Tình hình kinh tế. Xứ Đông Dương bị Ngân hàng Đông Dương, thành lập nǎm 1875, thống trị về mặt kinh tế. Đến nǎm 1924, vốn của ngân hàng là 64.400.000 phrǎng. Cũng trong thời kỳ này, doanh số lên tới 4.503.000.000 phrǎng và thu được 34.000.000 phrǎng tiền lãi. Chính Ngân hàng Đông Dương đã chỉ huy tín dụng công nghiệp, thương nghiệp ở Đông Dương, Công ty mỏ than Bắc Kỳ (công ty này hằng nǎm xuất cảng 1.400.000 tấn than trị giá 12.000.000 đồng hay 201.000.000 phrǎng) và Công ty hoả xa Vân Nam.
Về thương nghiệp nói chung, ở Đông Dương, doanh số hơn 4 tỷ phrǎng. Bán thuốc phiện thu được 215.000.000 phrǎng và bán rượu thu được khoảng 1 tỷ phrǎng tiền lãi. Trong số 1 tỷ phrǎng này, Chính phủ thu 200.000.000 phrǎng, số còn lại vào túi bọn tư bản độc quyền. Như vậy là chỉ có đầu độc dân bản xứ mà đế quốc Pháp đã thu được 415.000.000 phrǎng!
Ngân sách toàn Đông Dương là 1.327.000.000 phrǎng.
Người ta xuất cảng 1.500.000 tấn gạo trị giá 252.000.000 phrǎng và 80.000 tạ cao su.
Đông Dương thịnh vượng như vậy. Nhưng sự thịnh vượng ấy chỉ làm lợi riêng cho người Pháp mà thiệt hại cho người An Nam. Mỗi ngày, đàn ông chỉ kiếm được 32 xu, đàn bà 28 xu, trẻ con 16 xu. Hơn nữa, họ không được trả lương đều đặn và không phải bao giờ cũng nhận bằng tiền mặt. Công ty mỏ than tổ chức ra những
cửa hàng bán thực phẩm và các vật dụng khác. Thợ bắt buộc phải mua hàng ở đấy, giá đắt hơn thị trường 10%. Thường thì người ta trả lương bằng hàng hoá lấy ở các cửa hàng đó, người thợ chỉ được lĩnh một ít tiền mặt và mãi 15 ngày hay một tháng sau mới được lĩnh; chính bằng cách này mà công ty ngǎn được thợ thuyền bỏ trốn.
Theo lời thú nhận của toàn quyền Đông Dương thì đời sống của thợ mỏ quá khổ cực và công việc của họ quá nặng nề nên trong số 15.907 thợ mỏ thống kê được vào nǎm 1906, không ai sống đến 60 tuổi. Và bọn tư bản thuộc địa cũng lại viện cớ đó để từ chối không tổ chức quỹ hưu bổng cho thợ thuyền bản xứ!
Đời sống nông dân cũng chẳng hơn gì. Đất thì xấu, phương pháp canh tác thì lạc hậu, do đó nǎng suất rất thấp kém. Sản lượng một hécta ở châu Âu là 4.670 kilô thóc, ở Nhật Bản 3.320 kilô, ở Nam Dương 2.150 kilô, còn ở Đông Dương sản lượng chỉ có 1.210 kilô.
Người bản xứ đo ruộng đất bằng “mẫu”, chứ không đo bằng hécta. Một mẫu đất tốt sản xuất khoảng 50 thùng thóc trị giá 24đ75. Trong số tiền này, Chính phủ đã trích thu 2đ10, khoảng 10%. Nhưng cày cấy mỗi mẫu ruộng, người nông dân đã phải chi hết 28đ50 về tát nước, phân bón, giống má, thuê trâu bò, nhân công, v.v.. Như vậy là lỗ vốn mất 3đ75.
