Chủ tịch Hồ Chí Minh với quan hệ Việt – Trung – Xô

Một cách tổng quát, trong xử lý quan hệ với Liên Xô, Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã kết hợp hài hoà giữa mềm dẻo và kiên quyết, giữa cương và nhu, giữa chiến lược và sách lược, giữa chủ động và sáng tạo, vô cùng linh hoạt trên cơ sở giữ vững nguyên tắc, từ đó nhận biết, nắm bắt thời điểm để xử lý thành công quan hệ Việt Nam với Liên Xô, Trung Quốc, bảo vệ và thực hiện tốt nhất lợi ích của quốc gia, dân tộc.

TS. Nguyễn Thị Mai Hoa
Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước,bên cạnh việc giữ vững đường lối độc lập, tự chủ, sáng tạo, phát huy cao độ sức mạnh của toàn dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta chủ trương ra sức tăng cường đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của bè bạn trên thế giới, mà trước hết là các nước XHCN, đặc biệt là Liên Xô, Trung Quốc, tạo nên sức mạnh tổng hợp, đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Tuy nhiên, đặt trong điều kiện tình hình thế giới diễn biến phức tạp tại thời điểm bấy giờ, khi mâu thuẫn Xô – Trung nảy sinh và ngày càng trở nên gay gắt, thì việc triển khai chiến lược đoàn kết quốc tế của Đảng, Nhà nước ta thực không hề đơn giản. Song nhờ trí tuệ thiên tài, kinh nghiệm hoạt động quốc tế phong phú, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với bộ não chỉ đạo cách mạng Việt Nam đã vượt qua thách thức, khó khăn, củng cố, giữ gìn và giữ gìn thành công tình hữu nghị lâu đời, thủy chung trước sau như một với Liên Xô, Trung Quốc.

1. Quan điểm giải quyết quan hệ Việt – Xô – Trung của Hồ Chí Minh

Nhân dân Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đầy thử thách, gay go, ác liệt, cũng là lúc những bạn bè thân cận (Liên Xô, Trung Quốc) nảy sinh bất đồng, mâu thuẫn và quan hệ hai nước giảm sút một cách nghiêm trọng. Trong bối cảnh hai nước ra sức tập hợp lực lượng để củng cố vị trí của mình, Việt Nam trở thành “điểm nóng”, trở thành một trong những tiêu điểm thể hiện đối sách của mỗi nước và liên quan đến lợi ích của các cường quốc đại diện cho quyền lực của thế giới. Đương nhiên, Mỹ lập tức lợi dụng tình thế này, nhanh chóng nắm bắt cơ hội, tiến hành chính sách chia rẽ, khoét sâu mâu thuẫn, để giảm sự đồng tình, viện trợ, ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam.

Trước những chuyển biến đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước ta không xem nhẹ tính chất khó khăn, phức tạp của tình hình, đặt ra nhiệm vụ làm giảm thiểu tối đa tác hại của sự tranh chấp giữa Liên Xô – Trung Quốc và tiềm năng lợi dụng của Mỹ, không ngừng củng cố, tăng cường quan hệ Việt – Xô – Trung. Quá trình xử lý quan hệ Việt – Xô – Trung của Đảng và Nhà nước ta trong điều kiện hết sức nhạy cảm đó, dựa chắc vào những quan điểm chỉ đạo của Hồ Chí Minh:

Thứ nhất, kiên trì tình đoàn kết hữu nghị với Liên Xô và Trung Quốc trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.

