Con đường cứu nước và giải phóng dân tộc trong thời đại ngày nay (1-1959)

Tôi cảm ơn Nhà xuất bản Chính trị quốc gia đã cho xuất bản một số bài báo và bài nói của tôi và đã có nhã ý đề nghị tôi viết lời tựa. Biết là các bạn xôviết của chúng tôi đang hết sức chǎm chú theo dõi phong trào cách mạng ở Việt Nam, cho nên tôi mong rằng những bài in ra trong tập vǎn này sẽ giúp bạn đọc Liên Xô hiểu rõ những điều sau đây:

Nhân dân Việt Nam có truyền thống yêu nước nồng nàn. Lịch sử ngàn nǎm của dân tộc Việt Nam đã ghi những trang oanh liệt của nhân dân đấu tranh để xây dựng nước nhà và bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc mình.

Ca dao có câu:

Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước phải thương nhau cùng.

Câu đó nói lên sự đoàn kết chặt chẽ của nhân dân trong đấu tranh.

Cuối thế kỷ XIX chủ nghĩa đế quốc Pháp xâm lược Việt Nam. Bọn vua quan và phong kiến đê tiện và hèn nhát đầu hàng và câu kết với bọn đế quốc để tiếp tục nô dịch nhân dân Việt Nam nhiều hơn, khiến nhân dân Việt Nam khổ cực không kể xiết. Nhưng đại bác của bọn đế quốc không thể át tiếng nói yêu nước của nhân dân Việt Nam. Trong suốt gần một thế kỷ thống trị của thực dân Pháp, phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam không ngừng phát triển, kẻ trước ngã, người sau đứng dậy.

Nhưng tất cả những cuộc khởi nghĩa yêu nước ấy đã bị dìm trong máu. Những đám mây đen lại bao phủ đất nước Việt Nam.

Thế rồi tiếng sấm Cách mạng Tháng Mười Nga đã vang dội làm chấn động toàn thể địa cầu. Nhân dân lao động đã làm chủ nước nhà, những dân tộc nhỏ yếu giành được độc lập, ruộng đất trở về tay người cày.

Tiếng sấm Cách mạng ấy thúc đẩy những người Việt Nam yêu nước hướng về phía Liên Xô, hấp thụ lý luận vĩ đại của chủ nghĩa Mác – Lênin, tích cực tham gia cuộc đấu tranh cách mạng do các Đảng Cộng sản Pháp và Trung Quốc tiến hành và bắt đầu truyền bá tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam.

Ngọn đuốc lý luận Mác – Lênin và kinh nghiệm Cách mạng Tháng Mười vĩ đại soi sáng con đường cách mạng Việt Nam.

Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương là Đảng đã giương cao ngọn cờ cách mạng dân tộc dân chủ lại càng chứng tỏ rõ rệt vai trò của giai cấp vô sản và đảng của nó trong phong trào giải phóng dân tộc.

Đảng Cộng sản Đông Dương, đội tiền phong của giai cấp vô sản Việt Nam thành lập ngày 6 tháng 1 nǎm 1930 và vai trò lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ đã hoàn toàn chuyển sang tay giai cấp vô sản.

Trong phong trào thành lập Xôviết Nghệ An (1930-1931) (27) , trong phong trào dân chủ (1936-1940)(28)và trong cuộc đấu tranh chống ách chiếm đóng của Nhật (1940-1945) (29) , Mặt trận thống nhất đã phát triển rộng rãi khắp cả nước, trên cơ sở liên minh công nông, do giai cấp vô sản và đảng của nó lãnh đạo.

Nǎm 1945 quân đội xôviết dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Liên Xô đã đánh tan chủ nghĩa phát xít, do đó đã tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho sự phát triển của cách mạng thế giới. Lợi dụng tình hình đó, Đảng Cộng sản Đông Dương kêu gọi toàn thể nhân dân Việt Nam vùng dậy đấu tranh giành chính quyền. Tháng 8 nǎm 1945 cách mạng đã thắng lợi và Chính phủ lâm thời Việt Nam thành lập. Ngày 2 tháng 9 nǎm 1945, toàn thế giới đều biết tin nhân dân Việt Nam tuyên bố độc lập.

Nhưng bọn đế quốc Pháp không muốn thừa nhận sự thật đó, chúng muốn tròng ách bóc lột vào cổ nhân dân Việt Nam lần nữa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đã đứng dậy kháng chiến trong chín nǎm trời. Cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ và anh dũng ấy được nhân dân toàn thế giới đồng tình và được các nước xã hội chủ nghĩa đặc biệt là Liên Xô và nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ủng hộ; nó đã kết thúc thắng lợi bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (30) . Hoà bình được lập lại toàn cõi Đông Dương và một nửa nước Việt Nam hoàn toàn giải phóng.