Người ta sẽ hỏi: “Thế thì người nông dân sống thế nào được và lấy gì mà đóng thuế?”. Có thể trả lời đơn giản như thế này: sống thế nào cũng được, nhưng người nông dân vẫn phải sống và phải đóng góp. Một câu tục ngữ An Nam có nói: “Không làm cũng chết, mà làm cũng chết”. Tập quán nghìn xưa cũng như sức mạnh của trǎm ngàn mối quan hệ khác đã trói chặt người nông dân với ruộng đất. Nếu biết nơi nào thoát thân được thì họ cũng đã rứt bỏ ra đi. Suốt nǎm, phần lớn những người nông dân phải ǎn rau ǎn khoai. Rất ít khi họ ǎn cơm, chỉ trong những ngày giỗ tết chẳng hạn, thì họ mới dám động tới hạt cơm quý giá ấy.
Ngoài thuế má nặng nề, tǎng lên 550% trong khoảng mười nǎm, người dân bản xứ còn bị khổ sở với trǎm nghìn thứ hạch sách. Tờ báo “Khai hoá” của người bản xứ ở Bắc Kỳ mới đây có viết: “Biết bao người đã bị bắt trái phép. Họ bị giam cầm hàng tháng trời… Lính tráng bắt họ đóng tiền này tiền kia, rồi còn hành hạ họ nữa… Có người bị đánh đập tàn nhẫn đến nỗi phải vào nhà thương. Tóm lại, nếu người nào vô phúc bị bắt mà nghèo đói thì đành cam phận, còn kẻ hơi khá giả thì phải bán vợ đợ con để nộp tiền phạt dù có bị bắt oan cũng vậy”.
Còn có những trường hợp nghiêm trọng hơn nhiều. Như một tên công sứ ở Cao Miên đã bòn rút tiền thuế của những người dân cùng khổ để xây dựng một lâu đài nghỉ mát tốn 57.600.000 phrǎng, tên ấy còn bắt dân đắp thêm một con đường từ nhà ở đến lầu nghỉ mát. Hơn 1.900 người đã thiệt mạng trên con đường này!
Tình hình chính trị. Tháng 11 nǎm ngoái, khi Varen, “nhà xã hội” tới nhận chức toàn quyền, dân bản xứ có đưa “Tập dân nguyện của người An Nam”, đòi tự do báo chí, tự do ngôn luận, quyền lập hội và hội họp, v.v.. Cũng như bọn toàn quyền trước, Varen đã hứa hẹn nhiều để không làm gì cả.
Cũng thời kỳ ấy, bọn mật thám Pháp bắt cụ Phan Bội Châu ở Thượng Hải. Cụ là một nhà lão thành yêu nước xuất dương từ 20 nǎm nay. Người ta đưa cụ về Bắc Kỳ để xử án. Mặc dầu Chính phủ Pháp giữ bí mật vụ bắt bớ này, nhưng người An Nam ai cũng biết tin, một phong trào phản đối sôi nổi khắp nơi.
Khi Varen đến Bắc Kỳ, sinh viên biểu tình đòi thả nhà lão cách mạng bị bắt giữ. Họ mang cờ và biểu ngữ kêu gọi: “Ân xá cho cụ Phan Bội Châu!”, “Đả đảo chế độ thực dân tàn bạo!”.
Đây là lần đầu tiên người ta được thấy một sự kiện như vậy ở Đông Dương. Varen buộc phải ân xá cho cụ Phan Bội Châu, nhưng vẫn bí mật giám sát cụ.
Từ đó phong trào sinh viên tiếp tục phát triển sôi nổi, đến tháng 3 vừa rồi, phong trào mới thật mạnh.
Khi Bùi Quang Chiêu, một người thuộc phái quốc gia, mới ở Pháp về – Chiêu vừa tổ chức ở Pháp một cuộc vận động chống những tên quan cai trị thuộc địa thối nát – hàng nghìn người An Nam do sinh viên hô hào, đã đi đón và đón tiếp rầm rộ 45 . Hôm đó, bọn phát xít Pháp cũng tổ chức phản biểu tình, chúng huy động cả quân lính, mật thám và cảnh sát. Bọn phát xít bắn súng lục chỉ thiên, và đá ông Chiêu. Mặc dầu có sự khiêu khích đê tiện ấy, người bản xứ vẫn giữ một thái độ rất bình tĩnh. Điều đó đã làm thất bại âm mưu của bọn Pháp định gây ra một “ngày đẫm máu” hòng dạy cho người An Nam biết phục tùng chúng!
