LTS: En-mô Dum-uôn (Elmo Zumwalt, 1920 – 2000) là đô đốc Hải quân Hoa Kỳ từng tham gia chiến tranh xâm lược Việt Nam. Tên tuổi và gia đình ông ta cũng được người Mỹ coi là một trong những bi kịch lớn nhất của thời hậu chiến tranh Việt Nam.
Xanh, nâu và da cam
Trong chiến tranh Việt Nam, lực lượng dưới quyền Dum-uôn không phải là “Hải quân nước xanh” như Hạm đội 7 của Đô đốc Sác-pơ (Sarp), mà là “Hải quân nước nâu”, có nhiệm vụ tuần phòng bờ biển, bến cảng và sông ngòi ở Nam Việt Nam. Dưới quyền Chuẩn đô đốc Dum-uôn lúc đó có hơn 38 nghìn lính thủy Mỹ. Trong số các thuyền trưởng tàu cao tốc có con trai ông ta, Rút-xen Dum-uôn III (Russell Zumwalt III) và Giôn Ke-ri (John Kerry), sau này là thượng nghị sĩ Hoa Kỳ.
Quân Giải phóng nấp trong các rừng rậm ven biển và ven sông đã gây khó khăn cho các Thủy quân Mỹ và “Việt Nam cộng hòa” bằng các trận phục kích bất ngờ. Oa-sinh-tơn khi đó đã đề xuất Hải quân Mỹ sử dụng một loại thuốc diệt cỏ, gọi là Chất da cam (Agent Orange/dioxin), nếu được rải lên tán cây, có thể làm trụi những lùm cây, bụi rậm từng được đối phương sử dụng rất hiệu quả cho cách đánh của họ. Cho dù tác động của nó lên con người chưa được thẩm định, các công ty Mỹ sản xuất Chất da cam là Đao (Dow) và Mon-san-tô (Monsanto) mong muốn giành được lợi nhuận kếch xù đã cam đoan rằng, chất này là an toàn cho người sử dụng???
Các nguồn của Hoa Kỳ cho rằng, Đô đốc Dum-uôn đã chấp nhận sử dụng Chất da cam không chỉ để bảo vệ con trai mình mà còn vì những người lính khác của anh ta khỏi một hiểm họa trực diện và rõ ràng. Nhưng trên thực tế, ông ta đã đưa họ vào thế bị phơi nhiễm bởi thứ hóa chất gây ung thư đó. Sử dụng Chất da cam trên chiến trường, ông ta đã dựa trên các nguồn tin có phần áp đặt và thiếu tin cậy. Bản thân cựu đô đốc Dum-uôn đã tự bào chữa với hãng Thông tấn The Associated Press năm 1985 rằng, ông đã lệnh cho sử dụng Chất da cam với kỳ vọng làm giảm thương vong cho quân đội Mỹ nhờ phát quang các quần thể thực vật, vốn là nơi ẩn nấp và hoạt động của đối phương[1].
Trên thực tế, đô đốc Dum-uôn hẳn đã bị dẫn dắt vào một “đoạn trường” đã bày sẵn. Theo sách “Tổng thống Ken-nơ-đi – giai đoạn cầm quyền” (President Kennedy, Profile of Power) tác giả Ri-sớc Ri-vơ (Richard Reeves, NXB Simon and Schuster, 1989), từ đầu thập niên 1960, Nhà Trắng đã bí mật phê chuẩn sử dụng Chất da cam để phát quang cây cỏ trên những lộ trình hoạt động của “VC”.
Cuối 1961, các tàu đại dương đã chuyên chở hàng trăm nghìn ga-lông Chất da cam trong những thùng phuy gửi cho tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn. Chúng được dán nhãn là “hàng phục vụ nông nghiệp” để tránh sự kiểm tra của Ủy ban Kiểm soát Quốc tế… Trong 10 năm, đã có tới 20 triệu ga-lông (80 triệu lít) chất diệt cỏ và chất làm trụi lá được rải xuống Việt Nam, miền đông Lào, và một số nơi ở Cam-pu-chia. Nó chỉ được đình chỉ sử dụng năm 1971 dưới sức ép của dư luận tiến bộ quốc tế.
Lính Mỹ chiết rót chất da cam tại miền Nam Việt Nam.
Thăng – trầm
Trở thành Tổng chỉ huy Hải quân Mỹ tháng 7-1970, Dum-uôn là tướng Mỹ trẻ nhất từng giữ chức vụ này. Ông ta lập tức nổi tiếng vì “chương trình Z” (Z – Grams; Z là chữ đầu của danh tính Zumwalt), làm cho binh nghiệp trong Hải quân Mỹ trở thành hấp dẫn, sau khi ông ta nới lỏng những quy định của quân chủng này, từng làm cho các tân binh cho rằng, chúng “hạ thấp nhân phẩm và vô nghĩa”. Chẳng hạn, một trong 121 chỉ lệnh của “chương trình Z” đã khẳng định rằng, người da màu và phụ nữ được phục vụ trong hải quân Mỹ và được bình quyền với các đối tượng khác.
Tuy nhiên, theo tờ Thời báo Niu Y-oóc ra ngày 3-1-2000, nhiều nhân vật, kể cả các đô đốc hồi hưu đã cáo buộc khá quyết liệt rằng “chương trình Z” kiến tạo một không khí dễ dãi, buông lỏng kỷ luật nhà binh. Theo báo Pít-xbớc (Pittsburgh Post – Gazette) 14-4-1996, “chương trình Z” không được lòng chính quyền Ních-xơn. Năm 1974, Dum-uôn nhận quyết định hưu ở tuổi 53.