Ở miền Bắc Việt Nam đã được giải phóng, nông dân do Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo đã hoàn thành cuộc cách mạng ruộng đất tiến hành từ trong thời kỳ kháng chiến. Quần chúng nhân dân cả nước dưới sự lãnh đạo của Đảng đã hoàn thành nhiệm vụ cơ bản khôi phục kinh tế và bước đầu phát triển vǎn hoá dân tộc và tích cực tham gia thực hiện nhiệm vụ xây dựng có kế hoạch.

Cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, điều đó chứng minh rằng trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, ở một nước thuộc địa nhỏ, với sự lãnh đạo của giai cấp vô sản và đảng của nó, dựa vào quần chúng nhân dân rộng rãi trước hết là nông dân và đoàn kết được mọi tầng lớp nhân dân yêu nước trong mặt trận thống nhất, với sự đồng tình và ủng hộ của phong trào cách mạng thế giới, trước hết là của phe xã hội chủ nghĩa hùng mạnh, nhân dân nước đó nhất định thắng lợi.

Bọn đế quốc không những không thể quay ngược bánh xe lịch sử mà còn phải thất bại nhục nhã.

Trong thời đại hiện nay, nhân dân Việt Nam nhất định tiếp tục đấu tranh thống nhất nước nhà và từng bước xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Việt Nam. Nhân dân Việt Nam quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ trước mắt và tin tưởng chắc chắn sẽ giành được thắng lợi.

Tình hình quốc tế và trong nước có lợi cho việc giành thắng lợi đó.

Phe xã hội chủ nghĩa đứng đầu là Liên Xô rõ ràng đã mạnh hơn phe đế quốc chủ nghĩa; phong trào giải phóng dân tộc ngày càng lên cao, lực lượng hoà bình ngày càng mở rộng và củng cố. Bọn đế quốc do Mỹ cầm đầu đang lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế, chính trị và quân sự; chủ nghĩa đế quốc tất nhiên phải suy tàn và diệt vong.

Dưới ngọn cờ vĩ đại của chủ nghĩa Mác – Lênin, Đảng Lao động Việt Nam luôn luôn hết lòng trung thành phục vụ nhân dân, phục vụ những người lao động, mong muốn đoàn kết chặt chẽ trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa đứng đầu là Liên Xô, kiên quyết lãnh đạo nhân dân Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ cao cả – thống nhất nước nhà và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

HỒ CHÍ MINH

——————————————–

Viết tháng 1-1959.

Sách Hồ Chí Minh: Những bài viết và nói chọn lọc, Nxb Chính trị quốc gia, Mátxcơva, 1959, (bản tiếng Nga), tr.3-6.

(27) Phong trào thành lập các Xôviết: Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã vùng dậy đấu tranh vũ trang giành chính quyền ở nhiều địa phương, thành lập chính quyền cách mạng kiểu xôviết. Các xôviết đã thực hiện nhiều biện pháp cách mạng, đem lại quyền lợi cho nhân dân như chia ruộng công, bài trừ mê tín dị đoan, trấn áp bọn phản cách mạng, v.v..

Hoảng sợ trước sức mạnh của nhân dân, thực dân Pháp và tay sai đã tiến hành một chiến dịch khủng bố dã man và dìm Xôviết Nghệ-Tĩnh trong biển máu.

Phong trào Xôviết Nghệ-Tĩnh nổ ra khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đang hoạt động ở nước ngoài. Mặc dù vậy, Người vẫn theo dõi tình hình một cách chặt chẽ và thường xuyên báo cáo cho Quốc tế Cộng sản và Quốc tế Nông dân để xin chỉ thị và kêu gọi ủng hộ phong trào này.

Phong trào cách mạng 1930-1931, mà đỉnh cao là Xôviết Nghệ-Tĩnh là cuộc tổng diễn tập đầu tiên của quần chúng cách mạng do Đảng ta lãnh đạo, chuẩn bị cho Cách mạng Tháng Tám nǎm 1945. Tr.315.

(28) Phong trào dân chủ 1936-1939: Phong trào cách mạng do Đảng ta lãnh đạo trong thời kỳ Mặt trận dân chủ Đông Dương (1936-1939).

