Báo cáo của Việt Nam gửi Quốc tế Cộng sản

1. Địa lý: ấn Độ China thuộc Pháp, còn có tên là “Đông Dương”, gồm 5 vùng, Ai Lao, Cao Miên, Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ. Ba vùng sau là Việt Nam.

2. Dân tộc: Toàn Đông Dương có khoảng 25 triệu dân. Dân tộc Việt Nam chiếm tuyệt đại đa số: 20 triệu người. Cao Miên hơn 2 triệu người. Lào, Mán, Thổ và các dân tộc thiểu số khác cộng trên dưới 3 triệu người.

3. Chế độ chính trị: Nam Kỳ bị Pháp chinh phục trước tiên, là xứ thuộc địa. Trung Kỳ, Cao Miên, Ai Lao là nước bảo hộ, có quốc vương. Bắc Kỳ là Territory (khu quản hạt).

Toàn bộ chính quyền Đông Dương nằm trong tay Toàn quyền người Pháp. Mỗi vùng có một Khâm sứ người Pháp. Mỗi tỉnh có một Công sứ người Pháp. Ngoài ra, còn có người bản xứ làm tỉnh trưởng, tri phủ, tri huyện, v. v.. do người Pháp uỷ nhiệm.

4. Tài nguyên: Nam Kỳ sản xuất nhiều lúa gạo nhất. Mỗi nǎm xuất khẩu khoảng từ 1500 đến 1800 tấn. Bắc Kỳ nhiều nhất là khoáng sản. Mỗi nǎm sản xuất 2 triệu tấn than. Các kim loại đều có. Còn các vùng khác thì đất xấu, dân nghèo.

5. Nạn bóc lột: Ruộng vườn nhà cửa, các việc ma chay cưới xin, sinh con đẻ cái, các loại gia súc 1 , nhất nhất đều phải nộp thuế. Nam từ mười bảy, mười tám đến nǎm mươi lǎm tuổi, hằng nǎm phải nộp thuế thân, từ hai đồng đến mười hai đồng. Sau khi nộp thuế, mỗi người được phát một tấm thẻ ghi rõ tên tuổi, quê quán, nghề nghiệp, hình dạng, có lý trưởng và tỉnh trưởng Pháp ký tên đóng dấu. Thẻ đó, ai cũng phải mang theo người. Nếu không sẽ bị bắt giữ. Người Pháp lợi dụng cách đó để ngǎn chặn những người cách mạng hành động.

6. Quốc phòng: Quân số không rõ, có khoảng chừng ba vạn lính. Phần lớn là lính bản xứ. Một số ít là “lính lê dương”. “Lính lê dương” không phải là người Pháp, mà người quốc tịch nào cũng có. Họ đều là những tù nhân chạy trốn. Quân lính đóng ở các thành phố lớn và vùng biên giới. Máy bay rất ít. Lực lượng hải quân cũng yếu ớt. Theo mật thám Nhật Bản nói: chỉ cần hai sư đoàn là đủ để chinh phục Đông Dương.

Do đối xử không công bằng – lính bản xứ không được làm sĩ quan, đời sống lại rất khổ – cho nên họ rất ghét người Pháp.

7. Phong trào giải phóng: Nổi tiếng nhất có:

– Sau nǎm 1880: ở Trung Kỳ, có “Khởi nghĩa vǎn thân” do Phan Đình Phùng lãnh đạo. ở Bắc Kỳ, có du kích chiến của Hoàng Hoa Thám. Đến nǎm 1912, Hoàng Hoa Thám bị ám sát, khởi nghĩa mới bị dập tắt 1 .

– Nǎm 1908: Nông dân Trung Kỳ bạo động.

– Nǎm 1910: Binh lính Hà Nội mưu đánh chiếm Hà Nội.

– Nǎm 1915: Nhân cuộc chiến tranh đế quốc lần thứ nhất, vua An Nam khởi nghĩa ở Trung Kỳ. ở Bắc Kỳ, binh lính Thái Nguyên khởi nghĩa, do một chính trị phạm lãnh đạo. Thổ dân vùng thượng du Bắc Kỳ cũng nổi dậy.

