Archive | Tháng Hai 2012

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về thi đua ái quốc

…Bổn phận của người dân Việt Nam, bất kỳ sĩ, nông, công, thương, binh; bất kỳ làm việc gì, đều cần phải thi đua nhau:

Làm cho mau,

Làm cho tốt,

Làm cho nhiều.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.444.

Thi đua ái quốc phải có phương hướng đúng và vững. Nghĩa là phải nâng cao lòng nồng nàn yêu nước và giác ngộ chính trị của mọi người. Yêu nước thì phải thi đua, thi đua tức là yêu nước. Sách đã dẫn

(Sđd), tập 6, tr.270.

Phải thi đua làm nhiều, nhanh, tốt, rẻ. Nhiều, nhanh tức là cần. Tốt, rẻ tức là kiệm. Cần, kiệm tức là phải tăng năng xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm.

Thi đua làm nhiều, nhanh, tốt, rẻ, phải đi đôi với đảm bảo an toàn lao động, phải biết quý trọng con người.

Sđd, tập 10, tr.94.

Anh hùng, chiến sĩ thi đua đã là những người tiên phong trong sản xuất, mà cũng là gương mẫu về đạo đức cách mạng. Họ đặt lợi ích chung của dân tộc trên lợi ích riêng của cá nhân. Họ toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân chứ không phải nửa tâm nửa ý. Họ không sợ khó nhọc, ra sức vượt mọi khó khăn để hoàn thành và hoàn thành vượt mức nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ giao cho họ, chứ họ không suy bì hơn thiệt của cá nhân, không ganh tị về địa vị và hưởng thụ…

Đó là những đức tính cách mạng mà chúng ta cần phải học tập các anh hùng, chiến sĩ thi đua.

Sđd, tập 9, tr.200.

Các chiến sĩ thi đua, các cán bộ, đảng viên, đoàn viên phải gương mẫu, phải làm đầu tàu trong mọi việc, phải dìu dắt người chậm tiến để cùng nhau tiến bộ.

Sđd, tập 10, tr.95.

Càng thắng lợi, càng phải thi đua, càng thi đua, càng mau thắng lợi. Cần phải phát triển rộng rãi thi đua, để làm sao cho người người thi đua, ngành ngành thi đua.

Sđd, tập 6, tr.625.

Để đảm bảo phong trào thi đua thắng lợi vẻ vang, cần có hai điều: Một là cán bộ và công nhân phải thấm nhuần đạo đức cách mạng, ý thức trách nhiệm và tinh thần làm chủ tập thể; hai là kế hoạch 10 phần thì biện pháp 20 phần và quyết tâm 30 phần.

Sđd, tập 11, tr.388.

xaydungdang.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về mùa xuân

Xưa kia người ta chỉ mừng Xuân hẹp hòi trong khuôn khổ gia đình với những câu chúc tụng như: “Ngũ phúc lâm môn, tam dương khai thái”.

Ngày nay chúng ta mừng Xuân rộng rãi, từ gia đình đến cả nước, đến khắp thế giới. Xuân này là một xuân cực kỳ tươi đẹp, nó tổng kết thắng lợi to lớn của loài người mấy năm trước và mở đường cho những thắng lợi to lớn hơn nữa những năm sau.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 10, tr.44.

Tục ngữ có câu: “Suốt năm kế hoạch, định từ mùa Xuân”. Thật đúng như vậy. Mùa Xuân thì trời vui, đất vui, người càng vui. Cho nên ngay từ đầu mùa Xuân mọi công việc làm được tốt, thì cả năm sẽ phát triển tốt và kết quả tốt.

Sđd, tập 10, tr.53.

Sang năm mới, chúng ta phải cố gắng thi đua hơn nữa, cố gắng vượt những khó khăn, để tranh lấy nhiều thắng lợi hơn nữa.

Sđd, tập 6, tr.143.

Trăm năm trong cõi người ta,
Cần kiệm xây dựng nước nhà mới ngoan.
Mừng Xuân, Xuân cả thế gian,
Phải đâu lãng phí cỗ bàn mới Xuân.

Sđd, tập 10, tr.39.

Chúng ta ra sức thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm để hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước, để Xuân sau thắng lợi hơn Xuân này.

Sđd, tập 10, tr.47

xaydungdang.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về Cách mạng Tháng Mười

Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 12, tr.300.

Cách mạng Tháng Mười mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới.

Sách đã dẫn (Sđd) tập 12, tr.301.

Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười đã dạy cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới nhiều bài học hết sức quý báu, bảo đảm cho sự nghiệp giải phóng triệt để của giai cấp công nhân và của cả loài người. Giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng thấm nhuần những lời dạy của Lênin và những bài học lớn của Cách mạng Tháng Mười.

Sđd, tập 12, tr.303.

Cách mạng Tháng Mười đã chứng tỏ có khả năng lật đổ nền chuyên chính của bọn bóc lột, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, một xã hội bảo đảm cho đất nước phát triển rực rỡ một cách nhanh chóng chưa từng thấy, đưa quần chúng lao động đến một cuộc sống xứng đáng, vẻ vang và ngày càng phồn vinh, làm cho người lao động có một Tổ quốc tự do, hạnh phúc và hùng cường, hướng tới những chân trời tươi sáng…

Sđd, tập 8, tr.560.

Con đường thắng lợi của cách mạng Việt Nam chính là theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga, mà Lênin vĩ đại đã vạch ra cho nhân dân lao động toàn thế giới, cho các dân tộc bị áp bức và cho cả loài người tiến bộ đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Sđd, tập 11, tr.495.

Đi theo con đường do Lênin vĩ đại đã vạch ra, con đường của Cách mạng Tháng Mười, nhân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi rất to lớn. Chính vì vậy mà mối tình gắn bó và lòng biết ơn của nhân dân Việt Nam đối với Cách mạng Tháng Mười vẻ vang, đối với Lênin vĩ đại… là vô cùng sâu sắc.

Sđd, tập 12, tr.309.

Từ Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đến cuộc kháng chiến của Việt Nam thắng lợi, những trận đấu tranh cực kỳ gian khổ khó khăn, nhiều khi phải hy sinh xương máu, những người cách mạng lớp trước đã phụ trách và đã xây dựng nền tảng để cho thanh niên tiến lên.

Sđd, tập 10, tr.308.

Nhờ thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, nhờ sự hình thành và phát triển của phe xã hội chủ nghĩa, nhờ sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, hiện nay hàng trăm triệu nhân dân trên thế giới, trước kia là những nô lệ quằn quại dưới gót sắt của bọn thực dân, nay đã giành được tự do, độc lập.

Sđd, tập 10, tr.550-551.

xaydungdang.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về người làm công tác tổ chức, cán bộ

Mình phải có độ lượng vĩ đại thì mới có thể đối với cán bộ một cách chí công vô tư, không có thành kiến, khiến cho cán bộ khỏi bị bỏ rơi.

– Phải có tinh thần rộng rãi, mới có thể gần gụi những người mình không ưa.

– Phải có tính chịu khó dạy bảo, mới có thể nâng đỡ những đồng chí còn kém, giúp cho họ tiến bộ.

– Phải sáng suốt, mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây, mà cách xa cán bộ tốt.

– Phải có thái độ vui vẻ, thân mật, thì các đồng chí mới vui lòng gần gụi mình.

Mục đích khéo dùng cán bộ, cốt để thực hành đầy đủ chính sách của Đảng và Chính phủ.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.279.

Mình có quyền dùng người thì phải dùng những người có tài năng, làm được việc. Chớ vì bà con bầu bạn, mà kéo vào chức nọ, chức kia. Chớ vì sợ mất địa vị mà dìm những kẻ có tài năng hơn mình.

