Con trai “thi tướng” Huỳnh Văn Nghệ nói về bài thơ “Nhớ Bắc”

QĐND – Bài thơ “Nhớ Bắc” của “thi tướng” Huỳnh Văn Nghệ đã trở thành một tác phẩm kinh điển của văn học Việt Nam. Sức sống của bài thơ, nhất là hai câu “Từ độ mang gươm đi mở cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long” được coi là “thần thi”, một lần nữa được thổi bùng lên như một hào khí nhân dịp thủ đô Hà Nội nghìn năm tuổi. Tuy nhiên, hoàn cảnh ra đời của bài thơ cùng những dị bản của hai câu “thần thi” trên các phương tiện thông tin đại chúng hiện nay đang có nhiều cách hiểu khác nhau. Chúng tôi đã gặp ông Huỳnh Văn Nam, Tổng giám đốc Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh, trưởng nam của gia đình “thi tướng” Huỳnh Văn Nghệ. Ông Nam đã cung cấp cho chúng tôi nhiều tư liệu có giá trị to lớn về thân thế, sự nghiệp của cụ Huỳnh Văn Nghệ, trong đó có tài liệu về bài thơ “Nhớ Bắc”.

PV: Theo tìm hiểu của chúng tôi về xuất xứ của bài thơ, thì hiện nay đang có hai cách lý giải. Những tài liệu nghiên cứu của các tác giả: Nguyễn Tý, Huy Thông, Trần Xuân Tuyết… cùng nhiều tài liệu trích dẫn khác thì cho rằng, bài thơ được Huỳnh Văn Nghệ sáng tác tại Chiến khu Đ năm 1946 trong thời kỳ ông chỉ huy lực lượng kháng Pháp ở đó. Trong cuốn sách “Huỳnh Văn Nghệ-tác giả và tác phẩm” do Nhà xuất bản Đồng Nai ấn hành năm 2008, tác giả Bùi Quang Huy lại cho rằng, bài thơ này ra đời từ năm 1940 ở Sài Gòn. Vậy tài liệu nào là chính xác?

Ông Huỳnh Văn Nam: Tôi là trưởng nam nên hầu hết các tài liệu lịch sử của gia đình do ba tôi để lại, trong đó có bài thơ “Nhớ Bắc” tôi vẫn lưu giữ cẩn thận, trong đó có một bản chép tay do chính ba tôi viết. Ở bản chép tay này, bài thơ có tên là “Tiễn bạn về Bắc”, đề năm sáng tác là 1940, tại ga Sài Gòn. Như vậy bài thơ “Nhớ Bắc” ra đời từ năm 1940 tại Sài Gòn là hoàn toàn chính xác.

“Thi tướng” Huỳnh Văn Nghệ và con trai Huỳnh Văn Nam thời nhỏ. Ảnh chụp lại.

Kết hợp với nhiều nguồn tư liệu khác cùng lời kể của ba tôi thì hoàn cảnh ra đời bài thơ là thế này: Vào năm 1940, thực dân Pháp khánh thành tuyến xe lửa từ Nam ra Bắc đầu tiên. Nhân sự kiện quan trọng này, Sở Hỏa xa Sài Gòn có chủ trương ưu tiên vé cho nhân viên đang công tác tại sở được đi tham quan Hà Nội bằng xe lửa. Do lượng người đăng ký quá đông, trong lúc vé ưu tiên có hạn nên Sở Hỏa xa Sài Gòn phải tổ chức bốc thăm. Ba tôi (thời kỳ này đang công tác tại Sở Hỏa xa) may mắn bốc trúng thăm được đi. Tuy nhiên, đến phút chót thì ông quyết định nhường vé cho một người bạn cùng phòng vì thương bạn. Khi tiễn bạn ra ga lên tàu, từ tâm trạng bồi hồi, xúc động, ông đã sáng tác bài thơ này. Những chất liệu tạo nên cảm xúc cho bài thơ xuất phát từ những câu chuyện kể của người bạn về Hà Nội chứ thực ra trước khi bài thơ ra đời, ba tôi chưa một lần đặt chân đến Hà Nội.

