II. Sự chiến đấu của đội du kích

A. Nguyên tắc chiến đấu

1. Tránh đánh nơi “kiên cố”

Nếu như địch nhân đóng cổng thành hoặc đồn trại để tự vệ, hoặc đóng chiếm nơi hiểm yếu chống lại, thì trừ khi chúng ta có đủ điều kiện chiến thắng ra, rất không nên tiến công bên địch. Vì tiến công như vậy mất nhiều ngày giờ, sự thiệt hại của ta nhất định nhiều hơn bên địch. Vả lại trong các cuộc chiến tranh du kích, pháo binh của ta chưa có đầy đủ, hoặc chưa có nữa là khác, như vậy cứ cố đánh liều chỉ tổ tiêu hao lực lượng của mình thôi, vả lại, cần chú ý là không dễ dàng bốn mặt bao vây địch nhân. Vấn đề này cần suy xét cho kỹ, bằng không thì phạm phải tội “đánh liều”, hy sinh vô ích. Đấy là một việc rất quan trọng mà quân du kích phải luôn luôn chú ý.

2. Không đánh những trận gay gắt khó khǎn

Không nên đánh những trận mà ta không chắc chắn thắng lợi mười mươi. Vì nếu như ta tiêu diệt được địch nhân một nghìn, ta mất 8 trǎm, như vậy tức không đáng kể. Vì sự bổ sung người và đạn dược của ta hết sức khó khǎn, nếu như đánh được vài trận mà ta hao tổn quân lính và đạn dược nhiều, sự thắng lợi không đủ bù vào chỗ thiệt hại, đấy tức là ta thất bại.

Ta mất một được mười, được trǎm nghìn như thế mới gọi là thắng lợi.

3. Không rõ địch tình, không đánh

Quân ta đóng ở một nơi, đột nhiên thấy quân địch tới, nếu không rõ quân địch có bao nhiêu người, ở đâu tới thì không được đánh, phải mau mau rút ngay đi nơi khác, đi xa nơi đó chừng 2, 3 chục cây số gì đó …

Nếu địch nhân đến gần quá rồi, không thể tránh khỏi sự xung đột nữa, thì tốt hơn là phái một ít quân mai phục chống lại để che chở cho đại đội rút lui. Vì quân địch tới tiến công ta nhất định binh lực mạnh hơn và có kế hoạch đường hoàng, ta chớ mắc mưu.

Địch mạnh, ta thoái, như thế có lợi cho ta. Nếu địch nhân yếu thế mà ta thoái, chẳng qua chỉ làm cho quân sĩ mỏi mệt một ít thôi, ta quay lại đánh chúng cũng chưa muộn.

4. Liên hiệp dân chúng để phong toả và đánh úp địch quân

Khi địch nhân bủa vây ta, chúng ta cần phải liên lạc với dân chúng các nơi, thực hành đoạn tuyệt 1 các ngả đường giao thông của bên địch, làm cho địch nhân không biết quân ta đã tới gần sát, lợi dụng lúc ban đêm hay tờ mờ sáng, đánh lui địch quân. Hoặc liên lạc dân chúng, đội tự vệ các nơi chừng 1, 2 trǎm người hay 3, 4 trǎm người chia làm nhiều toán (nếu ít 3, 4 chục cũng được) cầm cờ C.M 2 đến chiếm các ngọn núi, các làng, các chợ, rồi dùng thanh la, trống, giáo mác, súng kíp hoả mai, kèn, pháo, v.v., khua chuông, gõ mõ, gào thét ầm ĩ, làm vang dội khắp các ngọn núi, các làng…, làm cho quân địch hỗn loạn và sợ hãi, hay cả ngày lẫn đêm bắn súng khắp bốn bên, làm cho quân địch hoảng sợ, tinh thần mỏi mệt, rồi sau đó, xuất kỳ bất ý dùng chủ lực quân đánh thốc vào bên sườn đặng tiêu diệt quân địch.