Quan điểm “củng cố không ngừng tình đoàn kết hữu nghị với Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác”(1) được Hồ Chí Minh nêu lên ngay từ những ngày đầu kháng chiến chống Mỹ và hoạch định định đường lối đối ngoại chống Mỹ, cứu nước. Quan điểm này được đưa ra là kết quả nhận thức và thực tiễn hoạt động của một nhà cách mạng dày dặn kinh nghiệm, một nhà quốc tế lỗi lạc, dựa trên những cơ sở: (1). Đánh giá cao vai trò, tầm quan trọng sự ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam, “mọi thắng lợi của Đảng ta và của nhân dân ta không thể tách rời sự ủng hộ nhiệt tình của Liên Xô, Trung Quốc…”(2) – đó là cơ sở thiết yếu để luôn luôn giữ gìn quan hệ mật thiết với Liên Xô, Trung Quốc, bất kể mọi biến động của tình hình; (2). Đặt cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo của cách mạng vô sản thế giới mà Liên Xô, Trung Quốc là những đại diện tiêu biểu, “cuộc đấu tranh củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất của nhân dân ta là một bộ phận của cuộc đấu tranh cho hòa bình thế giới”(3) – cơ sở tất yếu của sự kiên trì đoàn kết và “phối hợp chặt chẽ với các nước anh em trong phe ta”(4); (3). Mục tiêu chung, cao cả “cùng nhau chung sức phấn đấu cho tương lai tươi sáng của loài người”(5) – cơ sở bền vững để kiên trì đoàn kết, làm cho Việt Nam, Liên Xô, Trung Quốc đều là “anh em ruột thịt trong đại gia đình cộng sản quốc tế”(6).

Những cơ sở đó cho thấy tính nền tảng, chủ chốt, giá trị định hướng của quan điểm này trong quá trình xử lý quan hệ Việt – Xô – Trung. Quan điểm này cũng phản ánh nhu cầu khách quan, mang tính quy luật và lịch sử trong quan hệ với Liên Xô, Trung Quốc.

Thứ hai, không can thiệp vào công việc nội bộ của Liên Xô, Trung Quốc.

Trước những sự kiện phức tạp trong tình hình Liên Xô, Trung Quốc; giữa Liên Xô – Trung Quốc…, Hồ Chí Minh đặc biệt lưu ý Đảng và Chính phủ ta giữ thái độ đúng mực, mọi góp ý, trao đổi cần hết sức cẩn trọng. Để đảm bảo điều đó, Hồ Chí Minh đặt tâm sức vào hai việc quan trọng: (1). Luôn giáo dục, căn dặn cán bộ, đảng viên phải có thái độ không a dua, biệt phái, không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước anh em, tránh “để Trung Quốc đừng hiều lầm. Trung Quốc và Liên Xô đừng hiểu lầm nhau”(7), gây tranh cãi không cần thiết; (2). Chỉ đạo sát sao công tác tuyên truyền và cán bộ tuyên truyền phải hết sức cẩn trọng trong tác nghiệp, trong đưa tin, bình luận…“ tranh đấu để đi đến đoàn kết chứ không nói xấu ai…”(8), không gây tổn thương cho quan hệ quốc tế của Việt Nam với cả hai người bạn lớn.

Cũng cần nói thêm rằng, quan điểm đó không đồng nhất với thái độ “dĩ hòa vi quý” hoặc thủ tiêu đấu tranh. Đây là biểu hiện ở mức cao nhất sự tôn trọng đối với hai nước lớn anh em, là sự tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc bang giao quốc tế – điều kiện quan trọng đảm bảo cho quan hệ Việt Nam với Liên Xô và Trung Quốc trong những giai đoạn khó khăn nhất không sứt mẻ.

Thứ ba, nỗ lực hóa giải, thu hẹp bất đồng giữa Liên Xô và Trung Quốc, coi đó là cơ sở để củng cố quan hệ hữu nghị Việt – Xô – Trung.