Cũng đúng vào dịp này, nhà chí sĩ Phan Chu Trinh, một người thuộc phái quốc gia khác, vừa qua đời. 30.000 người An Nam ở khắp xứ Nam Kỳ đã làm lễ an táng theo quốc lễ và khắp nước đã tổ chức lễ truy điệu nhà chí sĩ. Chỉ trong vài ba ngày, một cuộc lạc quyên đã thu được 100.000 đồng. Tất cả học sinh, sinh viên đều để tang cụ.
Trước phong trào yêu nước của toàn dân, bọn thực dân Pháp sợ hãi, bắt đầu phản công lại. Chúng cấm học sinh để tang và tổ chức lạc quyên. Chúng cấm tổ chức các lễ truy điệu, v.v.. Để phản đối lại, học sinh đã bãi khoá. ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Huế, Sài Gòn, Phú Lâm, v.v. đâu đâu học sinh cũng đều bãi khoá. Nữ sinh cũng tham gia phong trào. Một sự việc đầy ý nghĩa sau đây đã chứng tỏ tinh thần yêu nước của học sinh: Tại trường Saxlu Lôba ở Sài Gòn có người đã viết lên bảng mấy chữ: “A.B. L.F.” (A bas les Franỗais – Đả đảo thực dân Pháp). Các giáo sư Pháp bắt học sinh lên xoá bảng. Chẳng một em nào chịu xoá cả.
Tên “xã hội” Varen ra lệnh cho hiệu trưởng các trường “phải thẳng tay trừng trị những hành động vô kỷ luật”. Thế là đã xảy ra nhiều cuộc khám xét, bắt bớ và đuổi hàng loạt học sinh. Riêng ở Sài Gòn, hơn 500 học sinh đã bị đuổi ra khỏi trường.
Các tổ chức chính trị. ở Bắc Kỳ, có một hội bí mật gọi là “Phục Việt” (46) . Mới đây hội này có rải truyền đơn, mà sau đây là vài đoạn trích dẫn:
“Nước Pháp dùng vũ lực để bắt nước ta làm nô lệ … họ đã áp bức dân ta nhiều nǎm nay … Trong cảnh ô nhục và cǎm thù đó, chúng ta, người An Nam không thể đội trời chung với người Pháp. Hỡi hai mươi lǎm triệu đồng bào! Những ai không chịu đem lòng sắt đá ra lật đổ cường quyền, thì thà hãy để cho thịt xương tự tan nát mà đền nợ nước.
“… Cường quyền đã đến ngày mạt vận. Các dân tộc đang hưởng ứng lời kêu gọi của nước Nga cách mạng. ấn Độ và Ai Cập đã vùng dậy đòi lại tự do… Lẽ nào người An Nam chúng ta lại vẫn chìm đắm trong giấc ngủ triền miên?… Hỡi dân tộc An Nam! Nếu chúng ta không đạt được (việc tự giải phóng) bằng phương pháp ôn hoà, thì chúng ta không ngần ngại hành động quyết liệt để trả thù nhà, nợ nước và để chen vai thích cánh với nǎm châu… Hỡi dân tộc An Nam! Hãy mau mau thức tỉnh…”.
ở Nam Kỳ, có một nhóm trí thức Tây học tự xưng là “Đảng lập hiến”, họ là một nhóm ôn hoà chủ trương “Pháp – An Nam đề huề”. Theo chúng tôi biết thì nhóm này không có hệ thống tổ chức, không có điều lệ, không có cán bộ. Đó là một tổ chức tập hợp nhau về mặt tinh thần. Vì họ thường đả kích chế độ cai trị thối nát ở thuộc địa trong khi vẫn tôn trọng “chủ quyền Pháp” nên họ có ảnh hưởng khá lớn trong quần chúng người bản xứ.
Có một nhóm khác là nhóm “Thanh niên An Nam”. Nhóm này tiến bộ và hoạt động hơn. Cơ quan báo chí của nhóm này do một người đã gia nhập quốc tịch Pháp làm chủ nhiệm, thường trích in bài của báo L’Humanité xuất bản ở Pari. Nhóm này cũng xuất bản, dưới hình thức những sách nhỏ, bản Tuyên ngôn Dân quyền và bản Tuyên ngôn của Đảng cộng sản 47 của Mác.
