Archive | Tháng Hai 2012

Hồ Chí Minh – Người đặt nền móng tình hữu nghị Việt – Trung

Trong 30 năm bôn ba khắp năm châu bốn bể tìm đường cứu nước, Trung Quốc là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh hoạt động lâu nhất và đưa ra những quyết định trọng đại với vận mệnh dân tộc Việt Nam. Sau khi cách mạng hai nước Việt Nam và Trung Quốc thành công, tình cảm thân thiết giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị lãnh tụ Trung Quốc như Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai… tiếp tục được củng cố, là nền móng của tình hữu nghị Việt – Trung “vừa là đồng chí, vừa là anh em”.

Là một người có thâm niên gần 40 năm công tác tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Huy Hoan làm nhiệm vụ dịch thuật và tham gia thẩm định các tài liệu tiếng Trung liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tâm huyết và có điều kiện tiếp xúc với các tài liệu, tư liệu quý, ông Nguyễn Huy Hoan rất am hiểu về Bác Hồ và Trung Quốc.

Nhân dịp hai nước Việt Nam – Trung Quốc kỉ niệm 60 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, ông Nguyễn Huy Hoan đã dành cho chúng tôi cuộc trao đổi thú vị. Ông khẳng định: Càng hiểu, tôi càng khâm phục và trân trọng tình cảm chân thành, thủy chung của Bác Hồ với các vị lãnh tụ và nhân dân Trung Quốc. Đó là di sản vô giá, là nền tảng vững chắc cho mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc.

Tháng 5 năm 1960, các nhà lãnh đạo Trung Quốc: Chủ tịch Mao Trạch Đông, Ủy viên trưởng Chu Đức và Thủ tướng Chu Ân Lai, đã gửi một bức điện chúc mừng sinh nhật lần thứ 70 của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bức điện do đồng chí Vi Quốc Thanh, Chủ tịch Khu tự trị dân tộc Choang (tỉnh Quảng Tây) đích thân chuyển tới Hồ Chủ tịch, khi Người đang ở thăm Nam Ninh, thủ phủ tỉnh Quảng Tây.

Theo Giáo sư Hoàng Tranh – một sử gia Trung Quốc – người đã có nhiều năm nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, bức điện mừng này có đoạn viết: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập và lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam, là Vị lãnh tụ kính mến nhất của nhân dân Việt Nam, là chiến sĩ lỗi lạc nhất trong phong trào Cộng sản quốc tế và là người bạn thân thiết nhất của nhân dân Trung Quốc”. Những lời chúc mừng nồng hậu này đã nói lên tình cảm và sự trân trọng của các nhà lãnh đạo Trung Quốc đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam.

Ngay từ mùa hè năm 1922 tại thủ đô Pari của nước Pháp, người thanh niên yêu nước Việt Nam Nguyễn Ái Quốc đã gặp gỡ và kết thân với những nhà cách mạng Trung Quốc như Chu Ân Lai, Lý Phú Xuân, Triệu Thế Viêm, Đặng Tiểu Bình… Cùng chung chí hướng giải phóng dân tộc, xây dựng một xã hội mới tốt đẹp cho nhân dân Việt Nam và Trung Quốc, các nhà cách mạng trẻ tuổi hai nước đã gắn bó, giúp đỡ lẫn nhau trên đường tranh đấu.

Năm 1924, trong hành trình trở về phương Đông, với bí danh Lý Thụy, Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô lần đầu tiên tới Trung Quốc, làm phiên dịch viên trong phái bộ cố vấn Liên Xô Borodin bên cạnh Chính phủ Tôn Trung Sơn tại Quảng Châu. Từ thời điểm này về sau, Nguyễn Ái Quốc đã nhiền lần đến và lưu lại Trung Quốc, tiến hành đào tạo cán bộ, xây dựng tổ chức và lực lượng cho cách mạng Việt Nam…

Hồ Chủ tịch đề tặng các bạn Trung Quốc bài thơ “Phong cảnh Quế Lâm” (tháng 5/1961).

Trong 30 năm bôn ba khắp năm châu bốn bể tìm đường cứu nước, Trung Quốc là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh hoạt động lâu nhất và đưa ra những quyết định trọng đại với vận mệnh dân tộc Việt Nam. Sau khi cách mạng hai nước Việt Nam và Trung Quốc thành công, tình cảm thân thiết giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị lãnh tụ Trung Quốc như Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai… tiếp tục được củng cố, là nền móng của tình hữu nghị Việt – Trung “vừa là đồng chí, vừa là anh em”.

Tháng 11/1956, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai thăm chính thức Việt Nam, Hồ Chủ tịch và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam mở tiệc mừng. Sau những lời phát biểu chào mừng trịnh trọng, bất chợt Hồ Chủ tịch dừng lại, nói thân mật: “… đồng chí Chu Ân Lai còn là anh em của tôi. Chúng tôi đã từng đồng cam cộng khổ, cùng làm công tác cách mạng. Ba mươi mấy năm qua, Thủ tướng Chu Ân Lai là bạn chiến đấu thân thiết của tôi”.

Khi đáp từ, Thủ tướng Chu Ân Lai trân trọng nói: “Ban nãy, Hồ Chủ tịch vừa nhắc tới hơn ba mươi năm trước, tôi đã quen biết với Người. Đúng thế! Cách đây ba mươi bốn năm, hồi còn ở Pari, tôi đã quen biết Hồ Chủ tịch. Lúc bấy giờ, Hồ Chủ tịch đã là người dẫn đường cho chúng tôi. Lúc đó, Người đã thành thuộc chủ nghĩa Mác, còn tôi thì mới vào Đảng Cộng sản. Hồ Chủ tịch là người anh cả của tôi”.

Không chỉ giữ mối quan hệ mật thiết với các đồng chí lãnh đạo của Trung Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn luôn quan tâm tới những người dân Trung Quốc, những người từng giúp đỡ cán bộ Việt Nam khi cách mạng còn trứng nước. Làng Hạ Đống (huyện Long Châu, tỉnh Quảng Tây) là nơi kề cận biên giới Việt Nam. Người dân nơi đây đã sớm giác ngộ cách mạng, luôn một lòng một dạ ủng hộ, giúp đỡ cán bộ Việt Nam, trong đó có hai người là Nông Kỳ Chấn và Phan Toàn Chân. Nhà của Phan Toàn Chân là một trạm giao liên của các nhà cách mạng Việt Nam, nơi họ thường lui tới và được che chở, bảo vệ…

Tháng 2/1959, Phan Toàn Chân được mời sang thăm Việt Nam, được tiếp kiến Hồ Chủ tịch. Hồ Chủ tịch ân cần hỏi thăm sức khỏe, tình hình sản xuất và đời sống của gia đình Phan Toàn Chân và nhân dân ở Long Châu. Phan Toàn Chân đã có 20 ngày thăm Việt Nam và đến đâu cũng nhận được sự đón tiếp nồng ấm, chân thành.

Giữa tháng 3/1959, Phan Toàn Chân trở về Quảng Tây; ông nhận được một số món quà cùng một bức thư rất xúc động: “Kính gửi đồng chí Phan Toàn Chân. Trung ương Đảng chúng tôi tặng một số quà sau đây cho đồng chí. Nay chuyển đến đồng chí, trong đó có: Một xe đạp hiệu thống nhất, một bộ quần áo len, một cái va li da, 10 thước vải…”.

Nông Kỳ Chấn sau này trở thành Phó trưởng huyện Long Châu và cũng sang thăm Việt Nam, được yết kiến Hồ Chủ tịch và được người tặng quà.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa nhưng Người để lại những di sản vô giá cho nhân dân Việt Nam, trong đó có tình cảm quốc tế trong sáng với thế giới nói chung và Trung Quốc nói riêng. Đó cũng là nền móng để trong thế kỉ XXI, nhân dân hai nước Việt Nam – Trung Quốc tiếp tục đắp xây mối tình hữu nghị theo tinh thần 16 chữ vàng và bốn tốt, góp phần vào hòa bình, thịnh vượng của thế giới

Trần Duy Hiển

cand.com.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh hình ảnh dân tộc

Hồ Chủ tịch là người cha già của dân tộc Việt Nam. Ngót ba mươi năm bôn ba bốn phương trời, Người vẫn giữ thuần túy phong độ, ngôn ngữ, tính tình của một người Việt Nam. Ngôn ngữ của Người phong phú, ý nhị như ngôn ngữ dân quê Việt Nam; Người khéo dùng tục ngữ, hay nói ví, thường có lối châm biếm kín đáo và thú vị. Làm thơ, Người thích lối ca dao vì ca dao là Việt Nam cũng như núi Trường Sơn, hồ Hoàn Kiếm hay Đồng Tháp Mười vậy. Mấy mươi năm xa cách quê hương, Người không quên mùi vị những thức ăn đặc biệt Việt Nam như cà muối, dưa chua, tương ớt, và ngày thường bây giờ, Người vẫn ưa thích những thứ ấy. Ngay sau khi về nước, gặp Tết, Người không quên mừng tuổi đồng bào hàng xóm và quà bánh cho trẻ em, tuy chỉ có mấy đồng xu, nhưng cũng bọc giấy hồng đơn cẩn thận, tươm tất. Bình sinh như thế, đứng địa vị Chủ tịch Chính phủ kháng chiến kêu gọi quốc dân, Người dùng những lời nói thống thiết đi sâu vào tâm hồn Việt Nam: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước thì thương nhau cùng”.

Lối ăn ở của Hồ Chủ tịch giản dị như thế nào, chúng ta đã từng biết. Lúc ở chiến khu, Người sống chung với anh em trong một cơ quan, làm việc, học tập, ăn ở, sinh hoạt nhất nhất như anh em. Kể ra, Người có chỗ được biệt đãi: đó là bát nước cơm mà anh Lộc, đồng chí cấp dưỡng lành nghề và thân mến của chúng tôi lúc bấy giờ, bao giờ cũng để dành riêng cho Người, từ biên giới Cao Bằng cho đến Tân Trào, trước khi về Hà Nội. ở Hà Nội, Chủ tịch Chính phủ có phòng làm việc, phòng tiếp khách, nhiều khi chủ tọa những bữa tiệc long trọng, nhưng bình thường ngày hai bữa, Chủ tịch Chính phủ cùng nhân viên đều ăn chung. Nhiều lần, vì đến quá trễ, thức ăn không còn gì, Hồ Chủ tịch vẫn vui cười ăn đủ mấy bát cơm như thường lệ.

Người vẫn thích đi bộ, tắm sông, hút thuốc lá và thỉnh thoảng uống một ly rượu thuốc trong bữa cơm. Trước đây, Người đi bộ một ngày 50 cây số là thường và có thể đi như thế ngày nọ qua ngày kia. Lúc ở Côn Minh, sáng nào Người cũng đi bộ một vòng quanh thành phố. ở Liễu Châu, mùa đông, một hôm tướng Trương Phát Khuê đi ngựa dạo buổi sớm gặp Người tắm trên sông, Trương tướng quân lấy làm lạ một người phương Nam châu á chịu rét giỏi đến thế. ở Cao Bằng, có lúc cơ quan đóng tại một cái suối lớn vừa ở trong hang đá chảy ra, nước trong xanh biếc dưới bóng mát của rừng cây, Hồ Chủ tịch suốt ngày làm việc ở đó với cái máy chữ “Hét-mét” luôn đi theo Người từ năm 1938 đến khi về Hà Nội.

ở rừng, Hồ Chủ tịch chủ trương tránh ăn no, không ngủ trưa và hoạt động thân thể, buổi sáng thể dục, buổi chiều làm vườn, lúc cần đi vác củi cho đồng bào. Trong suốt thời gian ở thượng du Bắc Bộ trước cuộc khởi nghĩa, nhiều ngày Người luôn tay nắn một hòn đá tròn bầu dục, cốt để luyện gân tay và hoạt động cơ thể.
Người ít ưa dùng thuốc, chỉ lúc nào sức cơ thể chống không nổi bệnh thì mới dùng. ở Hà Nội, bác sĩ Tùng, bác sĩ Cẩn chuyên lo sức khỏe của Người, nhưng không mấy khi Người phiền đến. ở Pháp, anh em buộc bác sĩ Cưu ở bên cạnh Người, nhưng rồi bác sĩ làm việc văn phòng nhiều hơn việc thầy thuốc. Sinh hoạt chiến khu thường cực lắm. Có lần suốt mấy tháng mùa mưa, Hồ Chủ tịch ở trong một cái hang chật hẹp, ẩm thấp, ban đêm sâu bọ ở ngoài tràn vào.

Lúc ấy vì cơ sở quần chúng kém, nên dẫu ẩn nấp trong hang cùng mà cũng không yên, thường vẫn phải chạy “cảnh báo”. Hễ có “cảnh báo” là phải mang hết đồ đạc chạy lánh đến một chỗ an toàn hơn. Lúc ấy Hồ Chủ tịch yếu, nhưng bất kỳ đêm ngày, hễ có tin địch là mấy phút sau Người đã sẵn sàng trước anh em, tay sách máy chữ. Lúc đến Pháp, ngay hôm gặp đầu tiên, lối ăn ở giản dị của Hồ Chủ tịch làm cho kiều bào rất cảm động. Hôm ấy, tại Bi-a-rít, đại biểu kiều bào đến thăm người, hồi hộp và sung sướng. Khách đông, phòng khách không đủ ghế ngồi, giản dị Hồ Chủ tịch ngồi xuống sàn và mời mọi người ngồi thế nói chuyện. Đây không phải vị Chủ tịch Chính phủ, đây là Cha già của dân tộc ân cần và thân mật hỏi thăm đàn con bao năm lưu lạc ở quê người.

Hồ Chủ tịch, người giản dị ấy, cũng là người lịch sự một cách thanh tao cao quý và mọi người ngoại quốc đều có dịp tiếp chuyện Người đều ca ngợi cái phong độ thanh tao cao quý mà họ cho là đặc sắc của người phương Đông. ở chiến khu, trong cơ quan, Hồ Chủ tịch thường mặc một bộ đồ xanh, chân đi đất; về Hà Nội, Người mặc một bộ đồ Ka-ki chân đi giày vải. Nhưng khi sang Pháp thì Người mang giày da và mặc một bộ đồ nỉ, cổ cứng. ở Paris, có ngày Hồ Chủ tịch tiếp luôn ba bữa cơm khách, bữa sáng với bạn thân, bữa trưa với khách thường, bữa tối với khách đặc biệt, mỗi bữa có khi kéo dài 3 tiếng đồng hồ, nhưng Hồ Chủ tịch thủy chung vẫn ân cần niềm nở.

Đời sống của Hồ chủ tịch là một đời sống khắc khổ, cần lao và tranh đấu. Người lãnh tụ của một dân tộc mất nước không thể có một đời sống khác. Phải khắc khổ, cần lao và tranh đấu để mưu cầu hạnh phúc ngày mai. Có người e đời sống nghiêm khắc ấy không còn chỗ cho tình cảm. Nhưng chính Hồ Chủ tịch thường nói: người cách mạng là người rất giàu tình cảm, và vì giàu tình cảm nên làm cách mạng. Người mà cả dân tộc tôn làm vị Cha già của mình phải có lòng thương yêu mênh mông xúc động đến tâm can của mọi người. Trong thời kỳ bí mật, phút mặc niệm chiến sĩ cách mạng là lúc Hồ Chủ tịch rơi nước mắt. Tại Quốc hội, Hồ Chủ tịch vừa khóc vừa ôm hôn anh Nguyễn Văn Tạo sau khi anh đọc một bài diễn văn thống thiết về Nam Bộ.

Người xưa nói: Có việc phải lo, lo trước thiên hạ, có việc đáng vui, vui sau thiên hạ. Hồ Chủ tịch nói một cách giản dị và thống thiết hơn: “Một ngày đồng bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”

Câu nói đó đã bộc lộ tâm trạng Người, mối tình cảm ruột thịt bao bọc trăm họ của đại gia đình Việt Nam.

Đối với người giản dị và lão thực ấy, một câu nói và một việc làm và có làm thì mới nói. Giản dị và lão thực trong sự ăn ở, tính tình, trong lời nói, viết, Người cũng giản dị và lão thực trong chủ trương chính trị nữa. Dân tộc Việt Nam bây giờ muốn gì ? Muốn thống nhất, độc lập, muốn ấm no, muốn biết chữ, muốn đời sống bớt tối tăm. Cho nên Hồ Chủ tịch chủ trương: đoàn kết kháng chiến, tăng gia sản xuất, bình dân học vụ, đời sống mới. Dân tộc Việt Nam quyết tâm và mỗi ngày tiến mạnh trên con đường sống còn sau lưng Hồ Chủ tịch.

Hồ Chủ tịch thật là hiện thân của dân tộc Việt Nam và mọi người Việt Nam đều thấy mình trong Hồ Chủ tịch.

Sức mạnh của Hồ Chủ tịch và sức mạnh của dân tộc Việt Nam là ở chỗ đoàn kết thống nhất ấy.

quangbinh.gov.vn

Người kĩ sư ở Pháp theo Bác Hồ về nước kháng chiến

Sáu mươi lăm năm đã qua, còn nhiều bí mật phía sau số phận của một trong 4 trí thức người Việt từ Pháp cùng Bác Hồ về nước tham gia kháng chiến, đó là kỹ sư Võ Quí Huân.

Mùa hè năm 1946, trên cương vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Bác Hồ đã thực hiện chuyến thăm lịch sử tới nước Pháp nhằm hậu thuẫn cho Hội nghị Fontainebleau mưu cầu nền độc lập, thống nhất bền vững cho Việt Nam. Tuy nhiên, do tư tưởng thực dân của giới cầm quyền Pháp, Hội nghị đã thất bại; Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về Việt Nam chuẩn bị cuộc trường kỳ kháng chiến. Với tinh thần yêu nước nồng nàn, 4 trí thức người Việt đã thành danh ở Pháp gồm: Phạm Quang Lễ (Trần Đại Nghĩa), Trần Hữu Tước, Võ Quí Huân và Võ Đình Quỳnh, đã cùng Bác Hồ về nước tham gia kháng chiến…

Chân dung người kĩ sư Việt kiều yêu nước

Ông Võ Quí Huân sinh năm 1912 trong một gia đình giáo học huyện Thanh Chương (Nghệ An). Lớn lên trên quê hương giàu truyền thống yêu nước, năm 1935-1937, Võ Quí Huân tham gia phong trào Bình dân, làm Chủ nhiệm Báo Đông Dương hoạt động (L’activité Indochinoise) xuất bản song ngữ Việt – Pháp. Đây là một tờ báo tiến bộ đương thời, nên bị thực dân Pháp đóng cửa; Võ Quí Huân phải trốn sang Pháp và đi học. Ông đã giành được 3 bằng kĩ sư các ngành: cơ điện, đúc và kỹ nghệ chuyên nghiệp. Sau đó, ông làm việc cho hãng tàu thủy Compagnie Translatique (Pháp) và một số nhà máy lớn. Ông cũng là kỹ sư trưởng tại nhà máy nghiên cứu sản xuất động cơ máy bay Potef… Ông tham gia Tổng Công đoàn Pháp (CGT), trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Pháp từ năm 1939.