Một khi Liên Xô, Trung Quốc bất hòa, mẫu thuẫn, việc củng cố quan hệ Việt – Xô – Trung chắn chắn gặp nhiều trở ngại – đó là điều mà Hồ Chí Minh ý thức đầy đủ hơn ai hết. Gạt bỏ những rào cản trên con đường thắt chặt quan hệ Việt – Xô – Trung, hàn gắn quan hệ giữa hai nước lớn – trụ cột của phong trào cách mạng thế giới là yêu cầu thực tế, nhất là trong điều kiện “bọn đế quốc đang âm mưu phá hoại sự nhất trí của các nước xã hội chủ nghĩa, âm mưu gây một cuộc chiến tranh mới”(9), thì hơn bao giờ hết, “sự nhất trí của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu có một ý nghĩa đặc biệt to lớn”(10). Điều này được minh chứng bằng một chân lý hết sức giản đơn, nhưng giầu tính thuyết phục: “Đoàn kết là sức mạnh vô địch của chúng ta”(11). Vì thế, yêu cầu cũng là trọng trách nặng nề, Hồ Chí Minh đặt ra cho Đảng Cộng sản Việt Nam là “ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em”(12). Dù trước khi đi xa, vẫn còn canh cánh bên lòng nỗi đau về “sự bất hoà hiện nay giữa các Đảng anh em”(13), thì Người vẫn luôn hy vọng và lưu giữ một niềm tin son sắt rằng, “các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại”(14).

Thứ tư, kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, ứng xử linh hoạt, có lý, có tình trong quan hệ với Liên Xô và Trung Quốc.

Khi mâu thuẫn Xô- Trung ngày càng gia tăng, cả hai nước đều muốn tranh thủ mở rộng ảnh hưởng của mình đối với Việt Nam, lái Việt Nam đi theo đường lối của mình, thậm chí có lúc còn lôi kéo và gây sức ép. Trước tình thế không mấy dễ dàng này, Hồ Chí Minh chủ trương giải quyết quan hệ Việt – Xô – Trung trên quan điểm độc lập, tự chủ, chống khuynh hướng áp đặt; kiên định lập trường đoàn kết với cả hai nước. Cách thức đạt mục tiêu được Hồ Chí Minh xác định rõ: (1). Sách lược hết sức mềm dẻo, “làm việc phải thật khôn khéo, thận trọng”(15), “nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì phải linh hoạt”( 16), chú trọng phát huy, thúc đẩy mặt tích cực trong chính sách đối ngoại của Liên Xô, Trung Quốc; (2). Thuyết phục, vận động, hướng việc đoàn kết song phương Việt- Xô, Việt – Trung “trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình”(17), trên nền tảng chính nghĩa của cuộc chiến đấu vì độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam.

2. Tài trí ngoại giao Hồ Chí Minh trong cân bằng quan hệ với Liên Xô và Trung Quốc

Với kinh nghiệm hoạt động quốc tế nhiều năm, với uy tín quốc tế, tài trí ngoại giao và sự hiểu biết sâu sắc các nước anh em, với mục tiêu tăng cường vững chắc quan hệ Việt – Xô – Trung, Hồ Chí Minh đã cùng với Chính phủ ta tiến hành hàng loạt những hoạt động ngoại giao có trọng điểm, đặt vào trọng tâm đối ngoại: Giữ quan hệ cân bằng với cả Liên Xô và Trung Quốc – điều kiện tiên quyết để củng cố quan hệ với hai nước anh em. Đây là yêu cầu quan trọng, nhiệm vụ cấp thiết, đồng thời cũng là thử thách to lớn trong điều kiện các quan hệ quốc tế vào thời điểm đó chồng chéo, đan xen nhau trong một tổng thể quan hệ của các siêu cường, không dễ phân định tách bạch và vượt qua được quả không hề dễ dàng. Sự thành công trong giải bài toàn khó hoàn toàn trông đợi vào tài trí ngoại giao Hồ Chí Minh.

