Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh – Bài 11

Một số vấn đề phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu về Hồ Chí Minh

~ oOo ~

Phần thứ hai: PHƯƠNG PHÁP LIÊN NGÀNH VÀ MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP CHUYÊN NGÀNH NGHIÊN CỨU VỀ HỒ CHÍ MINH

Chương IV Phương pháp liên ngành trong nghiên cứu Hồ Chí Minh

II. Vận dụng phương pháp liên ngành trong nghiên cứu Hồ Chí Minh

1. Cơ sở của phương pháp liên ngành trong nghiên cứu Hồ Chí Minh

Như đã trình bày, nghiên cứu về Hồ Chí Minh có thể và cần thiết phải sử dụng phương pháp liên ngành. Điều này do đặc điểm của đối tượng nghiên cứu quyết định. Nghiên cứu Hồ Chí Minh là nghiên cứu cả tiểu sử và sự nghiệp, tư tưởng và lý luận, phương pháp và phong cách, đạo đức và lối sống,… của Người. Hồ Chí Minh xuất hiện trên vũ đài lịch sử dân tộc và thời đại trong thế kỷ này với nhiều tư cách: Người là nhà yêu nước vĩ đại, anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam, chiến sĩ tiên phong của phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới; nhà hoạt động xuất sắc của phong trào cộng sản và công nhân trong thế kỷ XX; vị sứ giả của hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc; nhà ngoại giao, nhà thương thuyết mềm mỏng, luôn luôn chủ trương giải quyết mọi xung đột bằng đối thoại hoà bình.

Hồ Chí Minh để lại một sự nghiệp trước tác có thể nói là đồ sộ và phong phú về nhiều mặt. Người là nhà tư tưởng, nhà lý luận xuất sắc về chủ nghĩa thực dân và cách mạng giải phóng dân tộc, đồng thời có những cống hiến đặc sắc vào sự phát triển và làm phong phú chủ nghĩa Mác – Lênin trên nhiều lĩnh vực cụ thể. Người được tôn vinh là nhà vǎn hoá lớn, vừa kết tinh truyền thống vǎn hoá hàng ngàn nǎm của dân tộc mình vừa là sự thể hiện cho khát vọng của các dân tộc khác về nhân đạo và hoà bình. Hồ Chí Minh còn được coi là nhà thơ lớn của dân tộc, nhà vǎn sớm có những tìm tòi, đổi mới về thể loại và bút pháp; nhà báo cách mạng với hàng nghìn bài được công bố trên diễn đàn trong nước và nước ngoài, ở cả phương Đông lẫn phương Tây. Trên bình diện nhà tư tưởng, Hồ Chí Minh đã thể hiện tư tưởng của mình như một hệ thống, bao quát nhiều lĩnh vực: tư tưởng nhân vǎn, tư tưởng vǎn hoá, tư tưởng kinh tế, tư tưởng chính trị, tư tưởng quân sự, tư tưởng vǎn hoá – đạo đức,… trong mỗi lĩnh vực có thể tìm thấy những hệ thống nhỏ.

Trước một đối tượng nghiên cứu đa dạng và phong phú nhiều mặt như vậy, không một tập thể và cá nhân nào có đủ nǎng lực bao quát hết để có thể riêng mình đưa ra được một bức tranh tổng thể về con người và tư tưởng Hồ Chí Minh. Nghiên cứu Hồ Chí Minh ở trình độ lý luận cao đòi hỏi chúng ta còn phải phấn đấu nhiều hơn nữa, sâu hơn nữa. Có những vấn đề cảm giác rằng ai cũng có thể bàn đến được, nhưng có những lĩnh vực chuyên sâu, nếu người nghiên cứu không có trình độ lý luận, không có tư duy ở chiều sâu của lĩnh vực đó, không thể nghiên cứu có kết quả, ví như lĩnh vực tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Do đó, chỉ có đầu tư của toàn xã hội, có sự kết hợp nghiên cứu liên ngành, tập hợp những chuyên gia giỏi, có trình độ cao ở nhiều lĩnh vực cùng làm việc với nhau, sự nghiệp nghiên cứu về Hồ Chí Minh mới có thể nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả khoa học của mình.