5. Cách đánh úp của đội du kích

Trong cuộc chiến tranh, có giá trị nhất và làm cho bên địch đau đớn nhất là cách đánh úp. Vô luận ở cách địch nhân gần hay xa, nhất là lúc địch nhân ở cách ta khoảng chừng 2, 3 chục cây số chẳng hạn, sự canh phòng nhất định sơ hở. Lúc bấy giờ, ta có thể đem một đội quân nhỏ lợi dụng đêm tối, đeo xách nhẹ nhàng đi thật mau chóng, một đêm hay một ngày tới nơi đó, xuất kỳ bất ý đánh úp thật mau đặng tiêu diệt địch quân, đánh như thế rất có lợi.

6. Tránh chỗ rắn, nắn chỗ mềm

Quân địch tới đánh ta, ta không nên khai chiến với chúng, tốt hơn hết là dùng phương pháp đi vòng quanh, đi sang phía không có quân địch đóng giữ. Nên tìm những con đường tắt hẻo lánh mà đi, làm cho địch nhân không biết lối nào mà đuổi được, đồng thời đi đến đâu, phải dùng đủ phương pháp liên lạc với dân chúng, để quần chúng làm những việc trinh thám ở hậu phương quân ta đi qua để khỏi bị quân địch đằng trước, đằng sau vây đánh quân ta.

Nếu như có địch nhân đuổi theo ráo riết, trước mắt lại bị ngǎn cản (như sông ngòi hay là toán quân địch đuổi theo ta mạnh), vì muốn thoát khỏi sự nguy hiểm, có thể phái một bộ đội nhỏ đi cách xa địch quân chừng độ một cây số chẳng hạn, đi thẳng lên đường cái để bên địch thấy thế đuổi theo. Lúc bây giờ, quân chủ lực ta theo con đường tắt chạy trốn; hoặc chờ khi đại đội quân địch đi qua, ta đánh thọc ngay vào giữa làm quấy nhiễu hậu phương quân địch, rồi tìm cách đánh úp chúng; hoặc phái một bộ đội nhỏ cùng với đội tự vệ dân chúng đường hoàng kéo đi làm cho địch nhân đuổi theo. Lúc đó, quân chủ lực ta núp ở trong bụi đánh ra, trước sau cùng đánh, bao vây bốn bên, đánh cho quân địch tan tành.

7. Chỉ phương đông, đánh phương tây

(Thanh đông, kích tây)

Lợi dụng sự hỗn hợp của dân và quân đội, cố ý hợp thành những đội quân thật lớn, rồi dùng mưu này kế khác phao truyền sẽ đánh vào mặt này mặt nọ, cố ý đặt ra giảo ngôn. Lúc đó, mới huy động đội quân chủ lực đi sang một bên, hành động cực kỳ bí mật, xuất kỳ bất ý đánh úp một trận.

Hoặc giả quân ta muốn đánh một nơi nào đó, không nên sừng sững kéo tới, giả vờ đi sang một phía khác, rồi đi được nửa đường, quay trở lại thật mau, dùng phương pháp nhanh như cắt đánh một trận đặng tiêu diệt quân địch.

8. Cách đánh mai phục

Nếu như địch nhân sừng sững kéo tới, chúng ta kiếm những nơi có địa hình hiểm trở, rồi phục binh ở đó tới khi địch nhân đi qua, đánh cho một trận kịch liệt, tiêu diệt địch quân.

9. Cách đánh lén ngang đường

Khi do thám biết rằng địch nhân thế nào cũng đi qua nơi ấy, thời phái một bộ đội nhỏ gồm có những tay thiện xạ ẩn núp ở bên núi cao, hay bên vệ đường hiểm yếu, hay núp trong bụi cây rậm rạp, chờ tới khi bộ phận trọng yếu bên địch đi qua, thì lǎn đá bắn súng xuống, nhằm vào những viên quan chỉ huy quân địch mà bắn.

