Archive | Tháng Mười Một 2011

Bác nhắc nhở “nội vụ” của bộ đội

Ngày 3-2-1963, nhân dịp Tết Nguyên đán, Bác Hồ đến thăm Đại đội 129, Trung đoàn 260 Bộ đội Phòng không, đóng quân tại Tiên Hội, Đông Anh, Hà Nội.

Mọi người đang lúi húi xây dựng vườn hoa thì Bác đến. Anh em vây xung quanh Bác. Người nhìn các chiến sĩ và âu yếm hỏi:

– Tết mỗi chú được bao nhiêu bánh chưng ?

– Thưa bác, được hai chiếc ạ ! – Mọi người trả lời.

Bác nhìn quanh rồi chỉ vào những cây phi lao mới trồng cạnh vườn hoa nhỏ:

– Cây này có cho quả không ?

– Thưa Bác, không ạ !

– Thế trồng nhãn có cho quả không ?

– Thưa Bác, có ạ !

– Thế thì trồng nhãn tốt hơn ! – Bác vừa cười vừa phân tích – Phi lao nên trồng ngoài hàng rào. Còn xà cừ trồng ngoài cổng doanh trại. Trồng cây nào các chú phải chăm sóc cho được cây ấy.

Sau đó, Bác đi xem nơi ăn, chốn ở của đơn vị. Khen nhà bếp sạch, nhưng Người phê bình nhà ngủ chưa gọn và nhắc nhở:

– Dù là chủ nhật, dù là ngày Tết, thì “nội vụ” cũng phải gọn gàng.

Mọi người cùng “vâng ạ !”, nhận lỗi và nhìn nhau, nguyện sẽ thực hiện nghiêm túc trật tự nội vụ như Bác vừa nhắc nhở.

Không chỉ với bộ đội, mà đến bất cứ đâu, Bác đều quan tâm đến cuộc sống thường nhật của mọi người. Bác gần gũi, thân tình như người thân trong nhà, như đồng đội trong cùng đơn vị, như đồng nghiệp trong cùng cơ quan.

Nguyễn Thanh

bqllang.gov.vn

Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng

Ngày 4-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định về thực trạng nhân sự hành chính của chính quyền Nhà nước lúc đó như sau: “Về cán bộ hành chính ta phải thú nhận là thiếu rất nhiều, người đi tiền tuyến, người chiến đấu thì có, người ngồi bàn giấy làm việc thì rất hiếm”. Người cho rằng: “Vô luận việc gì đều do người làm ra”. Từ quan niệm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi tới kết luận: “Có cán bộ tốt việc gì cũng xong. Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý. Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”.

Hiện nay, thực trạng nhân sự hành chính vẫn còn nhiều bất cập. Tại phiên thảo luận về tình hình kinh tế – xã hội của Quốc hội khóa XII vừa qua, nhiều đại biểu Quốc hội đã tỏ ra bức xúc với những vướng mắc trong việc bổ nhiệm, đề bạt hay thuyên chuyển cán bộ. Một đại biểu cho biết: “Thực tế để bổ nhiệm được một cán bộ vào vị trí lãnh đạo phải qua nhiều bước, nhiều cấp xem xét, nhưng con voi vẫn lọt qua lỗ kim, cũng chính vì thế nên việc thuyên chuyển kỷ luật, cách chức một cán bộ công chức vô cùng khó khăn, phức tạp, mặc dù sai phạm và trì trệ của họ đã quá rõ ràng. Có nhiều trường hợp cấp trên đã chỉ đạo bằng văn bản, nhất là trong lĩnh vực giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân nhưng cấp dưới không thực hiện để công dân phải khiếu kiện vượt cấp, thử hỏi tại sao trên nói dưới không nghe, nhưng vẫn không bị xử lý?”.

Cũng tại phiên thảo luận, một số đại biểu cùng chung ý kiến cho rằng, một bộ máy hành chính mạnh là khi người đứng đầu có đủ mọi quyền hành để xử lý kỷ luật cấp dưới của mình. Như vậy thì người làm được việc sẽ nhanh chóng được cất nhắc đề bạt và những người sai phạm mới kịp thời bị thay thế. Quốc hội cần xem xét bổ sung sửa đổi các luật có liên quan đến bộ máy Nhà nước. Trong đó thể chế hoá thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu các cấp được quyền giới thiệu, cất nhắc, bổ nhiệm và xử lý cán bộ dưới quyền kèm theo đó là một hệ thống giám sát chặt chẽ có hiệu quả của Quốc hội và Hội đồng nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói rằng, muốn dùng cán bộ đúng, người cán bộ lãnh đạo cần có “5 phải”: “Phải có độ lượng vĩ đại thì mới có thể đối với cán bộ một cách chí công vô tư, không có thành kiến, khiến cho cán bộ không bị bỏ rơi; Phải có tinh thần rộng rãi mới có thể gần gũi với người mình không ưa; Phải có tính chịu khó dạy bảo mới có thể nâng đỡ những đồng chí còn kém, giúp họ tiến bộ; Phải sáng suốt mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây mà cách xa cán bộ tốt; Phải có thái độ vui vẻ thân mật, các đồng chí mới vui lòng gần gũi mình”.

Bác từng dạy, muốn có cán bộ tốt thì phải có chế độ đãi ngộ, quan tâm xứng đáng. Thế nhưng, hiện nay lại có không ít ý kiến bức xúc trước những bất cập về chế độ, chính sách đối với cán bộ cơ sở, về kinh phí, phương tiện và điều kiện làm việc. Tại phiên thảo luật về tình hình kinh tế-xã hội của Quốc hội ngày 29-10, một đại biểu đã nói: “Hiện không ít cán bộ không chuyên trách ở cơ sở giữ nhiều vị trí quan trọng nhưng chỉ được hưởng chế độ phụ cấp ở mức rất thấp, không đủ nuôi sống bản thân. Chế độ chính sách như vậy không động viên khuyến khích được cán bộ công tác ở cơ sở. Anh chị em tâm tư, thắc mắc, gây khó khăn cho việc điều hành bố trí cán bộ, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hiệu quả hoàn thành công việc, nhiệm vụ ở cơ sở”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn cán bộ tốt thì cơ quan phải quản lý “phải nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu”. Đồng thời, phải thường xuyên huấn luyện cán bộ để nâng cao trình độ giác ngộ, phương pháp tư tưởng, phẩm chất đạo đức và năng lực làm việc cho cán bộ, làm cho cán bộ ngành nào thành thục về chuyên môn của ngành ấy; làm sao cho bất cứ cán bộ nào cũng đều phải “vững về chính trị, giỏi về chuyên môn”. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi “cán bộ là gốc của mọi việc. Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”.

