QĐND – Lương Khải Siêu (1873-1929) là một trong 20 nhân vật nổi tiếng trong Tủ sách “Danh nhân Tân Hợi” vừa được xuất bản ở Trung Quốc, nhân kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tân Hợi (1911-2011).
Nhân dịp này, từ nguồn tư liệu của Báo điện tử Tân Hoa xã (www.xinhuanet.com) và Từ điển điện tử Bách Độ (www.baidu.com), chúng tôi chọn dịch và giới thiệu một số người con của nhà tư tưởng, nhà văn, học giả Lương Khải Siêu, một trong những lãnh tụ của Phong trào Duy Tân trong lịch sử cận đại Trung Quốc.
Danh nhân Lương Khải Siêu có 9 người con trai, con gái, thứ tự là: Lương Tư Thuận, Lương Tư Thành, Lương Tư Vĩnh, Lương Tư Trung, Lương Tư Trang, Lương Tư Đạt, Lương Tư Ý, Lương Tư Ninh, Lương Tư Lễ. Trong đó, Tư Thuận, Tư Thành, Tư Trang là do bà Lý Huệ Tiên (1868-1923), vợ đầu của Lương Khải Siêu sinh ra; Tư Vĩnh, Tư Trung, Tư Đạt, Tư Ý, Tư Ninh, Tư Lễ là do bà Vương Quế Toàn (1885-1924), vợ hai của Lương Khải Siêu sinh ra.
Lương Khải Siêu và các con: Tư Thuận, Tư Thành, Tư Vĩnh (năm 1905). Ảnh: Quảng Châu Nhật báo
Trưởng nam Lương Tư Thành (1901-1972): Nhà kiến trúc học, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc.
Năm 1915, Lương Tư Thành vào học tập tại Trường Thanh Hoa, năm 1923 cùng Lâm Huy Nhân sang Mỹ lưu học, sau đó tốt nghiệp Khoa Kiến trúc, Trường Đại học Pen-xin-va-ni-a (Pennsylvania), giành được học vị Thạc sĩ. Sau khi về nước năm 1928, ông tới Đại học Đông Bắc sáng lập Khoa Kiến trúc đầu tiên ở miền Bắc Trung Quốc. Ông là người đầu tiên vận dụng phương pháp khoa học hiện đại tiến hành phân tích, nghiên cứu kiến trúc Trung Quốc, mở ra con đường nghiên cứu lịch sử kiến trúc Trung Quốc. Sau khi cuộc chiến tranh chống Nhật nổ ra, ông biên soạn bộ “Lịch sử kiến trúc Trung Quốc” đầu tiên của Trung Quốc, đồng thời dùng Anh văn viết một cuốn sách “Trung Quốc kiến trúc sử đồ lục” phổ thông dễ hiểu, phục vụ độc giả ngoại quốc, làm cho kiến trúc Trung Quốc tỏa sáng trên trường quốc tế.
Năm 1945, sau khi kháng chiến thắng lợi, ông sáng lập Khoa Kiến trúc, Trường Đại học Thanh Hoa. Sau giải phóng, ông dấn thân vào công cuộc xây dựng đất nước Trung Quốc mới, lãnh đạo và tham gia công tác thiết kế đồ án Quốc huy và Bia kỷ niệm Anh hùng nhân dân, chỉ đạo chỉnh sửa Hoài Nhân Đường (Hội trường lớn trong Trung Nam Hải, Bắc Kinh).
Là người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy kiến trúc cổ đại, Lương Tư Thành là một trong những người đặt nền móng cho sự nghiệp giáo dục kiến trúc Trung Quốc về các phương diện lý luận kiến trúc, tư tưởng giáo dục kiến trúc, lý luận quy hoạch thành phố. Năm 1947, ông được tiến cử là đại biểu Trung Quốc trong Đoàn Cố vấn thiết kế tòa nhà Trụ sở Liên hợp quốc. Cùng năm, Trường Đại học Prin-xtơn (Princeton-Mỹ) đã trao học vị Tiến sĩ danh dự cho ông vì những cống hiến quan trọng của ông về học thuật kiến trúc Trung Quốc. Ông được bầu làm Viện sĩ, Ủy viên Ban Khoa học kỹ thuật đợt đầu tiên của Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc. Ông là Đại biểu Quốc hội Trung Quốc khóa 1, khóa 2, Ủy viên Thường vụ Quốc hội Trung Quốc khóa 3, Ủy viên thường vụ Mặt trận dân tộc Trung Quốc khóa 2, Ủy viên Mặt trận dân tộc Trung Quốc khóa 3.