– Đầu nǎm 1930: Việt Nam Quốc dân đảng khởi nghĩa ở Yên Bái (Bắc Kỳ).

– Nǎm 1930 – 1931: Nông dân Trung Kỳ thành lập Xôviết, do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

– Sau nǎm 1936, có phong trào của Mặt trận Dân chủ.

8. Các tầng lớp xã hội và khuynh hướng của họ:

– Công nhân: ở Bắc Kỳ, công nhân mỏ than chiếm tuyệt đại đa số. Thứ đến công nhân đồn điền ở Nam Kỳ, rồi đến công nhân đường sắt, công nhân xưởng công binh Sài Gòn, công nhân dệt, v.v.. Tổng cộng không đến một triệu người. Họ tuy không có quyền tự do tổ chức công hội, nhưng trong hai thời kỳ 1930-1931 và 1936-1939, họ đấu tranh rất mạnh mẽ.

– Nông dân: Những nǎm 1930-1931, nông dân Nam Kỳ và Trung Kỳ tổ chức (bí mật) rất tốt, đấu tranh rất dũng cảm. Bắc Kỳ chỉ có một số ít tỉnh có tổ chức và đấu tranh. Sau này, nông dân Trung Kỳ đã phải lùi bước vì bị khủng bố gắt gao. Hiện tại, nông dân Nam Kỳ đoàn kết tốt hơn so với các địa phương khác.

Công nhân, nông dân đương nhiên là rất cǎm ghét người Pháp.

– Trí thức: Từ học trò đến công chức, thầy thuốc, vì có trình độ vǎn hoá tương đối cao, có điều kiện tiếp cận với người Pháp, hai vì họ bị người Pháp coi thường, cho nên họ đều rất ghét người Pháp. Song vì không có tổ chức, thiếu người lãnh đạo, cho nên họ “dám nghĩ mà không dám nói”.

– Tiểu thương: Thương nghiệp lớn đều nằm trong tay người Pháp, cỡ nhỏ hơn trong tay Hoa kiều. Người Việt Nam chỉ buôn bán nhỏ. Họ không ngoi lên được bởi các thứ thuế má nặng nề, do đó họ cũng rất cǎm ghét người Pháp, đồng tình với cách mạng.

– Giai cấp tư sản dân tộc: Trong người Việt không có ai làm chủ nhà máy lớn, chủ hiệu buôn lớn hoặc chủ nhà bǎng như người Trung Quốc. Họ thường chỉ là những chủ xưởng nhỏ như xưởng rượu, xưởng xay sát lúa gạo, xưởng in. Lúc bị chèn ép, họ oán người Pháp. Khi phong trào công nhân lên mạnh, họ sợ cách mạng. Nhưng trong số đó cũng có vài người giúp đỡ cách mạng. Thế lực của họ rất yếu ớt, không có tổ chức.

– Quan lại, địa chủ: Họ tuy hai mà một, một mà hai. Quan lại lớn đồng thời là địa chủ lớn. Ví dụ, tỉnh trưởng tỉnh Hà Đông ở Bắc Kỳ, một mình y chiếm hai phần ba ruộng đất toàn tỉnh. Bọn này cùng với đế quốc Pháp sống dựa vào nhau. Địa chủ lớn ở Nam Kỳ có đoàn thể riêng: “Đảng lập hiến”. Địa chủ các vùng khác không có tổ chức gì cả.

– Vương công: như hoàng đế An Nam, quốc vương Cao Miên, v.v.. Tất nhiên họ là những rường cột phản động. Người Pháp lợi dụng họ làm bù nhìn để thi hành những luật pháp thời Trung cổ. Trước chiến tranh đế quốc lần thứ hai, ở Nam Kỳ và Bắc Kỳ còn có một chút quyền tự do, như tự do xuất bản; còn ở Trung Kỳ, Cao Miên, Lào, ngay cả chút tự do đó cũng không có.

Nhưng cũng có những trường hợp ngoại lệ, như nǎm 1885 vua Hàm Nghi và nǎm 1915 vua Duy Tân đã đứng ra lãnh đạo chống Pháp.

