngân sách thiếu hụt, thành phố phải không ngừng bán lại những mảnh đất thuộc thành phố cho dân, mà ưu tiên bán cho những người đã thuê sẵn. Năm nhiều năm ít, việc cho thuê đất và bán đất công xưa đã đem lại 5% cho ngân sách hằng năm của thành phố.
Tòa Thị chính thành phố. Ảnh tư liệu
Trong các khu phố nội thành, tình hình có khác vì đất ở đây nằm trong quy chế đất tư. Đến năm 1927, 4.000 người Pháp và Âu đã chiếm hữu một nửa diện tích hiện có, còn lại 120.000 người Việt bị dồn vào trong 45% đất đai. Người Hoa chiếm 5% dân số, nhưng không phải là những chủ đất lớn, vì họ thích đầu tư vào việc buôn bán đem lại nhiều lời lãi hơn. Diện tích trung bình của các chủ sở hữu là 265m2 đối với người Việt, 504m2 đối với người Hoa và 2.037m2 đối với người Âu. Trong số này, gia đình Ê-mi-năng-tơ (Éminente) chiếm 46 mảnh đất và 6ha, gia đình Đờ-măng-giơ (Demange) chiếm 19 mảnh và 2,5ha, nhà Vi-téc-bô (Viterbo) 1,5ha liền một mảnh trên đại lộ Găm-bét-ta (Gambetta) (Trần Hưng Đạo), hiệu tạp hóa Đờ-bô (Debeaux) có 16 mảnh và 2ha, nhà Đờ-lút-xtan (Deloustal) 6,5ha…
Nhưng trong những khu phố khá giả, vẫn có những chủ đất lớn người Việt. Lê Văn Phúc, người đã mở nhà in ở số 80 Hàng Gai đã có 3.000m2 đất, nhà doanh nghiệp Bạch Thái Bưởi có gần 4.000m2, Hoàng Gia Luận có gần 6.000m2 liền một mảnh, và Vũ Thị Tín có hơn một héc-ta ở ngoại ô phía nam thành phố. Trong 6 mảnh đất tư có diện tích hơn một héc-ta, thì một của người Pháp, 2 của người Hoa và 3 của người Việt. Người Pháp chiếm một nửa đất đai thành phố, nhưng không phải chỉ có họ. Cho nên trên bốn con đường tiêu biểu cho khu phố Tây là đại lộ Gambetta (Trần Hưng Đạo) và Gia Long (Hàng Bài), đường Pôn Be (Paul Bert) (Tràng Tiền) và Thợ Nhuộm, những doanh nhân, luật sư, giáo sư, bác sĩ người Việt cũng sở hữu 42 mảnh đất và gần 20% đất đai. Đó là những nhân vật mà người Pháp hy vọng có thể dựa vào để thiết lập nền bảo hộ của mình. Nhìn chung, người Pháp và giới thượng lưu Việt chiếm hai phần ba đất đai thành phố, điều đó minh họa rõ nét bản chất của chế độ thuộc địa.
Nhiều vị ủy viên Hội đồng đã mua đất của thành phố với giá rẻ mạt, rồi chỉ cần một chữ ký để chuyển đổi rồi bán lại đắt hơn vài tuần sau. Hệ thống đó phổ biến dưới thời thuộc địa đã khiến cho nhiều người trở nên giàu có. Năm 1896, viên kế toán tòa thị chính bị tù vì biển thủ. Năm 1905, nhà chức trách cấp trên buộc phải giải tán Hội đồng thị chính và kiểm soát chặt chẽ tòa thị chính. Một vị ủy viên Hội đồng người Pháp là bác sĩ Le Lan đã vạch trần mọi thủ đoạn làm giàu của các nhân viên xung quanh ông đốc lý, bắt đầu từ ông chủ sự lục lộ Ma-la-ba (Malabar), mà tên tuổi đã xuất hiện trong mọi vụ bê bối thời đó.
Mâu thuẫn trong chính sách cai trị
Trong thời gian đầu, chính quyền thuộc địa tiếp tục sử dụng các quan lại người Việt thuộc hai huyện của thành phố, để quản lý công việc thường ngày như thu thuế, điều tra, xử án, giải quyết tranh chấp… Nhóm giúp việc nhỏ đó chỉ có 11 người gồm tri huyện, 4 thư lại và 6 lính. Vị thế của họ thật chông chênh vì họ vừa bị nhà chức trách thành phố kiểm soát, lại nằm dưới sự quản trị của tổng đốc thành phố, mà ông này lại thuộc về triều đình Huế.
Từ tháng ba 1889, Hà Nội trở thành của Pháp, nha môn tỉnh được chuyển đi, kéo theo sự ra đi hàng loạt của các quan và sự lưu tán của tầng lớp nho sĩ. Mãi đến tháng Sáu năm 1896, các nha môn huyện mới được xóa bỏ, thay bằng một quan chức mới gọi là hiệp lý, giữ vai trò liên kết với tòa thị chính Pháp. Nhưng vừa lập ra, các chức trách của hiệp lý đã bị bãi bỏ, vì người ta nhận ra ngay rằng nó không cần thiết, vì từ đây người Việt ở Hà Nội được đặt dưới sự xét xử của tòa án Pháp (tuy họ không có quốc tịch Pháp), cho nên sự can thiệp của pháp luật bản xứ là vô dụng. Cùng lúc, thành phố được áp dụng chế độ pháp lý làm nổi lên đặc tính riêng của nó: Một người Việt ở thành phố không bị xét xử như người dân ở các tỉnh, quyền của họ không được bảo đảm bằng những điều luật như nhau.
Trừ lĩnh vực chính trị, người Hà Nội như vậy đã được pháp luật bảo vệ. Hồ sơ lưu trữ còn đầy những bản khiếu kiện của người dân chống lại người Pháp hay nhà chức trách thành phố. Hà Nội có luật sư của mình, những người này không bỏ qua khách hàng người Việt khi họ trả tiền nhiều và nhanh chóng, tức là tầng lớp thượng lưu bản xứ. Ngoài ra, nhiều người Hà Nội đã biết khai thác sự trì trệ ngập ngừng và những mâu thuẫn nội bộ của chính quyền Pháp đôi khi bị tê liệt. Điều đó thấy rõ ở sự tranh chấp giữa viên cảnh sát, người biết rõ kẻ tình nghi phạm tội, với ông quan tòa, vì không có bằng chứng, vẫn tuyên bố tha bổng. Người Việt Nam đã lợi dụng, dựa vào sự can thiệp của thống sứ, để ngăn chặn việc chiếm đoạt đất đai của tòa thị chính, rồi lại kêu gọi sự giúp đỡ của tòa thị chính khi quyền lợi của họ bị nhà chức trách bảo hộ đe dọa (ở làng quê, ở nông thôn chẳng hạn). Một chân trong thành phố, và chân kia ở ngoài, mối quan hệ chồng chéo đó với chính quyền cho phép khai thác những mâu thuẫn.
Tuy không được như Sài Gòn theo chế độ thuộc địa, nhưng người Hà Nội nếu biết vận dụng luật pháp của chính quốc, vẫn có thể tìm ra những kẽ hở để đấu tranh. Cho nên có một thời việc ra báo và xuất bản ở Hà Nội được tương đối dễ dàng hơn ở các thành phố và tỉnh lỵ khác. Đó cũng là điều kiện để các tổ chức yêu nước tranh thủ quần chúng, vận động thành lập các tổ chức yêu nước, để đấu tranh chống lại chính quyền bảo hộ.
Đào Hùng
qdnd.vn