Linh An

bqllang.gov.vn

Bác Hồ trong ký ức của giới văn nghệ sĩ

Thông thường, người ta biết đến nhà văn hoá Hồ Chí Minh, một quan điểm văn hoá mác – xít chân chính, một bản sắc văn hoá Việt Nam đầy tính sáng tạo trong mối liên hệ với thực tiễn lịch sử, ở sáng tác thơ văn của Người. Nhưng những gì có mối liên hệ với văn hoá trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người đã làm chúng ta phải ngạc nhiên và thán phục bởi cái bình diện vừa rộng lớn vừa sâu sắc của nó.

Bên cạnh những sáng tác thơ văn, chính luận, Người đã từng vẽ tranh, chụp ảnh, viết kịch, phê bình phim… Đối với âm nhạc – một loại hình nghệ thuật đặc thù tưởng như rất trừu tượng, chúng ta cũng tìm thấy những nét riêng có liên quan tới hoạt động cách mạng và quan điểm văn hoá của Người.

Trong các tiểu sử, hồi ký, truyện ký, chuyên luận về Chủ tịch Hồ Chí Minh chúng ta thấy sự hiện diện của âm nhạc như một nguồn nuôi dưỡng tinh thần và tình cảm dân tộc, một thành tố tạo nên diện mạo nhà văn hoá, một vũ khí và phương tiện đấu tranh cách mạng, một đối tượng được cảm thụ và đánh giá trên quan điểm thẩm mỹ.

Âm nhạc dân tộc đã đi vào tâm hồn và tình cảm của Bác ngay từ thời thơ ấu. Dù sau này phải rời quê theo cha vào kinh đô Huế từ thời niên thiếu, đi dạy học ở Phan Thiết, làm nghề khuân vác ở bến cảng nhà Rồng, rồi xuất dương tìm đường cứu nước suốt gần nửa thế kỷ đến khi trở thành lãnh tụ của dân tộc Bác vẫn nhớ đinh ninh những làn điệu, những câu hát dân gian ở quê nhà. Chính vì vậy, sau này khi gặp gỡ các nghệ sĩ đến thăm và biểu diễn Bác thường nói: “Lúc còn nhỏ Bác nghe nhiều cụ ở Nghệ An hát ví phường vải và các điệu dân ca Nghệ Tĩnh rất hay“. Có một lần đoàn văn công quân khu IV đến thăm và biểu diễn cho Bác xem, một diễn viên hát điệu ví đò đưa với câu mở đầu “Ai biết nước sông Lam răng là trong là đục...” Bác cười và nói: “Ở Nghệ An người ta gọi là nác chứ không phải là nước”. Một diễn viên khác hát điệu hò khoan, nhưng sau mỗi câu lại không có người hát xen kẽ. Bác liền bảo: “Các cháu không hò khoan theo à?”. (Sách Bác Hồ với văn nghệ sĩ).

Ta thấy rõ Bác không chỉ nhớ từng chi tiết lời ca, nhớ các làn điệu mà cả  kết cấu của những làn điệu dân ca quen thuộc. Xin lưu ý rằng câu chuyện trên diễn ra vào năm 1969, năm Bác 79 tuổi, mùa xuân cuối cùng trong cuộc đời của Bác, trước khi Bác đi xa.

Nhà cách mạng lão thành Lê Văn Hiến kể: “… Ở chiến khu trong các hội nghị, các cuộc họp của Hội đồng Chính phủ, Bác Hồ thường thích nghe tôi hát tuồng…. Có lần trong một hội nghị rất đông, tôi hát lời của “Công chúaTrại 3” tự đấu tranh với bản thân để theo chồng (là Địch Thanh)… Hát đến đó tôi ngừng lại cho như thế là đủ. Bỗng Bác bảo tôi tiếp thêm:

“Hữu tình mà hoá vô tình
Bơ vơ thê thiếp, lênh đênh nỗi chàng

Sao Bác có thể nhớ lời của nhân vật rành đến thế? Bác động viên tôi hát tiếp. Thấy hào hứng của Bác đối với nghệ thuật tuồng truyền sang mọi người. Nhiều lần cả những khi tiếp khách quý, tôi thấy Bác thường cho mời các đoàn tuồng, chèo đến biểu diễn.

Vốn cổ truyền quý báu của dân tộc, dù ở miền nào, địa phương nào đều được Bác trân trọng và cảm thụ với niềm xúc động sâu sắc. Bác tìm thấy ở di sản văn hoá tinh thần ấy một ngọn nguồn, một nền tảng để xây dựng văn hoá mới của đất nước, bên cạnh việc hấp thụ tinh hoa của loài người.

Nhưng quan điểm của Người trong công cuộc bảo tồn và phát huy vốn nghệ thuật dân tộc là phải biết gạn đục khơi trong, “tránh phục cổ một cách máy móc” (Thư gửi Hội nghị cán bộ văn hoá ngày 28/2/1957). Như vậy, việc giữ gìn và bảo tồn vốn âm nhạc cổ truyền phải gắn với việc phát huy, phát triển. Phát triển nhưng không làm sai lạc, mất đi cái tinh tuý cái bản sắc của nó : “Chớ có gieo vừng ra ngô”.

Sự cảm thụ tinh tế, sâu sắc của Bác đối với âm nhạc dân tộc, quan điểm của Bác trong việc giữ gìn, phát huy những tinh hoa âm nhạc dân tộc, không tách rời sự chăm sóc ân cần của người đối với văn nghệ sĩ, trong đó có những nghệ sĩ hoạt động ở lĩnh vực âm nhạc cổ truyền dân tộc. Có biết bao câu chuyện cảm động về mối quan hệ này.

Nghệ sĩ tuồng Nguyễn Nho Tuý đã không ngờ cái nghề diễn tuồng trước đây bị xem là “xướng ca vô loài” lại được Bác Hồ và các đồng chí Trung ương ngồi xem trân trọng đến thế…. “Bác còn bước lên sân khấu bắt tay anh chị em tôi, lại ân cần dặn dò: “Nghệ thuật của ông cha ta hay lắm, tốt lắm! Cố mà giữ gìn“.