Bản thân đô đốc hồi hưu Dum-uôn sẽ còn đụng độ với Ních-xơn và Kít-xinh-giơ khi đấu tranh cho quyền lợi của cựu chiến binh Mỹ[2].
Hậu Việt Nam
Sau 32 năm phục vụ trong hải quân, năm 1976, Dum-uôn đã lao vào một cuộc chạy đua bất thành vào Nghị viện Mỹ. Hiện chưa rõ thất bại nghị trường này là do ông ta ra lệnh cho sử dụng chất độc màu da cam hay do đã để xảy ra các vụ đụng độ chủng tộc trên các tàu chở máy bay Kít-ti Hốc (Kitty Hawk) và Công-xten-lê-sơn (Constellation) năm 1972, trong một thời gian đầy nhạy cảm trên chính trường Mỹ.
Con trưởng của đô đốc Dum-uôn, Rút-xen Dum-uôn III mất năm 1988, hưởng dương 42 năm. Anh ta từng thuộc trong danh sách gần 40 ngàn cựu chiến binh Mỹ là nạn nhân của chất độc màu da cam cho đến 1993, theo sách Phong trào đòi quyền được công nhận phế binh: từ bố thí đến đối đầu (The disability rights movement: from charity to confrontation), tác giả Đô-rít Phlét-sơ (Doris Fleischer), NXB Temple University Press, 2000, tr.178). Cháu nội đô đốc Dum-uôn, con trai Dum-uôn III, bị dị tật bẩm sinh do ảnh hưởng chất độc da cam, không thể cắp sách đến trường. Tờ Associated Press ngày 14-8-1988 cho hay, cựu Trung úy Rút-xen Dum-uôn III trước khi từ trần đã khẳng định rằng: tất cả các hội chứng loạn thần kinh, ung thư, bệnh da liễu… mà các cựu chiến binh Mỹ từng ở Việt Nam mắc phải, cũng như các bệnh bẩm sinh hiểm nghèo mà con cái họ phải chịu, là do nhiễm chất độc da cam.
Rút-xen Dum-uôn III là đồng tác giả “Cha con tôi”, cuốn tiểu sử của cha anh và chính mình, đã chấp bút nó dưới những ám ảnh và hành hạ của thần chết “áo màu da cam”. Cuốn sách thực ra là một tiểu sử tổng hợp, khi các thành viên của đại gia đình Dum-uôn bàn luận về bi kịch gia đình họ, bởi Chất da cam mà Trung úy Rút-xen Dum-uôn III đã nhiễm phải khi tham chiến ở Việt Nam.
La-ri Bớc-man (Larry Berman), người nổi tiếng vì những cuốn sách về chiến tranh Việt Nam, đang viết cuốn sách: “Z lớn: Cuộc đời và thăng trầm của đô đốc Elmo Russell Zumwalt, Jr” . Tác giả Bớc-man cho rằng, một cột mốc lớn là chuyến đi Việt Nam năm 1995 của Đô đốc Dum-uôn, với cuộc gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp để bắt đầu những nỗ lực đầu tiên nhằm giải quyết vấn đề chất độc da cam bằng những phối hợp trong lĩnh vực y tế.
Hồi chuông màu da cam
Nhiều tiếng nổ của “bom hẹn giờ” mà nghị sĩ Mỹ Neo-xơn từng cảnh báo đã biến thành cuộc tranh đấu quyết liệt cho quyền lợi của nạn nhân chiến tranh của cả hai bên cuộc chiến. Đô đốc Dum-uôn và các con là cựu chiến binh Mỹ của ông đã và đang đi đầu trong sự nghiệp này. Con trai thứ hai của Dum-uôn, cựu chiến binh Giêm Dum-uôn (James Zumwalt) đã sang Việt Nam tới 50 lần trong 10 năm kể từ 1994, viết nên cuốn sách “Chân trần, trí thép: chuyện những người bên kia chiến tuyến ở Việt Nam” (Bare Feet, Iron Will ~ Stories from the Other Side of Vietnam’s Battlefields, NXB Fortis Publishing, 2010) về những người cách mạng Việt Nam, được dư luận tiến bộ đánh giá cao.
“Hậu quả việc Mỹ không thể thắng đã rõ ràng” là câu mở đầu những dòng cuối của chương “Trở về” của cuốn hồi ký toàn gia “Cha con tôi”, khi Đô đốc Dum-uôn khẳng định Việt Nam sẽ còn là tiêu điểm của cuộc tranh luận của nước Mỹ. Ông viết tiếp: “Với cá nhân tôi, sự thất bại của chúng ta ở Việt Nam đã làm cho tôi tràn ngập niềm đau xót, mất mát, về những cái chết, những thương tích, cả về thể xác và tâm hồn. Sự hy sinh của họ trở nên đau đớn và khó chấp nhận hơn, vì nước Mỹ đã thua một cuộc chiến tranh. Vô cùng bối rối, tôi đã suy nghĩ, đã tự chỉ trích nhiều lần. Tôi đã từng cho rằng, những lính thủy Mỹ tử trận trên sông nước sẽ được đền bù bằng việc có một số lượng lớn hơn sinh mạng lính Mỹ được an toàn, sẽ thúc đẩy được cuộc bình định châu thổ. Nhưng cuối cùng, các nỗ lực đã có tổng bằng không, các lính thủy đã hy sinh vô ích. Phân tích đến cùng, tôi cho rằng mọi cố gắng của chúng ta ở Việt Nam là tồi tệ. Giá như chúng ta đừng can thiệp vào Việt Nam thì tình hình sẽ tốt hơn nhiều. Những điều đã xảy ra với con trai tôi và cháu nội tôi, như là hậu quả của cuộc chiến tranh này, còn làm tôi đau lòng hơn bội phần…”.
Lê Đỗ Huy (tổng hợp)
qdnd.vn