B. Cách đối phó với địch nhân ưu thế

1. Địch tiến, ta thoái

Nếu như binh lực bên địch yếu hơn ta, thì không dám tiến đánh ta. Bởi vậy, khi quân địch tiến đánh ta, ta có thể đoán trước là quân địch hơn ta. Muốn chiếm địa vị chủ động, có chuẩn bị, có kế hoạch sẵn sàng, thì ta nên tránh sự xung đột với chúng. Phải kéo đi trước khi quân địch kéo tới.

Nếu như đến nửa đường gặp quân địch, không rõ địch tình hoặc biết trước là địch nhân hơn ta, thì không còn do dự gì nữa, gìn giữ cho khéo, rồi tháo lui mau chóng.

Khi ta thoái lui, chớ nên đi đường cái kéo chạy thẳng một mạch, để địch quân cứ theo đuổi đến cùng, cần phải đi vòng quanh gần đấy; quân địch ở trên núi, ta thoái xuống núi; quân địch ở chân núi, ta leo lên đỉnh núi; quân địch ở giữa, ta đi sang hai bên; quân địch ở bên tả ngạn sông, ta thoái đi qua hữu ngạn, quân địch ở hữu ngạn, ta thoái sang tả ngạn.

Khi thoái lui ở ngã ba đường, con đường mà chúng ta không đi, thì cố ý đánh rơi ít đồ đạc hay phái một bộ đội nhỏ đi qua đó dẫm thành những lối chân, hoặc dán biểu ngữ, khẩu hiệu, còn như đường lối mà ta đi, hết sức cẩn thận, đừng để có vết tích gì tỏ ra là ta đi qua con đường đó, làm cho địch nhân lầm đường, đuổi theo một cách vô ích.

Lúc bấy giờ, tốt hơn hết là ta phái một ít quân chia nhau thoái lui theo các ngả đường, làm cho địch nhân không biết đường nào mà đuổi. Còn đại bộ phận quân ta còn ở lại đấy, đem hết quần áo, binh phục và võ khí chôn cất kỹ càng, rồi hoá trang giả làm những kẻ lái buôn, thày bói đi các ngả đường phao truyền tin nhảm, hoặc đi trinh thám địch quân, xem có bao nhiêu người và định làm gì. Hoặc khi quân địch cắm trại, thì đi thám thính biết chỗ đóng quân của chúng, hay những con đường có quân địch canh phòng, thời mau về báo quân ta. Giả thử quân địch hỏi quân ta thoái ngả nào, đường nào, thì đông nói tây, tây nói đông, có ít xít nhiều, có nhiều nói ít, và phao truyền tin nhảm, đợi khi quân ta kéo về tiến công, lúc bấy giờ, ǎn bận quần áo cũ vào và đeo khí giới sẵn sàng, dự bị hưởng ứng quân ta đánh cho quân địch tan tành, không đường chạy trốn.

2. Địch thoái, ta tiến

Quân địch thoái lui, ta nên thừa cơ tiến diệt vì lúc bấy giờ địch nhân tất nhiên có sự thay đổi về mặt hành động quân sự, cho nên có kế hoạch thoái lui. Đã theo kế hoạch thoái lui, thì không có ý muốn cùng ta quyết chiến nữa. Nếu ta đánh vào đằng sau quân địch, đội đi sau cùng che chở bên địch, nhất định sẽ không quyết tâm đánh nhau với ta, còn đội quân địch đi trước vì phải theo kế hoạch của chúng nên rất khó quay trở lại đánh nhau với ta. Như ở những nơi rừng núi hiểm trở, đường núi quanh co, sông ngòi uốn khúc, cầu cống thật nhiều, nếu có quay đầu trở lại được nữa, đội quân đi sau đã bị quân ta tiêu diệt rồi, võ khí cũng đã bị bóc lột hết rồi. Lúc bấy giờ ta phải kiếm cách phá hoại cầu cống, cắt đứt giây thép, v.v., tốt hơn là đợi một bộ đội lớn bên địch đã rút lui rồi, còn lại một ít bộ đội hậu vệ sau cùng chống cự với quân ta, thì ta phải chiếm hết đường lối thoái lui của chúng, làm cho địch nhân muốn thoát cũng không được, muốn cứu cũng không xong. Nhưng lúc bấy giờ, trách nhiệm dân chúng rất nặng nề là phải do thám cho rõ đường lối và phương hướng thoái lui bên địch, xem có phục binh không, có khi địch quân giả vờ thoái, rồi hai cánh quân thoái lui quay lại bao vây quân ta, thì dân chúng phải lập tức báo cáo cho quân đội ngay để cho quân đội ta yên tâm theo đuổi truy đánh quân địch.