Qua các đoạn hồi ký của nghệ sĩ Thương Huyền chúng ta được biết chị là một trong những nhà hoạt động nghệ thuật may mắn và vinh dự được sự chăm sóc và chỉ bảo ân cần của Bác ngay từ những ngày đầu thành lập chính quyền cách mạng “Ngay từ lúc còn là một cô gái 20 tuổi, hát trong những cuộc hội họp của quần chúng sau những ngày Cách mạng Tháng Tám, tôi đã được gặp Bác. Nghe tôi hát, Bác động viên: “Cháu hát tốt lắm, nhưng phải cố gắng, tập thêm nhiều bài mới để phục vụ chiến sĩ, đồng bào và phải chú ý thuộc nhiều dân ca” Thời kỳ tôi ở đoàn ca múa trung ương. Có lần Bác đến thăm chúng tôi biểu diễn vở chèo “Chị Tấm anh Điền”. Diễn xong, Bác cho gọi cô Tấm (do tôi đóng) đến thưởng cho một đĩa kẹo rồi nói: “Hôm nay cháu hát khá hơn các lần trước nhưng vẫn phải cố gắng nhiều hơn”.

Bác Hồ thăm hỏi các văn nghệ sĩ tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ III. Ảnh: cand.com

Đối với nghệ sĩ, Bác không chỉ động viên khen ngợi, nhắc nhở phải phấn đấu tiến bộ không ngừng trong nghề nghiệp, mà con có những nhận xét chi tiết về chuyên môn để giúp nghệ sĩ khắc phục những nhược điểm nhằm đem lại hiệu quả  nghệ thuật cao hơn, phục vụ công chúng tốt hơn, Thương Huyền giữ mãi một kỷ niệm đáng ghi nhớ: “Tết năm đó, chúng tôi ăn Tết với trung ương ở ATK (an toàn khu). Riêng tôi thỉnh thoảng được Bác dặn: “Cháu hát hay, nhưng luôn nhớ là phải cố gắng hát thật rõ lời và chậm thôi để người ta hiểu được hết nội dung ý nghĩa của bài hát“. Một lần khác, vào những năm chống Mỹ, chị được mời đến Phủ Chủ tịch để xem phim. Trước khi chiếu phim Bác hỏi những người cùng xem trong cơ quan có thích nghe Thương Huyền hát không, mọi người đồng thanh hưởng ứng. Bác liền nói: “Cô Huyền hát đi, hát ru con Nam bộ, hát quan họ Bắc Ninh tuỳ ý, nhưng nhớ là hát phải thong thả và rõ lời”.

Sự quan tâm chăm sóc của Bác đối với đội ngũ nghệ sĩ, hơn thế nữa, đối với từng người cụ thể, không chỉ là mối quan hệ giữa một lãnh tụ đối với nghệ sĩ mà trước hết là tình thương của người cha, người bác  đối với con cháu. Đó là cái cốt lõi nhân bản đậm bản sắc dân tộc trong đạo đức của Người.

Đối với người nghệ sĩ Bác còn dành sự quan tâm đến đời sống thường ngày và quan hệ xã hội gia đình của họ. Nghệ sĩ  Ái Liên, người đã hoạt động trong ngành nghệ thuật cải lương từ trước cách mạng, đã kể lại những mẩu chuyện cảm động trong lần chị và gia đình được đến thăm và biểu diễn cho Bác nghe. Có lần Bác hỏi: “Cô được mấy cháu rồi? Cháu nhỏ, cô đi biểu diễn vất vả lắm không?” Gặp chị lần khác Bác lại hỏi: “Các cháu khỏe cả chứCô đi biểu diễn thế có khi nào mời bà cụ giúp việc đi xem không?”.

Bác khuyên các nghệ sĩ phải trau dồi, học hỏi vốn âm nhạc dân tộc không chỉ là làn điệu bài bản, các hình thức, phong cách… mà ở cả trong các nghệ nhân, ở những lớp người đi trước. Họ cũng là vốn quý của nghệ thuật dân tộc.

Nghệ sĩ sáo Đinh Thìn  kể lại:  Có một lần sau khi thổi sáo cho Bác nghe, nghe xong Bác gật gù và hỏi anh thổi sáo đã lâu chưa và học ai. Đinh Thìn thưa với Bác về cụ Ly, một nghệ nhân giỏi sáo dạy anh, nay đã gần 70 tuổi. Bác hỏi thân thế và hoạt động của người nghệ nhân và nói:

Thế là tốt, cháu đã gặp thầy rồi đó”.

Bác rất yêu thích âm nhạc dân tộc và quen thuộc nhiều làn điệu dân ca. Chưa có nguồn tự liệu nào cho biết thời trẻ Bác đã tập chơi loại nhạc cụ gì. Vậy mà những năm cuối đời, một lần sau khi nghe nghệ sĩ biểu diễn tiết mục sáo trúc, Bác hỏi:

– Chiếc sáo này cháu tự làm lấy hay mua?
– Dạ thưa Bác cháu tự làm.
– Tự làm như thế là giỏi… trong kháng chiến chiến chống Pháp, Bác thấy các chú bộ đội làm sáo nhanh lắm. Đi hành quân, đi tập đều mang theo thổi rất vui.

Nói rồi Bác cầm ống sáo hỏi cách thổi, bấm ngón, lấy hơi và nghệ sĩ đã kể lại cái phút lạ lùng ấy: “Bác để sáo lên miệng thổi. Không khí trong phòng bấy giờ như ngưng đọng lại, mọi người nín thở chờ đợi tiếng sáo của Bác, Bác lấy hơi, nhẹ thổi, hơi chạy vào trong ống sáo, thoát ra các ngón tay của Bác gợi thành một làn điệu dân ca. Bác thổi vừa dứt thì tiếng vỗ tay trong phòng rộn lên, vừa ngạc nhiên vừa sung sướng”.

Câu chuyện trên đây tưởng như một huyền thoại, nhưng có lẽ không phải huyền thoại. Bởi lẽ hồn nhạc dân tộc từ lâu đã thấm sâu vào trái tim và tình cảm của Người – Một cuộc đời vĩ đại mà 79 mùa xuân xuất hiện trên hành tinh này đã để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân toàn Đảng và bạn bầu quốc tế.

vietnamnet.vn

Bác là tấm gương sáng về tiết kiệm

Chúng ta đang tích cực và nghiêm túc thực hiện Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, với tấm gương đạo đức sáng ngời của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Ở Bác, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí không chỉ thể hiện trong lời nói mà còn trong mọi việc làm hằng ngày.

