Rủi ro cảnh sinh hoạt của thợ thuyền An Nam – (18-3-1922)

Nóng bức! Một cái nóng bức mà chỉ chúng tôi, những người Nam Kỳ và những người hân hạnh được ông Utơrây bảo hộ, mới được đặc ân hưởng thụ. Mặt trời nắng đổ hột. Các bạn có biết mặt trời đổ hột là gì không? Trong phương ngữ của chúng tôi, điều đó có nghĩa là tác động của nóng bức dữ dội đến mức mà luôn luôn bạn thấy trước mắt có một cái gì rơi như mưa nhưng đáng lẽ là nước thì là những hạt lửa.

Các vách tường của nhà thờ Sài Gòn nóng bỏng lên như những mảng tường của địa ngục. Cột thiên lôi ánh lên như một lưỡi lê vấy máu và sẵn sàng xuyên thủng da trời bị nấu chín theo nghĩa đen của từ.

Từ sáng đến giờ chẳng có một người khách nào! Tôi đã đói và tôi uốn mình khó khăn trong khung hình chữ nhật hợp thành cái ách cho con vật – hình người là người kéo xe tay. Hai gọng của chiếc xe đè nặng lên cánh tay tôi và bánh xe thì kêu rên rỉ như thể chúng khát nước.

Tôi và chiếc xe của tôi tiếp tục kéo nhau về hướng Dinh Thống đốc. Những lá bàng rộng bản và lá cau làm thành những tấm gương phản chiếu tập trung toàn bộ sức mạnh của mặt trời đến người đi đường. Người ta cứ tưởng toàn bộ vũ trụ đã biến thành một lò hoả táng.

Hai hay ba người da trắng có mặt trên quảng trường; họ là những người da trắng duy nhất có cảm tình với người bản xứ, bởi vì họ là người bằng đồng; nhưng lại là những khách hàng tồi vì họ chẳng bao giờ đi xe kéo!

Tôi thấy một bóng người đi ra khỏi dinh. Tôi tự nhủ: “Một người ra khỏi nhà hộp này chắc phải là một người lịch sự, mà một người lịch sự thì không đi bộ dưới trời nắng thế này; ông ta sẽ đi xe; và ông ta sẽ là khách hàng của tôi. Khi tôi thấy áo đen của ông ta, tôi càng lạc quan vì tôi cho đó là một thầy thông (1) (Một người thông ngôn An Nam). Tôi chạy đến đón ông ta. Đó là một cha đạo, một cha đạo đáng kính.

Tôi cúi người xuống chân ông ta để ông ta có thể lên xe dễ dàng hơn, đó là cách thanh lịch để đón khách. Đáng lẽ đặt chân lên bệ xe, con người thánh thiện lại muốn đặt chân lên mông tôi. Tôi hiểu ngay cử chỉ ấy, vì tôi đã quen với những người hiền như thế rồi; và tôi bỏ chạy với chiếc xe kéo của tôi; tôi vốn đã quen với những trò nhào lộn này rồi, nghề nghiệp buộc tôi như thế. Trong khi chạy ra xa, tôi còn nghe vị con của Chúa trời lẩm bẩm câu kinh ngẫu hứng: “Khốn kiếp! vị tông đồ nói – người ta không thể bước đi một bước mà không bị bọn xe kéo tồi tàn này quấy rầy!”

Sự cố này làm tôi quên cả mệt mỏi, cả đói khát, vì sau khi đạt được khoảng cách khá xa giữa “cha tôi” và tôi, tôi đùa cợt, nghĩ đến Chúa, đến hình ảnh con người, tức là đến người nọ và tôn giáo của anh ta. Khi tôi quay đầu lại thì thấy gậy tông đồ vẫn còn tiếp tục dứ dứ về phía tôi như một que rảy nước phép.

Tôi đi, hay đúng hơn, chúng tôi, chiếc xe và tôi, đi về bến đò.

Từ trong cái quán bé tẹo của bà Thị Hai (1) toát lên một không khí hạnh phúc và sung túc. Gạo trắng như ngà, nước mắm toả ra một hương thơm ngào ngạt làm khoái mũi. Nước chè sôi sùng sục trên bếp. Thật là hấp dẫn. Tôi dừng lại, quyết định mua một bát cơm ngon, biết rằng bà Thị Hai tốt bụng không nỡ từ chối bán chịu cho một người thợ lương thiện.

Vừa mới ngồi lên chiếu, tôi thấy một người lính thuỷ đi ngoằn ngoèo trên bến tàu của hãng Sácgiơ Rêuyni. Buông đũa xuống, tôi nhảy ra xe và bằng hai bước chân, tôi đã đứng trước vị khách hàng thứ hai của tôi sáng nay. Đó là một người tốt bụng, anh ta chẳng hề mặc cả giá cả. Anh ta ném cho tôi địa chỉ nơi đến rồi lên xe và ngồi chễm chệ bên mạn phải, còn gói đồ đạc thì để bên tay trái. Tôi chạy những ba hải lý/giờ (2) , vì không muốn Thị Hai phải ngóng chờ.

Đến cảng, tên thuỷ thủ lão luyện lên bờ và bỏ đi, tỉnh bơ, chẳng hề có ý định trả thù lao cho tôi. Tôi yêu sách. Hắn chẳng thèm quay lại. Tôi chạy theo hắn và hét lên: “Trả tiền, ông ơi, trả tiền!”

Hắn chuyển gói đồ qua bên trái, tay phải thò vào túi và rút ra một… khẩu súng lục. Vũ khí của văn minh hùng hồn thét lên: Pan! Pan! “Lại một cú nữa xôi hỏng bỏng không!”, tôi tự nhủ.

Tôi trở lại quán ăn, chè vẫn còn đang bốc khói.

CULIXE
Nguyễn Ái Quốc dịch

Báo L’Humanité,ngày 18-3-1922.
cpv.org.vn