3. Địch nghỉ, ta quấy

Quân địch mới tới vùng ta, địa thế không thạo, ngôn ngữ khác nhau, chỗ nào cũng có tiếng súng, nhất định luôn luôn canh phòng nghiêm ngặt, không dành một phút nghỉ ngơi. Bởi vậy, một là, vì tinh thần cũng như xác thịt hết sức khổ sở, địch quân dù gan góc, liều lĩnh đến mấy đi nữa cũng phải lung lay và mỏi mệt. Đợi khi quân địch tinh thần dao động, thân thể mỏi mệt rồi, lúc bấy giờ, quân ta hợp với dân chúng đánh thốc vào quân địch, nhất định sẽ thắng lợi.

4. Đoạn tuyệt giao thông 1

Giây thép nói 2 hay giây thép từ chỗ này qua chỗ khác cần phải kiếm cách cắt đứt đi, đường lối, thuyền bè, xe cộ cần phải phá phách đi hoặc chiếm lấy. Còn như việc bắt lính giao thông bên địch cũng rất cần, làm cho bên địch không thể liên lạc được với nhau và không tiếp tế được.

C. Cách xử trí với địch nhân yếu thế

Trong cuộc chiến tranh gay gắt với quân thù để giành nền độc lập cho Tổ quốc, địch nhân sẽ dùng đủ mọi thủ đoạn cực dã man để đối phó lại với chúng ta. Muốn đạt tới nhiệm vụ của đội quân du kích là tiêu diệt sức phấn đấu của địch, làm phấn khởi tinh thần anh dũng của dân chúng, đối với địch nhân yếu thế, cố nhiên là không ngần ngại gì nữa, phải liên lạc dân chúng ở đó bao vây địch nhân, đánh cho tiêu tan đặng tiêu diệt chúng.

D. Làm thế nào công kích địch nhân

1. Đánh lén

Thừa lúc đêm tối, trời rét như cắt, tuyết xuống đầy đồng, mưa sa bão táp, sương mù phủ kín non sông, sự canh phòng của quân địch sơ sài, hoặc địch nhân mới đến cắm trại lạ cảnh lạ người, ta đánh thốc vào một cách mau chóng, thế nào cũng thắng lợi. Cổ nhân có câu: “xuất kỳ bất ý, công kỳ bất bị” (Thừa lúc địch nhân hớ hênh, đánh chỗ địch nhân không đề phòng).

Khi đánh lén, điều động đại bộ đội nhằm đánh vào nơi trọng yếu bên địch một cách mãnh liệt, còn một bộ đội khác thì đánh vào bên sườn, cũng có khi dùng toàn lực công kích vào một nơi hoặc chia làm nhiều toán, chia nhau tiến đánh khắp mọi nơi cùng một lúc. Nhưng cần phải có kế hoạch chu đáo để tránh khỏi bộ đội mình hỗn loạn hay lầm lẫn nhau. Bởi vậy, trước khi chưa thực hành đánh lén, cần phải đặt ra tín hiệu hay dấu hiệu.

Công việc đánh úp cần phải im hơi lặng tiếng, không nên xôn xao, trò chuyện ầm ỹ, bắn súng lung tung. Khi chưa đến gần được địch nhân hay chưa có dịp tốt, không nên vì nghe thấy tiếng súng bên địch bắn, rồi là cũng bắn lung tung trả lại. Chỉ có khi nào có dịp tốt hay đã lọt được vào trong vòng đất đai bên địch rồi, mới có thể hô hoán tiến công được. Nên kịch liệt tiến công vào trước mặt, bên sườn; trước khi đến nơi ta định chiếm, nếu xét ra không thể nào tránh xung đột, thì phải quyết tâm công kích thật mau chóng làm cho địch nhân chuẩn bị không kịp. Nếu biết trước rằng địch nhân có chuẩn bị chu đáo, thì cần phải thận trọng.