Sách đã dẫn (Sđd), tập 5, tr.105.

Mình là người làm việc công, phải có công tâm, công đức. Chớ đem của công dùng vào việc tư. Chớ đem người tư làm việc công. Việc gì cũng phải công bình, chính trực, không nên vì tư ân, tư huệ, hoặc tư thù, tư oán.

Sđd, tập 5, tr.105.

Muốn biết rõ cán bộ, muốn đối đãi một cách đúng đắn các hạng người, trước hết phải sửa những khuyết điểm của mình. Mình càng ít khuyết điểm thì cách xem xét cán bộ càng đúng.

Sđd, tập 5, tr.278.

Biết người, cố nhiên là khó. Tự biết mình, cũng không phải là dễ.

Đã không tự biết mình thì khó mà biết người, vì vậy muốn biết đúng sự phải trái ở người ta, thì trước phải biết đúng sự phải trái của mình. Nếu không biết sự phải trái ở mình, thì chắc không thể nhận rõ người cán bộ tốt hay xấu.

Sđd, tập 5, tr.277.

Bắt buộc cán bộ trong mỗi ngành phải thiết thực báo cáo và cất nhắc nhân tài.

Sđd, tập 5, tr.241.

Từ nay, công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần phải nghiên cứu đến cội rễ, phân tách thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái thìa khoá phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới. Có như thế thì người mới có tài, tài mới có dụng.

Sđd, tập 5, tr.243

xaydungdang.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9

Mục đích Cách mạng Tháng Tám là gì?

Là giành lại hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ cho Tổ quốc ta, cho nhân dân ta.

Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2-9 nước ta tuyên bố độc lập. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Tổng tuyển cử tự do được tổ chức, nhân dân toàn quốc ta đã bầu ra Quốc hội. Quốc hội thông qua Hiến pháp và bầu ra Chính phủ Trung ương. Chính quyền địa phương từ xã đến tỉnh đều do nhân dân cử ra. Thế là lúc đó chúng ta đã bắt đầu thực hiện thống nhất, độc lập và dân chủ.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 7, tr.337.

Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân điển hình ở một nước thuộc địa nửa phong kiến do giai cấp công nhân lãnh đạo. Thắng lợi ấy đã đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội. Đó là thắng lợi của đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, dân chủ của giai cấp công nhân, kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến. Đó là thắng lợi của đường lối đoàn kết toàn dân, sử dụng bạo lực cách mạng để lật đổ ách thống trị của đế quốc và phong kiến. Đó là sự tài tình, sáng tạo của Đảng trong việc tạo thời cơ, nắm vững thời cơ, khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Sách đã dẫn (Sđd), tập 6, tr.629.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công. Đó là thắng lợi đầu tiên của Chủ nghĩa Mác-Lênin ở một nước thuộc địa nửa phong kiến. Cách mạng đã đập tan xiềng xích của thực dân Pháp và phát xít Nhật, lật nhào chế độ quân chủ phong kiến thối nát trên đất nước ta, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu á.

Sđd, tập 4, tr.544

Cách mạng Tháng Tám đã thành công vì có được ba điều kiện không thể thiếu được đối với bất cứ một cuộc cách mạng phản đế nào ở một nước thuộc địa; đó là sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, sự thành lập một mặt trận dân tộc phản đế rộng rãi, khởi nghĩa vũ trang.

Sđd, tập 8, tr.53.

Cách mạng Tháng Tám đã giải phóng đồng bào ta ra khỏi chế độ quân chủ chuyên chế và xiềng xích thực dân.

Cách mạng Tháng Tám đã xây dựng cho nhân dân ta cái nền tảng Dân chủ Cộng hòa và thống nhất độc lập.

Sđd, tập 5, tr.187.

Cách mạng Tháng Tám đã lật đổ nền quân chủ mấy mươi thế kỷ, đã đánh tan xiềng xích thực dân gần 100 năm, đã đưa chính quyền lại cho nhân dân, đã xây nền tảng cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc.

Đó là một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử của nước ta.

Cách mạng Tháng Tám thắng lợi đã làm cho chúng ta trở nên một bộ phận trong đại gia đình dân chủ thế giới.

Sđd, tập 6, tr.160.

xaydungdang.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về rèn luyện cán bộ

Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.269.

Chính vì công việc nhiều mà càng cần phải học tập, để làm cho đảng viên và cốt cán tư tưởng thông, lập trường vững, làm đúng chính sách của Đảng và Chính phủ, đi đúng đường lối quần chúng. Học tập càng khá, thì giải quyết các vấn đề càng dễ dàng, công việc càng trôi chảy.

… Cốt cán không những là cái khâu liên hệ, mà lại là cái kho dồi dào cho Đảng lấy thêm lực lượng mới. Nếu cốt cán được phát triển và củng cố, thì Đảng sẽ phát triển và củng cố. Nếu không có cốt cán thì Đảng sẽ khô héo. Lời ấy càng chứng tỏ rằng giáo dục cốt cán là việc rất quan trọng và cần kíp.

Sách đã dẫn (Sđd), tập 7, tr.273-274.

Chỉnh huấn là cốt để giúp cán bộ nâng cao tư tưởng cách mạng, củng cố lập trường, rửa gột khuyết điểm, phát triển ưu điểm. Muốn có kết quả ấy thì phải:

– Mở rộng dân chủ: thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình.

– Chống thái độ rụt rè, nể nả giữa cấp dưới và cấp trên, giữa công nông và trí thức, giữa cán bộ ngoài Đảng và trong Đảng.

Sđd, tập 7, tr.92-93.

Muốn có nhiều cán bộ, Đảng phải giúp đỡ cho cán bộ tự học tập. Đảng đã giúp, cán bộ phải chịu học.

Sđd, tập 5, tr.552.

Cán bộ cũ phải hoan nghênh, dạy bảo, dìu dắt, yêu mến cán bộ mới. Cố nhiên cán bộ mới, vì công tác chưa lâu, kinh nghiệm còn ít, có nhiều khuyết điểm. Nhưng họ lại có những ưu điểm hơn cán bộ cũ: họ nhanh nhẹn hơn, thường giàu sáng kiến hơn. Vì vậy, hai bên phải tôn trọng nhau, giúp đỡ nhau, học lẫn nhau, đoàn kết chặt chẽ với nhau.

Sđd, tập 5, tr.237.

Phải luôn luôn dùng lòng thân ái mà giúp đỡ, lãnh đạo cán bộ. Giúp họ sửa chữa những chỗ sai lầm. Khen ngợi họ lúc họ làm được việc. Và phải luôn luôn kiểm soát cán bộ.

Sđd, tập 5, tr.275.

Chúng ta cần phải nâng cao mở rộng dân chủ ra, khuyên gắng cán bộ và đảng viên, bày cho họ suy nghĩ, bày cho họ học hỏi quần chúng, cổ động họ tìm tòi, đề nghị, làm những việc lợi cho quần chúng. Khi họ đã có nhiều sáng kiến, thì giúp đỡ cho họ phát triển, khen ngợi cho họ thêm hăng hái. Như thế, thì những tính lười, tính “gặp chăng hay chớ” ngày càng bớt, mà sáng kiến và tính hăng hái ngày càng nhiều thêm.

Sđd, tập 5, tr.245.