Thứ nam Lương Tư Vĩnh (1904-1954): Nhà khảo cổ học, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc.
Lương Tư Vĩnh sinh ra tại Ma Cao, nhưng tuổi thơ của anh sống tại Nhật Bản. Năm 1923, Lương Tư Vĩnh từ Trường Đại học Thanh Hoa sang Mỹ lưu học và tốt nghiệp Lớp dự bị đại học, rồi sang Mỹ học chuyên ngành khảo cổ học và nhân loại học, nghiên cứu khảo cổ Đông Á, tại Viện Nghiên cứu Trường Đại học Ha-vớt (Harvard), đã từng tham gia khai quật Di chỉ cổ đại người Anh-điêng (Indians). Trong thời gian này, ông đã từng có một dịp trở về nước làm trợ giáo tại Sở Nghiên cứu quốc học Trường Đại học Thanh Hoa. Mùa hè năm 1930, sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Ha-vớt (Mỹ), Lương Tư Vĩnh trở về nước tham gia công tác tại Tổ Khảo cổ Sở Nghiên cứu Ngôn ngữ Lịch sử Viện Nghiên cứu Trung ương (trước đây).
Lương Tư Vĩnh suốt đời dốc sức cho sự nghiệp khảo cổ, là một trong những người khai thác khảo cổ học cận đại và giáo dục khảo cổ học cận đại Trung Quốc, là một học giả Trung Quốc đầu tiên được huấn luyện chính thức khảo cổ học cận đại của phương Tây, có tác phẩm truyền đời “Lương Tư Vĩnh khảo cổ luận văn tập”. Ông được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc đợt đầu tiên; Tháng 8 năm 1950 được bổ nhiệm làm Phó giám đốc Sở Nghiên cứu khảo cổ Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc.
Ngày 2-4-1954, ông Lương Tư Vĩnh ốm đau lâu ngày vẫn kiên trì làm việc, bệnh tim phát tác, qua đời tại Bắc Kinh, hưởng dương 50 tuổi.
Con trai thứ 3 Lương Tư Trung (1907-1932): Thượng tá pháo binh
Lương Tư Trung từ Nhật Bản về nước không lâu lại sang Mỹ, lần lượt học tập tại Học viện Lục quân Vớc-gi-ni-a (Virginia) và Trường Quân sự Oét-poi (West Point).
Đầu thập niên 30 thế kỷ 20, tốt nghiệp về nước, tham gia Quân Cách mạng quốc dân. Sau khi nhập ngũ, do được học bài bản tại nước ngoài và có tài nên ông nhanh chóng được thăng cấp Thượng tá pháo binh Lộ quân 17, Quân cách mạng quốc dân. Trong cuộc chiến dịch Tùng Hộ năm 1932, Lương Tư Trung chiến đấu và chỉ huy khá xuất sắc.
Đáng tiếc là sau đó không lâu, Lương Tư Trung mới 25 tuổi vì mắc bệnh viêm phúc mạc, uống nhầm thuốc, chạy chữa chậm nên đã qua đời.
Con trai thứ tư Lương Tư Đạt, sinh năm 1912: Nhà kinh tế học nổi tiếng.
Năm 1935, Lương Tư Đạt tốt nghiệp Khoa Kinh tế, Trường Đại học Nam Khai, ngay sau đó thi đỗ Nghiên cứu sinh Thạc sĩ của trường này và năm 1937 giành được học vị Thạc sĩ.
Ông hoạt động nghiên cứu kinh tế lâu ngày, trong thời gian kháng chiến đã từng nhậm chức tại Sở quản lý Ngân hàng Trung ương Trung Quốc và Chi nhánh Trường Sa Ngân hàng Trung Quốc. Năm 1949, ông được điều động đến Cục doanh nghiệp nước ngoài đầu tư của Quốc Vụ viện (sau này đổi tên là Cục Quản lý hành chính công thương Trung ương) làm Chánh văn phòng, sau đó được bổ nhiệm làm Trưởng phòng Thống kê Sở Điều tra nghiên cứu kiêm nhiệm công tác biên tập tư liệu nội bộ.