Lúc đi đánh lén, đã đến trước hậu phương quân địch rồi, không nên làm lỡ cơ hội, phải nỗ lực do thám cho biết kho súng đạn, lương thực … bên địch, rồi kiếm đủ mọi cách thiêu đốt đi, dùng mìn, thuốc nổ phá hoại pháo đài, bóp gác và các thứ kiến trúc bên địch đi. Công việc này cần phải liên lạc mật thiết với dân chúng mới có thể đạt được mục đích.

Khi công kích đã đạt tới mục đích rồi, phải nhanh chóng rút lui. Lúc trở về, cần phải kiếm con đường tắt mà đi tới một quãng đường khá xa nào đó, rồi sẽ quay trở lại nơi mình định tập hợp, làm cho địch quân không tài nào thám thính được tung tích của quân ta.

2. Đánh mai phục

Cần phải do thám biết trước con đường mà địch quân sẽ đi qua, phái quân ra mai phục ở hai bên vệ đường, núp ở quãng đường hành quân khó khǎn nhất (như trèo đèo, qua sông), đợi khi cái đích mà ta cần đánh nhất tới nơi (ví dụ: chỉ huy quan cao cấp, pháo binh, hành lý, xe cộ vận tải, v.v.) thì ta cùng nhau nhằm bắn kịch liệt.

Có mấy điều cốt yếu về cách phục binh như dưới:

a- Cách thức phục binh vô luận theo kiểu đại quy mô hay tiểu quy mô, cần chọn những nơi hiểm yếu quân địch đi qua rất khó khǎn và những quãng đường hẻm, v.v., lại còn phải tính tới chỗ quân ta có thể lẩn đi mau chóng vô cùng.

b- Nhằm bắn pháo binh, kỵ binh hay quan chỉ huy, cần phải tìm chỗ nào ẩn núp để bắn, ví như: hang ở gần đường, bụi cây, nhà, những mô đất cao bên kia sông chẳng hạn.

c- Đối với đội pháo thủ, đội vận tải bên địch, cần mai phục ở trong rừng rậm, quãng đường nhỏ hẹp trên dốc, hay núp ở nhà dân chúng.

d- Đối với đội quân nhỏ và đội trinh thám bên địch, có thể núp ở ngay hai bên vệ đường cũng được.

e- Khi mai phục, cần phải núp cho thật kín và hết sức yên lặng, vô luận ngày đêm tuyệt đối không được nói chuyện để địch nhân khỏi biết chỗ núp của ta. Vạn nhất địch nhân đã biết ta rồi, thì phải lập tức kéo đi ngay hay thay ngay chỗ núp.

g- Khi mai phục, muốn phát động thì đợi tới khi địch nhân đã đi quá già nửa rồi, có khi cái đích mà ta định bắn (như viên quan chỉ huy) hoặc lúc quân địch đi qua đã đến giữa sông, khi nghỉ ngơi, cắm trại, ǎn cơm chẳng hạn, thực tế mai phục một cách đại quy mô thì nên chia làm mấy nơi: trước, giữa và sau, rồi cùng nhau phát động làm cho quân địch bị đánh bằng mưu, làm cho chúng đại bại.