Khi giao công tác cho cán bộ cần phải chỉ đạo rõ ràng, sắp đặt đầy đủ. Vạch rõ những điểm chính, và những khó khăn có thể xảy ra. Những vấn đề đã quyết định rồi, thả cho họ làm, khuyên gắng họ cứ cả gan mà làm. Cũng như trong quân đội, khi chiến lược chiến thuật và nhiệm vụ đã quyết định rồi, vị Tổng tư lệnh không cần nhúng vào những vấn đề lặt vặt. Phải để cho các cấp chỉ huy có quyền “tuỳ cơ ứng biến”, mới có thể phát triển tài năng của họ. Việc gì cấp trên cũng nhúng vào, cán bộ như một cái máy, việc gì cũng chờ mệnh lệnh, sinh ỷ lại, mất hết sáng kiến.

Sđd, tập 5, tr.280.

xaydungdang.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về công tác đảng viên

Đảng viên tốt thì chi bộ mới tốt. Muốn đảng viên tốt thì chi bộ phải thường xuyên giáo dục mỗi đồng chí. Nhiệm vụ của đảng viên là gì? Tư cách của đảng viên là thế nào? Đồng thời giúp đỡ đảng viên hằng ngày tự kiểm điểm mình.

Về việc này, Bác có vài ý kiến để các đồng chí tham khảo:

ý kiến thứ nhất là nên in 10 nhiệm vụ của đảng viên phát cho từng đồng chí để hằng ngày ghi nhớ và thực hiện.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2000, tập 12, tr.80.

Đối với các hạng đảng viên

… Một khi họ đã theo Đảng thì Đảng phải cảm hoá họ, dạy dỗ họ, nâng cao sự hiểu biết và lòng phụ trách của họ lên dần dần. Trong sự huấn luyện và tranh đấu lâu dài, họ rất có thể thành những người chiến sĩ khá.

Đối với những người không chịu nổi khó nhọc, không chịu nổi kỷ luật nghiêm khắc mà xin ra khỏi Đảng, thì Đảng vẫn bằng lòng để họ ra. Đảng chỉ yêu cầu một điều là: họ thề không lộ bí mật của Đảng, không phản Đảng, không phá hoại Đảng. Như thế thì Đảng vẫn giữ cảm tình thân thiện với họ.

Sách đã dẫn (Sđd), tập 5, tr.254.

trong lúc đề bạt cán bộ trẻ, phải chú ý đến sự đoàn kết giữa đảng viên cũ và đảng viên mới. Trong Đảng ta có nhiều đảng viên già, nhiều đảng viên trẻ. Đảng viên nhiều tuổi thì từng trải. Đảng viên trẻ tuổi thì hăng hái. Cho nên đảng viên phải giúp đỡ lẫn nhau cùng nhau tiến bộ. Công việc cách mạng rất nhiều, không sợ thiếu việc. Phải chú ý phát triển Đảng vào thanh niên. Không nên hẹp hòi. Nhưng việc phát triển Đảng phải làm cẩn thận, không được cẩu thả.

Sđd, tập 12, tr.196-197.

… trong thời kỳ dự bị, Đảng phải dạy dỗ cho họ và trao việc cho họ làm. Đồng thời, Đảng phải xem xét tính nết, công tác và lịch sử của họ.

– Những người giới thiệu phải giúp đỡ họ học tập và công tác.

Sđd, tập 5, tr.266.

– Việc giáo dục đảng viên còn làm theo từng vụ, từng việc, chưa có chương trình, kế hoạch giáo dục toàn diện và lâu dài…

– Để sửa chữa những thiếu sót đó, từ nay Đảng ta cần phải quan tâm hơn nữa đến việc giáo dục đảng viên.

Sđd, tập 12, tr.93.

– Đảng viên ở nơi này đi nơi khác phải xin phép Đảng và theo cơ quan nơi đó để làm việc.

– Bất cứ về vấn đề nào đảng viên đều phải hết sức thảo luận và phát biểu ý kiến, khi đa số đã nghị quyết thì tất cả đảng viên phải phục tùng mà thi hành.

Sđd, tập 3, tr.6-7.

xaydungdang.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về bầu cử đại biểu Quốc hội

Luật bầu cử của ta thật là dân chủ. Tất cả công dân, gái cũng như trai, từ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử, tự do lựa chọn người thay mặt cho mình ở Quốc hội.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 10, tr.129.

Do Luật bầu cử của ta thật sự dân chủ, cho nên Quốc hội ta thật sự đại biểu cho lợi ích của nhân dân.

Sách đã dẫn (Sđd), tập 10, tr.130.

Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân.

Chế độ tuyển cử của chúng ta thực hiện dân chủ đồng thời thực hiện sự đoàn kết toàn dân. Mọi công dân từ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử, từ 21 tuổi trở lên đều có quyền ứng cử.

Việc tuyển cử tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân.

Sđd, tập 9, tr.590, 591.

Lá phiếu của người cử tri tuy khuôn khổ nó bé nhỏ, nhưng giá trị của nó thì vô cùng to lớn. Nhân dân ta đã trải qua biết bao gian khổ, hy sinh biết bao xương máu trong cuộc cách mạng đánh đổ thực dân và phong kiến mới giành được nó. Nó chứng tỏ chế độ dân chủ và tự do của Nhà nước ta và quyền làm chủ thật sự của mỗi người công dân ta. Vì vậy, đi bỏ phiếu trong cuộc tổng tuyển cử vừa là quyền lợi quý báu, vừa là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi người cử tri. Phải đi bỏ phiếu để tự mình lựa chọn những người xứng đáng thay mặt cho mình trong Quốc hội.

Sđd, tập 11, tr.247.

Quốc hội phải có những đại biểu thật xứng đáng, những đại biểu một lòng một dạ phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân và phục vụ chủ nghĩa xã hội.

Lựa chọn những đại biểu như vậy là quyền lợi và nghĩa vụ của người cử tri.

Sđd, tập 10, tr.130.

Chúng tôi nhận rằng được đồng bào đưa ra ứng cử là một vinh dự lớn. Người được bầu và người không được bầu sẽ đều vui vẻ, phấn khởi và đều cảm ơn đồng bào.

Sđd, tập 10, tr.131.

Để xứng đáng là người đày tớ trung thành của nhân dân, nhiệm vụ của mỗi vị đại biểu là phải:

– Thực hành cần kiệm liêm chính, chí công vô tư,

– Một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội,

– Làm gương mẫu trong việc thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham ô.

Sđd, tập 10, tr.172

xaydungdang.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về chi bộ

Chi bộ là nền móng của Đảng, chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 12, tr.210.

Tổ chức gốc rễ của Đảng là chi bộ. Chi bộ do chi ủy lãnh đạo; các đảng viên chịu sự lãnh đạo của chi ủy.

Sách đã dẫn (Sđd), tập 7, tr.240.

Mỗi chi bộ ta phải là một hạt nhân vững chắc, lãnh đạo đồng bào thi đua yêu nước, cần kiệm xây dựng nước nhà.

Sđd, tập 10, tr.205.

Tác dụng của chi bộ là cực kỳ quan trọng, vì nó là sợi dây chuyền để liên hệ Đảng với quần chúng. Nhiệm vụ của chi bộ là:

– Luôn luôn tuyên truyền cho nhân dân và tổ chức nhân dân, để thực hiện khẩu hiệu và chính sách của Đảng.

– Luôn luôn chú ý đến tư tưởng và nhu cầu của nhân dân và kịp thời báo cáo cho cấp trên biết rõ.

– Luôn luôn quan tâm đến đời sống kinh tế, chính trị và văn hoá của nhân dân, đồng thời giáo dục nhân dân, tổ chức nhân dân để giải quyết các vấn đề cho nhân dân.
Chỉ có làm đầy đủ những công việc ấy, thì Đảng mới liên hệ chặt chẽ với quần chúng.

– Chọn lọc đảng viên mới cũng là một nhiệm vụ quan trọng. Chi bộ cần thường xuyên giáo dục quần chúng, bồi dưỡng những phần tử hăng hái, nâng cao trình độ giác ngộ của họ đến tiêu chuẩn đảng viên. Khi giới thiệu họ vào Đảng, thì phải hết sức cẩn thận.