Tham gia phong trào có nhiều đảng phái, giai cấp và tầng lớp yêu nước tán thành cải cách dân chủ và tiến bộ, tập hợp trong Mặt trận thống nhất dân chủ Đông Dương tức Mặt trận dân chủ Đông Dương đấu tranh đòi tự do dân chủ, đòi cơm áo hoà bình, tranh thủ những chính sách tiến bộ đối với các thuộc địa của Chính phủ Mặt trận nhân dân ở Pháp. Đảng ta đã tổ chức những cuộc đấu tranh bằng phương pháp hợp pháp và nửa hợp pháp, kể cả đấu tranh nghị trường nhằm tuyên truyền, tổ chức quần chúng, củng cố và phát triển tổ chức bí mật của Đảng. Kinh nghiệm của Đảng trong thời kỳ này rất phong phú nên đã đẩy mạnh được phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, thực sự chuẩn bị lực lượng và trận địa cho cao trào cứu nước (1939-1941) và Cách mạng Tháng Tám nǎm 1945. Tr.315.

(29) Phong trào chống phát xít Nhật: Được đẩy mạnh từ sau Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng (mở rộng) họp từ ngày 9 đến 12-3-1945, trong lúc Nhật làm cuộc đảo chính hất cẳng Pháp ở Đông Dương. Hội nghị nhận định: cuộc đảo chính sẽ tạo ra một tình thế khủng hoảng chính trị sâu sắc, đẩy nhanh tới thời cơ nổ ra tổng khởi nghĩa. Hội nghị nêu khẩu hiệu “Đánh đuổi phát xít Nhật” thay cho khẩu hiểu “Đánh đuổi Nhật – Pháp”; đồng thời phát động cao trào chống Nhật, cứu nước mạnh mẽ, gấp rút chuẩn bị về mọi mặt để tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Hội nghị kết thúc bằng việc ra chỉ thị lịch sử: Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta. Chỉ thị đã có tác dụng chỉ đạo rất kịp thời đối với các địa phương và phong trào cách mạng của quần chúng.

Sau Hội nghị, phong trào chống phát xít Nhật nổi lên mạnh mẽ. Quần chúng biểu tình tuần hành thị uy, mít tinh công khai, xông vào “phá kho thóc, giải quyết nạn đói”…

Từ cuối tháng 3-1945, cách mạng Việt Nam đã trở thành cao trào. Những cuộc khởi nghĩa từng phần liên tiếp nổ ra ở nhiều địa phương, các cǎn cứ địa cách mạng được thành lập. Trong khoảng từ tháng 4 đến tháng 6-1945, các lực lượng vũ trang được thống nhất thành Việt Nam Giải phóng quân, khu giải phóng Việt Bắc đã ra đời, Uỷ ban nhân dân cách mạng các cấp được thành lập, khí thế cách mạng của quần chúng rất sôi động, đã đẩy tới cao trào cứu nước, tạo tiền đề thắng lợi cho Cách mạng Tháng Tám nǎm 1945. Tr.315.

(30) Chiến thắng Điện Biên Phủ: Là thắng lợi lớn nhất, có ý nghĩa chiến lược của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Sau những thất bại liên tiếp trên chiến trường Đông Dương, kế hoạch Nava do đế quốc Pháp và bọn can thiệp Mỹ vạch ra với âm mưu mở rộng và kéo dài chiến tranh hòng cứu vãn tình thế thất bại của chúng đang có nguy cơ bị phá sản.

Tháng 11-1953, thực dân Pháp cho quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ và xây dựng ở đây một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương, nhằm giữ vững thế đứng chân ở vùng Tây Bắc và Thượng Lào, thực hiện âm mưu nhử quân chủ lực của ta lên đây để tiêu diệt, tạo điều kiện cho chúng tiến hành bình định ở đồng bằng và trung du, hòng làm thay đổi cục diện chiến trường Đông Dương theo chiều hướng có lợi cho chúng. Chúng tuyên truyền rằng: đây là “một cứ điểm đáng sợ”, “một pháo đài bất khả xâm phạm”. Điện Biên Phủ đã trở thành trung tâm của kế hoạch Nava và điểm quyết định trên chiến trường Đông Dương.

Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị Ban Chấp hành trung ương Đảng họp dưới sự chủ toạ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định tình hình và quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ.

Chiến dịch mở màn vào ngày 13-3-1954. Sau 55 ngày đêm chiến đấu gian khổ và anh dũng, ngày 7-5-1954, quân ta toàn thắng ở Điện Biên Phủ, toàn bộ tập đoàn cứ điểm bị tiêu diệt; ta đã diệt và bắt sống hơn 16.000 tên địch, trong đó có cả bộ chỉ huy của địch, bắn rơi và phá huỷ 62 máy bay, thu toàn bộ vũ khí, trang bị quân sự của địch ở đây.

Cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân 1953-1954 và Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ của quân và dân ta đã đập tan kế hoạch Nava.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã có ý nghĩa quyết định đối với việc ký kết Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam và Đông Dương. Tr.315

cpv.org.vn

Advertisements