3. Đánh úp ban đêm

Xem thế quân địch hơn ta về lực lượng và binh khí mà ta không đủ sức chống lại, thì phải hóa chỉnh vi linh, phân tán để ẩn núp thật kín đáo ở các làng, rừng núi, ban ngày không được ra ngoài, đợi đến tối, tứ phía bắn đùng đoàng làm cho quân địch bối rối, hoang mang, chưa tìm được cách nào để đối phó. Lúc bấy giờ, ta phải biến linh vi chỉnh, nghĩa là lại tập hợp quân ta lại đánh thốc vào quân địch để tiêu diệt chúng. Nhưng khi thi hành phương pháp đánh như thế, cần chú ý mấy điều này:

a- Điều động cực kỳ bí mật

Những kế hoạch trước khi đưa ra và sau khi ra rồi phải giữ tuyệt đối bí mật vì rằng: Nếu một khi bên địch biết trước rồi, thì sự chuẩn bị hành động của ta vô hiệu quả, vả lại có khi thất bại lớn nữa là khác.

b- Cần biết rõ tình hình quân địch (ví dụ: Biết rõ địch nhân có bao nhiêu người, sức chiến đấu mạnh hay yếu, cách tổ chức quân địch và tinh thần quân sĩ ra sao?).

c- Cần thông thạo địa thế như: núi non, sông ngòi, rừng rú, đồng bằng, đường lối, v.v., chỗ nào có địch nhân canh phòng, chỗ nào có đường tắt, đi tới chỗ nào, có thể bao vây để tiêu diệt địch quân được không?

Những điều cốt yếu trên đây cần phải hiểu một cách rõ ràng. Sau đó mới tiến đến một nơi gần quân địch nhất định, đánh thốc vào quân địch đặng tiêu diệt chúng.

E. Làm thế nào do thám địch nhân

1. Muốn do thám các thứ quân đội bên địch, trước hết cần biết rõ có nhiều thứ binh khác nhau đã. Trừ có bộ binh, kỵ binh, pháo binh, công binh, đội quân vận tải ra, lại còn có thêm lính đặc biệt nữa, như dưới:

a- Bộ binh: Bộ binh Nhật đeo súng dài và có cả súng liên thanh hạng nặng, có đôi khi có cả súng ca nông hạng nhẹ nữa. Lính này có một miếng huy hiệu đỏ ở cổ áo (lính Nhật).

b- Kỵ binh: Lính kỵ mã cưỡi ngựa, đeo súng liên thanh và mang ca nông hạng nhỏ, có miếng huy hiệu xanh màu lá mạ ở cổ áo (lính Nhật – quân Tàu: vàng).

c- Pháo binh: Dùng lừa ngựa hay ô tô kéo đại bác, ca nông, còn như đại bác hạng nặng thì phải dùng tới xe ô tô vận tải hay 6 con ngựa kéo mới được. Đấy là đại bác hạng nặng.

Còn như thấy nòng súng thật dài lại dựng đứng, đấy là đội cao xạ. Đội lính này có huy hiệu ở cổ áo màu vàng (lính Nhật – Tàu: màu trắng xanh).

d- Công binh: Lính này mang các khí cụ như cuốc xẻng để làm việc. Trong đội lính này gồm có: Đội bắc cầu, đội thông tin, đội địa lôi, đội đường sắt. Huy hiệu ở cổ áo màu nâu (lính Nhật – Tàu: màu trắng).

e- Đội vận tải: Dắt lừa ngựa kéo xe hay dùng xe hơi để vận tải đồ đạc lương thực, v.v.. Huy hiệu ở cổ áo của lính này màu trắng (lính Nhật – Tàu: màu tím).

g- Còn các lính khác: Các đội quân thiết giáp, đội không quân, hiến binh, đội vệ binh cũng dễ nhận.

Ngoài ra còn có những đội quân y không mặc áo lính.

2. Do thám xem có bao nhiêu quân địch

Cần đếm từng hàng một, rồi nhẩm xem một đội có bao nhiêu, nhưng vì thời gian quan hệ, ta không dễ gì làm ngay được nhiệm vụ ấy. Cái cách điều tra tiện hơn, đại khái gồm có:

a- Đại đội bộ binh. Một trung đội của Nhật, Tàu gọi là “Liên”, nhưng một Liên không có cờ và có 150 tên lính…. Cứ 4 trung đội thì có một đội súng cối xay (dùng ngựa kéo) tức là một đại đội, Tàu gọi là “Doanh”, có chừng bẩy, tám trǎm người một đại đội quân Nhật có một lá cờ trắng ở giữa có những vệt đen đỏ.