Sđd, tập 7, tr.243.

Chi bộ kém là vì đảng viên và cán bộ không một lòng một dạ phục vụ nhân dân; không lãnh đạo nhân dân tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Một số đảng viên và cán bộ còn mang nặng những thói xấu như tham ô, ích kỷ… họ đã không làm kiểu mẫu tốt, mà lại nêu gương xấu.

Sđd, tập 11, tr.171.

Để tránh tình trạng có đảng viên kém, có chi bộ kém, từ nay các huyện ủy, thành ủy, tỉnh ủy cần phải đi sâu đi sát đến các chi bộ, cần phải giúp đỡ các chi bộ một cách thiết thực và thường xuyên.

Sđd, tập 12, tr.79.

Đảng viên tốt thì chi bộ mới tốt. Muốn đảng viên tốt thì chi bộ phải thường xuyên giáo dục mỗi đồng chí. Nhiệm vụ của đảng viên là gì? Tư cách của đảng viên là thế nào? Đồng thời giúp đỡ đảng viên hằng ngày tự kiểm điểm mình.

Sđd, tập 12, tr.80.

xaydungdang.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chính thể dân chủ và nhà nước pháp quyền để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân

Trong hệ thống di sản Tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng của Người về dân chủ và xây dựng chính thể dân chủ, về nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân để thực hiện quyền làm chủ thực chất của nhân dân là một tư tưởng lớn, nổi bật và nhất quán.

Là một nhà tư tưởng kiệt xuất của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX, Hồ Chí Minh chẳng những đã phát hiện ra quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà còn dành cả cuộc đời và sự nghiệp của mình cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột và nô dịch của chủ nghĩa tư bản, đế quốc và thực dân, để đem lại quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc cho tất cả mọi người. Đó là lý tưởng, mục tiêu cao cả, thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa nhân đạo cách mạng, chủ nghĩa nhân văn cộng sản của Hồ Chí Minh. Người suốt đời thực hành lý tưởng và mục tiêu ấy với một động cơ và lẽ sống cao thượng, với một nghị lực phi thường vượt qua mọi gian lao và thử thách trong cuộc đấu tranh chống cường quyền và bạo ngược, nêu cao bản lĩnh và dũng khí vì tự do và nhân phẩm con người.

Sự nghiệp vĩ đại của Hồ Chí Minh là ở chỗ, chứng thực rằng, “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công”. Đó là quy luật của muôn đời mà cũng là chân giá trị của lịch sử đấu tranh cách mạng thời hiện đại. Đó còn là tri thức cốt yếu nhất, đáng tin cậy và có sức thuyết phục lớn nhất của mọi tri thức khoa học xã hội – nhân văn thể nghiệm trong đấu tranh chính trị, làm nên một chất lượng nhân văn hiện đại của văn hóa chính trị Hồ Chí Minh, văn hóa chính trị Việt Nam. Trong cuộc đời mình, Người đã dường như dành hết trí lực và tâm lực, cả nỗ lực và tinh lực của mình cho thực hành đoàn kết, đại đoàn kết trong dân, trong Đảng, từ dân tộc đến quốc tế. Người đã đề cập đến vấn đề hệ trọng và thiêng liêng này trong Di chúc, ở đó có cả tư tưởng và tâm trạng, có cả niềm tự hào, tin tưởng mà cũng xen lẫn cả lo âu và những nỗi đau lòng. Riêng điều ấy thôi cũng đủ làm hiển hiện tầm vóc vĩ đại và cao thượng của Hồ Chí Minh, cũng đủ tỏa sáng một phương diện cốt yếu của văn hóa và chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh. Đây chính là nền tảng sâu xa, bền vững nhất để tạo dựng chủ kiến và chủ thuyết Hồ Chí Minh về dân chủ và pháp quyền, về chính thể dân chủ cộng hòa và quyền làm chủ của nhân dân.

Sự nghiệp vĩ đại của Hồ Chí Minh còn ở chỗ, Người với tầm nhìn xa trông rộng, nói như Chế Lan Viên, đó là “tầm mắt đại dương” đã không chỉ thấy sự cần thiết phải giải phóng cho dân tộc mà còn trù tính và hành động để phát triển dân tộc Việt Nam. Muốn giải phóng phải làm cách mạng đến nơi, phải có Đảng cách mạng chân chính dẫn đường, Đảng phải có chủ nghĩa làm cốt, lại phải giữ chủ nghĩa cho vững, và người cách mạng vì nước, vì dân thì phải biết hy sinh, phải ít lòng ham muốn vật chất, đủ sức mạnh, bản lĩnh và dũng khí để đánh bại chủ nghĩa cá nhân. Để phát triển, phải không ngừng chăm lo xây dựng chính thể dân chủ, thực hành dân chủ rộng rãi, phải phát triển sản xuất, kinh tế, làm cho dân có ăn, có mặc, có nhà ở, được học hành, tiến bộ. Lo lợi ích công bằng, chính đáng cho dân, làm điều lợi, tránh điều hại cho dân, phải chống bằng được quan liêu, lãng phí, tham ô là những kẻ thù của dân, của cách mạng. Lại phải nâng cao dân trí, làm cho dân từ chỗ thất học, tăm tối, dốt nát do giặc thực dân gây ra đến chỗ có học vấn, học thức, phát triển giáo dục, khoa học, văn hóa để dân ta nhất định phải trở thành một dân tộc thông thái, xã hội Việt Nam làm một xã hội văn hóa cao. Đó là chỗ đi tới của CNXH.

Phát triển dân tộc, do đó theo Hồ Chí Minh là đưa dân tộc ta từ độc lập dân tộc, tiến bước tới dân chủ và xây dựng thành công CNXH. Đó là một tư tưởng chiến lược tổng quát, vạch ra con đường phát triển của Việt Nam. Muốn vậy, trước hết phải có con người XHCN, đức là gốc, tài là quan trọng, đức đảm bảo cho tài, tài để thực thi cái đức lớn, cái đạo lý, đạo nghĩa lớn nhất là vì dân, suốt đời tận tụy phục vụ dân, làm cho dân có tự do và hạnh phúc trong một nước có độc lập và chủ quyền. Với Hồ Chí Minh, chân lý không chỉ là khoa học mà còn là đạo đức. Cái gì tốt cho dân, lợi cho dân, cái đó là chân lý. Phục vụ nhân dân là phục tùng chân lý lớn nhất. Làm đầy tớ, công bộc của dân là lẽ sống cao thượng nhất.

Hồ Chí Minh kiên trì, bền bỉ thực hành chân lý ấy suốt đời và cũng suốt đời chăm lo giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên công chức cùng thực hành chân lý ấy mà Người luôn nêu gương, làm gương cho tất cả mọi người noi theo. Người đúc rút thành phương châm và phương pháp, coi gương mẫu là cách lãnh đạo tốt nhất. Ở đây tinh tế và sâu sắc biết bao, khi Người nhận ra, sức mạnh tự bảo vệ của Đảng, của Nhà nước, của chế độ bắt nguồn từ sức mạnh đạo đức khi cầm quyền. Mọi sự tha hóa dẫn đến suy đồi thể chế và đổ vỡ cả sự nghiệp, phải trả giá đau đớn mà lịch sử đã chứng kiến càng cho thấy sức tỏa sáng của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.