Người ta biết đến Bác với những câu chuyện Bác đi dép cao su, mặc áo ka ki bạc màu, ăn cơm đạm bạc rau muống chấm tương… Nhưng ít ai biết, cả đời Bác chắt chiu từng mẩu giấy trắng. Cho đến những ngày cuối cùng, sửa lại những dòng chữ cuối cùng trong Di chúc của mình, Bác vẫn dùng mặt giấy còn lại của tờ bản tin…

Chuyện kể rằng, thực hiện ý kiến nhắc nhở của Bác, Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) hằng ngày gửi bản tin để Bác đọc, đều in hai mặt giấy. In rônêô, nên bản tin hay bị nhòe, Bác vẫn cố gắng đọc. Sang năm 1969, thấy Bác không được khỏe, TTXVN gửi bản tin in một mặt. Xem xong, những tư liệu, tin tức cần thiết, Bác giữ lại, còn thì gửi cho Văn phòng để gấp thành “phong bì tiết kiệm”…

Gần bốn tháng trước khi qua đời, ngày 10-5-1969, Bác viết lại toàn bộ phần mở đầu bản Di chúc, gồm một trang viết tay, vào mặt sau tờ tin Tham khảo đặc biệt ra ngày 3-5-1969. Bác viết những dòng chữ lịch sử và vô cùng thiêng liêng ấy bằng mực xanh và chữ sửa sau đó bằng mực đỏ. Những chữ mực đỏ, nét run run, không cứng cáp như Bác thường viết. Có lẽ Bác sửa lần cuối Di chúc, khi thấy trong người không còn khỏe…

Nhìn những dòng chữ ấy trên mặt giấy tiết kiệm, mọi người đều xúc động và càng kính trọng Bác bao nhiêu lại càng thương Bác bấy nhiêu.

Thanh Hương

bqllang.gov.vn

Tiết kiệm chút nào là có lợi cho dân chút ấy !…

Vào năm 1955, Bác Hồ đến thăm công trường xây dựng cầu Phủ Lạng Thương. Đầu tiên, Bác đến thăm khu nhà ở, khu vệ sinh, giếng nước ăn và nhà bếp tập thể của công nhân.

Sắp đến giờ ăn trưa, Bác mở lồng bàn, xem suất cơm và các món ăn, rồi Bác khoát tay gọi anh chị em công nhân lại gần và nói: “Bác hỏi câu này, các cháu phải trả lời trung thực – mọi người còn đang bất ngờ, Bác hỏi luôn – Hằng ngày các cháu có được ăn nhiều cơm, đủ món ăn như hôm nay không? Hay biết tin Bác đến, các chú chỉ huy công trường “làm cỗ” để Bác vui lòng ?”.

Thực tế, thợ cầu đường là những người vất vả, cực nhọc nhất, nên chỉ huy công trường thường xuyên chăm lo miếng ăn, giấc ngủ cho anh em, không có chuyện bày đặt để làm vui lòng Bác. Nhưng sau câu hỏi sâu sát của Bác, mọi người đều thấm thía về sự trung thực, về sự chăm lo lẫn nhau trong điều kiện có nhiều khó khăn. Nếu có sự bày đặt, chắc chắn uy tín của cán bộ chỉ huy công trường sẽ bị giảm sút. Nguy hại hơn, sự đoàn kết, nhất trí của tập thể cũng giảm sút theo và tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng công trình.

Cũng nhân một bữa ăn, Bác lại nhắc đến việc tiết kiệm. Đó là dịp Đại hội Đảng lần thứ III, Bác thường xuyên ăn cơm cùng các đại biểu. Một bữa trưa, Bác ăn cơm với đoàn đại biểu ngành Đường sắt. Mấy anh chị cứ chống đũa không chịu ăn để được ngắm Bác. Thấy vậy, Bác đến bên và hỏi vui: “Các cô, các chú mệt quá hay ốm mà bỏ cơm thế này? – Rồi Bác nói luôn – ăn ngon miệng, ăn hết thì báo nhà bếp nấu thêm. Nhưng ăn không hết cũng phải báo cho nhà bếp để giảm khẩu phần đi. Mỗi đĩa xào, mỗi bát canh đều là tiền của đóng góp của nhân dân lao động. Tiết kiệm, thu vén được chút nào là có lợi cho dân chút ấy !”.

Mọi lúc, mọi nơi, trong mọi lời nói, mọi cử chỉ của Bác Hồ đều thấm đẫm tình yêu thương và bài học về đạo đức. Hãy lắng nghe, hãy làm theo Người, bởi tư tưởng, đạo đức của Người vẫn là sự tốt đẹp, trong sáng nhất.

Vũ Trần

bqllang.gov.vn

Ðức của Bác lớn lắm, sáng lắm

Ðối với dân tộc ta, nhân dân ta, công đức và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh là vô cùng to lớn. Ðã có rất nhiều bài văn, bài báo, bài thơ, bài hát, bài ca dao, vở kịch, tấm ảnh và cả những bài luận văn có tầm cỡ ngợi ca đức tính tốt đẹp, công lao vĩ đại của Người. Có thể tóm tắt những lời ngợi ca ấy bằng bốn chữ “Ðức lớn, tâm đầy”.

“Chỉ có ít nhân vật lịch sử trở thành huyền thoại ngay khi còn sống. Hồ Chí Minh là một trong số đó. Người được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ, mà còn là nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này”. (Tiến sĩ M.Amét, Giám đốc UNESCO khu vực châu Á – Thái Bình Dương).

Khi nói về chữ Ðức ở Bác rất nên ghi lại những lời chân thành của cố Phó Thủ tướng Phan Kế Toại. Cụ Phan gần Bác suốt cả chín năm kháng chiến nơi chiến khu Việt Bắc, cho nên cụ rất hiểu Bác. Cụ nói: “Gần Ông Cụ thì lòng dạ mình được sáng thêm, ý thức phục vụ nhân dân càng đầy thêm. Hồ Chí Minh như một trái núi nam châm, Bác có sức hút mãnh liệt lại có sức tỏa sáng rộng lớn”.

Cố Tổng Thư ký Ðảng Xã hội Việt Nam, nhà khoa học Nguyễn Xiển cảm nhận được tấm lòng, đức độ của Bác qua những ánh mắt nhân hậu của Bác. Ông đã có một câu nói xuất phát từ trái tim của một nhà trí thức đã đi theo Bác Hồ từ những ngày đầu tiên: “Lá cờ đỏ sao vàng với cặp mắt Bác Hồ, đó là mùa xuân của dân tộc và cũng là mùa xuân của đời tôi”.

Những ngày nước ta mới giành được chính quyền, nạn đói chưa dứt, lại lăm le giặc ngoại xâm, bao nhiêu là gánh nặng của quốc gia đặt lên đôi vai gầy của Bác. Nhiều đêm Bác thức với ngọn đèn chong. Ðồng chí Hoàng Hữu Kháng, một trong tám đồng chí bảo vệ Bác nhớ lại những năm tháng gian truân ấy: “Tính Bác rất dễ xúc động. Có một đêm Bác ngủ trên một căn gác của một ngôi nhà. Bốn giờ sáng, Bác thức giấc. Ngoài trời gió vun vút đập vào cửa kính. Ở trong phòng còn thấy lạnh, thế mà có tiếng trẻ em rao hàng cuối đường phố vọng lên. Bác mở cửa sổ ngó nhìn cho tới khi chú bé rao hàng đi khuất, Bác mới từ từ khép cửa lại”.