– Hoa kiều: Chiếm vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế ở Đông Dương. ở bất kỳ thành phố nào, nhỏ là quán cà phê, lớn là ngành buôn bán xay sát gạo, phần lớn đều là của họ. Số Hoa kiều có khoảng trên dưới 50 vạn người, đại đa số là người Quảng Đông và người Phúc Kiến. Họ đều có tổ chức “bang”, như bang Quảng Đông, bang Phúc Kiến, bang Triều Châu, bang Hải Nam. Mỗi Hoa kiều là một “bang viên”, không ai đứng ngoài. Và chính phủ Pháp cai trị dân Hoa kiều thông qua các “bang” này. Về mặt chính trị, Quốc dân đảng (Trung Quốc – ND) và Đoàn thanh niên Tam dân chủ nghĩa rất hoạt động. ở Nam Kỳ, công nhân Hoa kiều cũng rất hoạt động, có thời kỳ An Nam Cộng sản đảng có hơn vạn đảng viên là Hoa kiều.

9. Các đảng phái:

A- Đảng Lập hiến: Thành lập ở Nam Kỳ sau Chiến tranh đế quốc lần thứ nhất, là đảng của những địa chủ lớn. Họ không có cương lĩnh, điều lệ, thẻ đảng gì cả. Từ ngày thành lập chưa họp lần nào, nhưng lại có riêng một tờ nhật báo bằng tiếng Pháp. Mấy người tự xưng là lãnh tụ đứng ra kêu gào bênh vực Chính phủ Pháp, bênh vực quyền lợi của địa chủ.

B- Tân Việt đảng: Tổ chức tại Trung Kỳ nǎm 1925, do một số trí thức đứng ra thành lập. Sau này, những phần tử tiến bộ đã gia nhập Đảng Cộng sản, số phần tử xấu bỏ chạy. Hiện không còn tồn tại nữa.

C- Quốc dân đảng 20 : Do giai cấp tiểu tư sản – những thầy giáo, luật sư, v.v. tổ chức ra tại Bắc Kỳ nǎm 1927. Họ tuyên bố theo chủ nghĩa Tôn Trung Sơn, cũng tuyên bố sẽ hợp tác có điều kiện với người Pháp, ráo riết tuyên truyền vận động trong binh lính người bản xứ. Vì tổ chức không chặt chẽ, nhiều mật thám đã chui vào được, dẫn đến việc nǎm 1929 phần lớn đảng viên bị bắt. Thế là các lãnh tụ của đảng này tuyên bố: “Đánh cũng chết, không đánh cũng chết, phải quyết một phen sống mái!”. Vào đầu nǎm 1930 họ làm bạo động ở Yên Bái (Bắc Kỳ). Tuy có nhiều binh lính bản xứ tự nguyện tham gia, nhưng vì tổ chức và lãnh đạo không tốt, cuộc bạo động đã nhanh chóng thất bại, rất nhiều người bị hy sinh. Một số lãnh tụ thứ yếu chạy sang Vân Nam, tiến hành công tác tổ chức bằng cách khủng bố và cưỡng ép. Họ mang súng lục và dao gǎm đến nhà Việt kiều rồi hỏi: “Anh có đồng ý gia nhập đảng của chúng tôi hay không?”. Bị doạ dẫm như vậy, không ít người Việt sống ở Vân Nam đã trở thành đảng viên Quốc dân đảng. (Nhiệm vụ của đảng viên là đóng đảng phí, vâng lời các lãnh tụ). Do đó, có một thời kỳ, thế lực của họ ở Vân Nam rất lớn. Ví dụ, trong toa tàu trên tuyến xe lửa Vân Nam – Việt Nam, họ có hòm thư riêng của mình. Một lần, lãnh sự Pháp bí mật bắt cóc một đảng viên, dùng xe riêng đưa về Bắc Kỳ. Quốc dân đảng cử ngay một chiếc xe đi cướp lại đảng viên đó.