2. Khả nǎng và điều kiện nghiên cứu liên ngành

Phương pháp liên ngành thuộc loại phương pháp khoa học hiện đại, mới phát triển mạnh ở phương Tây từ những nǎm 50 trở lại đây. ở phương Đông và Việt Nam, xét trên bình diện lý thuyết tuy nó là mới, nhưng trong thực tế vận dụng thì nó đã xuất hiện từ thời rất xa xưa. Như trên đã trình bày, thuyết “thiên – địa – nhân nhất thể” của Kinh Dịch đã chi phối tư duy phương Đông, làm cho quá trình phân ngành khoa học của phương Đông diễn ra rất chậm chạp. Tình trạng “vǎn – sử – triết bất phân” kéo dài làm cho tư duy khoa học của phương Đông cơ bản là tổng hợpvà liên ngành. ở Việt Nam, quan điểm “tam giáo đồng nguyên” (Nho, Phật, Lão) ngự trị trong suốt thời kỳ trung đại, đã chi phối cả tư duy bác học và tư duy dân gian cổ truyền, tạo thành truyền thống dung hoà vǎn hoá như là một hằng số lịch sử của tư duy Việt Nam trong quá khứ. Vì vậy, phương pháp liên ngành không phải là cái gì quá mới mẻ đối với chúng ta.

Truyền thống bất phân đó có mặt trái là kìm hãm sự phát triển của khoa học nước ta – chủ yếu là khoa học xã hội và nhân vǎn – nó kéo dài tình trạng đào tạo theo hướng tổng hợp, người làm nghiên cứu có thể biết nhiều thứ nhưng không biết cái gì thật tỏ tường. Dù sao, tình trạng đó lại đồng cấu trúc (ở trình độ thấp) với khoa học hiện đại phương Tây, về liên hợp cũng như tích hợp khoa học. Do đó, xét về khả nǎng tổ chức nghiên cứu liên ngành là thuận lợi, sẽ không có tình trạng không hiểu nhau như các nhà khoa học ở phương Tây, cả về ngôn ngữ lẫn tri thức khoa học. Tuy nhiên, để tiến hành công việc trên, cần phải có một số điều kiện nhất định – dù mới chỉ ở mức liên ngành vì một ngành, liên ngành để nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Như trên đã nói, muốn liên ngành (vì một ngành) thì ngành đó phải đóng được vai trò trung tâm trong tổ chức nghiên cứu liên ngành, từ điểm xuất phát đến bước hồi quy. Hiện nay chúng ta vừa có lại vừa chưa có chuyên ngành nghiên cứu về Hồ Chí Minh.

Công tác nghiên cứu về Hồ Chí Minh đã manh nha từ đầu những nǎm 50 với các bài viết của các đồng chí Trường-Chinh, Phạm Vǎn Đồng và một số người khác, trong đó bài “Hồ Chủ tịch, người sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo Đảng ta” của đồng chí Trường-Chinh, đǎng trên báo Nhân Dân, số 1, ra ngày 11-3-1951, có thể coi là bài dẫn luận, định hướng cả về nội dung và phương pháp cho việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh phát triển về sau. Từ sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, công tác nghiên cứu giới thiệu về Người ngày càng được mở rộng cả ở trong nước và nước ngoài. Như vậy, việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh được bắt đầu từ khá sớm, đến khi được đặt ra như một bộ môn khoa học cũng đã trên 1/4 thế kỷ. Song đến nay, chưa thể nói chúng ta đã hoàn toàn có một bộ môn mới, môn Hồ Chí Minh học. Mỗi bộ môn mới ra đời, muốn trở thành một chuyên ngành khoa học độc lập, cần phải có những điều kiện sau đây:

– Phải xác định rõ đối tượng nghiên cứu, trên cở sở đó phải xây dựng được chủ thuyết khoa học về đối tượng ấy.

– Phải xây dựng được một hệ thống phương pháp nghiên cứu xuất phát từ đối tượng, phản ánh tính đặc thù của bộ môn (có vậy mới đủ khả nǎng tham gia vào nghiên cứu liên ngành).

– Phải có một hệ thống khái niệm và phạm trù của bộ môn như là công cụ riêng, ngôn ngữ riêng để chiếm lĩnh đối tượng.

– Sau cùng, phải có một trung tâm nghiên cứu, đào tạo, với những thiết chế phù hợp, tạo điều kiện cho nó hoạt động và phát triển.

Ở Chương I và rải rác trong các chương tiếp theo, đã trình bày những nét tổng quan về đối tượng nghiên cứu như là sự đúc kết lý luận về con người – sự nghiệp, tư tưởng – lý luận, đạo đức – lối sống, phương pháp – phong cách Hồ Chí Minh.