Để giữ gìn quan hệ cân bằng, đoàn kết, hữu nghị với cả Liên Xô và Trung Quốc, dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước ta chủ trương ứng phó nhanh nhạy, mềm dẻo với mọi biến chuyển của tình hình, đạt tới sự tế nhị và cân bằng. Điều đó được thể hiện một cách linh hoạt qua các sự kiện sau:

Thứ nhất, các chuyến thăm những năm 1956 – 1960 do Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu khá là liên tục và đồng đều với cả Liên Xô, Trung Quốc: Năm 1956, thăm chính thức Liên Xô, Trung Quốc và Mông Cổ; năm 1957, thăm 9 nước, trong đó có Liên Xô, Trung Quốc; trong hai năm 1959-1960, hai lần thăm Trung Quốc và Liên Xô. Còn trong hai năm 1965 và 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm Trung Quốc hai lần, thì Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô A.N. Kosygin cũng được Việt Nam đón tiếp trọng thị và thân thiết (2-1965), đồng thời hai đoàn đại biểu cấp cao của Đảng và Nhà nước ta cũng được cử đi thăm Liên Xô (4-1965, 3-1966).

Thứ hai, với phương châm “chưa hiểu thì chưa nên bầy tỏ thái độ” của Hồ Chí Minh, suốt thời kỳ mâu thuẫn Xô – Trung diễn ra gay gắt, trên các phương diện chính thống, Đảng và Nhà nước ta đã không bàn luận, không bày tỏ thái độ đồng tình hay phản đối cuộc đấu tranh nội bộ trong Đảng Cộng sản Liên Xô (1956), hay đối với Cách mạng văn hóa của Trung Quốc, cũng như không tham gia các cuộc tranh luận công khai giữa hai bên, tránh gây ra những hiểu lầm không cần thiết.

Thứ ba, những năm 1960-1964, khi Trung Quốc thường xuyên nêu vấn đề “chống chủ nghĩa xét lại”, “tách khỏi Liên Xô”, còn Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô liên tiếp gửi thông điệp (13 bức thư và thông báo(18)) đề cập đến bất đồng Xô – Trung, đề nghị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam phải thay đổi lập trường với Trung Quốc, thì Hồ Chí Minh vẫn luôn mềm mỏng và kiên định giải thích: “Đảng chúng tôi luôn luôn giáo dục cho cán bộ, đảng viên và cho quần chúng nhân dân lòng yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản, luôn luôn tăng cường đoàn kết hữu nghị với Liên Xô, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và các nước anh em khác”(19); đồng thời, khi lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta trao đổi và thông báo về các vấn đề lớn của cách mạng Việt Nam với lãnh đạo Liên Xô, thì cũng đồng thời thông báo, trao đổi với lãnh đạo Trung Quốc.

Thứ tư, năm 1965, Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta hoan nghênh ý kiến của Liên Xô đề nghị lập Mặt trận thống nhất và lập cầu hàng không để giúp đỡ Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược, nhưng khi Trung Quốc không đồng ý, thì ta tạm thời gác vấn đề này lại, đồng thời công khai cải chính những tin tức nói Trung Quốc cản trở hàng viện trợ quân sự của Liên Xô cho Việt Nam quá cảnh qua Trung Quốc. Việt Nam không tiếp nhận công binh Trung Quốc làm đường vào miền Nam, không nhận chuyên gia Trung Quốc bên cạnh Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, thì cũng không tiếp nhận quân tình nguyện và bộ đội phòng không Liên Xô giúp Việt Nam bảo vệ bầu trời.

Một cách tổng quát, trong xử lý quan hệ với Liên Xô, Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã kết hợp hài hoà giữa mềm dẻo và kiên quyết, giữa cương và nhu, giữa chiến lược và sách lược, giữa chủ động và sáng tạo, vô cùng linh hoạt trên cơ sở giữ vững nguyên tắc, từ đó nhận biết, nắm bắt thời điểm để xử lý thành công quan hệ Việt Nam với Liên Xô, Trung Quốc, bảo vệ và thực hiện tốt nhất lợi ích của quốc gia, dân tộc.

3. Nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh và quan hệ bền chặt với Liên Xô, Trung Quốc

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngoại giao là một mặt trận quan trọng. Ngoại giao vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật – nghệ thuật của các khả năng, khả năng nắm vững điều có thể, mở rộng giới hạn của điều có thể, thu hẹp giới hạn của điều không thể, ở đó, phong cách, phương pháp, phương cách ngoại giao Hồ Chí Minh trong xử lý quan hệ Việt – Xô – Trung đã đạt đến tầm nghệ thuật.

