Bản nghị quyết mở đầu rằng, cuộc cách mạng dân tộc không thể hoàn thành nếu không có sự ủng hộ của quần chúng; và rằng, ở Trung Quốc, 85% quần chúng là nông dân. Nhận thức rõ điều quan trọng đó, Quốc dân đảng – từ khi được cải tổ – đã chú ý đến mức tối đa vấn đề nông dân.
Lòng hǎng hái của nông dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông dân rất muốn tự tổ chức nhau lại. Sau một nǎm kể từ tháng 5 nǎm ngoái, 22 Hội nông dân đã được thành lập.
Ngày 1 tháng 5, một hội nghị có 117 đại biểu dự – đại diện cho 210.000 nông dân đã tham gia tổ chức -, thành lập Hội nông dân tỉnh. Chưa đầy 6 tháng sau, đã có thêm 11 Hội nông dân huyện nữa được thành lập, nâng tổng số Hội nông dân huyện lên tới 33 hội với 450.000 hội viên.
Ngay cả những nông dân sống dưới sự áp bức của bọn quân phiệt Đặng Phù Ninh và bè lũ, cùng những anh em của họ ở Huệ Nam, Quảng Tây, Hà Nam, Hồ Nam và các tỉnh khác đều noi gương. Họ tổ chức một cách bí mật hoặc công khai, nhưng họ đã có tổ chức.
Tinh thần cách mạng của họ. Khi bác sĩ Tôn tiến hành cuộc khảo sát ở miền Bắc thì chính tự vệ nông dân cùng với tự vệ công nhân đã hộ vệ ông tới Thiều Châu. Trong thời gian xảy ra cuộc bạo động của bọn hổ thương, chính tự vệ nông dân đã hợp tác với tự vệ công nhân để bảo vệ Chính phủ cách mạng, trong khi nông dân
Đông San đã dùng vũ lực ngǎn chặn bọn lính tình nguyện của thương nhân huyện này không để chúng xuất quân đi đánh Quảng Châu. Trong cuộc chiến tranh sông Đông vừa qua, nông dân ở Đông Hoàn, Hải Phong, Lục Phong và Phù Nguyên đã làm tất cả mọi việc để giúp đỡ quân đội của Đảng. Trong thời gian cuộc phản loạn của Lưu và Dương, nông dân nhiều huyện đã nổi dậy và tiến công những đội quân phản loạn và giúp đỡ Chính phủ cách mạng tiêu diệt bọn quân phiệt phản loạn trong vòng mấy ngày. Gần đây, nông dân Đông Hoàn đã hỗ trợ một cách có hiệu quả binh lính của Chính phủ tước vũ khí khi bọn lính ngoan cố của Lam Sooyai và những tên khác. Lần này nông dân Hải Phong lại chịu đựng những sự hy sinh lớn để giúp đỡ quân đội của Đảng trong cuộc chinh phạt sông Đông hiện nay.
Sự đau khổ của họ. Thế nhưng những nông dân anh dũng đó lại là những người bị bóc lột và bị áp bức hơn ai hết! Trước hết, họ bị đội hương dũng áp bức. Tổ chức này do bọn địa chủ lớn và bọn hào lý xây dựng nên, chúng trang bị vũ khí cho những người nông dân để chống lại những người anh em cùng giai cấp của mình. Bọn địa chủ và bọn hào lý có ý định dùng đội hương dũng để bảo vệ nông dân chống lại bọn phỉ, nhưng trong thực tế tổ chức này còn tồi tệ hơn cả bọn phỉ.
ở một xã như Lisao, nông dân bị buộc phải nộp mỗi nǎm 100.000 đôla để duy trì đội hương dũng. ở một làng nhỏ như Huệ Đức người ta lột của nông dân mỗi nǎm hơn 20.000 đôla. ở Thuận Đức, viên chỉ huy đội hương dũng cứ mỗi nǎm kiếm lợi được 70.000 đôla. ở các huyện khác, nông dân cũng bị bóc lột như vậy. Để moi tiền của nông dân, đội hương dũng đã thu ít nhất là 20 loại thuế.
Những kẻ áp bức họ. Trước kia nông dân thụ động. Hiện nay, với tổ chức của mình, họ tự bảo vệ mình. Do đó những kẻ áp bức họ chỉ còn trông cậy vào những hành động tội ác.