Báo “Sống” số 1 ra ngày 6-1-1946 tại thủ đô Hà Nội viết về cái rét cuối năm 1945 và tấm lòng của Bác. Năm 1945 ấy, dân ta đã đói lại rét, mà cách mạng vừa mới thành công, việc nước còn ngổn ngang trăm mối. Chính phủ do Bác đứng đầu đang gắng sức giải quyết từng việc lớn. Trời rét lạnh lại có mưa phùn, nhìn trời nhìn đất, Bác nói: “Rét thế này, đêm qua có bao đồng bào đói rách chết bên đường”.

Một đời lo việc nước, việc dân, Bác sống gương mẫu, nêu một lối sống “nhân văn cộng sản” cho mọi người trông vào và có thể noi theo. “Chúng tôi hiểu và nhận ra rằng: chính cái giản dị ấy, cái khả năng hòa mình vào nhân dân ấy là cơ sở cho sự thành công của ông. Ðịa vị càng cao, ông càng giản dị, trong sạch hơn. Hình như ông luôn luôn giữ được giá trị vĩnh viễn của người Việt Nam”. (Nhà báo David Sten, Australia).

Ca dao dân gian có câu: “Ðếm sao cho hết vì sao; Kể sao cho hết công lao Cụ Hồ”. Bác là người không chỉ đấu tranh cho nền độc lập, tự do của dân tộc ta mà còn là người góp phần soi ánh sáng cho các dân tộc mạnh bước trên con đường tranh đấu của mình. R.Chandra, nhà văn hóa nổi tiếng Ấn Ðộ, một chiến sĩ hòa bình được thế giới yêu mến, viết: “Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập, tự do, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu chiến đấu cho hòa bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ đâu nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống lại đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao”.

Theo Báo Nhân dân

bqllang.gov.vn

Chu đáo từ việc nhỏ nhất

Bất kể ai vinh dự được sống, làm việc gần Bác đều có thể kể về hàng trăm việc làm, cử chỉ chăm lo chu đáo từ việc nhỏ nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với mọi người.

Cuối năm 1950, Bác đi dự Lễ tổng kết chiến dịch Biên giới. Khi về, Người không quên gửi quà cho hai nữ nhân viên văn phòng. Đó là mấy chiếc kẹo sôcôla, quà chiến lợi phẩm sau chiến dịch Biên giới, chiêu đãi tại hội nghị.

Ở chiến khu, gần nơi Bác ở có các cháu là con của các đồng chí lãnh đạo, như con các anh Trần Duy Hưng, Trường Chinh… Lâu lâu, vào chủ nhật, Bác cho đón các cháu vào chỗ Bác chơi, chiều lại về với bố mẹ. Một hôm, vợ đồng chí Trường Chinh đến thăm Bác, có dắt theo con nhỏ. Hai bác cháu chơi với nhau rất vui. Bác hỏi: “ở đây với Bác nhé!”. Cháu bé vui vẻ nhận lời ngay. Nhưng đến khi mẹ về, cháu quên ngay lời hẹn ở lại, vội chào Bác và chạy theo mẹ. Bác tiễn cháu, nước mắt rưng rưng: “Cái nghiệp mình thế, không có gia đình!…”. Bà Trường Chinh lặng người, thương Bác vô cùng!. Hơn ai hết, bà biết Bác luôn quan tâm chăm lo cho gia đình mọi người và thường nhắc nhở bố trí cho các gia đình cán bộ ở gần cơ quan.

Theo lời kể của nhiều người, buổi tối hôm diễn ra Đại hội liên hoan Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần đầu tiên, tại Việt Bắc hồi tháng 5 năm 1952, có chiếu phim. Bác ngồi xem ở hàng cuối, cạnh nhà thơ Tú Mỡ. Phe phẩy quạt giấy, Tú Mỡ cố ý quạt nghiêng sang phía Bác. Một lúc sau, Bác bảo Tú Mỡ đưa quạt và Người cũng phe phẩy, cố ý để Tú Mỡ cùng được hưởng mát. Chiếu bóng xong, mọi người lục tục đứng dậy ra về, Bác vội đứng lên, giơ tay ra hiệu trật tự và nói to: “Hãy khoan đã, để cho các cháu bé ra trước, kẻo lộn xộn, các cháu sẽ lạc đấy!”. Bác lo toan hàng vạn việc lớn lao, nhưng vẫn không quên những việc nhỏ, đời thường mà nhiều người không hề nghĩ tới…

Thanh Hương

Bữa tiệc tân gia nhà sàn Bác Hồ

Chuyện làm nhà cho Bác Hồ ở đã được báo cáo trước với Bác, kể cả phần dự trù kinh phí. Sợ việc làm nhà ồn ào, bụi bặm ảnh hưởng tới sức khỏe của Bác nên anh em đợi đúng dịp Bác đi công tác mới khởi công. Ai nấy đều thấy vinh dự, tự hào được làm nhà cho Bác Hồ nên đều cố gắng hết sức mình, sao cho nhà Bác đẹp, chắc chắn và xong trước ngày Bác đi công tác về. Một đợt thi đua tự giác, không cần phát động…

Quả nhiên, trước hôm Bác về, mọi việc đều đã đâu vào đấy. Nhìn ngôi nhà sàn hai gian thoáng đãng, tầng dưới bốn phía đều để trống, tầng trên chia làm hai phòng, một phòng để Bác làm việc, một phòng để Bác nghỉ, xung quanh là hành lang rộng có mành che, mọi người vừa mừng, vừa hồi hộp. Không biết ngôi nhà có hợp ý Bác không ? Ai cũng mong được nghe ý kiến trực tiếp của Bác.

Như đoán được ý nghĩ của mọi người, Bác tổ chức một bữa “tiệc ngọt”, liên hoan ngay ở tầng dưới ngôi nhà sàn. Anh em nói vui, gọi đó là “bữa tiệc tân gia” mừng nhà mới của Bác. Kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh (người có vinh dự được giao nhiệm vụ thiết kế và thi công nhà sàn Bác Hồ) kể rằng, không khí buổi liên hoan vừa thiêng liêng, vừa đầm ấm lạ thường. Bác như người cha hiền từ với đàn con xúm xít chung quanh, vui mừng khi trong nhà làm được một việc lớn. Bác giục mọi người ăn kẹo, uống nước. Nói về việc làm nhà sàn, Bác khen:

– Các chú làm như thế là nhanh, tốt, bảo đảm thời gian, nhưng còn một khuyết điểm. Các chú có biết khuyết điểm gì không ?