Giữa năm 1946, ông Võ Quí Huân đã tham gia tổ chức các hoạt động nghênh đón, phục vụ Hồ Chủ tịch và phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong cuộc hoà đàm với nước Pháp… Trung tuần tháng 9/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký kết bản Tạm ước 14-9 với đại diện Chính phủ Pháp, nhằm kéo dài thời gian hoà bình cho Việt Nam, rồi trở về Tổ quốc. Trước lúc rời nước Pháp, Hồ Chủ tịch đã mời một số trí thức tiêu biểu đến gặp. Người ôn tồn nói: “Bác sắp về nước. Các chú chuẩn bị để vài ngày nữa chúng ta lên đường. Các chú đã sẵn sàng chưa?”.

Trong số 4 trí thức cùng Hồ Chủ tịch về nước, ông Võ Quí Huân có vợ và con gái mới tròn 2 tuổi. Vợ ông Huân là bà Vo Qui Irenè, gốc Nga. Bà là Tiến sĩ Ngôn ngữ học, nói và viết thành thạo 7 ngoại ngữ. Cô con gái có tên là Vo Qui Viet Nga (Võ Quí Việt Nga), mới tròn 2 tuổi; nhưng trước nghĩa vụ với Tổ quốc, ông đã nén tình cảm riêng, quyết tâm trở về Việt Nam phục vụ đất nước. Lúc chia tay lên đường vội vã, ông Huân ôm cô con gái cưng vào lòng và trân trọng hứa: “Moumou yêu quý của ba, ba đi công việc vài ba tháng sẽ trở lại!”. Bé Việt Nga mếu máo rồi oà khóc níu áo ba, hai cha con nghẹn ngào giây phút biệt ly…

Bác Hồ bế con gái kĩ sư Võ Quí Huân (Paris, tháng 7/1946), người theo Bác về nước.

Dấn thân vào cuộc trường kì kháng chiến của dân tộc, 4 trí thức Việt kiều được giao những trọng trách để phục vụ đất nước. Ông Võ Quí Huân đảm trách Giám đốc Sở Khoáng chất kĩ nghệ Trung Bộ. Với sự chủ trì của ông, chiều 15/11/1948, mẻ gang đầu tiên từ quặng sắt đã được luyện, chảy vào khuôn trong sự reo hò của cán bộ, công nhân nhà máy… Từ thành công này, những quả lựu đạn, trái mìn và nhiều loại vũ khí “Made in Vietnam” đã được xuất xưởng đại trà bởi nhà thiết kế Trần Đại Nghĩa và gang của kĩ sư Võ Quí Huân, góp phần vào những thắng lợi của cuộc kháng chiến trường kì 9 năm.

Cuộc trùng phùng sau 6 thập kỷ

Như đã đề cập ở phần trước, sau khi về nước, ông Võ Quí Huân đã dồn hết tâm sức phụng sự Tổ quốc. Cuộc kháng chiến ngày càng khốc liệt và cơ hội của ông Huân trở lại nước Pháp đón vợ con về Việt Nam là điều không thể… Một thời gian sau, ông Võ Quí Huân lập gia đình với bà Tạ Kim Khanh và sinh được 4 người con. Sau khi về tiếp quản Thủ đô, kĩ sư Võ Quí Huân tiếp tục được giao nhiều trọng trách… Năm 1967, ông Võ Quí Huân lâm trọng bệnh…

Trong một buổi chiều Hà Nội dầm dề mưa lạnh, tôi đã rất xúc động khi chị Võ Quí Hoà Bình, con gái của ông Võ Quí Huân với người vợ sau, cho tôi xem đoạn clip và những bức ảnh gặp lại người chị gái cùng cha khác mẹ Võ Quí Việt Nga tại một ngôi làng nhỏ ở Pháp. Chị Võ Quí Hoà Bình nhớ lại: “Khoảng tháng 8/1967, sức khoẻ ba tôi giảm sút nghiêm trọng. Nằm trên giường bệnh, ông thường lấy ra một số bức ảnh, tần ngần ngắm kĩ rồi thở dài; trong đó có bức ảnh anh trai tôi đang du học ở CHDC Đức và bức ảnh cỡ 9x12cm, là một đứa trẻ con Tây. Tôi hỏi thì ba tôi nói: “Đây là cháu ngoại của ba!”… Thì ra, sau khi về tiếp quản Thủ đô năm 1954, ông Huân đã âm thầm viết thư nối lại quan hệ với bà Irenè và con gái Việt Nga. Việt Nga lúc này đã lập gia đình và sinh được một cậu con trai đầu lòng. Bà Irenè đã hồi âm và gửi kèm tấm ảnh đứa cháu ngoại của ông bà.

Những ngày cuối đời, nằm trên giường bệnh, ông Huân nắm tay con gái Hoà Bình, nói: “Khi ba theo Bác Hồ về nước kháng chiến, ba có hứa với bà Irenè và chị Việt Nga là chỉ vài tháng sau sẽ quay lại. Con biết đấy, với một đứa trẻ hai tuổi, lời hứa đó rất quan trọng. Vậy mà ba đã không thực hiện được, ba rất ân hận. Cũng vì chờ đợi một cách vô vọng mà bà Irenè không lập gia đình; chị gái con cũng rất vất vả vì thiếu cha, chỉ học hết tú tài, cuộc sống sau đó rất khó khăn”. Ông Huân căn dặn: “Ba chết không nhắm mắt vì nỗi ân hận với bà Irenè và không chăm sóc được chị gái con. Các con nhất định phải tìm lại bà ấy và Việt Nga, thì ba mới an lòng nơi chín suối”. Sau khi trải hết lòng mình với vợ và con gái, cuối tháng 9/1967, người kĩ sư trí thức Việt kiều Võ Quí Huân đi vào cõi vĩnh hằng ở tuổi 56, khi mà trí tuệ và lòng yêu nước của ông vẫn vẹn nguyên như thuở ban đầu được gặp Bác Hồ.

Từ đó, Võ Quí Hoà Bình luôn tâm niệm phải tìm được bà Irenè và chị Việt Nga, nối lại sợi dây tình cảm đã bị gián đoạn. Trở lại những manh mối đầu tiên để đi tìm người chị gái nơi trời Tây, chị Hoà Bình kể: Năm 1975, khi lục tìm những tư liệu cũ, tôi phát hiện một lá thư của ba tôi ghi địa chỉ bà Vo Qui Irenè. Tôi bèn nhờ thầy giáo dạy tiếng Pháp viết hộ bức thư gửi kèm những bức ảnh về Việt Nga (để làm tin) mà cha tôi còn giữ được, cùng các bức ảnh anh em tôi ở Việt Nam. Chị Việt Nga có hồi âm, nhưng giữ một thái độ khá xa cách: “Với chị, hai từ Việt Nam gợi lên nỗi đau mất cha. Chị không dễ vượt qua nỗi đau của quá khứ để có thể gặp mặt các em”…

Con tạo xoay vần, sau khi con gái, rồi con trai của chị Hoà Bình lần lượt sang Pháp du học, họ tiếp tục viết thư thăm hỏi bác Việt Nga. Song, một cuộc gặp gỡ như ước nguyện của người cha Võ Quí Huân vẫn chưa thể thực hiện; mọi bức thư chỉ dừng lại ở mức xã giao.

Trong một lá thư hồi âm cho cháu gái Thuỳ Dương, chị Việt Nga tái khẳng định: “… Sẽ rất đau đớn cho bác nếu phải kết giao lại với gia đình ở Việt Nam. Bác không thể làm được điều này vì nó làm bác quá đau lòng. Bác rất muốn trao đổi thư từ thỉnh thoảng với cháu. Thế thôi!”.

Trước thực tế này, những người thân trong gia đình và ngay cả hai người con của chị Hoà Bình đều khuyên: Bác Việt Nga tuy mang dòng máu của ông, nhưng là người Pháp hoàn toàn. Nếu người Pháp đã không muốn, thì rất khó lay chuyển; họ rất cần được tôn trọng sự riêng tư… Tuy nhiên, càng khó khăn thì chị Hoà Bình càng quyết tâm phải gặp bằng được người chị gái của mình.

Chị Võ Quí Hoà Bình (thứ tư từ trái qua) và gia đình chị Võ Quí Việt Nga (thứ hai từ trái qua).

Tháng 10/2007, chị Hoà Bình sang Pháp lần thứ tư. Cả 3 lần trước, dù đã liên hệ qua điện thoại nhưng chị Việt Nga đều khước từ việc gặp gỡ. Chị Hoà Bình kể lại: Con trai tôi đã ở Pháp nhiều năm, nên mày mò tìm kiếm được địa chỉ của bác Việt Nga. Đó là một ngôi làng gần thành phố nhỏ có tên là Autun, cách Paris khoảng 500km. Chúng tôi được một người lái taxi nhiệt tình chở đi và hỏi thăm đường tới làng Moux en Morvan… Nghe chúng tôi kể về người chị gái bị thất lạc đã nhiều lần khước từ không gặp người thân, ông lái xe tỏ ra xúc động và nói: “Kì lạ thật. Lát nữa gặp nhau có cần tôi vào nói giúp không?”… Xe dừng lại trước một ngôi nhà ở cuối làng, cháu Quân xuống xe bấm chuông, tôi vẫn ngồi lại và nói với người lái taxi: “Nếu lần này chị ấy vẫn từ chối, thì chúng tôi sẽ về luôn”.

Chị Việt Nga, khi ra mở cổng, đã sững sờ đứng lặng hồi lâu mới mời khách vào nhà. Quân hỏi: “Cháu có thể mời mẹ cháu vào được không?”. Bác Việt Nga lúc này đã không thể từ chối tình cảm ruột thịt, chị Hoà Bình bước vào khu vườn và ôm lấy người chị gái của mình… Chị Việt Nga chỉ im lặng lắng nghe những lời tâm sự của người em gái… Mãi sau, chị mới thốt lên: “Cha đã làm việc vất vả lắm phải không?”. Trong nước mắt, chị Hoà Bình đã nói: “Ba rất nhớ bà Irenè và yêu chị. Ba rất ân hận vì đã không trở lại với hai mẹ con chị. Trước lúc mất, ba dặn chúng em phải tìm được bà Irenè và chị… Hai mẹ con chị Hoà Bình được anh Michel (chồng chị Việt Nga) dẫn lên căn gác nhỏ đầy ắp những hình ảnh, kỉ niệm về người cha Võ Quí Huân và mẹ Vo Qui Irenè, còn có một thùng gỗ đầy ắp những bức thư và ảnh từ Việt Nam gửi sang. Chị Việt Nga khi ấy mới thổ lộ: “Có điềm gì đó, khoảng 2 tuần nay, ông ấy (anh Michel) cứ tẩn mẩn tìm lại những kỉ niệm, những bức ảnh, và sắp xếp theo trình tự thời gian, như là chờ ai tới thăm!”.

Sau cuộc gặp gỡ này, chị Hoà Bình đã thêm 2 lần sang nước Pháp thăm chị gái Việt Nga và anh rể. Chị cho tôi xem một bức thư mà chị Việt Nga vừa gửi ngày 6/8/2010, có đoạn: “Em gái thân yêu của chị! Chị gửi cho em ba tấm hình để chúng ta có thể biết được nhau nhiều hơn. Chiều nay chị đã đến Autun và chị đã nghĩ về em rất nhiều, vì đó là lần đầu tiên chúng ta gặp nhau và cũng là nơi chị đã chở em và Quân về khách sạn. Chị cảm ơn em từ tận sâu đáy lòng đã đến để tìm chị và để chúng ta có thể biết được nhau và lấy lại khoảng thời gian đã mất… Ký tên: Moumou”.

Khi tôi đang viết những dòng này, thì nhận được điện thoại của chị Hoà Bình. Chị khoe: “Sáng nay (13/12/2010), bác Việt Nga đã gọi điện chúc mừng sinh nhật chị. Chị mừng quá. Giờ chị cũng đang chuẩn bị thiếp và quà để gửi mừng bác Việt Nga và gia đình nhân dịp Noel”

Trần Duy Hiển

cand.com.vn

30 năm tôi đi tìm Hồ Chí Minh (*)

TRẦN CHUNG NGỌC
(Wisconsin – Hoa Kỳ)

Viết về một nhân vật có tầm vóc quốc tế như Hồ Chí Minh có thể nói là không dễ. Đối với những người thuộc giới chống Cộng viết theo cảm tính thù hận, khi thực sự chưa hiểu và không biết gì về Hồ Chí Minh thì rất dễ, vì muốn viết sao cũng được. Họ đưa ra những chi tiết lặt vặt, cộng với xuyên tạc, dựng đứng… nhằm “ám sát tư cách cá nhân”, bằng những từ hạ cấp cho hả lòng thù hận, thì có lẽ ai viết cũng được, không cần đến trí tuệ, không cần đến kiến thức, không cần đến trình độ, và cũng không cần đến liêm sỉ.

Thảm thay, hiện tượng này chúng ta thường thấy xảy ra trong vài khu rừng diễn đàn truyền thông hải ngoại. Nơi đây, một thiểu số người Việt có vẻ như không có mấy trình độ văn hóa, giáo dục đã thường lên tiếng. Nhưng viết cho đúng với nhân cách, tài năng, tư tưởng và con người của Hồ Chí Minh thì quả thật là khó, vì điều này đòi hỏi trước hết là một sự lương thiện trí thức, một sự hiểu biết đúng đắn về cuộc đời của Hồ Chí Minh, và nhất là, về việc ông đã làm gì cho đất nước Việt Nam.

Đối với tôi, viết về Hồ Chí Minh lại càng khó hơn, vì xuất thân từ Trường sĩ quan trừ bị Nam Định, đã cầm súng chống Cộng trong thời gian 8 năm rưỡi, khoảng thời gian tôi ở trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa, đã đi Mỹ học, và đã về phục vụ trong ngành giáo dục ở miền Nam cho đến ngày chót, đương nhiên tôi đã ở phía Việt Nam Cộng hòa rồi. Nhưng cuộc chiến đã chấm dứt hơn 30 năm, bây giờ còn nói đến chuyện “Quốc – Cộng” có phải là ngớ ngẩn không?

Thời gian chỉ trôi có một chiều, một thế hệ già nua như chúng tôi đang lần lượt rủ nhau đi vào dĩ vãng để nhường chỗ cho một thế hệ trẻ hơn, đầy nhiệt huyết, với những kiến thức thời đại, biết thế nào là con đường quốc gia, dân tộc, và dứt khoát từ chối, không để cho đầu óc bị ô nhiễm bởi những thù hận của lớp trước, dù các bậc cha anh vô trí có muốn truyền lại. Với tâm cảnh như trên, vậy tôi phải viết về Hồ Chí Minh ra sao?

Được đào tạo trong ngành Khoa học Vật lý, đối với tôi, sự lương thiện trí thức phải để lên hàng đầu, và phương pháp khảo cứu mọi vấn đề phải cẩn trọng, không để cho tình cảm, thiên kiến lôi cuốn, tuy tôi tự biết, vì không có cái mặc cảm của Thượng đế, nên tôi không thể tránh khỏi có đôi chút thiên kiến khi viết về lịch sử.

Một người nào đó đã chẳng từng nói: “Người nào viết Sử mà không có đôi chút thiên kiến chắc phải có cái mặc cảm mình là Thượng đế (hay mặc cảm của Thượng đế)”. Để giảm thiểu thiên kiến, phương pháp khảo cứu của tôi là đọc nhiều sách về cùng một vấn đề, rồi từ đó kiếm ra một mẫu số chung. Điều này chưa hẳn là tuyệt đối đúng, nhưng ít ra cũng không xa sự thực là bao nhiêu.


Hồ Chủ tịch lội suối đi công tác. Ảnh TL.

Trước khi đi vào những vấn đề này, tôi có một nhận xét tổng quát về những luận điệu xuyên tạc, đả kích ông Hồ Chí Minh của một số người có vẻ như không có mấy trình độ. Không có gì ngu xuẩn hơn là so sánh Hồ Chí Minh với Hitler. Những người này hầu như không hề biết gì đến dư luận thế giới, nhất là trong các nước tiến bộ Âu-Mỹ, đã nhận định về ông Hồ Chí Minh như thế nào.

Hãy vào Internet đánh tên Ho Chi Minh thì sẽ thấy Thế giới đánh giá Hồ Chí Minh như thế nào. Hay hãy đọc những cuốn sách về chiến tranh Việt Nam của các học giả, tướng lãnh Mỹ, và ngay cả hai cuốn In Retrospect và Argument Without End của cựu Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara. Phần nhận định tích cực về Hồ Chí Minh tràn ngập so với phần tiêu cực thưa thớt của một số người Việt hải ngoại mà tên tuổi không đáng kể, và chỉ như những con đom đóm lập lòe trên vài diễn đàn báo điện tử, ít có giá trị trí thức của đám người Việt còn mang nặng lòng hận thù.

CÁC NHÀ SỬ HỌC, GIÁO SƯ, KÝ GIẢ NƯỚC NGOÀI
ĐÃ VIẾT GÌ VỀ HỒ CHÍ MINH?

1. Hồ Chí Minh là tinh túy, là biểu tượng của dân tộc Việt Nam.

Cách đây 6 năm, năm 2000, sử gia William J. Duiker có xuất bản cuốn Ho Chi Minh, A Life. Cuốn sách này được giới trí thức, học giả Âu-Mỹ đánh giá khá cao và cho rằng đó là một cuốn sách nghiên cứu sâu rộng nhất về con người và sự nghiệp của ông Hồ Chí Minh. Đọc Duiker và phối kiểm với những đoạn viết về ông Hồ Chí Minh của nhiều tác giả khác ở phương Tây, chúng ta có thể rút tỉa ra những điều không xa với sự thật là bao nhiêu.


Trong dịp sang thăm Cộng hòa dân chủ Đức(7-1957),
Hồ Chủ tịch và các đồng chí lãnh đạo Cộng hòa dân chủ Đức
đến thăm và chụp ảnh lưu niệm với các cháu thiếu nhi Việt Nam
lưu học tại Đức. Ảnh TL.

Tôi xin được nhắc lại một đoạn trong bài của Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang mà giáo sư đã trích dẫn từ cuốn Ho Chi Minh, A Life của William J. Duiker:

Khi tin tức về cái chết của ông Hồ Chí Minh được loan truyền thì khắp địa cầu đưa ra nhận xét về ông. Hà Nội nhận được tới hơn hai mươi hai ngàn (22.000) bức điện tín từ các thủ đô lớn của 121 quốc gia trên thế giới để bày tỏ lời ca ngợi ông và chia buồn với nhân dân Việt Nam. Một số các nước theo chủ nghĩa xã hội tổ chức buổi lễ truy điệu và đưa ra những lời ca tụng ông. Thủ đô Mạc Tư Khoa chính thức ca tụng ông như là “Người con vĩ đại của dân tộc anh hùng Việt Nam, một người lãnh đạo xuất sắc của phong trào giải phóng dân tộc và cộng sản quốc tế, và là người bạn vĩ đại của Liên bang Xô Viết”.