Trong điều kiện mâu thuẫn Xô – Trung, tăng cường, cũng cố quan hệ hữu nghị với Liên Xô, Trung Quốc vừa là yêu cầu chiến lược, vừa là mục tiêu bất biến của Đảng, Nhà nước ta – mục tiêu đó đạt được bằng nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh. Nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh thể hiện sự tổng hoà các phương pháp luận, xem xét sự vật theo quan điểm lịch sử, cụ thể, toàn diện, phát triển và sự vận dụng những cái biết: Biết mình, biết người, biết thời thế, biết chừng mực, biết biến đổi, để chủ động tận dụng mọi thời cơ, chọn đúng những công việc, giới hạn cần làm trong mỗi thời điểm lịch sử. Trong xử lý quan hệ với Liên Xô, Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã kết hợp hài hoà giữa mềm dẻo và kiên quyết, giữa chiến lược và sách lược, giữa cương và nhu, giữa chủ động và sáng tạo, vô cùng linh hoạt trên cơ sở giữ vững nguyên tắc, từ đó nhận biết và nắm bắt cơ hội để bảo vệ và thực hiện tốt nhất lợi ích của quốc gia, dân tộc.

Với nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh, đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa Mác – Lênin, tinh thần quốc tế vô sản và bằng sự nỗ lực cao độ, Đảng, Nhà nước ta đã giữ gìn tình cảm quốc tế thủy chung, trước sau như một, không ngừng củng cố quan hệ, tranh thủ được Liên Xô, Trung Quốc từng bước đồng tình, đi đến ủng hộ đường lối, mục tiêu, lập trường, quyết tâm chiến đấu của nhân dân ta, giành cho ta sự giúp đỡ to lớn, quý báu về mọi mặt, đặc biệt là viện trợ quân sự. Liên Xô – nước có nền công nghiệp quốc phòng hùng mạnh đã viện trợ cho Việt Nam ngoài một số vũ khí thông thường, còn phần lớn là những vũ khí hiện đại như máy bay, xe tăng, xe bọc thép, tên lửa, pháo phòng không, pháo binh….Tên lửa “đất đối không” của Liên Xô đã được sử dụng lần đầu tiên tại Việt Nam vào ngày 24-7-1965 và đã bắn rơi máy bay Mỹ (20). Những năm 1955-1960, Liên Xô đã viện trợ cho ta một khối lượng hàng quân sự là 29.996 tấn (21), gồm hàng hậu cần, vũ khí, trang bị kỹ thuật. Từ năm 1961-1964, Liên Xô gửi sang Việt Nam 47.223 tấn hàng quân sự (22) – số viện trợ quân sự trong một thời gian ngắn đã tăng gần gấp đôi. Trong giai đoạn 1965-1968, khi quan hệ Việt Nam – Liên Xô có bước phát triển đáng kể, số hàng viện trợ quân sự của Liên Xô cũng tăng vọt: 226.969 tấn (23). Trong những năm 1969-1972, mức viện trợ quân sự của Liên Xô cho ta đạt 143.793 tấn (34). Từ năm 1973-1975, Liên Xô chuyển sang Việt Nam 65.601 tấn hàng hậu cần và trang bị vũ khí, kỹ thuật (25).

Trung Quốc cũng đã giành cho nhân dân ta sự ủng hộ, viện trợ quý báu trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá. Tính chung trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, tổng khối lượng viện trợ quốc tế ước tính 2.362.682 tấn, trị giá 7 tỷ rúp (26), thì viện trợ của Trung Quốc chiếm khoảng trên 50% tổng số viện trợ nói trên. Trong lĩnh vực quân sự, Trung Quốc viện trợ cho ta chủ yếu là vũ khí bộ binh, quân trang, quân dụng, lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, một phần nhiên liệu, phương tiện vận tải và một số xe quân sự, pháo và đạn pháo, mặc dù trong khoảng thời gian trên, Trung Quốc còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế, mức thu nhập bình quân tính theo đầu người còn thấp.