Cứ ba đại đội có 1 đội súng ca nông hạng nhẹ dùng ngựa kéo tức là một liên đội, có lá cờ vuông (lúc thường cuốn tròn lại).

b- Kỵ binh. Về kỵ binh, thì đếm xem có bao nhiêu người cưỡi ngựa là được.

c- Pháo binh. Đếm xem có bao nhiêu nòng súng đại bác hạng nặng, hạng nhẹ.

d- Công binh. Công binh cũng biên chế giống như bộ binh.

e- Các thứ khác. Đây là những thứ lính đặc biệt, phụ thuộc, không quan trọng mấy, biết rõ các thứ lính là được rồi. Nhưng đội không quân, cần phải điều tra xem có bao nhiêu máy bay.

3. Do thám mưu mô bên địch

Đấy là một việc rất khó khǎn, thường thường người ta dò la địch nhân ở đâu đến và định đi đâu, cũng có thể do đó mà phán đoán được đôi phần. Nhưng đấy chưa phải là phương pháp đúng đắn. Tốt hơn là cần phải:

a- Giả cách hoan nghênh

ở nơi mà quân địch kéo qua hay sẽ đến đông, ta giả làm ra bộ nhiệt thành ra hoan nghênh, sǎn sóc quân địch. Nhân đó, ta được gần gũi binh lính, phu tải bên địch, rồi cùng họ trò chuyên lân la, dò la xem sẽ đi đâu và đi làm gì. Nếu như quân địch không hiểu tiếng ta thì khó khǎn đấy. Nhưng trong bộ đội quân địch cũng có người mình bị chúng lợi dụng làm việc cho chúng. Nếu cần phái bà già hay trẻ con gần gũi họ, dò la cũng có thể biết được tin tức.

b- Giả đi làm trinh thám cho địch nhân để thám thính bên địch

Muốn giả đi làm trinh thám bên địch, thời trước hết đem một ít tin tức quân ta báo cho quân địch biết, nhưng những tin tức ấy không quan hệ gì, miễn làm cho địch nhân tin ta là được. Rồi sau lấy những tin láo lếu không thiết thực lừa dối địch quân. Đem những tin tức quan trọng bên địch báo cáo cho quân ta, đấy là một phương pháp rất tốt, nhưng phải kén chọn lấy những người có kế hoạch và giác ngộ khá để khỏi bị địch nhân mua chuộc. Đôi khi phái ít đàn bà, con gái đi gần gũi quân địch, chịu hy sinh cả xác thịt làm cho quân địch khỏi ngờ, rồi dò la tình hình quân địch, đưa những tin tức quan trọng báo cáo cho quân ta biết. Làm như vậy các chị đàn bà, con gái hết sức khổ tâm đấy, nhưng vì quyền lợi quốc gia, dân tộc, hy sinh như vậy ắt cũng vui lòng.

c- Dùng mỹ nhân kế

Công việc này cũng là việc của các chị con gái có nhan sắc đi bắt chim viên quan chỉ huy hay binh sĩ cũng được. Có đôi khi dùng cách ly gián quân địch, hoặc thám thính tin tức, hoặc ǎn cắp mệnh lệnh cùng địa đồ bên địch. Dùng đủ mọi thủ đoạn để đạt mục đích của ta, có đôi khi phải hy sinh xác thịt cũng đành. Nếu như không có thể dò la được tin tức gì cũng như không thể dùng cách nào ly gián được, thời tìm cách ám sát viên quan chỉ huy bên địch đi hoặc đốt cơ quan trọng yếu đi, liều cùng địch nhân một chết cũng cam tâm.

4. Trinh thám địa hình

Đối với những địa hình ở gần quân địch, như bến đò, đường lối, phải dò la xem có con đường tắt nào đi vòng quanh không ? Qua bến đò đi về con đường đó có được không ? Cần dò la kỹ càng thì hành động quân ta mới chắc chắn thắng lợi.