Các nước trong Thế giới thứ ba (các nước trung lập) cũng nhận xét về ông với những lời ca tụng ông như là một người bảo vệ những người bị áp bức. Một bài báo phát hành ở Ấn Độ, mô tả ông như là tinh túy của “dân tộc và là hiện thân của lòng khát vọng tự do, của sự tranh đấu bền bỉ”. Những bài báo khác đề cao đức tính giản dị và thẳng thắn của ông. Một bài xã luận trong một tờ báo ở Uruguay (Nam Mỹ) ghi nhận: “Ông có một tấm lòng bao la như vũ trụ và có một tình thương vô bờ bến đối với trẻ em. Ông là người gương mẫu về đức tính giản dị và thẳng thắn trong tất cả mọi phạm vi”.

Phản ứng từ các thủ đô phương Tây thì không biểu lộ mạnh mẽ. Tòa Bạch Ốc lặng thinh và các viên chức cao cấp trong chính quyền của Tổng thống Nixon cũng không bình luận gì cả. Nhưng việc chú ý đến cái chết của Hồ Chí Minh đối với giới truyền thông trong các nước phương Tây thật là mãnh liệt.

Những tờ báo ủng hộ các phong trào phản chiến có khuynh hướng mô tả ông bằng những lời lẽ ca tụng ông như là một địch thủ xứng đáng và là một người bảo vệ những kẻ yếu, những người thế cô và những người bị áp bức. Ngay cả những người vẫn thường khăng khăng chống lại chế độ Hà Nội cũng đánh giá ông bằng những lời lẽ kính trọng, như là một người đã tận hiến cả cuộc đời cho cuộc chiến đấu giành độc lập và thống nhất đất nước cho tổ quốc ông, coi ông như là người phát ngôn xuất chúng cho các dân tộc bị bóc lột trên thế giới”.


Nhân dân thủ đô Sofia nhiệt liệt chào đón Chủ tịch Hồ Chí Minh
sang thăm hữu nghị nước Cộng hòa Bulgaria (8-1957). Ảnh TL.

Trên đây, Duiker đã viết lại một sự kiện. Sự kiện này, hơn hết, đã loại bỏ tất cả những gì mà một số người Việt hải ngoại hay ở trong nước viết tiêu cực theo cảm tính về Hồ Chí Minh. Cho nên, bất kể những luận điệu nhằm hạ uy tín ông đều không thể thuyết phục được ai, ít nhất là trong giới hiểu biết, nhất là những luận điệu này lại thuộc loại hạ cấp, đầy hận thù.

Có một bài viết về Hồ Chí Minh của Wilfred Burchett – một ký giả Úc nổi tiếng, đã từng được Ngoại trưởng Henri Kissinger nhờ làm trung gian liên lạc giữa Mỹ và Hà Nội. Năm 1968, ông đã viết một cuốn sách có tính cách tiên đoán: Việt Nam sẽ thắng (Vietnam will win) và năm 1977, ông xuất bản cuốn Châu Chấu và Voi: Tại sao [Nam] Việt Nam sụp đổ (Grasshoppers and Elephants: Why Vietnam Fell).

Theo tôi, Burchett viết hay, không phải vì tác giả ca tụng ông Hồ Chí Minh, mà tác giả đã viết về những gì đã tạo nên ông Hồ Chí Minh: Không phải thuần túy chỉ là Marx, là Lenin hay Mao Trạch Đông, mà chính là lịch sử 2000 năm chống ngoại xâm của Việt Nam đã tạo nên Hồ Chí Minh. Có thể nói, tác giả hiểu Việt Nam hơn rất nhiều người tự cho mình là trí thức. Chúng ta hãy đọc vài đoạn trong bài của Burchett:

Chính sách của Mỹ là làm cho người Việt Nam cảm thấy mình thuộc một sắc dân thấp kém, không có quyền về căn cước quốc gia. Họ thường bị gọi là “gooks”, “slopes” và “dinks”, và trên những phúc trình chính thức, làng Mỹ Lai trở thành “Thành phố hồng” (có nghĩa là thành phố Cộng sản) và dân làng bị tàn sát chỉ là “những người Á Đông” (với ý coi thường, miệt thị).

Sự thực là người nông dân Việt Nam nghèo khó nhất, ngay cả thất học, về phương diện văn hóa và đạo đức thường cũng cao hơn người Mỹ. Họ biết nhiều hơn về lịch sử đất nước của họ – không chỉ vì đất nước họ có vài ngàn năm lịch sử nhiều hơn Mỹ để mà biết đến – mà vì những điều này đã thấm vào trong người họ từ sữa mẹ.

Ngay từ bé, họ lớn lên trong một môi trường tràn ngập với những câu chuyện về gia tài lịch sử, hoặc được kể ngay khi còn nằm trong lòng mẹ, hoặc qua những màn kịch diễn lại những trang sử oai hùng của 2000 năm lịch sử chống ngoại xâm của những gánh hát rong, hoặc những truyền thuyết về các “thần thành hoàng” (thường là các anh hùng giúp nước của xóm làng, được nhà vua sắc phong), hoặc là những câu chuyện về tổ tiên đã bảo vệ non sông như thế nào, hoặc là những chuyện đau khổ của người dân bị đàn áp bởi ngoại nhân nên đòi hỏi một sự đứng lên để chống đối…

Sự hiểu biết về 2000 năm tranh đấu chống xâm lăng có đầy trong dòng máu của người nông dân chân lấm tay bùn nghèo khó nhất. Đây là nguồn dũng cảm và sức chịu đựng vô tận, luôn tin tưởng vào tương lai mà những chuyên viên của Mỹ không thể hiểu được.

Hồ Chí Minh là mẫu mực thu nhỏ của tất cả những điều trên. Và đúng là,cũng như một cái gì đó trong mỗi người Việt Nam đều có trong Hồ Chí Minh, một cái gì đó trong Hồ Chí Minh đều có trong hầu hết những người Việt Nam ngày nay, dấu ấn của ông trên dân tộc Việt Nam thật là sâu đậm.

2. Đích đến của Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc.

Vấn đề tiếp theo tôi muốn nói đến là: Hồ Chí Minh là người Cộng sản như thế nào? Chúng ta biết rằng, Hồ Chí Minh chưa bao giờ phủ nhận mình là người Cộng sản và đã từng khẳng định là Lenin cho ông niềm tin trong công cuộc giành độc lập cho đất nước.

Nhưng muốn hiểu ông là người Cộng sản như thế nào, có lẽ chúng ta nên biết đến quan niệm của một số trí thức ngoại quốc, những người thường ở trong môi trường đại học, đặt sự tôn trọng, sự lương thiện trí thức lên hàng đầu, và vì chính uy tín của họ, nên không thể viết theo cảm tính mà không nghiên cứu kỹ vấn đề, hay tự hạ mình rơi vào vòng tranh chấp Quốc-Cộng mà họ không thuộc phe nào và không có lý do gì để ủng hộ hay chống đối một phe nào.

Chúng ta hãy đọc vài đoạn trong bài của Stanley I. Kutler điểm cuốn Ho Chi Minh, A Life, Kutler là tác giả cuốn The Wars of Watergate và là chủ biên của The Encyclopedia of the Vietnam War. Stanley Kutler cho rằng trong tác phẩm của mình, Duiker đã viết về một nhà cách mạng ái quốc gần với Thomas Jefferson hơn là với V. I. Lenin. (Điều này, không phải chỉ có mình Duiker mới nhận định như trên, mà một số tác giả Mỹ khác cũng có cùng một nhận định như vậy. TCN)


Chủ tịch Hồ Chí Minh đón đoàn Việt kiều Thái Lan về nước. Ảnh TL.

Trước hết, Kutler cho rằng chế độ thực dân đã cáo chung một thế kỷ nay rồi và vai trò của ông Hồ Chí Minh đã đi vào quá khứ. Ngày nay, Việt Nam là một phần của nền kinh tế toàn cầu, có nghĩa là có những liên doanh mang lại lợi nhuận cho Chính phủ, cho một số viên chức được ưu đãi, và cho những công ty phương Tây. Nhưng Kutler ghi nhận là:

Tuy nhiên, thế giới có một bộ mặt khác vì Hồ Chí Minh, và những người như ông, những người đã lo lắng, chiến đấu và hi sinh để giải phóng dân tộc của họ thoát khỏi sự sỉ nhục và gông cùm của sự chuyên chế bạo ngược ngoại quốc”.

Sau đó Kutler viết: “Duiker đã đi quá sự tranh luận đơn giản trong thời Chiến tranh lạnh về vấn đề Hồ Chí Minh là người Cộng sản theo chính thống Marx-Lenin hay là một nhà ái quốc dân tộc, hiến thân cho cuộc giải phóng và thống nhất đất nước?”. “Duiker đã nhận định đúng, Hồ Chí Minh có căn rễ sâu đậm trong phong trào Cộng sản quốc tế, nhưng ông luôn luôn là một người theo chủ nghĩa dân tộc, cương quyết hiến thân cho nguyên lý dân tộc tự quyết”.

Ông Hồ Chí Minh không hề nao núng khi dùng Chủ nghĩa Cộng sản cho những mục đích dân tộc. Lời tuyên bố của ông: “Các dân ở Đông Dương vẫn sống và sẽ còn sống mãi” khó mà phù hợp với chủ nghĩa Marx. Duiker nhấn mạnh là, đối với Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc bao giờ cũng là mục tiêu chủ yếu, trong khi chủ thuyết về một Cộng sản không tưởng vẫn là một vấn đề mơ hồ, bất định cho tương lai”.

Chúng ta hãy đọc thêm vài tài liệu về Hồ Chí Minh:

Trong tờ Les Collections de L’Histoire, số 23, Avril-Juin 2004, một tuyển tập về “Indochine Vietnam: Colonisation, Guerres et Communisme”, có bài Con Người trở thành Hồ Chí Minh (L’Homme Qui Devint Ho Chi Minh) của Pierre Brocheux, Giáo sư Diễn giảng danh dự tại Đại học Denis- Diderot, Paris-VII. Chúng ta sẽ thấy trong đó có vài chi tiết để chúng ta hiểu hơn về Hồ Chí Minh.

Đối với Nguyễn Ái Quốc, chủ thuyết Marx-Lenin đã đưa ra những cách thức hành động, như là ông đã giảng giải nhiều năm sau: “Chúng ta phải hiểu rằng giành độc lập ra khỏi tay một cường quốc như Pháp là một nhiệm vụ rất khó khăn, người ta không thể hoàn thành mà không có một sự viện trợ từ bên ngoài. Chúng ta lấy lại độc lập bằng sự tổ chức và tự khép mình vào kỷ luật. Chúng ta cũng còn cần đến một lòng tin, một phúc âm, một sự phân tích thực tiễn, có thể nói đến như là một thánh kinh. Chủ thuyết Marx-Lenin đã cung cấp cho tôi đường lối hành động này”.

Thực ra thì có lẽ Hồ Chí Minh muốn nói đến những luận đề về Những vấn đề Dân tộc và Thuộc địa của Lenin đưa ra trong Đại hội II của Quốc tế Cộng sản vào năm 1920 để nghị thảo mà ông biết đến trong Đệ Tam Quốc tế. Chúng ta đã biết, chính ông Hồ Chí Minh đã thành thực công nhận là mới đầu ông không hiểu hết những từ và ý tưởng chính trị khó hiểu trong bản văn trên, nhưng rồi đọc đi đọc lại ông mới thấm và hiểu rõ, và ý thức được là những luận đề này đã giúp cho ông thấy con đường thích hợp nhất để cứu nước, giải phóng dân tộc khỏi ách thuộc địa, thực dân.

Chúng ta hãy đọc tiếp vài đoạn khác của Giáo sư Brocheux. Trước hết là một tài liệu trích dẫn từ một tài liệu trong văn khố của Liên Xô, mới được sử gia Alain Ruscio phổ biến năm 1990, trang 34-36:

Năm 1934, Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) trở lại Moscou. Stalin đã nắm chắc quyền lực, và những cuộc thanh trừng lớn bắt đầu năm 1937. Dường như ông sẽ là nạn nhân, vì từ ngày trở lại Moscou, ông không được tin cậy để giao phó cho một trách nhiệm nào. Không còn nghi ngờ gì nữa người ta đã trách cứ là ông ngả về tinh thần dân tộc trong cuộc chiến đấu chống thực dân thay vì tinh thần cách mạng quốc tế vô sản”.

“Về vấn đề này, Hồ Chí Minh đã bày tỏ quan điểm của mình từ năm 1924. Được huấn luyện về cách mạng và chủ thuyết Marx bởi phương Tây, tuy nhiên ông đã nhìn theo đặc tính Á Đông: “Cuộc đấu tranh giai cấp ở phương Đông không giống như ở phương Tây. Marx đã xây dựng lý thuyết của mình trên một căn bản triết lý nào đó của lịch sử. Nhưng là lịch sử nào? Đó là lịch sử châu Âu. Nhưng châu Âu là gì? Không phải là tất cả nhân loại”.

“Không có gì minh họa rõ hơn sự tương phản giữa Hồ Chí Minh và những người lãnh đạo cộng sản là những trao đổi quan niệm của Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ với Hồ Chí Minh vào năm 1960. Ông đã tuyên bố rằng ngay cả việc giết kẻ thù cũng không được đạo đức; Mao đã trả lời ông rằng: “Tưởng Giới Thạch giết, tôi giết, đó không phải là một vấn đề đạo đức. Và Lưu Thiếu Kỳ thêm vào là viện đến đạo đức khi ta phải đối phó với những tên tư bản chống cách mạng là không thích đáng””.

Trong cuốn The Vietnam War Almanac, General Editor: John S. Bowman, Barnes & Noble Books, NY, 2005, trang 493, cũng có viết:

Ông Hồ Chí Minh ít quan tâm đến những chi tiết tế nhị của chủ thuyết Mao và Lenin; thiên tài của ông là về hành động chính trị, và lý tưởng của ông có thể khá co giãn chừng nào mà nó đưa tới mục đích đã ám ảnh ông: Nền độc lập và thống nhất của Việt Nam”.

Trong cuốn Cracks In The Empire, South End Press, Boston, 1981, Paul Joseph, Giáo sư Xã hội học, Đại học Tufts, viết, trang 83:

Dù rằng thiếu bằng chứng, Washington tiếp tục cho rằng cuộc đấu tranh chống Pháp (ở Việt Nam) là do sự chỉ đạo từ Liên bang Xô Viết. Thí dụ, trong bức công điện gửi cho Thủ tướng (Pháp) Ramadier, đại sứ Mỹ vẫn sai lầm cho rằng Việt Minh là một phong trào mà “triết lý và tổ chức chính trị đều phát khởi và bị kiểm soát bởi điện Kremlin”. Tuy vậy, tình báo Mỹ đã cố gắng, và thất bại, để kiếm ra bằng chứng là có mối liên hệ kiểm soát giữa Moscou và Hồ Chí Minh. Một công điện của Bộ Ngoại giao gửi cho đại sứ Mỹ ở Trung Quốc viết: “Bộ không có bằng chứng nào về sự nối kết trực tiếp giữa Hồ Chí Minh và Moscou nhưng vẫn cho rằng có”.

Trên đây chỉ là vài tài liệu trong số hàng trăm tài liệu khác có những nhận định tương tự rải rác trong những cuốn sách mà tôi đã đọc. Lẽ dĩ nhiên, tôi không thể nào trích dẫn tất cả những nhận định ấy trong phạm vi một bài viết như thế này. Điều này, đòi hỏi nhiều thời gian và thích hợp trong một cuốn sách viết về Hồ Chí Minh hơn.

Nhưng qua những tài liệu trên, chúng ta có thể thấy rằng ông không phải là tay sai của Liên Xô và Trung Quốc như một số người có đầu mà không có óc cố tình lên án ông là tay sai của Đệ Tam Quốc tế, hay tệ hơn nữa là “điệp viên của Cộng sản Quốc tế” (Minh Võ). Họ không hề biết quan điểm chính trị của Hồ Chí Minh đối với Liên Xô và Trung Quốc. Ông đã khôn khéo từ chối không nhận đề nghị của Liên Xô cũng như Trung Quốc gửi quân tình nguyện vào đánh giúp.

Chúng ta hãy đọc một đoạn trong cuốn Ho Chi Minh của Jules Archer, Chương 9: “Giữa con gấu Nga và con rồng Trung Quốc” (Between Russian Bear and Chinese Dragon), trang 109:

Đến Bắc Kinh dự lễ kỷ niệm 10 năm Cách mạng Trung Quốc, Hồ Chí Minh cẩn thận đứng giữa Mao Trạch Đông và đại diện của Liên Xô, Miklai Suslov. Trong những cuộc đàm phán riêng, Hồ Chí Minh đã thành công lấy được sự hứa hẹn của cả Bắc Kinh lẫn Moscou để tăng gia giúp thêm vũ khí và viện trợ dân sự,nhưng khôn khéo từ chối những đề nghị gửi quân tình nguyện hay cố vấn quân sự đến Việt Nam. Ông Hồ Chí Minh biết rõ là nếu để cho con gấu Nga hay con rồng Trung Hoa được đặt chân vào cửa ngõ Hà Nội thì dần dần cửa ngõ này sẽ bị cưỡng bách mở rộng ra cho đến khi Bắc Việt mất đi nền độc lập và trở thành một quốc gia bị chiếm”.

LỜI KẾT CHO CHÍNH BẢN THÂN TÔI VÀ NHIỀU NGƯỜI

Cuối cùng, vị thế của Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam ra sao? Chúng ta đã biết, Wilfred Burchett đã nhận định ở trên:

Hồ Chí Minh là của toàn thể dân tộc Việt Nam. Không có một lằn ranh giới nào ở vĩ tuyến 17 có thể làm cho người dân miền Nam xa lìa Hồ Chí Minh dù rằng thủ đô được đặt ở miền Bắc. Hồ Chí Minh đã được chấp nhận là lãnh tụ và là nguồn cảm hứng cho mọi người Việt Nam – trừ số người đã lần lượt phục vụ những quan thầy Nhật, Pháp, rồi Mỹ.

Nhận định này đúng hay sai? Có lẽ câu trả lời thiết thực nhất là của Hoàng Xuân Ba trong bài Hai câu chuyện hoàn toàn trung thực, mới đây, đăng trên Đàn Chim Việt:

Chuyện thứ nhất: Lá cờ đỏ sao vàng trên mạng

Trưa 2/9/2006, ngày Quốc khánh của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đang nói chuyện với một người bạn Việt kiều trên Yahoo Messenger (YM), tôi bất ngờ nhận được thông điệp của một người bạn trẻ Việt Nam: “Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”, kèm theo đó là lời kêu gọi hãy thay đổi avatar (hình ảnh đại diện) trên YM bằng lá cờ đỏ sao vàng, lá cờ biểu trưng cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhìn lại danh sách nickname của mình trên YM, tôi thấy rất đông các bạn trẻ thay đổi avatar bằng hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng.