Nhưng vì các lãnh tụ đảng này có thái độ ngang ngược quá đáng đối với Việt kiều như chửi mắng, chém đầu, nên ai cũng chán ghét. Lại vì chuyện họ giết một tên mật thám rồi chặt đầu ném trước lãnh sự quán Pháp, nên Chính phủ Pháp lợi dụng vấn đề này can thiệp với Chính phủ Vân Nam. Chính phủ Vân Nam đã trục xuất các lãnh tụ Quốc dân đảng. Từ đó, Việt Nam Quốc dân đảng hoàn toàn tan rã.

Gần đây, có vài ba người (trong đó có một người nghi là tay sai Pháp kiêm Hán gian, vì hắn không có nghề nghiệp gì mà sinh hoạt rất sang trọng) lợi dụng tình hình Hoa – Việt, đề nghị với tỉnh đảng bộ Côn Minh giúp đỡ sửa chữa và công bố một “Tuyên ngôn về thời cuộc” (Tuyên ngôn xem sau), cho phân phát truyền đơn “Kính cáo Việt kiều” bằng tiếng Việt. Hai tài liệu trên đây vừa xuất hiện thì bị các đảng viên cũ phản đối mạnh mẽ. Có mấy người tìm đến các đồng chí của chúng tôi, đề nghị giúp đỡ viết một Tuyên ngôn phản đối bản Tuyên ngôn trên.

D- Đảng Cộng sản: Nǎm 1924, một vài thanh niên Việt Nam học ở trường quân sự Hoàng Phố và một số thanh niên Việt Nam sống ở Quảng Châu tổ chức ra “Tâm tâm đảng” với ý nghĩa “Tâm tâm tương ấn” 1 . Hành động đầu tiên cũng là hành động cuối cùng của họ là vụ nổ bom mưu sát Toàn quyền Đông Dương khi y đến thǎm Sa Diện 2 . ít lâu sau, đoàn thể này cải tổ thành “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội” 3 . Lúc này, nhờ sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Trung Quốc và các đồng chí Nga ở Quảng Châu, “Hội Thanh niên” hoạt động rất sôi nổi. Nhiều đoàn viên tiên tiến đã tham gia Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đồng thời tổ chức nhiều lớp huấn luyện, cử người về nước tìm thanh niên đưa sang học. Học xong, đưa về nước công tác. Lúc này, cả ông Tưởng 4 , ông Tống 5 , ông Bạch 6 cũng có sự giúp đỡ. Những học viên không về nước được, thì đưa vào học ở Trường quân sự Hoàng Phố. Từ đó, toàn Đông Dương, nhất là ở ba kỳ Nam, Trung, Bắc đều có tổ chức và hoạt động của “Hội Thanh niên”.

Nǎm 1927, Quảng Châu có chính biến, Lý Tế Thâm muốn tìm tôi, nhưng tôi đã đi rồi. Số học sinh Việt Nam ở Trường quân sự Hoàng Phố bị bắt giam một nǎm, sau khi được tha họ đều chạy sang phía Hồng quân. ở Việt Nam, “Hội Thanh niên” vẫn tiếp tục phát triển.

Nǎm 1929, tại Hương Cảng, họ họp Đại hội đại biểu toàn quốc lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng. Trong Đại hội, các đại biểu Bắc Kỳ đề nghị thành lập Đảng Cộng sản, nhưng không được thông qua. Họ bèn rút khỏi hội nghị, về nước tổ chức “Đông Dương Cộng sản đảng”.

Mấy tháng sau, “Hội Thanh niên” Nam Kỳ cũng tổ chức ra “An Nam Cộng sản đảng”.

Đứng giữa hai “đảng”, “Hội Thanh niên” Trung Kỳ và cánh tả của Tân Việt không biết đi đâu, theo đâu, bèn tổ chức ra “Cộng sản liên đoàn”. Do đó, cùng một lúc trong một nước có ba “Đảng Cộng sản” không thống nhất được với nhau.