Mọi người nhìn nhau lo lắng. Kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh vội đáp lời:

– Thưa Bác, so với ý Bác dặn thì có tốn kém hơn đôi chút ạ!

– Chú nói đúng ! – Bác cười, chòm râu rung nhè nhẹ.

– Thưa Bác, làm nhà để Bác ở, chúng cháu ai cũng cố gắng làm tốt, làm đẹp trong từng phần việc của mình. Mỗi người dù rất tiết kiệm, nhưng vẫn phải thêm thắt tý chút. Chúng cháu còn muốn Bác ở nhà đẹp hơn, tốt hơn – Anh Ninh lại đỡ lời.

– Nước ta còn chưa giàu – Bác Hồ nói tiếp – dân ta còn khổ, chưa đủ nhà ở. Bác ở thế này là quá tốt rồi, các chú không phải lo cho Bác.

Hôm tân gia và cũng là ngày Bác dọn về ở nhà sàn đúng ngày 18-5-1958, một ngày trước sinh nhật của Người. Nhà sàn trở thành món quà sinh nhật lớn thật có ý nghĩa.

Thanh Hương

bqllang.gov.vn

Thương Bác vô cùng !…

Bà Dương Thúy Liên, cán bộ Văn phòng Phủ Chủ tịch từ năm 1949 đến năm 1954, kể lại rất nhiều câu chuyện cảm động về Bác Hồ kính yêu, nhất là sự giản dị, tiết kiệm trong cuộc sống, trong sinh hoạt của Bác.

Bà Dương Thúy Liên, cán bộ Văn phòng Phủ Chủ tịch từ năm 1949 đến năm 1954, kể lại rất nhiều câu chuyện cảm động về Bác Hồ kính yêu, nhất là sự giản dị, tiết kiệm trong cuộc sống, trong sinh hoạt của Bác.

Bà kể: “Ngoài công việc chuyên môn của văn phòng, tôi còn nhận thêu thùa, may vá quần áo, chăn màn, vỏ gối cho Bác. Nhiều tấm áo rách, phải vá đi, vá lại mấy lần Bác mới chịu bỏ, thay áo khác. Có lần, anh Cần (người phục vụ Bác) đưa cho tôi chiếc vỏ gối màu xanh hòa bình và bảo vá tiếp chỗ rách. Cầm chiếc vỏ gối đã vá đi vá lại, miếng vá nọ thay miếng vá kia, tôi rưng rưng nước mắt, nói với anh Cần:

– Thôi, anh đừng bắt tôi vá áo gối cho Bác nữa, tôi thương Bác lắm, anh thay chiếc áo gối khác cho Bác dùng !

– Tôi đã đề nghị với Bác thay áo gối mới, nhưng Bác chưa đồng ý. Chị chịu khó vá giúp tôi ! – Anh Cần nói.

Tay cầm kim mà tôi không đưa nổi mũi kim. Tôi xúc động và thương Bác quá chừng. Bác thường giải thích, đất nước vẫn còn nghèo, dân ta vẫn còn khổ, mọi người, mọi nhà đều phải thực hành tiết kiệm, Bác căn cơ như thế cũng là việc nên làm… Mỗi lần may vá quần áo, chăn màn cho Bác, tôi đều thấy thân thương, gần gũi như đang chăm sóc người cha. Bác đối với chúng tôi cũng như người cha, người anh đối với con em mình”.

Bà Liên còn kể, hồi ở chiến khu Việt Bắc, có một lần Bác đi công tác về muộn và khá mệt, bà được mọi người giục nấu cháo để Bác ăn. Đang nằm nghỉ, nghe thấy chuyện nấu cháo, Bác liền nhổm dậy bảo: “Còn cơm thừa, cô Liên đem nấu cháo cho Bác, vừa nhanh chín, vừa đỡ phí !”. Mấy người có mặt khi đó đều lặng đi vì thương Bác. Đã mệt, không ăn được cơm, mà lại ăn cháo cơm nguội rời rạc, khó ăn, ai mà không thương Bác. Biết thế, nhưng bà Liên vẫn phải làm theo, nếu không sẽ bị Bác phê bình nghiêm khắc.

Vũ Trần

bqllang.gov.vn

“Ngăn giặc lụt cũng như chống giặc ngoại xâm”

Quân dân miền Trung vừa phải gồng mình đối chọi với một đợt lũ chồng lũ lịch sử mà gần nửa thế kỷ qua mới có. Trong lúc việc khắc phục hậu quả lũ chưa xong thì cơn bão số 7 lại đang trên đường tiến vào đất liền. Thiên tai đã và đang đe doạ đến cuộc sống của rất nhiều người dân đất Việt.

Nhớ lại sáu mươi năm trước, trong thư gửi đồng bào trung du và hạ lưu chống lụt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Người ta thường nói “thuỷ, hoả, đạo, tặc”. Chúng ta phải ra sức ngăn giặc lụt cũng như chống giặc ngoại xâm”.

Thực hiện lời dạy của Bác, trong suốt sáu chục năm qua, cùng với nhiệm vụ xây dựng, giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, cả nước đã dồn sức, dốc lực trong công cuộc phòng chống thiên tai. Cũng như trên mặt trận chống giặc ngoại xâm, trên mặt trận phòng, chống lụt bão, vai trò của quân đội đã luôn ở vị trí xung kích. Đặc biệt, trong đợt lũ lịch sử vừa qua, các đơn vị quân đội đã là lực lượng chủ công trong việc sơ tán dân, cứu hộ, cứu nạn. Nhân dân Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Quảng Ngãi… sẽ khó phai mờ hình ảnh các anh Bộ đội Cụ Hồ thức suốt đêm để bảo vệ an toàn đê biển, lội nước đến tận bụng để cõng người già, trẻ em ra khỏi vùng nguy hiểm, thả hàng cứu trợ bằng máy bay trực thăng…

Tuy nhiên, qua đợt cao điểm phòng, chống thiên tai vừa qua, cũng phải thẳng thắn đánh giá, ở một vài địa phương đã không thực hiện tốt lời Bác dạy, chưa coi việc ” ngăn giặc lụt cũng như chống giặc ngoại xâm”, tổ chức hiệp đồng chưa tốt, để xảy ra thiệt hại lớn về người và tài sản. Thậm chí có nơi bị động khi nước lũ lên nhanh, các phương tiện thông tin liên lạc khi bão, lũ ập về không phát huy được tác dụng. Công tác sơ tán dân đã không thực hiện kiên quyết, dẫn đến những tai nạn đáng tiếc cho dân. Việc khắc phục hậu quả chưa kịp thời, dẫn đến những tổn thất do bão lũ gây ra rất lớn.