Sáng nay, 4/9/2006, báo Tuổi Trẻ đăng bài: “Mừng Quốc khánh trên mạng”. Trong bài viết này, tác giả mô tả lại hình ảnh nhà nhà treo cờ, người người treo cờ trên mạng: “Lần đầu tiên, cư dân trên mạng đón lễ Quốc khánh hoành tráng bằng cách đưa hình ảnh lá cờ Tổ quốc lên mạng trang trọng trên các blog (nhật ký cá nhân trên mạng) và trên avatar trong công cụ chat YM của mình trong ngày 2/9. Và ngày 3/9, tất cả đều đồng loạt thay vào đó là chân dung của Bác Hồ”.

Chuyện thứ hai: Lăng ông Hồ Chí Minh

Tôi đã có dịp gặp gỡ trên mạng với bạn đọc của DCVOnline gần đây qua bài Tản mạn về xã hội chủ nghĩa ở Hà Nội, đăng ngày 31/8/2006 (với hàng chục ý kiến khác nhau). Cũng dịp công tác này, tôi tranh thủ được một thời gian ngắn để ghé thăm lăng Hồ Chí Minh với mục đích tìm hiểu xem thái độ, tình cảm của người dân Việt Nam và nhất là người dân Hà Nội đối với ông ra sao. Điều làm tôi thật bất ngờ là có rất nhiều người đến viếng thăm lăng ông, các đoàn viếng lăng vào ra tấp nập. Để vào thăm lăng của ông, tôi được một anh bảo vệ cầm loa phóng thanh bắt phải đứng xếp vào hai hàng dọc, rồi theo đó vào lăng.

Quả thật, tôi cảm nhận được sự trang nghiêm của lăng mộ Hồ Chí Minh và cả sự sùng bái của những người dân bình thường viếng thăm lăng. Một cách tự động, tất cả mọi người đều kính cẩn, nghiêm trang khi đi ngang qua thi hài ông được đặt trong một cái hòm rất rộng, bốn bên là kính trong suốt. Trông ông không giống như những bức hình chụp mà tôi từng thấy, khuôn mặt trông vẫn còn rất tươi tắn, hồng hào nhưng trông giả chứ không thật, có lẽ bị đánh sáp.

Báo chí Việt Nam sáng 4/9/2006 đều đồng loạt đăng tin về việc có hàng vạn người đến viếng thăm lăng Hồ Chí Minh. Báo Tuổi Trẻ viết: “Sáng 2/9, đoàn người vào lăng viếng Bác dài ra tận hai phía trên phố Ngọc Hà và Hùng Vương. Đông nhất là các đoàn học sinh và người già từ các tỉnh Thái Nguyên, Hà Tây. Còn có rất nhiều đoàn đến từ tỉnh xa như Cao Bằng, Nghệ An, Quảng Trị, Bình Phước… Có nhiều người nước ngoài cũng đứng trong đoàn người, từng bước vào lăng. Khu vực quảng trường trước lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc nào cũng đông kín người”.

Một thông tin đáng chú ý đó là thiếu tướng Đào Hữu Nghĩa, Trưởng Ban quản lý lăng kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh bảo vệ lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh cho biết, đến hết buổi viếng ngày 2/9 chỉ khoảng 25.000 lượt người được vào viếng lăng ông, số còn lại đành phải chờ đến hôm sau. Tôi tin rằng, con số trên rất thật bởi vì tôi đã được tận mắt chứng kiến dòng người xếp hàng dài vào viếng lăng Hồ Chí Minh, không nhất thiết phải do cơ quan hay các hội đoàn tổ chức…

Duiker cũng viết, trang 566: “Mỗi tuần có hơn 15.000 người đến viếng thăm Lăng ông Hồ Chí Minh”.

Tại sao ngày nay người dân Việt Nam vẫn còn kính trọng và ngưỡng mộ Hồ Chí Minh, tuy rằng trên diễn đàn truyền thông hải ngoại có cả một chiến dịch để xóa bỏ “thần tượng Hồ Chí Minh”? Lý do rất dễ hiểu là phần lớn những điều viết về Hồ Chí Minh của giới chống Cộng là sai lầm, là vô căn cứ, bắt nguồn từ lòng thù hận một chiều của những người gọi là “Quốc Gia”, chứ không đặt trên những sự thật và sự kiện lịch sử.

Vài nét về tác giả

Sinh năm 1931 tại Hà Nội.

1952: Tốt nghiệp trường Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định với cấp bậc Thiếu úy.

1956: Xin giải ngũ.

1957: Quy Y Tam Bảo, chùa Văn Thánh, Thị Nghè, Thượng tọa Tuệ Đăng chứng minh.

1962: Cử nhân Giáo khoa Khoa học, Khoa học Đại học Sài Gòn.

1962: Bị gọi tái ngũ.

1962-1965: Trưởng Khoa Khoa học (Vật lý và Hóa học), Văn Hóa Vụ, Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Đồng thời dạy thực tập Vật lý ở Đại học Đà Lạt.

1965: Giải ngũ.

1965-1967: Giảng Nghiệm Viên, Ban Vật lý, Khoa học Đại học Sài Gòn.

1967: Được học bổng đi Mỹ học về ngành Vật lý ở Đại học Wisconsin – Madison.

1972: Tốt nghiệp Ph.D., Vật lý, Đại học Wisconsin – Madison.

1972-1975: Giảng sư, Ban Vật lý, Khoa học Đại học Sài Gòn.

1975-1977: Nghiên cứu sinh Sau Tiến sĩ, Khoa Vật lý, Trường Đại học Wisconsin-Madison.

1977-1996: Giám đốc Phòng thí nghiệm Phân tích Bề mặt, Trung tâm Vật liệu, Trường Đại học Wisconsin-Madison. Hướng dẫn nghiên cứu trong lĩnh vực Phân tích Bề mặt bằng cách sử dụng các kỹ thuật mới…

1989: Tháng 11: Được mời sang Singapore làm Cố vấn Kỹ thuật ở SISIR (Singapore Institute of Standards and Industrial Research)

1996 – đến nay: Về hưu. Nghiên cứu Đạo Phật, Công Giáo, Lịch sử.


(*) Tựa bài và các tiểu mục là do Tạp chí Hồn Việt đặt.

Trích từ http://giaodiemonline.com

honvietquochoc.com.vn

Ông đã chiến đấu vì một sự nghiệp rất vẻ vang

Khi nhà báo Wilfred Burchett qua đời (2-10-1983) ở Bulgaria – quê hương vợ ông – các đồng nghiệp và nhân dân Việt Nam vô cùng thương tiếc ông. Thép Mới đưa tiễn ông với bài báo xúc động mang tít “Người bạn chiến đấu của Việt Nam”. Sau đó nhiều năm, một đồng nghiệp khác lại viết về ông, gọi ông là “người bạn tận tụy của Việt Nam”…

Tại triển lãm ảnh “Wilfred Burchett và Việt Nam” được tổ chức ở Bảo tàng Hồ Chí Minh (Hà Nội) nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của nhà báo ưu tú này, đồng chí Chủ tịch nước đã bày tỏ cùng con trai ông – George Burchett – lòng biết ơn sâu sắc của chúng ta đối với những cống hiến của ông dành cho sự nghiệp chính nghĩa của Việt Nam và gọi ông là “một ân nhân, một người bạn lớn của nhân dân Việt Nam”.

Không phải ngẫu nhiên mà ông đã được Chính phủ ta trao tặng huân chương cao quý: Huân chương Kháng chiến hạng nhất. Đó là sự đánh giá rất cao những hoạt động của ông dành riêng cho Việt Nam.

Thật xúc động khi đọc bức thư của ông gửi ba đứa con yêu quý được viết tại chiến trường miền Nam Việt Nam, trong đó ông tâm sự cùng các con: “Cha đang làm việc vì một sự nghiệp rất vẻ vang. Giúp đỡ nhân dân miền Nam Việt Nam bảo vệ đất nước của họ và đánh tan bọn đế quốc Mỹ, những kẻ đang cố chiếm lấy miền Nam rồi xâm lăng miền Bắc Việt Nam”.

Với tấm lòng của nhà báo tiến bộ, thiết tha yêu chính nghĩa, ông nói với các con: “Nhân dân Việt Nam là những người bạn rất thân thiết của chúng ta”. Nhà báo người Australia này là một trong số ít những người cầm bút quốc tế đầu tiên đến với Việt Nam và liên tiếp trong rất nhiều năm viết báo, viết sách bày tỏ sự gắn bó sâu sắc với cuộc chiến đấu vì chính nghĩa của nhân dân ta. Những bài báo và các tập sách như: “Bắc vĩ tuyến 17” (1955), “Việt Nam: Câu chuyện bên trong cuộc chiến tranh du kích” (1965), “Bắc Việt Nam” (1966), “Việt Nam sẽ thắng” (1967)… thuộc vào những tác phẩm ưu tú, nóng hổi, đầy sức mạnh chiến đấu của ông.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng vợ chồng nhà báo Wilfred Burchett tại Hà Nội.

Cũng cần nói ngay rằng, trong các tập sách ấy, ông cho in cả hàng trăm bức ảnh do chính ông chụp, vừa có giá trị thời sự vừa có giá trị lịch sử. Nếu chỉ nhìn riêng về khía cạnh nhiếp ảnh, ông xứng đáng được thừa nhận là một nhà nhiếp ảnh tài năng. Những bức ảnh được giới thiệu ở Bảo tàng Hồ Chí Minh đã cuốn hút đông đảo khán giả Việt Nam và quốc tế trong suốt thời gian mở cửa.

Thật ra, “kho ảnh” của ông – như con trai ông cho biết có tới hàng ngàn tác phẩm đã chụp ở cả hai miền Nam, Bắc Việt Nam trong những thời kỳ khác nhau. Riêng ở triển lãm nói trên, ngoài một loạt chân dung Bác Hồ và các nhà lãnh đạo khác như Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ, có thể chia làm hai phần: Những hình ảnh của miền Bắc sau chiến thắng Điện Biên Phủ, trong công cuộc chống chiến tranh phá hoại và của miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ.

Thời gian đã lùi xa, những bức ảnh ông chụp cùng những bài báo, trang sách ông viết giúp chúng ta sống lại các giai đoạn lịch sử nói trên, đó là không khí hối hả ở miền Bắc những năm đầu xây dựng lại sau chiến tranh, từ các công trường xây dựng thủy lợi, đắp đập, những người thợ cưa gỗ làm tà vẹt đường sắt đến những người nông dân làm cỏ lúa, các bè nứa chở tà vẹt xây dựng tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai, những phiên chợ ở Điện Biên Phủ, những bản làng người Thái ở Tây Bắc, những người thợ điển hình. Đó là không khí nóng bỏng trong những ngày chống chiến tranh phá hoại do giặc Mỹ gây ra, được phản ánh bằng ảnh và lời như một bản anh hùng ca đầy khí thế chiến thắng.

Một lớp học thời chiến giữa rừng dành cho con em người M’Nông ở Tây Nguyên giữa thập niên 1960. Ảnh: Wilfred Burchett

Chúng ta, những độc giả và khán giả của hôm nay, được gặp lại hình ảnh các chị em phụ nữ trong lao động sản xuất và chiến đấu, các em nhỏ đi học dưới làn bom đạn và các cụ già rất đỗi lạc quan. Chúng ta càng nhớ đến các nữ tự vệ trong các nhà máy ở Hà Nội (như Nhà máy Dệt 8-3), trong bệnh viện dã chiến sơ tán trong một ngôi chùa ở Gia Lâm, cả những em nhỏ bên hồ Hoàn Kiếm và những lứa đôi trong phút yên tĩnh tại Công viên Thống Nhất…

Đáng nói nhất là hai năm liền (1962 – 1964), Wilfred Burchett đã hoạt động ở miền Nam nước ta như một chiến sĩ giải phóng thực thụ, cũng bộ quần áo bà ba, quàng khăn rằn, đội nón hoặc mũ tai bèo, chân đi dép lốp với chiếc xe đạp cũ. ông có mặt và chiến đấu cùng các chiến sĩ du kích ở Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long, trong những đêm lửa trại, tại phòng xét nghiệm dã chiến trong rừng, sản xuất lựu đạn. ông không quên nói đến những cuộc văn nghệ trên núi rừng, các chiến sĩ đã ca hát trong những ngày gian khổ…

Tất cả những bài viết và hình ảnh do ông viết ra, ghi lại đều đã được báo chí quốc tế phản ánh đầy đủ, trung thực, góp phần không nhỏ vào việc làm cho bè bạn khắp năm châu hiểu sâu hơn về cuộc chiến đấu của nhân dân ta, để rồi như được tiếp thêm lửa, càng khẳng định mạnh mẽ tình đoàn kết keo sơn với cuộc chiến đấu đó. Trong đời mình, tôi chưa bao giờ được gặp ông, nhưng qua sách báo và hình ảnh của ông, tôi thấy Wilfred Burchett thật gần gũi.

Bệnh viện dã chiến giữa rừng xanh của quân đội Giải phóng. Ảnh: Wilfred Burchett

Một người bạn của ông, nhà báo Đức Franz Faber đã kể tôi nghe về ông, về nhà báo Pháp Madelene Riffaud khi ông cùng họ được Bác Hồ tiếp tại Phủ Chủ tịch ngay sau ngày Người từ Việt Bắc về Hà Nội. Và tôi được biết Burchett đã từng hoạt động báo chí trong những năm 30 của thế kỷ trước ở Berlin. Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, ông lại viết và phát đi những thiên phóng sự từ Berlin cho Daily Express. Riêng ở Đức, tôi đã đọc khá nhiều cuốn sách hấp dẫn, đầy sức cuốn hút của ông.

Cho đến nay, tôi còn nhớ các tác phẩm: “Bình minh ở châu á” (1948), “Cuộc chiến tranh lạnh ở Đức” (1950), “Trung Hoa biến đổi” (1952), “Bên bờ sông Mekong” (1959), “Đất nước nóng bỏng” (tập phóng sự về Liên Xô, 1962), “Những người du kích chống các tướng lĩnh” (1965). Ấn tượng sâu sắc của tôi về tác phẩm của ông là: ông không chỉ thể hiện những sự kiện diễn ra trước mắt ông, mà ông còn tìm mọi cách đi sâu vào thế giới nội tâm của các nhân vật mà ông phản ánh.

Chính chiều sâu tâm hồn, những niềm vui, nỗi buồn, những khát vọng của con người về cuộc sống, niềm tin sắt đá vào ngày mai tốt đẹp làm cho những trang văn của ông càng thấm đượm chất nhân văn, chất trữ tình. ấn tượng của tôi càng được khẳng định khi tôi nghe câu chuyện của nhà thơ Giang Nam kể lại sau ngày gặp Burchett. Đó là năm 1964, đang ở chiến trường miền Nam, Burchett hỏi Giang Nam: “Nghe nói bạn đã có gia đình và hai vợ chồng vẫn sống xa nhau, điều đó có ảnh hưởng gì đến công việc và hạnh phúc gia đình không?”. Nhà thơ của chúng ta trả lời: “Tất nhiên là có rồi, nhưng chúng tôi đã quen dần. Chúng tôi vì công việc và vì bom đạn Mỹ nên có lúc 5, 7 năm, thậm chí 10 năm phải sống xa nhau trong nỗi nhớ thương da diết”.

Nhà báo Australia nắm lấy tay nhà thơ và nói: “Xin cảm ơn bạn đã tâm sự chuyện riêng tư ấy với tôi. Thật khó tưởng tượng các bạn đã sống như thế. Tôi càng hiểu vì sao Việt Nam chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược”. Từ các bài viết và hình ảnh của ông nói về Việt Nam, người con trai ông đã dựng nên hai bộ phim tài liệu: “Trong bưng biền Việt Cộng” và “ở miền Bắc Việt Nam dưới bom đạn”.

Không phải ngẫu nhiên mà con trai ông, họa sĩ George Burchett, đã nói về cha mình rằng: “Cha tôi đến với Việt Nam từ tiếng gọi của chính trái tim mình. Việt Nam là phần quan trọng nhất trong đời làm báo của cha tôi. Đọc sách và xem ảnh của ông, càng khám phá ông, tôi càng ngưỡng mộ ông. Ông là một nhà nhân văn thực sự. Ông đã giúp tôi hiểu hơn về thế giới. Thế giới này thật khó khăn và cần những người như Wilfred Burchett dũng cảm đương đầu với hiểm nguy, đến tận nơi để giải thích cho mọi người về thế giới. Ông giúp tôi biết rằng không nên hoài nghi, cần tin vào chính mình, tin vào loài người, cần hiểu người khác, cần tin vào người khác”.

Tầm vóc lớn lao về sự nghiệp của Burchett mãi mãi được tôn vinh – một sự nghiệp vì chính nghĩa. Vì lẽ đó, Mick Shimmin, trong lời nói đầu tác phẩm “Nhà báo nổi loạn” của Burchett, khẳng định ông là “nhà báo lớn nhất của Australia, là một trong những nhà báo đối ngoại ưu tú nhất trên thế giới”.

Còn Denis Warner thì ca ngợi: “Một trong những tính cách kiệt xuất của ông là lòng quả cảm vĩ đại”. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng vợ chồng nhà báo Wilfred Burchett tại Hà Nội.

Trần Đương

cand.com.vn

Bài thơ chữ Hán viếng Hồ Chủ tịch của nhà sư Nhật Bản…

Cố Hòa thượng Onishi Ryokei (1875-1983) trụ trì chùa Thanh Thủy ở phía đông thành phố Kyoto là một vị cao tăng rất có uy tín trong giới phật tử và nhân dân Nhật Bản. Cụ rất kính trọng và cảm phục Hồ Chí Minh. Trong một lần tiếp đoàn đại biểu Việt Nam đến thăm, cụ bày tỏ nguyện vọng: Đến ngày Việt Nam chiến thắng, nhân dân Nhật Bản sẽ được đón tiếp Hồ Chủ tịch sang thăm, và cụ sẽ được gặp Người.

Năm 1969, cố Hòa thượng Onishi Ryokei đã 96 tuổi, nghe tin Hồ Chủ tịch từ trần, cụ rất đau xót, bỏ ăn mấy ngày và tự tay viết bài thơ bằng chữ Hán kính viếng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, không chỉ là tổn thất không thể bù đắp đối với dân tộc Việt Nam ta mà còn để lại niềm tiếc thương vô hạn trong lòng bè bạn quốc tế.

Cố Hòa thượng Onishi Ryokei (1875-1983) trụ trì chùa Thanh Thủy ở phía đông thành phố Kyoto là một vị cao tăng rất có uy tín trong giới phật tử và nhân dân Nhật Bản. Cụ rất kính trọng và cảm phục Hồ Chí Minh. Trong một lần tiếp đoàn đại biểu Việt Nam đến thăm, cụ bày tỏ nguyện vọng: Đến ngày Việt Nam chiến thắng, nhân dân Nhật Bản sẽ được đón tiếp Hồ Chủ tịch sang thăm, và cụ sẽ được gặp Người.


Một góc chùa Thanh Thủy. Ảnh từ Internet.