Cuối nǎm 1929, tôi đến Hương Cảng, triệu tập một hội nghị. Kết quả đã thống nhất được ba “đảng” thành Việt Nam Cộng sản đảng, sau đổi tên thành “Đông Dương” Cộng sản đảng. Vì lúc này người Pháp ráo riết thi hành chính sách vơ vét thuộc địa để phục hưng nước Pháp nên nhân dân Việt Nam bị bóc lột rất nặng nề, lại vì các đồng chí chúng ta rất hǎng hái và cố gắng, nên đã tổ chức được rất nhanh, rất tốt công nhân, nông dân và học sinh. ở Việt Nam, sau cuộc bạo động của Quốc dân đảng, Chính phủ Pháp đã thi hành triệt để chính sách khủng bố trắng, nhưng càng khủng bố thì quần chúng đấu tranh càng dũng cảm. Từ 1-5-1930, phong trào bãi công, bãi khoá, bãi thị, chống thuế lan rộng khắp cả nước; đến tháng 9, nông dân Trung Kỳ đã thành lập Xôviết trong một số huyện, nhất là ở 2 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh. Họ thực hiện các chế độ như chia ruộng đất, nam nữ bình quyền, phổ thông đầu phiếu, v.v.. Chính quyền của người Pháp lúc này không còn tồn tại ở nhiều thôn xã nữa. Chính phủ Pháp buộc phải dùng tàu bay, súng máy, “lính lê dương” giết sạch, đốt sạch khu Xôviết. Cả nước chìm ngập trong khủng bố trắng. Đảng viên và những phần tử tích cực trong quần chúng, gái trai già trẻ bị tàn sát kể tới hàng ngàn người, mười sáu ngàn người bị lưu đày sang Guyan (châu Mỹ) và các hoang đảo khác.

Sau tháng 5-1931, phong trào cách mạng tiếp tục bị đàn áp.

Sau nǎm 1933, Đảng dần dần khôi phục lại được tổ chức.

Nǎm 1936, sau khi Mặt trận nhân dân Pháp giành được thắng lợi, một số cải cách tiến bộ đã được thực hiện ở Đông Dương. Chẳng hạn, chấm dứt khủng bố trắng, nhiều tù chính trị được tha. Mặc dầu vẫn trong tình trạng bí mật hoàn toàn, nhưng công tác của Đảng có phần dễ dàng hơn.

Sau Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản, Đảng thi hành chính sách Mặt trận thống nhất, bắt đầu tổ chức “Mặt trận dân chủ Đông Dương”. Tất cả những người Đông Dương có khuynh hướng dân chủ, chi bộ Bắc Kỳ của Đảng Xã hội Pháp, v.v. đều tham gia. Công nhân, nông dân tuy chưa được tự do tổ chức công hội, nông hội, song các tổ chức quần chúng như Hợp tác xã, Hội ái hữu, Hội tương tế, v.v. cũng nhanh chóng lần lượt thành lập ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ.

Đảng tuy bí mật, song báo chí của Đảng lợi dụng những danh nghĩa khác nhau đã công khai xuất bản. Sau nǎm 1938, ở Nam Kỳ và Bắc Kỳ, báo Đảng hoàn toàn công khai và nhanh chóng trở thành những tờ báo có ảnh hưởng rộng lớn.

ở đây, chúng tôi cần nêu ra một đặc điểm rất lý thú của Đảng Cộng sản Việt Nam mà e rằng nhiều đảng anh em trên thế giới không có: Đảng có hai loại đảng viên, đảng viên bí mật và đảng viên công khai. Những đồng chí trước đây bị bắt, bị tù đầy, được tha sau nǎm 1936, là những đảng viên công khai. Các đồng chí này công khai hoạt động, như phụ trách báo chí của Đảng, tham gia các phong trào quần chúng với danh nghĩa Đảng, lấy danh nghĩa cộng sản ứng cử vào các hội đồng dân biểu kỳ, tỉnh. Có người nhân danh chi bộ Đông Dương của Đảng Xã hội Pháp để thực hiện các chính sách của chúng tôi. Do đó, không chỉ trong quần chúng công nông, mà trong nhân dân nói chung, ảnh hưởng của Đảng tương đối lớn. Ví dụ, các vị dân biểu trong “Viện dân biểu” Trung Kỳ vốn là nơi thế lực phong kiến mạnh nhất, cũng đều có sự gần gũi với chúng tôi.