Các con số viện trợ cho thấy, lực lượng đồng minh chiến lược của Việt Nam trong lúc khó khăn, hay thuận lợi chủ yếu đứng về phía ta, kiên định sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế, đã tạo ra cho cuộc kháng chiến của ta một sức mạnh tổng hợp cần và đủ để hạn chế một phần sức mạnh của đế quốc Mỹ, bảo đảm cho nhân dân ta đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn của chúng. Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta đã hạn chế đến mức thấp nhất tác động tiêu cực của mâu thuẫn Xô-Trung, đánh bại mưu đồ của Mỹ, lợi dụng mâu thuẫn trong hệ thống XHCN, đặc biệt là giữa Liên Xô, Trung Quốc để cô lập và làm suy yếu cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Sau này Mỹ phải thừa nhận, một trong những nguyên nhân đưa đến thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam là đã quá tin vào việc thông qua thủ đoạn hoà hoãn tay đôi với Liên Xô và Trung Quốc, lợi dụng bất đồng, đối địch giữa Liên Xô và Trung Quốc, thực hiện “chiến tranh bóp nghẹt” ở Việt Nam. Có lẽ, trong thực tiễn lịch sử, hiếm có trường hợp hai nước đối địch nhau lại cùng cung cấp viện trợ cho một nước thứ ba, như mối quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc và Liên Xô thời kỳ này. Tài trí ngoại giao Hồ Chí Minh, nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh đã làm nên điều kỳ diệu ấy. “Ôn cố tri tân” – Đó là bài học lịch sử, một mẫu mực ngoại giao mà thời kỳ hiện tại, hơn bao giờ hết, cần kế thừa, phát huy và phát triển.


Chú thích:

(1) Biên bản Hội nghị BCH TƯ lần thứ 7 (khoá II), Đơn vị bảo quản 29, Cục lưu trữ Trung ương Đảng.
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 10, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 18.
(3) Biên bản họp Bộ Chính trị, tháng 9-1954, Đơn vị bảo quản 92, Cục lưu trữ Trung ương Đảng, tr.28.
(4) Biên bản họp Bộ Chính trị, tháng 9-1954, Sđd, tr.28.
(5) Phan Ngọc Liên (Chủ biên), Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề quốc tế, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr. 127.
(6) Phan Ngọc Liên (Chủ biên), Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề quốc tế, Sđd, tr.127.
(7) Biên bản họp Bộ Chính trị, tháng 3-1966, Đơn vị bảo quản 173, Cục lưu trữ Trung ương Đảng.
(8)Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Tập 8, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 490.
(9) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 577.
(10) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 8, Sđd, tr. 577.
(11) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 12, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 287.
(12) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 12, Sđd, tr. 511.
(13) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 12, Sđd, tr. 511.
(14) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 12, Sđd , tr. 511.
(15) Biên bản họp Bộ Chính trị, tháng 3-1966, Đơn vị bảo quản 173, Cục lưu trữ Trung ương Đảng.
(16) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Sđd tr. 319.
(17) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 12, Sđd, tr. 511.
(18)Quan hệ Việt- Xô trong giai đoạn chống Mỹ, cứu nước (7.1954-4.1975), Bản đánh máy, lưu tại Vụ Trung Quốc, Bộ Ngoại giao, tr. 18.
(19) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 10, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 604.
(20])Gaiđuk. V.I (1998), Liên bang Xô-viết và chiến tranh Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, H, 1998, tr.127.
(21) Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, Thống kê số liệu viện trợ quốc tế, Hồ sơ 795, sô 15.
(22) Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, Sđd.
(23) Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, Sđd.
(24) Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, Sđd.
(25) Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, Sđd..
(26) Chiến tranh cách mạng Việt Nam, thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 601.

ditichhochiminhphuchutich.gov.vn

Advertisements