Năm 1969, cố Hòa thượng Onishi Ryokei đã 96 tuổi, nghe tin Hồ Chủ tịch từ trần, cụ rất đau xót, bỏ ăn mấy ngày và tự tay viết bài thơ bằng chữ Hán kính viếng. Nguyên văn bài thơ của cố Hòa thượng Onishi Ryokei:

救國眞人昇碧空
迷途民衆哭悲衷
古今稀見老英傑
一葉飜風秋色濛

Cứu quốc chân nhân thăng bích không
Mê đồ dân chúng khốc bi trung
Cổ kim hi kiến lão anh kiệt
Nhất diệp phiên phong thu sắc mông.


Bút tích cố Hòa thượng Onishi Ryokei

Vì nhiều lý do, một thời gian sau, bài thơ mới được chuyển đến Viện Hán-Nôm. Bài thơ được nhận định là khó đọc và khó dịch. Sau khi cân nhắc, lãnh đạo Viện quyết định giao cho Trần Duy Vôn dịch. Và ông đã dịch thành công:

Trời xanh đón người cứu nước về
Đau lòng chúng sinh trên đường mê
Xưa nay hiếm bậc lão anh kiệt
Chiếc lá thu bay trời ủ ê.

Bài thơ của cố Hòa thượng Onishi Ryokei và bản dịch của Trần Duy Vôn mãi đến ngày 19/5/1973 mới được công bố trên báo Thống Nhất.

Trần Duy Vôn (1906-1979) hiệu là Nhàn Vân Đình với các bút danh: Hải Âu, Mạc Như… người xã Hải Anh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

Thuở nhỏ, ông rất thông minh, hiếu học. Mười chín tuổi, ông đã thông hiểu kinh điển Hán học. Tiếc vì triều đình đã bãi bỏ thi chữ Hán, nên ông không có cơ hội ứng thí để ra làm quan, phò vua giúp nước – giấc mộng và cũng là con đường tiến thân của hầu hết nho sĩ thời phong kiến.

Toàn bộ sở học, Trần Duy Vôn dành trọn cho việc làm thơ, viết báo và trước thuật. Dưới chế độ cũ, từ năm hai mươi mốt tuổi (1927), ông đã viết bài cho rất nhiều báo khắp ba miền Bắc Trung Nam. Đáng chú ý là trong 8 năm (1927-1934), ông là trợ bút, phụ trách mục Hán văn của báo Nam Phong. Năm 1932, do có nhiều công tích viết báo, ông đã được triều đình ban phẩm hàm “Cửu phẩm Văn giai”. Năm 1941, do dâng hai cuốn Đế vương Bảo Giám và Thiên hạ Mẫu nghi, ông được triều đình sắc phong “Hàn lâm viện cung phụng”.

Do vậy, người quê quen gọi Trần Duy Vôn là Hàn Vôn. Cuộc đời ông có nhiều năm cơ cực, oan uổng, nhưng ông vẫn lạc quan, vẫn làm thơ và miệt mài nghiên cứu, viết sách. Cuộc đời 74 năm, Trần Duy Vôn đã để lại một khối lượng sáng tác đồ sộ gồm hơn 40 tác phẩm, 523 bài thơ chữ Hán, 799 bài thơ Quốc ngữ và hàng trăm bài phú, văn tế…

Năm 1972, sau nhiều lần gửi thư mời, Viện Hán-Nôm đã cử người đón ông lên công tác tại Viện. Được coi là “bậc cố vấn”, “tự điển sống” của Viện. Trần Duy Vôn đã đóng góp nhiều công sức vào việc nghiên cứu, dịch thuật Hán – Nôm và đào tạo cán bộ chuyên ngành. Dịch thành công bài thơ chữ Hán của nhà sư Nhật Bản, là một minh chứng cho trình độ Hán – Nôm uyên thâm của ông.

honvietquochoc.com.vn

Người bảo vệ Bác Hồ thăm đền Hùng trước ngày tiếp quản Thủ đô

Đại tá Tống Xuân Đài kể rằng ông chính là người nhặt một mẩu gạch non, khoanh một vòng tròn rồi thưa với Bác: “Thưa Bác, chúng cháu ngồi xung quanh Bác như thế này ạ”.

Trong kí ức tuổi thơ tôi, lời dạy của Bác Hồ “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” và bức ảnh Người nói chuyện với Sư đoàn Quân Tiên Phong tại Đền Hùng trước khi về tiếp quản Thủ đô năm 1954, đã khắc sâu vào tâm trí. Lớn lên, mỗi lần được đi thăm Đền Hùng, lúc dừng chân tại Đền Giếng, tôi lại bâng khuâng mường tượng nơi Bác ngồi trên bậu cửa, xung quanh là những đại diện ưu tú của Quân đội nhân dân anh hùng…

Đầu Xuân Canh Dần trong lần vào thăm Khu di tích Phủ Chủ tịch tại Hà Nội, tôi ngẫu nhiên gặp một cựu sĩ quan quân đội, là nhân chứng trong đoàn quân quây quần bên Bác tại Đền Hùng. Ông giới thiệu đầy tự hào: “Tôi là người đã trực tiếp bảo vệ Bác Hồ khi Bác thăm Đền Hùng 56 năm về trước và nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 308 (Quân Tiên Phong) trước khi về tiếp quản Thủ đô Hà Nội”…

Đúng hẹn, tôi đến thăm Đại tá Tống Xuân Đài tại nhà riêng – một ngôi nhà đẹp, ấm cúng nằm trong ngõ nhỏ của phố “Nhà binh” Lý Nam Đế – Hà Nội. Với tác phong nhanh nhẹn, quy củ của một cựu chiến binh, ông đã chuẩn bị những tư liệu cần thiết giúp tôi.

Tôi ngạc nhiên bởi ngoài những bức ảnh được chụp cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người thăm Đền Hùng và nói chuyện với bộ đội, ông Đài còn rất nhiều ảnh khi tháp tùng, bảo vệ Hồ Chủ tịch thăm các đơn vị quân đội những năm sau đó. Nhiều bức ảnh rất có giá trị, rất đẹp lần đầu tiên tôi được xem – dù tôi là người luôn chú ý tìm hiểu, sưu tầm tư liệu và đã viết khá nhiều bài về Bác Hồ và công tác bảo vệ Bác.

Ông Tống Xuân Đài (thứ 2 bên phải) tại Đền Giếng, nơi đặt bia đá ghi lại sự kiện Bác Hồ huấn thị “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Quê ở Phù Cừ – Hưng Yên, năm 1940, mới hơn 10 tuổi, cậu bé Đài rời quê lên Hà Nội kiếm sống. Cũng như nhiều thanh niên khác, Tống Xuân Đài sớm đến với cách mạng; là tự vệ thành Hoàng Diệu, tham gia chiến đấu bảo vệ Thủ đô trong đội ngũ Trung đoàn 66 do đồng chí Phùng Thế Tài phụ trách… Được tôi luyện, trưởng thành trong chiến đấu, đến tháng 3/1954, ông được cử đi học lớp nghiệp vụ bảo vệ do Cục Bảo vệ – Tổng cục Chính trị tổ chức tại Việt Bắc.

Hơn nửa thế kỉ đã qua, Đại tá Tống Xuân Đài vẫn nhớ như in thời khắc được bảo vệ Bác Hồ thăm Đền Hùng, trên đường từ Việt Bắc về Hà Nội. Đôi mắt ông như sáng lên khi những dòng kí ức trở lại: “Trung tuần tháng 9/1954, anh Lại Xuân Thát – chính trị viên tiểu đoàn 254 – Bộ Tư lệnh 350, và tôi được gọi lên giao nhiệm vụ. Sau khi có giấy công lệnh, chúng tôi được sử dụng một chiếc xe Zeep chiến lợi phẩm, triệu tập 4 đồng chí nữa đến bến phà Bình Ca và Đoan Hùng tìm một chiếc phà loại tốt, đợi sẵn phía bờ Tuyên Quang để đón đoàn thượng cấp. Chúng tôi quy ước, khi thấy đoàn xe ôtô, chiếc đi đầu có đồng chí Thanh Quảng (tức Nguyễn Văn Thanh, từng là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình được điều động làm Phó Văn phòng Tổng Quân ủy) thì đưa cả đoàn xuống phà, qua sông ngay rồi di chuyển đến Đền Hùng.

Ngày 18/9/1954, mọi việc diễn ra theo đúng kế hoạch, nhưng chúng tôi chờ mãi đến xẩm tối vẫn không thấy đoàn xe có anh Thanh Quảng xuất hiện, dù đã có nhiều xe qua phà. Vừa sốt ruột, vừa lo lắng, tôi và anh Thát bổ đi tìm. Thấy phía chân đồi có ánh đèn (sáng hôm sau tôi mới biết đây là Đền Giếng), chúng tôi tiến lại thì bất ngờ nhận ra anh Thanh Quảng. Anh đi nhanh ra ngoài, ngăn chúng tôi lại và bảo: “Khách” đến rồi, đang ở trong đền. Các anh về nghỉ, sáng mai đưa bộ đội vào sớm”.

Vậy tối hôm đó thì bộ đội tập kết ở đâu? – Tôi hỏi Đại tá Đài. “Bộ đội vào nhà dân quanh vùng xin nghỉ nhờ. Do làm tốt dân vận, hơn nữa khí thế chiến thắng của Điện Biên Phủ làm nức lòng nhân dân cả nước, nên bà con rất thương bộ đội Cụ Hồ”. Đại tá Đài kể tiếp: Sớm hôm sau, tầm gần 7h thì tôi và anh Thát trở lại Đền Giếng.

Bác Hồ nói chuyện với cán bộ chiến sĩ Sư đoàn Quân Tiên Phong tại Đền Hùng, ngày 19/9/1954.

Vào đến sân đền, chúng tôi thấy Bác đang ung dung ngồi trên bậc thềm ngắm cảnh thiên nhiên mùa thu của vùng Trung du buổi ban mai. Bác mặc bộ đồ gụ, bên ngoài khoác chiếc áo đại cán. Hai anh em mừng rỡ, lại gần chào Bác theo đúng quân lệnh.

Bác gật đầu chào lại rồi hỏi: “Bộ đội đã ăn sáng chưa?”. Tôi chưa kịp trả lời thì anh Thát lại cuống, líu ríu: “Dạ thưa Bác, tối qua…”. Bác nhìn anh Thát, cười độ lượng rồi phê bình: “Bác hỏi chú bộ đội đã ăn sáng chưa, chứ không hỏi chú tối hôm qua”… Sau khi nghe chúng tôi báo cáo cụ thể tình hình bộ đội, Bác nói: “Sáng rồi, các chú còn nhiều việc phải chuẩn bị. Bây giờ, các chú mời bộ đội đến đây để Bác nói chuyện”.

Theo trí nhớ của Đại tá Tống Xuân Đài, tham gia sự kiện này, có khoảng 80 cán bộ từ cấp đại đội trở lên, đại diện cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 308. Lúc 7h15′ ngày 19/9, các đại biểu có mặt đông đủ tại sân đền. “Do sân hẹp, cán bộ, chiến sĩ đều mải ngắm Bác nên chúng tôi chưa biết tập hợp đội hình thế nào để mọi người ổn định, nghe Bác nói chuyện. Tôi bèn nhặt một mẩu gạch non, khoanh một vòng tròn rồi thưa với Bác: “Thưa Bác, chúng cháu ngồi xung quanh Bác như thế này ạ”.

Bác quan sát, rồi gật đầu đồng ý và giơ tay ra hiệu cho bộ đội ngồi xuống các bậc thềm dẫn từ sân lên cửa Đền. Bác ngồi trên bậu cửa đền; đồng chí Vũ Yên – Tham mưu trưởng ngồi ở bậc thềm chính diện trông lên Bác.

Bác quay sang bảo đồng chí Song Hào – Chính ủy Đại đoàn 308: “Chú ngồi đây (mặt hè bên phải Bác, còn chú Quảng ngồi đây (mặt hè bên trái Bác)”. Sau khi bộ đội ổn định chỗ ngồi, Bác chỉ vào tôi, nói: “Còn chú, chú ngồi chỗ kia (bậc thềm thứ hai từ mặt hè xuống, phía bên phải đồng chí Song Hào”.

Hồ Chủ tịch đã mở đầu buổi nói chuyện với bộ đội bằng câu hỏi: “Các chú có biết đây là đâu không”? Có nhiều đồng chí nhanh nhẹn trả lời: “Thưa Bác, đây là Đền Hùng ạ. Đây là nơi thờ Hùng Vương ạ!”. Bác lại hỏi tiếp: “Hùng Vương là người như thế nào với nước ta”. Lặng đi một lát chưa có ai trả lời, đồng chí Vũ Yên đứng dậy: “Thưa Bác, ngày xưa…”. Bác giơ tay ra hiệu cho đồng chí Vũ Yên ngồi xuống rồi nói: “Đúng đây là Đền Hùng, thờ các Vua Hùng. Hùng Vương là người đã sáng lập ra nước ta, là tổ tiên của dân tộc ta. Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước!”…

Tiếp đó, Bác căn dặn: Hơn 8 năm gian khổ chiến đấu, được nhân dân đùm bọc, giúp đỡ, bộ đội và dân quân du kích dũng cảm đánh giặc; ta đã giành thắng lợi, buộc quân Pháp phải rút khỏi miền Bắc nước ta. Ta có nhiệm vụ về tiếp quản Hà Nội, thủ đô của cả nước và những thành phố khác nữa. Nhiều năm các chú ở nông thôn và rừng núi, nay về thành phố nơi tạm chiếm của địch, đồng bào đã nhiều năm bị địch hành hạ, cưỡng bức, rất khổ, có người bị địch bắt buộc hoặc vì cuộc sống phải làm việc cho địch…

Khi vào tiếp quản đóng quân trong thành phố, các chú phải: Gần gũi, tôn trọng dân, làm tốt công tác dân vận; giải thích cho đồng bào hiểu chủ trương, chính sách của Chính phủ. Không được coi những người dân sống trong vùng địch tạm chiếm là đi theo địch mà xa lánh họ… Bác căn dặn kĩ cả việc sinh hoạt, sử dụng điện, nước máy tại đô thị; việc học tập chính trị, tuần tra canh gác…

Sau dòng hồi tưởng, ông Đài xúc động kể tiếp: “Khoảng gần 9h sáng, buổi nói chuyện của Bác với bộ đội kết thúc. Anh em bộ đội ra về và luôn ghi lòng tạc dạ lời dạy bảo sâu sắc của Hồ Chủ tịch, người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân, vị lãnh tụ tối cao của dân tộc. Mấy anh em Cảnh vệ Quân đội chúng tôi và Cảnh vệ Công an cùng tháp tùng Bác rời khỏi Đền Giếng. Quãng đường từ đền ra đường cái, một đồng chí cận vệ đi trước, dẫn đường. Bác đi thứ hai, còn tôi đi ngay sau Bác. Bác đội mũ cát và dùng một chiếc khăn che chòm râu dài. Tới điểm ôtô đỗ, chúng tôi từ biệt Bác và đứng lặng nhìn theo cho đến khi chiếc xe khuất hẳn”.

Tìm trong tập tài liệu, Đại tá Tống Xuân Đài đưa cho tôi xem một cuốn họa báo Trung Quốc đã ngả màu vàng, xuất bản năm 1957 tại Bắc Kinh… Đôi mắt ông đầy hoài niệm: “Khi Bác nói chuyện với bộ đội, tôi không biết là có người chụp ảnh. Sau khi về tiếp quản Thủ đô, tôi được cử sang Trung Quốc học tập. Trong một lần đến thăm Sứ quán ta, tôi được Đại sứ Nguyễn Khang cho xem một số tài liệu. Lần giở cuốn họa báo này, tôi ngạc nhiên khi thấy bức ảnh lịch sử, thấy mình trong ảnh. Anh Nguyễn Khang cũng ngạc nhiên không kém và đồng ý tặng tôi cuốn họa báo này!”.

Sau khi về nước, ông Đài tiếp tục công tác trong lực lượng Cảnh vệ Quân đội. Những năm kháng chiến chống Mỹ, ông là Phó, rồi Trưởng phòng Cảnh vệ (Phòng 45) – Cục Bảo vệ Quân đội, Bộ Quốc phòng. Ông Đài đã vinh dự nhiều lần bảo vệ Bác Hồ thăm các đơn vị quân đội, thị sát các trận địa phòng không, không quân. “Hồi đó, việc bảo vệ Bác chủ yếu do Cảnh vệ Công an. Nhưng khi Bác đi thăm các đơn vị Quân đội thì bên Cảnh vệ Quân đội chúng tôi đảm nhiệm với sự phối hợp của Cảnh vệ Công an. Chúng tôi và các anh Hoàng Hữu Kháng, Phan Văn Xoàn… bên Cảnh vệ Công an quý nhau lắm, thường xuyên gặp gỡ, phối hợp”.

Sau khi nghỉ hưu, Đại tá Tống Xuân Đài là một thành viên tích cực của “Hội cựu sỹ quan cận vệ Bác Hồ và các đồng chí Bộ Chính trị tiền bối”. Đây là một tổ chức được thành lập năm 2001 theo ý tưởng của Thượng tướng Phùng Thế Tài (người từng bảo vệ Bác Hồ trước năm 1940 tại Trung Quốc) và được chính Đại tướng Võ Nguyên Giáp đặt tên. Thành viên của Hội là các cựu sĩ quan Cảnh vệ Công an và Quân đội.

Trần Duy Hiển

cand.com.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với phong trào Bình dân học vụ

Người chỉ rõ: “Nạn dốt là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta…Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ”.

Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”(1)

Đó là lời nói thể hiện hoài bão lớn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Người đã dành trọn cả cuộc đời cho việc thực hiện hoài bão ấy. Ngay sau khi tuyên bố nước nhà được độc lập, một trong những nhiệm vụ cấp bách mà Người chỉ ra là “diệt giặc dốt” và Người đã phát động phong trào Bình dân học vụ. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin được giới thiệu  những chỉ đạo cùng với sự quan tâm của Người với phong trào Bình dân học vụ qua tài liệu lưu trữ.

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc hiếu học. Nhưng hơn tám mươi năm Pháp thuộc, thực dân Pháp đã câu kết với bè lũ phong kiến, địa chủ kìm hãm nhân dân ta trong vòng ngu dốt để đàn áp và bóc lột. Nạn mù chữ và thất học trầm trọng: 95% dân số không biết đọc, không biết viết.

Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công. Ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại Quảng trường Ba Đình, Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Trong bản Tuyên ngôn, Người đã lên án và tố cáo chính sách ngu dân của thực dân Pháp với việc “chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học” trên đất nước ta. Theo thống kê cứ 3245 trẻ em mới có một trường học mà cứ 1000 dân thì có một nhà tù(2).

Ngày 3 tháng 9 năm 1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Hồ Chủ tịch đã nêu ra những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt nam Dân chủ Cộng hoà. Một trong những nhiệm vụ cấp bách nhất, thiết thực nhất mà chính quyền Cách mạng vừa mới ra đời phải giải quyết trong hoàn cảnh khó khăn và thiếu thốn đó là “nạn dốt”. Người chỉ rõ: “Nạn dốt là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta…Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ” (3).

Hồ Chủ tịch nói chuyện với các học viên nhân buổi khai mạc lớp huấn luyện Bình dân học vụ khóa Hồ Chí Minh năm 1945.