Để chống được giặc ngoại xâm, từ hàng nghìn năm nay, chúng ta đã có rất nhiều bài học xương máu từ công tác tổ chức, chỉ huy, xây dựng chiến thuật, thế trận…Để phòng, tránh và ngăn chặn thiên tai, chúng ta cũng đã từng có những kinh nghiệm rất quý từ việc đắp đê chống lụt đến chuyện xây nhà chống bão. Thế nhưng, cũng giống như chống giặc ngoại xâm để “ngăn giặc lụt”, đòi hỏi người dân vùng lụt phải tổ chức chặt chẽ, có thế trận hiệp đồng, có chỉ huy, sự phối hợp giữa các lực lượng…

Việt Nam nằm trong vùng có nhiều thiên tai của thế giới, trong đó nhiều nhất là bão, lũ. Dù khoa học kỹ thuật đã phát triển đến mức rất cao, nhưng cho đến thời điểm này, chúng ta chưa có khả năng điều chỉnh hướng đi của bão theo ý muốn, chưa có khả năng khống chế thời tiết mưa, nắng trên diện rộng. Vì vậy việc tránh thiên tai là rất khó. Thế nhưng, chúng ta hoàn toàn có khả năng giảm thiểu tác hại của thiên tai thông qua các giải pháp thích hợp như sơ tán dân khỏi vùng nguy hiểm, không cho tàu thuyền hoạt động ở những vùng có gió bão, neo chắc nhà cửa, tổ chức tốt việc cứu nạn… “Ngăn giặc lụt cũng như chống giặc ngoại xâm”, lời dạy của Bác Hồ từ sáu chục năm trước, cho đến thời điểm này vẫn còn nguyên tính thời sự.

Lê Văn Thuỳ

bqllang.gov.vn

Mong có sức khoẻ để phục vụ Đảng và nhân dân

(ĐCSVN)-“Tôi chỉ nghĩ sao còn có sức khỏe tốt để làm được nhiều việc Đảng và nhân dân giao cho. Tôi cũng rất tin tưởng và mong muốn lớp đảng viên trẻ hôm nay sẽ học tập thấm nhuần tư tưởng đạo đức của Bác Hồ, luôn phát huy được vai trò gương mẫu của người Đảng viên”.

Tôi gặp ông tại hội nghị khen thưởng của thành phố về tấm gương người tốt việc tốt. Tôi cứ có ấn tượng mãi về ông, nhìn bề ngoài trông ông giống như một “Bác chủ nhiệm hợp tác xã thời bao cấp”, dáng vẻ hiền lành, nụ cười đôn hậu chất phác. Ông Nguyễn Văn Nịnh ở số 10/11B ngõ Thanh Miến, Phường Văn Miếu, Quận Đống Đa, Hà Nội – hiện ông là Bí thư chi bộ cụm dân cư số 2 thuộc phường Văn Miếu. Ông sinh năm 1932, năm nay đã bước sang tuổi 75 và có hơn 57 năm tuổi Đảng, sinh ra và lớn lên tại quê lụa Hà Đông, xuất thân từ một gia đình bần nông.Năm 1949 sớm được giác ngộ cách mạng, người thanh niên 16 tuổi Nguyễn Văn Nịnh đã tham gia du kích tập trung của xã chiến đấu chống càn quét của thực dân Pháp. Năm 18 tuổi, theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc, ông gia nhập bộ đội chủ lực F320 tham gia chiến dịch Trung du – Hà Nam Ninh. Năm 1952 bị giặc Pháp bắt giam tại nhà tù Nhà Tiền Hà Nội (Nay là nhà in Tiến Bộ), sau bị chuyển vào nhà giam Hạnh Thông Tây, Sài Gòn. Mặc dù bị địch tra tấn dã man nhưng ông vẫn giữ vững ý chí chiến đầu kiên cường của người chiến sỹ cách mạng. Hòa bình lập lại, ông được trao đổi tù bình về E55 thuộc Bộ tổng tư lệnh, sau đó ông chuyển về ngành giao thông vận tải. Trải qua các thời kỳ được học tập đào tạo chính trị, chuyên môn nghiệp vụ từ công nhân sửa chữa động cơ ô tô trở thành cán bộ chính quyền, công đoàn cơ sở của ngành vận tải ô tô. Dù ở bất cứ vị trí nào, ông luôn phát huy phẩm chất người lính bộ đội Cụ Hồ, hoàn thành tốt mọi công việc được giao. Về hưu trở về đời thường, bầu nhiệt huyết cách mạng và mong muốn được cống hiến vẫn tiếp tục thôi thúc người Đảng viên lão thành không quản tuổi cao, sức khỏe ông đã tham gia nhiều hoạt động ở địa phương như: Chi hội trưởng Hội cựu chiến binh, thành viên ban công tác Mặt trận, Bí thư chi bộ cụm dân cư. Với bản tính nhiệt tình và đầy trách nhiệm ông lại tối ngày lăn lộn với phong trào, luôn gương mẫu đi đầu trong thực hiện các chủ trương chính sách pháp luật của Đảng và nhà nước. Trong cuộc sống gia đình ông thực sự là một tấm gương sáng cho các con cháu noi theo. Hàng ngày, ông đảm đương việc nội trợ, từ mua bán thực phẩm đến nấu nướng giặt giũ và thuốc men chăm sóc người vợ bị ốm suốt 14 năm kéo dài của bệnh tiểu đường cao huyết áp. Năm 2001 vợ ông bị tai biến tê liệt nửa người, lúc đầu nằm bất động ông đã học và thực hiện phương pháp chữa bệnh cho vợ cùng chế độ ăn uống hợp lý, thuốc men uống đều theo sự chỉ dẫn của bác sỹ, ông đã tự tiêm cho bà một ngày 4 lần. Ông thường xuyên đưa bà ra vườn hoa bằng xe lăn để rèn luyện sức khỏe mong kéo dài tuổi thọ cho bà. Ông còn nuôi một cháu ngoại từ nhỏ sau khi mẹ cháu qua đời, đến nay cháu ngoại của ông đã lập gia đình và có công ăn việc làm ổn định.