Ngoài ra còn phải chú ý những điều sau này:

a- Đi dò la một nơi nào phải cần chú ý đến đường lối, phương hướng rộng hay hẹp, đất cát thế nào. Đồng thời phải xem xét có tiện cho sự hành quân của pháo binh, kỵ binh, đội vận tải và các thứ lính khác đi qua không ?

b- Có rừng núi làng mạc gì không? Và cần phải chú ý xem những rừng núi cùng làng mạc đó có trù mật lắm không ? Diện tích là bao nhiêu?

Nếu phải qua sông ngòi, cần chú ý xem rộng hay hẹp, nước chảy từ từ hay chảy xiết, hai bên bờ có đò không ? có cầu không ? Nếu như có cầu, nói kỹ xem pháo binh, đội quân vận tải xe cộ có thể qua được không ?

5. Dò la tình hình bên địch

Đối với ý định, binh lực và các thứ quân lính bên địch cũng như trên đã nói qua, nhưng những khi cắm trại và những nơi quân chủ lực bên địch đóng, cùng những nơi trống không và những tình hình này khác cần dò la cho kỹ càng. Phải chú ý mấy điểm sau này:

a- Thấy địch nhân ở nơi nào, hạng lính gì có bao nhiêu người? xe tǎng máy bay bên địch có bao nhiêu và để ở chỗ nào?

b- Phía trước và sau lưng quân địch, phố xá cùng những nơi phòng ngự, pháo đài, tình hình và dùng những bộ đội nào giữ ở nơi đó.

c- Vị trí binh trạm, các kho súng đạn, lương thực ở đâu?

d- Trong khi đánh nhau, cần phải chú ý tình hình bên địch, quân trù bị hai bên cạnh sườn.

e- Xét xem quân lính bên địch có muốn đánh nhau hay không? và xét xem binh lính bên địch đối với tướng quan và nhân dân ra sao?

Những nhân viên phụ trách công việc do thám cần chú ý lợi dụng và liên lạc với dân chúng trong vùng. Nhưng chú ý: họ giác ngộ, đồng tình với ta và muốn cùng ta hợp tác mới dùng được. Trái lại, nếu họ không giác ngộ, bị địch nhân lợi dụng làm chó sǎn, chim mồi, phải đề phòng cẩn thận.

Trinh thám cốt yếu là dò la xem có những tổ chức nào địch phá ta không ? Nếu như có, thời hãy bày mưu, lập kế phá hoại, hoặc giết kẻ thủ lĩnh trong bọn, xử tử đi để làm gương cho kẻ khác.

cpv.org.vn

—————————–

1. Sự kiện thành lập Đảng: Vào những nǎm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một Đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.10.

2. Chủ nghĩa cộng sản thời chiến (chính sách cộng sản thời chiến): Chính sách kinh tế của nước Nga Xôviết thi hành trong thời kỳ nội chiến và chống sự can thiệp của 14 nước đế quốc (1918-1920). Theo chính sách này, chính quyền Xôviết không chỉ kiểm soát công nghiệp lớn mà còn kiểm soát cả công nghiệp nhỏ và vừa, nắm độc quyền mua bán lúa mì, cấm tư nhân buôn bán lương thực, trưng mua lương thực thừa của nông dân, nắm hàng tiêu dùng và nông sản để cung cấp cho quân đội, công nhân và nhân dân lao động. Chính quyền Xôviết thi hành chế độ nghĩa vụ lao động đối với tất cả các giai cấp, kể cả giai cấp tư sản, theo nguyên tắc “ai không làm thì không ǎn”.

Việc thực hiện chính sách cộng sản thời chiến lúc đó là hết sức cần thiết và đúng đắn. Nhờ đó đã huy động được sức người, sức của phục vụ cho công cuộc chiến đấu chống bọn bạch vệ và bọn can thiệp, giữ vững chính quyền Xôviết non trẻ. Sau khi đập tan bọn can thiệp vũ trang và kết thúc cuộc nội chiến, chính sách cộng sản thời chiến được thay bằng chính sách kinh tế mới (NEP) tháng 3-1921. Tr.28.