Chiến dịch chống nạn mù chữ chính thức dược phát động từ ngày 8 tháng 9 năm 1945 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ra các sắc lệnh: Sắc lệnh số 17 đặt ra một bình dân học vụ trong toàn cõi Việt nam; Sắc lệnh số 19 lập cho nông dân và thợ thuyền những lớp học bình dân buổi tối; Sắc lệnh số 20 định rằng việc học chữ quốc ngữ từ nay bắt buộc và không mất tiền. Để phục vụ chiến dịch xoá mù chữ, Nha Bình dân học vụ được thành lập ngày 18 tháng 9 năm 1945. Khoá huấn luyện cán bộ bình dân học vụ đầu tiên mang tên Hồ Chí Minh mở tại Hà Nội. Ngày 4 tháng 10 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có lời kêu gọi “Chống nạn thất học” gửi tới toàn thể quốc dân đồng bào: “…Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh nước giàu, mọi người Việt nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức, mới có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Những người đã biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ, hãy góp sức vào bình dân học vụ…Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết đi” (4)

Theo lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch, phong trào Bình dân học vụ được nhóm lên, lan rộng, ăn sâu vào các thôn xóm. Bình dân học vụ trở thành một phong trào nhân dân thực sự với những hình thức tổ chức hết sức linh động, thích nghi với điều kiện sinh hoạt của nhân dân lao động. Người học là những em bé, những cụ già, đặc biệt rất nhiều chị em phụ nữ. Giáo viên là các thầy giáo dạy ở các trường học, là cán bộ các ngành, là học sinh, bộ đội, từ mọi tầng lớp nhân dân, từ những người vừa thoát nạn mù chữ, ai đọc thông viết thạo đều có thể trở thành giáo viên bình dân học vụ. Lớp học là trụ sở của các trường phổ thông, các cơ quan chính quyền, doanh trại quân đội, nhà của tư nhân, đình, chùa …Nhiều nơi lá chuối, mo nang được đem dùng thay cho giấy; gạch non, sắn khô thay cho phấn viết; mặt đất, tường nhà, vách đá, lưng trâu … thay cho bảng đen. Mọi bước đi của phong trào Bình dân học vụ đều được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm, theo dõi, chỉ đạo và động viên. Người tới thăm rất nhiều lớp bình dân học vụ, mỗi một thành tích lớn nhỏ của bình dân học vụ đều được Người gửi thư khen ngợi. Người thường xuyên gửi thư động viên anh chị em giáo viên bình dân học vụ. Trong thư gửi anh chị em giáo viên bình dân học vụ ngày 1 tháng 5 năm 1946 Người viết: “ Anh chị em chịu cực khổ khó nhọc, hy sinh phấn đấu để mở mang trí thức phổ thông cho đồng bào, để xây đắp nền văn hoá sơ bộ cho dân tộc. Anh chị em làm việc mà không lương bổng, thành công mà không có tiếng tăm. Anh chị em là những người “ vô danh anh hùng”. Tôi mong rằng trong một thời gian ngắn, lòng hăng hái và sự nỗ lực của anh chị em sẽ có kết quả rất vẻ vang; Đồng bào ta ai cũng biết đọc, biết viết. Cái vinh dự đó thì tượng đồng, bia đá nào cũng không bằng.” (5)  Không chỉ động viên, khen ngợi, Người còn nhắc nhở anh chị em giáo viên vừa dạy, vừa học để nâng cao trình độ.

Diễu hành cổ động phong trào Bình dân học vụ năm 1946.
(Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Tài liệu ảnh Phông Bộ Ngoại giao,KH: 3373, 3379)

Chỉ một năm sau ngày phát động phong trào đã tổ chức được 75.000 lớp học với trên 95.000 giáo viên; trên 2.500.000 người biết đọc, biết viết.(6)  Mỗi khi phong trào bước sang một giai đoạn mới, Người lại gửi thư chỉ rõ cho cán bộ và giáo viên bình dân học vụ những công việc cần phải làm. Từ sau ngày toàn quốc kháng chiến, bình dân học vụ nhận thêm nhiệm vụ mới là trừ nạn mù chữ để đẩy mạnh kháng chiến với khẩu hiệu “Mỗi lớp học bình dân là một ổ tuyên truyền kháng chiến”. Trong thư gửi cho cán bộ và giáo viên bình dân học vụ khu III, Người chỉ rõ: “ Các lớp bình dân học vụ chẳng những dạy cho đồng bào học chữ, làm tính mà lại dạy thêm về công cuộc kháng chiến cứu nước, tăng gia sản xuất, giúp mùa đông binh sĩ, giúp đồng bào tản cư”(7)

Năm 1948 với phong trào thi đua yêu nước mà Người đề ra, bình dân học vụ chuyển sang một giai đoạn mới. Trong thư gửi cho anh chị em bình dân học vụ nhân dịp phát động phong trào thi đua ái quốc và kỷ niệm ngày Độc lập 2 tháng 9 năm 1948, Người chỉ rõ hướng đi tiếp theo của bình dân học vụ: “Trong phong trào thi đua ái quốc tôi mong các bạn cũng hăng hái xung phong. Vùng nào còn sót nạn mù chữ thì các bạn cố gắng thi đua diệt cho hết giặc dốt trong một thời gian mau chóng. Vùng nào đã hết nạn mù chữ, thì các bạn thi đua để tiến lên một bước nữa, bằng cách dạy cho đồng bào:

1-      Thường thức vệ sinh, để dân bớt ốm đau.
2-      Thường thức khoa học, để bớt mê tín nhảm.
3-      Bốn phép tính để làm ăn quen ngăn nắp.
4-      Lịch sử và địa dư nước ta (vắn tắt bằng thơ hoặc ca) để nâng cao lòng yêu nước.
5-      Đạo đức của công dân, để trở thành người công dân đứng đắn.” (8)

Như vậy bình dân học vụ không chỉ dạy cho dân biết đọc, biết viết mà còn phải dạy cho đồng bào kiến thức khoa học thường thức, nâng cao dần trình độ dân trí.

Người còn nhắc nhở mọi người, mọi đoàn thể phải đoàn kết, đồng tâm hiệp lực thì mục tiêu “Tất cả đồng bào Việt Nam từ 8 tuổi trở lên đều biết đọc, biết viết” sẽ hoàn thành thắng lợi.

Phong trào Bình dân học vụ được sự quan tâm, chỉ đạo kịp thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Chính Phủ ngày càng phát triển. Từ 2,5 triệu người thoát nạn mù chữ năm 1946 tới năm 1948 là 6 triệu người và đến năm 1952 là 10 triệu người, chiến dịch xoá nạn mù chữ cơ bản được hoàn thành. Đi đôi với việc diệt giặc dốt, việc bổ túc văn hoá để củng cố sự đọc thông, viết thạo của những người đã thoát nạn mù chữ được tổ chức và đẩy mạnh, trình độ văn hoá của cán bộ và nhân dân lao động cũng được nâng lên.

Đã hơn sáu mươi năm kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động phong trào Bình dân học vụ, nền giáo dục Việt Nam đã có những phát triển vượt bậc. Từ chỗ 95% dân số mù chữ, đến nay cả nước đã cơ bản phổ cập giáo dục, mỗi năm có hơn 20 triệu học sinh, sinh viên các cấp học đến trường, đội ngũ giáo viên các cấp học cũng ngày càng phát triển về số lượng, nâng cao về chất lượng. Thấm nhuần tư tưởng của Người về phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, từ những kinh nghiệm của phong trào Bình dân học vụ, chúng ta hy vọng ngành giáo dục Việt Nam sẽ thực hiện thành công mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đề ra: ” Phấn đấu xây dựng một nền giáo dục hiện đại, của dân, do dân, vì dân, bảo đảm công bằng về cơ hội học tập cho mọi người, tạo điều kiện để toàn xã hội học tập và học tập suốt đời, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”(9)./.

1. Hồ Chí Minh Toàn tập, NXBCTQG.H 1995, tập 4, tr.161
2. Trung tâm Lưu trữ Quốc Gia III, Phông Bộ Giáo dục, hồ sơ 146.
3.  Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG. H 1995, tập 4, trang 8.
4. Sdd, trang 36
5. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Phông Bộ Giáo dục, Hồ sơ 2663
6. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Phông Bộ Giáo dục, Hồ sơ 146
7. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Phông Bộ Giáo dục, Hồ sơ 2663
8. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Phông Bộ Giáo dục, hồ sơ 2663.
9. Văn kiện Đại hội đại biểu tòan quốc lần thứ X, NXBCTQG, Hà nội 2006

Phạm Hải Yến –Trung tâm Lưu trữ Quốc Gia III

archives.gov.vn

Đi tìm người con gái M’Nông trong tấm ảnh với Bác Hồ

Trong số khách mời của buổi giao lưu với Đoàn viên thanh niên Công an mang tên “Mẹ cũng là chiến sỹ” do Công an tỉnh Đắk Lắk tổ chức có một người phụ nữ người dân tộc M’Nông đã đứng tuổi.

Khi được mời lên sân khấu để giao lưu, sau những câu chuyện thời kháng chiến được kể bằng vốn tiếng Kinh chậm như người già đếm hạt bắp. Cuối cùng, khi được hỏi về kỷ niệm sâu sắc nhất trong đời hoạt động cách mạng của mình, người phụ nữ đã rút từ trong người ra 1 tấm ảnh đen trắng to hơn bàn tay giọng run run xúc động: “Đó là lần được gặp và chụp ảnh chung với Bác Hồ. Tấm ảnh này là tài sản quý nhất của nhà mình đấy!”.

Đổi họ thay tên để làm cách mạng

Lần theo địa chỉ mà Thượng tá Nguyễn Thị Minh Vẻ, Trưởng ban Công tác phụ nữ Công an tỉnh cung cấp, tôi làm một cuộc hành trình ngót gần 100km đi ngược về phía Đông nơi có vùng đất Đắk Phơi Anh hùng, nơi ngọn nguồn của dòng Sêrêpốk hùng vĩ. Đường vào xã Đắk Phơi, huyện Lắk những ngày này thật đẹp, hai bên đường những vạt dã quỳ khoe sắc vàng óng đùa nhau trong nắng. Phía xa xa, dãy núi Chư Yang Sin sừng sững như những chàng thanh niên M’Nông vai sát vai đang ưỡn những khuôn ngực trần rắn rỏi che chở cho buôn làng.

Theo chân một số cán bộ của xã Đắk Phơi, tôi tìm đến một căn nhà nhỏ nằm sâu trong buôn Bu Yúk. Amí Sơn – người phụ nữ đang chầm chậm nghe, chầm chậm nói với vốn tiếng Kinh ít ỏi của mình đang ngồi trước mặt tôi chính là người con gái M’Nông trong tấm ảnh ấy. Khi biết ý định của tôi, Amí Sơn như nhanh nhẹn hẳn, bà bước đến chiếc tủ gỗ duy nhất đặt giữa nhà, mở khoá lấy ra một gói nhỏ bằng quyển vở học sinh được bọc bằng nhiều lớp giấy bóng và cẩn thận lấy ra tấm ảnh quý.

Tấm ảnh quý Amí Sơn chụp chung với Bác Hồ.

Tấm ảnh đen trắng đã ngả màu được gìn giữ rất cẩn thận, trong ảnh là Bác Hồ với bộ kaki trắng và đôi dép cao su giản dị đang tươi cười hiền hậu. Ngay phía bên phải của Bác là Amí Sơn trong trang phục truyền thống của người M’Nông, nhỏ nhắn rụt rè trong lần đầu tiên được gặp Bác. Trong ảnh còn có một số đồng bào dân tộc thiểu số khác nữa cùng với các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước ta thời bấy giờ. Và như không cầm lại được những xúc động, Amí Sơn bồi hồi nhớ lại những ngày tháng sôi nổi của mình.

Bà Amí Sơn tên thật là H Yiêng Đắk Chắt, SN 1940, trú ở buôn Liêng Plang, xã Đắk Phơi, huyện Lắk. Khi H Yiêng được 18 mùa rẫy thì cũng là lúc bom đạn của Mỹ, ngụy bắt đầu tàn phá các buôn làng ở Lắk, Krông Bông. Bà con M’Nông ở đây một lòng theo cách mạng và những người thanh niên khoẻ mạnh của các buôn M’Nông đã xung phong vào rừng theo bộ đội lập căn cứ đánh giặc. Còn những cô gái như H Yiêng thì ở lại làm chiến sỹ hành lang chuyên gùi đạn dược, lương thực vào tiếp tế cho khu căn cứ. Địch ruồng bố rất ác liệt nhằm triệt hạ đường tiếp tế của ta vào Đắk Phơi, chúng lùng sục, bắt bớ, đánh đập, giết hại những người bị phát hiện tiếp tế cho bộ đội.

Trước tình hình đó, để tránh bị phát hiện, theo chỉ đạo của tổ chức, H Yiêng Đắk Chắt đã đổi tên họ M’Nông cha sinh mẹ đẻ của mình thành một tên họ mới là H Yuôm Bkrông – một cái tên thuần chất của người Êđê. Trong những ngày tháng hoạt động của mình, cô gái trẻ dũng cảm H Yuôm Bkrông đã cùng chị em trong buôn bí mật gùi nhiều đạn, gạo muối tiếp tế cho bộ đội trong khu căn cứ. Vào một buổi chiều cuối năm 1963, khi nhóm của H Yuôm đang gùi đạn vào rừng thì bất ngờ lọt vào ổ phục kích của địch, chúng bắn như mưa về phía chị em gùi hàng, một số người đã ngã xuống, riêng H Yuôm bị trúng 3 phát đạn vào đầu và người, bị thương rất nặng. Rất may, bộ đội ta từ trong căn cứ đã ứng cứu kịp thời đánh lui quân phục kích, cứu được nhiều người và đạn dược, trong đó có H Yuôm.

Trước tình hình sức khoẻ của H Yuôm cũng như những cống hiến trước đây của chị, năm 1964, tổ chức quyết định bí mật đưa H Yuôm ra miền Bắc để chữa bệnh và học tập để sau này quay trở về phục vụ quê hương. Sau hơn 5 tháng trời đi bộ băng qua các cánh rừng bằng những con đường bí mật, nhóm của H Yuôm gồm chị và một số phụ nữ M’ Nông nữa mới đến Thanh Hoá, và từ đây, H Yuôm được ra Thủ đô Hà Nội bằng tàu hoả.

Trong những ngày tháng lưu lại Thủ đô, sau một thời gian được chăm sóc, sức khỏe của H Yuôm hồi phục, chị đã được bố trí đi học chữ ở một ngôi trường ngoại thành cùng nhiều chị em dân tộc thiểu số đến từ các vùng miền của Tổ quốc. Mặc dù có được cuộc sống an nhàn đầy đủ hơn những ngày đi gùi đạn, nhưng nỗi nhớ buôn làng, bạn bè, đồng đội thì như cái bóng người lúc lên nương cứ đeo bám lấy H Yuôm.

Bà Amí Sơn (giữa) trong buổi giao lưu tại Công an tỉnh.

Và chính trong thời gian này, một món quà lớn đã đến với chị. Tình cờ trong một lần mấy chị em người dân tộc thiểu số đang túm tụm trong phòng với cái lạnh của mùa đông miền Bắc thì có cán bộ của trường đến thông báo rằng H Yuôm và một số người nữa chuẩn bị để đi gặp Bác Hồ. Là người con của buôn làng, cũng như nhiều người già người trẻ khác của Tây Nguyên chưa một lần được gặp Bác, chỉ được nghe qua lời kể của bộ đội trong căn cứ Đắk Phơi, nhưng những câu chuyện bình dị về Người đã để lại những tình cảm đặc biệt trong lòng người con gái M’Nông.

Sau một đoạn đường dài đi bằng ôtô từ ngoại thành vào Thủ đô đến nơi Bác làm việc, mọi người tập trung trước tiền sảnh của phòng họp nơi Bác đang cùng với các đồng chí trong Chính phủ bàn việc nước, ai ai cũng ngóng chờ để được gặp Người. Và cái không khí chờ đợi ấy cũng vỡ òa khi Bác Hồ giản dị từ phòng họp bước ra. Mọi người ùa đến vây quanh Bác, Bác thăm hỏi từng người, gặp H Yuôm, Bác ân cần hỏi han về cuộc sống của bà con người Êđê, M’Nông đang đồng cam cộng khổ với bộ đội đánh giặc… Và cuộc gặp gỡ ngắn ngủi đấy đã để lại cho H Yuôm một món quà quý giá, đó là tấm ảnh được chụp chung với Bác Hồ mà cho đến bây giờ bà vẫn nâng niu như một báu vật.

Sau lần gặp Bác, vì điều kiện của chiến tranh, chị và nhiều người con Tây Nguyên khác vẫn chưa về được với buôn làng. Theo yêu cầu của cách mạng, H Yuôm đã được đi rất nhiều nơi ở miền Bắc như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Thanh Hoá… ở đây, chị vừa được học tập, vừa tham gia sản xuất để phục vụ chiến trường.

Một điều thú vị là những ngày tháng ở Cao Bằng, H Yuôm đã gặp Y Săm Niê là người Êđê ở xã Ea Sol, huyện Ea H’leo, Đắk Lắk cũng được đi ra Bắc giống như H Yuôm. Nỗi nhớ quê hương và sự đồng cảm đã đưa 2 người đến với nhau và thành vợ thành chồng. H Yuôm và Y Săm cưới nhau và sinh được 3 người con là Y Sơn Bkrông, Y Thủy Bkrông và H’ Hà Bkrông. Những đứa con của H Yuôm vẫn được lấy theo họ đã đổi của bà như là một tấm lòng sắt son với cách mạng. Phải đến hơn 1 năm sau ngày giải phóng, gia đình H Yuôm mới trở về với buôn làng sau hơn 12 năm xa cách.

… Và những nghĩa tình của thế hệ hôm nay

Trở lại với câu chuyện Amí Sơn đi lên Công an tỉnh làm khách mời trong buổi giao lưu “Mẹ cũng là chiến sỹ”. Sau buổi giao lưu đầy cảm động đó, Thượng tá Nguyễn Thị Minh Vẻ, Trưởng ban Công tác phụ nữ Công an tỉnh đã cùng một số chị em nữa tìm đến nhà của Amí Sơn ở buôn Bu Yúk và biết được cuộc sống gia đình bà còn gặp rất nhiều khó khăn. Các con đều đã lớn và lập gia đình, chỉ còn 2 vợ chồng bà già yếu sống trong ngôi nhà ván ọp ẹp. Sức khỏe của ông Y Săm và Amí Sơn đều yếu, cái chân không còn muốn bước lên rẫy nữa. Những mảnh đạn còn sót lại trong người bà ngày nào giờ đây bắt đầu hành hạ những lúc thời tiết thay đổi.

Cảm thông với hoàn cảnh của bà, khi về đơn vị, chị Vẻ đã lên kế hoạch vận động chị em từ các chi hội của Công an tỉnh góp tiền để xây nhà tình nghĩa cho Amí Sơn. Và chỉ trong vài tháng, với tấm lòng và nghĩa cử của những người chiến sỹ Công an Đắk Lắk muốn đền đáp đối với những người có công với cách mạng, căn nhà tình nghĩa trị giá 30 triệu đồng đã được khởi công xây dựng.