Tuy còn những nét dị biệt khác nhau, nhưng trải qua nhiều cuộc hội thảo, giới nghiên cứu về Hồ Chí Minh đã bước đầu thống nhất được với nhau những nội dung cơ bản, đặt cơ sở cho việc tiến tới xây dựng một lý luận khoa học về đối tượng, nhằm phản ánh chính xác bản chất và quy kuật của đối tượng. Cũng từ những thành tựu nghiên cứu đạt được trong những nǎm qua, chúng ta đã sơ bộ dựng lên được một hệ thống khái niệm và phạm trù của bộ môn, giúp cho người nghiên cứu có phương tiện chiếm lĩnh đối tượng. Những điều đang bàn về phương pháp ở đây là nỗ lực đầu tiên trên con đường khai phá, tìm tòi những nguyên tắc chung và những nguyên tắc phương pháp luận chuyên biệt chỉ đạo việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Việc chính thức đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào giảng dạy trong hệ thống các trường đảng và trường đại học đã khẳng định sự ra đời của một bộ môn mới, đánh dấu một giai đoạn mới của việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh.

Tóm lại, đối chiếu những tiêu chuẩn nói trên, ở mỗi mặt chúng ta đều thấy đã xuất hiện những nhân tố nhất định, song còn mỏng mảnh và chưa thật chín, nên chưa thể nói, đến nay, đã có đủ điều kiện thực sự cho việc hình thành một chuyên ngành mới, chuyên ngành nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Hiện nay, cái yếu nhất của chuyên ngành này là sự đầu tư của xã hội vào công tác đào tạo, bồi dưỡng để hình thành một đội ngũ chuyên gia khoa học, đủ về số lượng, cao về chất lượng, đáp ứng được yêu cầu phát triển của bộ môn. Thiếu hụt nghiêm trọng nhất là không có nhiều chuyên gia giỏi. Nguyên nhân kém phát triển của một số ngành khoa học xã hội và nhân vǎn, bao gồm cả khoa học Mác – Lênin, đương nhiên là có nhiều, song xét từ góc độ phương pháp liên ngành, thì nguyên nhân chính là vì thiếu những chuyên gia đầu ngành thật giỏi, có kiến thức khoa học rộng lớn, có phương pháp và khả nǎng tổ chức hợp tác liên ngành. Điều kiện cho nghiên cứu liên ngành có nhiều, song đòi hỏi cơ bản ở tổ chức trung tâm và người chủ trì liên ngành phải có những khả nǎng nhất định. Một là, phải có khả nǎng tập hợp, đoàn kết các nhà khoa học nhiều ngành tham gia cùng hợp tác nghiên cứu. Hai là, người chủ trì, tuy chỉ là chuyên gia của một ngành, nhưng phải có những hiểu biết cần thiết về các ngành có liên quan, để từ kết quả nghiên cứu của từng ngành mà tổng hợp được thành kết quả chung, thành trí tuệ chung của bộ môn. Đó là chỗ khó, nhưng cũng là điều kiện thành công của việc tổ chức nghiên cứu liên ngành.

3. Phương pháp vận dụng phương pháp liên ngành trong nghiên cứu Hồ Chí Minh

Chương trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước về tư tưởng Hồ Chí Minh (KX. 02) là một chương trình nghiên cứu liên ngành. Trong toàn bộ 13 đề tài của Chương trình KX.02, không đề tài nào chỉ do một viện nghiên cứu chuyên ngành tự mình có thể giải quyết được trọn vẹn, sâu sắc mà không có những sự tham gia hợp tác của chuyên gia các ngành hữu quan. Thí dụ, đề tài số 1 là đề tài tổng quan về “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam”. Những nội dung lớn mà đề tài phải giải quyết như: nguồn gốc và quá trình hình thành của tư tưởng Hồ Chí Minh; tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng hệ thống chính trị (Đảng, Mặt trận, Quân đội, Nhà nước); về chiến lược và sách lược cách mạng, v.v. đều là những vấn đề lớn, mang tính tổng hợp, quan hệ đến nhiều ngành, triết học, sử học, vǎn hóa học, chính trị học, khoa học quân sự, v.v.. Chỉ có trên cơ sở hội thảo chuyên gia, tiến đến tổ chức nghiên cứu liên ngành thì mới làm sáng tỏ, có chiều sâu về mỗi nội dung lớn của đề tài nói trên. Từ thực tiễn nghiên cứu những nǎm qua, chúng tôi sơ bộ rút ra hai phương thức chính trong việc vận dụng phương pháp liên ngành vào nghiên cứu về Hồ Chí Minh.