Không có tháng nào mà không có một vài Hội nông dân bị triệt phá hoặc một vài chiến sĩ bị sát hại. Đây là bản tóm tắt một sổ đen: 1924 – tháng 5 – tháng 6, hai Hội nông dân ở Quảng Ninh bị triệt phá. Tháng 7 – tháng 8, Hội nông dân Nam Phố và Nam Hội bị triệt phá. Tháng 9 – tháng 10, Hội nông dân Đông Hoàn cũng cùng chung một số phận. Tháng 11 – tháng 12, thì Hội nông dân của vùng 2 thuộc Quảng Ninh, Hội nông dân Hoa huyện và Hội nông dân Phiên Ngung bị triệt phá. Bọn hào lý và bọn địa chủ thuê bọn phỉ cướp phá các vùng, đốt trụ sở của Hội nông dân và giết hại các hội viên của hội.
Chuỗi tội ác đó mỗi tháng một tiếp tục kéo dài thêm, tội ác của bọn hào lý Hồ Giang gây ra tháng 5 vừa qua đặc biệt dã man. Nhiều nhà cửa của nông dân bị đốt, các cán bộ của Hội nông dân bị giết hại, phụ nữ và nữ thanh niên trong làng bị hãm hiếp.
Mới gần đây thôi, bọn hào lý ở Thuận Đức, Phù Nguyên, Thông San đã phạm cùng một tội ác đáng xấu hổ như vậy đối với nông dân ở huyện của chúng.
Nghị quyết. Những sự thật đó cho thấy rõ ràng rằng đội hương dũng là công cụ áp bức nông dân. Hơn nữa, nhiều đội lại thường gồm những tên phỉ và những kẻ không thể chấp nhận được, trong khi một số khác không thể giữ gìn được an ninh và trật tự trong huyện của họ. Song tất cả những đội đó đều là những trở ngại cho chính sách nông dân của Đảng. Hơn nữa, sự thật đã được chứng thực đầy đủ là ở bất cứ nơi nào mà nông dân đã thành lập đội tự vệ của mình thì đội tự vệ đó chẳng những duy trì được an ninh và trật tự ở làng và huyện mà còn có thể ủng hộ Chính phủ cách mạng, tǎng cường cơ sở của Đảng.
Vì vậy đảng bộ Quảng Đông của Quốc dân đảng quyết định đề nghị Chính phủ giải tán các đội hương dũng ở những nơi có đội tự vệ nông dân và xoá bỏ – càng sớm càng tốt – cơ quan tổng chỉ huy các đội đó. Đồng thời yêu cầu Chính phủ tổ chức đội tự vệ nông dân để giữ gìn an ninh và trật tự ở các làng và các huyện, phù hợp với chương trình nông dân của Đảng.
Những sự áp bức khác. Bên cạnh đội hương dũng còn có bọn quan lại và bọn quân phiệt, bọn này tự gọi mình là đảng viên của Đảng, nhưng hành động hoàn toàn trái với các quy tắc của Đảng.
Mục đích duy nhất của chúng là kiếm tiền. Chính sách duy nhất của chúng là hợp tác với bọn hào lý xấu bóc lột nông dân và áp bức Hội nông dân.
Quân đoàn 3 đóng ở Quảng Ninh và huyện trưởng Tài đã nhúng tay vào vụ đổ máu ở huyện đó. Binh lính của Phúc ở Thuận Đức và viên huyện trưởng Tǎng phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc tàn sát đã xảy ra ở 6 làng. ở Đông San hiến binh trưởng Ngô, đại uý Yiép thuộc quân đoàn 2 và binh lính của Phúc – cùng với bọn hào lý – đã đốt phá và cướp bóc 30 làng.
Nơi nào có phong trào nông dân thì đều có tình hình như vậy. Những hành động đó của quân đội và của bọn quan lại không những làm cho nông dân xa lìa Đảng, mà còn phá hoại kế hoạch của Đảng.
Để gạt bỏ những trở ngại đó và để làm cho sự hợp tác giữa Đảng và nông dân trở thành một sự hợp tác thực sự, cần phải xử sự quyết liệt đối với bọn quân nhân phản bội và bọn quan lại cũng như bọn hào lý mục nát. Chỉ có bằng cách như vậy Hội nông dân mới có thể phát triển được, chương trình nông dân của Đảng mới có thể thực hiện được.