Chúng tôi trở lại thăm Amí Sơn đúng vào ngày Công an tỉnh Đắk Lắk và buôn Bu Yúk làm lễ khánh thành ngôi nhà tình nghĩa cho Amí Sơn. Cả buôn Bu Yúk vui như ngày hội, những ché rượu cần mà mọi người trong buôn đem tới chúc mừng được bày ra giữa ngôi nhà mới xây còn thơm mùi vữa. Ông Y Săm cẩn thận trau chuốt lại bộ quân phục, chiếc mũ kêpi và những kỷ niệm chương, kỷ vật thời chiến tranh đã cũ, còn Amí Sơn thì cái bụng vui đến nỗi cứ đi ra đi vào ngôi nhà mới mà chẳng biết làm gì. Ngoài kia, những vạt cúc quỳ vẫn vàng rực reo vui và hương của hoa cà phê, của những chồi non đang đua nhau nảy lộc chuẩn bị đón chào mùa xuân mới…

Viết Nghĩa

cand.com.vn

3 bức thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi hai cháu Lê Thị Thanh, Nguyễn Thị Bình và cụ Bộ trưởng Bộ Thương binh Cựu binh

Những bức thư này hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III- Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời chưa được bao lâu thì Thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Để bảo vệ những thành quả của cách mạng, giữ gìn độc lập tự do của dân tộc vừa giành được, quân và dân ta đã anh dũng bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đầy gian khổ và ác liệt. Trong cuộc kháng chiến ấy, nhiều chiến sĩ, đồng bào ta đã bị thương và hi sinh. Đảng, Bác Hồ và nhân dân luôn biết ơn và dành tình cảm yêu thương cũng như ủng hộ về vật chất để chăm sóc các gia đình liệt sĩ, anh em thương binh, bệnh binh tận tình chu đáo. Nhiều hoạt động giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ đã được thực hiện, được nhiều người, nhiều tầng lớp tham gia, đặc biệt là các em nhỏ.

Tháng 2/1948, Bác Hồ đã phát động phong trào Trần Quốc Toản để các cháu thiếu nhi tham gia giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ, bộ đội. Thực hiện lời dạy của Bác, nhiều em đã tham gia phong trào này bằng nhiều cách khác nhau như quét nhà, gánh nước, lấy củi, giữ em, dạy chữ quốc ngữ, tiết kiệm tiền gửi tặng các chú thương binh, bộ đội…

Năm 1953, có hai em học sinh là Lê Thị Thanh và Nguyễn Thị Bình ở huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ đã tiết kiệm được một số tiền và gửi lên Bác để làm quà tặng anh em bộ đội và thương binh.

Với sự quan tâm đặc biệt tới các cháu thiếu niên nhi đồng và anh em bộ đội, thương binh, dù bận trăm công nghìn việc nhưng Bác vẫn dành thời gian gửi thư khen ngợi và động viên hai cháu.

Thư gửi cháu Thanh, Bác viết:

Thân ái gởi cháu Thanh,

Bác cảm ơn cháu đã gởi lên Bác 10 vạn đồng để làm giải thưởng và làm quà tặng anh em bộ đội và thương binh.

Bác giữ lại 5 vạn của cháu, và Bác thêm vào 5 vạn để làm quà và làm giải thưởng. Bác gởi lại cháu 5 vạn để cháu làm vốn mà tăng gia.

Bác mong cháu thương yêu và nghe lời cha mẹ, cố gắng học để đọc thông viết tốt, và cố gắng tăng gia.

Bác hôn cháu.

Bác gởi biếu cháu 1 cái huy chương”.

                                                     Tháng 1 năm 1953

                                                          BÁC HỒ

Thư Bác Hồ gửi cháu Lê Thị Thanh (huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ), tháng 1.1953. (1).

Thư gửi cháu Bình, Bác viết:

Thân ái gửi cháu Bình,

Bác cảm ơn cháu đã gửi lên Bác 2 vạn đồng để làm quà tặng anh em thương binh.

Bác giữ 1 vạn của cháu, và thêm vào 1 vạn của bác để làm quà cho các anh thương binh. Còn 1 vạn, Bác gởi lại cho cháu, để cháu làm vốn mà tăng gia.

 Bác mong cháu luôn luôn ngoan, và cố gắng học viết chữ cho tốt hơn.

Bác gửi biếu cháu 1 cái huy chương.

Bác hôn cháu”.

                                                                               Tháng 1 năm 1953

BÁC HỒ

Thư Bác Hồ gửi cháu Nguyễn Thị Bình (huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ), tháng 1.1953. (2)

Hai thư Bác viết ngắn gọn, lời lẽ giản dị, gần gũi. Bác đề xuất cách sử dụng số tiền tiết kiệm của các cháu thật ý nghĩa. Với mỗi cháu Bác đều dặn dò khuyên nhủ làm những việc thiết thực, có ích.

Số tiền của hai cháu cùng với số tiền của đồng bào các nơi gửi đến Bác đã gửi cho Cụ Bộ trưởng Bộ Thương binh Cựu binh làm quà tết cho anh em thương binh cùng với thư như sau:

“ Thân ái gởi Cụ Bộ trưởng Bộ Thương binh Cựu binh.

Tôi xin gởi sang Cụ 50 vạn đồng (năm mươi vạn), do đồng bào các nơi gửi đến tôi, trong đó có 12 vạn đồng do các cháu nhi đồng gởi.

Nhờ cụ chuyển số tiền đó làm quà Tết ta cho anh em thương binh, với lời chào thân ái của tôi, của đồng bào và các cháu nhi đồng”.

                                              Chào thân ái và quyết thắng,

                                                     HỒ CHÍ MINH  

                     1/53

Thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Cụ Bộ trưởng Bộ Thương binh Cựu binh, tháng 1.1953. (3).

Trên đây là toàn văn nội dung 3 bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi hai cháu Thanh, Bình và Cụ Bộ trưởng Bộ thương binh Cựu binh, tháng 1/1953. Những bức thư này hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Phủ Thủ tướng, Hồ sơ 1494. Cả 3 bức thư đều chưa được công bố trong Hồ Chí Minh Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, năm 1995.

Nhân dịp kỉ niệm 64 năm ngày Thương binh liệt sĩ (27/7/1947- 27/7/2011), chúng tôi xin trân trọng giới thiệu toàn văn 3 bức thư cùng bạn đọc. Qua những bức thư này, một lần nữa chúng ta lại thấy được sự quan tâm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh tới các cháu thiếu niên nhi đồng, tới anh em thương binh bệnh binh, cũng như thấy được truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”- một truyền thống đạo lí tốt đẹp của dân tộc ta.

Phạm Hải Yến – Trung tâm lưu trữ quốc gia III

Tài liệu tham khảo:
(1)(2)(3) Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Phủ Thủ tướng, hồ sơ 1494.

archives.gov.vn

Kỷ niệm về những lần được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tiến Sĩ Ngữ Văn Nicôlai Niculin

Tôi và Yuri Cuznhexôv được đưa tới một phòng ngủ rộng rãi với chăn đệm tuyệt vời, nơi mà ngày trước chỉ có các viên tướng toàn quyền Pháp ở Đông Dương mới được sử dụng. Tới lúc đó tôi hết sức ngạc nhiên về tất cả những gì đã diễn ra với mình. Cuộc gặp gỡ tuyệt vời đó với Bác Hồ đã đem lại cho tôi niềm vui và sự khai ngộ, cảm hóa chúng tôi bởi lòng nhân hậu, sự quan tâm của con người vĩ đại mà chúng tôi đã quen nhìn qua chân dung và phim ảnh tài liệu.

Từ những năm 1970-2000, Nicôlai Niculin là Tiến sĩ Ngữ văn, chuyên gia cao cấp của Liên Xô và Liên bang Nga về văn học Việt Nam. Nhân kỷ niệm lần thứ 120 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông đã in bài viết này trong sách “Người Nga nói về Hồ Chí Minh” xuất bản 2010 ở Moskva. Nhân kỷ niệm 121 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và 100 năm Người ra đi tìm đường cứu nước, chúng tôi xin chuyển ngữ từ nguyên bản tiếng Nga bài viết của ông.

Vào một ngày hè đẹp trời năm 1954, tôi được mời tới gặp Alêxanđr Anđrêevich Lavrisev – người vừa được bổ nhiệm làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên Xô tại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đại sứ dáng người cao, hơi mập, tiếp tôi rất lịch sự, chăm chú nhìn tôi, rồi hoàn toàn bất ngờ là đến cuối cuộc đàm luận ông thân mật và cởi mở mỉm cười với tôi. Những câu hỏi và câu trả lời cô đọng, ngắn gọn diễn ra trong vòng năm phút. Tôi đã sống và có thể nói là rất mê say Việt Nam, nên khi nói về đất nước này, đặc biệt là với Đại sứ, thì đó là một niềm hứng thú lớn với tôi. Tôi bước ra ngoài phòng khách, một phút sau người thư ký của Đại sứ xuất hiện. “Anh sẽ đến Việt Nam” – anh tươi cười nói với tôi.

Bác Hồ với thiếu nhi Liên Xô khi Bác thăm đất nước Lênin – 1957.

Còn tôi thì thật bàng hoàng vì hạnh phúc quá bất ngờ. Người thư ký bắt chặt tay tôi: “Chúc may mắn! Anh sẽ được nhìn thấy đất nước của Hồ Chí Minh. Tôi cũng rất muốn, nhưng… Tôi khuyên anh một điều: Trong những cuộc gặp gỡ với Hồ Chí Minh sắp tới, mà anh sẽ luôn luôn được gặp, hãy tự nhiên, chân thành, giản dị và hoạt bát như hôm nay với đồng chí Đại sứ. Chúc lên đường may mắn!”.

Ngày 29/10/1954, hai tuần rưỡi sau khi Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp quản Thủ đô Hà Nội, Đại sứ đầu tiên của Liên Xô đã tới thủ đô cổ kính của Việt Nam. Dọc đường suốt từ biên giới Việt – Trung đến Hà Nội là những cổng chào cao bằng tre được dựng lên, bên trên là những băng rôn chữ vàng trên nền vải đỏ thắm chào mừng lãnh đạo, nhân dân Liên Xô, Tòa đại sứ đầu tiên của Liên Xô ở Việt Nam và vị Đại sứ đầu tiên A.A.Lavrisev.

Tới Thủ đô, một cuộc mittinh nhanh gọn chào đón đã diễn ra. Chúng tôi được đưa về nơi ăn chốn ở và làm việc. Nhưng Đại sứ quán thì sửa chữa chưa xong. Mà ngày 7/11, ngày kỷ niệm lần thứ 37 Cách mạng Tháng Mười vĩ đại – ngày quốc lễ của nhân dân Liên Xô thì đang đến gần.

Dĩ nhiên là tất cả mọi người đều nghĩ rằng, trong tình hình quốc tế như thế này không thể chỉ tổ chức kỷ niệm trong khuôn khổ tiếp khách ngoại giao hạn hẹp, mà cần phải tổ chức với quy mô lớn và trọng thể. Bởi vì đó không chỉ là uy tín của Nhà nước Xôviết. Trong những ngày đó, báo chí phương Tây rất muốn mô tả cuộc sống của những người tham gia kháng chiến trở về Hà Nội và ban lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam như ở trong một pháo đài bị bao vây không thể hoạt động bình thường và cả với các cơ quan nhà nước cũng như các cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài.

Theo tôi nhớ thì lúc đó, đầu tháng 11/1954, ngoài Đại sứ quán Liên Xô ở Hà Nội còn có Đại sứ quán nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, và còn có khá nhiều phái đoàn đại diện từ Ấn Độ, Canada, Ba Lan đến Việt Nam theo Hiệp định Giơnevơ về lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Do vậy, Đại sứ quán Liên Xô dù thế nào thì cũng phải được tổ chức tốt theo các điều luật và nghi thức ngoại giao quốc tế, và tiếp đón trọng thể trên diện rộng với các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam, với Ủy ban quốc tế giám sát thực hiện Hiệp định Giơnevơ cũng như với các nhà ngoại giao quốc tế.

Bác Hồ gặp gỡ các chuyên gia Liên Xô sang giúp Việt Nam năm 1960.

Rõ ràng là những buổi tiếp như vậy trên phương diện chính trị không thể tiến hành giống như những hoạt động thông thường, làm quen theo nghi thức bình thường để thắt chặt mối hợp tác quốc tế. Mà buổi tiếp khách trọng thể của Đại sứ quán Liên Xô cần phải thực hiện một vai trò quan trọng khác nữa. Nó sẽ phải là một sự kiện thể hiện khẳng định vị thế mới của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trẻ tuổi trên trường quốc tế, vị thế ổn định vững chắc của nó ở miền Bắc Việt Nam. Và một sự trùng hợp thật đặc biệt mang tính biểu tượng là ngày lễ kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười.

Điều hiển nhiên là toàn bộ nhân viên của Đại sứ quán đều tham gia công tác chuẩn bị. Vấn đề địa điểm tổ chức buổi tiếp khách nhanh chóng được quyết định: Cả ban lãnh đạo Việt Nam và Đại sứ quán Liên Xô đều nhất trí chọn hội trường rộng rãi của Câu lạc bộ quốc tế cạnh Phủ Chủ tịch. Việc này đã được sắp xếp xong. Tuy nhiên vấn đề là sẽ có hàng trăm vị khách mời và sẽ tổ chức bữa tiệc chiêu đãi lớn, mà khu nhà bếp nơi đây chật hẹp quá, bất lợi.

Thì bỗng nhiên có một đề xuất rất hay mà khó có ai nghĩ tới (mà theo tôi chắc là của Hồ Chí Minh). Có lẽ đây là một việc “chưa từng có trong lịch sử” mà không một nước nào hay một ai nghĩ ra. Trong các hồi ức của mình tôi thường phải dùng cụm từ “chưa từng có trong lịch sử”. Vì quả thực đây là một quãng thời gian thật đặc biệt mà chúng tôi lúc đó mới bắt đầu nhận thấy. Nhận thức rõ điều này không phải để ngạc nhiên hay giải trí, mà là để hiểu rõ hơn nữa quá khứ, hiện đại và hình dung cho mình cả tương lai.

Một đề nghị khác thường đã được đưa ra: dùng phòng bếp tầng trệt của Dinh Chủ tịch để làm nơi nấu nướng vì tại đây đã có đầy đủ tiện nghi, cho dù đã cũ. Dinh thự này trước đây là nơi làm việc của các viên toàn quyền Pháp, do đó mà khu bếp của viên toàn quyền rất rộng rãi và thoáng đãng.

Người chủ mới của dinh thự này là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ núi rừng Việt Bắc trở về Hà Nội, vẫn với thói quen khiêm tốn và bản tính giản dị, tính dân chủ tự nhiên, sự tinh tế và văn hóa ứng xử cao mang tính truyền thống của Việt Nam nên Người không muốn làm việc tại các gian phòng sang trọng của dinh thự này mà chỉ dùng làm nơi tiếp khách và tổ chức các sự kiện trọng đại của nhà nước. Còn chính Chủ tịch thì sống và làm việc tại một ngôi nhà khiêm tốn trong khu vườn cách đó không xa.

Vậy là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho phép sử dụng nhà bếp của Dinh Chủ tịch làm nơi Đại sứ quán Liên Xô chuẩn bị tiệc chiêu đãi khách vào ngày 7/11 tới. Người đầu bếp của Đại sứ quán Xôviết là chị Nhina Yanôvna chỉ huy nhóm đầu bếp giỏi của Việt Nam. Chị còn trẻ, đầy sức sống, nhân hậu và đáng yêu, cởi mở, dáng người hơi cao và mập như nhiều đầu bếp khác.

Nhưng lại có một trục trặc bất ngờ: Chị Nhina không biết một ngoại ngữ nào, còn các người Việt phụ giúp chị thì không biết tiếng Nga. Nhưng đã nhanh chóng tìm ra cách giải quyết. Đã có hai chàng trai được đưa tới giúp chị: đó là thực tập sinh Nicôlai Niculin và tùy viên Yu.Cuznhexôv. Phải công nhận rằng, chúng tôi rất sẵn sàng vào nhà bếp với tâm trạng rất hào hứng, nhưng cũng rất lo lắng vì vốn tiếng Việt còn hạn chế, nhất là những từ và thuật ngữ về món ăn Việt Nam với chúng tôi hoàn toàn còn chưa biết.

Tuy nhiên những lo lắng của chúng tôi là vô ích. Trong gian bếp rộng của Dinh Chủ tịch, dù mọi người chưa biết tiếng của nhau nhưng lại tràn ngập bầu không khí sôi nổi, hiểu biết lẫn nhau và háo hức làm việc. Chị Nhina đã quen dần và giải thích, hướng dẫn cho các bạn Việt Nam chủ yếu bằng cử chỉ, động tác. Còn các bạn Việt Nam thì đã học được một số từ tiếng Nga cần thiết.

Nhina Yanôna cũng đã đạt được mấy thành công bước đầu về tiếng Việt. Khi chị nói được những từ “tot lam” hay “khong tot”, “them ơt”, “them nươc”… thì ai cũng hiểu được và không ai để ý tới những lỗi phát âm. Tôi và Yu.Cuznhexôv bị cuốn hút vào công việc không chỉ với vai trò phiên dịch mà còn là người giúp việc nấu nướng. Tất cả cùng làm việc vui vẻ và thân mật.

Thế rồi tới gần 1 hay 2 giờ đêm, Bác Hồ nhẹ nhàng bước vào nhà bếp. Tôi nghĩ rằng các vị Tổng thống của các nước rất ít, thậm chí là chẳng bao giờ xuống nhà bếp. Nhưng đây lại chính là vị Chủ tịch của nhân dân – Bác Hồ! Đây quả thật là một sự kiện rất bất ngờ đối với chúng tôi – những cán bộ của Đại sứ quán Liên Xô và cả các đầu bếp Việt Nam. Và chúng tôi đã đi hết từ bất ngờ này đến ngạc nhiên khác.

Nói hay không thì ai cũng thấy rằng, sự xuất hiện của Bác Hồ ở đây chứng tỏ rằng cuộc tiếp khách ngày mai có ý nghĩa rất trọng đại.

Hôm đó không phải là lần đầu tôi được gặp Hồ Chí Minh. Cuộc gặp lần đầu của tôi với Người là trước đó một ngày, ngày 5 tháng 11, khi Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tất cả các nhà ngoại giao của Đại sứ quán Liên Xô. Lúc đó tôi đang là thực tập sinh nên không có trong danh sách được mời và chỉ nhận được giấy mời trước buổi tiếp 30 phút.

Những dòng chữ vàng lấp lánh duyên dáng ghi trong thiếp mời: “Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rất hân hạnh mời thực tập sinh N.I.Niculin tới dự buổi tiếp đón nhân dịp Đại sứ Liên Xô đến Việt Nam”.