Từ nǎm 1937 đến tháng 9-1939, những cuộc thị uy của nông dân, bãi công của công nhân do Đảng lãnh đạo hầu như diễn ra liên tục.

E. Đảng bảo hoàng: ở Bắc Kỳ có một đảng tên là Đảng bảo hoàng. Họ có một tờ báo riêng. Một số quan lại dựa vào thế lực của nhà vua để hoạt động. Họ không có ảnh hưởng gì. Trái lại, dân chúng nói chung rất coi thường họ.

G. Phái tờrốtxkít: Vì quan hệ cá nhân: người lãnh đạo của phái này tên là Tạ Thu Thâu là một trí thức lưu học tại Pháp, vǎn chương rất bóng bẩy, có tài ǎn nói, lại là một kẻ đạo đức giả, nguỵ quân tử, cho nên thanh niên và công nhân ở Sài Gòn chịu ảnh hưởng của phái này rất nặng. Song, trong nông thôn Nam Kỳ và ở các địa phương khác, họ không có thế lực.

Tóm lại, chúng tôi có thể nói rằng, ở Đông Dương chỉ có Đảng Cộng sản là một chính đảng chân chính, có tính chất toàn quốc và có quần chúng.

Muốn biết tình hình Việt Nam như thế nào từ sau khi bùng nổ cuộc Chiến tranh đế quốc lần thứ hai, xin xem phần phân giải dưới đây:

TÌNH HÌNH VIỆT NAM SAU KHI CHIẾN TRANH CHÂU ÂU BÙNG NỔ

1. Về chính trị. Chính phủ Pháp giải tán tất cả các đoàn thể quần chúng ở Việt Nam như Hợp tác xã, Hội ái hữu, Hội tương tế, v.v.; đóng cửa các báo chí tương đối tiến bộ; bắt bớ giam cầm nhiều phần tử tiên tiến, nhất là thanh niên; tiếp tục tiến hành khủng bố trắng.

2. Về kinh tế. Gia tǎng mức thuế cũ, đặt ra nhiều loại thuế mới, giá cả sinh hoạt tǎng vọt. Ngoài thuế má nặng nề, tǎng cường vơ vét tài nguyên và các hình thức cướp đoạt khác, khiến dân chúng hết đường sống, lòng dân sôi sục cǎm hờn.

3. Về quân sự. Phần lớn trai tráng, từ mười sáu đến nǎm mươi lǎm tuổi đều bị lôi vào lính, đưa sang Cận Đông và Pháp. Có địa phương, bốn phần mười bị bắt đi. Đã phải xuất tiền, lại phải xuất người, cho nên dân chúng ngày càng bất bình.

4. Về xã hội. ở Việt Nam vốn chẳng có cái gì gọi là bảo hiểm xã hội. Từ khi bùng nổ chiến tranh châu Âu, thời gian làm việc bị kéo dài, lương bị giảm, sức mua giảm sút. Lại thêm tình trạng bất kể là công nhân hay viên chức, động chạm đến Chính phủ Pháp là bị xét xử theo quân luật. Sống dưới sự áp bức bóc lột tàn khốc như vậy, dù là sĩ nông công thương, ai cũng cǎm thù ách thống trị của người Pháp, ai cũng có tâm lý “tao với mày cùng chết”.

Thêm nữa, người Pháp nào mở miệng cũng nói nước Pháp hùng mạnh thế này thế nọ, quân Pháp anh dũng thế này thế nọ, Pháp sẽ thắng lợi thế này thế nọ, nên từ ngày nước Pháp buộc phải đầu hàng Đức thì uy tín của người Pháp đã bay lên quá chín tầng mây, còn người Việt Nam trong lòng không ai là không mừng rỡ. Không hiếm người muốn lợi dụng cơ hội này đánh đổ ách thống trị của người Pháp. Chỉ vì không có người tổ chức và lãnh đạo họ. Vì sao Đảng Cộng sản không tổ chức và lãnh đạo họ? Vì tám chín phần mười số cán bộ cũ đã bị bắt. Cán bộ mới thì còn thiếu kinh nghiệm và chưa đủ lực lượng. Ngoài ra, còn một vấn đề nữa muốn kêu gọi toàn dân đứng lên phải có người đủ uy tín danh vọng, nói được làm được đi tiên phong thì mới có kết quả.