Trong học thuyết giải phóng và trong chủ thuyết Phát triển Hồ Chí Minh còn thấm nhuần sâu sắc triết lý nhân sinh và triết lý hành động của Người. Tất cả quy tụ vào một chữ “Dân” mà thôi. Chắt lọc cái tinh túy của triết lý phương Đông và nâng cao tầm tư tưởng của truyền thống dân tộc, noi theo gương sáng của ông cha ta từ bao đời nay trong dựng nước và giữ nước, Người thấu hiểu “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”, “dân là gốc của nước”, cho nên suốt một đời, Người đã chăm lo phát triển sức dân, bồi dưỡng sức dân và tiết kiệm sức dân. Triết lý ở đời và làm người đòi hỏi phải thân dân và chính tâm. Người đã tựa vững từ nền tảng truyền thống ấy để vượt lên, để phát triển xa hơn, vượt qua giới hạn của ý thức hệ truyền thống mà đạt tới chất lượng mới của thời đại mới, từ thân dân tiến tới dân chủ, từ chính tâm trong giới hạn chật hẹp của tu dưỡng tâm tính cá nhân theo mẫu nhân cách hiền nhân quân tử bề trên trong đạo thánh hiền, mà xác lập các chuẩn mực đạo đức cách mạng: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, coi đó là nguyên tắc của đạo làm người của người cách mạng.

Bởi thế, lý luận hay học thuyết dân chủ của Hồ Chí Minh là khoa học và cách mạng. Trong hàng trăm, hàng nghìn câu nói của Người về dân chủ đều luôn luôn nổi bật vai trò chủ động, tích cực của dân, đều luôn luôn nhất quán với tinh thần trọng dân gắn liền với trọng pháp. Nhà tư tưởng Mác-xít sáng tạo đồng thời là nhà cách mạng của thời đại mới, Hồ Chí Minh rành mạch và tường minh trong những khẳng định sau đây:

– Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trên thế giới không có sức mạnh nào mạnh bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân.

– Dân chủ nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ. Dân chủ là của quý báu nhất trên đời của dân.

– Thực hành dân chủ rộng rãi sẽ là chiếc chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn.

– Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương là do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng, đều ở nơi dân …

Người còn nhấn mạnh, trong một nước dân chủ thì nhân dân là chủ. Cán bộ, đảng viên cũng như nhiệm vụ của chính quyền ta và đoàn thể ta là phụng sự nhân dân. Nghĩa là làm đầy tớ cho dân. Dân đã có quyền làm chủ thì cũng phải thi hành nghĩa vụ của người chủ. Đây là những tóm tắt cô đọng nhất bản chất của dân chủ và quyền làm chủ, có giá trị như những định nghĩa kinh điển về dân chủ. Mấu chốt của vấn đề là ở chỗ, dân là chủ thể gốc của quyền lực. Dân ủy quyền cho Nhà nước để Nhà nước thực hiện quyền lực nhân dân, phụng sự lợi ích, nhu cầu và cả ý chí của dân. Đảng cũng chỉ vì dân mà tồn tại. Nhân dân phải chủ động xây dựng Đảng và Nhà nước tham gia vào công việc quản lý, kiểm tra giám sát, góp ý, phê bình, giúp đỡ để cho đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước được đúng đắn, hợp với tình hình, hợp với lòng dân, ý dân, cũng để cho tổ chức bộ máy được trong sạch, vững mạnh, luật pháp, thể chế, kỷ luật, kỷ cương được nghiêm minh và thi hành có hiệu quả, để cho cán bộ đảng viên công chức phải luôn luôn ghi nhớ, thực hành hai chữ dân chủ chứ đừng biến thành “quan chủ”, là đầy tớ công bộc trung thành, tận tụy của dân chứa không được lên mặt “quan cách mạng”.

Dân chủ và quyền làm chủ của dân phải trở thành một giá trị thực tế chứ không phải một lời nói suông. Dân chỉ biết đến dân chủ, công bằng, bình đẳng khi dân được ăn no, mặc ấm. Độc lập tự do phải tranh đấu mà có được thì phải làm sao cho dân được ấm no, tự do, hạnh phúc. Đã tranh được tự do độc lập rồi mà dân vẫn đói rét, cực khổ, lạc hậu thì độc lập tự do cũng chẳng để làm gì. Thiết thực đến như vậy cho nên chúng ta phải làm ngay, làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, được học hành tiến bộ, được tự do đi lại, được chăm sóc sức khỏe, được hưởng quyền tự do, hạnh phúc mà họ xứng đáng được hưởng. Tầm nhìn và hành động Hồ Chí Minh là như vậy. Người đòi hỏi, phải phấn đấu hy sinh đến cùng để dân thực sự có quyền tự do dân chủ, có hạnh phúc. Phải yêu dân, kính dân, lại phải gần dân, hiểu dân, học dân, hỏi dân, tin dân và làm tất cả những gì có lợi, mưu lợi cho dân, tránh tất cả những gì gây hại cho dân, dù chỉ là một cái hại nhỏ. Phải để cho dân tỏ rõ thái độ thẳng thắn của mình, góp ý phê bình xây dựng cho Nhà nước của mình, cho công chức của mình. Là công dân của một nước độc lập, có tự do, dân chủ thì dân phải được “mở mồm ra”. Đó là dân chủ thực chất để làm chủ thực chất, không hình thức giả dối, cũng không phù phiếm giả tạo.

Chống lại mọi khuyết tật, mọi thói xấu xa, hư hỏng, lợi dụng địa vị, quyền hành của nhà nước và người của nhà nước thì phải dựa thẳng vào dân, phát huy mọi tính chủ động, tháo vát, sáng kiến, trách nhiệm của dân. Có lỗi phải thật thà nhận lỗi và công khai sửa lỗi trước dân, không được xa dân, khinh dân, ghét dân, không tin dân, coi thường dân. Đó là căn nguyên và chứng bệnh của quan liêu. Kẽ hở này dẫn tới tham nhũng. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ nguyên nhân của quan liêu, tham nhũng không chỉ từ những khuyết lỗi của thiết chế, thể chế mà còn từ đạo đức công chức yếu kém, kỷ luật công vụ xộc xệch, làm biến chất dân chủ và các tổ chức công quyền. Người cho rằng, muốn chống được quan liêu tham nhũng thì phải ra sức thực hành dân chủ, dựa vào dân từ cơ sở, cũng như có đánh bại được giặc nội xâm là chủ nghĩa cá nhân thì mới xây dựng thành công CNXH.

Để thực hiện và thực hành dân chủ, để đảm bảo và không ngừng phát huy quyền làm chủ của nhân dân, Hồ Chí Minh đặc biệt đề cao sức mạnh của luật pháp, của pháp chế và pháp quyền. Do đó, muốn có dân chủ, muốn thực sự tôn trọng quyền làm chủ của dân phải xây dựng nhà nước pháp quyền, trong đó luật pháp là tối thượng, phải làm cho pháp luật có sức mạnh của “thần linh pháp quyền”, tất cả mọi người, từ Chủ tịch nước đến mọi người dân phải tuân thủ luật pháp, bình đẳng trước pháp luật. Để bảo vệ dân, giữ vững chế độ, pháp luật phải nghiêm minh, nền hành chính công phải minh bạch, phải nghiêm trị tất cả những kẻ bất liêm, bất kể chúng là ai.

Một trong những tác phẩm nổi tiếng của Người là bản “Quốc lệnh”, trong đó ghi rõ thưởng phạt công khai, công bằng, nghiêm minh. Mọi tội lỗi gây ra làm phương hại tới dân, tới chế độ dân chủ, Người đều ghi mức án cao nhất là tử hình.

Trọng dân nên phải trọng pháp và trọng pháp là để trọng dân, theo nghĩa phục vụ dân, bảo vệ dân, bảo vệ cái thiện và sự lương thiện, trừng trị cái ác, cái xấu, hại dân, hại nước.

