Tư tưởng dân là chủ, Đảng là đầy tớ của nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh – lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam đã để lại những di huấn quan trọng cho cách mạng và Đảng ta, một trong những giá trị quý báu đó là tư tưởng dân là chủ, Đảng là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân.

Ngay từ đầu thế kỷ XX, trong những khoá đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam ở Trung Quốc, Nguyễn ái Quốc đã khẳng định mục đích của lớp học là đào tạo cán bộ, đưa họ trở về nước để giáo dục, giác ngộ, tổ chức nhân dân đấu tranh giải phóng đồng bào thoát khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, lập ra chính quyền dân chủ nhân dân. Trong Hội nghị thành lập Đảng (3-2-1930), Hồ Chí Minh đã cùng với Đảng ta xây dựng cương lĩnh chính trị đúng đắn, đề ra chương trình hành động của Đảng. Nội dung các văn kiện đó toát lên mục tiêu hành động của Đảng là phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Trong suốt 24 năm giữ cương vị cao nhất cơ quan đảng và nhà nước, bên cạnh khẳng định vai trò làm chủ đất nước của nhân dân, Hồ Chí Minh thường huấn thị cho cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn luyện và phấn đấu, xứng đáng là đày tớ trung thành của nhân dân.

Tư tưởng dân là chủ được Hồ Chí Minh nhắc lại nhiều lần sau khi nước độc lập, khi miền Bắc xây dựng CNXH. Dân là chủ, nghĩa là trong xã hội Việt Nam, nhân dân là người chủ của nước, nước là nước của dân. Các cơ quan đảng và nhà nước là tổ chức được dân uỷ thác làm công vụ cho dân. Dưới chế độ thuộc địa, nhân dân ta bị một cổ ba tròng, bị thủ tiêu hết mọi quyền dân chủ. Trong xã hội đó, quyền con người, quyền dân tộc bị kẻ thù chà đạp thô bạo, dã man. Lật đổ chính quyền thực dân đế quốc, lập chính quyền mới – chính quyền nhân dân trở thành mục tiêu trực tiếp của cách mạng Việt Nam, là nhiệm vụ cao cả của Đảng. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người”(1). Trong Tư tưởng Hồ Chí Minh, nếu nước độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập ấy cũng chẳng nghĩa lý gì. Giá trị cao nhất của độc lập dân tộc là đem lại quyền làm chủ thực sự cho dân, phải trao lại cho dân mọi quyền hành.

Trong mối quan hệ với Đảng và Nhà nước, Hồ Chí Minh coi nhân dân là người “chủ”, nghĩa là dân có quyền được hưởng mọi quyền con người, có quyền làm bất cứ việc gì mà pháp luật không cấm, có nghĩa vụ tuân theo pháp luật, có quyền tự do lựa chọn và đi theo con đường cách mạng chân chính. Nhân dân có quyền ứng cử, đề cử đại biểu vào cơ quan nhà nước, đồng thời có quyền “bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”(2). Nhân dân có quyền trong xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Mọi công việc có quan hệ đến vận mệnh quốc gia, dân tộc phải được công khai bàn bạc với dân, do dân quyết định. Trong mọi hoạt động, cán bộ, đảng viên phải luôn đặt lợi ích nhân dân lên trên, lên trước lợi ích của mình. Những biểu hiện xem thường, thủ tiêu các quyền dân chủ đều trái với tư tưởng dân là chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Khi bàn về mục tiêu hoạt động, Hồ Chí Minh khẳng định Đảng không có mục tiêu nào khác là đem lại lợi ích cho dân. Để thực hiện được mục tiêu đó Đảng phải thu phục, chinh phục được nhân dân, muốn vậy Đảng phải làm tròn trách nhiệm đày tớ của nhân dân. Đày tớ là công bộc của dân, với nội hàm là vì lợi ích chung mà gánh vác việc dân, trung thành và tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân.

Trong quan hệ giữa Dân và Đảng, Hồ Chí Minh quy vào quan hệ chủ và đày tớ. Chủ là dân, đày tớ là Đảng. Nói đày tớ nghĩa là nói tới đức trung thành của Đảng với dân, thể hiện ở sự hiểu biết lợi ích, tâm tư nguyện vọng của dân, biết giải quyết đúng đắn, kịp thời nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Tiến trình cách mạng Việt Nam luôn không ngừng vận động, với những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể phù hợp với từng thời kỳ, theo đó nguyện vọng của dân cũng có bước phát triển theo dòng thời gian. Khi nước mất, nhân dân Việt Nam trở thành người nô lệ, nhiệm vụ của Đảng là tập trung lãnh đạo nhân dân lật đổ chính quyền thực dân, giải phóng nhân dân thoát khỏi ách thống trị thực dân, lập chính quyền mới, đem lại quyền làm chủ cho nhân dân. Khi nước độc lập rồi thì Đảng phải nắm bắt và giải quyết kịp thời những nhu cầu trực tiếp mà nhân dân đặt ra như: Ăn, ở, học hành, chữa bệnh v.v… Nếu dân đói, dân rét thì đó là lỗi của Đảng và Chính phủ. Đối với hoạt động của cán bộ, đảng viên, Người thường nhắc nhở “việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”(3). Đức trung thành của Đảng với dân gắn liền với vận mệnh của nước. Khi đất nước bị chia cắt thành hai miền, thì sự trung thành của Đảng với dân thể hiện ở việc lãnh đạo giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nếu nước mất thì nhà tan; nước độc lập thống nhất thì dân mới có quyền hưởng tự do, hạnh phúc. Vì vậy, việc giải quyết lợi ích của dân phải gắn đồng thời với giải quyết những vấn đề về sinh mệnh của dân tộc, có như vậy Đảng mới làm đúng nghĩa trung với dân.

Là đày tớ của dân, Đảng và Nhà nước phải tận tâm, tận lực đối với dân trong từng việc làm. Cán bộ, đảng viên phải xông xáo, nhiệt tình, sâu sát nhân dân, gương mẫu và dám chịu trách nhiệm trước dân cả về lời nói và việc làm; phải luôn quyết tâm, bền bỉ, chịu đựng gian khổ, quan tâm và tìm mọi cách giải quyết kịp thời, hiệu quả những nhu cầu mà dân đặt ra, kể cả chấp nhận sự hy sinh để bảo vệ dân, phấn đấu vì sự ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

Không chỉ thấm đượm trong từng lời nói, Hồ Chí Minh đã biến tư tưởng phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân thành hành động cách mạng, trọn đời vì nước, vì dân. Sự hy sinh cao cả cho cách mạng Việt Nam của Hồ Chí Minh trở thành tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa yêu nước, Người trở thành hiện thân của truyền thống kính dân, yêu dân của Đảng ta. Trên nền tảng tư tưởng đó, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể, nắm bắt và giải quyết kịp thời những tâm tư nguyện vọng và lợi ích của dân.

Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã thu được những thành tựu vô cùng quan trọng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân rất quan trọng là Đảng luôn kiên định và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và củng cố mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, lấy phục vụ nhân dân làm nhiệm vụ cao nhất theo đúng Tư tưởng Hồ Chí Minh: Dân là chủ và “phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”(4).

_____

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 2, tr.270. (2) Sđd, tập 9, tr.591. (3) Sđd, tập 4, tr.22. (4) Sđd, tập 12, tr.510.

Ths CHẾ ĐÌNH QUANG

xaydungdang.org.vn

Advertisements