Cụm từ “rất hân hạnh” là một nghi thức ngoại giao bình thường. Nhưng khi nó được kết hợp với tên tuổi Chủ tịch Hồ Chí Minh thì âm hưởng của nó thiêng liêng biết bao. Buổi tiếp diễn ra dưới hình thức chiêu đãi chính thức cùng với việc trao đổi diễn từ của hai bên. Là thành viên trẻ nhất trong đoàn Đại sứ quán Xôviết, tôi ngồi cách xa Hồ Chí Minh, nhìn Người trò chuyện với A.A.Lavrisev và các chiến hữu của mình.

Còn bây giờ thì trong nhà bếp của Dinh Chủ tịch là một Bác Hồ hoàn toàn khác. Bác mặc chiếc áo cổ bẻ đã bạc màu, miệng ngậm điếu thuốc lá, mỉm cười sảng khoái và đôn hậu. Bác Hồ đi quanh khắp bếp, bắt tay chào bếp trưởng Nhina Yanovna, tôi và Yuri Cuznhexôv. Bác chăm chú nhìn khắp gian bếp, hỏi thăm công việc chuẩn bị tới đâu. Được biết rằng tất cả công việc đã hoàn tất, Bác gật đầu hài lòng và ân cần nhìn chúng tôi với ánh mắt của một người cha.

– Các cháu có chỗ ngủ đâu chưa? – Bác Hồ đột nhiên hỏi chúng tôi thật ân cần và đơn giản.

Bối rối trước sự quan tâm chu đáo của vị Chủ tịch tới tiện nghi sinh hoạt của mình, chúng tôi thưa rằng sẽ đi bộ về nơi ở của mình.

– Không được, giờ đã muộn rồi, – Chủ tịch dịu dàng nói. – Ở Dinh Chủ tịch vẫn còn chỗ cho hai chàng trai Xôviết đấy! Thành phố đã vào đêm yên tĩnh nhưng cần nên cảnh giác. Các chú hãy thu xếp chu đáo cho hai thanh niên này nhé! Người nói và gật đầu với mấy cán bộ cùng đi.

Cũng như khi đi vào đây, Người thư thả nhìn tất cả khắp lượt rồi đi ra khỏi nhà bếp.

Tôi và Yuri Cuznhexôv được đưa tới một phòng ngủ rộng rãi với chăn đệm tuyệt vời, nơi mà ngày trước chỉ có các viên tướng toàn quyền Pháp ở Đông Dương mới được sử dụng. Tới lúc đó tôi hết sức ngạc nhiên về tất cả những gì đã diễn ra với mình. Cuộc gặp gỡ tuyệt vời đó với Bác Hồ đã đem lại cho tôi niềm vui và sự khai ngộ, cảm hóa chúng tôi bởi lòng nhân hậu, sự quan tâm của con người vĩ đại mà chúng tôi đã quen nhìn qua chân dung và phim ảnh tài liệu. Trong tôi trào dâng lòng biết ơn về sự quan tâm mà Bác Hồ đã dành cho chúng tôi. Chiều hôm sau, ngày 7/11, tôi lại được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh ở cửa vào Câu lạc bộ quốc tế, nơi sắp diễn ra buổi tiếp khách trọng thể. Người đã nhận ra tôi và chào tôi như gặp người quen cũ.

– Cháu trẻ quá!

Người nói với tôi như với người thân, rồi tới gặp vị Đại sứ

Hồng Nhật (Dịch từ nguyên bản tiếng Nga)

cand.com.vn

Chúng con xin nghiêng cánh vĩnh biệt Người

40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

(Kể về phi đoàn máy bay trong Lễ tang Bác Hồ)

“Hồ Chủ tịch, vị lãnh tụ vĩ đại, người thầy kính yêu của dân tộc ta…”

Tiếng đọc điếu văn của đồng chí Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam vừa dứt thì hàng loạt tiếng gầm của đại bác nghi lễ và một đoàn 24 chiếc Mích như con rồng trắng chầm chậm bay qua lễ đài. Phi đoàn máy bay dường như cũng muốn dừng lại, tiễn đưa Bác.

Tiếng động cơ vừa dứt thì hàng ngàn cháu thiếu nhi khóc nức nở, ùa ra kín quảng trường. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước bước xuống lễ đài vừa gạt nước mắt, vừa an ủi các cháu, động viên đồng bào.

Khoảng cuối năm 1967, đầu năm 1968, nguyên Tư lệnh Quân chủng Phòng Không – Không Quân (PK-KQ), Phó tổng Tham mưu trưởng (PTTMT) Phùng Thế Tài được Quân ủy cử sang Liên Xô, Bungari… tìm hiểu về cách tổ chức và nghi thức lễ quốc tang (điều mà từ trước đến nay ta chưa từng có). Ông lên đường với nỗi buồn sâu sắc.

Hàng tháng, hàng tuần, ông thường được vào báo cáo với Bác, với các đồng chí trong Thường vụ Bộ Chính trị về diễn biến chiến đấu trên chiến trường miền Nam, về chiến công đánh máy bay Mỹ ở miền Bắc. Nên ông thấu hiểu công việc của mình làm.

Gần đây, sức khỏe của Bác không được tốt. Rõ ràng nhiệm vụ của ông có liên quan đến sức khỏe của “Ông Cụ”.

Khoảng tháng 7/1969, sau khi giao nhiệm vụ luyện tập thực binh ở các địa điểm khác, ông đầu tư suy nghĩ tới lực lượng Không quân.

Sau khi trao đổi với đồng chí Tư lệnh Quân chủng PK-KQ, với Bộ Tư lệnh Binh chủng Không quân, PTTMT quyết định sử dụng phi đoàn hỗn hợp 24 chiếc Mích 21 và Mích 17. Mích 17 bay trước ở độ cao thấp, Mích 21 bay sau, hình thành đội hình hỗn hợp. Đây là những đơn vị đã từng lập nên những chiến công vang dội làm khiếp đảm quân thù.

Một số sĩ quan Không quân có kinh nghiệm, được triệu tập về lên kế hoạch với điều kiện không gian diễn tập phải phù hợp với địa hình. Tính toán làm sao đúng giờ G, phi đoàn có mặt ở điểm X. Đây là thời điểm hết sức quan trọng. Chậm một phút, nhanh một phút đều ảnh hưởng tới sự tôn nghiêm của buổi lễ.

Sau khi duyệt phương án PTTMT trao quyền cho các trung đoàn chọn những phi công giỏi có kinh nghiệm, chấp hành kỷ luật nghiêm, có thêm chiến công càng tốt.

Người dẫn đầu phi đoàn sẽ là ai? Trung đoàn trưởng đoàn KQ Sao Đỏ 921 không đắn đo đề cử Nguyễn Hồng Nhị. Anh là phi công đầu tiên dùng máy bay Mích 21 bắn rơi máy bay Mỹ trên vùng trời Việt Nam, một chỉ huy phi đội mẫu mực, mới được phong Anh hùng lực lượng vũ trang. Anh lại là người miền Nam, phù hợp với ý nguyện của Bác.

Đoàn KQ Yên Thế 923 cử Cao Thanh Tịnh, một đại đội trưởng Mích 17 giỏi, kỹ thuật tốt. Tiếp sau đại đội trưởng là Nguyễn Văn Bẩy, người chiến sĩ quê vùng Bạc Liêu bắn rơi 2 máy bay Mỹ. Sau lần gặp Bác và sau khi được phong tặng Anh hùng lực lượng vũ trang một ngày, anh lại bắn rơi tiếp một chiếc nữa.

Đầu tháng 8/1969, đơn vị Mích đóng quân ở sân bay Nội Bài được lệnh thực hành luyện tập. Đồng thời, đơn vị Mích ở sân bay Kiến An cũng được chỉ thị bay tập theo kế hoạch. Bộ đội nhận được lệnh là hành động, không cần biết mục đích của những lần tập đó. Vì vậy, mục tiêu của nhiệm vụ được giữ bí mật tuyệt đối.

Đêm 3/9/1969, các Đảng viên trong toàn quân được đánh thức dậy. Ai về nhà đều được gọi về đơn vị. Các chi bộ phổ biến tình hình sức khoẻ của Bác. Cả đêm hôm đó hầu như bộ đội không ngủ.

6 giờ sáng ngày 4/9/1969 giọng nghẹn ngào đầy nước mắt của Phát thanh viên Đài Tiếng nói Việt Nam truyền đi thông báo đặc biệt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam, Quốc hội, Chính phủ và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam báo tin cho toàn thể đồng bào, chiến sĩ cả nước – Bác Hồ đã từ trần.

Các chiến sĩ PK-KQ bàng hoàng. Mọi người không tin ở tai mình. Trên các trận địa pháo cao xạ, tên lửa, ra-đa, trên các sân bay, nhiều chiến sĩ ôm nòng pháo, bệ phóng, cánh bay khóc nấc.

Ở các sân bay chiến đấu, những chiến sĩ trực ban đêm đang ngủ chồm cả dậy. Mọi hoạt động dường như ngừng cả lại. Bộ đội nghe đi, nghe lại thông báo đặc biệt được phát từ những chiếc đài “Xung mao” bé nhỏ đeo bên hông, từ những chiếc loa công cộng ở phi trường. Không khí tang tóc, đau thương trùm lên toàn đơn vị. Tới lúc này, các thành viên tham gia trong đội hình khối bay mới hiểu mục đích của những cuộc luyện tập mà mình đang thực hiện.

Cũng như các anh em trong phi đoàn, Nguyễn Hồng Nhị lúc này mới biết việc mình làm cách đây không lâu. Anh nhận nhiệm vụ bay buồng kín theo phần tử dẫn đường tính sẵn ở độ cao 1500 mét. Anh cảm thấy đây là vệt bay qua khu vực cấm trên vùng trời Hà Nội.

Nghe nói: Hôm đó, lúc tỉnh, lúc mê, nghe tiếng động cơ máy bay bay qua, Bác hỏi – Tiếng động cơ gì thế? Những người trực chung quanh hiểu rõ mục đích chuyến bay, đã thưa với Bác – Tiếng động cơ ôtô từ bên ngoài vọng vào. Người đâu có hay biết, đó là chuyến bay thử nghiệm để phi đoàn máy bay sắp làm nhiệm vụ tiễn Bác đi xa.

Ngay chiều 4/9/1969, 12 chiếc Mích 17 và 2 chiếc dự bị từ sân bay Kiến An được lệnh chuyển về sân bay Gia Lâm. Đồng thời, đài chỉ huy KQ trực tiếp bằng mắt được đặt trên nóc căn nhà cao tầng số 4 trước Phủ Chủ tịch. Đài dẫn đường bến đò Dâu trên trục đường Hùng Vương và một đài định hướng ở Thường Tín cũng được triển khai gấp.


Lễ truy diệu Chủ tịch Hồ Chí Minh tại quãn trường Ba Đình – Hà Nội.
Ảnh TL.

Sau ngày 2/9, mưa tầm tã, mây rất thấp. Nhất là sau những ngày toàn dân, toàn quân nghe thông báo của Ban chấp hành Trung ương, Chính phủ, Quốc hội… trời đất dường như cũng muốn chia sẻ nỗi buồn cùng đồng bào, chiến sĩ cả nước. Các chiến sĩ KQ ngước mắt nhìn trời. Anh em chỉ lo không được tham gia trong đội hình toàn quân tiễn đưa Bác. Anh em thèm một khoảng trời xanh, một tia nắng nhạt.

Vất vả nhất là cán bộ, chiến sĩ dự báo khí tượng. Anh em thức trắng đêm với những đường đẳng áp, độ ẩm, nhiệt độ với hướng gió, lượng mây… Nha khí tượng cử những chuyên viên giỏi nhất sang giúp Quân chủng… Những mái đầu chụm vào nhau trao đổi, tranh luận. Vô vọng! Có nhiều khả năng mưa cả tháng.

Nghe thông báo khí tượng hàng giờ, phi công trong phi đoàn không ngần ngại. Anh em quyết tâm bay trong mây, nếu mây quá dày và thấp. Mưa dai dẳng tới đâu cũng có lúc trời hửng lên một chút, là bộ đội yêu cầu được hợp luyện.

Thời tiết không cho phép, bộ đội chỉ hợp luyện được một lần. Rất may, hợp luyện đạt kết quả tốt. Những yêu cầu nghiêm ngặt đối với các thành viên trong phi đoàn được tuân thủ triệt để. Đây là điều không dễ dàng đối với mỗi người bay ở những phút giây đau đớn, xót thương đến cùng cực này. Với người chỉ huy phi đoàn Mích 21 – Nguyễn Hồng Nhị lại là điều cố gắng phi thường. Tháng 12/1966, các phi công có thành tích xuất sắc được vinh dự gặp Bác ở Phủ Chủ tịch. Sau khi thăm hỏi gia đình, Bác trao cho Nguyễn Hồng Nhị chiếc đồng hồ đeo tay nữ và dặn:

– Chiến công của chú, trong đó có công của cô ấy. Chú phải đeo chiếc đồng hồ này vào tay cô ấy và nói là của Bác tặng.

Anh cũng như đồng đội phải có trái tim bằng thép để không xảy một chút sai sót, không để nước mắt làm nhòa mắt. Sẽ là đắc tội với đồng bào, chiến sĩ cả nước, với bà con bốn biển, năm châu trân trọng, kính yêu Bác, nếu có điều gì xảy ra, cho dù rất nhỏ.

*

Dường như cũng chiều lòng người, sáng ngày 9/9/1969 trời vẫn âm u, mây thấp nhưng tạnh ráo. Hàng chục vạn người tập trung ở quảng trường Ba Đình đứng thành từng khối vuông vức. Không gian im lặng đến kỳ lạ. Tất cả mọi người hướng về lễ đài. Nơi đó, có tấm ảnh Bác khá to và một giải băng đen viền quanh.

Tang lễ bắt đầu trong không khí trang nghiêm, kính cẩn.

Trên nóc ngôi nhà số 4 đối diện với Phủ Chủ tịch, Chủ nhiệm dẫn đường Quân chủng Phạm Ngọc Lan cầm ống nói theo dõi từng chặng đường của đoàn bay nghi lễ. Đứng cạnh anh là Tham mưu trưởng Binh chủng KQ Nguyễn Phúc Trạch.

… Vĩnh biệt Người chúng ta thề…”, tiếng đọc diễn văn của đồng chí Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam cất lên sang sảng, xúc động.


Hàng vạn cánh tay giơ lên thề thực hiện Di chúc của Hồ Chủ tịch

Phạm Ngọc Lan sốt ruột: – 01 hiện nay ở đâu? Độ cao?

– Mây rất thấp. Không thấy địa hình. Theo tính toán 5 phút nữa sẽ tới điểm kiểm tra số 2. Độ cao 800!

– Chậm mất rồi!

Trong lòng Phạm Ngọc Lan như có lửa đốt. Bay trong mây không thể điều chỉnh được đội hình. Tăng tốc độ dễ đâm phải nhau, điều nguy hiểm nữa là rất dễ lệch vệt bay. Phạm Ngọc Lan xin ý kiến của Tham mưu trưởng. Anh yêu cầu giàn đèn chiếu sáng quảng trường quay về phía sông Hồng bật sáng. Lập tức 30 ngọn đèn pha hàng nghìn nến đồng loạt tỏa sáng. Căn cứ theo thông báo khí tượng vừa được cung cấp, anh ra lệnh.

– Hải Âu! (Mích 17) độ cao 200! Phượng Hoàng! (Mích 21) độ cao 300!

Kia rồi! Cả phi đoàn lần lượt hiện ra trên nền trời mây mọng nước.


Thủ tướng Phạm Văn Đồng và các cháu thiếu nhi
sau buổi lễ truy điệu Hồ Chủ tịch (ngày 9/9/1969). Ảnh TL.

… Hồ Chủ tịch, lãnh tụ vĩ đại, người thầy kính yêu của Đảng ta, dân tộc ta đời đời sống mãi” – Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam vừa chấm dứt thì 21 phát đại bác nổ vang và đoàn máy bay màu trắng bạc trong đội bàn tay xòe nối đuôi nhau ầm ầm lướt qua lễ đài.

*

Hàng năm, thường có buổi gặp mặt tất niên của anh em Không quân. Gặp nhau, anh em thường ôn lại những chuyện xưa cũ. Nhắc đến chuyến bay đưa tiễn Bác đi xa, Nguyễn Tiến Sâm nguyên Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam, thành viên trong phi đoàn Mích 21 bốn mươi năm về trước bồi hồi:

– Đây là chuyến bay vất vả nhất trong cuộc đời chiến đấu của tôi. Hồi đó, tôi là chiến đấu viên mới đọ cánh với bọn Mỹ mấy trận, tuổi đời còn rất trẻ, nên vô cùng bỡ ngỡ, lo lắng khi nhận nhiệm vụ trọng đại này. Không riêng tôi, mà tất cả các anh em trong phi đoàn, đều như vậy cả… Bay trong tâm trạng như thế, thời tiết phức tạp, quả thật không dễ dàng gì… Vong linh Bác đã phù hộ, chở che cho anh em chúng tôi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Trả lời câu hỏi, hôm đó có những ai bay trong đội hình Mích 21, Nguyễn Tiến Sâm nói: – Nỗi đau mất mát to lớn quá, công việc lại căng thẳng, tôi nhớ không hết: Người dẫn phi đoàn Mích 21 đồng thời là phi đội trưởng phi đội 1 Nguyễn Hồng Nhị. Đội viên trong đội gồm: Lê Toàn Thắng, Phạm Đình Tuân, Nguyễn Đức Soát. Phi đội 2 phi đội trưởng là Nguyễn Văn Lý. Đội viên trong phi đội gồm: Phạm Phú Thái, Lê Thanh Đạo, Nguyễn Hồng Mỹ. Phi đội 3, phi đội trưởng là Mai Văn Cương. Đội viên trong phi đội gồm: Phan Thành Nam, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Văn Long.

Hán Văn Quảng, người phi công trong phi đội Quyết Thắng trút bom xuống đầu quân thù ở sân bay Tân Sơn Nhất ngày 28/4/1975 cũng là thành viên trong đoàn Mích 17 đưa tiễn Bác. Hán Văn Quảng đã từng đảm nhiệm cương vị sư đoàn trưởng sư đoàn KQ 372, Tham mưu phó Quân chủng PK-KQ (đã nghỉ hưu), được hỏi tới chuyến bay lịch sử, anh kể:

– Bọn mình phải dán chặt mắt vào bảng đồng hồ để giữ thật chắc tham số, và cũng để khỏi phân tán. Không được nhìn ra ngoài, không được nhìn xuống lễ tang. Đó là nghiêm lệnh. Nhiệm vụ tuy đơn giản, nhưng trọng trách thật nặng nề…

Cả hai phi đoàn Mích hạ cánh xuống sân bay, mà sân bay vẫn lặng như tờ. Anh em thợ máy ôm lấy thang máy bay đứng chết lặng. Phi công gục trên cần lái. Nhiều anh em khóc nức nở. Lúc này bộ đội mới được phép… khóc! Quảng thẫn thờ – Nhanh vậy! Thấm thoát mà đã 40 năm thực hiện Di chúc của Bác!

honvietquochoc.com.vn