Xây dựng chính thể dân chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền, xây dựng xã hội dân chủ để nhân dân là chủ và làm chủ, Hồ Chí Minh đã công phu chỉ đạo xây dựng Hiến pháp, hoàn thiện luật pháp, chú trọng hành pháp của các cơ quan Chính phủ, tính công bằng, nghiêm minh, quang minh chính đại, thiết diện vô tư của ngành tư pháp, kết hợp đức trị với pháp trị, sớm có chủ trương chuyên nghiệp hóa và hiện đại hóa công chức và nền hành chính công vụ, cải cách và đổi mới thường xuyên tổ chức bộ máy cùng với nội dung, phương thức hoạt động của hệ thống công quyền, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, phép nước theo các chuẩn mực dân chủ. Tất cả đều vì lợi ích, quyền lực của dân. Một nhà nước mạnh, có thực lực và thực quyền phải chú trọng vào lập pháp, hành pháp và tư pháp, đề cao luật pháp dân chủ và tiến bộ, bảo vệ quyền cơ bản của công dân, đảm bảo tốt dân quyền để thực hiện đầy đủ nhân quyền, không chỉ tôn trọng quyền sở hữu tài sản của công dân mà còn trọng nhân cách con người. Xây dựng một nhà nước mạnh thì phải chú trọng sự trong sạch của bộ máy, tính liêm khiết của công chức, phải là một chính phủ hành động, trọng công việc thực tế. Công chức phải thạo chính trị, giỏi chuyên môn, tinh thông nghiệp vụ, tận tụy, mẫn cán, hết lòng, hết sức phục vụ dân, tuyệt đối trung thành với chính phủ, kính trọng, lễ phép với dân chúng. Do đó, trong chính thể dân chủ cộng hòa, địa vị cao nhất là dân, quyền lực cao nhất cũng là của dân, nhà nước vừa mạnh về luật pháp, vừa giỏi giang thông suốt trong quản lý, lại phải đảm bảo đạo đức công chức và công vụ cũng như văn hóa nơi công sở thực sự là văn hóa dân chủ. Hễ chính phủ không còn xứng đáng với lòng tin cậy của dân thì dân không cần đến nữa, dân đuổi chính phủ đi, tức là bãi nhiệm. Đủ thấy, Hồ Chí Minh chú trọng pháp quyền nhân nghĩa, chính trị dân chủ, đoàn kết và thanh khiết đến thế nào. Nhân dân làm chủ bằng nhà nước của mình, đó là một kênh chủ yếu và quan trọng trực tiếp nhất. Từ Quốc dân Đại hội ở Tân Trào lịch sử, trong những ngày sôi động của Cách mạng Tháng Tám, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng và Bác Hồ ta đã thấy hình bóng của một nhà nước dân chủ đang định hình. Từ chính phủ lâm thời, ngay sau lễ Tuyên ngôn Độc lập đã bắt tay ngay vào công việc quản lý, làm tất cả để lo cho cuộc sống của dân, tập trung sức chống giặc đói, chống giặc dốt đi liền với xây dựng chính thể, củng cố nền tảng sức mạnh là lòng dân để sẵn sàng chống giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập tự do non trẻ mới ra đời. Từ Chủ tịch Chính phủ đến các vị bộ trưởng, thứ trưởng và công chức các cơ quan theo lời kêu gọi của Bác Hồ, mười ngày nhịn ăn một bữa để lấy gạo nuôi dân. Sự kiện này đã đi vào lịch sử như một nét đẹp cao quý của chế độ dân chủ được lòng dân nhất, cũng vì thế dân hết lòng ủng hộ Chính phủ, ai ai cũng một lòng, một chí, quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu làm nô lệ. Rõ ràng dân chủ và pháp quyền nhân nghĩa theo tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh đã khơi dậy động lực vĩ đại của nhân dân, của dân tộc, tạo ra sức mạnh đánh bại mọi kẻ thù.

Đảng lãnh đạo và cầm quyền sao cho Nhà nước mạnh, có thực lực và thực quyền để nhân dân làm chủ. Đó là trách nhiệm nặng nề và sứ mệnh vẻ vang của Đảng. Hồ Chí Minh đứng đầu Đảng và Nhà nước 24 năm liền (1945-1969) là người thấu hiểu hơn ai hết quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân, giữa Nhà nước với dân, cũng tức là giữa cán bộ, đảng viên, công chức với công dân và nhân dân của mình. Người đã viết ra 12 điều xây dựng Đảng chân chính cách mạng trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (1947) chỉ vẻn vẹn 456 chữ thôi mà tỏ rõ cả một chủ thuyết về Đảng cầm quyền, tiêu biểu cho đạo đức và văn minh . Thông điệp mà Người nhắn gửi chúng ta được nói rõ ngay từ điều đầu tiên, Đảng là một tổ chức cách mạng, phục vụ giai cấp, dân tộc, nhân dân và nhân loại. Vào Đảng để phấn đấu hy sinh cho lý tưởng phụng sự Tổ quốc và nhân dân chứ không phải mưu danh cầu lợi, Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Cho đến Di chúc 1.000 từ để lại mang ý nghĩa của một đại tổng kết về lý luận cách mạng và trù tính bao điều hệ trọng cho tương lai, trước sau cũng chỉ vì dân, vì dân chủ và quyền làm chủ của dân. Người nói cùng Đảng, cùng dân, từ biệt thế giới này Người không có gì phải ân hận, Người chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ nhân dân nhiều hơn nữa, lâu hơn nữa. Trí tuệ ấy, đạo đức và nhân cách ấy làm xúc động triệu triệu con người, là gương sáng đẹp đẽ, lớn lao, cao thượng cho muôn đời noi theo.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và quyền làm chủ của dân gắn liền làm một với thực hành, biến tư tưởng thành hiện thực. 65 năm trong lịch sử chính thể dân chủ cộng hòa với Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của dân, với Chính phủ do dân ủy thác quyền hành và hành động vì dân đã tỏ rõ giá trị, ý nghĩa và sức sống của những tư tưởng cao quý đó của Người.

Gs,Ts. Hoàng Chí Bảo. Hội đồng Lý luận Trung ương
Nguồn: Báo Cần Thơ điện tử

xaydungdang.org.vn

Tôi chỉ có một sự ham muốn…

Mùa xuân năm 1962, trước tết Nhâm Dần, Bác muốn thăm những gia đình thật sự còn nghèo túng ở Thủ đô trong dịp giao thừa. Bác thương cảm vô cùng trước số phận người phụ nữ Nguyễn Thị Tín tần tảo đêm 30 Tết phải đi gánh nước thuê để lấy tiền đong gạo. Câu nói của Bác “Nhà cháu mà không đến thì Bác còn đến nhà ai!” đã để lại dấu ấn sâu đậm trong tâm thức của biết bao người dân Việt Nam về nhân cách của một con người Việt Nam vĩ đại nhất. Bài học sâu sắc nhất Bác để lại là tinh thần “lá lành đùm lá rách”, lớn hơn là trách nhiệm của Chính phủ với nhân dân.

Bác Hồ – tên gọi thân thương mà tất cả người Việt Nam muốn dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu. Người là hiện thân của khát vọng đấu tranh giành độc lập dân tộc, hạnh phúc cho con người, đúng như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận định: “Chủ tịch Hồ Chí Minh cao mà không xa, mới mà không lạ, to lớn mà không làm ra vĩ đại, sáng chói mà không gây choáng ngợp, gặp lần đầu mà như thân thuộc từ lâu”.

Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến con người, chăm lo phát triển con người. Người tâm niệm: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” (1). Đó là thông điệp Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đến quốc dân đồng bào mục đích phấn đấu suốt đời của mình là vì độc lập, tự do của dân tộc, ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Người đã dành tất cả tình yêu thương cho đồng bào, đồng chí, cho già, trẻ, gái, trai, từ miền xuôi đến miền ngược, từ Bắc đến Nam…

Trước tình thương vô hạn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà thơ Tố Hữu trân trọng viết:

“Bác sống như trời đất của ta
Yêu từng ngọn lúa, mỗi nhành hoa
Tự do cho mỗi đời nô lệ
Sữa để em thơ, lụa tặng già”
(Bác ơi)

Sinh thời, Người thường nhận được tặng phẩm do đồng bào và bạn bè quốc tế biếu, tặng, nhưng thật đáng trân trọng khi Bác dành những tình cảm đó cho các phụ lão, chiến sĩ, bộ đội, thương bệnh binh và những người có nhiều thành tích trong học tập, chiến đấu, lao động sản xuất, đặc biệt là những gia đình nghèo khó. Trong khi đó, Bác vẫn mặc áo sờn vai, vá nhiều chỗ. Bác nói: “Chủ tịch Đảng, Chủ tịch Nước mặc áo vá vai thế này là cái phúc của dân đấy, đừng bỏ cái phúc ấy đi”. Câu nói của Người đã cảm hóa biết bao người, là lời dạy có ý nghĩa vô cùng sâu sắc đối với người cán bộ cách mạng. Đọc những mẩu chuyện về tấm gương đạo đức và đời sống giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta mới thấm thía về tình thương vô hạn của Người đối với nhân dân, đặc biệt là đối với những người nghèo khổ. Người luôn dành tình cảm đặc biệt trước những số phận côi cút, những người phụ nữ tần tảo, đảm đang.

Mùa xuân năm 1962, trước tết Nhâm Dần, Bác muốn thăm những gia đình thật sự còn nghèo túng ở Thủ đô trong dịp giao thừa. Bác thương cảm vô cùng trước số phận người phụ nữ Nguyễn Thị Tín tần tảo đêm 30 Tết phải đi gánh nước thuê để lấy tiền đong gạo. Câu nói của Bác “Nhà cháu mà không đến thì Bác còn đến nhà ai!” đã để lại dấu ấn sâu đậm trong tâm thức của biết bao người dân Việt Nam về nhân cách của một con người Việt Nam vĩ đại nhất. Bài học sâu sắc nhất Bác để lại là tinh thần “lá lành đùm lá rách”, lớn hơn là trách nhiệm của Chính phủ với nhân dân. Bác nhắc nhở: “Một Đảng cầm quyền mà để cho người dân nghèo hết còn chỗ để nghèo thì đó là lỗi của Đảng với nhân dân…”, “nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”(2). Vì vậy, chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân, đặc biệt là người nghèo.

Xúc động làm sao trước hình ảnh một vị Chủ tịch nước đã ân cần đi sâu, đi sát vào đời sống của nhân dân, đã không còn ranh giới giữa người đứng đầu đất nước với một gia đình lao động nghèo. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Hồ Chí Minh là một con người phi thường và xuất chúng. Tuy nhiên, khi gặp Hồ Chí Minh, mọi người cảm thấy như thân thuộc từ lâu, dễ dàng nói chuyện cởi mở, tự nhiên, không chút nào cách bức”(3). Bác Hồ như người cha bao dung, trìu mến, đặc biệt là cái cách Người đến với nhân dân cũng làm chúng ta phải suy ngẫm. Đối với nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu người cán bộ cách mạng phải biết tôn trọng và lễ phép; phải thương yêu, quý trọng con người, biết đồng cảm trước những khó khăn, đau khổ của nhân dân. Hoạt động hành chính phải dựa vào dân, lấy dân làm gốc, luôn chăm lo đến nhân dân. Người nói: “Gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.

Ngày nay, quán triệt Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới, Đảng và nhân dân ta càng thấy rõ việc chăm lo phát triển nông thôn và đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo đối với Việt Nam là một trụ cột của chiến lược tăng trưởng và phát triển bền vững. Theo đó, Đảng và Nhà nước phải “hết sức chăm lo đời sống nhân dân. Phải ra sức phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm, lại phải phân phối cho công bằng hợp lý, từng bước cải thiện việc ăn, mặc, ở, học, phục vụ sức khoẻ và giải trí của nhân dân. Đặc biệt chú trọng các vùng bị chiến tranh tàn phá, các cháu mồ côi, các cụ già yếu và gia đình các liệt sĩ, thương binh, bộ đội, thanh niên xung phong” (4).

Những tình cảm và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi là ánh đuốc soi sáng cho tâm hồn, cho trí tuệ, cho tình cảm, cho đạo đức của mỗi chúng ta, nâng bước ta đi trên những chặng đường gian lao mà đầy vinh quang phía trước.

________________________

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, Hà Nội, 1995, tập 4, tr.161-162
(2) Sách đã dẫn, t.7, tr.572.
(3) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp, NXB Sự thật, Hà Nội, 1990, tr.62-63
(4) Sđd, t.10, tr.621.

Nguyễn Văn Quang
Giảng viên Trường Đại học Sư phạm Huế

xaydungdang.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nghề thầy thuốc

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm bệnh xá ở Tp.Nam Định

Vào ngày 27 tháng 2 năm 1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có thư gửi Hội nghị cán bộ y tế. Đảng và Nhà nước ta đã lấy ngày 27 tháng 2 là ngày Thầy thuốc Việt Nam.

1. Công tác y tế và sức khỏe cho con người trong Tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình Chủ tịch Hồ Chí Minh đều hướng tình thương yêu và sự quan tâm đặc biệt đến sức khỏe của người dân. Người mong muốn và căn dặn: “Chính sách của Đảng và Chính phủ phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi” (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H,1996, t7, tr.572). Trong thư gửi Hội nghị cán bộ y tế năm 1955, Người định hướng xây dựng một nền y học nước nhà thích hợp với nhu cầu của nhân dân và dựa trên nguyên tắc khoa học, dân tộc và đại chúng. Công tác y tế dự phòng cũng được Hồ Chí Minh quan tâm, Người nói: “Phòng bệnh cũng cần thiết như chữa bệnh”, “phòng bệnh hơn trị bệnh”, “mọi người từ già trẻ, trai gái đã là người dân yêu nước đều phải quan tâm đến vấn đề vệ sinh, giữ gìn sức khoẻ”. Trong tác phẩm “Đời sống mới”, Người viết: “Sạch sẽ là một phần của đời sống mới, sạch sẽ thì dân ít ốm, khoẻ mạnh thì làm được việc, làm được việc thì có ăn” (Một số vấn đề xây dựng ngành y tế phát triển ở Việt Nam. Nxb Y học, H.1998, tr.167). Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân là nhân tố rất quan trọng có ý nghĩa quyết định đến sự thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Người chỉ rõ: “giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khoẻ mới thành công”, “sức khoẻ của cán bộ và nhân dân được bảo đảm thì tinh thần càng hǎng hái; tinh thần và sức khoẻ đầy đủ thì kháng chiến càng nhiều thắng lợi, kiến quốc càng mau thành công”.