Bọn cho vay nặng lãi. Bọn cho vay tiền nặng lãi là những kẻ không thương xót gì nông dân cả. ở các huyện quanh Quảng Châu, chúng lấy lãi ít nhất là 36%. ở huyện Cao Yên chúng lấy lãi 73% và ở Lôi Châu 108%! Hơn nữa, nếu người cha không trả được nợ thì con anh ta bị buộc phải làm cái việc trả nợ đó.
Những cửa hiệu cầm đồ, những thương nhân vô lương tâm cũng chẳng nhân từ gì hơn. Thuế khoá nặng nề dồn thêm sức nặng lên gánh nặng của nông dân vốn đã quá nặng rồi!
Những sự khốn cùng của nông dân. Những người làm thuê cho nông trại được trả công thật thảm hại trong lúc con cái nông dân làm việc thật sự chẳng được gì.
Người lĩnh canh làm việc vất vả quanh nǎm mà chỉ được 35 hoặc 40% sản lượng. Ngay cả với cái phần còm cõi đó, mỗi vụ gặt họ vẫn phải biếu xén địa chủ. Thế vẫn chưa hết. Địa chủ có thể lấy lại ruộng, không cho người lĩnh canh thuê vào bất kỳ lúc nào y muốn. Địa chủ dùng hai thủ đoạn khác nhau: địa chủ nhỏ thì cho thuê, địa chủ lớn hơn thì tập hợp các khoản cho thuê.
Các công ty độc quyền ruộng đất giữ chặt nông dân nghèo dưới gót giày tàn bạo của chúng. Chúng cướp hết ruộng đất rồi sau đó cho thuê ruộng với mức lãi 80%.
Hoàn cảnh của những người sở hữu nhỏ thật quá xa với điều mong muốn. Họ bị buộc phải nộp 30 loại thuế. ở Hải Phong và Lôi Châu chẳng hạn, bọn quân phiệt đã thu thuế ruộng đến nǎm 1930.
Nghị quyết. Đảng bộ khẩn thiết yêu cầu:
Xoá bỏ sự nô dịch của nợ nần, các thứ thuế nặng và ngoại ngạch, sự độc quyền ruộng đất.
Cấm cho vay nặng lãi, cấm thu hồi ruộng đất, không cho nông dân thuê nữa mà không có đủ lý do; đòi ấn định địa tô tối đa, thống nhất đo lường, miễn thuế khi mất mùa.
Đòi thiết lập ngân hàng và các hợp tác xã nông dân, cải cách hệ thống nông nghiệp, hoàn thiện công trình tưới nước.
Về những người làm thuê cho các nông trại, Đảng bộ yêu cầu rút ngắn ngày lao động, tǎng lương, đối xử bình đẳng đối với công nhân nam nữ trẻ tuổi.
Đòi xoá bỏ đội hương dũng, đội hương vệ, cục bảo vệ bãi cát và các tổ chức ǎn bám khác. Các quỹ và các nguồn tiền của các tổ chức này phải được chuyển cho Hội nông dân để sử dụng vào việc cải thiện nông nghiệp.
Đòi chuẩn bị cho việc trồng rừng ở tất cả những đất công và đất chưa canh tác.
Ngoài ra Đảng bộ còn yêu cầu cấp ruộng cho những nông dân không có ruộng.
Giáo dục. Đại đa số nông dân bị thất học. Còn nữ thanh niên và phụ nữ nông dân thì trên thực tế bị tước mọi loại học vấn. Sự dốt nát đã khiến cho nông dân trở thành một công cụ dễ sai khiến trong tay thế lực phản cách mạng. Để khắc phục tình trạng đó, Đảng bộ yêu cầu:
Tổ chức lớp học buổi tối cho người lớn và trường không thu học phí cho trẻ con.
Để thực hiện chương trình này, Đảng bộ yêu cầu Chính phủ mở rộng hệ thống giáo dục không thu tiền đến tất cả các huyện và lập một ngân sách đặc biệt để dùng vào mục đích đó. Đảng bộ còn đề nghị thêm rằng tất cả các chùa chiền, đền đài, các quỹ và các nguồn của cải công phải được sử dụng cho công việc giáo dục.
———————
Tài liệu tiếng Anh, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn
Bạn phải đăng nhập để bình luận.