Ông đã từng tham gia công tác biên soạn “Lịch sử kinh tế cận đại Trung Quốc” của Sở Kinh tế Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc và năm 1965 chủ biên bộ sách “Tư liệu thống kê công nghiệp bột mì trong cơ chế Trung Quốc cũ”.
Lương Tư Đạt nghỉ hưu năm 1972, thường trú tại Bắc Kinh.
Con trai thứ năm Lương Tư Lễ, sinh năm 1924: Chuyên gia điều khiển hệ thống tên lửa, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc.
Lương Tư Lễ sinh ra tại Bắc Kinh. Năm 1941, theo chị ba Lương Tư Ý sang Mỹ lưu học, chủ yếu học chuyên ngành Vô tuyến điện, Khoa Công trình điện cơ, Trường Đại học Pơ-điu (Purdue), sau lại học thêm Điều khiển tự động. Trong thời gian học tại Trường Đại học Pơ-điu, ông chỉ dùng thời gian hai năm hoàn thành chương trình 3 năm và năm 1945 đã giành được học vị Tiến sĩ của trường này.
Tiếp theo, ông lại giành được học vị Thạc sĩ (năm 1947) và học vị Tiến sĩ (năm 1949) của Trường Đại học Xin-xi-na-ti (Cincinnati).
Ngày 1-10-1949, sau khi về nước Lương Tư Lễ được bố trí làm công tác kỹ thuật tại Sở Nghiên cứu kỹ thuật điện tín Bộ Bưu điện và Sở Nghiên cứu khoa học điện tử Bộ Thông tin quân sự, đồng thời tham gia công tác khởi thảo “Quy hoạch viễn cảnh khoa học 12 năm” do Quốc Vụ viện tổ chức. Ông phụ trách khởi thảo “Nguyên tắc lâu dài nghiên cứu chế tạo tên lửa vận tải Trung Quốc”.
Năm 1956, ông được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Phòng Nghiên cứu hệ thống tên lửa đạn đạo Viện Nghiên cứu 5, Bộ Quốc phòng. Từ đó về sau, ông lần lượt lãnh đạo và tham gia nghiên cứu chế tạo thí nghiệm hệ thống điều khiển nhiều loại tên lửa đạn đạo và tên lửa vận tải. Ông là một trong những người phụ trách hệ thống điều khiển quả tên lửa đất đối đất đầu tiên thực nghiệm thành công năm 1964 do Trung Quốc tự thiết kế chế tạo và sau đó lãnh đạo nghiên cứu cải tiến chế tạo ra hệ thống điều khiển hoàn toàn quán tính mang đặc sắc Trung Quốc. Ông đã tham gia thí nghiệm vũ khí hạt nhân, tiến hành trên lãnh thổ Trung Quốc ngày 27-10-1966, gây chấn động thế giới. Dưới sự chủ trì của ông, Trung Quốc lần đầu tiên đưa đường điện tập thành dùng vào máy tính trên tên lửa, đồng thời dùng nó tiến hành trắc nghiệm tự động hóa hoàn toàn tên lửa. Ông còn tham gia cuộc thí nghiệm chuyến bay của tên lửa viễn trình phóng ra Thái Bình Dương năm 1980.
Năm 1985, Lương Tư Lễ được trao “Giải thưởng hạng đặc biệt Tiến bộ khoa học kỹ thuật quốc gia”. Năm 1987, ông được bầu làm Viện sĩ Viện Khoa học hàng không vũ trụ Quốc tế; Năm 1993 được bầu là Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc và Ủy viên Thường vụ Ủy ban Dân tộc toàn quốc khóa 8; Năm 1994 được bầu làm Phó chủ tịch Hội Liên hiệp Hàng không vũ trụ quốc tế; Tháng 9-1997, ông vinh dự được trao “Giải thưởng cống hiến Khoa giáo hưng quốc cho các giáo sư lão thành Trung Quốc”.
Vũ Phong Tạo trích dịch
(Theo http://www.xinhuanet.com và http://www.baidu.com)
qdnd.vn