Đối với mỗi người dân, chưa đầy một năm sau ngày khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Bác đã khuyên nhủ mọi người rằng: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới làm thành công. Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt. Mỗi một người dân mạnh khỏe tức là cả nước mạnh khỏe. Vậy nên, luyện tập thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi một người yêu nước. Việc đó không tốn kém, khó khăn gì. Gái trai, già trẻ ai cũng nên làm và ai cũng làm được… Dân cường thì nước thịnh. Tôi mong đồng bào ta ai cũng gắng tập thể dục. Tự tôi, ngày nào tôi cũng tập” (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H.1996, t4, tr.212). Cho nên, đối với mọi tầng lớp, lứa tuổi, ngành nghề đều phải giữ gìn và nâng cao sức khỏe. Người khuyên các cháu thiếu nhi “Phải siêng tập thể thao cho mình mẩy được nở nang”, không những phải “Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào/ Học tập tốt, lao động tốt/ Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt” mà còn phải “Giữ gìn vệ sinh thật tốt”. Trong nhà máy, xí nghiệp, vấn đề sức khỏe cho công nhân cũng quan trọng: “Nếu công nhân đủ ăn, đủ mặc thì họ mới đủ sức; đủ sức thì làm được việc. Một con ngựa ăn no mới chạy nhanh. Một cái máy đủ dầu mỡ mới quay đều. Người ta cũng thế”. Với Người, vấn đề vệ sinh, sức khỏe, bất luận là giàu hay nghèo đều phải thực hiện thật tốt. Nếu “người giàu không giúp cho dân nghèo ăn ở đúng vệ sinh, đến khi có bệnh dịch thì người giàu cũng khó sống”. Đối với vấn đề vệ sinh, để bảo vệ sức khỏe chung cho cộng đồng, cũng có những trường hợp phải cưỡng bách người vi phạm phải tuân theo lợi ích sức khỏe chung như “trong làng nhiều ao, nhiều muỗi, thường có đau ốm, người làng biết vậy, ai cũng bằng lòng lấp ao của mình. Chỉ một hai người không chịu theo, để người làng vì muỗi mà đau ốm liên miên. Vì vệ sinh chung làng có quyền buộc một hai người kia phải lấp ao”. Vì thế, những gì liên quan có lợi cho sức khỏe con người, Bác đều biểu dương khen ngợi: “Chúng ta tự hào có nhiều cụ ông, cụ bà ngoài 70, 80 tuổi vẫn hăng hái học tập và lao động, lập ra những đội “bạch đầu quân” trồng cây, gây rừng, đôn đốc phong trào bình dân học vụ và vận động vệ sinh phòng bệnh”. (Sđd, t11, tr.224).

Hồ Chí Minh cũng đã đánh giá rất cao những thành quả đạt được của ngành y nước nhà “Công tác y tế đã có nhiều thành tích, đã ngăn chặn được nhiều dịch bệnh và bệnh xã hội cũ, sức khỏe của nhân dân được nâng cao. Trẻ em ngày càng được săn sóc chu đáo hơn”. (Sđd, t11, tr.224). Ngày 2-1-1947, Người đã có thư khen ngợi sự tận tâm của các y, bác sĩ, khán hộ cứu thương, trong đó có đoạn: “Tôi được báo cáo rằng: Các thầy thuốc và khán hộ đều hết lòng săn sóc thương binh một cách chu đáo. Thế là các bạn cũng trực tiếp tham gia kháng chiến cứu quốc”.

2. “Lương y phải như từ mẫu” – yếu tố cốt lõi của đạo đức ngành y.

Dân tộc ta có truyền thống tôn sư trọng đạo, rất quý trọng người thầy: Thầy giáo và thầy thuốc. Nhân dân ta đặt địa vị người thầy dạy chữ ngang hàng với cha, người thầy thuốc như mẹ, bởi nghề thầy thuốc là nghề chữa bệnh cứu người, là người mẹ thứ hai của những người bệnh. Để chǎm sóc sức khoẻ con người, cần có đội ngũ những người thầy thuốc giỏi về chuyên môn, có lương tâm nghề nghiệp. Sau ngày thành lập nước Việt nam dân chủ cộng hòa (2-9-1945), Đảng và Chính phủ đã đào tạo, bồi dưỡng được đội ngũ y tá, y sĩ, bác sĩ, lương y chữa bệnh bằng thuốc tây, thuốc nam, thuốc bắc và các phương tiện y học tiên tiến, có y đức và y thuật cao. Giáo sư Hồ Đắc Di, Giáo sư, bác sĩ Tôn Thất Tùng, bác sĩ Đặng Văn Ngữ, bác sĩ Vũ Đình Tụng, Giáo sư Đặng Văn Chung… là những giáo sư, bác sĩ đầu ngành của nền y học Việt Nam thời hiện đại, có công rất lớn trong sự nghiệp cách mạng nước nhà.
Hồ Chí Minh là người rất quan tâm đến vấn đề y đức, một người thầy thuốc giỏi đồng thời phải là một người mẹ hiền hết lòng vì bệnh nhân. Trong thư gửi Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc năm 1953, Người viết: “Cán bộ y tế (bác sĩ, y tá, những người giúp việc) cần phải: Thương yêu người bệnh như anh em ruột thịt. Cần phải tận tâm tận lực phụng sự nhân dân. Lương y phải kiêm từ mẫu” (Sđd, t7, tr.88). Trong Tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức là gốc rễ của con người, của tài năng. Với các thầy thuốc, Bác càng đặc biệt chú ý hơn về đạo đức. Bác dặn: “Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô, các chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ sức khỏe cho đồng bào. Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang. Vì vậy, cán bộ cần phải thương yêu, săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn. Lương y phải như từ mẫu, câu nói ấy rất đúng” (Sđd, t7, tr.476). Điều này thể hiện tinh thần nhân văn cao cả, tấm lòng nhân hậu hết mực vì nhân dân, vì con người của Hồ Chí Minh.

Người thầy thuốc không những cứu chữa cho người bệnh về thể xác mà còn phải động viên, khích lệ và cảm thông về mặt tinh thần. Trong thư gửi Hội nghị quân y (3-1948), Người viết: “Người thầy thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu”. Thầy thuốc như mẹ hiền còn phải được thể hiện ở sự hết lòng với người bệnh, vì mục đích cứu người nên không phân biệt sang hèn, giàu nghèo, thân sơ, không được cầu lợi, kể công mà cǎn cứ vào bệnh nặng, nhẹ, nguy, lành mà sắp xếp việc cứu chữa.

Hồ Chí Minh không chỉ coi lương y phải như từ mẫu mà còn vạch rõ phương hướng đào tạo đội ngũ thầy thuốc Việt Nam thành những “lương y kiêm từ mẫu”. Đó là “về chuyên môn: cần luôn học tập, nghiên cứu để luôn luôn tiến bộ, nhưng phải chú trọng cái gì thiết thực và thích hợp với hoàn cảnh kháng chiến của ta”. “Về chính trị: cần trau dồi tư tưởng và đạo đức của người cán bộ trong chế độ dân chủ: yêu nước, yêu dân, yêu nghề, đoàn kết nội bộ, thi đua học tập, thi đua công tác …” (Sđd, t7, tr.88). Để thực hiện được những nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ giao phó, Bác ân cần căn dặn cán bộ ngành y tế: “Trước hết là phải thật thà đoàn kết… Đoàn kết giữa cán bộ cũ và cán bộ mới. Đoàn kết giữa tất cả những người trong ngành y tế, từ các bộ trưởng, thứ trưởng, bác sĩ, dược sĩ cho đến các anh chị giúp việc. Bởi vì công việc và địa vị tuy có khác nhau, nhưng người nào cũng là một bộ phận cần thiết trong ngành y tế, trong việc phục vụ nhân dân” (Sđd, t7, tr.476).

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác y tế và sức khoẻ là kim chỉ nam giúp Đảng ta xây dựng những quan điểm cơ bản có ý nghĩa định hướng cho sự phát triển một nền y học Việt Nam hiện đại và một ngành y tế xã hội chủ nghĩa có tính ưu việt trong thực hiện nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân.

Phạm Văn Hòa
Học viện Chính trị – Hành chính khu vực III

xaydungdang.org.vn