3.1. Hợp tác chuyên gia nhiều ngành cùng nghiên cứu một đề tài cụ thể Đây là phương thức phổ biến, được hầu hết các đề tài vận dụng và đã đạt được kết quả nhất định. Thí dụ, để nghiên cứu đề tài “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh”, trước hết cần tìm hiểu xem những nhân tố nào đã góp phần hình thành nên tư tưởng đó: truyền thống đạo đức dân tộc, tư tưởng đạo đức phương Đông (như đạo đức Nho giáo, Phật giáo, …) Trước khi đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh có nhiều nǎm sống ở các nước phương Tây, tiếp thu học thuyết đạo đức mácxít, Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh có chịu ảnh hưởng gì của tư tưởng đạo đức phương Tây ? (lòng thương người của Chúa Jésus, những yếu tố nhân đạo và dân chủ trong tư tưởng đạo đức của các nhà Khai Sáng,…).

Ngoài ra, Người còn học hỏi và tiếp thu những gì trong nhân cách, đạo đức của những nhân vật lỗi lạc khác như Lênin, Gandhi, Tôn Dật Tiên,.. Để trả lời sáng tỏ những câu hỏi đó, cần có sự nghiên cứu, tìm hiểu và giải đáp bằng những cǎn cứ cụ thể, có sức thuyết phục của chuyên gia nhiều ngành, chứ không thể khẳng định một cách chung chung, võ đoán. Nghiên cứu tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là để vận dụng vào việc xây dựng, giáo dục đạo đức mới, khắc phục những vấn đề nóng bỏng đang đặt ra trong đời sống đạo đức của xã hội ta hiện nay, khi mặt trái của cơ chế thị trường đang tác oai, tác quái, đang xâm nhập lũng đoạn, làm bǎng hoại không ít những giá trị truyền thống vǎn hóa – đạo đức – tinh thần của xã hội ta.

Muốn đề xuất, kiến nghị được những phương án giải quyết hữu hiệu, khả thi về những vấn đề trên cần phải tiến hành điều tra cơ bản tình hình đạo đức trong một số tầng lớp xã hội cơ bản (cán bộ, đảng viên, thanh niên, công nhân, người buôn bán và dịch vụ, …), ở một số địa bàn khác nhau (thành phố lớn, khu công nghiệp, nông thôn, miền núi, vùng có đạo,…), tức là phải vận dụng phương pháp xã hội học kết hợp với phương pháp của khoa học hình sự.

Để hình thành đạo đức mới, ngoài phát triển kinh tế là điều kiện cơ bản, phải nhấn mạnh đến vai trò rất quan trọng của các nhân tố ngoài kinh tế, phải kết hợp đồng bộ giữa kinh tế với luật pháp và giáo dục, tức là cần vận dụng các phương pháp của luật học, vǎn hóa học, của tổ chức và quản lý hành chính. Tóm lại, đạo đức là một nội dung lớn của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, hướng vào mục tiêu xây dựng xã hội công bằng, vǎn minh. Đó là một chiến lược tổng hợp, chỉ riêng các nhà nghiên cứu đạo đức học không đủ sức giải quyết nổi, mà cần có sự hợp tác liên ngành.

3.2. Hợp tác chuyên gia để cùng nghiên cứu một tác phẩm cụ thể Trong các tác phẩm của Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta, Bản án chế độ thực dân Pháp là một tác phẩm lớn, đánh dấu một mốc lớn trong sự nghiệp trước tác của Người. Cuốn sách được viết bằng tiếng Pháp, gồm 12 chương và phần phụ lục Gửi thanh niên Việt Nam, do hiệu sách Lao động xuất bản, ở Paris, khoảng đầu nǎm 1926.

Trần Dân Tiên kể lại rằng: “Ông Nguyễn chỉ viết một quyển sách duy nhất là quyển: Bản án kết tội chế độ thực dân Pháp; quyển này gồm những tài liệu chống thực dân Pháp, trích trong những sách của người Pháp viết để ở thư viện quốc gia”. Đứng về phương pháp nghiên cứu, biên soạn mà xét, tác giả đã vận dụng phương pháp đa ngành. Trước hết là phương pháp điều tra xã hội học. Để chuẩn bị luận cứ vững chắc cho bản án, tác giả đã tiến hành khảo sát, thu thập, chắt lọc thông tin từ một khối tư liệu khổng lồ, chủ yếu lại là những tài liệu, sách báo do chính người Pháp viết ra, đặc biệt là các số liệu cụ thể, những vǎn bản chính thức mà chủ nghĩa thực dân Pháp không thể chối cãi được. Không dừng lại ở các hiện tượng bề ngoài, tác giả đã đi sâu phân tích, so sánh, đối chiếu với nhiều nguồn tài liệu khác nhau để rút ra những thuộc tính bản chất của chủ nghĩa thực dân Pháp, giúp cho người đọc nhìn thấy hiển hiện cái địa ngục trần gian ở thuộc địa được che đậy dưới chiêu bài “khai hóa vǎn minh”.