Tất nhiên là Chính phủ Pháp hết sức tìm cách phá bỏ nhóm này, nhưng không kết quả, vì nhóm đó đưa tổ chức thành đảng. Vì thế Chính phủ Pháp bèn đàn áp các thành viên của nhóm đó.
Tháng 3, nhóm “Thanh niên An Nam” có tổ chức một cuộc mít tinh phản đối việc trục xuất một người Bắc Kỳ. Cuộc mít tinh thông qua kiến nghị như sau:
“Chúng tôi 3.000 người An Nam… sau khi nghe diễn thuyết nói chuyện … nhận thấy rằng việc trục xuất những người An Nam quê ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ ra khỏi địa phận Nam Kỳ là một hành động
độc đoán…, chúng tôi cực lực phản đối sự lạm quyền này… và khẩn thiết đòi Chính phủ Pháp ở Đông Dương phải tôn trọng những quyền tự nhiên và bất khả xâm phạm của con người và của công dân đã được xác nhận trong Hiến pháp của nước Cộng hoà Pháp, nhất là: 1) tự do báo chí viết bằng tiếng bản xứ, 2) bỏ câu thúc thân thể về dân sự và thương sự, 3) tự do học tập, hội họp và tự do đi lại”.
Trước cuộc mít tinh, người ta đã rải truyền đơn, cuối tờ truyền đơn có câu: “Nếu Chính phủ không chịu trả lại cho chúng tôi những quyền tự do cần thiết nói trên (quyền tự do báo chí, v.v.) thì chúng tôi không còn chút tin tưởng nào ở thiện ý của Chính phủ và chúng tôi nguyện cùng nhau tận tâm tận lực hoạt động để giải phóng dân tộc An Nam”.
Cũng vì đã viết những tiếng giải phóng dân tộc An Nam và đã phát hành số đầu tiên và cũng là số cuối cùng của báo An Nam trẻ- Diễn đàn giải phóng quốc gia, trong đó có đǎng lại bài của báo L’Humanité và báo Le Paria, mà hai tác giả, những người đã viết truyền đơn, đã tổ chức mít tinh, vừa là chủ nhiệm vừa là quản lý tờ báo, đã bị kết án hai nǎm tù!
Do hai vụ án này, học sinh lại tiếp tục bãi khoá. Thực dân Pháp lại dùng những biện pháp hành chính để trấn áp trả thù.
Tình hình chính trị ở Đông Dương có thể tóm tắt trong lời than vãn sau đây của một tờ báo tiếng Pháp ở Bắc Kỳ:
“Vụ biến động này… đã làm cho nước ta xưa nay yên ổn biết bao, đã trở thành trung tâm của những cuộc biến động và hỗn loạn”.
Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 91, ngày 14-8-1926
cpv.org.vn
46. Hội Phục Việt: Một tổ chức yêu nước được thành lập vào mùa hè nǎm 1925, do sự kết hợp nhóm những chính trị phạm cũ ở Trung Kỳ (thực dân Pháp phải thả ra dưới áp lực của phong trào quần chúng và phong trào đòi tự do dân chủ phát triển mạnh ở Việt Nam từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất) với nhóm sinh viên Trường Cao đẳng sư phạm Hà Nội. Cơ sở của Hội chủ yếu ở vùng Thanh – Nghệ – Tĩnh. Trong phong trào đấu tranh sôi nôi của nhân dân ta đòi thực dân Pháp thả nhà ái quốc Phan Bội Châu nǎm 1925, hội viên của Hội này đã rải truyền đơn ở các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, thị xã Hải Dương và cả ở Nam Kỳ kêu gọi đấu tranh. Cơ sở của Hội bị lộ và Hội phải đổi tên là Hưng Nam. Do chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội – tổ chức cách mạng do Nguyễn Ái Quốc sáng lập nǎm 1925 ở Quảng Châu (Trung Quốc), Hưng Nam đã chuyển thành Tân Việt cách mạng đảng (tháng 7-1928), sau đó phân hoá và dẫn tới sự ra đời của Đông Dương Cộng sản liên đoàn (tháng 1-1930) là một trong ba tổ chức cộng sản đã hợp nhất lại thành Đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng 2-1930. Tr.231.
Bạn phải đăng nhập để bình luận.