PV: Trong bản chép tay này, không chỉ có đầu đề bài thơ mà một số câu, từ trong đó cũng khác so với một số dị bản đang phổ biến hiện nay. Đặc biệt, hai câu “thần thi” được chép là “Từ độ mang gươm đi giữ nước/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”. Như vậy là nguyên tác của bài thơ là “giữ nước” chứ không phải “mở cõi”?

Ông Huỳnh Văn Nam: Từ nguyên tác đến các văn bản phổ biến sau này đã có sự chỉnh sửa. Hai câu thơ này có rất nhiều dị bản, nhất là các từ đầu và cuối. Nguyên tác của nó là “Từ độ mang gươm đi mở cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”. Nhưng bản in đầu tiên khi bài thơ đến với công chúng thì hai câu thơ này được sửa là: “Từ thuở mang gươm đi mở cõi/ Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long”. Người sửa là nhà thơ Xuân Diệu. Bài thơ sau đó đã nhanh chóng khẳng định vị trí của nó, trở thành vật “gối đầu giường” của thanh niên, thôi thúc ý chí Nam tiến bảo vệ Tổ quốc. Sau này ba tôi có kể lại, nhiều chiến sĩ từ miền Bắc vào Nam đã mang cho ông xem bản in bài thơ đã được chỉnh sửa. Ông đã nói với mọi người về văn bản nguyên tác.

Cuối những năm 50 của thế kỷ hai mươi, ba tôi ra Bắc nhận công tác ở Cục Quân huấn, Bộ Tổng tham mưu. Gia đình tôi ở tại ngôi nhà số 10, phố Lý Nam Đế. Nhiều người hay quen gọi đây là “Phố nhà binh”. Tôi còn nhớ có lần một nhà văn ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội đến nhà gặp ba tôi xin được đăng bài thơ này trên tạp chí theo bản thảo nhà thơ Xuân Diệu đã sửa. Ba tôi đã đồng ý với đề nghị này. Cũng bởi thế nên bài thơ theo văn bản đã chỉnh sửa được lưu truyền sâu rộng trong các tầng lớp bạn đọc từ đó về sau.

Cũng cần nói thêm là trong từng giai đoạn, do hoàn cảnh xã hội, lịch sử, hai câu thơ được lưu truyền trong dân gian với nhiều dị bản khác nữa. Chẳng hạn trong giai đoạn kháng chiến, nhiều cán bộ, bạn bè, đồng đội đã đề nghị ông thay hai chữ “mở cõi” bằng “giữ nước” để phù hợp với tinh thần hiệu triệu toàn dân đánh giặc. Bản chép tay này (in kèm bài viết) được chép trong hoàn cảnh như vậy. Cũng có người thì đề nghị thay hai chữ “mang gươm” bằng “mang cày” cho phù hợp với lịch sử khai khẩn ở phương Nam. Đến nay, hai câu thơ đã được phổ biến theo đúng nguyên tác: “Từ độ mang gươm đi mở cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long” và đã được khắc bia.

PV: Bài thơ “Nhớ Bắc” đã trở thành thi phẩm kinh điển trong đời sống tinh thần hàng triệu người dân Việt. Là con trai của thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, cảm nhận riêng của ông về bài thơ “Nhớ Bắc” như thế nào?

Ông Huỳnh Văn Nam: Cảm nhận  chung đó là chất hào khí của bài thơ, đặc biệt ở hai câu “thần thi”. Hào khí Nam Bộ xuất phát từ hào khí Thăng Long. Hào khí ấy được đúc kết từ tư tưởng, tâm hồn dân tộc từ ngàn đời nay. Dù có đi bốn phương trời, người dân Việt luôn luôn hướng về trái tim đất nước. Với riêng tôi, tôi tự hào khi được là người tiếp nối truyền thống ông cha. Tôi đã viết một bài thơ ngắn, họa lại bài thơ của ba tôi:

Ông tôi xưa mang gươm đi mở cõi

Cha tôi làm thơ thương nhớ đất Thăng Long

Còn tôi suốt hai mùa mưa nắng

Hát mãi về em Hà Nội trái tim hồng!

PV: Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này!

Thanh Kim Tùng (thực hiện)
qdnd.vn