Tác phẩm trên còn là hình mẫu của việc vận dụng phương pháp hệ thống, được thể hiện trong cách xem xét xã hội thực dân – thuộc địa như là một cơ cấu tổng thể, từ các quan hệ kinh tế đến tổ chức chính trị – xã hội và vǎn hóa – tư tưởng. Chủ nghĩa thực dân cũng không được xem xét như là một hiện tượng đơn nhất, chỉ diễn ra ở Việt Nam, ở Đông Dương, mà còn là vấn đề của thời đại. Tác giả đã bóc trần tội ác của chúng ở khắp các thuộc địa khác trên thế giới như ở Angiêri, Tuynidi, Marốc, Xyri, Đahômây, Xuđǎng, Mađagátxca,… và cho thấy ở đâu những người lao động mất nước cũng cùng chung số phận, vì vậy tự nhiên là họ cùng đứng trong một chiến tuyến chống chủ nghĩa thực dân.

Ngoài ra, chúng ta còn thấy tác giả sử dụng rất thành thạo các phương pháp lịch sử, trong việc mô tả các hiện tượng xã hội; phương pháp điển hình hóa của vǎn học trong việc khắc họa chân dung của những tên quan cai trị thực dân khét tiếng. Xét về nội dung, Bản án chế độ thực dân Pháp là bản cáo trạng đanh thép về tội ác của chế độ thực dân Pháp đối với các thuộc địa về các mặt kinh tế, chính trị, vǎn hóa, tư tưởng, … Tác phẩm cũng đề cập đến cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa và mối quan hệ của nó đối với cách mạng vô sản ở chính quốc.

Tóm lại, tác phẩm này là sự tổng hòa các tri thức chính trị, triết học, xã hội, lịch sử, vǎn học cùng với kinh nghiệm thực tiễn phong phú mà Nguyễn ái Quốc đã rút ra được trong suốt 15 nǎm đấu tranh của Người. Một tác phẩm có nội dung toàn diện và phong phú như thế, muốn lĩnh hội và kiến giải được đầy đủ, sâu sắc về nó, cần có tổ chức hợp tác nghiên cứu liên ngành. Trên thực tế, trong những nǎm qua đã từng có một cuộc hội thảo như vậy. Từ giác độ tri thức và phương pháp của ngành mình, các nhà nghiên cứu đã bước đầu đi vào tìm hiểu những giá trị từng mặt của tác phẩm: giá trị tố cáo, giá trị nhân đạo, giá trị ngôn ngữ và vǎn học,… hoặc đi vào từng nội dung khác nhau của như vấn đề nông dân, số phận người phụ nữ thuộc địa, vấn đề sử dụng nguồn tư liệu và vǎn bản của tác giả, v.v..

Tuy nhiên, đây mới chỉ là một cuộc hội thảo để kỷ niệm 60 nǎm ngày ra đời của tác phẩm. Một tác phẩm có giá trị về nhiều mặt như vậy cần được phối hợp tổ chức nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc hơn trên cơ sở vận dụng phương pháp liên ngành. Nghiên cứu liên ngành không phải là một hiện tượng mới, nhưng liên ngành như là cộng ngành và liên ngành như là một cấu trúc tổng thể, có quan hệ tương tác chặt chẽ về mặt phương pháp, thì vẫn còn là một hiện tượng mới. Vì vậy, những điều trình bày trên đây mới chỉ là những kinh nghiệm bước đầu rút ra từ thực tiễn nghiên cứu về Hồ Chí Minh trong thời gian qua. Hy vọng rằng, với sự trưởng thành dần lên của chuyên ngành nghiên cứu này, một sự lý giải đầy đủ và khoa học hơn về phương pháp liên ngành trong nghiên cứu Hồ Chí Minh sẽ sớm được bổ sung và hoàn thiện trong tương lai.

PGS, PTS. Hoàng Chí Bảo; GS. Nguyễn Đǎng Mạnh;

cpv.org.vn