TÌNH HÌNH SAU KHI PHÁP ĐẦU HÀNG ĐỨC

Tình hình hiện nay phức tạp hơn nhiều! Việt Nam là Việt Nam của ai đây?

Đức – với tư cách là nước chiến thắng, đương nhiên sẽ coi Việt Nam là Việt Nam của nước Đức.

Anh – vì nó thu nhận “Uỷ hội quốc gia Pháp” 1 , nên cũng cho rằng Việt Nam có khả nǎng trở thành Việt Nam của nước Anh. Trung tuần tháng 6, hải quân Anh đã dự định làm một cuộc “diễu hành thị uy vui vẻ” với Pháp ở Sài Gòn. Nghe nói sau này không diễu hành nữa.

Mỹ – vì vấn đề Philíppin, Mỹ tỏ ra ghen ǎn trước việc Nhật chiếm Việt Nam. Gần đây, họ thường nói đến “chủ nghĩa Mônrô”, việc nhòm ngó Thái Bình Dương là bước mở đầu của Mỹ.

Trung Quốc – có người chủ trương: phía Pháp không thể bảo vệ được Việt Nam, Trung Quốc nên xuất binh thay Pháp bảo vệ Việt Nam để chống Nhật.

Nhật Bản – hiện đang mưu toan nhanh chóng chiếm Việt Nam. Nó đã hoàn thành bước thứ nhất: một mặt chiếm Trấn Nam Quan, từ cứ điểm này, nội trong ba tiếng đồng hồ, quân Nhật đã có thể tới được Hà Nội. Một mặt, phái hạm đội tuần phòng vịnh Đông Điều, sẵn sàng đổ bộ lên Hải Phòng dễ như trở bàn tay. Mặt khác, dùng hải lục không quân uy hiếp các thành phố, các ga xe lửa quan trọng ở Bắc Kỳ, thực hiện việc phong toả Trung Quốc, đồng thời giám sát hành động của Chính phủ Pháp và người Việt Nam. Nghe nói, Bộ lục quân Nhật Bản đề nghị dùng vũ lực để nhanh chóng chiếm lấy Việt Nam.

Chính phủ Pháp ở Đông Dương tuy tuyên bố không thừa nhận Chính phủ Pêtanh, phục tùng “Uỷ hội quốc gia Pháp” ở Luân Đôn và kháng chiến đến cùng. Nhưng đối với Nhật Bản thì rǎm rắp nghe theo. Ví dụ: Họ ngoan ngoãn chấp hành việc phong toả Trung Quốc. (Có một người từ Hà Khẩu sang Lào Cai, mua một cân bột mỳ. Lúc trở về, lính Pháp nói với anh ta: “Mày phải ǎn hết bột mỳ rồi hãy đi. Nếu mày mang bột mỳ sang qua cầu, tao sẽ bắn chết mày!”. Họ gửi quà uý lạo quân Nhật đóng ở Trấn Nam Quan. Không những cho phép máy bay Nhật được quyền lên xuống sân bay Hà Nội mà còn đồng ý cho Nhật được sử dụng máy bay của Pháp, v.v.. Còn đối với người Việt Nam, Chính phủ Pháp tiếp tục thi hành chính sách khủng bố trắng.

ý định của Chính phủ Pháp là: Nếu phải giao Việt Nam cho Đức hoặc phải trả lại cho người Việt Nam thì chi bằng dâng Việt Nam cho Nhật Bản tốt hơn.

