Archive | Tháng Một 2012

“Nói thì phải làm” Chuẩn mực đạo đức cơ bản của người cán bộ cách mạng

“Tư cách một người cách mệnh”(1) là một trong những vấn đề quan trọng đầu tiên được Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đề cập trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”. Cuốn sách bao gồm 3 mối quan hệ đạo đức, với 23 chuẩn mực cụ thể. Đây chính là những chuẩn mực đạo đức rất sinh động, thiết thực và cụ thể được Người soạn thảo để giảng dạy trong các lớp huấn luyện chính trị của Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng, tổ chức tại Quảng Châu (Trung Quốc) giai đoạn những năm 1925 – 1926.

Tuy rằng, nội dung tư cách người cách mạng trong thời điểm hiện nay không hoàn toàn giống như giai đoạn cách mạng trước, nhưng trong lúc này, trước sự suy thoái về đạo đức ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả người có chức, có quyền, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng thì những chuẩn mực đạo đức của người cách mạng mà Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh nêu ra lần đầu tiên cách đây hơn 80 năm vẫn mang tính thời sự nóng hổi. Đó vẫn là những chuẩn mực mà Đảng ta dựa vào đó để phát động cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, để xác định nội dung những phẩm chất và năng lực của người cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào thì theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiêu chuẩn đầu tiên và không thể thiếu được của người cán bộ cách mạng vẫn là đạo đức cách mạng. “Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(2).

Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra nhiều chuẩn mực đạo đức cách mạng, nhưng chuẩn mực: “Nói thì phải làm” là một trong những chuẩn mực đạo đức hết sức cơ bản của người cách mạng và lúc sinh thời Người luôn nhắc nhở chúng ta phải thực hiện nghiêm túc, bởi lẽ lời nói và việc làm của cán bộ, đảng viên có quan hệ rất chặt chẽ đến sự nghiệp cách mạng, ảnh hưởng lớn đến quần chúng.

Theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư cách người cách mạng bao gồm 3 mối quan hệ đạo đức (quan hệ với bản thân, với người khác và với công việc). Chuẩn mực: “Nói thì phải làm” thuộc loại quan hệ với bản thân. Theo cách nói của Người, tức là: “Tự mình phải: Cần kiệm/ Hoà mà không tư/ Cả quyết sửa lỗi mình/ Cẩn thận mà không nhút nhát/ Hay hỏi/ Nhẫn nại (chịu khó)/ Hay nghiên cứu, xem xét/ Vị công vong tư/ Không hiếu danh, không kiêu ngạo/ Nói thì phải làm/ Giữ chủ nghĩa cho vững/ Hy sinh/ Ít lòng tham muốn về vật chất/ Bí mật”(3). Đây là một chuẩn mực thuộc nhóm đạo đức – ý chí trong quan hệ đạo đức của người cách mạng đối với chinh bản thân mình. Có thể nói, nếu “Đạo đức là cái gốc” thì quan hệ đạo đức đối với bản thân phải là cái gốc của mọi cái gốc. Bởi lẽ, điều cốt lõi trong nhân cách đạo đức của người cách mạng trước hết phải được thể hiện trong quan hệ ứng xử đối với chính bản thân mình.

Vì lẽ đó, chúng ta thấy được chuẩn mực: “Nói thì phải làm” là một lời dạy có giá trị to lớn về mặt lý luận và thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là phương châm chỉ đạo mọi hoạt động của người cách mạng.

Là người luôn nhất quán với quan điểm về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, chúng ta thấy trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xem “nói” và “làm” là hai mặt của một quá trình thống nhất có mối quan hệ biện chứng với nhau. “Nói thì phải làm” là yêu cầu có tính nguyên tắc, nhất quán không những chỉ trong hoạt động thực tiễn cách mạng mà cả trong cuộc sống đời thường của Người.

Ngay từ cuối năm 1945, trên cương vị là vị Chủ tịch đầu tiên của Nhà nước dân chủ nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt chú ý ngay tới việc giáo dục đạo đức cách mạng, đặc biệt là việc thực hiện chuẩn mực “Nói thì phải làm” cho những người cán bộ cách mạng để họ luôn xứng đáng là những “công bộc” của nhân dân.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Nói thì phải làm” trước hết phải xuất phát từ lợi ích thiết thực của mọi giai tầng trong xã hội và lợi ích của quốc gia và dân tộc. Người luôn căn dặn cán bộ, đảng viên phải luôn luôn chú ý khi nói, khi viết điều gì thì phải làm sao để: “Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng”. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên phải nói và làm trước hết vì lợi ích của nhân dân: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”(4).

Thực tế cho thấy, đối với người cán bộ cách mạng, muốn nói hay, viết giỏi đã là việc khó, nhưng để làm được như nói lại là việc khó hơn rất nhiều lần. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu cán bộ cách mạng phải là những người nói được, viết được và làm được. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khuyến khích cán bộ cách mạng phải là những người dám nói và dám làm, bất luận trong hoàn cảnh nào họ cũng phải là những người luôn gương mẫu để làm gương cho kẻ khác: “Mình phải làm gương cho đồng bào, phải siêng năng, hăng hái. Tôi lấy thí dụ như trong việc cứu nạn đói, mình bảo người ta 10 ngày nhịn ăn một bữa mà chính đến ngày nhịn, mình lại cứ chén tỳ tỳ thì nghe sao được. Đáng lý dân nhịn một bữa mình nhịn hai bữa mới phải. Về việc khuyến nông cũng vậy, bảo người ta đào đất trồng ngô, trồng khoai mà lúc người ta làm mình lại ngủ thì sao được? Miệng nói tay phải làm mới được”(5) hay “Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành. Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần kiệm. Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân. Làm gương về cả ba mặt: tinh thần, vật chất và văn hóa”(6). Hoặc “Nếu miệng thì tuyên truyền bảo người ta siêng làm, mà tự mình thì ăn trưa, ngủ trễ; bảo người ta tiết kiệm, mà tự mình thì xa xỉ, lung tung, thì tuyên truyền một trăm năm cũng vô ích”(7).

Trong rất nhiều bài nói, bài viết của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần phê phán những người cán bộ cách mạng thường “nói nhiều làm ít”, hoặc “nói mà không làm”, hay “nói một đằng, làm một nẻo”, thụ động, máy móc, ỷ lại… Người nghiêm khắc phê phán: “Có đồng chí học thuộc lòng một số sách vở về chủ nghĩa Mác – Lênin. Họ tự cho mình là hiểu biết chủ nghĩa Mác – Lênin hơn ai hết. Song khi gặp việc thực tế, thì họ hoặc là máy móc, hoặc là lúng túng. Lời nói và việc làm của họ không nhất trí”(8).

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Nói thì phải làm” còn là một tiêu chí cơ bản để đánh giá năng lực, trình độ và phẩm chất của người cán bộ cách mạng. Người chỉ rõ: “Chẳng những xem xét cách viết, cách nói của họ, mà còn phải xem xét việc làm của họ có đúng với lời nói, bài viết của họ hay không… Không nên chỉ xem công việc của họ trong một lúc, mà phải xem cả công việc của họ từ trước đến nay”(9).

Là người đầu tiên đề ra “Tư cách một người cách mệnh”, suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng vẻ vang và trong cuộc sống đời thường của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là một tấm gương mẫu mực, sáng ngời và sinh động nhất trong việc tuân thủ nghiêm túc những chuẩn mực đạo đức đó, đặc biệt là chuẩn mực “Nói thì phải làm”. Người là sự hiện thân thống nhất biện chứng giữa lời nói và việc làm. Năm 1945, trước nạn đói đang hoành hành, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài kêu gọi đồng bào ta “Sẻ cơm nhường áo” bằng cách: “Cứ mười ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo”(10), thì chính Người đã xung phong thực hiện trước tiên.

Trong các bài nói, bài viết của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở những người cán bộ cách mạng phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính để xứng đáng là những “người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” thì chính Người đã làm gương bằng chính cuộc sống hết mực khiêm tốn, giản dị, tiết kiệm và thanh bạch của mình. Cuộc sống đó của Người đã thể hiện được điều mà Người luôn tâm niệm là: “Cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng, đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra. Vì vậy chúng ta phải đền bù xứng đáng cho nhân dân. Muốn làm như vậy, chúng ta phải cố gắng thực hiện cần, kiệm, liêm, chính”(11).

Nhờ sự quan tâm, giáo dục và tấm gương tuyệt vời của Người trong việc thực hiện chuẩn mực “Nói thì phải làm”, chúng ta thấy tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên đã thực hiện tốt chuẩn mực này trong quá trình rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng và đã góp phần đắc lực cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc.

Tuy nhiên hiện nay, sau hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước theo nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ngoài những thành tựu vô cùng to lớn về mặt kinh tế – xã hội, chúng ta phải thừa nhận một cách nghiêm túc rằng, mặc dù đã có rất nhiều cuộc vận động, nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng đã được phát động và ban hành nhằm không ngừng nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, thế nhưng trong thực tế thì những chuẩn mực đạo đức cách mạng, đặc biệt là chuẩn mực “Nói thì phải làm” đã có đề ra nhưng chưa được thực thi như mong muốn. Đây là một sự thật hết sức đau lòng. Đảng ta đã thẳng thắn thừa nhận: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, công chức diễn ra nghiêm trọng”(12). Đặc biệt, Đảng ta đã chỉ rõ một “căn bệnh nan y” hiện nay của không ít cán bộ, đảng viên và đang làm xói mòn dần niềm tin của nhân dân vào đội ngũ cán bộ, đó là tình trạng cán bộ, đảng viên “Chưa thực sự coi trọng đổi mới phong cách, lề lối làm việc, thực hiện nói đi đôi với làm; tình trạng nói nhiều làm ít, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm còn diễn ra ở nhiều nơi”(13). Họ chính là những người mà khi viết, khi thuyết giảng trước dân về các vấn đề thì “như ông thánh” nhưng trong thực tế cuộc sống lại chính là những người luôn coi thường kỷ cương, phép nước, thoái hóa, biến chất, chiếm dụng, lãng phí tiền bạc của dân, của nước, sống xa hoa, trụy lạc, luôn tìm mọi cách để mưu lợi cá nhân. Đối với một bộ phận cán bộ có chức, có quyền này, chuẩn mực đạo đức “Nói thì phải làm” chỉ còn là mỹ từ để giúp họ che giấu bộ mặt thật của mình trước cơ quan, đoàn thể, truớc nhân dân.

Đứng trước thực trạng trên, để xây dựng một đội ngũ cán bộ đáp ứng được yêu cầu cho sự nghiệp xây dựng đất nước trong giai đoạn mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã chú ý đặc biệt tới việc nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, đó là: “Lấy đạo đức làm gốc, đồng thời bồi dưỡng về kiến thức, trí tuệ, năng lực để làm tròn nhiệm vụ người lãnh đạo, người đi tiên phong trong các lĩnh vực công tác được giao”(14). Để thực hiện được ý tưởng nói trên, Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mà Đảng ta phát động từ năm 2007 cho đến năm 2011, chúng ta nên lấy chuẩn mực “Nói thì phải làm” làm tiêu chí cơ bản nhất để đánh giá, tổng kết kết quả cuộc vận động đối với mỗi cán bộ, đảng viên và các tổ chức đảng và đoàn thể. “Nói thì phải làm” phải trở thành một hành động thể hiện lương tâm, trách nhiệm của người cán bộ cách mạng trước vận mệnh của Đảng và dân tộc.

Giờ đây, khi mà trình độ dân trí ngày càng được nâng cao, việc lấy lại lòng tin của nhân dân đối với người cán bộ cách mạng như trước đây, việc làm sao để cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đạt hiệu quả thiết thực nhất, không có cách nào khác là phải chứng minh bằng những hành động cụ thể của mỗi cán bộ, đảng viên trong công việc và trong cuộc sống đời thường chứ không phải bằng những bài viết, bài nói khuếch trương và hoa mỹ. Trong dân ta có câu nói: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Người cán bộ cách mạng có cương vị càng cao thì đòi hỏi việc thực hiện chuẩn mực “Nói thì phải làm” lại càng phải hơn người bình thường. Tôi tin chắc là chúng ta có thể làm được như thế, xứng đáng là đảng viên của Đảng do Bác Hồ sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện”.

Để “xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới” như “điều mong muốn cuối cùng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta không có con đường nào khác là phải tiến hành thường xuyên việc xây dựng nền đạo đức mới xã hội chủ nghĩa cho tất cả mọi người, nhất là đối với cán bộ, đảng viên – những tinh hoa của xã hội. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, người dân đang có nhiều bức xúc khi chứng kiến một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức, có quyền nói hay mà làm dở thì việc tuân thủ một cách thực sự nghiêm túc chuẩn mực “Nói thì phải làm” lại càng có ý nghĩa vô cùng quan trọng để củng cố lại niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với những người cán bộ cách mạng mà lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi họ là “cái gốc của mọi công việc”. Nhớ Bác, làm theo lời Bác, chúng ta – những người cán bộ cách mạng thế hệ hôm nay và mãi mãi mai sau hãy ghi lòng tạc dạ lời dạy sau đây của Người: “Cán bộ, đảng viên, đoàn viên phải gương mẫu, phải thiết thực, miệng nói tay làm để làm gương cho nhân dân. Nói hay mà không làm thì vô ích. Đó là một tật xấu”(15).

___________________

1, 3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H,2000, t.2, tr.260.
2, 8. Sđd, t.9, tr.283, 292.
4, 5, 6, 10. Sđd, t.4, tr.56-57, 101-102, 150, 31.
7, 9. Sđd, t.5, tr.108, 281-282.
11. Sđd, t.7, tr.392
12. Văn kiện Đại hội X của Đảng. Nxb CTQG, H, 2006, tr.65
13. Sđd, tr.273
14. Sđd, tr.133
15. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, t.11, tr.136

Theo mattran.org.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Thêm bầu bạn, bớt kẻ thù là để đoàn kết hơn

Hoạt động chính trị là sự tham gia của các chủ thể vào các công việc của Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân. Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tham gia vào hoạt động chính trị là để đạt tới mục tiêu giành độc lập cho dân tộc, tự do hạnh phúc cho nhân dân và sự tiến bộ cho toàn thể nhân loại. Để thực hiện mục tiêu cao cả này, Người yêu cầu mỗi tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động chính trị phải luôn đoàn kết và biết tập hợp mọi lực lượng về phe cách mạng gắn với cuộc đấu tranh kiên quyết chống lại kẻ thù là các thế lực chống đối ngăn cản con đường thực hiện mục tiêu đó. Điều này cũng có nghĩa là phải thực hiện thêm bạn, bớt thù.

Theo Hồ Chí Minh, trong sự nghiệp cách mạng cũng như trong đời sống có nhiều loại kẻ thù khác nhau cần phải được nhận diện, phân định rõ để có các biện pháp loại trừ. Xét về hành vi biểu hiện và sự nguy hiểm nói chung, Người xác định rõ đã là kẻ thù thì chúng đều là những loại “giặc”. Đó là các loại “giặc ngoại xâm”, “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng”, “giặc đói”, “giặc dốt”, “giặc lụt”,… Xét về giới hạn, phạm vi hoạt động, Người phân biệt thành “kẻ thù trên thế giới, trong nước và trong mình”, “kẻ thù bên trong”, “kẻ thù bên ngoài”. Xét về vị trí, mức độ tác hại chống đối của kẻ thù để từ đó tìm ra các biện pháp loại trừ, Người phân ra các loại “kẻ thù trước mắt”, “kẻ thù lâu dài”, “kẻ thù chính”, “kẻ thù số một”, “kẻ thù nguy hiểm”… Nếu trong cách mạng giải phóng dân tộc, kẻ thù chính là chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc thì trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, kẻ thù chính lại không phải là những “tên đế quốc” như trước nữa mà đó là “chủ nghĩa cá nhân”. Nó còn được coi là “kẻ thù bên trong”, kẻ thù “ở trong lòng” ẩn nấp kín đáo không dễ gì phát hiện và nhận thấy để loại trừ. Chủ nghĩa cá nhân chính là căn nguyên đẻ ra các “chứng bệnh” hay các “kẻ địch” nằm ngay bên trong mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân. Tính nguy hiểm và sự tác hại của các “chứng bệnh” này đã được Hồ Chí Minh xác định rõ: “Mỗi chứng bệnh là một kẻ địch. Mỗi kẻ địch bên trong là bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra”(1).

Cùng với việc xác định kẻ thù, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những “bầu bạn” trong quá trình đấu tranh cách mạng, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là những lực lượng, phong trào, là một quốc gia, dân tộc và cá nhân những người yêu nước, tiến bộ, yêu chuộng hoà bình với phẩm chất đạo đức trong sáng. Theo Người, muốn làm cách mạng thắng lợi thì không những phải biết phân biệt rõ ai là bạn, ai là thù, mà điều quan trọng hơn, đó là “phải thực hiện thêm bầu bạn, bớt kẻ thù”(2). Điều này cũng có nghĩa là ở trong nước thì phải biết tập hợp, đoàn kết mọi giai cấp, lực lượng, thành phần xã hội; biết tranh thủ lôi kéo về phe cách mạng mọi đối tượng, lực lượng có thể tranh thủ, kể cả kẻ thù. Trong chính sách đối ngoại, phải biết thu phục, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân tiến bộ, biết cô lập, phân hoá chuyển hoá kẻ thù thành bầu bạn, làm sao để trên thế giới này ngày càng bớt đi kẻ thù bên ngoài, không còn “giặc ngoại xâm”, thực hiện quan hệ hợp tác, đoàn kết hữu nghị với các nước và nhân dân thế giới theo tinh thần:

“Quan sơn muôn dặm một nhà
Vì trong bốn biển đều là anh em”(3).

Để thực hiện chủ trương thêm bạn bớt thù, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, đặc biệt khi ở cương vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành chỉ đạo nhiều biện pháp cụ thể, thiết thực nhằm thực hiện chính sách đại đoàn kết, hoà hợp dân tộc, tập hợp mọi giai cấp, tầng lớp nhân dân, ngay cả đối với những người trước đó từng là kẻ thù nhưng sau đó tán thành hoà bình, thống nhất, độc lập dân tộc, dân chủ. Việc thành lập và phát triển Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam để tập hợp đoàn kết mọi giai cấp, mọi lực lượng và toàn dân là một minh chứng rõ ràng và sinh động nhất về việc thêm bè bạn, bớt kẻ thù.

Ngày nay, những chủ trương biện pháp thêm bầu bạn, bớt kẻ thù của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Đảng và Nhà nước ta vận dụng một cách sáng tạo vào công cuộc đổi mới đất nước. Trong chính sách đối ngoại thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện theo phương châm: “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”(4). Tại Đại hội toàn quốc lần thứ X, Đảng ta đã khẳng định: “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế và khu vực”(5). Việc Việt Nam tích cực chủ động hội nhập quốc tế và khu vực, thắt chặt mối quan hệ hợp tác hữu nghị với nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là sự kiện được bầu vào ghế uỷ viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc mới đây với số phiếu ủng hộ rất cao (183/190) là một minh chứng của việc Đảng ta đã vận dụng sáng tạo chủ trương đoàn kết, thêm bầu bạn, bớt kẻ thù của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chính sách đối ngoại.

Trong chính sách đối nội, vấn đề đầu tiên mà Đảng và Nhà nước ta thực hiện chủ trương thêm bầu bạn, bớt kẻ thù là “thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận Dân tộc Thống nhất, tập hợp mọi lực lượng phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu nước mạnh”(6). Mặt trận đã trở thành một nhân tố quan trọng trong việc thực hiện chủ trương đó. Qua hơn 20 năm đổi mới, Mặt trận ngày càng một lớn mạnh hơn. Đến nay, Mặt trận đã trở thành một tổ chức liên minh chính trị tập hợp của 44 tổ chức thành viên, với cơ cấu Uỷ viên Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có đủ 54 dân tộc, 6 tôn giáo lớn và nhiều cá nhân tiêu biểu trong các tầng lớp nhân dân. Mặt trận đã thể hiện là một biểu tượng của tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc với vai trò một tổ chức liên minh chính trị của tất cả các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo, các tổ chức khác nhau trong xã hội vì một mục đích là thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Còn phải kể đến chủ trương thêm bầu bạn, bớt kẻ thù vào thời kỳ đổi mới là Đảng và Nhà nước ta đã quyết tâm thực hiện đẩy lùi “giặc đói”. Ngoài các Chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo, Chương trình phát triển kinh tế – xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa (Chương trình 135) và các chương trình mục tiêu khác (chương trình việc làm, xuất khẩu lao động…) nhằm giảm đói nghèo của Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân đã tiến hành thực hiện sâu rộng “phong trào xoá đói giảm nghèo” trong toàn quốc, coi đây là một mặt trận chống “giặc đói”, bớt kẻ thù đói nghèo theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Với nhiều nỗ lực về phát triển kinh tế trong nông nghiệp, thực hiện sâu rộng phong trào xoá đói giảm nghèo bằng các chương trình nêu trên cùng các cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, các chương trình xây tặng “Nhà đại đoàn kết”, “Những tấm lòng từ thiện”, “Nối vòng tay lớn”, “Quỹ tình thương”, “Một thế giới – một trái tim”… của Mặt trận và các đoàn thể mà tỉ lệ hộ nghèo ở Việt Nam giảm nhanh từ 17,5% năm 2001 xuống còn khoảng dưới 7% năm 2005, tỉ lệ nghèo đói (tính theo chuẩn quốc tế) đã giảm từ 58,1% năm 1993 xuống còn 19% vào cuối năm 2006. Với thành tựu này, Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế đánh giá cao và ghi nhận là một trong những nước thành công nhất trong phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, nâng cao mức sống của người dân.

Cùng với đẩy lùi giặc đói, vào thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện được một bước đáng kể trong việc đẩy lùi “giặc dốt”. Qua 20 năm với sự cố gắng nỗ lực của các cấp, các ngành và của toàn dân trong việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia chống nạn mù chữ – phổ cập giáo dục tiểu học và sau đó là phổ cập giáo dục trung học cơ sở, đến nay trong cả nước tỉ lệ học sinh trong độ tuổi đi học ở bậc tiểu học đã đạt 97,5%, đến hết năm 2005 có 31 tỉnh đã đạt tiêu chuẩn phổ cập trung học cơ sở. Thành tựu này tuy chưa khẳng định được “giặc dốt” đã bị đẩy lùi hẳn, nhưng điều đó đã chứng tỏ sự quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, bớt đi được rất nhiều loại “kẻ thù” đã tồn tại bao đời nay ở nước ta.

Một mặt trận được coi là khó khăn, quyết liệt nhất chống kẻ thù vào thời kỳ đổi mới, đó là chống loại “giặc ở trong lòng”, mà biểu hiện cụ thể của nó là chủ nghĩa cá nhân, là quan liêu, tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực, xấu xa khác. Ngay từ những năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương thể hiện sự quyết tâm đẩy lùi loại kẻ thù nguy hiểm này. Đặc biệt, tại Hội nghị Trung ương ba (khoá X) tháng 7-2006, Đảng đã ra Nghị quyết chuyên đề “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”, trong đó Đảng chỉ đạo thành lập các cơ quan chuyên trách phòng, chống tham nhũng, đề ra các biện pháp cụ thể và phát động toàn dân trong cuộc chiến này. Cùng với Đảng, Nhà nước ta đã ban hành các văn bản pháp quy về phòng, chống tham nhũng, như: Ban hành Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; xây dựng các đề án chống tham nhũng… Cùng với các biện pháp trên, hiện nay Đảng và Nhà nước ta đang triển khai sâu rộng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong cả nước. Đây chính là một biện pháp thiết thực và có ý nghĩa rất lớn nhằm thực hiện bớt đi kẻ thù “ở trong lòng” là chủ nghĩa cá nhân, loại kẻ thù nguy hiểm nhất, thực hiện lời chỉ dẫn của Người: “ta phải làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”(7).

Để đẩy lùi được các loại kẻ thù nói trên, đòi hỏi Đảng và Nhà nước không chỉ có ý chí quyết tâm cao, mà còn phải thật kiên trì, tăng cường và thực hiện một cách đồng bộ có hiệu quả nhiều biện pháp hơn nữa, đặc biệt đối với cuộc chiến chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí thì cần phải khéo dùng lực lượng của quần chúng nhân dân, bởi như Người đã từng nói: “phong trào chống tham ô, lãng phí, quan liêu ắt phải dựa vào lực lượng quần chúng thì mới thành công”(8).

_______________

1, 4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2002, t.5, tr.220, 238-239.
2. Sđd, t.10, tr.605
3. Sđd, t.8, tr.362.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr.112, 153.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb ST, H, 1991, tr.10.
7. Hồ Chí Minh: Sđd, t.12, tr.558.
8. Hồ Chí Minh: Sđd, t.6, tr.495.

Theo TS. Nguyễn Hữu Đổng
Viện Chính trị học, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.
(mattran.org.vn)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tấm lòng của Bác Hồ với Thủ đô Hà Nội

Hình ảnh Bác Hồ vẫy chào đoàn quân chiến thắng trở về Thủ đô Hà Nội ngày 10-10-1954 (Ảnh: Tuấn Anh)

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện tấm lòng trân trọng, mối quan tâm sâu sắc giàu tình nhân ái và những mong muốn thiết tha về Hà Nội, với Hà Nội. Kể từ Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn bó với mảnh đất Hà Nội. Ngày 26/8/1945, Người từ chiến khu Việt Bắc về Hà Nội. Tại căn nhà 48 phố Hàng Ngang, Người soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước CHXHCN Việt Nam).

Cách mạng Tháng Tám thành công đập tan gông xiềng của thực dân phong kiến, nhân dân ta bắt đầu thực sự được làm chủ cuộc đời.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Người thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam đọc Tuyên ngôn Độc lập trước quốc dân đồng bào. Sau đó không lâu, thực dân Pháp bội ước, nhân dân Việt Nam không còn cách nào khác phải đứng lên làm cuộc kháng chiến trường kỳ hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946 của Người.

Năm 1954, sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, nhân dân ta vừa bắt tay vào công cuộc khôi phục kinh tế ở miền Bắc và tiếp tục cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà thì đế quốc Mỹ leo thang ném bom phá hoại miền Bắc XHCN ngày càng ác liệt, nhằm ngăn cản sự chi viện của tiền tuyến lớn miền Bắc cho hậu phương lớn miền Nam.

Ngày 17/7/1966, từ Thủ đô Hà Nội, Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi vang vọng “Lời kêu gọi đồng bào và chiến sỹ cả nước của Hồ Chủ tịch”, trong đó có đoạn: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Cũng từ đó, câu nói: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Người đã trở thành chân lý của thời đại.

Ngay trong những tháng năm chiến tranh ác liệt dưới bom đạn Mỹ, Bác Hồ kính yêu vẫn hàng ngày chăm cá, chăm cây, vui với đàn cháu nhỏ và bàn việc nước bên ngôi nhà sàn giản dị trong vườn cây trái xum xuê ở giữa lòng Thủ đô yêu dấu… Rồi cũng ở Hà Nội, Bác Hồ đã viết những dòng Di chúc trước lúc đi xa, để lại muôn vàn tình thương yêu cho đồng bào, đồng chí, cho dân tộc Việt Nam. Những ngày đầu tháng 9/1969 trời Hà Nội mưa tầm tã như hòa cùng nỗi đau của người dân Việt Nam từ nay vắng hình bóng Bác…

Như vậy, có thể nói, tư tưởng và sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh hầu hết được thể hiện ở mảnh đất kinh đô ngàn năm văn vật. Và không chỉ có vậy, Bác Hồ còn thể hiện tấm lòng trân trọng biết ơn, mối quan tâm sâu sắc đầy tình nhân ái và những mong muốn thiết tha về Hà Nội, với Hà Nội.

Kể từ khi giữ cương vị Chủ tịch nước, Người đã có 73 bài viết riêng về Hà Nội, về nhân dân Hà Nội (theo sách Hồ Chí Minh với Thủ đô Hà Nội – NXB Chính trị quốc gia, 2004. Các trích dẫn dưới đây đều ở cuốn sách này).

Nhà thơ Tố Hữu đã nói rất đúng về cách ứng xử rất mực tình người của Bác Hồ: “Giọng của Người không phải sấm trên cao/ Thấm từng tiếng ấm vào lòng mong ước”. Thật vậy, suốt cuộc đời cách mạng, Bác Hồ đã luôn thể hiện là vị “công bộc” tận tụy của dân. Mọi việc làm, từ lời nói đến hành động ở Người đều thể hiện là “người đầy tớ thật trung thành” của nhân dân. Điều ấy thể hiện trước hết ở tấm lòng biết ơn dân.

Ngày 2/9/1945, Hố Chủ tịch đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình.

Ngay ở kỳ Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam mới (năm 1946), với sự tín nhiệm tuyệt đối của cử tri, một số đồng bào ta đề nghị Hồ Chí Minh không phải ứng cử. Người đã viết thư cảm ơn: “Tôi rất cảm động thấy toàn thể đồng bào ngoại thành Hà Nội đã có lòng quá yêu tôi, mà quyết nghị tôi không phải ứng cử trong kỳ Tổng tuyển cử sắp tới”. Sau 9 năm kháng chiến, chúng ta về lại Hà Nội, Người đã có lời cảm ơn thật chí tình: “Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn đồng bào Thủ đô và bộ đội hôm nay long trọng và thân mật chào mừng Chính phủ”. Trong lần Tổng tuyển cử Quốc hội khóa II, Người cũng viết thư cảm ơn đồng bào Thủ đô đã đề nghị Người ứng cử ở khu vực Hà Nội.

Ở một lá thư khác, Người viết: “Thưa đồng bào thân mến. Sáng nay, một đồng chí cán bộ mời tôi đi “ra mắt cử tri”. Tôi trả lời: Đã bao nhiêu năm lòng tôi luôn luôn ở cạnh đồng bào và tôi tin rằng lòng đồng bào cũng luôn ở cạnh tôi. Xa lạ gì mà phải ra mắt? Nói thế này mới đúng: Tôi đến đây để cảm ơn đồng bào đã nhất trí yêu cầu tôi và các vị khác ra ứng cử vào Quốc hội khóa II ở Thủ đô yêu quý của chúng ta”. Có lẽ không cần bình luận gì thêm mà mượn một ý của cổ nhân khi nói về thơ hay để nói về những dòng chữ đầy ân tình này của Bác: Thơ (văn) hay là thứ thơ (văn) mà khi đọc lên người ta không còn thấy câu chữ mà chỉ thấy tình người. Chủ tịch Hồ Chí Minh có mối quan tâm đặc biệt với nhân dân Hà Nội. Người thường xuyên gửi thư tới các cụ phụ lão, chị em phụ nữ, tới nông dân, công nhân, trí thức… Nhưng Người đặc biệt quan tâm tới tầng lớp thanh thiếu niên, nhi đồng Hà Nội.

Khi Hà Nội mới được giải phóng, những tàn dư văn hóa thực dân còn rơi rớt lại thì Người đã ân cần chỉ ra khuyết điểm của số ít thanh niên Hà Nội: “thanh niên Hà Thành vốn giữ tính kiêu căng, biệt phái…” và chỉ ra cách khắc phục: “Phải làm sao cho tổ chức thanh niên Hà Nội phải thành một khối thanh niên khuôn mẫu cho thanh niên toàn xứ và toàn quốc”. Trong 10 lá thư, bài viết, bài phát biểu về thanh niên, thiếu niên, sinh viên Hà Nội, Bác Hồ đều khuyên thanh thiếu niên Thủ đô đoàn kết thân ái và chăm chỉ học tập phát huy sáng kiến để thanh thiếu niên cả nước học tập, Người nói: “thanh niên Thủ đô phải làm gương mẫu cho thanh niên cả nước”. Về mối quan tâm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh với nhân dân Hà Nội, có một điều đặc biệt là Bác Hồ rất chú ý tới nhân dân ngoại thành Hà Nội. Người đã có 4 bức thư, bài viết riêng về nhân dân khu vực ngoại thành:

– Gửi đồng bào ngoại thành Hà Nội.

– Nói chuyện tại Hội nghị cán bộ làm công tác sửa sai trong cải cách ruộng đất ở ngoại thành Hà Nội.

– Bài nói chuyện với cán bộ và nhân dân xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm.

– Bài phát biểu tại Hội nghị sơ kết cuộc vận động xây dựng chi bộ, Đảng bộ “bốn tốt” ở khu vực ngoại thành Hà Nội.

Có thể là khi đó người dân ngoại thành Hà Nội còn vất vả nên Người dành mối quan tâm sâu sắc hơn. Người động viên: “Ngoại thành cũng là Thủ đô. Mà “thủ” là đầu, phải đi đầu…” và mong muốn: “Các đảng bộ, chi bộ ở ngoại thành cần lãnh đạo đưa phong trào ngoại thành tiến lên mạnh mẽ hơn nữa, làm cho ngoại thành thật sự trở thành vành đai đỏ của Thủ đô xã hội chủ nghĩa”.

Người xác định vị trí “đầu tàu”, “gương mẫu” của Hà Nội mà “cả nước nhìn về Thủ đô ta. Thế giới trông vào Thủ đô ta” nên Người mong muốn làm sao để cho Hà Nội “thành một Thủ đô bình yên tươi đẹp, mạnh khỏe cả về vật chất và tinh thần”. Hồi mới giải phóng, Người xác định nhiệm vụ trung tâm cho Hà Nội là “giữ gìn trật tự an ninh”, là “ổn định sinh hoạt”, là “vệ sinh sạch sẽ” là “phòng bệnh”. Muốn thế mọi người dân Thủ đô phải đoàn kết, tăng năng suất công tác, phải học tập, phải giữ vững và phát triển thuần phong mỹ tục.

Sau này, trong những lời phát biểu, những bài nói chuyện tại các kỳ Hội nghị Đảng bộ Hà Nội, các đại hội đại biểu nhân dân Hà Nội…, Người rất chú ý tới vấn đề xây dựng và phát triển Thủ đô vững mạnh toàn diện, mà trước hết là phát triển Đảng: “Hà Nội cần phải củng cố và phát triển Đảng, Đoàn Thanh niên Lao động và công đoàn. Đảng bộ Hà Nội cần phát triển thêm thành phần công nhân, nông dân, lao động trí óc và phụ nữ vào Đảng”. Người căn dặn Đảng bộ Hà Nội phải luôn “không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động”.

Đó cũng là một biểu hiện tư tưởng vì con người hết sức cao đẹp của Bác Hồ kính yêu.

Hà Nội hôm nay ngày càng đổi mới, phát triển để xứng đáng là trái tim của cả nước thì càng phải thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ: “Thành phố Hà Nội phải làm thế nào để trở thành một thủ đô xã hội chủ nghĩa. Muốn như thế thì mỗi một xí nghiệp, mỗi một đơn vị bộ đội, mỗi một trường học, mỗi một đường phố, mỗi một cơ quan và mỗi một nông thôn ở ngoại thành phải thành một pháo đài của chủ nghĩa xã hội”.

Lời dạy và cũng là mong muốn của Bác Hồ sẽ mãi mãi là động lực thôi thúc nhân dân Hà Nội sát cánh cùng cả nước xây dựng Thủ đô, xây dựng đất nước giàu mạnh trong thời đại mới./.

Theo Báo Văn nghệ quân đội
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của các lực lượng vũ trang

Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, của Ðảng đã đề ra đường lối, chủ trương và hết lòng chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, xây dựng một quân đội kiểu mới với nòng cốt là con em nhân dân lao động, hy sinh chiến đấu vì quyền lợi của nhân dân, vì lợi ích của dân tộc.

Thời kỳ đấu tranh giành chính quyền

Ngày 28-1-1941, sau gần 30 năm bôn ba hoạt động ở nước ngoài, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã trở về nước trực tiếp chỉ đạo cuộc vận động cách mạng giải phóng dân tộc. Hơn ba tháng sau, vào giữa tháng 5, Người chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8 tại Hà Quảng (Cao Bằng), khẳng định nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng nước ta là giải phóng các dân tộc Ðông Dương ra khỏi ách áp bức của Pháp-Nhật. Vì thế, chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của Ðảng và toàn dân.

Cuối năm 1941, Người chủ trương thành lập đội tự vệ vũ trang Cao Bằng, tạo cơ sở cho việc xây dựng lực lượng vũ trang sau này. Trên cơ sở tìm hiểu hình thức tổ chức quân đội của các nước như Pháp, Liên Xô, Trung Quốc, nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin về xây dựng quân đội trên cơ sở vũ trang toàn dân và kế thừa truyền thống, kinh nghiệm xây dựng quân đội trong lịch sử dân tộc, Người đã từng bước xác định nguyên tắc tổ chức, xây dựng đội quân vũ trang của cách mạng Việt Nam.

Người trực tiếp giáo dục chính trị và viết tài liệu huấn luyện quân sự cho đội tự vệ vũ trang Cao Bằng, chọn cử hàng chục cán bộ giỏi sang Trung Quốc học quân sự. Trong thời gian này, Người biên soạn tài liệu về “Kinh nghiệm du kích Nga”; “Kinh nghiệm du kích Tàu”, đặc biệt là cuốn “Cách đánh du kích”. Ðối với đội tự vệ vũ trang Cao Bằng, Người trực tiếp viết “Mười điều kỷ luật” và xác định nhiệm vụ của đội là “làm nòng cốt cho việc xây dựng lực lượng vũ trang và nửa vũ trang sau này”. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc còn dặn dò cán bộ, đội viên: “

Phải đoàn kết, chấp hành kỷ luật tốt, khiêm tốn học hỏi, giúp nhau thực sự về chính trị, quân sự cũng như trong sinh hoạt, đối với dân phải như cá với nước”.

Cuối tháng 10-1944, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ Trung Quốc trở về Cao Bằng. Sau khi được biết dự định khởi nghĩa của Ban liên tỉnh Cao Bắc Lạng, Người đã chỉ thị phải hoãn ngay cuộc khởi nghĩa vì “Trong điều kiện hiện giờ, nếu phát động vũ trang khởi nghĩa ngay thì quân địch sẽ tập trung đối phó, cuộc khởi nghĩa sẽ bị đàn áp”. Người nhận định: Bây giờ thời kỳ cách mạng hòa bình phát triển đã qua, nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa tới. Nếu bây giờ chúng ta vẫn chỉ hoạt động bằng hình thức chính trị thì không đủ để đẩy phong trào đi tới… Cuộc đấu tranh bây giờ phải từ hình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự.

Tháng 12-1944, Người viết bản Chỉ thị thành lập Ðội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Người xác định tên của đội là Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (VNTTGPQ) nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền. Người cho rằng: Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân, cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, cho nên trong khi tập trung lực lượng vũ trang trong các địa phương cùng phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện. Ðội quân chủ lực trái lại có nhiệm vụ dìu dắt cán bộ vũ trang của các địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên.

Căn cứ vào Chỉ thị của Người, sau một thời gian khẩn trương chuẩn bị, ngày 22-12-1944, tại khu rừng thuộc hai tổng Trần Hưng Ðạo và Hoàng Hoa Thám, xã Tam Kim, Nguyên Bình (Cao Bằng), được sự ủy quyền của Người, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã tổ chức Lễ thành lập Ðội VNTTGPQ, gồm 34 cán bộ, chiến sĩ đầu tiên. Ðây là đội quân chủ lực đầu tiên, một trong những đội quân tiền thân của QÐND Việt Nam.

Sự ra đời của Ðội VNTTGPQ đánh dấu một bước phát triển quan trọng của cách mạng Việt Nam, bởi từ nay, cách mạng nước ta đã có một đội quân chủ lực, tổ chức lực lượng vũ trang làm nòng cốt cho phong trào toàn dân đánh giặc.

Bên cạnh bản Chỉ thị lịch sử, một văn kiện có tính cương lĩnh quân sự về xây dựng QÐND, về khởi nghĩa vũ trang toàn dân, kháng chiến toàn dân, Người còn Chỉ thị cho Ðội VNTTGPQ hai điểm khi hành động: Một là, cuộc chiến đấu đầu tiên phải là một cuộc thắng lợi, bởi “cuộc chiến đấu ấy có tác dụng rất lớn lao và trong một phần lớn sẽ quyết định tương lai của đội”. Hai là, các cuộc hành động phải nhằm thời gian, phải nhằm địa điểm, tổ chức phải gọn gàng, chu đáo xuất sắc, làm cho nó vang dội đến khắp trong nước và vang dội ra cả nước ngoài. Sau mỗi thắng lợi phải triệt để lợi dụng để mở rộng tuyên truyền. Có thế, đội giải phóng quân mới đạt mục đích tuyên truyền của nó, mới kêu gọi toàn dân đoàn kết, vũ trang đứng dậy.

Chấp hành Chỉ thị của Người, Ðội VNTTGPQ đã ra quân đánh thắng hai trận đầu Phai Khắt, Nà Ngần, rồi nhanh chóng phát triển lực lượng lên đến một rồi nhiều đại đội, tỏa đi các địa phương trong chiến khu Việt Bắc xây dựng cơ sở cách mạng, làm nòng cốt cho cuộc đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang giành chính quyền trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945.

Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập. Ðể xây dựng đội quân thường trực lớn mạnh bảo vệ Nhà nước, bảo vệ chính quyền non trẻ, chống lại thù trong giặc ngoài, vào giữa tháng 9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh Chỉ thị chấn chỉnh, mở rộng Việt Nam Giải phóng quân và đổi tên thành Vệ quốc đoàn. Người căn dặn Vệ quốc đoàn cần thực hiện sách lược mềm dẻo đối với quân đội của Tưởng Giới Thạch; phải hết sức tránh khiêu khích, không để xảy ra xung đột. Nếu xảy ra xung đột thì biến xung đột lớn thành xung đột nhỏ, biến xung đột nhỏ thành không có xung đột. Thực hiện Chỉ thị mở rộng lực lượng của Người, bộ đội chủ lực từ một số chi đội, đại đội (khoảng 5.000 người) trong những ngày Tổng khởi nghĩa, đến cuối năm 1945 đã phát triển lên 50.000 người, với 40 chi đội ( mỗi chi đội từ 1.000 đến 2.000 người).

Trước đó, ngày 7-9-1945, Người Chỉ thị thành lập Bộ Tổng tham mưu, giao nhiệm vụ: “Tổ chức huấn luyện quân đội cho giỏi; nắm địch nắm ta rõ ràng; bày mưu bày kế khôn khéo; tổ chức chỉ huy thông suốt, bí mật, nhanh chóng, kịp thời, chính xác để đánh thắng mọi kẻ thù, bảo vệ thành quả cách mạng”.

Nhằm kiện toàn tổ chức, biên chế của quân đội, ngày 22-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 71-SL về Quân đội quốc gia Việt Nam. Kèm theo Sắc lệnh có bản Quy tắc Quân đội quốc gia Việt Nam gồm 62 điều, quy định biên chế, tuyển binh, cấp bậc, thăng giáng, thuyên chuyển, kỷ luật, khen thưởng và lễ nghi của quân đội.

Người rất quan tâm việc đào tạo đội ngũ cán bộ trong quân đội. Ngày 26-5-1946, đến thăm và dự lễ khai giảng đầu tiên của Trường võ bị Trần Quốc Tuấn, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Trung với nước, hiếu với dân là một bổn phận thiêng liêng, một trách nhiệm nặng nề nhưng cũng là vinh dự của người chiến sĩ trong đạo quân quốc gia đầu tiên của nước ta”. Người đã tặng nhà trường lá cờ thêu 6 chữ vàng “Trung với nước, hiếu với dân”.

Người luôn quan tâm xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, chống lại mọi biểu hiện quân sự đơn thuần. Người nhấn mạnh: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại. Quân đội ta là quân đội nhân dân. Nhân dân có Ðảng lãnh đạo, Ðảng có chính cương, chính sách. Ðã là quân đội nhân dân thì phải học chính sách của Ðảng…”. “Chính trị biểu hiện ra trong lúc đánh giặc. Học chính cương, chính sách rồi thì phải thực hiện. Nếu thuộc lầu mà không biết đánh giặc thì vô dụng. Cho nên các chú phải học tư tưởng chiến lược, chiến thuật, học cách dạy bộ đội đánh giặc, học phương pháp chỉ huy chiến đấu”.

Người đã viết bài: “Ðạo đức của người tướng”, trong đó nêu lên 6 yêu cầu và cũng là tiêu chuẩn đối với người tướng cần phải có là “Trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung”. Người phân tích và nhấn mạnh từng yêu cầu đối với người tướng, với đạo làm tướng để có thể lãnh đạo chỉ huy bộ đội, làm gương cho quân sĩ. Người nói: “Quân đội ta là quân đội nhân dân, do dân đẻ ra, vì dân mà chiến đấu, yêu nước, yêu dân, cho nên hy sinh kham khổ”. Cán bộ phải gương mẫu, làm gương cho cấp dưới: “Bộ đội chưa ăn, cán bộ không được kêu mình đói; bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét; bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt”. Ðể chuẩn bị hành trang, tri thức quân sự cho bộ đội, Người đã viết hàng chục bài báo giới thiệu về Binh pháp của Tôn Tử, về chiến lược, chiến thuật, cách đánh.

Trong kháng chiến, Người luôn quan tâm, theo dõi từng bước trưởng thành của quân đội, gửi thư thăm hỏi, động viên và khen thưởng kịp thời mỗi khi bộ đội ra trận, đi chiến dịch, lập được chiến công. Không những thế, trong Chiến dịch Biên giới Thu-Ðông năm 1950, một chiến dịch tạo nên bước ngoặt cơ bản của cuộc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đích thân ra trận, ngay từ khi chuẩn bị trận đánh mở màn, có ý kiến quyết định chọn mục tiêu tiến công mở màn chiến dịch, cũng như đi quan sát trực tiếp vị trí này (Ðông Khê) trước khi bộ đội ta nổ súng tiến công.

Trong Chiến dịch lịch sử Ðiện Biên Phủ, Người cùng Ban Chấp hành Trung ương Ðảng đã có những quyết định táo bạo, sáng suốt, kịp thời, lãnh đạo, chỉ đạo quân và dân ta chiến đấu giành toàn thắng, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến 9 năm.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Hòa bình lập lại, đất nước tạm thời chia làm hai miền. Ở miền bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp gỡ, dặn dò cán bộ Ðại đoàn 308 Quân Tiên phong trước khi về tiếp quản thủ đô Hà Nội. Người dặn dò: “Ngày xưa các Vua Hùng đã có công dựng nước, ngày nay, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa Hội nghị Trung ương vào năm 1956, ra Nghị quyết nêu rõ: “Cần củng cố các lực lượng vũ trang và bán vũ trang hiện có ở miền nam, xây dựng làm căn cứ, làm chỗ dựa, đồng thời xây dựng cơ sở quần chúng vững mạnh làm điều kiện căn bản để duy trì và phát triển lực lượng vũ trang”. Người thường xuyên gặp gỡ, động viên dặn dò cán bộ quân sự được tăng cường cho chiến trường miền nam. Người dành thời gian gặp gỡ, trò chuyện với cán bộ, anh hùng, dũng sĩ từ miền nam ra thăm miền bắc. Với Người, “miền nam luôn ở trong tim”.

Nhiều cuộc thao diễn quân sự của các đơn vị quân đội đã được Người quan tâm theo dõi. Ði thăm các đơn vị đang huấn luyện cũng như chuẩn bị sẵn sàng đánh trả cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ, Người nhắc nhở: Bộ đội cũng ví như con dao, cái súng, không lau chùi sẽ hỏng. Chăm chỉ luyện tập sẽ tiến bộ. Người luôn quan tâm chỉ đạo xây dựng “một quân đội nhân dân hùng mạnh, một quân đội cách mạng tiến lên chính quy, hiện đại”, xây dựng các quân chủng, binh chủng Hải quân, Không quân, Phòng không, Xe tăng-Thiết giáp, Ðặc công, xây dựng tuyến vận tải chi viện chiến lược Trường Sơn…

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt tới sự nghiệp xây dựng quân đội cách mạng chính quy, hiện đại, trăm trận trăm thắng. Dưới sự dìu dắt, chỉ bảo trực tiếp của Người, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội ta luôn tâm niệm và thực hiện lời dạy của Người: “Quân đội ta trung với Ðảng, trung với nước, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”, để mãi xứng đáng là Bộ đội Cụ Hồ.

BTS
Theo ND

cpv.org.vn

Học tập quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng của Hồ Chủ tịch

Chủ tịch Hồ Chí Minh với công nhân. Ảnh: Tuấn Anh

Ngày 19-5-1950, mừng Hồ Chủ tịch 60 tuổi và chúc Hồ Chủ tịch sống lâu, chúng ta cần nhắc nhở cái gì của Hồ Chủ tịch, học tập cái gì của Hồ Chủ tịch? Nhân ngày vui mừng hôm nay của quốc dân đồng bào, những điều chúng ta cần nhắc nhở, học tập của Hồ Chủ tịch rất nhiều, nhưng theo ý tôi trong giai đoạn chuẩn bị tổng phản công này, chúng ta cần hơn hết nhắc nhở và học tập quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng của Hồ Chủ tịch, vì đó là bài học trọng yếu hơn hết, quý báu hơn hết trong sự nghiệp cách mạng của Người.

Quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng của Hồ Chủ tịch là gì?

Đó là điều cốt yếu hơn hết của sự nghiệp cách mạng của Hồ Chủ tịch.

Đời sống của Hồ Chủ tịch là một đời hy sinh chiến đấu cho cách mạng. Trải qua hơn 40 năm nay bôn ba khắp bốn phương, thu nhặt tinh hoa của tư tưởng tiến bộ nhất thế giới ngày nay: Lý luận Mác – Lênin, Hồ Chủ tịch luôn luôn nhằm mục đích giải phóng dân tộc Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám là một bước thành công lớn lao trong sự nghiệp cách mạng của Hồ Chủ tịch và thành công được là nhờ Hồ Chủ tịch đã đoàn kết nhân dân Việt Nam, đông đảo quần chúng lao khổ Việt Nam và dìu dắt họ chiến đấu anh dũng.

Cách mạng thành công, Hồ Chủ tịch sáng lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là Nhà nước của nhân dân Việt Nam, vì nhân dân Việt Nam và do nhân dân Việt Nam. Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là của nhân dân Việt Nam, nghĩa là nó không phải của thực dân Pháp, hay của một số ít người nào có quyền lợi địa vị chống với nhân dân; mà là của tất cả người Việt Nam yêu nước, trong đó đại đa số là quần chúng lao khổ công nông và tiểu tư sản thành thị. Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là vì nhân dân Việt Nam, nghĩa là nhà nước ấy phục vụ nhân dân Việt Nam chứ không phải vì kẻ nào khác, phục vụ kẻ nào khác. Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là do nhân dân Việt Nam nghĩa là do tất cả người Việt Nam yêu nước, do đông đảo quần chúng công, nông, tiểu tư sản thành thị lập nên nó, theo dõi nó, kiểm soát nó. Tóm lại, chế độ Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là một chế độ dân chủ nhân dân.

Chính vì Hồ Chủ tịch lãnh đạo thắng lợi cuộc Cách mạng Tháng Tám và sáng lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà của dân, vì dân, do dân cho nên thực dân Pháp muốn đặt lại ách thống trị của chúng trên đất nước Việt Nam, bắt nhân dân Việt Nam quay về cuộc đời nô lệ cũ, đã nhờ phản động quốc tế giúp sức, gây ra cuộc chiến tranh hiện tại. Để chống lại, Hồ Chủ tịch kêu gọi nhân dân đoàn kết kháng chiến, phát động những phong trào quần chúng rộng rãi như tăng gia sản xuất, bình dân học vụ, thi đua ái quốc, v.v. để kiên quyết bảo vệ chiến quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám, bảo vệ chế độ dân chủ cộng hoà đã thành lập. Nếu không phải là một cuộc chiến tranh nhân dân vô cùng sâu rộng, vô cùng mạnh mẽ, vô cùng oanh liệt thì cuộc kháng chiến đã thất bại.

Nội dung quan điểm quần chúng của Hồ Chủ tịch

 

Quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng của Hồ Chủ tịch nghĩa là quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng của chủ nghĩa Mác – Lênin, gồm mấy điều cốt yếu sau này:

1. Tin tưởng sức mạnh, năng lực sáng tạo, năng lực cách mạng của nhân dân, của quần chúng. Lịch sử cách mạng nước ta mấy năm gần đây chứng minh điều này đầy đủ và rõ ràng. Từ việc to đến việc nhỏ, từ toàn quốc đến địa phương, mọi ngành, mọi việc đều như thế.

Đặc biệt Hồ Chủ tịch đã dạy chúng ta không biết bao nhiêu về điều cốt yếu này. Mỗi một chủ trương, mỗi một lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch là một bài học cho chúng ta.

2. Phải biết huy động, tổ chức, lãnh đạo quần chúng nhân dân. Sức mạnh của nhân dân, quần chúng là vô cùng, làm gì cũng được. Nhưng chúng ta phải biết huy động nó, tổ chức nó, lãnh đạo nó để thực hiện những nhiệm vụ cách mạng thích hợp với từng giai đoạn, từng địa phương, từng ngành công tác. Ai ở gần Hồ Chủ tịch cũng biết Hồ Chủ tịch rất chú trọng công tác này, và mỗi khi giao nhiệm vụ cho một cán bộ làm, Người căn dặn rất chu đáo, tỉ mỉ về công tác này. Cả kinh nghiệm của cuộc kháng chiến đã chứng tỏ điểm này rất đúng…

3. Phải luôn luôn sát nguyện vọng của quần chúng nhân dân, nghe ngóng để hiểu biết nguyện vọng của quần chúng nhân dân, tìm tòi phát huy sáng kiến của quần chúng nhân dân, rồi căn cứ vào đó mà chủ trương cho đúng và kịp thời sửa chữa những chủ trương sai lầm.

4. Vì nhân dân, vì quần chúng mà hy sinh chiến đấu. Ba điều trên mật thiết liên quan với điều này. Có tin tưởng quần chúng nhân dân thì mới vì quần chúng nhân dân mà hy sinh chiến đấu để mưu lợi ích cho quần chúng nhân dân, thì mới nghe ngóng nguyện vọng, phát huy sáng kiến của quần chúng nhân dân vào như thế thì mới lãnh đạo được quần chúng nhân dân vào thực hiện nhiệm vụ cách mạng. Trái lại, kẻ nào không tin tưởng quần chúng nhân dân, thiếu tinh thần phục vụ quần chúng nhân dân thì quần chúng nhân dân cũng không tin tưởng mình, còn nói gì lãnh đạo?

Nhân dân Việt Nam tin Hồ Chủ tịch, nghe Hồ Chủ tịch, theo Hồ Chủ tịch, là vì suốt đời Hồ Chủ tịch rất tin tưởng nhân dân Việt Nam, hy sinh chiến đấu vì lợi ích của nhân dân Việt Nam. Hiện nay và sau này, trên con đường cách mạng, Hồ Chủ tịch hy sinh chiến đấu đưa nhân dân tiến đến thắng lợi thì nhân dân lại càng tin tưởng. Đây cũng là trường hợp và kinh nghiệm riêng của mỗi một người chúng ta đối với quần chúng nhân dân.

Chúng ta lãnh đạo quần chúng nhân dân nhưng đồng thời cũng học tập quần chúng nhân dân, chúng ta là thầy dạy nhưng cũng là học trò của quần chúng nhân dân. Chúng ta muốn lãnh đạo thì phải học tập, muốn làm thày dạy thì phải làm học trò quần chúng nhân dân và chúng ta càng học được nhiều bao nhiêu thì càng lãnh đạo vững vàng sáng suốt bấy nhiêu.

*
*     *

Đó là nội dung quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng của Hồ Chủ tịch.

Mỗi một chủ trương, mỗi một lời tuyên bố với quốc dân của Hồ Chủ tịch biểu lộ quan điểm ấy rất rõ rệt, thế mà một số cán bộ chúng ta không nhìn thấy hoặc không làm theo.

Đáng để ý nhất là chỉ thị của Hồ Chủ tịch về việc chuẩn bị tổng phản công là việc rất gian khổ, vì quân thù càng thấy chúng yếu đi, ta mạnh lên thì lại càng nỗ lực, quyết liệt, hung ác liều mạng. Cho nên, chúng ta quyết không được kinh địch, chủ quan. Trái lại, cần đem lời căn dặn của Hồ Chủ tịch giải thích cho sâu rộng, đem kinh nghiệm của địa phương và tình hình toàn quốc mà chứng minh, để huy động, tổ chức, lãnh đạo quần chúng nhân dân đoàn kết rộng rãi, chặt chẽ hơn nữa, hy sinh chiến đấu mạnh mẽ, oanh liệt hơn nữa.

Quân thù đang cố gắng bội phần và phản động quốc tế cũng đang tiếp viện cho nó bội phần.

Chính phủ ra lệnh tổng động viên chính là để tăng cường gấp bội và gấp bội lực lượng chiến đấu của chúng ta về mọi mặt.

Muốn đối phó sự cố gắng của phe địch, và chuyển sang tổng phản công, chúng ta phải nhờ cậy vào đâu? Hiển nhiên là chúng ta nhờ cậy vào sức lực của nhân dân, của đông đảo quần chúng lao khổ: công, nông, tiểu tư sản thành thị. Chính phủ đã ra lệnh tổng động viên. Đó là lệnh của chính quyền. Đó là pháp luật của Nhà nước. Nhưng cốt yếu căn bản là chúng ta phải có sự đồng tình, sự tham dự hăng hái của nhân dân…

Kịp thời sửa chữa khuyết điểm

 

Muốn làm được sự việc ấy, chúng ta cần sửa chữa kịp thời những khuyết điểm khá nặng sau đây:

1. Kém giải thích

 

Ở Hội đồng Chính phủ, mỗi khi có chủ trương một việc gì mà nhân dân phải làm thì Hồ Chủ tịch nhắc phải nhở dân vận. Dân vận trước hết và cốt yếu là giải thích, và đó là trách nhiệm của cán bộ các ngành, chứ không phải chỉ là trách nhiệm của cán bộ tuyên truyền và dân vận.

Không giải thích đầy đủ cho nhân dân hiểu để nhân dân đồng tình và hăng hái tham dự, chỉ dùng mệnh lệnh mà gọi người đi làm đường, đưa giấy đến bắt buộc bán thóc thì làm sao nhân dân khỏi liên tưởng đến những chuyện như thế ngày xưa, thì làm sao tránh những lời nói, những cử chỉ đáng tiếc của nhân dân trong lúc nhà neo gạo kém, mà nguyên nhân là vì không hiểu. Làm như thế là quan liêu, nặng chút nữa là quân phiệt. Và làm như thế lại không được việc. Trái lại nếu chúng ta biết giải thích đầy đủ cho nhân dân hiểu thì nhân dân sẽ vui lòng đi làm đường, vui lòng bán thóc cho Chính phủ, vì đó là để chuẩn bị tổng phản công. Tổng phản công đánh đuổi thằng giặc thực dân, người Việt Nam nào lại không thích, người Việt Nam nào sau mấy năm kháng chiến mà lại không sẵn sàng đóng góp tất cả khả năng sức lực của mình để chuẩn bị mau chóng đầy đủ, để mau “chuyển”.

2. Không biết cùng nhân dân bàn bạc

 

Dân chủ, nghĩa là cùng với nhân dân thương lượng bàn bạc, nhờ nhân dân giúp chúng ta làm kế hoạch thích hợp để thi hành.

Nếu cán bộ chúng ta biết làm như thế thì chúng ta đã tránh cái tệ người ở hướng Đông phải đi năm ngày để sửa đường ở hướng Tây trong lúc người ở hướng ấy cũng phải đi năm ngày để sửa đường ở hướng Đông. Nếu chúng ta biết làm như thế thì chúng ta đã tránh chi tệ nhà thừa thóc thì không ai động đến trong lúc nhà thiếu ăn cứ chạy thóc, bán cho Chính phủ.

Chính chỗ này là chỗ cần nhớ đến, hiểu đúng và biết đúng quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng. Trước khi làm việc gì bao giờ chúng ta cũng có kế hoạch, kế hoạch ấy chúng ta đã cố gắng căn cứ đúng sức lực của nhân dân. Nhưng chỉ đến lúc thi hành cùng với nhân dân bàn bạc thì mới thấy rõ kế hoạch ấy đúng chừng nào. Do đó, chúng ta sửa chữa, làm cho đầy đủ, cụ thể, chi tiết hơn.

Ỷ vào mệnh lệnh, chỉ biết căn cứ vào kế hoạch làm trong bàn giấy rồi nhắm mắt bắt nhân dân làm, không biết giải thích cho nhân dân hiểu, không cùng nhân dân bàn bạc, là quan liêu, nặng chút nữa là quân phiệt, là trái với giáo huấn của Hồ Chủ tịch, là hại nước, hại dân, là phải phản đối, phải bài xích, phải đánh đổ. Có người nói Chính phủ đã ra lệnh tổng động viên, đã giao kế hoạch làm đường, mua thóc cho địa phương thi hành thì địa phương phải thi hành. Đúng, địa phương phải thi hành, nhưng Chính phủ đã căn dặn, Đoàn thể đã căn dặn, Hội nghị kháng chiến hành chính toàn quốc lần thứ ba đã căn dặn: phải giải thích, bàn bạc với nhân dân, động viên tinh thần cách mạng của nhân dân, phát huy sức hy sinh chiến đấu của nhân dân để thi hành lệnh tổng động viên nhân lực, vật lực, tài lực, để thực hiện kế hoạch làm đường và thu thóc.

Muốn thi hành đầy đủ lệnh tổng động viên này, dân vận là cần thiết. Có thể nói hơn nữa: Không có dân vận thì không thể thi hành được.

Cho nên, người nào không biết dân vận – không giải thích cho nhân dân hiểu, không cùng nhân dân bàn bạc – mà không thi hành được lệnh tổng động viên hoặc nếu thi hành được mà nhờ cưỡng bức và làm nhân dân oán trách, thì người ấy có lỗi, thậm chí có tội.

Đáng lỗi, đáng tội nhất là những người vì quyền lợi cá nhân, ích kỷ của mình mà cưỡng bức nhân dân đóng góp quá sức trong lúc bản thân mình trốn tránh mọi sự đóng góp và dung túng bà con, bè bạn mình trốn tránh mọi sự đóng góp. Đặc biệt cán bộ chính quyền, cán bộ đoàn thể trong nhân dân mà lại lợi dụng quyền bính, uy tín để làm những việc trái pháp luật kể trên thì chúng ta quyết không dung thứ.

Hồ Chủ tịch nói: Chí công vô tư. Công là của Chính phủ, của đoàn thể, công là của nhân dân. Bọn sâu mọt kể trên chỉ coi trọng quyền lợi cá nhân, ích kỷ của mình và bà con thân thuộc và vì đó mà làm sai lạc ý nghĩa tác dụng chủ trương của Chính phủ, của Đoàn thể, làm hại đến quyền lợi của cuộc kháng chiến thần thánh. Bọn sâu mọt này cũng vì chỉ biết quyền lợi cá nhân ích kỷ của mình mà đã phạm nhiều sự sai lầm trong việc thi hành giảm tô, trong việc mua thóc khao quân, nay trong lúc thi hành tổng động viên này, nếu chúng ta không kịp thời sửa chữa kẻ nào còn sửa chữa được, đồng thời thanh trừ và trừng phạt xứng đáng kẻ có tội, thì chúng sẽ làm hại công cuộc của chúng ta không ít.

Lại còn một số cán bộ khác mà nhân đây, cũng cần vạch mặt ra mà bảo cho họ biết: Các anh cũng là người làm trái hẳn giáo huấn của Hồ Chủ tịch. Đó là những người không cần kiệm liêm chính, những người xoay giấy tờ, sổ sách để có tiền ăn xài, tiệc tùng xa xỉ. Nhân dân đã thốt ra câu: Xôi thịt lối mới. Đúng. Trong lúc nhân dân vì thiên tai, vì địch phá, vì đóng góp cho bộ đội phải thắt cái bụng lại, ăn độn, ăn thiếu, thế mà có những cán bộ dám bỏ ra hàng vạn để chi tiêu vào những việc xa xỉ hoặc không ích lợi lắm. Trong số này, phần lớn là vô ý thức – cố nhiên vô ý thức vẫn có lỗi, còn một số thì đích đáng là kẻ gian, cần thanh trừ và trừng phạt.

Hồ Chủ tịch dạy chúng ta: Chí công vô tư, cần kiệm liêm chính và suốt đời hy sinh tất cả để phục vụ nhân dân, quần chúng. Đó cũng là một mặt của quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng của Hồ Chủ tịch. Tôi tưởng chúng ta nên chú trọng mặt này, vì nó có ảnh hưởng nhiều đến cả quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng nói rõ ở trên. Nếu cán bộ chúng ta, cán bộ quân, dân, chính mà không chí công vô tư, không cần kiệm liêm chính, nghĩa là tự tư tự lợi, tham ô nhũng lạm thì còn nói gì làm việc nước, việc dân, làm sao kêu gọi nhân dân, giải thích cho nhân dân, bàn bạc với nhân dân đóng góp tất cả khả năng nhân lực, vật lực, tài lực của mình để chuẩn bị tổng phản công. Hồ Chủ tịch thường nhắc chúng ta: cán bộ phải làm gương mẫu. Ý nghĩa câu ấy là như thế.

Chúng ta luôn luôn hô khẩu hiệu: Hồ Chủ tịch muôn năm, như thế chưa đủ, chúng ta còn phải học tập thấm nhuần cả tác phong của Hồ Chủ tịch, đặc biệt là quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng của Hồ Chủ tịch…

Phạm Văn Đồng
(Bài viết nhân kỉ niệm lần thứ 60 Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, năm 1950, sách “Phạm Văn Đồng: Hồ Chủ tịch, lãnh tụ của chúng ta”.)

Hochiminhhoc.com
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi Hội nghị Vécxây

Tháng 6 năm 1919, nghe tin các đoàn đại biểu mười mấy nước Đồng minh chiến thắng họp ở Vécxây cách thủ đô Pari 14 km, Nguyễn Tất Thành bàn với nhà yêu nước Phan Châu Trinh và luật sư, tiến sĩ Phan Văn Trường viết bản ”Yêu sách của nhân dân An Nam” gửi Hội nghị Vécxây.

Nhà yêu nước họ Phan trịnh trọng nói:

– Bảy điều yêu sách mà anh Thành nêu ra, theo tôi thật là xác đáng và đúng như bọn mình thường trao đổi với nhau. Chú Trường xem có nên thêm điều gì không?

– Tôi thấy thế là tốt… Thử xem còn vấn đề gì về quyền của nhân dân ta cần đòi…- Văn Trường nói và gõ nhẹ vào trán mình theo thói quen của ông khi cần suy tính một điều gì.

– Thưa hai bác – Tất Thành lên tiếng – Hôm trước cháu phác thảo ra 7 điều yêu sách đưa hai bác xem, nhưng đêm hôm qua cháu mới nảy thêm một ý. Cháu thấy rằng ở Đông Dương, bọn quan lại chỉ dựa vào các sắc lệnh của tên toàn quyền để cai trị dân ta mà không hề có luật. Cháu muốn đưa thêm một điều yêu sách nữa: “Thay thế chế độ sắc lệnh bằng chế độ luật pháp”.

– Đúng! Đúng. Luật sư họ Phan sôi nổi hưởng ứng. Muốn cho dân ta có tự do thì phải đòi họ cai trị theo luật pháp!

Tôi cũng tán đồng! Phan Châu Trinh nói như kết luận buổi gặp mặt. Bây giờ ta làm thế nào để chuyển bản Yêu sách tới Hội nghị Vécxây đây?

Tất Thành:

– Thưa bác, cháu nghĩ rằng phải nhờ bác Phan Văn Trường viết ngay ra bằng tiếng Pháp thì mới kịp.

Hai ngày sau, Nguyễn Tất Thành đã ngồi bên luật sư Phan Văn Trường, trước bản ”Yêu sách của nhân dân An Nam” vừa thảo xong bằng tiếng Pháp.

– Chúng ta sẽ đứng tên dưới bản yêu sách này như thế nào đây? Bác đứng tên nhé. Nguyễn Tất Thành nêu ý kiến.

– Không! Phan Văn Trường đáp – bản Yêu sách này tuy là tôi chấp bút viết ra bằng tiếng Pháp. Nhưng tôi phải viết chỉ vì anh chưa thông thạo Pháp văn mà thôi, chứ sáng kiến lớn lao này là của anh, và hầu hết ý kiến nêu ra trong bản Yêu sách cũng là của anh.

– Thưa bác, sáng kiến của cháu cũng chỉ là phản ánh nguyện vọng chung của những người yêu nước chứ có phải của riêng cháu đâu. Bác là một nhân vật có danh tiếng, bà con Việt kiều trên đất Pháp đều biết bác là một luật sư yêu nước dám bênh vực công lý, che chở cho bà con. Bác đứng tên cho bản yêu sách này thì giá trị của nó càng cao, ảnh hưởng của nó càng rộng.

– Không! Không thể được! Tôi tuy có chút danh vọng hơn anh ngày nay, nhưng cái tâm, cái chí của anh còn lớn hơn tôi nhiều. Vả lại về nguyên tắc, người trí thức không được phép lấy công người khác làm công của mình: “Cái gì của Xêda thì phải trả lại cho Xêda”.

Đó mới là lẽ phải. Chẳng những tôi không thể đứng tên, mà bác Hy Mã Phan Châu Trinh cũng không nên đứng tên.

Cuộc trao đổi giữa hai nhà yêu nước đi tới kết luận: dùng một cái tên gì tiêu biểu cho nguyện vọng chung của nhân dân, nhưng phải là tên một cá nhân thì tính chất pháp nhân của văn bản mới có giá trị. Cuối cùng anh Nguyễn quyết định tự mình đứng mũi chịu sào với cái tên chung cho tấm lòng của mọi người. Anh ký:

Thay mặt nhóm những người yêu nước An Nam

NGUYỄN ÁI QUỐC

Ngay buổi chiều hôm ấy, sau khi bản Yêu sách được gửi đi, anh Nguyễn rời khỏi nhà số 6 đường Vila đê Gôbơlanh, nơi anh vẫn ở với luật sư Phan Văn Trường. Anh sống bí mật, đề phòng sự truy lùng ráo riết của bọn mật thám Bộ Thuộc địa Pháp.

Vào buổi sáng sớm có người đến bấm chuông căn nhà số 6 phố Đôbinhi. Đây là nhà của Giuyn Cămbông, đại sứ cũ của Pháp ở Đức, hiện là thành viên của đoàn đại biểu Pháp đi dự Hội nghị Vécxây. Giơnơvievơ Tabui, cô cháu gái trẻ của Cămbông ra mở cửa. Sau này cô là một nhà báo nổi tiếng, nhưng lúc bấy giờ cô là thư ký của cậu cô. Người bấm chuông là một thanh niên châu Á, mảnh khảnh, có khuôn mặt cởi mở, dễ mến, đôi mắt to, sáng long lanh. Anh lịch sự chào cô và nói bằng thứ tiếng Pháp không sõi:

– Tôi muốn trao cho ngài đại sứ Cămbông một văn kiện.

Giơnơvievơ mời khách đến sớm vào nhà rồi ra hiệu cho khách ngồi xuống cạnh chiếc bàn dài chạm trổ theo kiểu đế chế. Chiếc bàn này hiện nay vẫn kê trong phòng khách gia đình Tabui. Cô gái hỏi người thanh niên là ai?

– Thưa cô, tôi là Nguyễn Ái Quốc, tôi muốn gặp ngài Cămbông.

Chàng thanh niên lấy ra một cuốn giấy buộc bằng dây mảnh. Anh mở ra và trao cho cô gái.

– Tôi đến đây để trao cho ngài đại sứ “bản trần tình” của nhân dân Đông Dương.

Có thể thấy ngay là những tờ giấy trong cuộn giấy viết bằng một thứ chữ rất đẹp. Tờ đầu tiên là bức thư gửi cho chủ nhà:

”Thưa ngài đại sứ Cămbông, đại điện toàn quyền của nước Pháp tại Hội nghị Vécxây. Tôi là người đại diện cho nhân dân Đông Dương. Chúng tôi là một dân tộc chậm phát triển, chúng tôi đã được biết thế nào là nền văn minh của nước Ngài …”.

Tài liệu mà người thanh niên châu Á mang đến có tên là “Bản Yêu cách của nhân dân An Nam”. Bản Yêu sách viết:

“Trong khi chờ cho nguyên tắc dân tộc sẽ từ lĩnh vực lý tưởng chuyển vào lĩnh vực hiện thực do chỗ quyền tự quyết thiêng liêng của các dân tộc được thừa nhận thật sự, nhân dân nước An Nam trước kia, nay là xứ Đông – Pháp, xin trình với các quý Chính phủ trong Đồng minh nói chung và với Chính phủ Pháp đáng kính nói riêng, những yêu sách khiêm tốn sau đây:

1. Tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị;

2. Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luậtnhư người Âu châu; xóa bỏ hoàn toàn các toà án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam;

3. Tự do báo chí và tự do ngôn luận;

4. Tự do lập hội và hội họp;

5 Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương;

6. Tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ;

7 Thay thế chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật;

8. Đoàn đại biểu thường trực của nguời bản xứ, do người bản xứ bầu ra, tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ.

Vài ngày sau, các đoàn đại biểu khác tham gia Hội nghị và nhiều nghị sĩ Pháp cũng nhận được bản yêu sách tương tự như vậy. Kèm theo bản yêu sách có bức thư ngắn:

“Thưa ngài! Nhân dịp chiến thắng của Đồng minh, chúng tôi xin mạn phép gửi để Ngài kèm theo đây bản ghi những yêu sách của nhân dân An Nam. Tin tưởng ở sự độ lượng cao cả của Ngài, chúng tôi mong Ngài ủng hộ bản yêu sách này trước những người có thẩm quyền.

Thay mặt nhóm những người An Nam yêu nước: Nguyễn Ái Quốc”.

Người ta nhiều lần bắt gặp người thanh niên Việt Nam kiên trì này với tập giấy tờ cặp dưới nách tại các hành lang ồn ào, mù mịt khói thuốc của các ban biên tập báo ở Pari, trong các gian phòng chật chội do các công đoàn và đảng Xã hội thuê để tổ chức các cuộc họp và mít tinh.

Lui Ácnu, Trưởng ban Đông Dương của Sở Mật thám Pháp, sau này là Chánh mật thám Pháp ở Đông Dương, nhún vai khi nghe báo cáo về hành động của một người nào đó tên là Nguyễn Ái Quốc và về nội dung một ”tài 1iệu chống Pháp” đang được người đó phân phát khắp nơi. Do nghề nghiệp đòi hỏi, Ácnu hầu như biết rất rõ mọi người An Nam khả nghi sống ở Pari, được báo cáo tỉ mỉ về bước đi của “những kẻ chủ mưu gây bất an” từ Đông Dương sang. Một trong những người đó là Phan Châu Trinh, mở một hiệu ảnh và thực tế đã ngừng hoạt động chính trị. Vả lại, hành động “khiêu khích” như vậy vốn không phải là Phan Châu Trinh, vì ông lúc nào cũng có thái độ kính nể nước Pháp. Một người khác là luật sư Phan Văn Trường, cũng sống ở Pari, được coi là nhà mácxít, nhưng chỉ là người dịch sách báo chính trị ra tiếng Việt và không bao giờ tham gia làm những việc như vậy. Chỉ còn một người duy nhất trong số những nhân vật quen biết cũ của Sở Mật thám dám cả gan làm việc này là Phan Bội Châu. Nhưng Ácnu biết chắc chắn Phan Bội Châu đang ở một nơi nào đó tại miền Nam Trung Quốc, hơn nữa, mới đây ông ta có cho đăng một bài báo, lời lẽ rất ôn hoà có lợi cho chủ trương hợp tác Pháp – Việt.

Vào lúc đó, cả Ácnu – kẻ có con mắt cú vọ, nhòm ngó khắp nơi, thậm chí cả những người bạn gần gũi của người yêu nước trẻ tuổi đã cả gan cất lên tiếng nói bảo vệ nhân dân bị áp bức của mình ngay giữa trái tim của bọn đế quốc Pháp cũng không biết được và cũng không thể ngờ rằng, Nguyễn Ái Quốc – tác giả bản Yêu sách, anh Văn Ba – người phụ bếp trên tàu biển, cậu bé ham hiểu biết Nguyễn Tất Thành – người con trai quan Phó bảng duy nhất ở làng Sen, cũng chỉ là một người mà thôi./.

(Trích trong Kể chuyện Bác Hồ, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2006)

cpv.org.vn

Bác Hồ với mùa xuân thứ 79 của mình

Bác Hồ tham gia Tết trồng cây tại Hà Tây năm 1969

Từ năm 1948, trong cuốn Hồ Chủ tịch, hình ảnh của dân tộc, nhà cách mạng Phạm Văn Đồng đã viết: Hồ Chủ tịch là người Việt Nam, Việt Nam hơn người Việt Nam nào hết. Ngót ba mươi năm bôn tẩu bốn phương trời, Người vẫn giữ thuần tuý, phong độ, ngôn ngữ, tính tình, của một người Việt Nam”.

Quả vậy, Bác Hồ là một trong số ít nhà lãnh tụ sống gần gũi với nhân dân, hoà mình trong quần chúng nhân dân, sống giản dị như mọi người dân bình dị khác. Nhớ lại đêm giao thừa của Tết độc lập đầu tiên, năm 1946, Bác đã cùng đồng bào Thủ đô đi hái lộc Đền Ngọc Sơn, bên Hồ Hoàn Kiếm trong cảnh chen chúc của đêm giao thừa ấm cúng. Và sau đó, hầu như năm nào Bác cũng đi thăm và chúc Tết đồng bào, chiến sỹ.

Một ngày áp Tết Kỷ Dậu 1969, sau khi nghe đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký riêng của Bác báo cáo chương trình tuần làm việc tới, Bác nói với đồng chí Vũ Kỳ:

– Tết năm ngoái Bác không đi thăm đồng bào và bộ đội được, năm nay các chú chuẩn bị cho Bác đi chúc Tết vài nơi. Nghe Bác nói vậy, các đồng chí phục vụ rất lo lắng. Sức khỏe của Bác bây giờ không còn được như trước nữa. Các bác sỹ chăm sóc sức khỏe cho Bác đã báo cáo Trung ương và đề nghị một số điều cần tránh đối với Bác là tránh những xúc động mạnh, tránh đi lại nhiều… Vì vậy, các đồng chí phục vụ có ý trì hoãn cuộc đi của Bác. Nhưng chỉ hai ngày sau, Bác đã hỏi lại việc này đồng chí Vũ Kỳ báo cáo:

– Thưa Bác, tôi đang liên hệ với các nơi.

Bác nói:

– Chú liên hệ như thế thì làm sao giữ được bí mật.

– Đồng chí Vũ Kỳ đáp:

– Dạ thưa, tôi cũng chỉ mới gọi điện thăm dò thôi ạ.

Bác nói luôn:

– Thôi chú không phải thăm dò gì cả. Chú có nhớ Bác mới phát động Tết trồng cây năm nay là năm thứ mấy rồi không?

– Thưa Bác, năm thứ 10 ạ – đồng chí Vũ Kỳ trả lời.

– Đúng, nhân dịp kỷ niệm 10 năm Tết trồng cây, chú bố trí cho Bác đi trồng cây ở một địa phương có thành tích.

Và Bác đã đề nghị các đồng chí phục vụ chuẩn bị cho Bác đi thăm và trồng cây ở xã Vật Lại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây. Bác còn lưu ý, sau khi thăm và trồng cây ở Vật Lại, Bác sẽ thăm một đơn vị bộ đội đóng quân ở Ba Vì, thăm trại chăn nuôi của Anh hùng Hồ Giáo và thăm một trường học cũng ở gần đấy. Bác còn dặn thêm đồng chí Vũ Kỳ:

– Chú nhớ đến đồi cây Vật Lại, chúng ta sẽ trồng thêm môt cây đa.
Thấy chương trình đi chúc Tết của Bác quá nhiều, các đồng chí phục vụ rất lo lắng, song không dám có ý kiến gì. Ngày Tết, Bác đi thăm đồng bào, thăm bộ đội, Bác về với nhân dân, song sức khỏe của Bác lúc này giảm sút rất nhiều, khiến ai cũng phân vân. Các đồng chí phục vụ đã báo cáo Trung ương, đề nghị Bác cho giảm bớt chương trình, nhưng Bác không đồng ý. Không thay đổi được ý định của Bác, bộ phận phục vụ đã đề nghị Bác đi thăm và chúc Tết quân chủng Phòng không – Không quân, vì đơn vị này đóng quân ngay tại Hà Nội. Bác đồng ý. Bổ sung đơn vị này, mọi người có ý định khi Bác ở thăm, sẽ kéo dài chương trình một chút để khi lên tới Vật Lại, Ba Vì trồng cây xong là hết buổi sáng, Bác sẽ không còn thời gian để đi các nơi khác nữa. Đúng 7 giờ sáng mồng một Tết Kỷ Dậu (16 tháng 2 năm 1969), các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Văn Tiến Dũng và anh em phục vụ đã đưa Bác đi thăm và chúc Tết quân chủng Phòng không – Không quân. Gặp bộ đội, Bác rất vui. Hôm ấy là ngày chủ nhật, nhưng theo kế hoạch đã được Văn phòng Chủ tịch nước báo trước, quân chủng Phòng không – Không quân tổ chức hội nghị điển hình tiên tiến, vì vậy rất nhiều đại biểu là anh hùng, chiến sỹ thi đua được báo công với Bác. Nghe những báo cáo ấy, Bác phấn khởi hẳn lên.

Khi chia tay bộ đội để tiếp tục chương trình thì đã quá 9h30. Đồng chí Vũ Kỳ báo cáo với Bác là đã hẹn với lãnh đạo tỉnh Hà Tây 10h đón Bác tại thị xã Sơn Tây để đi trồng cây. Vì vậy, sẽ không còn thời gian rẽ vào Ba Vì để thăm đơn vị bộ đội nữa. Bác đồng ý.

Khoảng 11h trưa, Bác đến Vật Lại. Tại đây, Bác tham gia trồng cây với mọi người. Sau đó, Bác vui vẻ cùng mọi người quây quần dưới tán bạch đàn. Bác thân mật hỏi chuyện từng người. Bác dặn: “Phải dân chủ với dân. Phải để cho dân phê bình cán bộ, đảng viên”. Thật là một hình ảnh đẹp. Một vị Chủ tịch nước, một lãnh tụ tối cao của dân tộc cùng ngồi đàm đạo với nhân dân về việc “trồng người”, ngay sau khi vừa làm xong việc trồng cây, giữa ngày xuân. Buổi sáng ngày mồng một Tết, ngày đầu tiên của mùa xuân thứ bảy mươi chín của Bác Hồ là như vậy.

Ngày mùng một Tết Kỷ Dậu năm 1969 ấy là dịp cuối cùng Bác đi thăm chúc Tết đồng bào và bộ đội, là mùa xuân cuối cùng Bác tham gia trồng cây. Nhưng phong trào Tết trồng cây được Người khai sinh từ mùa xuân năm Canh Tý 1960 đến ngày nay vẫn được duy trì.

Đã ba mươi tám mùa xuân Bác đi xa, nhưng sự nghiệp của Bác, tư tưởng và tình cảm, đạo đức và tác phong của Bác vẫn mãi mãi song hành cùng dân tộc, cùng non sông đất nước ta.

LÂM BẰNG

Theo vtr.org.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ và những ngày Tết đáng nhớ tại Hà Nội

Bác Hồ đến thăm và chúc Tết cán bộ, chiến sỹ cảnh vệ Xuân Quý Mão 1963. (Ảnh tư liệu)

Sinh thời, Bác Hồ kính yêu đã nhiều lần đón Xuân cùng nhân dân Hà Nội. Trong những ngày Tết cổ truyền, hòa trong dòng người đi hái lộc, du Xuân, Bác đến xông nhà, chúc phúc đầu Xuân, mang may mắn đến cho các gia đình, nhất là những gia đình nghèo còn gặp nhiều khó khăn.

Tết Bính Tuất năm 1946

Trong cái Tết độc lập đầu tiên, vào đêm giao thừa, Bác đến thăm một số gia đình lao động nghèo và một số nhân sỹ trí thức ở Hà Nội. Sau đó, Bác cải trang như người dân thường đến thăm Đền Ngọc Sơn, hòa trong niềm hân hoan của nhân dân đón khoảnh khắc thiêng liêng chuyển giao giữa năm cũ và năm mới.

Tết Bính Thân năm 1956

Ngày mồng 1 Tết, Bác đến thăm anh em miền Nam tập kết xa nhà và thăm Trường Cán bộ dân tộc thiểu số. Sau đó, Bác đi chúc Tết đại biểu nhân dân của Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội.

Tết Đinh Dậu năm 1957

Sáng mồng 1 Tết, Bác về thăm và chúc Tết một số gia đình cơ sở cách mạng cũ ở thôn Phù Gia, xã Phú Thượng, huyện Từ Liêm (nay là quận Tây Hồ, Hà Nội) như gia đình cụ Công Ngọc Phan, các gia đình ông Môn, bà Kinh, bà Phó Ái.

Nói chuyện với nhân dân trong thôn, Bác chúc đồng bào đoàn kết, đoàn kết quân và dân, thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Sau đó Bác đến thăm và chúc Tết một đơn vị bộ đội bảo vệ Thủ đô, căn dặn cán bộ, chiến sỹ phải thực hiện đoàn kết nội bộ, đoàn kết nhân dân, luôn cảnh giác giữ gìn ý chí chiến đấu, tác phong và kỷ luật quân đội, tiết kiệm, giúp đỡ nhân dân, cố gắng học tập và rèn luyện.

Tết Mậu Tuất năm 1958

Những ngày đầu Xuân năm 1958, Bác đến thăm và chúc Tết một số cơ quan, đơn vị bộ đội tại Hà Nội. Tại Nhà máy Cơ khí Hà Nội (nay là Nhà máy Chế tạo công cụ số 1), sau khi đi thăm khu tập thể công nhân, Người yêu cầu các chi bộ Đảng, công đoàn và đoàn thanh niên cần phải quan tâm cải thiện nhiều hơn nữa đời sống người lao động, phối hợp chặt chẽ vận động công nhân thi đua thực hiện tốt kế hoạch nhà nước năm 1958.

Đến thăm Khu Việt Nam học xá (nay là Trường Đại học Bách khoa Hà Nội), Bác nói với các sinh viên “Học để mà hành, học để phục vụ nhân dân, không phải để làm quan, mà phải trau dồi cả đức, cả tài, không có đức thì vô dụng, không có tài thì làm gì cũng khó.”

Tết Canh Tý năm 1960

Bác thăm công viên Bảy Mẫu (nay là Công viên Thống Nhất) và trồng cây đa tại công viên mở đầu phong trào “Tết trồng cây” do Bác phát động.

Từ đó “Tết trồng cây” đã trở thành truyền thống tốt đẹp của nhân dân Hà Nội và cả nước trong những ngày đón Xuân.

Tết Tân Sửu năm 1961

Đêm giao thừa, Bác đi thăm và chúc Tết gia đình một công nhân Nhà máy gỗ Cầu Đuống; gia đình một cán bộ công đoàn Nhà máy Cơ khí Hà Nội; gia đình một Việt kiều mới về nước; gia đình một xã viên hợp tác xã thủ công nghiệp người Hoa; gia đình bác sỹ Hồ Đắc Di và gia đình giáo sư Tôn Thất Tùng.

Ngày mồng 1 Tết, Bác đến thăm và chúc tết cán bộ chiến sỹ ở một đơn vị công an vũ trang và một đơn vị bảo vệ Thủ đô; cán bộ công nhân Nhà máy Dệt kim Đông Xuân, Nhà máy rượu Hà Nội, Nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo, Nhà máy Văn phòng phẩm Hồng Hà…

Tết Nhâm Dần năm 1962

Tối 30 Tết, Bác cùng đồng chí Nguyễn Lam – Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội, Nguyễn Khai – Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Trần Duy Hưng- Chủ tịch Ủy ban hành chính Hà Nội, đến thăm Câu lạc bộ thiếu nhi và vui Tết với các cháu.

Sau đó, Bác cùng đoàn đi chúc Tết gia đình công nhân Nguyễn Văn Mộc – Chiến sỹ thi đua 5 năm liền của Nhà máy Cao su Sao vàng; cụ Đỗ Văn Điện – Ủy viên Ban đại diện phụ lão khu phố Hai Bà Trưng; giáo sư, thạc sỹ Đặng Văn Chung – Phó Giám đốc Trường đại học y dược; gia đình ông Dương Kỳ Nghiệp – cán bộ miền Nam tập kết; ông Vương Tước Cường – công nhân Hoa kiều; nhà tư sản Nguyễn Chương Hồng – Giám đốc Xưởng cơ khí Công ty hợp doanh Đồng Tháp và một số gia đình lao động ở phố Lý Thái Tổ.

Tiếp đó, Bác đến thăm cán bộ, công nhân Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam đang chuẩn bị cho buổi phát thanh đặc biệt đón giao thừa.

Tết Quý Mão năm 1963

Sáng 29 Tết, Bác thăm chợ Tết Đồng Xuân. Bác đi theo đường Nguyễn Thiệp vào cổng sau của chợ. Người chăm chú quan sát cảnh mua bán tấp nập, dừng chân xem ông đồ viết câu đối Tết, có lúc hỏi giá hàng…

Khi đến thăm chợ hoa, Bác định mua một bó hoa huệ nhưng đồng chí cảnh vệ sợ lộ bí mật nên trả giá rất rẻ để rút lui. Bác nói vui: “Trả giá như chú, cả ngày đi chợ cũng chả mua được gì.”

Tối giao thừa, Bác đi thăm và chúc Tết một số gia đình, đơn vị bộ đội ở Hà Nội; thăm gia đình Anh hùng Lao động ngành công nghiệp Mai Đình Cường; gia đình cụ Võ Thị Xuân, 72 tuổi; ông Phạm Công – Việt kiều mới về nước; nhà tư sản dân tộc Nguyễn Văn Thức và gia đình ông Hồ Đắc Điềm – nhân sỹ trí thức.

Mồng 1 Tết, Bác đi thăm và chúc Tết cán bộ, công nhân Nhà máy ôtô Hòa Bình; bà con xã viên hợp tác xã Huỳnh Cung, xã Tam Hiệp (huyện Thanh Trì), một đơn vị bảo vệ Thủ đô, một đơn vị Cảnh sát Nhân dân quận Hoàn Kiếm và Cục cảnh vệ – Bộ Công an.

Tết Giáp Thìn năm 1964

Tối 30 Tết, Bác đến thăm và chúc Tết cán bộ công nhân tại Khu tập thể Nhà máy cao su, Nhà máy xà phòng, Nhà máy thuốc lá; Khu tập thể cán bộ miền Nam tập kết ở phố Phan Đình Phùng và một số gia đình ở Hà Nội; gia đình công nhân Nhà máy nước Phan Huy Nhật; Trưởng ban bảo vệ khu phố Nguyễn Văn Tố; nhà khoa học Nguyễn Xiển; giáo sư bác sỹ Trần Hữu Tước; Việt kiều Phan Văn Chúc.

Sáng mồng 1 Tết, Bác đến thăm và chúc Tết Huyện ủy, Ủy ban Hành chính huyện Đông Anh; thăm và chúc Tết cán bộ, công nhân trạm biến thế điện và hợp tác xã nông nghiệp Lỗ Khê, xã Liên Hà, huyện Đông Anh, là đơn vị có nhiều thành tích trong phong trào sản xuất và tiết kiệm.

Nói chuyện với bà con nông dân hợp tác xã Lỗ Khê, Bác căn dặn phải chú ý phát triển hoa màu, chăn nuôi, trồng nhiều cây và chăm sóc cây tốt, đẩy mạnh vệ sinh phòng bệnh.

Bác khen câu khẩu hiện bằng thơ ở trên đình làng: “Đón Xuân mở hội làm giàu/ Mừng Xuân cần kiệm lúa màu tốt tươi.”

Sau đó, Bác thăm và chúc Tết cán bộ chiến sỹ Sở Công an Hà Nội.

Tết Ất Tỵ năm 1965

Bác tham gia Tết trồng cây với nhân dân hợp tác xã Phú Diễn, xã Trần Phú, huyện Từ Liêm. Bác chúc Tết bà con xã viên, nghe đồng chí chủ nhiệm hợp tác xã báo cáo tình hình sản xuất và đời sống của nhân dân địa phương.

Bác nhắc nhở hợp tác xã cần phải đẩy mạnh sản xuất hơn nữa và chỉ dẫn tỷ mỉ cách đào giếng nước, xây dựng công trình vệ sinh cho bà con nông dân.

Tết Bính Ngọ năm 1966

Mồng 1 Tết, Bác đi thăm và chúc Tết cán bộ chiến sỹ Đại đội 27, bộ đội Công binh Quân khu 3. Bác khen ngợi đơn vị năm qua đã đạt được nhiều thành tích trong phục vụ chiến đấu, xây dựng các công trình quốc phòng, bắn rơi máy bay Mỹ, góp phần vào thắng lợi chung của toàn dân và toàn quân ta, và căn dặn bộ đội phải dũng cảm chiến đấu và phục vụ chiến đấu, kiên quyết vượt qua mọi khó khăn để giành nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa, đoàn kết tốt, giữ gìn vũ khí trang bị tốt, thực hành tiết kiệm.

Tết Đinh Mùi năm 1967

Sáng mồng 1 Tết, Bác đi thăm và chúc Tết một số đơn vị bộ đội phòng không và không quân bảo vệ Thủ đô. Sau khi nói chuyện với cán bộ chiến sĩ, Bác đến thăm Trung đoàn Không quân tiêm kích 921 (Đoàn Sao đỏ). Bác khen ngợi thành tích của cán bộ chiến sỹ và căn dặn: “Các chú phải học tập rèn luyện hơn nữa. Càng học tập, càng tiến bộ thì đánh địch càng giành thắng lợi.”

Bác tặng quà Tết cho cán bộ chiến sỹ và chúc Không quân nhân dân “Đoàn kết, học tập tiến bộ, đánh giỏi, đạt nhiều thắng lợi mới.”

Tết Kỷ Dậu năm 1969

Đây là cái Tết cuối cùng nhân dân Hà Nội được đón Tết với Bác Hồ kính yêu. Ngày 30 Tết, Bác gửi tặng lẵng hoa cho một số cơ quan, đơn vị ở Hà Nội như khối 30 khu phố Đống Đa, Phân đội 5 Đoàn Công an vũ trang bảo vệ Thủ đô.

Sáng mồng 1 Tết, Bác đến sân bay Bạch Mai thăm Quân chủng Phòng không không quân. Buổi trưa, Bác đến xã Vật Lại (huyện Ba Vì) khai Xuân, trồng cây trên đồi của xã, để lại màu xanh tươi và mùa xuân xanh mãi bất diệt./.

Theo (TTXVN/Vietnam+)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Hồ Chí Minh Một số vấn đề đoàn kết dân tộc trên bình diện quốc tế và kiều bào

Bác Hồ ra tận cảng Hải Phòng đón kiều bào từ Thái Lan về nước - Ảnh quehuongonline.vn

Nói tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết các dân tộc sẽ khiếm khuyết nếu chỉ đề cập đến đoàn kết trong khái niệm dân tộc – tộc người (ethnic) trong phạm vi nội bộ quốc gia mà không đề cập đến tư tưởng của người là đoàn kết dân tộc – quốc gia (nation) với các quốc gia khác trên thế giới và với các Việt kiều, những người có dòng máu Việt Nam nhưng do hoàn cảnh cụ thể nên sinh sống ở nước ngoài, mang quốc tịch của một nước cụ thể trên thế giới.

Nội dung dân tộc, tư tưởng đoàn kết các dân tộc của Hồ Chí Minh trên bình diện quốc gia trong mối quan hệ với quốc tế không có gì khác và mâu thuẫn với tư tưởng đoàn kết các dân tộc trong nước vì mục tiêu giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng đó của Hồ Chí Minh thể hiện tính nhất quán, biện chứng trong “tư duy chiến lược đại đoàn kết” của Người và cũng từ đó đã hình thành nên chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh. Chính từ lòng yêu nước, thương dân; từ truyền thống văn hoá dân tộc; từ sự “hoà đồng” với bạn bè quốc tế trong những năm tháng bôn ba ở nước ngoài.., đã tạo nên chủ nghĩa nhân văn cao cả đó, yếu tố làm nên cái nền vững chắc của đoàn kết dân tộc trong phạm vi quốc gia và quốc tế.

Đoàn kết dân tộc trên tầm quốc tế của Hồ Chí Minh xuất phát từ luận điểm coi cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Người ý thức sâu sắc rằng, cách mạng trong nước sẽ khó thành công nếu không có sự đồng tình, ủng hộ của cách mạng và nhân dân các dân tộc yêu chuộng hoà bình trên thế giới. Đó cũng chính là điểm mạnh và khác biệt giữa Hồ Chí Minh với các chí sĩ yêu nước tiền bối. Người đã khẳng định: “Chính vì biết kết hợp phong trào cách mạng nước ta với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân quốc tế và của các dân tộc bị áp bức mà Đảng ta đã vượt qua được mọi khó khăn đưa giai cấp công nhân và nhân dân nước ta đến những thắng lợi vẻ vang ngày nay”(1).

Shingo Shibata, nhà nghiên cứu Nhật Bản đã nhận xét: “Cống hiến nổi tiếng của cụ Hồ Chí Minh là ở chỗ, Người đã phát hiện quyền lợi của con người thành quyền lợi của dân tộc. Như vậy, tất cả mọi dân tộc đều có quyền tự quyết định lấy vận mệnh của mình và tất cả mọi dân tộc đều có thể và cần phải thực hiện nền độc lập tự chủ”(2).

Khi nghiên cứu về tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh, có ý kiến cho rằng: “Suy đến cùng, có đại đoàn kết được hay không, đại đoàn kết đến mức nào tuỳ thuộc vào việc nhận thức và giải quyết đúng đắn các mối quan hệ lợi ích phức tạp, chằng chéo giữa: cá nhân – tập thể; gia đình – xã hội; bộ phận – toàn thể; giai cấp – dân tộc; quốc gia – quốc tế”(3). Trong các “cặp quan hệ” trên của tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh chúng ta thấy không thể thiếu cặp “quốc gia – quốc tế”. Đó không chỉ là nội hàm trong tư tưởng đại đoàn kết nói chung của Hồ Chí Minh mà còn là trong tư tưởng đoàn kết các dân tộc của Người.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc trên phạm vi quốc tế thể hiện rất rõ phạm vi mức độ, quy mô. Với từng đối tượng quốc tế, Hồ Chí Minh vừa có thái độ chung, vừa có thái độ phân biệt riêng theo “cấp độ ngoại giao”, theo giá trị thiết thực vì quyền lợi của dân tộc Việt Nam và quyền lợi của các dân tộc trên thế giới vì hoà bình, hữu nghị và phát triển của các dân tộc; vì quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc của con người và của các quốc gia. Từ giác độ đó, chúng ta thấy tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc trên phạm vi quốc tế có những biểu hiện trên những khía cạnh sau:

– Đoàn kết với các quốc gia, dân tộc láng giềng.

– Đoàn kết với các quốc gia Đông Nam Á, châu Á.

– Đoàn kết với các tổ chức, quốc gia trên thế giới.

– Đoàn kết với kiều bào.

Với các nội dung đó, chúng ta có thể nhận thấy tư tưởng của Người với các biểu hiện, nhận thức và họat động trong các mối quan hệ quốc tế vừa phong phú đa dạng, vừa cụ thể nhằm thực hiện mục tiêu đoàn kết vì độc lập tự do của đất nước, hạnh phúc của đồng bào.

1. Đoàn kết với các quốc gia, dân tộc láng giềng

Người Việt Nam ta có câu “bán anh em xa mua láng giềng gần”, đó là một thái độ sống, một triết lý nhân văn trong văn hoá ứng xử có truyền thống lâu đời của dân tộc. Hồ Chí Minh trên bình diện văn hoá và tầm nhìn chính trị đã ý thức sâu sắc và thực hiện có hiệu quả tốt truyền thống đó trong đặt nền móng và xây dựng mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt với nhân dân Lào, Campuchia, Trung Quốc, tạo nên thế trận đặc biệt và làm nên hiệu quả cao trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của nhân dân ta.

Ngày 3-3-1951, trong Bài nói tại buổi khai mạc Đại hội thống nhất Việt Minh – Liên Việt, Chủ tịch Hồ Chí Minh không giấu nổi sự sự sung sướng trước sự đoàn kết của các tổ chức và nhân dân Việt Nam, Cao Miên và Ai Lao. Có lẽ, ít khi ta bắt gặp một thái độ sung sướng của Hồ Chí Minh đến vậy. Cái căn nguyên dẫn đến sự sung sướng của Hồ Chí Minh chính là sự phát triển của tinh thần và xu thế đoàn kết của các dân tộc ở Đông Dương. Hồ Chí Minh đã dùng các cụm từ biểu hiện những cấp độ phấn khởi, sung sướng mà ít khi ta bắt gặp trong các bài nói, bài viết khác, như: “Tôi rất sung sướng” ở mở đầu bài nói, rồi “sung sướng không thể tả”, “lòng tôi sung sướng vô cùng” và “tôi sung sướng hơn nữa” ở các đoạn tiếp sau.
Vì sao Hồ Chí Minh có những sự sung sướng mà ít khi bộc lộ đó? Phải chăng vì Người đánh giá rất cao kết quả và ý nghĩa của Đại hội Thống nhất Việt Minh – Liên Việt; là vì “trông thấy rừng cây đại đoàn kết ấy đã nở hoa kết quả và gốc rễ của nó đang ăn sâu, lan rộng khắp toàn dân, và nó có một cái tương lai “trường xuân bất lão”. Phải chăng sự sung sướng của Hồ Chí Minh trước sự kiện trên đây còn là biểu hiện của một dự cảm, của một “mầm mống” quan trọng cho một dự báo thắng lợi tất yếu của cách mạng Việt Nam trong tương lai không xa.

Điều đó còn là biểu hiện của tư tưởng đoàn kết của Hồ Chí Minh, sự quan tâm đặc biệt của Người đối với các nước láng giềng gần gũi. Người nói: “Tôi sung sướng hơn nữa vì từ nay chẳng những là toàn dân Việt Nam đại đoàn kết, mà toàn dân hai nước anh em là Cao Miên và Ai Lao cùng đi đến đại đoàn kết. Tin mừng đại đoàn kết của hai dân tộc anh em ấy do các vị đại biểu Miên – Lào thân hành mang đến cho chúng ta.

Thế là dân tộc Việt đại đoàn kết, dân tộc Miên đại đoàn kết, dân tộc Lào đại đoàn kết. Rồi đây, chúng ta nhất định đi đến Việt – Miên – Lào đại đoàn kết.

Với sự đồng tâm nhất trí của ba dân tộc anh em, với sức đại đoàn kết của ba dân tộc anh em, chúng ta nhất định đánh tan lũ thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ, chúng ta nhất định làm cho ba nước độc lập và thống nhất thật sự”(4).

Người còn nói: “Lào – Việt là hai nước anh em. Mối quan hệ giữa hai dân tộc rất là mật thiết. Đối với kiều bào ta làm ăn sinh sống ở đất nước Lào thì Lào lại như một Tổ quốc thứ hai. Tục ngữ có câu: “Bán bà con xa, mua láng giềng gần” ý nghĩa là như thế”(5).

Đối với nước láng giềng Campuchia, Hồ Chí Minh trân trọng và thành tâm xây dựng, bồi đắp tình hữu nghị giữa hai dân tộc. Trong điện mừng gửi Vua Nôrôđôm Xuramarít và Hoàng hậu nước Khơme nhân ngày độc lập của Vương quốc Khơme (tháng 11-1956), với tư cách Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Hồ Chí Minh viết: “Kính chúc nhân dân Khơme, dưới sự lãnh đạo của Quốc vương và Hoàng hậu, thu được nhiều thắng lơi mới trong sự nghiệp xây dựng đất nước Khơme và trong việc thực hiện chính sách hoà bình, trung lập; chúc tình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt Nam và Khơme càng phát triển”(6).

Đối với tình đoàn kết với nhân dân Trung quốc láng giềng, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Hai dân tộc Trung – Việt chúng ta, mấy ngàn năm nay, huyết thống tương thông, chung nền văn hoá, trong lịch sử vẫn được gọi là hai nước anh em; hơn nữa, đất nước liền kề, núi sông kế tiếp, càng như môi với răng che chở cho nhau”.

Sau khi đất nước hoà bình, khi đi thăm đồng bào, cán bộ, chiến sĩ tỉnh Cao Bằng (tháng 2-1961), Người nói: “Tỉnh Cao Bằng ở sát Trung Quốc nên cần phát huy tốt hơn nữa tình đoàn kết hữu nghị giữa hai dân tộc”(7).

2. Đoàn kết với các dân tộc, quốc gia khu vực Đông Nam Á, châu Á

Sau khi ngừng bắn ở Đông Dương, Uỷ ban Quốc tế vào giám sát hai bên Việt – Pháp trong việc thi hành hiệp định Giơnevơ. Hồ Chí Minh hoan nghênh các đại biểu là người Ấn Độ, Ba Lan, Canađa đã đến thi hành nhiệm vụ. Tháng 8-1954, trong buổi tiếp đoàn của Uỷ ban Quốc tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định thái độ của Chính phủ Việt Nam đối với nhân dân Pháp, với nhân dân các nước Đông Dương và Đông Nam Á vì hoà bình. Người phát biểu: “Hoà bình trở lại Việt Nam, chúng tôi sẽ thắt chặt tình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt – Pháp, chúng tôi sẽ đoàn kết chặt chẽ với hai nước Khơme, Lào và các nước Đông – Nam Á để góp phần vào sự nghiệp giữ gìn hoà bình châu Á và hoà bình thế giới”(8).

Đối với các quốc gia khu vực Đông Nam Á, Hồ Chí Minh luôn luôn quý trọng tinh thần đoàn kết, giúp đỡ nhân dân ta trong kháng chiến chống ngoại xâm, bày tỏ tình hữu nghị và biết ơn sâu sắc, chân thành. Chính vì lẽ đó mà các nước Đông Nam Á luôn bên cạnh nhân dân và chính phủ Hồ Chí Minh trong cuộc kháng chiến chống Pháp cũng như chống Mỹ, tạo nên hậu thuẫn, sức mạnh tinh thần và vật chất quan trọng góp phần làm nên thắng lợi chống ngoại xâm của dân tộc ta. Trong Điện mừng kỷ niệm lần thứ 10 Hội nghị Băng Đung, Hồ Chí Minh viết: “Nhân dân Inđônêxia rất gần gũi với chúng tôi, đã đứng hẳn về phía chúng tôi và ủng hộ chúng tôi nhiệt liệt và thắm tình anh em nhất. Tôi xin phép được nói lên ở đây sự biết ơn sâu sắc của nhân dân Việt Nam đối với tình đoàn kết anh em của những người bạn chiến đấu Inđônêxia, của tất cả các chính phủ, các tổ chức và nhân sĩ các nước ở Á, Phi, Mỹ latinh và trên thế giới”(9).

Đối với quốc gia Miến Điện trong khu vực Đông Nam Á, Hồ Chí Minh đã đại diện cho Chính phủ và nhân dân Việt Nam khẳng định sự gần gũi, tương đồng trên nhiều phương diện tự nhiên và xã hội, là cơ sở của tình đoàn kết lâu đời và bền vững. Trong Bài nói tại cuộc họp báo ở Rănggun (Miến Điện) ngày 16-2-1958, nhân chuyến thăm hữu nghị Miến Điện, Hồ Chí Minh khẳng định: “Hai nước Việt Nam và Miến Điện đều là những nước ở châu Á có nhiều điểm giống nhau, gần nhau về văn hoá, phong tục tập quán, cũng như về địa lý khí hậu, tài nguyên. Hai nước chúng ta đã trải qua những cuộc đấu tranh gian khổ chống thực dân, giành lấy độc lập dân tộc. Chính phủ và nhân dân Miến Điện đã ủng hộ tích cực nhân dân nước chúng tôi trong lúc kháng chiến và đã cùng với Ấn Độ và nhiều nước Á – Phi khác đóng góp một phần quan trọng vào việc lập lại hoà bình ở Việt Nam. Ngày nay hai nước chúng ta đã độc lập, gắn bó bằng tinh thần Băng Đung, bằng mối tình đoàn kết giữa các dân tộc Á – Phi, hai dân tộc Việt Nam và Miến Điện mong muốn có một nền hoà bình lâu dài để xây dựng một cuộc đời tự do, no ấm, để kiến thiết xứ sở giàu mạnh”(10).

Trong kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh kêu gọi “anh em dân tộc châu Á” thấu rõ sự hy sinh của nhân dân Việt Nam trong chiến tranh, để ủng hộ nhân dân Việt Nam kháng chiến. Trong Lời kêu gọi gửi nhân dân thế giới, Hồ Chí Minh viết: “Hỡi anh em dân tộc châu Á!

Gần hai mươi năm trường, thực dân Pháp đang dày xéo nhân dân Việt Nam, gần hai mươi năm trường nhân dân Việt Nam đang hy sinh tranh đấu.

Việt Nam là một bộ phận trong đại gia đình châu Á. Tranh đấu cho tự do độc lập của Việt Nam tức là tranh đấu cho tự do độc lập của đại gia đình châu Á. Trước kia, anh em đã đồng tình với chúng tôi. Từ đây mong anh em càng ủng hộ nữa. Với sự đồng tình và ủng hộ của anh em, cuộc kháng chiến cứu quốc của Việt Nam nhất định thắng lợi”(11).

Hồ Chí Minh dùng thuật ngữ “anh em dân tộc châu Á”, “đại gia đình châu Á” và kêu gọi “sự đồng tình” nhằm thực hiên mục tiêu đoàn kết với các nước gần gũi địa lý và văn hoá tạo nên sức mạnh tổng hợp của công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân Pháp. Và cuối Lời kêu gọi trên, Người viết: “Các dân tộc châu Á đoàn kết muôn năm!”…

3. Đoàn kết với các quốc gia, tổ chức trên thế giới

Tư tưởng đoàn kết của Hồ Chí Minh với các quốc gia trên thế giới trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội là tình đoàn kết hữu nghị với nhân dân các nước Pháp, Mỹ – những nước đem quân đến xâm lược Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX đến nửa cuối thế kỷ XX; đoàn kết với các tổ chức yêu chuộng hoà bình và các quốc gia chống chiến tranh xâm lược vì hoà bình, tiến bộ và phát triển.

– Với nhân dân chính quốc:

Hồ Chí Minh là lãnh tụ đã tìm ra con đường cứu nước khác các bậc tiền nhân là đến “chính quốc” để tìm hiểu rồi tự tìm cho mình một con đường riêng phù hợp với thực tại và quy luật khách quan. Với tâm hồn và nhân cách lớn, không như một số người, Hồ Chí Minh phân biệt nhân dân chính quốc với tầng lớp thống trị, đại diện cho chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Nhân dân chính quốc là những người chân chính, chỉ có giai cấp tư sản với bản chất giai cấp của nó là xâm lược, gây nhiều tội ác đối với nhân dân các thuộc địa.

Trong kháng chiến chống Pháp, Người ý thức sâu sắc giá trị và vai trò to lớn của sức mạnh đoàn kết không chỉ của nhân dân các nước thuộc địa mà còn của nhân dân và các lực lượng yêu chuộng hoà bình trên thế giới đối với sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa, giành độc lập tự do cho các dân tộc bị nô dịch. Từng là một chiến sĩ hoạt động trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, sau khi về và trở thành Chủ tịch nước của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, độc lập có chủ quyền trên trường quốc tế, để tiếp tục sự nghiệp vĩ đại lãnh đạo nhân dân kháng chiến, Người đã nhiều lần kêu gọi nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam kháng chiến, giành độc lập. Trong “Lời kêu gọi gửi nhân dân thế giới” ngày 20-6-1947, Hồ Chí Minh đã kêu gọi nhân dân ở chính quốc Pháp:

“Hỡi nhân dân Pháp!

Nhân dân Việt Nam và nhân dân Pháp đều chung một lý tưởng: Tự do, Bình đẳng, Bác ái.

Nhân dân Việt Nam và nhân dân Pháp có một mục đích chung: cộng tác thân thiện và bình đẳng giữa hai dân tộc.

Vận mệnh của nhân dân Việt Nam và vận mệnh của nhân dân Pháp rất quan hệ với nhau. Thế mà bọn thực dân phản động đang hết sức chia rẽ hai dân tộc ta. Chúng quyết tâm hy sinh tiền bạc của nhân dân Pháp và tính mạng thanh niên Pháp để kéo dài cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn này.

Chúng tôi rất mong các bạn cùng chúng tôi hành động để ngăn trở bọn thực dân phản động phá hoại cái lý tưởng chung, lợi ích chung, và tình nghĩa của hai dân tộc ta”(1).

Có lẽ trong lịch sử dân tộc ta và trên thế giới ít có người phân biệt “nhân dân Pháp” và “bọn thực dân phản động Pháp”. Đó là thái độ khoa học phân loại một cách khách quan các đối tượng phi nghĩa và chính nghĩa, một nước đi xâm lược và một quốc gia khác bị xâm lược. Đó còn là thái độ chính trị “tỉnh táo” của một nhà chiến lược cách mạng, tầm nhìn của một lãnh tụ trong việc chèo lái con thuyền cách mạng nước ta vượt qua bao ghềnh thác, huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng yêu chuộng hoà bình trên thế giới, ủng hộ sự nghiệp đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta. Trong cuối lời kêu gọi trên, Hồ Chí Minh viết: “Hai dân tộc Việt- Pháp cộng tác thân thiện trong khối Liên hiệp Pháp!”

Trong kháng chiến chống Mỹ, Hồ Chí Minh “ủng hộ cuộc đấu tranh của người Mỹ da đen” chống lại chính quyền Mỹ đối với chính sách phân biệt chủng tộc, sát hại người Mỹ da đen ở bang Mixixipi, ở Nữu Ước. Người vạch trần tội ác và âm mưu của “Tổng Giôn” và chính quyền Mỹ trước thế giới và nhân dân Mỹ yêu chuộng hoà bình, công lý… đối với nhân dân miền Nam Việt Nam. Không phải chính quyền Mỹ muốn “giúp nhân dân miền Nam giữ quyền tự do” mà “Sự thật là chúng hòng biến đồng bào miền Nam ta thành người “Mỹ da vàng” đi làm nô lệ cho chúng” như chúng thường “múa mồm”. Thái độ của Hồ Chí Minh rất rõ trong việc đoàn kết với người Mỹ da đen ở chính quốc trong khi chính quyền Mỹ đang tiến hành cuộc chiến tranh phi nghĩa ở Việt Nam trong những năm sáu mươi của thế kỷ XX. Người viết: “Đoàn thể người Mỹ da đen đã từng tham gia phong trào chống Mỹ xâm lược miền Nam nước ta. Cố nhiên nhân dân Việt Nam ta đồng tình và ủng hộ người Mỹ da đen đòi tự do, bình đẳng. Tuy màu da khác nhau, người Việt Nam da vàng và người Mỹ da đen đều chống lại kẻ thù chung là đế quốc Mỹ hung ác và chắc chắn rằng, chính nghĩa nhất định sẽ thắng, nhân dân miền Nam nhất định sẽ thắng, anh em người Mỹ da đen nhất định sẽ thắng!”(2).

– Với các tổ chức, các quốc gia, phong trào thế giới:

Tư tưởng đoàn kết với các dân tộc trên thế giới của Hồ Chí Minh biểu hiện sinh động trên nhiều phương diện, rộng lớn và bao dung vì chính nghĩa, vì sự hoà bình và phát triển của các dân tộc. Tư tưởng đó thể hiện sự nhận thức, tính biện chứng của Hồ Chí Minh về mối quan hệ mật thiết, không tách rời của cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới. Đoàn kết là yếu tố luôn được Người coi trọng như một điều kiện bắt buộc để bảo đảm cho các mục tiêu vì hoà bình của các dân tộc. Trong Bài nói tại Hội nghị quốc tế đoàn kết với nhân dân Việt Nam chống Mỹ và bảo vệ hoà bình cuối năm 1964, Hồ Chí Minh bày tỏ thái độ đối với phong trào đấu tranh của nhân dân châu Á, châu Phi, châu Mỹ latinh, mối quan hệ của cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới: “Hội nghị lịch sử này là kết tinh của mặt trận nhân dân toàn thế giới đoàn kết đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc thực dân, nhất là đế quốc Mỹ.

Tôi tin chắc rằng: sau Hội nghị quốc tế này, tình đoàn kết vĩ đại và làn sóng đấu tranh của nhân dân toàn thế giới chống chủ nghĩa đế quốc thực dân sẽ dâng cao hơn nữa, mạnh mẽ hơn nữa, giành được nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa.

Mỗi thắng lợi của nhân dân thế giới là một thắng lợi của nhân dân Việt Nam. Và mỗi thắng lợi của nhân dân Việt Nam cũng là một thắng lợi của nhân dân thế giới”(3).

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhân dân ta luôn nhận được sự ủng hộ của nhân dân Á, Phi, Mỹ latinh. Nhiều hội nghị ba châu đã được tiến hành bàn bạc các nội dung đoàn kết, đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do. Thông qua diễn đàn này, Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ và nhân dân Việt Nam bày tỏ sự cám ơn sâu sắc tới nhân dân Á, Phi, Mỹ latinh và nhân dân thế giới đối với cuộc đấu tranh chống Mỹ của nhân dân Việt Nam. Trong Điện gửi Hội nghị đoàn kết nhân dân Á, Phi, Mỹ latinh họp tại La Havan (Cu Ba) đầu năm 1966, Hồ Chí Minh đã khẳng định với sức mạnh đoàn kết của nhân dân Việt Nam và sự ủng hộ của nhân dân thế giới thì sự nghiệp chống Mỹ nhất định sẽ đi đến thắng lợi. Người viết: “Dựa vào sức đoàn kết chiến đấu của mình, đồng thời dựa vào sức ủng hộ của nhân dân thế giới, nhân dân Việt Nam kiên quyết chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược và nhất định sẽ thu được thắng lợi hoàn toàn.

Hội nghị nhân dân ba châu họp trên đất Cu Ba anh hùng lần này, có ý nghĩa chính trị cực kỳ quan trọng. Hội nghị sẽ góp phần tích cực vào sự tăng cường đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc đang đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới, để bảo vệ độc lập dân tộc và hoà bình thế giới”(4).

4. Đoàn kết với kiều bào

Trong trái tim rộng lớn của Hồ Chí Minh, người Việt Nam ở nước ngoài, đều mang trong mình dòng máu Lạc Hồng. Người không chỉ kêu gọi tinh thần yêu nước, đoàn kết hướng về Tổ quốc của Việt kiều để làm cho “lực lượng to” mà “lực lượng to thì quyết thắng lợi” mà còn hơn một lần khuyên họ cần phải đoàn kết với đồng bào các nước.

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Hồ Chí Minh không quên chúc Tết một bộ phận người Việt Nam sống xa Tổ quốc. Trong lúc công việc của Chính phủ mới còn rất nhiều bộn bề thì chỉ có trái tim rộng lớn “ôm mọi kiếp người” của Hồ Chí Minh mới có tình cảm và trách nhiệm như vậy. Trong Thư chúc Tết Việt kiều ở Lào, Xiêm đầu năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết:

Cùng đồng bào yêu quý ở Lào và ở Xiêm,

Các đồng bào tuy mình cư trú ở nơi đất khách quê người, nhưng lòng vẫn yêu mến cố hương Tổ quốc.

Còn Tổ quốc và Chính phủ cũng luôn luôn nhớ thương các đồng bào, như bố mẹ thương nhớ những người con đi vắng. Đó là nhân tâm thiên lý, đó là tình nghĩa một nhà như thế.

Ngày nay, tuy nhờ sự đoàn kết của toàn dân mà nước nhà đã tranh lại quyền độc lập, nhưng chúng ta hãy còn nhiều sự khó khăn, hãy còn phải hy sinh, phấn đấu, mới đi đến sự nghiệp độc lập hoàn toàn. Muốn đạt mục đích đó, chúng ta phải kiên quyết nữa, phải đoàn kết nữa”(5).

Hồ Chí Minh thấu hiểu đời sống xã hội của kiều bào ta ở nước ngoài, thấu hiểu tinh thần dân tộc đối với Tổ quốc Việt Nam – quê hương yêu dấu của họ. Trong bài Kiều bào yêu nước năm 1955, với bút danh C.B, Hồ Chí Minh thấu hiểu và khẳng định: “Kiều bào ta ở trọ các nước tư bản, thường bị uy hiếp hoặc lợi dụng. Nhưng tối đại đa số kiều bào là những người yêu nước, kiên quyết và bền bỉ đấu tranh cho Tổ quốc.

Vừa rồi, gần 2.000 kiều bào ở Pháp, đủ các tầng lớp, trai có gái có, già có trẻ có, đã ký tên đòi đương cục miền Nam hiệp thương với Chính phủ ta và đòi Chính phủ Pháp phải làm đúng Hiệp định Giơnevơ. Vậy có thơ rằng:

Gửi thân đất khách quê người,
Nhìn về cố quốc cách vời trùng dương,
Càng nhìn càng nhớ, càng thương
Càng mong Tổ quốc thịnh cường vẻ vang,
Càng căm những kẻ gian ngoan
Nghe lời bọn Mỹ phá ngang hoà bình.
Mọi người đoàn kết đấu tranh,
Đòi Ngô Đình Diệm tán thành hiệp thương.
Hoà bình, thống nhất, độc lập, tự cường,
Sao vàng cờ đỏ dẫn đường chúng ta.
Mấy câu thuận miệng nôm na:
“Một lòng yêu nước bài ca kiều bào”(6).

Thật là cảm động khi chúng ta biết rằng dù bận trăm công ngàn việc của người đứng đầu Chính phủ, lo lãnh đạo khắc phục hậu quả chiến tranh, cải tạo xã hội cũ, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà ở miền Nam, trái tim Hồ Chí Minh vẫn giành một chỗ sâu sắc đối với kiều bào ta ở nước ngoài, thấu hiểu và tin tưởng ở lòng yêu nước của kiều bào.

Cũng với tấm lòng cao cả và sự quan tâm “như bố mẹ thương nhớ những người con đi vắng”, tết năm 1957, Hồ Chí Minh đã Điện chúc tết kiều bào nước ngoài. Nội dung điện thật ngắn gọn, chỉ hai câu nhưng thật đầy đủ, ý nghĩa và chứa đựng một trái tim nhân hậu của “vị cha già dân tộc” trong thời khắc thiêng liêng: “Nhân dịp năm mới, tôi gửi lời thân ái chúc toàn thể kiều bào vui vẻ, mạnh khoẻ, đoàn kết, tiến bộ. Đồng thời kiều bào nên tăng cường tình hữu nghị với nhân dân địa phương”(7).

Vấn đề đáng quan tâm trong bức điện trên ngoài câu thứ nhất ta thường bắt gặp thì vấn đề đặt ra tại sao trong thời điểm đó Người lại lưu ý kiều bào phải “tăng cường tình hữu nghị với nhân dân địa phương”. Phải chăng trong quan niệm của Người, kiều bào là đại diện cho hình ảnh của đất nước và con người Việt Nam. Nếu tình hữu nghị giữa kiều bào và nhân dân các nước nơi họ đang sinh sống phát triển thì không chỉ tốt cho kiều bào mà còn tốt cho quan hệ với nhân dân và Chính phủ ta; sẽ tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ nhân dân ta chống Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Hiện nay trong bối cảnh đổi mới, phát triển đất nước; tăng cường hợp tác quốc tế trong khu vực và các châu lục trên thế giới, kêu gọi tinh thần yêu nước của kiều bào, thu hút đầu tư phát triển… thì yêu cầu ngoại giao, đoàn kết quốc tế trên tinh thần tôn trọng độc lập, chủ quyền, lợi ích của các quốc gia có ý nghĩa quyết định sự thành bại và tính bền vững trong phát triển. Tư tưởng đoàn kết trên bình diện quốc tế và với kiều bào của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho chúng ta những bài học, tầm nhìn quan trọng trong hợp tác quốc tế, trong bối cảnh và xu thế hội nhập tất yếu đang diễn ra hiện nay. Tư tưởng của Người đã và sẽ để lại nhiều bài học quý giá để chúng ta cùng suy ngẫm vì tương lai, tiền đồ và sự phát triển bền vững của dân tộc Việt Nam, nhất là khi chúng ta tham gia và ngày càng có vai trò quan trọng trong nhiều tổ chức quốc tế.

_______________

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập: Nxb ST, H, 1989, t.8, tr. 106.
2. Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch, Nxb ST, H, 1976, tr.240.
3. Phùng Hữu Phú: Chiến lược đại đoàn kết của Hồ Chí Minh trong Tư tưởng Hồ Chí Minh. Nxb CTQG, H, 1995, tr.138.
4. Hồ Chí Minh: Sđd, t.6, tr.181.
5. Hồ Chí Minh: Sđd, t.4, tr.139.
6. Hồ Chí Minh: Sđd, t.8, tr.267.
7. Hồ Chí Minh: Sđd, t.10, tr.286.
8. Hồ Chí Minh: Sđd, t.7, tr.330.
9. Hồ Chí Minh: Sđd, t.11, tr.421.
10. Hồ Chí Minh: Sđd, t.9, tr.64-65
11. Hồ Chí Minh: Sđd, t.5, tr.153

—————————————-

(1(. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2002 , t.5, tr.153.
(2), (3). Hồ Chí Minh: Sđd, t.11, tr.299, 344.
(4). Hồ Chí Minh: Sđd, t.12, tr.6.
(5). Hồ Chí Minh: Sđd, t.4, tr.139.
(6), (7). Hồ Chí Minh: Sđd, t.8, tr.37, 304.

Theo PGS.TS Lê Ngọc Thắng
Viện Dân tộc, Uỷ ban Dân tộc;
Tổng Thư ký Hội Dân tộc học và Nhân học Việt Nam
(mattran.org.vn)

Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Đón xuân mới đọc thơ chúc Tết của Bác Hồ

Mỗi độ Xuân về, trong khí thiêng của đất trời, sông núi, trong mỗi chúng ta lại nhớ tới những vần thơ Xuân chúc Tết của Bác Hồ. Kể từ năm 1941, trên con đường bôn ba tìm đường cứu nước, Người từ Trung Quốc trở về Tổ quốc và cho đến trước lúc đi xa, Bác đã để lại cho chúng ta hàng chục bài thơ Xuân.

Tết Xuân năm 1942, bài thơ đầu tiên của Bác được đăng trên Báo Việt Nam độc lập số 114, ngày 01 tháng 01 năm 1942. Bác viết:

Tháng ngày thấm thoắt chóng như thoi,
Năm cũ qua rồi, chúc năm mới.
Chúc phe xâm lược sẽ diệt vong,
Chúc phe dân chủ sẽ thắng lợi;
Chúc đồng bào ta đoàn kết mau!
Chúc Việt Minh ta càng tấn tới,
Chúc toàn quốc ta trong năm này,
Cờ đỏ ngôi sao bay phấp phới!
Năm nay là năm rất vẻ vang,
Cách mệnh thành công khắp thế giới”.

Những lời thơ Xuân tuy ngắn gọn nhưng hàm chứa nhiều điều xúc tích, với những tiên đoán của cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới.

Năm 1948, trong lúc toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang dốc lòng dốc sức cho cuộc kháng chiến chống Pháp, đón Xuân mới, Bác có thơ chúc Tết đồng bào:

Chủ tịch nước tự cuốc đất, trồng cây, tưới nước xung quanh nhà sàn

Năm Hợi đã đi qua,
Năm Tý vừa bước tới.
Gửi lời chúc đồng bào,
Kháng chiến được thắng lợi;
Toàn dân đại đoàn kết,
Cả nước dốc một lòng,
Thống nhất chắc chắn được,
Độc lập quyết thành công”.

Năm 1951, trải qua 5 năm, chúng ta tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và là năm tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng. Báo Cứu quốc, số 1748, ngày 5 tháng 2 năm 1951, đăng thơ chúc Tết Tân Mão của Bác Hồ:

Xuân này kháng chiến đã năm xuân,
Nhiều xuân thắng lợi càng gần thành công.
Toàn dân hăng hái một lòng,
Thi đua chuẩn bị tổng phản công kịp thời”.

Bài thơ Xuân hừng hực khí thế tiến công của Bác đã động viên toàn dân hăng hái thi đua quyết tâm vượt qua mọi khó khăn gian khổ để giành thắng lợi.

Năm 1960, mừng Đảng ta tròn 30 tuổi; mừng Nhà nước tròn 15 Xuân và chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, thơ chúc Tết năm 1960 của Bác Hồ như sau:

Mừng Nhà nước ta 15 Xuân xanh!
Mừng Đảng chúng ta 30 tuổi trẻ!
Chúc đồng bào ta đoàn kết thi đua,
Xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
Chúc đồng bào ta bền bỉ đấu tranh,
Thành đồng miền Nam vững bền mạnh mẽ.
Cả nước một lòng hăng hái tiến lên,
Thống nhất nước nhà Bắc Nam vui vẻ”.

Năm 1968, mùa xuân Mậu Thân, lời thơ Xuân của Bác đã trở thành mệnh lệnh Tổng tấn công và nổi dậy của khắp miền Nam thành đồng:

Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ,
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta”.

Và năm 1969, trước lúc đi xa, Bác đã dành muôn vàn tình thương yêu cho đồng bào, đồng chí, cho các cháu thiếu nhi và nhi đồng. Bác đã để lại bài thơ chúc Tết cuối cùng, với những lời hịch vang vọng núi sông ngàn năm:

Năm qua thắng lợi vẻ vang,
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.
Vì độc lập, vì tự do,
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào.
Tiến lên! Chiến sỹ, đồng bào,
Bắc – Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!”

Đọc thơ của Bác và suy ngẫm về những điều Bác nói, ta thấy như Bác đã chỉ rõ con đường của cách mạng Việt Nam. Bốn năm sau, vào mùa xuân năm 1973, với thắng lợi của Hiệp định Pari, chúng ta đã buộc đế quốc Mỹ phải cuốn cờ ra khỏi Tổ quốc Việt Nam. Và hai năm sau, khi Mỹ đã cút, Nguỵ đã nhào, Bắc – Nam sum họp, đất nước thống nhất, “Xuân nào vui hơn”?

Chúng ta cảm ơn đất trời đã cho tiết Xuân, Xuân nồng nàn tình cảm của mỗi con người. Đón Xuân mới, đọc thơ chúc Tết của Bác Hồ, lòng ta lại nhớ tới công lao to lớn của Người, cảm ơn Người đã để lại cho ta những vần thơ Xuân bất hủ…

Đặng Nam Điền

bqllang.gov.vn

Ngày xuân, nghĩ về Bác

Thi thoảng, trong đời sống công chức, chúng ta vẫn thường làm một việc không lấy gì làm mới mẻ: Kê khai tài sản. Nhìn bản Kê khai, ta lại mủi lòng: Sao mãi mình vẫn chưa giàu được nhỉ? Và rồi, ta lại được an ủi. Hóa ra ta vẫn chưa phải là người nghèo nhất. Ngay cả một người nông dân chân lấm, tay bùn, ở dưới đáy xã hội, nhưng vẫn có mảnh vườn, cái ao, hay chí ít cũng có con lợn, con gà. Nghĩa là vẫn có tài sản. Chỉ duy nhất một người dường như không có gì cả, một người nghèo nhất nước. Người đó là Bác Hồ, Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Lục lọi trong tiểu sử Bác, đến cả nhà riêng của Người, ta thấy Người có gì? Một tấm áo ka ki, đôi dép cao su, chiếc quạt bằng lá cọ…Vật chất là thế đấy. Còn tinh thần ư? Bác cũng là người duy nhất không có bất kỳ các loại Huân, Huy chương gì, đến cả sơ đẳng nhất là Bằng khen, Giấy khen, Người cũng không có. Bác còn là người nghèo nhất cả trong cõi riêng tư. Đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký riêng của Bác kể lại, có những đêm, khuya rồi, Bác đã tắt đèn, nhưng trong phòng vẫn có tiếng đài. Đồng chí Vũ Kỳ tưởng Bác đã ngủ, rón rén đến tắt. Bác ngăn lại: “Đừng… Cứ để thế cho căn phòng Bác nó ấm, vì có tiếng người, tiếng phụ nữ…”

Ôi! Đài Tiếng nói Việt Nam! Vinh quang biết bao! Hạnh phúc biết bao khi Đài đã trở thành người bạn đường, người sẻ chia, an ủi Bác, trong những khoảnh khắc Người cô đơn nhất!

Nghĩ đến Bác, ngay cả một người bất hạnh đến cùng cực, cũng thấy được an ủi, sẻ chia. Hóa ra mình cũng vẫn chưa phải là người bất hạnh nhất.

Một người nghèo nhất nước như Bác, nhưng lại để cho chúng ta một di sản đồ sộ. Đó là một đất nước độc lập, toàn vẹn, một sự nghiệp cách mạng chói ngời, một tấm gương trong sáng và lối sống cao đẹp đến tinh khiết. Ta hiểu vì sao Bác luôn quan tâm đến những người nghèo, người lao động. Bác luôn hướng đến người lao động. Bác đặt tên Đảng là Đảng Lao động Việt Nam. Nghĩa là Đảng của tất cả mọi người, vì ai mà chẳng là người lao động. Bác còn dành lương mua quà cho người nghèo. Vào những dịp Tết đến, xuân về, Bác thường chọn những gia đình nghèo nhất để đến thăm và chúc Tết. Chuyến thăm rất bí mật, không báo trước để địa phương nghênh đón, rồi tuyên truyền, đưa tin. Thường chỉ có Bác và đồng chí Vũ Kỳ. Một chị lao công, ở trong khu hẻm nhỏ, đêm 30 Tết còn đi gánh nước thuê. Bàn thờ trống hoang, không có cả nải chuối, tấm bánh. Tết đến với mọi nhà, nhưng Tết lại quên căn nhà chị. Bởi thế, chị bàng hoàng đến sửng sốt, buông rơi cả hai thùng nước, khi thấy Bác đột ngột xuất hiện trong căn nhà tồi tàn của mình: “Trời ơi, Bác…Gia đình cháu khổ lắm…Cháu không ngờ Bác lại đến với cháu..”. “Thế Bác không đến với cháu thì Bác còn đến với ai?…”. Chị bật khóc. Và Bác cũng khóc. Đó là một trong những cái Tết cuối cùng của Bác trong ký ức của đồng chí Vũ Kỳ.

Dân còn nghèo như thế, nên Bác sống rất đạm bạc tằn tiện. Bữa ăn của Người là bữa ăn của một nông dân nghèo. Tiếp khách quốc tế, Bác vẫn mang trang phục của một người nông dân nghèo. Bộ quần áo nâu và đôi dép cao su. Một đồng chí cán bộ tỉnh ái Ngại: “Thưa Bác, Bác thay mặt cho Đảng, cho dân, Bác vất vả thế này, có khi bạn bè quốc tế lại trách Đảng trách dân không chu toàn với Bác…”. Bác cười điềm đạm “Bác sống thế này mà ở dưới, có chú còn nhũng nhiễu làm khổ dân. Bác mà sống xa hoa thì ở dưới các chú đục khoét hết của dân à?”

Cuộc đời của Bác, nếp sống của Bác là một bài học lớn cho các cán bộ cấp dưới. Ta hiểu vì sao trong những năm chiến tranh, đất nước loạn lạc, mà xã hội lại rất thanh bình, lòng dân không ly tán. Ra đường không lo trấn lột. Về nhà không sợ trộm cắp. Cũng không có tham nhũng, đĩ điếm. Một đời sống lành mạnh giữa một bầu khí quyển trong veo.

Một người suốt đời sống vì dân, lo cho dân, ngay trong những giây phút cuối cùng giã từ cõi đời, phần nói về mình, VỀ VIỆC RIÊNG, Người cũng chỉ dành cho mình đúng 79 chữ. 79 chữ tổng kết cả một đời người 79 năm, trong một ít chữ phong phanh ấy, Người cũng lại chỉ canh cánh lo cho dân, không muốn tổ chức tang lễ điếu phúng linh đình để đỡ tốn thời giờ và tiền bạc của dân.

Chúng ta đang học tập tấm gương đạo đức và tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng thế nào là tư tưởng Hồ Chí Minh? Tôi cũng đã theo học và nghiên cứu. Có rất nhiều định nghĩa. Nhưng cũng không ít những quan niệm áp đặt và chủ quan. Nói về tư tưởng Hồ Chí Minh, có lẽ không có ai nói hay hơn và chuẩn xác hơn cựu Tổng Bí thư Đỗ Mười. Mà ông cụ lại nói vo ở Hội Nhà văn, nói suốt 4 giờ liền về nhiều vấn đề mà giới văn chương rất tâm đắc. Khi bàn về tư tưởng Hồ Chí Minh, cụ Đỗ Mười đưa ra một định nghĩa rất ngắn mà vô cùng chuẩn xác: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là gì? Là Việt Nam hóa tất cả những tư tưởng tiên tiến nhất, đặc sắc nhất của nhân loại và biến chúng thành hiện thực ở Việt Nam!”

Quả đúng như vậy. Ta có thể tìm thấy trong những câu nói bất hủ của Người, những kinh nghiệm được đúc kết của rất nhiều thời đại. Và một trong những bài học sâu sắc Người để lại cho chúng ta là sự chiêm cảm tinh vi đến chuẩn xác và nghệ thuật dùng người. Đây chính là một bí mật của Bác mà chúng ta cần nghiên cứu, khám phá. Bác có tầm nhìn rất xa và rất chuẩn xác. Năm 1941, Bác có bức tranh, vẽ cây kèn, con số 1945 cùng câu thơ “Việt Nam Độc lập thổi kèn loa”. Sau quả đúng như vậy. Và như thế, Bác đã “nhìn” thấy ngày Độc lập từ năm 1941. Sau này Người cũng đoán chuẩn xác năm giải phóng Sài gòn. Tối 30/4/1960, trong diễn văn chào mừng Quốc tế Lao động tại Nhà hát Lớn Hà Nội, có một dòng rất đặc biệt, lúc đó Người đã dấu đi bằng một nét gạch xóa, nhưng vẫn còn được lưu giữ trong Bảo tàng Hồ Chí Minh “…Cùng lắm cũng chỉ 15 năm nữa, nước nhà sẽ thống nhất, đồng bào Nam, Bắc sẽ xum họp một nhà…”. “15 năm nữa…” tính từ thời điểm năm 1960 thì đúng là năm 1975. Rất chuẩn xác. Bởi thế, có người coi Bác như một vị Thánh. Tài nhất là nghệ thuật dùng người. Đây chính là mấu chốt quyết định sự thắng lợi của cách mạng. Năm 1946, khi phải rời Tổ quốc, Người lại trao toàn quyền điều hành đất nước cho cụ Huỳnh Thúc Kháng và chỉ dặn một câu: “Ứng vạn biến, dĩ bất biến”. Với một nhà Nho uyên thâm như cụ Huỳnh, chỉ nói thế là đủ. Điều đáng ngạc nhiên, sao lúc ấy, tình thế rất phức tạp, thù trong, giặc ngoài, trong Chính phủ có bao nhiêu Đảng viên cốt cán, Bác không trao, mà lại trao quyền điều hành đất nước cho một nhân sĩ không phải Đảng viên là cụ Huỳnh Thúc Kháng? Đưa một người không phải đảng viên lên chức vụ lớn, lại trao cho cả vận mệnh đất nước là một quyết định táo bạo. Nhưng bằng lối ứng xử rất đẹp ấy, Bác đã quy tụ được tất cả những tinh hoa của dân tộc đến với cuộc kháng chiến cứu nước và kiến quốc. Bởi thế, rất nhiều nhân sĩ, trí thức, ở nhiều đảng phái khác nhau đều tìm đến với Người, có không ít người từ bỏ đời sống nhung lụa, trở về Tổ quốc, cùng đồng cam cộng khổ với Người. Những năm tháng cam go ấy, không có nhiều ban bệ, tư vấn, mà sao Bác dùng người chuẩn thế. Những cán bộ được Bác chọn, trao việc đều trở thành những nhân vật xuất sắc của lịch sử đất nước. Đặc biệt là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Nhiều lúc tôi cứ vân vi tự hỏi, bằng phép nhiệm màu nào mà Bác đã nhìn thấy khả năng thiên tài quân sự trong Võ Nguyên Giáp, một người chưa từng qua bất kỳ một khóa học quân sự nào? Lúc ấy, ông Giáp chỉ đơn thuần là một ông giáo dạy sử ở Trường Tư thục Thăng Long. Một con người hoàn toàn xa lạ với quân binh, trận mạc, vậy mà Bác lại trao cho việc phụ trách quân sự, rồi phong thẳng lên Đại tướng và ủy nhiệm cho toàn quyền quyết định việc quân: “Chú là Tướng biên ải, Tướng ngoài mặt trận, có gì cần thiết, chú cứ quyết rồi báo cáo Bác sau!”. Sau này, ta mới biết việc chọn Tướng Giáp của Bác tài tình đến như thế nào. Võ Nguyên Giáp quả là một thiên tài quân sự. Tên tuổi ông có thể đặt bên cạnh những tên tuổi lừng danh nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc: những Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, Quang Trung…Vậy bằng cách nào Bác phát hiện được khả năng tiềm ẩn một thiên tài quân sự trong dáng vẻ bạch diện thư sinh của một ông giáo dạy sử ở một trường phổ thông? Đó chính là một bí mật. Nhà báo nổi tiếng Mỹ Ladi Boston kể lại rằng, có lần, mấy nhà báo Pháp cũng rất ngỡ ngàng hỏi Chủ tịch Hồ Chí Minh một câu hỏi khá hắc búa: “Thưa ngài Chủ tịch, ngài phong ông Giáp lên thẳng chức Đại tướng, là phong theo tiêu chí nào?”. Bác bảo: “Nước tôi là nước du kích. Chúng tôi đánh giặc theo lối du kích, thì phong hàm cũng là phong theo kiểu du kích. Ông Giáp của chúng tôi đã đánh thắng tất cả các ông tướng tài giỏi của nước Pháp, vậy thì ông ấy phải là Đại tướng thôi”. Nói rồi, Bác cười rất sảng khoái. Mấy nhà báo quốc tế cũng cười. Câu hỏi móc mói nhuốm màu bùa chú đã bị hóa giải.

Bác của chúng ta là thế đấy!. Người rất tài biến những chuyện to tát, nghiêm trọng thành những điều hết sức giản dị, mộc mạc. Chỉ những người từng trải, uyên thâm và lịch lãm lắm mới có thể làm được như thế…

Theo Trần Đăng Khoa
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Sắc xuân trên Quảng trường Ba Đình

Công trình Lăng được tô điểm thêm trong những ngày Tết Nguyên đán

Một chút nắng và gió những ngày cuối năm 2011 báo hiệu một mùa xuân mới sắp về, khắp mọi miền Tổ quốc lại hân hoan chuẩn bị chào mừng năm mới với ước mong về cuộc sống hạnh phúc và an lành. Hơi thở mùa xuân đang lan dần khắp các ngõ phố xua đi cái giá lạnh của Hà Nội. Tết cổ truyền mang hơi ấm cho mỗi con người Việt, bởi thế xuân của đất trời mang nhiều cảm nhận khác nhau: Xuân của bạn bè, xuân của tình yêu đôi lứa, xuân cho gia đình, cho quê hương đất nước.

Nhưng ở một nơi mà không khí đón Xuân thật đặc biệt, chính tại trung tâm của Thủ đô Hà Nội – trái tim của Tổ quốc, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đang an nghỉ, có những người đang ngày đêm lao động hăng say, tô điểm thêm cảnh quan khu vực Lăng của Người và Quảng trường Ba Đình. Chăm sóc, gìn giữ, tôn tạo cảnh quan bên Lăng Bác là niềm tự hào lớn với mỗi người công nhân và cán bộ, viên chức của Ban Quản lý Quảng trường Ba Đình. Niềm tự hào đó trở thành niềm vui mỗi dịp Tết đến, xuân về, niềm vui khi nhìn thấy sắc vàng tươi của hoa mai, sắc hồng thắm của hoa đào, màu vàng bất tận của vườn quất trĩu quả, những rung động khi lộc non hé nụ của mỗi con người đang ngày đêm đem thêm sắc xuân về bên Bác, chung vui cùng ngày Tết cổ truyền của dân tộc.

Những gốc đào, quất này được
những bàn tay giàu kinh nghiệm chăm sóc và được dùng để trang trí
tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quảng trường Ba Đình

Vườn ươm Phú Thượng – nơi ươm trồng các loại cây hoa, cây cảnh phục vụ trang trí chính là điểm xuất phát của những dải lụa nhiều màu sắc bên Lăng Bác, những dải lụa mà mỗi người con đất Việt khi đi xa quê hương không thể không nhớ về. Đó là những hàng vạn tuế hiên ngang như khí phách của người dân Việt Nam, là màu vàng bất tử của những dải hoa cúc, hoa mai, màu đỏ của niềm tin và hy vọng từ những đóa senconha lộng lẫy… Phía sau của những hình ảnh đó là nỗ lực của tập thể cán bộ, công nhân viên của Ban Quản lý Quảng trường Ba Đình sau một năm thi đua, phát huy tinh thần đoàn kết, sáng tạo và những tháng ngày lao động cần cù.

Sắc đỏ của senconha và sắc vàng của hoa cúc mặt trời là điểm nhấn
trên Quảng trường Ba Đình mỗi dịp Tết đến, xuân về

Tiết trời sang xuân, mưa phùn cùng cái rét cắt da khiến bao con người co ro trong giá lạnh, nhưng từng chuyến xe cuối năm vẫn miệt mài vận chuyển những cây đào, cây quất và hoa đẹp nhất về Lăng như chính tình cảm của mỗi người cán bộ, công nhân viên hướng về nơi linh thiêng – Quảng trường Ba Đình. Nhìn từng đoàn người vẫn ngày ngày vào Lăng viếng Bác, nhất là mỗi dịp Tết đến, xuân về, chúng tôi cảm thấy trong lòng mình thật ấm áp.

Xuân năm nay đã có nhiều thay đổi hơn trước, thời tiết có khắc nghiệt đôi chút nhưng Hà Nội vẫn tất bật, nhộn nhịp đón xuân. Đường phố tấp nập xe cộ, hoa khắp nơi đã trổ, không khí Tết Nguyên đán đã về đến mọi nhà, đến từng con phố nhưng vẫn còn đây những con người thầm lặng, đang miệt mài ngày đêm đem hơi ấm mùa xuân về bên Bác và nụ cười hạnh phúc khi thực hiện những công việc cuối cùng để đưa sắc xuân về Quảng trường Ba Đình cùng nhân dân và bạn bè quốc tế nô nức đón xuân về. Chính những nụ cười của niềm tự hào ấy sẽ là động lực để cán bộ, công nhân viên Ban Quản lý Quảng trường Ba Đình tiếp tục hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao năm 2012. Chúng tôi thầm cảm ơn những cống hiến, những tình cảm đặc biệt của họ khi hướng về Bác, về công trình Lăng của Người./.

KTS. Bùi Thế Trung

bqllang.gov.vn