Ông tâm sự “ Tôi tuổi đã cao, sức khỏe giảm đôi lúc thay đổi thời tiết, bệnh phổi và bệnh tim do di chứng của thời kỳ bị giặc tra tấn tù đày lại làm cho tôi có những cơn đau tức ngực khó thở, có lúc tôi nghĩ sở dĩ tôi vượt qua được những khó khăn vất vả chồng chất trong cuộc sống hàng ngày về gia đình lại đảm nhiệm được bí thư chi bộ là người đứng đầu lãnh đạo khu dân cư với biết bao diễn biến hàng ngày xảy ra. Tôi chỉ tự nhủ mình phải toàn tâm toàn trí không tiếc sức mình óc nghĩ chân bước tay làm cùng với tập thể cấp ủy, cán bộ cơ sở củng cố kiện toàn hệ thống chính trị cơ sở, cùng nhau hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao”.

Trước khi chia tay, tôi mới nói mục đích của buổi gặp gỡ. Ông cười khiêm tốn nói : “Tôi chỉ nghĩ sao còn có sức khỏe tốt để làm được nhiều việc Đảng và nhân dân giao cho và bù đắp lại một phần cho vợ tôi lúc tuổi xuân ở nhà chăm sóc mẹ già em nhỏ đảm đương công việc gia đình để tôi yên tâm đi kháng chiến”./.

Lê Châu

bqllang.gov.vn

Bài học trong lần gặp Bác

Đã vào tuổi xưa nay hiếm, nhưng bà vẫn tích cực tham gia công tác phụ nữ ở phường Thanh Lương. Các con bà đều đã trưởng thành, công tác ở các cơ quan của Đảng, Nhà nước… Tên bà đã từng được Nhà xuất bản Giáo dục đưa vào bài toán đố học sinh cấp I thời chống Mỹ: “Chị Nguyễn Thị Minh Liên mỗi công ca máy dệt được 28,5m vải…”.

“Năm 1958, tôi xung phong vào công trường xây dựng Nhà máy dệt 8-3, đến cuối năm 1964 các phân xưởng dệt, sợi, nhuộm đã được hình thành. Lớp công nhân đầu tiên vào phân xưởng dệt có bà Kiều Minh Châu, tôi, Nguyễn Kim Dung… Đúng ngày 8-3-1965, Nhà máy khánh thành và vinh dự được đón Bác về thăm. Từ phân xưởng dệt, tôi chạy như bay sang phân xưởng nhuộm. Anh chị em đứng quanh Bác đông nghịt. Tôi cố kiễng chân lên để nhìn Bác cho rõ và nghe Người nói chuyện.

Làm theo lời Người dạy, cả nhà máy bừng lên khí thế mới hăng say sản xuất “Mỗi người làm việc bằng hai, vì miền Nam ruột thịt” và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Thủ đô. Tôi đảm nhận từ 4 máy lên 8 máy rồi 12 máy trong suốt ca dệt và thường xuyên đạt 28-30m vải một công ca máy, dẫn đầu phân xưởng dệt phẳng. Ngoài giờ sản xuất, tôi tham gia đại đội tự vệ của nhà máy. Là phụ nữ chân yếu tay mềm, nhưng chúng tôi đều phải luyện tập thành thục để bắn trả máy bay Mỹ. Năm 1968, tôi được chọn đi hội thao các môn quân sự ở trường bắn dưới Từ Liêm do Bộ Tư lệnh Thủ đô tổ chức và đạt 4 điểm 10 ở môn bắn súng, giành giải Nhất. Cũng sáng hôm ấy tôi được lãnh đạo nhà máy báo chuẩn bị lên gặp Bác. Tôi vô cùng hồi hộp và sung sướng. Chiếc xe con đưa tôi vào đến sân Phủ Chủ tịch rồi mà tôi vẫn thấy trống ngực đập thình thịch. Ngồi trong phòng khách, tôi hồi hộp chờ đợi giây phút được gặp Bác. Rồi Bác xuất hiện vẫn chiếc áo ka ki giản dị mà tôi nhìn thấy trên ảnh. Bác tươi cười ôm hôn tôi hỏi “Nữ du kích Hoàng Ngân đoạt giải Nhất ở hội thi hôm qua đây phải không ? Cháu giỏi lắm !”. Nói sao hết bao nỗi xúc động của tôi lúc đó. Người ân cần hỏi chuyện chồng tôi đi B năm nào ? ở chiến trường nào ? Mẹ già có khỏe không? Các con đi sơ tán có khỏe không ? Học giỏi không?”. Tôi trả lời từng câu hỏi của Bác mà lòng cảm động khôn xiết. Bác đưa tôi vải lụa mang về biếu mẹ già và vải áo cho hai con, tặng tôi huy hiệu của Người. Người ôm hôn tôi lần nữa và dặn dò tôi cố gắng nuôi con tốt, sản xuất và chiến đấu giỏi, xứng đáng là con cháu Bà Trưng, Bà Triệu. Tôi nhận quà và nghe Bác dặn mà nước mắt bỗng trào dâng.

Sau lần gặp Bác, tôi vinh dự được đi dự Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc. Đó là những kỷ niệm thiêng liêng không bao giờ phai mờ trong ký ức tôi, người thợ dệt, cán bộ công đoàn phân xưởng dệt Nhà máy Dệt 8-3. Nhớ lời Bác dạy, tôi đã vượt qua nỗi đau đớn khi chồng tôi hy sinh. Tôi đã nén chịu riêng mình để các con yên vui học hành. Một mình gánh vác hai bên nội ngoại, tôi như con thoi giữa nhà máy và hai quê, vừa bảo đảm chất lượng vải trong ngày tăng ca (từ 2h chiều đến 6h sáng hôm sau), vừa lo cho cha mẹ già và hai con ăn học. Những ngày gian nan ấy, tôi luôn như thấy lời Bác văng vẳng và hình ảnh Bác bên mình tiếp thêm cho tôi sức mạnh vượt qua khó khăn. Năm 1969, trong đoàn đại biểu của Nhà máy đi viếng Bác, trước linh cữu của Người tôi thầm hứa sẽ khắc ghi lời Người dặn dò. Trong cuộc thi thợ giỏi toàn miền Bắc lần thứ hai, tôi đã giành giải nhất. Năm 1976, tôi được chọn vào đoàn đại biểu của Hội LHPN VN đi thăm các nước bạn bè.

Những lời Người dặn luôn thôi thúc tôi phấn đấu, trong 10 năm liền (1967-1977) tôi liên tục giữ vững danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn ngành dệt. Tôi vẫn dặn dò con cháu phải liên tục học và làm theo tấm gương của Người vì tôi có được như ngày nay là nhờ những bài học mà tôi đã học được trong lần gặp Bác.

Nguyễn Phạm

bqllang.gov.vn