Còn người Việt Nam đối với Nhật thì thế nào? Vì họ đã quá cǎm ghét người Pháp, lại vì không được nghe, được biết những tội ác hãm hiếp, tàn sát của người Nhật ở Trung Quốc, nên họ nghĩ rằng nếu không được tự do độc lập, bọn quỷ vàng có đến cũng còn hơn quỷ Pháp. Cũng có người nghĩ rằng: Chúng ta nên lợi dụng cơ hội rối ren này mà dấn lên, thành bại ra sao, chưa cần tính tới.

ĐỘNG CƠ HÀNH ĐỘNG CỦA CHÚNG TÔI

1. Cơ sở của chủ nghĩa đế quốc Pháp đã tan rã. Chúng không còn lực lượng giải quyết công việc của Việt Nam. Đức, ý tuy cho phép Pháp giữ lại lực lượng hải quân để bảo vệ thuộc địa của nó, nhưng xung đột của hải quân Anh, Pháp khiến hải quân Pháp không thể hoạt động tại Viễn Đông. Huống hồ, tàn quân sau đại bại, về tinh thần cũng như về vật chất, đều không đáng kể.

2. Đức hiện nay đang dốc toàn lực ra để đối phó với Anh – Mỹ và giải quyết vấn đề Pháp, Hà Lan, v.v. chưa thể quan tâm nhiều tới các thuộc địa tương lai.

3. Nhật tuy hung hǎng, nhưng đại bộ phận thực lực của nó đã bị kiềm chế do cuộc kháng chiến của Trung Quốc, cũng không thể dốc toàn lực ra để chinh phục Việt Nam.

4. Lực lượng vũ trang của Pháp ở Việt Nam, phần lớn là binh lính người Việt. Binh lính người Việt vốn có truyền thống cách mạng. Vụ bạo động ở Hà Nội, cuộc khởi nghĩa ở Yên Bái là những ví dụ. Nếu chúng ta biết khéo léo kêu gọi, thì họ – ít nhất là một bộ phận- có khả nǎng quay súng chống lại Pháp (hoặc chống lại Nhật).

5. Lực lượng của chúng tôi hiện nay tuy chưa thể tính toán được, nhưng quân đồng minh hiện có của chúng tôi rất mạnh. Ngoài Liên Xô, phía tây có ấn Độ, phía đông có khu giải phóng rộng lớn của Trung Hoa.

6. Nhân dân Việt Nam tuy hiện nay chưa được tổ chức, nhưng ai cũng chán ghét cuộc đời nô lệ, ai cũng mong muốn độc lập, tự do, và đang trong tư thế một người lên tiếng vạn người ủng hộ.

Tóm lại, những điều kiện khách quan cho phép chúng tôi có hy vọng thành công. Song, lực lượng chủ quan – lực lượng của Đảng còn quá yếu. Như trên đã nói, một đảng mới mười tuổi lại trải qua hai lần khủng bố lớn, số cán bộ có kinh nghiệm đấu tranh hiện còn đang rên xiết trong tù ngục, khiến đảng viên và quần chúng như “rắn không đầu”, không thể tận dụng cơ hội tốt “nghìn nǎm có một”.

Chúng tôi liệu có khả nǎng làm thay đổi hoàn cảnh đó, khắc phục khó khǎn đó, giúp Đảng hoàn thành sứ mạng lịch sử của nó hay không? Có. Chúng tôi nhất định không thể từ trong đánh ra, chúng tôi chỉ có cách từ ngoài đánh vào. Nếu chúng tôi có được:

(1) Tự do hành động ở biên giới.

(2) Một ít súng đạn.

(3) Một chút kinh phí.

(4) Vài vị cố vấn,

thì chúng tôi nhất định có thể lập ra và phát triển một cǎn cứ địa chống Pháp, chống Nhật – đó là hy vọng thấp nhất. Nếu chúng tôi có thể mở rộng Mặt trận thống nhất các dân tộc bị áp bức, có thể lợi dụng mâu thuẫn giữa các nước đế quốc thì tiền đồ tươi sáng là có thể nhìn thấy được. Tôi rất hy vọng các đồng chí giúp tôi nhanh chóng giải quyết vấn đề này.

12-7-40

Bút tích chữ Hán, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn