Tag Archive | Lãnh tụ vĩ đại

Bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác giữa ta và Bạn

Bước vào thập kỷ 90, tình hình quốc tế và trong nước có những thay đổi lớn. Những tin tức về sự khủng hoảng, rồi sụp đổ nhanh chóng của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, sự bế tắc của công cuộc “cải tổ” ở Liên Xô, cùng với những khó khăn thử thách chồng chất về nhiều mặt ở trong nước, nhất là về kinh tế đã tác động sâu sắc tới tâm tư tình cảm nhân dân trong nước và tình hình tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Năm 1990 – năm cuối cùng của những Hiệp định viện trợ không hoàn lại của Nhà nước Liên Xô giành cho Việt Nam, trong đó có công trình Lăng 1985 – 1990 đã hết hiệu lực. Sau nhiều lần trì hoãn, mãi tới tháng 4 năm 1991, Chính phủ Liên Xô mới cử một đoàn cán bộ sang Việt Nam đàm phán với Chính phủ ta về những hiệp định của 5 năm tiếp theo (năm 1991 đến năm 1995). Theo sự chỉ đạo của Nhà nước Liên Xô: Kể từ năm 1991, do khó khăn về nhiều mặt, Liên Xô sẽ không dành cho Việt Nam khoản viện trợ không hoàn lại, thay vào đó, phía Việt Nam sẽ phải thanh toán hoàn trả cho Nhà nước Liên Xô theo cơ chế thương mại. Công trình Lăng cũng nằm trong cơ chế chung đó. Vào thời điểm này, đây là một khó khăn rất lớn cho Nhà nước Việt Nam. Tại công trình Lăng, ngoài một số vật tư có số lượng rất nhỏ, giá trị không lớn, chúng ta có thể khai thác trong nước, còn hầu hết đều phải nhập ngoại, phần lớn từ Liên Xô. Hàng năm Bạn yêu cầu ta lập đơn hàng mua và thanh toán qua cơ quan kinh tế đối ngoại. Riêng vật tư y tế đặc biệt, lương hàng tháng thanh toán cho chuyên gia y tế thường trực, cũng như chuyên gia sang làm việc tại Lăng theo định kỳ, Bạn giành quyền lập kế hoạch, ta phải thực hiện; hàng năm Bạn yêu cầu ta phải thanh toán trước vào quý II.

Ngoài những khó khăn trên đây, những tin tức không vui tiếp tục lại bay về từ Mát-xcơ-va: Viện Nghiên cứu cấu trúc sinh học – cơ sở nghiên cứu khoa học trực tiếp giữ gìn thi hài Lê-nin cũng là cơ quan giúp Việt Nam giữ gìn thi hài Bác – do cải tổ, cơ sở nghiên cứu khoa học này đã được đưa về trực thuộc Viện Nghiên cứu sản xuất thảo dược, thuộc Bộ Nông nghiệp Liên Xô và phải tự hạch toán. Một số cán bộ có chuyên môn sâu của Viện do quá khó khăn về kinh tế đã phải rời khỏi Viện đi làm nơi khác. Một số phần tử cực đoan đã lên tiếng đòi đưa thi hài Lê-nin ra khỏi Lăng, đưa về an táng cùng thân mẫu tại Lê-nin-grat. Tình hình chính trị ở Liên Xô không ổn định, chia rẽ sâu sắc.

Trước tình hình trên, Đảng và Nhà nước ta đã dành sự quan tâm đặc biệt tới nhiệm vụ giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương đã ra Nghị quyết chuyên đề lãnh đạo đơn vị thực hiện nhiệm vụ trong tình hình mới. Ngày 10 tháng 7 năm 1991, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Ban Bí thư, đồng chí Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh đã chủ trì Hội nghị đặc biệt tại Lăng. Thành phần Hội nghị gồm đại diện lãnh đạo các Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế, Uỷ ban Khoa học Nhà nước (Bộ Khoa học công nghệ). Những cán bộ khoa học đầu ngành của các ngành có liên quan tới nhiệm vụ của Lăng, những nhà khoa học đã từng được chọn là cộng tác viên của Lăng từ nhiều năm được mời dự. Hội nghị đã nghe báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác, những kết quả nghiên cứu của đơn vị trong những năm qua, một số kiến nghị với lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Ý kiến phát biểu của các nhà khoa học, của lãnh đạo các Bộ, ngành đã được đồng chí Phó thủ tướng Nguyễn Khánh kết luận: Chính phủ vẫn giao việc bảo quản thi hài Bác cho Bộ Quốc phòng nhưng cách giữ gìn phải dựa vào các nhà khoa học. Cần huy động lực lượng nghiên cứu, xây dựng đội ngũ khoa học kỹ thuật chuyên sâu, cần phải tìm hiểu thêm để có thể xử lý chắc chắn. Trong phương hướng tới, Viện 69 của Bộ Tư lệnh Lăng đầu tư nghiên cứu sâu hơn những nghiên cứu thử nghiệm. Bộ Y tế có trách nhiệm chỉ đạo y học và Uỷ ban khoa học Nhà nước có trách nhiệm quản lý khoa học, đầu tư nghiên cứu và triển khai làm ngay trong đầu năm 1992. Cần có Hội đồng khoa học để giám định và chỉ đạo.

Toàn bộ nội dung Hội nghị được bảo mật rất chặt chẽ. Sau Hội nghị, một không khí lo lắng bao trùm thể hiện tình cảm, ý chí trách nhiệm cao đối với nhiệm vụ trong lãnh đạo, chỉ huy và toàn thể cán bộ, đảng viên trong đơn vị, nhất là các cán bộ khoa học trực tiếp làm nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác. Một câu hỏi đặt ra là: Liệu đơn vị có thể hoàn thành nhiệm vụ nếu không còn sự giúp đỡ của Liên Xô ? Những cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, những cán bộ, đảng viên gắn bó nhiều năm với công việc, ai cũng có thể hiểu được: Thiết bị, vật tư kỹ thuật, đảm bảo môi trường giữ gìn thi hài và phục vụ nhân dân vào Lăng viếng Bác, tuy đã xuống cấp phải thay thế, chúng ta có thể tìm kiếm sửa chữa, đảm bảo được các thông số theo yêu cầu. Nhưng còn công nghệ, vật tư hoá chất đặc biệt chỉ có nguồn cung cấp duy nhất từ Liên Xô, rồi đây sẽ giải quyết như thế nào, đang còn là một bài toán chưa có lời giải.

Ngày 19 tháng 8 năm 1991, Liên Xô sụp đổ. Đất nước Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô Viết vô cùng quen thuộc và thân thiết với nhiều thế hệ người dân Việt Nam đã được thay thế bằng một tên mới: Cộng hoà Liên bang Nga. Nhiệm vụ của Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh bước vào giai đoạn cực kỳ khó khăn, đầy gian nan thử thách. Nhưng rồi, những chuyện Liên Xô, chuyện Nga cũng phải quên dần, đơn vị phải tập trung dành cho công việc tu bổ định kỳ – nhiệm vụ trọng tâm số một của cả năm đang đến gần. Thật may mắn, trước sự kiện ngày 19 tháng 8 năm 1991, Bạn đã kịp gửi cho ta đủ số lượng vật tư, hoá chất đặc biệt. Giáo sư I.A.Rô-ma-cốp, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu y sinh Mát-xcơ-va cũng sang đúng thời gian triển khai làm thuốc lớn thi hài Bác. Có điều dịp tu bổ định kỳ năm ấy, số lượng chuyên gia giảm hẳn vì ta không thuê chuyên gia kỹ thuật Nga sang bảo dưỡng, sửa chữa các thiết bị kỹ thuật đặc biệt. Năm đầu tiên, cán bộ và công nhân kỹ thuật của đơn vị đã hạ quyết tâm tự đảm nhiệm công việc này. Kế hoạch tu bổ định kỳ năm 1991, năm không có sự giúp đỡ của chuyên gia kỹ thuật đã thành công tốt đẹp. Ngày 3 tháng 11, Lăng Bác vẫn như thường lệ, tiếp tục mở cửa đón đồng bào và khách quốc tế vào Lăng viếng Bác.

Một năm đầy biến động, những thử thách đầu tiên đã vượt qua. Tháng 3 năm 1992, được tin ông đại diện Trưởng cơ quan Thương mại Tổng cục Kỹ thuật Nga tại Việt Nam sẽ về nước. Trong thời gian làm việc tại Việt Nam, ông luôn dành sự quan tâm tình cảm đặc biệt cho công trình Lăng. Ông về nước là một thiệt thòi lớn cho đơn vị. Do đó, tranh thủ trước khi ông bàn giao công việc cho người kế nhiệm, ta đã đề nghị Bạn bàn giao toàn bộ số lượng dung dịch đang có cho đơn vị quản lý. Lượng dung dịch này tuy vẫn để ở Lăng song chuyên gia của Bạn vẫn quản lý hết sức chặt chẽ. Thực chất số dung dịch này là của Việt Nam vì Bạn đã giúp cho ta, ta phải quản lý. Nhưng vì Bạn giữ bí mật về công nghệ pha chế, nên Bạn không để ta cất giữ, Bạn vẫn tự quản lý theo một chế độ mật rất nghiêm ngặt. Nhờ có mối quan hệ tốt và với những lý lẽ chân tình, thuyết phục, đưa ra đúng thời điểm, ông đã báo cáo về Mát-xcơ-va và đã được sự đồng thuận để ông ký bàn giao. Đồng chí Trung tướng Trần Hanh – Phó Tổng Tham mưu trưởng được Thủ trưởng Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ trực tiếp theo dõi chỉ đạo công việc của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng, sau khi dự lễ ký biên bản bàn giao giữa Bạn và đơn vị đã phát biểu: “Số lượng dung dịch Bạn bàn giao cho ta tuy không lớn, giá trị sử dụng của nó không nhiều, nhưng giá trị về nghiên cứu khoa học là rất lớn. Các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng phải nhận thức rõ vấn đề này để tập trung nghiên cứu phát triển, nhất là trong thời điểm hiện nay”.

Thực hiện những điều khoản đã được thoả thuận của Hiệp định 1991 – 1995, đầu tháng 4 năm 1992, Ban Quản lý Lăng đã làm việc với “ROOSSVOOROUZHENIE”- Đại diện cơ quan Thương vụ sứ quán Liên bang Nga tại Hà Nội, về kế hoạch đặt hàng năm 1993, đồng thời đôn đốc thực hiện kế hoạch đặt hàng năm 1992. Ngay sau buổi làm việc, ta đã chuyển toàn bộ số tiền mua dung dịch, hoá chất vật tư đặc biệt và tiền lương trả cho chuyên gia y tế thường trực ở Lăng, cũng như các khoản chi cho Đoàn chuyên gia sẽ sang làm thuốc lớn cho thi hài Bác theo định kỳ vào cuối quý III, đầu quý IV. Như vậy, phần trách nhiệm của phía Việt Nam, ta đã thực hiện rất đầy đủ. Còn về phía Nga, theo chuyên gia thường trực ở Lăng thông báo lại, ngay từ đầu quý II, gia đình của chuyên gia đã không nhận được lương. Đồng chí Phó viện trưởng Iu.A. Rô-ma-cốp tổ trưởng cùng nhóm chuyên gia y tế sang tu bổ định kỳ năm theo kế hoạch cuối tháng 8 phải có mặt tại Việt Nam cùng với dung dịch và vật tư đặc biệt ta đã đặt hàng từ năm trước, vẫn không có tin tức gì. Đại diện cơ quan Thương vụ Nga tại Hà Nội cũng không giải thích được gì hơn ngoài hai từ “chờ đợi”. Trước tình hình trên, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng đã cho kiểm tra toàn bộ vật tư hoá chất đặc biệt có đủ tiêu chuẩn sử dụng hiện có mà ta đang quản lý. Rất mừng là sau khi kiểm tra, lượng vật tư hoá chất đặc biệt đủ tiêu chuẩn sử dụng, đảm bảo đủ số lượng cần thiết cho làm thuốc lớn thi hài Bác. Cuộc họp Thường vụ Đảng ủy thảo luận và ra nghị quyết lãnh đạo đơn vị triển khai tu bổ định kỳ năm đã được triệu tập. Sau Hội nghị Thường vụ Đảng ủy, khi làm việc với hai đồng chí chuyên gia y tế thường trực đang có mặt tại đơn vị, hai đồng chí tỏ ý lo lắng và đề nghị ta lùi thời gian tu bổ chờ Đoàn chuyên gia do đồng chí Giáo sư Iu.A. Rô-ma-cốp, Phó Giám đốc Trung tâm từ Mát-xcơ-va sang mới tiến hành. Ta đã trả lời và động viên Bạn: Tất cả các yếu tố đảm bảo cho tu bổ định kỳ đã sẵn sàng, kế hoạch thời gian tu bổ đã được cấp trên chuẩn y, duy nhất chỉ thiếu vắng Đoàn của Giáo sư Iu.A. Rô-ma-cốp và thời gian nào Đoàn sang cũng chưa rõ, vì vậy chúng ta vẫn phải tiến hành theo kế hoạch. Đây cũng là dịp để hai đồng chí chuyên gia thường trực cùng cán bộ, bác sĩ Việt Nam thể hiện khả năng, trình độ chuyên môn của mình. Theo đúng kế hoạch đã định, ngày 3 tháng 9 năm 1992 Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu đóng cửa thời gian hai tháng để làm công tác tu bổ định kỳ.

Nhờ có sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, trực tiếp là Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng, được sự giúp đỡ nhiều mặt của các Bộ, ngành; kế thừa những thành quả nghiên cứu, kinh nghiệm được tích luỹ từ nhiều năm, phát huy ý chí tự lực tự cường, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ trong đơn vị, nhiệm vụ tu bổ định kỳ năm ấy – Bộ đội Lăng đã hoàn thành xuất sắc. Thi hài Bác được chăm sóc đúng quy trình, máy móc thiết bị được bảo quản, bảo dưỡng chu đáo… Ngày 3 tháng 11, Lăng Bác lại tiếp tục mở cửa như thường lệ để đón đồng bào và khách nước ngoài vào Lăng viếng Bác.

Hai kỳ tu bổ lớn năm 1991 và năm 1992, thời kỳ không còn sự giúp đỡ về kỹ thuật cũng đã qua đi tốt đẹp. Thắng lợi bước đầu đó đã giải toả phần nào tâm trạng lo lắng và động viên, khuyến khích cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên Bộ đội Bảo vệ Lăng phấn đấu vươn lên. Nhưng còn biết bao khó khăn vẫn đang chờ phía trước. Sang đầu năm 1993 rồi mà dung dịch – hoá chất, yếu tố quyết định cho việc chăm sóc, giữ gìn lâu dài thi hài Bác vẫn chưa nhận được. Để chuẩn bị cho lần làm thuốc lớn tiếp theo, một ý tưởng táo bạo được đưa ra: Ban Quản lý Lăng nên tìm cách xây dựng mối quan hệ trực tiếp với Trung tâm Nghiên cứu y sinh Mát-xcơ-va, thay cho mối quan hệ thông qua con đường Nhà nước Nga như hiện nay. Nếu xây dựng được mối quan hệ trực tiếp, đơn vị sẽ có nhiều lợi thế để tranh thủ được sự giúp đỡ nhiều mặt của các nhà khoa học Nga – người thầy dạy, người bạn chí cốt đã nhiều năm giúp đỡ, gắn bó với ta. Nhưng việc xây dựng mối quan hệ trực tiếp, Nhà nước Nga có thể đồng ý không? Vì từ trước tới nay công nghệ giữ gìn thi hài lâu dài là bí mật Nhà nước, nên họ quản lý hết sức chặt chẽ. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, Ban Quản lý Lăng đã làm việc với đồng chí Vũ Khoan, lúc ấy là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao để nắm bắt thêm tình hình Nga và xin ý kiến tư vấn trong xử lý mối quan hệ giữa ta và Nga lúc bấy giờ. Ngày 25 tháng 11 năm 1992, được phép của Thủ tướng Chính phủ, một đoàn cán bộ gồm bốn đồng chí: Thượng tá Nguyễn Quang Tấn, Trưởng ban Quản lý Lăng, kiêm Tư lệnh; đồng chí Trung tá Vũ Văn Bình, Phó Viện trưởng Viện 69; đồng chí Đại uý Phạm Quốc Khánh, Đội trưởng Đội Thiết bị đặc biệt và đồng chí Thiếu tá Phạm Văn Quang, Trưởng ban Đối ngoại lên đường sang Mát-xcơ-va. Chuyến đi nhằm thực hiện một số nhiệm vụ:

– Thứ nhất, tìm mọi cách đưa dung dịch ta đặt hàng và đã thanh toán tiền cho phía Nga về nước, kịp chuẩn bị cho kỳ bảo dưỡng năm 1993. Thông qua mối quan hệ với các đồng chí chuyên gia đã từng sang làm việc tại Việt Nam, tìm mua bổ sung một số vật tư đặc chủng, đặc biệt là bóng đèn dùng cho hệ chiếu sáng quan tài kính, vì số lượng dự trữ trong kho của ta còn ít, mà lượng tiêu hao ở thời điểm ấy là quá lớn.

– Thứ hai, tìm hiểu nắm bắt thêm tình hình Nga để quyết định xây dựng mối quan hệ hợp tác theo hướng: Duy trì sự hợp tác thông qua con đường Nhà nước hoặc hợp tác trực tiếp với Trung tâm Nghiên cứu y sinh Mát-xcơ-va.

Chuyến đi diễn ra thuận lợi, vì trước đó đồng chí Phó Thủ tướng thường trực Phan Văn Khải đã điện cho Bộ Ngoại giao yêu cầu Bộ tạo mọi điều kiện giúp đỡ đoàn, nên khi đoàn vừa xuống sân bay đã được cán bộ của Đại sứ quán ta tại Mát-xcơ-va đón tiếp và đưa đoàn về nhà khách của Đại sứ quán ăn nghỉ. Về phía Trung tâm Nghiên cứu y sinh do được ta thông báo, đã cử đồng chí Giáo sư Iu.A. Rô-ma-cốp ra đón. Ngay sớm ngày hôm sau, đồng chí Đại sứ Hồ Huấn Nghiêm đã có buổi làm việc với đoàn, thông báo một số tình hình ở Nga lúc bấy giờ. Đoàn cũng báo cáo với đồng chí Đại sứ về nhiệm vụ của đoàn trong chuyến đi và những khó khăn của nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác sau khi Liên Xô sụp đổ. Là người đã công tác ở Nga nhiều năm và làm việc ở Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước (Bộ Kế hoạch đầu tư hiện nay), trên cương vị là Phó chủ nhiệm, đồng chí Hồ Huấn Nghiêm đã thông tin cho Đoàn nhiều điều bổ ích. Đồng chí còn cử đồng chí Nguyễn Văn Lâm, cán bộ của Sứ quán là đầu mối trực tiếp theo dõi giúp đỡ những công việc của Lăng sẽ đi cùng đoàn trong suốt thời gian đoàn làm việc với lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu y sinh Mát-xcơ-va. Trong đoàn, trừ đồng chí Trưởng ban Đối ngoại Phạm Văn Quang là người sang công tác ở Liên Xô trước đây đã tới cơ quan này, còn lại ba đồng chí đều là những người đầu tiên đặt chân tới những ngôi nhà mà một thời là khu vực “huyền bí”.

Sáng hôm sau đoàn chúng tôi đến Trung tâm Nghiên cứu y sinh Mát-xcơ-va làm việc. Đồng chí Phó giáo sư, Tiến sĩ X.V. Tô-ma-xê-vích – Thư ký Hội đồng Khoa học của Trung tâm đã chờ sẵn để đón đoàn. Phó giáo sư, Tiến sĩ X.V. Tô-ma-xê-vích là một trong những chuyên gia từng sang Việt Nam tham gia giữ gìn thi hài Bác Hồ từ thời gian chiến tranh chống Mỹ. Sau ngày đưa Bác về Lăng đồng chí cũng đã nhiều lần sang làm việc. Mặc dù tất cả các đồng chí trong Đoàn đều quen biết, nhưng lần này gặp lại, mọi người cảm nhận thấy có một cái gì đó buồn buồn, pha chút e ngại, phải chăng vì một lý do duy nhất: “Liên Xô không còn nữa?”.

Đồng chí Phó giáo sư đưa Đoàn vào ngay phòng làm việc của Giáo sư, Viện sĩ Viện Hàn lâm y học Liên Xô X.X. Đê-bốp, Giám đốc Trung tâm. Tại đây đã tập trung đông đủ Phó giám đốc, Chủ nhiệm Khoa và các nhà khoa học đầu ngành, giữ các cương vị lãnh đạo chủ chốt của Trung tâm. Ai cũng vui mừng vì đã lâu mới có dịp gặp lại. Sau vài phút chào hỏi thân mật giữa hai bên, buổi làm việc bắt đầu. Mở đầu buổi làm việc, đồng chí Trưởng ban Quản lý Lăng kiêm Tư lệnh thông báo cho Bạn về tình hình hoạt động của Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian có nhiều biến cố chính trị xảy ra trên thế giới. Những khó khăn của Lăng do phía Nga không thực hiện những điều khoản trong Hiệp định 1991-1995, nhất là Nga đã không gửi cho Lăng lượng hóa chất đặc biệt. Đồng thời một lần nữa khẳng định quyết tâm của Đảng và nhân dân Việt Nam là giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và luôn ghi nhớ công lao to lớn của các nhà khoa học Nga, trực tiếp là các nhà khoa học của Trung tâm đã tham gia giúp đỡ Việt Nam giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt hơn 20 năm qua. Việt Nam mong muốn tiếp tục nhận được sự giúp đỡ của các nhà khoa học của Trung tâm, thông qua một bản hiệp định ký kết trực tiếp giữa Ban Quản lý Lăng với Trung tâm. Đồng chí dành nhiều thời gian phân tích nói rõ về bản hiệp định và hiệu quả sẽ mang lại cho hai bên. Sau nhiều giờ hai bên trao đổi, phía Bạn đều nhất trí cho rằng Trung tâm nên hợp tác trực tiếp với Ban Quản lý Lăng, có đồng chí còn cho rằng: Trung tâm hợp tác trực tiếp với Lăng không những chỉ giúp Việt Nam giữ được lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà còn góp phần giữ được hệ tư tưởng của Lê-nin; đồng thời Trung tâm có điều kiện thoát khỏi khó khăn hiện nay. Nhưng điều mà các nhà khoa học Nga đều băn khoăn rằng: Luật pháp Nga có cho phép họ làm như vậy không? Đồng chí Viện sĩ, Giám đốc Trung tâm sau những giây phút ngồi im lặng, trầm tư, liên tục đốt hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác, một loại thuốc lá Nga rất nặng, từ từ đứng lên nói: “Những ý kiến của đồng chí Trưởng ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa nói, những ý kiến của các nhà khoa học thảo luận, tôi đã rất chú ý lắng nghe, tôi không có ý kiến gì phản đối, bởi ai cũng thấy được nếu chúng ta ký hợp tác trực tiếp với Việt Nam thì cả hai bên sẽ cùng có lợi. Nhưng các đồng chí thông cảm cho tôi, năm nay tôi đã ngoài 70 tuổi, tôi không muốn trước khi từ biệt thế giới này, lại phải đứng trước vành móng ngựa…”. Cả phòng làm việc lặng đi…. và ngày làm việc đầu tiên đã tạm thời khép lại trong không khí nặng nề, căng thẳng.

Ngày làm việc tiếp theo, Đoàn tới cơ quan được giao nhiệm vụ tiếp tục thực hiện Hiệp định 1991-1995 mà Nhà nước Liên Xô đã ký kết với Việt Nam. Họ chối bỏ trách nhiệm và không giải thích lý do tại sao họ không gửi hóa chất đặc biệt và mua vé máy bay cũng như trả tiền thuê chuyên gia sang công tác tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tất cả các khoản chi phí này ta đã gửi thanh toán cho họ từ rất sớm. Đề cập tới những yêu cầu mới của ta, họ đưa ra lượng tiền ta phải hoàn trả rất lớn. Một không khí thiếu thiện chí bao trùm trong toàn bộ buổi làm việc, đó là kết luận của đoàn khi ra về. Bữa ăn tối của đoàn hôm ấy như thường lệ vẫn là mì tôm trộn với ruốc thịt lợn mang từ Việt Nam sang. Biết anh em trong đoàn làm việc căng thẳng, hai anh Vũ Văn Bình và Phạm Văn Quang đã xếp hàng mua bia và thêm ít củ hành tây thái nhỏ, chần lên ăn gọi là có chút bồi dưỡng thay rau, ai cũng khen ngon. Song không khí căng thẳng của buổi làm việc hôm ấy vẫn cứ ám ảnh và đều lo cho kết quả chuyến đi đầu tiên của đoàn tới Cộng hòa Liên bang Nga.

Những ngày tiếp theo, Bạn tổ chức cho đoàn tham quan toàn bộ cơ sở nghiên cứu, tiếp cận với những hồ sơ, tài liệu của Bạn đã nghiên cứu để giúp ta giữ gìn thi hài Bác Hồ. Anh em trong đoàn hình dung được phần nào khối lượng công việc đồ sộ với trình độ cao đã làm giúp chúng ta của các nhà khoa học ở Trung tâm. Đồng thời, Bạn cũng chỉ ra cho ta: Trong thời gian tới sẽ có biết bao việc phải làm. Tư tưởng chỉ đạo “Hợp tác trực tiếp với Bạn” là bước đi đúng đắn lại trở về trong đầu óc mỗi người trong đoàn.

Theo kế hoạch, ngày làm việc cuối cùng của đoàn tại Trung tâm đã đến. Đồng chí Trưởng ban Quản lý Lăng một lần nữa lại nêu lên vấn đề về cơ chế hợp tác giữa Lăng và Trung tâm, nhưng cũng như các lần thảo luận trước đây, đồng chí Viện sĩ Giám đốc vẫn nêu lý do để từ chối. Cuộc thương thảo đang vào ngõ cụt thì đồng chí Viện sĩ V.A. Bư-cốp, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu sản xuất thảo dược, là Thủ trưởng trực tiếp của Trung tâm nghiên cứu y sinh tới. Đồng chí Viện sĩ Giám đốc X.X. Đê-bốp giới thiệu Đoàn với Viện sĩ và báo cáo những kết quả làm việc, những vướng mắc hội nghị đang gặp phải. Đồng chí Viện sĩ, Giám đốc V.A. Bư-cốp sau khi nghe, nắm được nguyện vọng của ta đã trả lời rằng: “Luật pháp Nga hiện đã cho phép. Các đồng chí nên thương thảo ký một hiệp định quan hệ trực tiếp với Việt Nam”. Sau lời phát biểu của đồng chí Giám đốc, mọi người ai nấy đều vui mừng phấn khởi, vì đó cũng là nguyện vọng chân thành của cả hai Đoàn. Giáo sư, Viện sĩ V.A. Bư-cốp đã từng giữ chức Bộ trưởng Công nghiệp Dược trong Chính phủ Liên Xô. Khi Liên Xô cải tổ, ông về làm Giám đốc Viện Nghiên cứu sản xuất thảo dược. Là một con người hiểu biết rộng, năng động và quyết đoán, ông đã giúp cho Đoàn cán bộ của Ban Quản lý Lăng và Trung tâm khai thông được bế tắc. Những năm sau này, khi Giáo sư, Viện sĩ X.X. Đê-bốp qua đời, ông đã kiêm nhiệm chức Giám đốc Trung tâm. Sự chỉ đạo tài ba của ông trong hợp tác nghiên cứu khoa học giữa đơn vị với các nhà khoa học của Trung tâm đã đem lại những hiệu quả to lớn.

Theo ý kiến của Giáo sư, Viện sĩ V.A. Bư-cốp, ngày hôm sau Trung tâm đã soạn xong một bản thỏa thuận hợp tác trực tiếp giữa hai bên đến năm 1995, các bản hợp đồng và những bản bổ sung để hai bên thảo luận.

14 giờ ngày 28 tháng 12 năm 1992 tại phòng làm việc của Trung tâm, lễ ký kết Bản thỏa thuận hợp tác trực tiếp giữa Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung tâm nghiên cứu y sinh Mát-xcơ-va đã được tiến hành. Sự kiện này đã mở đầu cho một thời kỳ mới – Thời kỳ vượt qua khó khăn thử thách để tiếp tục phát huy cao độ ý chí tự lực tự cường, từng bước tiến tới làm chủ khoa học công nghệ phục vụ cho nhiệm vụ trọng đại, thiêng liêng của dân tộc: Giữ gìn lâu dài và tốt nhất thi hài Bác Hồ kính yêu.

Hiệp định Liên Xô giúp đỡ Việt Nam giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh giai đoạn 1991- 1995 nay đã lùi xa, nhường chỗ cho một thỏa thuận hợp tác trực tiếp giữa Trung tâm nghiên cứu y sinh Mát-xcơ-va và Ban Quản lý Lăng đến nay đã tròn 14 năm, nhưng những ngày sóng gió đầy khó khăn thử thách của những năm đầu của thập kỷ cuối cùng thế kỷ XX vẫn in đậm trong tôi- Người được giao nhiệm vụ giữ chức Trưởng Ban Quản lý Lăng kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh- mãi mãi không bao giờ quên.

Tôi viết bài viết này đúng vào dịp kỷ niệm 14 năm hợp tác trực tiếp giữa ta và Bạn. Nhân dịp này tôi xin phép được dành những tình cảm đặc biệt, lòng biết ơn sâu sắc đến Giáo sư, Viện sĩ X.X. Đê-bốp, người đã cùng tôi ký Bản thoả thuận có tính chất mở đầu cho một thời kỳ mới. Rất tiếc là nguyện vọng của ông muốn trở lại Việt Nam một lần nữa đã không thực hiện được vì lý do sức khoẻ và sau đó mấy năm ông đã qua đời. Các Giáo sư Iu.A. Rô-ma-cốp, Giáo sư I.N. Mi-khai-lốp, L.Đ. Giê-rép-xốp, những người tích cực ủng hộ cho một thỏa thuận về quan hệ trực tiếp cũng đã đi vào cõi vĩnh hằng. Nhân dân Việt Nam nói chung và trực tiếp là Bộ đội Bảo vệ Lăng luôn biết ơn các đồng chí. Những thành quả của những tháng năm sau này gặt hái được mãi mãi gắn với tên tuổi của các đồng chí.

Thiếu tướng Nguyễn Quang Tấn
Nguyên Trưởng Ban Quản lý Lăng, kiêm Tư lệnh – Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Nhớ về ban “quản lý xây dựng công trình cơ bản”

Những ngày đầu mới thành lập, cơ sở làm việc và nơi ăn ở tập thể của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh còn gặp rất nhiều khó khăn vất vả. Khối cơ quan Bộ Tư lệnh làm việc trong một không gian với diện tích hẹp tại khu vực số 1 – phố Ông Ích Khiêm, Ba Đình, Hà Nội. Chiều chiều, sau giờ thể thao từ Tư lệnh đến người chiến sĩ khối cơ quan đều “hoà mình” trong một nhà tắm chung. Một phần cơ quan và khối các đơn vị ở tại khu vực phía sau Lăng. Doanh trại bộ đội là khu lán trại tạm của công trường xây dựng công trình Lăng bàn giao lại. Vào những trưa hè nóng bức, các mái tôn thi nhau toả nhiệt nóng hầm hập như thử thách, tôi luyện thêm sức trẻ của những người chiến sĩ. Nhưng niềm vinh dự, tự hào được sống và làm việc tại Lăng Bác đã động viên, khích lệ cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ nhanh chóng ổn định mọi mặt để tập trung hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị đặc biệt.

Sau 8 năm tu sửa, xây dựng nhà cửa, nơi làm việc đã có sự đổi thay khang trang hơn nhiều so với trước. Đến cuối năm 1983, đơn vị nhận được Chỉ thị số 300/CT ngày 18 tháng 11 năm 1983 do Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ Trưởng Đỗ Mười ký yêu cầu giải phóng mặt bằng để xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh. Nội dung Chỉ thị nêu rõ: “Đối với các nhà ở tập thể, nhà làm việc, nhà kho của Ban phụ trách quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quảng trường Ba Đình và khu Đa Minh (cần cải tạo để làm thêm chức năng khu tập kết) thì Bộ Xây dựng có trách nhiệm làm thủ tục xin Nhà nước vốn đầu tư, thiết kế và xây dựng phù hợp với tiến độ xây dựng Bảo tàng; Ban phụ trách Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quảng trường Ba Đình có trách nhiệm đề xuất yêu cầu sử dụng, xin cấp đất, di chuyển theo tiến độ”, đồng thời giao cho Bộ Xây dựng tổ chức xây dựng khu Hậu cần – kỹ thuật gồm: 1 nhà kho, 1 nhà xưởng, 1 nhà gara xe đặc chủng, 3 nhà gara xe tải, xe con và 1 nhà quản lý điều hành 4 tầng tại khu Hào Nam, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa với diện tích 1,3 hécta để đền bù cho Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng.

Việc giải phóng mặt bằng để xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh đòi hỏi rất khẩn trương để kịp khánh thành đúng vào dịp kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Người (19- 5- 1990). Trong khi đó, việc giải phóng mặt bằng ở khu vực Hào Nam vẫn dậm chân tại chỗ. Hợp tác xã nông nghiệp Hào Nam chưa nhất trí bàn giao mặt bằng vì vị trí này là ao rau muống và hồ thả cá, đây là nguồn sống chính của bà con xã viên. Ban Chủ nhiệm Hợp tác xã yêu cầu nếu giao đất thì đơn vị phải nhận và giải quyết công ăn việc làm cho ít nhất 50 con em xã viên. Chính vì khó khăn đó mà từ năm 1984 đến 1987, Bộ Xây dựng mà trực tiếp là Ban Quản lý công trình xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh không thể xây dựng khu hậu cần- kỹ thuật để bàn giao cho đơn vị theo đúng kế hoạch được.

Nhiệm vụ ổn định nơi ăn ở của bộ đội lúc này đặt ra hết sức cấp thiết. Thường vụ, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh đã có nhiều chủ trương, giải pháp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ này. Trước tiên là phải thành lập một bộ phận chuyên trách để tham mưu, giúp việc. Vậy là tháng 12 năm 1986 Bộ Tư lệnh đã quyết định thành lập lâm thời Ban Quản lý công trình xây dựng cơ bản. Thành viên trong Ban mới đầu chỉ có 3 đồng chí: Trung tá, Kỹ sư xây dựng Trần Quốc Dân, Đoàn trưởng Đoàn 295 – Trưởng ban; Thượng uý, Kỹ sư xây dựng Bùi Việt Dũng, Trưởng ban Doanh trại Phòng Hậu Cần – Phó trưởng ban và Thượng uý, Kỹ sư xây dựng Hoàng Cao Thắng – Trợ lý Kỹ thuật.

Trong những buổi đầu, Ban Quản lý công trình xây dựng cơ bản luôn nhận được sự quan tâm của lãnh đạo, chỉ huy đơn vị, trực tiếp là đồng chí Nguyễn Văn Tưởng, Phó Tư lệnh- Tham mưu trưởng. Nhiệm vụ đầu tiên của Ban là tiếp nhận, quản lý xây dựng khu Hậu cần – kỹ thuật tại Hào Nam.

Nhận thấy rõ “vạn sự khởi đầu nan”, anh em trong Ban đã khẩn trương tiếp nhận, nghiên cứu Quyết định của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và Hồ sơ quy hoạch thiết kế kỹ thuật khu hậu cần – kỹ thuật Hào Nam từ Ban Quản lý công trình xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh. Mỗi người một việc, toả xuống nắm tình hình, đồng thời tuyên truyền vận động xã viên, thuyết phục Ban Chủ nhiệm Hợp tác xã tạo điều kiện ủng hộ, giúp đỡ đơn vị. Công sức của anh em đã được đền đáp. Hợp tác xã Hào Nam đồng ý để đơn vị thực hiện việc đền bù giải phóng mặt bằng theo quy định của Nhà nước. Điều mà từ 4 năm trước đây Ban quản lý công trình xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh không thực hiện được.

Liên tục trong thời gian này, toàn công trình xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh tiến hành rất khẩn trương, sôi nổi, đặt ra nhiệm vụ giải phóng mặt bằng khu vực sau Lăng Bác của đơn vị ngày một đến gần. Bài toán tiếp theo là đảm bảo nơi ở cho các đơn vị Đoàn 195, Đoàn 295, Đoàn 275 – lực lượng chủ yếu của Bộ Tư lệnh và nhu cầu nhà ở để ổn định hậu phương gia đình cho hàng trăm cán bộ, công nhân viên.

Sau khi Thiếu tướng Lương Soạn qua đời (tháng 6 năm 1987), đồng chí Nguyễn Văn Tưởng được giao quyền Tư lệnh. Là người chủ trì đơn vị, đồng chí tiếp tục chỉ đạo và giao nhiệm vụ: “Ban quản lý công trình xây dựng cơ bản phải tham mưu, giúp Bộ Tư lệnh liên hệ, xin đất ở khu vực Hà Nội với tổng diện tích đất khoảng 2 hécta, có thể ở vài ba vị trí khác nhau, nhưng gần đơn vị để quản lý, chỉ huy và điều hành công việc được thuận lợi”.

Nhiệm vụ “tìm đất” thật là khó khăn. Nhưng anh em trong Ban đều nhận thức được đây là chủ trương lớn của Đảng ủy, của Thủ trưởng Bộ Tư lệnh, là yêu cầu để xây dựng đơn vị chính quy và là cơ sở để thực hiện công tác chính sách hậu phương quân đội.

Ban đầu chúng tôi tìm đến Hợp tác xã Hoa rau Ngọc Hà vì ở đó Bộ Tư lệnh đang có một khu tập thể gia đình ở Đại Yên nhưng không tìm được ví trí đất đáp ứng yêu cầu. Chúng tôi lại đến Hợp tác xã Thành Công (nơi đã giải quyết cho đơn vị đất năm 1983 để làm nhà ở gia đình K8) nhưng chỉ còn những mảnh đất nhỏ, lẻ không đáng kể.

Hành trình tiếp tục đưa chúng tôi về phía Tây thành phố. Ở khu vực Cống Vị còn nhiều hồ ao rộng, nhưng không biết thuộc địa phận phường nào quản lý? Sau nhiều ngày tìm hiểu, chúng tôi đã nắm được những thông tin cần thiết. Chủ sở hữu những ao hồ đó là của Hợp tác xã Hoa rau Cống Vị. Trong đầu anh em lại vẳng vẳng câu hỏi: “của hợp tác xã”, “lại liên quan đến cơm áo gạo tiền của bà con xã viên”? Chúng tôi tìm đến với Ban chủ nhiệm hợp tác xã. Qua liên hệ ban đầu, chúng tôi đã thấy ở khu vực này có đủ diện tích đáp ứng với yêu cầu của đơn vị.

Kế hoạch thứ tự các công việc liên hệ xin đất được đặt ra. Bước đầu chúng tôi báo cáo và được đồng chí Tư lệnh hết sức khen ngợi. Đồng chí chỉ đạo mời Ban chủ nhiệm Hợp tác xã Hoa rau Cống Vị về Lăng viếng Bác và thăm đơn vị để Thủ trưởng Bộ Tư lệnh trao đổi trực tiếp. Buổi gặp gỡ tuy ngắn ngủi nhưng thắm tình quân dân cá – nước. Ban Chủ nhiệm hợp tác xã đã nhất trí cao về phương án đền bù, bàn giao mặt bằng, mà không đi kèm với yêu cầu phải giải quyết công ăn việc làm cho con em xã viên như ở Hào Nam trước đây. Bước đầu thành công, cần phải khẩn trương chuẩn bị hồ sơ, luận chứng kinh tế kỹ thuật để báo cáo đề nghị thành phố Hà Nội xin thủ tục cấp đất và báo cáo Hội đồng Bộ trưởng xin kinh phí đầu tư xây dựng.

Một buổi trưa mùa hè năm 1987, chúng tôi mời đồng chí Nguyễn Quyết Chí, chuyên viên Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng (hiện nay là Vụ trưởng Văn phòng Chính Phủ) đi khảo sát khu vực. Chiếc xe com-măng-ca đưa chúng tôi từ đường Kim Mã rẽ phải xuống một khu đất mới cấp cho Đại sứ quán Liên Xô để xây dựng Trung tâm nghiên cứu hợp tác văn hoá khoa học kỹ thuật vừa được san lấp xong (hiện nay chính là khu vực Đại sứ quán Nhật Bản và bãi đỗ xe Ngọc Khánh) xe bị batinê dừng tại chỗ. Rảo bước chân trên nền cát nóng bỏng, tôi báo cáo với anh Chí về hai vị trí đất mà đơn vị sẽ xin. Nhìn thấy hai hồ nước mênh mông, anh Chí nói vui: “Bộ Tư lệnh Lăng xin để thả cá à ?”. Cả đoàn cùng cười, biết như vậy là anh đã nhất trí ủng hộ.

Hơn một năm bám sát Phòng Quản lý quy hoạch – Uỷ ban xây dựng cơ bản Hà Nội và được sự ủng hộ của Kiến trúc sư Trương Tùng, lúc đó là Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội, kiêm Phó trưởng ban Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng tôi đã hoàn tất thủ tục đền bù giải phóng mặt bằng, lập luận chứng kinh tế kỹ thuật được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phê duyệt và được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội quyết định cấp hai khu đất ở X1 và X2 Cống Vị, với diện tích hơn 13 ngàn mét vuông cho Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sau 4 năm khẩn trương thi công, từ năm 1988 đến 1991 khu hậu cần – kỹ thuật Hào Nam đã xây dựng xong. Các khu nhà kho, nhà xưởng, nhà gara xe, trạm xăng dầu, trạm biến thế điện và nhà quản lý điều hành khang trang bề thế, kịp thời phục vụ các hoạt động của đơn vị. Còn khu vực X1, X2 Cống Vị đến năm 1992 cũng đã xây dựng xong. Những ngôi nhà chiêu đãi sở, trạm xá, nhà ở gia đình; nhà khách; nhà ăn, nhà ở tập thể với tổng diện tích xây dựng hàng chục ngàn mét vuông, kịp thời phục vụ việc giải phóng mặt bằng cho Đoàn 195, Đoàn 295 mà không ảnh hưởng tới kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị. Đồng thời đón tiếp 54 gia đình cán bộ, công nhân viên về ở khu tập thể.

Với chủ trương đúng đắn và kịp thời của Đảng uỷ Đoàn 969, Bộ Tư lệnh và Ban Quản lý Lăng, được sự quan tâm chỉ đạo của Hội đồng Bộ trưởng, sự giúp đỡ của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội, chỉ trong 6 năm (từ năm 1987 đến năm 1992) chúng ta đã có các cơ sở kỹ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị đặc biệt, có địa điểm ổn định làm cơ sở để xây dựng doanh trại, nơi ăn ở của bộ đội ngày càng khang trang và góp phần giải quyết chính sách, ổn định hậu phương cho cán bộ, công nhân viên của đơn vị.

Tháng 12 năm 1992 Ban Quản lý công trình xây dựng cơ bản đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Các cán bộ, nhân viên trong Ban tiếp tục được phân công về các cơ quan, đơn vị nhận nhiệm vụ mới. Năm tháng đã qua, nhưng mỗi lần nghĩ lại hành trình đi tìm đất giữa thủ đô Hà Nội của Ban là hình ảnh cố Tư lệnh Thiếu tướng Nguyễn Văn Tưởng lại hiện về rất rõ trong tâm trí tôi.

Đại tá Bùi Việt Dũng
Trưởng ban Ban Quản lý Quảng trường Ba Đình

bqllang.gov.vn

Người dẫn đầu cuộc hành quân rèn luyện

Nhân dịp kỷ niệm 10 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc (30/4/1975- 30/4/1985), Đoàn thanh niên Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức phong trào “Hành quân thần tốc, quyết thắng” nhằm nâng cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu và rèn luyện thể lực cho cán bộ, chiến sĩ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ: “giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Cuộc hành quân được tổ chức vào một buổi tối, đầu hè trời nóng nực, oi ả. Toàn bộ đoàn viên thanh niên tập trung tại sân Đoàn 275, được tổ chức thành hai cánh quân: Đoàn viên thanh niên Đoàn cơ sở 275 là cánh quân thứ nhất; cánh quân thứ hai là lực lượng đoàn viên thanh niên của các cơ quan, đơn vị còn lại. Thời gian xuất phát là 20 giờ, yêu cầu hành quân đúng đường quy định, bảo đảm nhanh, an toàn tuyệt đối về người và vũ khí trang bị.

Lệnh hành quân chuẩn bị được tuyên bố. Thật bất ngờ, Trực ban nội vụ của Đoàn thông báo: Thiếu tướng Lương Soạn- Tư lệnh và Thủ trưởng các cơ quan Bộ Tư lệnh cùng tham gia cuộc hành quân. Mọi người rất ngạc nhiên. Đồng chí Lương Soạn là một cán bộ lãnh đạo cao cấp đứng đầu Bộ Tư lệnh, với bao bộn bề công việc quan trọng, tuổi tác so với chúng tôi cao hơn rất nhiều, vào bậc cha chú. Nhưng nhìn kìa, Tư lệnh và các cán bộ cơ quan ai cũng vai mang nặng trĩu chiếc ba lô. Có lẽ các Thủ trưởng cũng đã biết được yêu cầu của cuộc hành quân là ngoài vũ khí trang bị, thì chiếc ba lô phải đủ trọng lượng tối thiểu là 30kg.

Trước hàng quân, Tư lệnh Lương Soạn dõng dạc tuyên bố: “Tư lệnh sẽ dẫn đầu cánh quân thứ nhất. Đồng chí Hoàng An, Phó Tham mưu trưởng về quân sự dẫn đầu cánh quân thứ hai. Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị hành quân theo đội hình để động viên, giúp đỡ đoàn viên thanh niên”.

Đây là cuộc hành quân đầu tiên của chúng tôi- Những cán bộ, chiến sĩ là đoàn viên, thanh niên còn rất trẻ cùng với một vị tướng dầy dạn kinh nghiệm, vì vậy ai cũng thấy vinh dự, bồi hồi, háo hức, nhiệt tình hăng hái muốn thể hiện sức trẻ của mình, vượt lên đi thật nhanh. Nhưng sự háo hức đó không được lâu, chỉ chừng 15 phút sau là bắt đầu biểu hiện của sự uể oải, tốc độ chậm dần, không thể so sánh được với sức vóc cao lớn, vạm vỡ của một vị tướng đã ngoài 60 tuổi, vẫn bền bỉ dẻo dai, phong độ và dầy dạn kinh nghiệm của hơn 40 năm hoạt động cách mạng, xông pha trận mạc. Với phẩm chất phong cách sôi nổi, nhiệt tình, chất phác, rất tình cảm và dễ gần, vừa hành quân, Tư lệnh vừa kể lại cho chúng tôi nghe về truyền thống cách mạng của quê hương Quảng Nam, về hoàn cảnh gia đình và quá trình giác ngộ, tham gia hoạt động cách mạng của mình.

Như được thể, chúng tôi thi nhau đưa ra những câu hỏi: “Thủ trưởng quê ở vùng nào của Quảng Nam ạ?”; “Quê của Thủ trưởng có vất vả nghèo khó không?”; “Truyền thống anh hùng bất khuất trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của quê hương đất Quảng như thế nào ạ?”.

Với chất giọng miền Trung đầm ấm, sôi nổi, đồng chí Lương Soạn kể: Quê của mình ở xã Tam Hải, huyện Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, là một xã ven biển miền Trung có phong cảnh rất đẹp, người dân quê mình sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, đánh bắt gần bờ vì không có phương tiện đi xa, nên cuộc sống vô cùng lam lũ, khó khăn vất vả. Do hoàn cảnh gia đình quá khó khăn nên mình chỉ được học hết lớp ba, rồi phải đi ở, làm thuê cho địa chủ để giảm bớt khó khăn cho cha mẹ, mặc dù rất chăm chỉ lao động, xong mình vẫn bị chủ nhà ngược đãi. Không chịu đựng được mình đã bỏ về nhà và không cần nhận lại tiền công (là một cái áo vỏ sui tính công của cả năm đi ở cho gia đình địa chủ).

Khi về nhà, tuy còn nhỏ nhưng mình rất tích cực tham gia phụ giúp gia đình những việc phù hợp, mà vẫn không hay biết cha mẹ và các anh, chị đang tham gia hoạt động cách mạng và nuôi giấu cán bộ cách mạng trong nhà. Bản thân chỉ cảm nhận và luôn thắc mắc là: “Tại sao hàng ngày cả nhà mình vẫn luôn ăn một món khoai luộc, trong khi đó cha mẹ vẫn nấu cơm và đem vào trong buồng kín cho ai đó?”. Tò mò trước việc chưa rõ, cùng cảm nhận những việc làm của cha mẹ và các anh, chị trong nhà, trực giác chủ quan về sự bất công của thực dân Pháp, sự bóc lột thậm tệ của tầng lớp địa chủ cường hào, nên mình đã có một hành động khá “liều”. Hôm đó, mình đã bất ngờ chạy thẳng vào trong buồng và tận mắt nhìn thấy các đồng chí cán bộ đang in ấn tài liệu, truyền đơn cách mạng, mọi thắc mắc được giải toả, mình chính thức biết được những việc làm của cha, mẹ, các anh, chị trong gia đình đang hoạt động và nuôi giấu cán bộ cách mạng.

Cũng từ đó, nhận thấy sự giác ngộ của mình, tổ chức đã thử thách và giao cho mình một số công việc như: canh gác, phục vụ, làm liên lạc cho tổ chức. Sau thời gian giao việc, thử thách thấy đáp ứng được yêu cầu, đến năm 1942 tổ chức đã chính thức công nhận và giao nhiệm vụ cho làm bảo vệ, làm liên lạc cho các đồng chí cán bộ và cơ quan Tỉnh uỷ Quảng Nam hoạt động bí mật, tham gia thu gom vật liệu, in ấn, chuyển tài liệu mật cho tổ chức cách mạng của tỉnh tại địa phương.

Sau này, chúng tôi được biết quê hương đồng chí Lương Soạn là một vùng quê ven biển nghèo khó nhưng giàu truyền thống văn hoá, yêu nước, cách mạng. Các cụ thân sinh ra đồng chí Lương Soạn cũng thuộc tầng lớp nông dân nghèo, nhưng đã sớm giác ngộ cách mạng, là cơ sở nuôi dấu cán bộ cách mạng của Đảng và cơ quan Tỉnh uỷ Quảng Nam, có đồng chí trưởng thành, là cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước như đồng chí Võ Chí Công – Uỷ viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Bản thân đồng chí Lương Soạn được giáo dục, nuôi dưỡng và ảnh hưởng trực tiếp từ truyền thống cách mạng của địa phương, gia đình, khí tiết cách mạng của các đồng chí cán bộ lão thành, cùng nỗ lực chủ quan của bản thân nên đã sớm giác ngộ, nhiệt tình tham gia cách mạng.

Khí thế sôi nổi của cuộc hành quân cũng như tình cảm của đồng chí Lương Soạn đã làm cho chúng tôi mạnh dạn thoải mái hơn. Một chiến sĩ trẻ măng, mồ hôi ướt đầm bước nhanh về phía Tư lệnh hỏi nhỏ: “Thưa Tư lệnh, Tư lệnh hãy kể cho chúng tôi nghe một kỷ niệm về những năm tháng tuổi trẻ hoạt động được không ạ?”.

Sau một lát suy nghĩ, Tư lệnh tiếp tục câu chuyện: “Tháng 10 năm 1943 vừa tròn 20 tuổi, mình đã chính thức thoát ly gia đình tham gia hoạt động trong Đội du kích Vũ Hùng. Không quản ngại gian khổ, hy sinh, bản thân luôn hăng hái rèn luyện phấn đấu trở thành Đội phó, chỉ huy Đội tham gia nhiều trận đánh. Tháng 8 năm 1945, mình trực tiếp chỉ huy Đội tham gia cướp chính quyền tại huyện Quế Sơn – tỉnh Quảng Nam. Sau này Đội du kích Vũ Hùng đã trở thành huyền thoại lịch sử truyền thống trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng giành chính quyền năm 1945 của tỉnh Quảng Nam. Đến tháng 9 năm 1945, mình tình nguyện nhập ngũ phục vụ Quân đội nhân dân Việt Nam, tháng 7 năm 1946, mình vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Mình đã được trực tiếp tham gia chiến đấu ở nhiều chiến trường với nhiều cương vị khác nhau.

Kỷ niệm thì nhiều, nhưng chuyện gian nan, khó khăn vất vả đáng nhớ nhất là chuyện bị thương của mình. Trong khi chiến đấu ở chiến trường Kon Tum, tại một trận đánh Đồn Mang Đen, một cứ điểm phòng ngự kiên cố của quân Pháp, bộ đội ta đã tổ chức xung phong nhiều đợt nhưng chưa tiến vào được bên trong để tiêu diệt hoàn toàn quân địch, quân số lại bị thương vong bất lợi cho ta, nên chỉ huy phải quyết định rút ra ngoài, tổ chức trinh sát, nghiên cứu kỹ xây dựng nhiều phương án, tập luyện, giáo dục tư tưởng và chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, hạ quyết tâm chiến đấu và chiến thắng cho đợt tập kích tấn công địch. Lần này, mình được giao trực tiếp chỉ huy một hướng, theo đúng như hợp đồng chiến đấu, khẩu lệnh phát ra đơn vị đồng loạt nổ súng, trận chiến đấu nhanh chóng giành thắng lợi. Trong khi đang chỉ huy bộ đội tiếp tục truy kích tàn quân địch và củng cố, thu dọn trận địa thì một ổ hoả lực phía sau của địch chưa bị tiêu diệt bỗng nhiên bắn ra xối xả, làm mình bị trọng thương. Một vết thương xuyên qua bụng, một vết thương ở tay. Câu chuyện bị thương của mình có những tình tiết rất ly kỳ, chỉ những người trong cuộc, đã từng trực tiếp trải qua chiến đấu mới thấu hiểu hoàn cảnh, sự ác liệt của chiến tranh và tin sự việc đó là thật, còn chưa biết mà chỉ mới nghe kể lại như các cậu thì cứ như chuyện cười của lính.

Vết thương ở bụng của mình rất nặng, ruột lòi ra ngoài, mất nhiều máu, trong khi bông băng có hạn nên quân y đã phải lấy một cái bát ăn cơm úp vào vết thương, rồi dùng một cái khăn quàng nối cùng với băng cuốn chặt bụng cầm máu và giao cho hai chiến sĩ cứu thương đưa mình về quân y tuyến sau điều trị. Khi chuyển đi phải băng qua rừng rậm. Đang đi tổ cứu thương nghe thấy tiếng ào ào của một đàn voi rừng đang tiến về hướng chúng mình. Tình huống thật bất ngờ, nếu đi tiếp thì không được, mà quay lại cũng không kịp. Chỉ cần gây ra tiếng động nhỏ làm cho đàn voi chú ý thì sẽ rất nguy hiểm cho cả Tổ. Trên cương vị chỉ huy, ít nhiều cũng có kinh nghiệm, lại đang bị thương nặng nên mình đã ra lệnh cho hai chiến sĩ để mình lại và chạy tránh voi. Mình nằm lại, nín thở, chờ đợi, nếu có bị đàn voi tấn công thì một mình mình chết. Nhưng thật là may, đột nhiên đàn voi chẳng hiểu vì sao lại chuyển sang hướng khác. Đến khi khu rừng trở lại yên tĩnh, hai chiến sĩ cứu thương quay lại tìm, gặp nhau chúng mình rất cảm động, ôm chầm lấy nhau mà khóc, mừng cho sự may mắn sống sót của mình, rồi tiếp tục cuộc hành trình đưa mình về trạm quân y điều trị kịp thời.

Sau này trong một lần (vào khoảng năm 1983-1984) trên đường từ nhà (làng Trích Sài- Bưởi) đi làm qua đường Hoàng Hoa Thám mình đã tình cờ nhận ra một trong hai người chiến sĩ năm xưa cáng mình đi cấp cứu, đó chính là ông già Giáng chuyên chở bia cho các cơ quan Trung ương ở Hà Nội, mà mọi người trong cơ quan vẫn thường quen gọi là “Ông già bia”. Hai người gặp và nhận ra nhau thật bất ngờ nhưng vô cùng cảm động, chúng mình lại ôm chầm lấy nhau rưng rưng nước mắt như ngày nào cách đây đã 30 năm trong rừng già Tây Nguyên. Từ đó về sau chúng mình vẫn thường xuyên qua lại thăm hỏi nhau và ôn lại những kỷ niệm xưa. Ông già Giáng còn tặng lại mình chiếc khăn ngày trước đã dùng băng bó vết thương cho mình mà ông vẫn giữ được làm kỷ niệm”.

Câu chuyện về quá trình tham gia hoạt động cách mạng và những kỷ niệm sâu sắc của đồng chí Thiếu tướng Lương Soạn là bài học bổ ích cho quá trình tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu của mỗi chúng tôi, mà ngay khi đó đã làm cho chúng tôi quên đi cái nóng nực và mọi sự mệt nhọc. Quãng đường hành quân như ngắn lại, câu chuyện chưa hết thì chúng tôi đã về tới Đoàn 275 an toàn, đầy đủ về người, vũ khí trước giờ quy định 10 phút và sớm hơn cánh quân thứ hai của đơn vị. Chúng tôi ai nấy đều phấn khởi, vui vẻ trở về đơn vị nghỉ ngơi và chuẩn bị cho công việc mới trong trạng thái khâm phục, kính trọng người lãnh đạo, chỉ huy đứng đầu một đơn vị nhưng rất đức độ, dễ gần và hăng say, nhiệt tình với công việc, với phong trào quần chúng, nhất là thế hệ trẻ mà Tư lệnh luôn yêu quý và tin cậy.

Đại tá Cao Đình Kiếm
Phó Chủ nhiệm Chính trị – Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong những năm 1981-1989

Mùa đông năm 1980, từ rừng núi Cao Mê Lai ở biên giới Cam-pu-chia – Thái Lan, tôi nhận được quyết định của Bộ Quốc phòng điều động về Đoàn 969 công tác. Khoác ba lô về Cục Chính trị Quân khu 7, gặp đồng chí Đại tá Tám Hòa – Chủ nhiệm Chính trị Quân khu, tôi hỏi: “Thưa đồng chí Cục trưởng, Đoàn 969 là đơn vị nào?”.

Đồng chí Tám Hòa tươi cười nói: “Đồng chí Viện rất vinh dự được trên điều động về Đoàn 969 là đơn vị Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Nghe Chủ nhiệm Chính trị nói vậy, tôi muốn reo lên vì vui sướng. Thế là, sau những tháng năm tham gia cuộc hành quân “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, với 14 năm ở chiến trường miền Nam và làm nhiệm vụ quốc tế ở Cam-pu-chia, nay tôi được về làm người lính cận vệ Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, có vui sướng nào hơn. Đây là một phần thưởng vô giá đối với tôi.

Bồi hồi nhớ lại, khi công tác ở địa phương, là đại biểu Quốc hội khoá II, tôi có vinh dự được 11 lần gặp Bác Hồ. Ấn tượng nhất là 2 lần được chụp ảnh với Bác và 1 lần được Bác hỏi chuyện. Năm 1960, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, tôi được Ban Bí thư Trung ương Đảng gửi giấy mời về dự. Buổi sáng hôm khai mạc Đại hội, giờ giải lao thấy Bác nói chuyện với mọi người ngoài hành lang, tôi cố len vào trong để được đứng gần Bác, được nghe Bác nói chuyện và được nhìn thấy Bác rõ hơn. Sau khi nói chuyện với đồng chí Nguyễn Lam – Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn, Bác nói: “Chú Lam chọn cho bác một cháu trai, một cháu gái trẻ tuổi nhất là công nhân, nông dân đến chụp ảnh với Bác”. Thật không ngờ, tôi lúc ấy mới 25 tuổi và chị Len là công nhân Nhà máy Xi măng Hải Phòng được chọn chụp ảnh chung với Bác.

Về công tác tại Đoàn 969, tôi được giao nhiệm vụ làm Trưởng ban Tổ chức. Với kinh nghiệm tích luỹ trong những năm làm công tác đảng, công tác chính trị, tôi hiểu rằng công tác tổ chức xây dựng Đảng, trực tiếp là xây dựng tổ chức cơ sở Đảng giữ một vị trí vai trò đặt biệt quan trọng.
Vào những năm 1980 – 1981, tổ chức của đơn vị tiếp tục được hoàn chỉnh. Bộ Quốc phòng xét thấy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh nằm trong cơ cấu tổ chức của Binh đoàn 32 không hợp lý, nên đã quyết định đơn vị trở thành một đầu mối trực thuộc Bộ. Cơ cấu tổ chức của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng gồm: Các cơ quan, đơn vị và các ban trực thuộc. Nhưng lúc này ở Đảng bộ Đoàn 969 vẫn tổ chức thành 2 cấp: Cấp Đảng bộ Đoàn 969 (tức là cấp Bộ Tư lệnh) và cấp liên chi bộ các cơ quan, liên chi bộ các đơn vị. Hệ thống tổ chức Đảng như vậy không phát huy được sức mạnh lãnh đạo, chỉ huy, quyền chủ động và trách nhiệm ở cấp phòng, đoàn, ban trực thuộc.

Căn cứ vào Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa IV) và tình hình cụ thể của Đảng bộ, đơn vị làm nhiệm vụ chính trị đặc biệt, tổ chức mang tính đặc thù, tôi cùng anh em trong Ban Tổ chức tham mưu cho Phòng Chính trị báo cáo với Thường vụ Đảng ủy Đoàn 969, Thủ trưởng Bộ Tư lệnh và xin ý kiến chỉ đạo, hướng dẫn của Cục Tổ chức – Tổng cục Chính trị về kế hoạch củng cố hệ thống tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ.

Được cấp trên đồng ý, Thường vụ Đảng ủy đề ra kế hoạch cụ thể cho từng bước đi, từ làm điểm đến mở rộng. Từng ban, đội thành lập chi bộ; từng phòng và Viện 69 thành lập đảng bộ cơ sở, mỗi đảng bộ có từ 4 đến 6 chi bộ và tổ chức bầu đảng ủy (gồm 5 uỷ viên, có bí thư và phó bí thư). Chi bộ Ban Cán bộ sinh hoạt trong Đảng bộ Phòng Chính trị; Chi bộ Ban Đối ngoại sinh hoạt trong Đảng bộ Văn phòng; Chi bộ Ban Tài chính sinh hoạt trong Đảng bộ Phòng Hậu cần. Từng Đoàn thành lập đảng bộ cơ sở, mỗi đảng bộ có từ 5 đến 6 chi bộ và tổ chức bầu đảng ủy (từ 5 đến 7 ủy viên, có bí thư và phó bí thư). Riêng Đội K84 (nay là Đoàn 285) thành lập chi bộ cơ sở trực thuộc Đảng ủy Đoàn 969.

Song song với củng cố, kiện toàn về mặt tổ chức là cụ thể hoá tiêu chí xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh sát với yêu cầu thực tiễn của Đảng bộ, đó là: Thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, rèn luyện quản lý đảng viên và xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cấp ủy, cán bộ các cấp là khâu then chốt. Các cấp ủy đảng cùng cơ quan Chính trị thường xuyên giáo dục cán bộ, đảng viên hiểu sâu, nắm vững đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Các chi bộ phải quản lý chặt chẽ từng đảng viên cả về chính trị tư tưởng, hành động, tác phong lối sống. Đặc biệt là quản lý những đảng viên là cán bộ chủ trì các cấp cả về nhận thức chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo, chỉ huy, đồng thời quan tâm quản lý chặt chẽ những đảng viên vi phạm kỷ luật, năng lực hạn chế.

Tập trung lãnh đạo đơn vị, cơ quan hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị thường xuyên, là thước đo đánh giá năng lực, kết quả lãnh đạo của từng đảng bộ, từng chi bộ. Căn cứ vào vị trí, chức năng, nhiệm vụ, từng đảng ủy, chi bộ phải xác định rõ mục tiêu, biện pháp lãnh đạo cho từng tháng, quý, năm, từng nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm. Đồng thời chỉ đạo, giải quyết dứt điểm những tồn tại, khuyết điểm của đơn vị, cơ quan mình.

Duy trì nghiêm nền nếp chế độ sinh hoạt, cải tiến, nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng ủy, chi bộ. Trong sinh hoạt phải thể hiện tính lãnh đạo, tính chiến đấu và tính giáo dục. Định kỳ 6 tháng, hàng năm tiến hành sơ kết, tổng kết công tác lãnh đạo và tổ chức lấy ý kiến đóng góp phê bình của quần chúng đối với tổ chức đảng và đảng viên.

Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện theo 4 tiêu chuẩn: Lập trường tư tưởng kiên định, vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhiệm vụ giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh; sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ; tích cực, tự giác học tập nâng cao trình độ chính trị, quân sự, chuyên môn nghiệp vụ khoa học kỹ thuật và làm tốt công tác vận động quần chúng.

Công tác phát triển đảng lúc này được coi trọng, nhất là khối các đơn vị tỷ lệ lãnh đạo thấp (khoảng 10%). Các Đảng bộ cơ sở đã lập kế hoạch phát triển đảng cho từng năm, từng quý, từng chi bộ. Nguồn kết nạp Đảng dựa vào tổ chức Đoàn thanh niên, lựa chọn những đoàn viên ưu tú trong quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng, các tiểu đội trưởng, các tổ trưởng sản xuất, các chiến sỹ thi đua, thợ máy ưu tú. Mỗi năm Phòng Chính trị mở một lớp đối tượng để bồi dưỡng cho quần chúng hiểu sâu về Đảng, xác định rõ động cơ phấn đấu vào Đảng.

Chăm lo công tác lãnh đạo quần chúng, trước hết là xây dựng, củng cố tổ chức Đoàn thanh niên, giáo dục lý tưởng, truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ là có ý nghĩa chiến lược đối với đất nước, đối với đơn vị.

Việc củng cố kiện toàn hệ thống tổ chức cơ sở đảng và cải tiến nội dung phương thức lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chi bộ ở Đảng bộ Đoàn 969 những năm 1981- 1989 thực sự phù hợp với đặc thù của đơn vị làm nhiệm vụ chính trị đặc biệt. Được các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy toàn Đảng bộ đánh giá là hợp lý, nâng cao được sức chiến đấu, năng lực lãnh đạo, quyền hạn nhiệm vụ của các cấp ủy đảng, nâng cao được số lượng, chất lượng đảng viên, phát huy được vai trò quần chúng trong việc tham gia xây dựng Đảng, góp phần hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Dương Văn Viện
Nguyên Phó Chủ nhiệm Chính trị – Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Xứng đáng là “người cán bộ của cán bộ”

Sau ít ngày tôi được về đơn vị nhận nhiệm vụ (tháng 10 năm 1981), Ban Cán bộ tổ chức sinh hoạt, hôm ấy có đồng chí Phó Bí thư Đảng ủy, Đại tá Tư lệnh Lương Soạn đến dự. Trước khi vào nội dung chính của cuộc họp, đồng chí Trưởng ban Nguyễn Đình Minh đọc Quyết định của Bộ Quốc phòng điều tôi về giữ chức Trưởng ban Cán bộ thay cho đồng chí. Sau đó, đồng chí giới thiệu đồng chí Lương Soạn phát biểu giao nhiệm vụ cho tôi và động viên anh em trong Ban.

Với chất giọng trầm ấm và mộc mạc của người con quê hương Quảng Nam, đồng chí Tư lệnh nhấn mạnh: “Ban Cán bộ phải thật sự là nơi tin cậy để anh em cán bộ trong đơn vị yên tâm gửi gắm cả tình cảm và niềm tin của họ vào đó. Mỗi đồng chí trong Ban Cán bộ phải thật sự xứng đáng là những cán bộ của cán bộ”.

Sau khi đồng chí Trưởng ban Nguyễn Đình Minh nghỉ hưu, Ban Cán bộ còn lại ba người: anh Nguyễn Bắc Son, anh Doãn Đức Xuân và tôi. Trên cương vị công tác mới, tôi vừa đi nghiên cứu tình hình ở cơ sở, vừa học tập, vừa công tác, vừa nhận bàn giao công việc. Tôi cùng anh em cán bộ trong Ban tiếp tục nghiên cứu, viết bổ sung để hoàn chỉnh bản báo cáo quy hoạch và kế hoạch công tác cán bộ của đơn vị chuẩn bị thông qua Thường vụ để kịp gửi báo cáo về Cục Cán bộ theo đúng thời gian quy định.

Nội dung và khối lượng công việc nhiều, thời gian hoàn thành lại gấp, mới về giữ chức Trưởng ban Cán bộ, tôi không tránh khỏi những băn khoăn lo lắng bởi lẽ “Vạn sự khởi đầu nan”. Tôi chỉ lo rằng với một khối lượng công việc lớn và quan trọng như thế liệu anh em trong Ban có hoàn thành đúng với thời gian kế hoạch đặt ra hay không? Chất lượng công việc có đạt được theo yêu cầu hay không? Bao nhiêu những suy tư trăn trở lo lắng về công việc ngày đêm cứ vương vấn, bề bộn trong tôi.

Tất cả những lo lắng ấy dường như lại càng tăng lên khi thời gian báo cáo với Thường vụ đã đến. Đó là vào một ngày hạ tuần của tháng 1 năm 1982. Sáng hôm ấy tôi dậy sớm hơn mọi ngày để chuẩn bị thật tốt cho những công việc còn lại. Tôi tranh thủ đọc thật kĩ bản báo cáo của mình để đề phòng có sự “trục trặc” khi báo cáo.

Hội nghị Ban Thường vụ có các đồng chí Nguyễn Hồng Quang – Bí thư Đảng ủy, Lương Soạn – Phó Bí thư Đảng ủy, Nguyễn Văn Tưởng – Ủy viên Thường vụ.

Bản báo cáo mà tôi trình bày gồm: Quy hoạch cán bộ và kế hoạch công tác cán bộ năm 1982. Mặc dù đã được các đồng chí trong Ban chuẩn bị rất kĩ, nhưng không hiểu sao, khi báo cáo trước Thường vụ tôi vẫn cảm thấy hồi hộp. Nhưng được các đồng chí trong Thường vụ động viên, khích lệ, tôi đã trình bày một cách nhuần nhuyễn báo cáo của Ban Cán bộ. Tôi thực sự vui mừng sau khi nghe cả ba đồng chí trong Thường vụ phát biểu đều thể hiện sự nhất trí với nội dung báo cáo.

Các đồng chí cho rằng đây là một bản báo cáo có chất lượng tốt, vừa cơ bản, vừa có trọng tâm trọng điểm. Báo cáo đã quán triệt được những nội dung cơ bản trong Nghị quyết của cấp trên vào tình hình thực tiễn công tác cán bộ của đơn vị.

Sau phần thảo luận đánh giá chung, Thường vụ dành nhiều thời gian tập trung thảo luận nhằm làm rõ hơn, toàn diện hơn về tiêu chuẩn, về phẩm chất chính trị và đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, trình độ năng lực nhận thức, năng lực tham mưu tổ chức thực hiện, về năng lực chuyên môn nghiệp vụ, về kiến thức và độ tuổi. Thường vụ xác định phải đặc biệt coi trọng cả phẩm chất và năng lực, trong đó phải lấy tiêu chuẩn phẩm chất chính trị và đạo đức cách mạng làm gốc.

Sau một hồi trầm tư suy nghĩ, đồng chí Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Lương Soạn phát biểu nhấn mạnh cụm từ xây dựng đội ngũ cán bộ vừa “hồng” vừa “chuyên”. Đồng chí cho rằng: Muốn xây dựng được đội ngũ cán bộ vừa “hồng” vừa “chuyên”, nhiệm vụ trọng tâm và trước hết là phải tập trung vào xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì lãnh đạo chỉ huy từ cấp Bộ Tư lệnh đến cấp cơ sở phải thực sự vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Tôi tâm đắc với những ý kiến sâu sắc ấy của đồng chí Lương Soạn, tôi thấm thía và hiểu rằng mọi việc từ việc nhỏ đến việc lớn, cấp trên bao giờ cũng phải làm gương cho cấp dưới, cấp trưởng phải làm gương trước cấp phó, cán bộ đảng viên phải làm gương trước quần chúng, sĩ quan phải làm gương trước hạ sĩ quan và chiến sỹ. Sự gương mẫu của cấp trên bao giờ cũng là mệnh lệnh “không lời” để cấp dưới học tập và noi theo. Tôi luôn nhận thấy Tư lệnh là một người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy kiên định vững vàng, một lòng một dạ với công việc. Luôn luôn toàn tâm toàn lực với nhiệm vụ xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, có sức chiến đấu cao, lúc nào cũng tâm huyết với nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ vừa “hồng” vừa “chuyên” theo lời Bác Hồ đã dạy. Đối với nhiệm vụ giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác, bao giờ đồng chí cũng kiên định, trung thành son sắt. Luôn xác định cho bản thân và giáo dục cho cán bộ chiến sĩ trong đơn vị nhận rõ đó là nhiệm vụ trọng tâm số một, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, là tính nguyên tắc bất di bất dịch trong mọi hoạt động của đơn vị nói chung và bản thân đồng chí nói riêng.

Phần đánh giá và thảo luận về quy hoạch cán bộ, Thường vụ cho rằng, lâu nay ta vẫn quy hoạch và sắp xếp cán bộ theo công thức cấp phó lên thay cấp trưởng. Làm như vậy có thuận lợi là khi lên thay đồng chí cán bộ đó không mất thời gian để tìm hiểu nhiệm vụ và nắm tình hình đơn vị. Hơn nữa cũng không xáo trộn nhiều về tư tưởng. Tuy nhiên, cách làm này cũng dễ nảy sinh tư tưởng “Sống lâu lên lão làng”, tư tưởng “chờ đợi”, thậm chí trong quá trình quy hoạch, sắp xếp còn xuất hiện tư tưởng thiên về “chính sách” nên cá biệt có cán bộ mới được bổ nhiệm lên cương vị cao hơn nhưng chất lượng và năng lực làm việc chưa đáp ứng được yêu cầu, tín nhiệm của quần chúng không cao.

Để khắc phục được tình trạng nêu trên, Thường vụ yêu cầu cấp ủy các cấp và cơ quan chức năng quản lý cán bộ cần nghiên cứu một cách đồng bộ và toàn diện hơn để triển khai quy hoạch cán bộ theo các phương pháp như:

– Phương pháp tuần tự cùng tuyến và tuần tự không cùng tuyến.
– Phương pháp vượt cấp cùng tuyến và vượt cấp không cùng tuyến.
– Phương pháp ngang cấp cùng tuyến.

Đồng chí Nguyễn Hồng Quang – Bí thư Đảng ủy, phát biểu nhấn mạnh: Phải tránh tình trạng khi quy hoạch chỉ chuẩn bị một người để đưa vào nguồn thay thế cho cả hai hoặc ba chức danh. Không nên cho cán bộ là “con dao pha” muốn sử dụng chỗ nào cũng được và cũng không nên chuẩn bị một người làm nguồn thay thế cho một chức danh. Làm như vậy dễ dẫn tới sự hụt hẫng trong đội ngũ cán bộ.

Trong phần phát biểu của mình, đồng chí Nguyễn Văn Tưởng – Ủy viên Thường vụ nêu ý kiến: Cần chú trọng đến khâu bố trí, sắp xếp cán bộ sao cho đúng người, đúng việc, đúng thời điểm, đúng vị trí, đúng sở trường, đúng chức danh, ngành nghề. Tiếp thu ý kiến của Thường vụ, những người làm công tác cán bộ chúng tôi có thêm những kinh nghiệm và những tư duy mới sâu sắc hơn trong công việc của mình. Thực tiễn cũng đã chứng minh rằng thông thường người cán bộ nào cũng phải trải qua các thời kỳ, lúc cán bộ có khả năng làm việc tốt nhất, tổ chức cần nắm chắc và đánh giá chính xác cán bộ để kịp thời giao nhiệm vụ cho họ. Những cán bộ năng lực đã hạn chế, uy tín và tín nhiệm trước tập thể giảm sút, tổ chức cũng phải đánh giá đúng cán bộ và không nên sắp xếp người cán bộ đó đảm nhiệm những công việc trọng trách của đơn vị nữa. Làm được như vậy sẽ bảo đảm được tính khách quan khoa học, tính bình đẳng, trung thực trong công tác cán bộ.

Hôm nay, khi ngồi viết lại những kỷ niệm sâu sắc ấy, tôi như được sống lại quãng thời gian với những kỷ niệm đẹp nhất trong suốt 25 năm qua (tháng 10 năm 1981 đến tháng 5 năm 2006). Những tình cảm tốt đẹp, những lời huấn thị, những quan điểm tư tưởng, những nội dung thảo luận, kết luận của Thường vụ về công tác quy hoạch và kế hoạch công tác cán bộ của đơn vị ngày ấy đến nay vẫn còn lắng đọng mãi trong tôi với biết bao những kỷ niệm sâu sắc nhất và đẹp nhất không thể nào quên.

Đại tá Dương Đức Thạc
Nguyên Chủ nhiệm Chính trị – Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Đêm cuối thu

Trong đời quân ngũ, ai cũng có rất nhiều những kỷ niệm buồn vui, những bước ngoặt trong cuộc đời và những dấu ấn không bao giờ phai mờ trong ký ức. Đối với tôi khi được nhận Quyết định của Bộ Quốc phòng điều về công tác tại Đoàn 969 (Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh) và lần đầu tiên được tham gia trực ban tác chiến tại công trình Lăng của Người là một kỷ niệm khó quên.

Năm 1981, sau 13 năm tham gia chiến đấu ở các chiến trường Tây Nguyên, Nam Lào, Tây Nam bộ, 2 lần làm nghĩa vụ quốc tế tại Cam-pu-chia (năm 1970 và 1979). Tôi nhận quyết định về công tác tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngày 15 tháng 7 năm 1981, tôi đến nhận nhiệm vụ. Vào cổng Bộ Tư lệnh, người đầu tiên tôi gặp là anh Bùi Sự, anh hướng dẫn tôi đến các cơ quan mà tôi cần gặp. Thái độ vui vẻ, ân cần của các đồng chí cán bộ, nhân viên trong Đoàn đã để lại trong tôi những ấn tượng, tình cảm rất tốt đẹp. Sau hơn 2 tháng đảm nhiệm nhiệm vụ là Trợ lý Ban Tổ chức thuộc Phòng Chính trị, tôi đã được nghe giới thiệu về nhiệm vụ chính trị đặc biệt, về truyền thống Bộ đội Bảo vệ Lăng, được tập huấn nghiệp vụ trực ban tác chiến và đi thăm công trình Lăng.

Khi xem chương trình công tác tuần của Bộ Tư lệnh, tôi thấy hồi hộp thật sự, y như tâm trạng của những ngày chuẩn bị tòng quân lên đường nhập ngũ hoặc chuẩn bị tham gia một trận đánh mới. Ngày 10 tháng 11 năm 1981, tôi trực ban cùng với anh Đỗ Hữu Ngập. Phải chuẩn bị thật kỹ cho buổi trực ban đầu tiên, tôi tự nhủ như vậy, vì kinh nghiệm những năm ở chiến trường đã dạy: Trận đánh nào được chuẩn bị kỹ thì sẽ nắm chắc phần thắng và hạn chế tối đa thương vong.

Ngay từ chiều, sau khi nhận trực xong, anh Ngập dành thời gian hướng dẫn thêm cho tôi các công việc cụ thể của người trực ban phó, phân công công việc, rồi anh động viên:

– Ca trực đầu tiên ý nghĩa lắm ! Anh em mình sẽ cố gắng hoàn thành tốt để ca trực đầu tiên sẽ in đậm mãi trong suy nghĩ của chúng ta sau này.

Hôm ấy là lần đầu tiên tôi mặc bộ lễ phục nghiệp vụ thật trang nghiêm, nhìn vào gương sao thấy mình đẹp và thật chững chạc. Đêm buông xuống, căn phòng trực im ắng càng làm cho không gian thêm tĩnh lặng.

Anh Ngập đang đi kiểm tra các vị trí trực. Còn tôi, theo thói quen cuối một ngày làm việc, tôi dành ít phút để hình dung lại toàn bộ công việc trong ngày: Việc gì làm đã xong, việc chưa làm hoặc làm chưa tốt ?; ngày mai mình sẽ làm việc gì trước, việc gì sau ?. Có lẽ, đây là đêm đầu tiên ở chiến trường ra, được làm nhiệm vụ trực ban trong công trình nên trong tôi trào dâng cảm xúc thao thức, bồn chồn

…. Những kỷ niệm năm tháng cứ lần lượt hiện về trong ký ức tôi:

…. Ngày đầu nhập ngũ. Đúng rồi, hôm đó là ngày 24 tháng 2 năm 1968, mình cùng thanh niên trong thôn, trong xã tòng quân lên đường nhập ngũ. Không khí buổi tiễn quân lên đường thật là náo nức: nào cờ, khẩu hiệu, thanh niên trai gái chỗ thì cười nói râm ran, chỗ thì bịn rịn chia tay với những cử chỉ lúng túng, nghẹn ngào khó nói. Còn tôi cũng có kỷ niệm riêng thật đẹp, không thể quên được…

Ngày 24 tháng 4, sau hai tháng huấn luyện, đơn vị được lệnh hành quân vào Nam chiến đấu, lúc đó do yêu cầu của chiến trường, khoá huấn luyện của chúng tôi chỉ đúng 2 tháng và không nghỉ phép. Từ Nho Quan, Ninh Bình theo đường mòn Hồ Chí Minh, chúng tôi hành quân bộ ròng rã gần 3 tháng trời, vượt cả ngàn cây số vào chiến trường Tây Nguyên. Dọc đường hành quân vất vả, gian khổ và ác liệt, đêm ngủ mơ thấy tiếng chuông nhà thờ, nghe tiếng gà báo sáng, tiếng chim hót… gợi lên nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương đến da diết. Nhớ kỷ niệm trước ngày nhập ngũ, tôi được chọn tham gia đội dân quân trực chiến bảo vệ quê hương chống chiến tranh phá hoại của Mỹ. Lúc đó tuy có ác liệt nhưng làm sao so được với nỗi khó khăn vất vả thiếu thốn và thương vong nhiều như ở chiến trường…

Đang trong miên man suy nghĩ, nhớ đến nhiệm vụ trực, tôi đứng dậy, quân phục chỉnh tề đi kiểm tra các vị trí trực. Đến buồng máy nào cũng vậy, anh em công nhân vận hành đều chăm chú theo dõi, ghi chép các thông số nhiệt ẩm. Có những gian máy chạy ầm ầm, át cả tiếng người. Nhiều anh em cứ nhìn tôi, có đồng chí lần đầu gặp. Tôi dừng lại ở buồng trực B32 và hỏi một người thợ:

– Công việc thường ngày như vậy anh em cảm thấy thế nào, có căng thẳng không?

Anh công nhân trực tự tin trả lời:

– Chúng em trực đã quen rồi, những hôm nghỉ ca, không được nghe tiếng máy, chúng em cảm thấy nhớ như thiếu cái gì ấy. Tôi mỉm cười với anh công nhân. Niềm vui và lòng tự tin của anh như hoà đồng cùng cảm xúc trong tôi. Thật là thú vị.

Thấm thoắt đã 12 năm, hồi Bác Hồ mất, tôi và anh em C2, K4, Trung đoàn 24 đang giữ chốt ở một điểm cao thuộc tỉnh Gia Lai, Tây Nguyên. Khi nghe bản tin đặc biệt trên Đài tiếng nói Việt Nam thông báo Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, chúng tôi bàng hoàng đau xót. Đơn vị làm lễ truy điệu Bác tại chiến hào trong cơn mưa tầm tã. Nước mắt, nước mưa ướt đẫm những gương mặt đen xạm, dầm mưa dãi nắng đang trong những ngày chiến đấu ác liệt. Trong khi đó, bọn địch vừa dã man, vừa xảo quyệt. Một mặt chúng dùng máy bay VO10 thông báo tin Bác mất, rải truyền đơn kêu gọi bộ đội ta chiêu hồi đầu hàng. Mặt khác chúng dùng máy bay B52 rải bom dữ dội. Tiếng máy bay, tiếng bom ngày đêm gầm thét. Tôi cùng đồng đội luôn giữ vững tinh thần chiến đấu gan dạ, dũng cảm, kiên cường giữ chốt, kiên quyết đánh bại mọi âm mưu của địch. Sau đó ít ngày, đơn vị tổ chức phản công, rồi tổ chức đánh phục kích xe tăng địch bên con suối Gia Nhiên gần làng Huỳnh, thu được thắng lợi giòn giã. Trong trận chiến đấu ngày 11 tháng 9 năm 1969, tôi được kết nạp Đảng ngay tại trận địa. Thật là một điều thiêng liêng, rất vinh dự đến với tôi trong đời quân ngũ. Năm đó tôi mới hơn một tuổi quân, tròn 19 tuổi đời.

Rời công trình, trước mắt tôi là một khoảng không bao la của Quảng trường Ba Đình lịch sử. Đang tiết thu, về đêm, trời thanh cao, gió nhẹ mát rượi. Không gian đăm đắm trong hương thơm ngào ngạt của hoa ngâu, hoa nhài. Nhìn 2 chiến sỹ tiêu binh trang nghiêm đứng gác cửa Lăng tôi thấy sao mà oai nghiêm, thiêng liêng thế. Sau khi kiểm tra một vòng quanh Lăng, thấy anh em gác đúng vị trí, đúng tác phong, tinh thần cảnh giác sẵn sàng chiến đấu cao tôi yên tâm về phòng trực, định cố chợp mắt một chút, nhưng đêm ấy tôi thao thức đến sáng.

Hình ảnh những người thợ, những chiến sĩ tiêu binh danh dự, gác vũ trang sao giống mình ngày ở chiến trường đến vậy. Kỷ luật canh gác, trực chiến ở chốt, ở điểm tựa trong chiến đấu thật là nghiêm khắc, chỉ một chút sao nhãng, chủ quan nhiều khi phải trả bằng máu. Còn ở đây, công trình Lăng Bác này anh em cũng vậy, tác phong trang nghiêm, tự giác, ngày cũng như đêm, liên tục bám máy, bám mục tiêu, không để sơ hở, xảy ra sai sót…

Công việc chuẩn bị cho buổi lễ viếng Bác bắt đầu. Sau khi trực chỉ huy Bộ Tư lệnh, trực các đơn vị, trực kỹ thuật kiểm tra xong, tôi nán lại ngắm Bác kỹ hơn. Bác nằm đó chòm râu, mái tóc, nét mặt thanh thản, da dẻ hồng hào như vừa mới chợp mắt. Trong tôi cứ hình dung lúc còn sống Bác ngủ như thế nào nhỉ ? Khi đất nước còn chiến tranh ác liệt, nỗi đau của hàng triệu đồng bào miền Nam cộng lại thành nỗi đau của Bác thì làm sao Bác có thể ngủ ngon lành. Bên tai tôi văng vẳng câu thơ “Cả cuộc đời Bác có ngủ ngon đâu. Nay Bác ngủ, chúng con canh giấc Bác”.

Đúng 8 giờ, buổi lễ viếng Bác bắt đầu, nhìn dòng người vào Lăng viếng Bác trang nghiêm, lặng lẽ, tôi càng thấy xúc động, tự hào. Mỗi người đến viếng Bác được thấy hình ảnh lãnh tụ thiên tài của dân tộc, thêm tin tưởng theo con đường mà Người đã lựa chọn. Tôi tự nhủ: Để mọi người đến viếng Bác trong khung cảnh trong sáng, thanh bình- chắc hẳn ai cũng có sự cảm nhận về những công việc thầm lặng của những người ngày đêm canh giữ yên giấc ngủ của Người. Đâu chỉ có những chiến sỹ tiêu binh đứng trước cửa Lăng, hay những chiến sỹ trong bộ lễ phục gọn gàng canh gác, hướng dẫn khách vào viếng Bác, mà đằng sau đó là cả một đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế, kỹ thuật đang ngày đêm tận tụy chăm sóc thi hài Bác, vận hành các thiết bị được an toàn.

Vậy là buổi trực đầu tiên, cũng như trận đầu ra quân, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ. Không reo mừng thắng lợi như ở chiến trường, nhưng lòng tôi rạo rực niềm vui. Kíp trực đầu tiên đó đã là nguồn động viên, cổ vũ tôi tự tin, vững bước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của người lính cận vệ bên Lăng Bác suốt 25 năm qua.

Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Lâm
Chính uỷ – Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Những thông số nóng … lạnh

Hệ thống thông gió – điều hòa không khí của công trình Lăng là một hệ thống lớn và hoàn chỉnh. Công việc khảo sát từ giai đoạn tiền thiết kế được thực hiện rất công phu, có tham khảo nhiều công trình cùng loại tương tự ở trong và ngoài nước. Trang bị đồng bộ, công tác duy tu bảo dưỡng thường xuyên và tu bổ định kỳ được thực hiện theo kế hoạch chặt chẽ. Kết quả khai thác, vận hành liên tục nhiều năm đã chứng tỏ hiệu lực và độ tin cậy của hệ thống công nghệ này. Tuy vậy, do tác động của khí hậu nhiệt đới và do đặc điểm hoạt động của công trình, có lúc hệ thống kỹ thuật của công trình đã gặp phải những nhiễu động từ môi trường, vượt khỏi dự liệu và cần phải hoàn thiện bổ sung.

Đơn vị khai thác vận hành cùng với các chuyên gia Liên Xô đã xử lý thành công một số vấn đề kỹ thuật phát sinh, khá phức tạp, ngay từ những năm đầu.

Tiếp nhận vận hành, chúng tôi quan tâm ngay đến việc khắc phục mọi sự cố kỹ thuật to, nhỏ xảy ra của hệ thống công nghệ, phân công nhau theo dõi, nắm bắt nhanh các dạng trục trặc, hỏng hóc, không kể giờ nào, hễ được tin có “pan” bất kỳ vừa xảy ra, chúng tôi đều đến bám sát, xác định ngay nguyên nhân (từ tiếng gõ lạ phát ra ở các ổ trục, chiếc cua-roa căng, chùng không đều; các tín hiệu chập chờn, có điều chỉnh mà thông số vẫn “lì” ra). Sau đó chúng tôi đem so các thông số đọc trực tiếp và băng tự ghi của thiết bị đo từ xa, tìm những chỗ vênh, không khớp… Có lần, đã nửa đêm còn nổ ra cuộc tranh luận ở gian máy chính vì nghi vấn có 1 động cơ “xéc vô” kéo van bị hỏng. Không ngại cái thang cao 4 mét lênh khênh, anh em thay nhau leo lên kiểm tra. Quả thật động cơ và van vẫn hoạt động tốt, nhưng bị một vấu tiếp điểm bị kẹt lò xo… nên đèn tín hiệu trên bảng hiển thị báo van không hoạt động.

Báo động nhầm đã không ít lần xảy ra, nhưng không ai tỏ ra ngần ngại khi lại phải làm cái việc tương tự cho những trường hợp khác.

Thực sự, chúng tôi đặc biệt để ý dõi theo những bộc lộ bất thường, đáng lo nhất là khi chúng đồng thời xảy ra cùng thời điểm. Càng phải chú ý hơn là theo dõi khả năng dự trữ đưa ra xử lí, hóa giải các sự cố đó.

Không phải đợi lâu, một trục trặc kỹ thuật dạng phức tạp đã xảy ra, sớm hơn chúng tôi nghĩ: Đọng sương trong công trình và quá tải của thiết bị chủ lực.

Chuyện xảy ra vào thứ tư, ngày 17 tháng 9 năm 1975, lúc 9 giờ 20 phút, đang trong lễ viếng thì xảy ra hiện tượng không khí nóng, ẩm ngoài trời theo sức ép đã đẩy cửa gió, vượt qua hai cánh cửa lớn (mở chính hướng đông) giữa công trình, với khối lượng lớn (có thể gấp vài ba lần công suất của hệ thống thông gió cơ khí đặt sẵn trong Lăng). Hàng trăm mét vuông tường, trần, sàn ốp đá cùng mang nhiệt độ mát, lạnh. Khi không khí nóng ẩm bên ngoài tràn vào thì một hiện tượng tự nhiên về vật lý kiến trúc đã xảy ra: các bề mặt bên trong công trình có không khí điều hoà, nhiệt độ thấp hơn môi trường bên ngoài nhanh chóng bị đọng sương, đẫm nước, rồi tụ lại, chảy thành dòng… Có gió trời thổi mạnh, dung ẩm bên ngoài lại cao. Suốt khu vực tiền sảnh và ở chân hai cầu thang lối vào, lối ra đều bị nước đọng thành vũng. Không khí ngưng, đọng đem mùi mốc nồng vào và làm cả không gian ẩm ướt. Từng bậc lên, xuống, trước chỉ có dính ít bụi đất do giày dép bước qua, lúc này đã tạo thành lớp bùn mỏng. Cả tấm thảm len lớn màu đỏ sáng và đẹp thế, nay sũng nước, màu xỉn lại.

Phải tạm ngắt dòng người viếng ngay trước cửa Lăng. Hàng chục đồng chí Đội Kiến trúc, vệ sinh được huy động ngay, với giẻ lau, bàn đẩy, bắc ghế, bắc thang, giải quyết cấp tốc. 15 phút sau, lễ viếng mới được tiếp tục. Nhưng chỉ độ một giờ sau, lại phải làm lại lần khác.

Hôm đó, nắng không gắt nhưng trời rất oi bức (độ ẩm tương đối đến 85%). Gió đông khá mạnh thổi thẳng vào công trình. Tôi đã theo dõi suốt buổi sáng hiện trạng này. Là những người đã từng làm công tác thiết kế và giảng dạy về vi khí hậu công trình ở Binh chủng Công binh và Học viện Kỹ thuật Quân sự, chúng tôi không phải tìm lâu về nguyên nhân, nhưng cũng bị “sốc” trước mức độ gây xáo trộn quá nhanh của sự cố này.

Suốt tuần sau, chúng tôi mở lại các hồ sơ thiết kế và dùng máy đo những đại lượng liên quan để làm rõ các hiện tượng chính, phụ (chúng đồng thời xảy ra như thế nào). Rồi tập trung vào hướng để giải quyết hiện tượng bất thường trên, cần phải làm gì?

Câu trả lời tìm ra từ nghiên cứu hồ sơ thiết kế là: không có mục tiêu “chống đọng sương” đặt vào nhiệm vụ vận hành của 4 hệ điều hòa trung tâm! Việc chống các nhiễu động lớn từ môi trường khí quyển ngoài vào công trình không được “đặt thành vấn đề” từ thiết kế gốc! Thế là đã rõ ràng.

Điểm mấu chốt lúc này là phải giải quyết vấn đề “chống đọng sương” như thế nào?

Về lý thuyết – có thể nghiên cứu các yếu tố:

Lăng Bác là một công trình có yêu cầu riêng. Vào thời gian tổ chức lễ viếng, cửa chính của Lăng phải mở hoàn toàn (không thể đóng kín như các công trình bình thường);

Vậy cần và có thể tạo ra một màn chắn bằng không khí, với ý tưởng: “có cửa mà như không có cửa”. Màn chắn “mềm” đó, các máy cơ khí của ta sẽ tạo ra không mấy khó khăn, nhưng công suất của nó tính ra khá lớn. Và kiến trúc phía ngoài cửa Lăng sẽ bị biến dạng đi rất nhiều! Ai làm nổi việc này?

Toàn những chuyện quá lớn vào thời điểm năm 1975 – 1976! Vài phương án lý thuyết phác họa đều ít tính khả thi. Vậy là chưa chọn được cách nào ?

Chúng tôi cho rằng, về chống đọng sương hiện chưa có biện pháp khả thi; nhưng về quá tải, vẫn phải chủ động nâng cao công suất lạnh cho các máy điều hòa. Vì công suất lạnh là năng lượng cơ động để phục vụ thường xuyên và cũng có thể chống nhiễu được. Nắm bắt được tình hình trên, Tổ chuyên gia thường trực tại Lăng đã báo cáo về Mát-xcơ-va. Nhóm chuyên gia thiết kế hàng đầu đã bay sang Hà Nội sớm hơn dự định 2 tháng để cùng chúng ta giải quyết vấn đề lớn này. Ngay trên sân bay Nội Bài, ông Ra-vin (người Nga) nói vui: “Những thông số lạnh đã làm “nóng” người chúng ta lên”.

Cả chục ngày liên tiếp, ta và Bạn tất tả mở, đóng máy để đo đạc, tính toán… và bàn bạc nhiều, rồi kết luận được về tham số nước kỹ thuật: Phải hạ thấp nhiệt độ nước ra của máy lạnh xuống 30C nữa. Có như vậy mới đạt công suất như nhà máy tuyên bố được. Kết luận quan trọng này làm chúng tôi e ngại; vì nhiệt độ nước gần mức đóng băng! Chỉ sơ xểnh một chút thì tắc, vỡ ống trao đổi nhiệt xảy ra ngay. Nên phải thêm vào thiết bị khống chế, đảm bảo an toàn bổ sung.

Hạ thấp được nhiệt độ nước kỹ thuật hiển nhiên cho phép tăng công suất máy điều hòa lên rất đáng kể.

Chúng ta còn thu hoạch thêm, rất bổ ích về tay nghề – là kỹ năng điều chỉnh có kết hợp giữa số lượng và chất lượng; tăng áp và giảm áp cục bộ cho những khu vực công tác có nhu cầu chống nhiễu ngắn hạn; là cắt sớm dao động (và giảm biên độ thăng giáng) của chúng… anh em thợ vận hành ở các phòng B32 và F2 có thêm cẩm nang vận hành, thêm kỹ năng thao tác, thêm một số bài tập thực hành sinh động. Có đồng chí đã thi nâng bậc được trước thời hạn.

Vào một ngày, ông Ra-vin có trong tay tập tài liệu do tôi tập hợp từ Đài khí tượng Láng về. Nội dung thu gọn là các thống kê “tần suất gió hướng đông, đông nam vào mùa nóng ở Hà Nội và vận tốc gió trung bình trong các tháng”.

Tập tài liệu mỏng nhưng ông Ra-vin đọc khá lâu, trầm ngâm, ông nói: “Xác suất có gió theo hướng đông và đông nam là nhiều đấy, ta có tăng được công suất lạnh cho máy điều hòa, nhưng cũng mới chỉ đủ sức chống được những ca gây đọng sương cường độ thấp thôi. Còn phụ thuộc nhiều vấn đề khác… trong đó có tài nghệ điều chỉnh của người vận hành nữa!.

Mỉm cười, ông đọc lời một khúc hát đồng dao Nga:

Có con chim nhỏ trong tay,

Vẫn hơn đợi chú ngỗng bay trên trời – Đúng không ?

Chúng tôi cùng cười vui. Ông Ra-vin là một chuyên gia lớn, có nhiều bằng đại học, đã thiết kế nhiều công trình, ông đã nhận ra cái giới hạn và cái tương đối đã đạt được khá khách quan.

Chúng tôi (Bạn và ta) không quên những đêm thức trắng cùng nhau dựng mô hình lắp thiết bị và theo dõi vận hành. Những trái tim cùng nhịp đập trăn trở khi gặp tình tiết hóc búa và cùng dâng trào hứng khởi khi thu về kết quả (thông số hiện ra trên các biểu đồ rất khách quan vì hoàn toàn tự động). Giây phút đó, những con số hình như cũng có sức sống, gây nỗi ám ảnh khó quên.

Từ năm 1990, các chuyên gia kỹ thuật của Bạn thôi không còn làm việc tại Lăng. Bằng nỗ lực vươn lên, đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và công nhân vận hành đã hoàn toàn làm chủ kỹ thuật công trình Lăng.

Thông số nhiệt ẩm, thông số nóng… lạnh, nỗi vất vả và niềm vui sáng tạo, nơi quy tụ những cố gắng của anh em công nhân và kỹ sư nhiều lớp nối tiếp, cũng là của các nhà lãnh đạo, quản lý và của tình bạn bè hữu nghị một thời chưa xa.

Đại tá Lương Lâm
Nguyên Đoàn trưởng Đoàn 195 – Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Màu áo của Bác

Đón Bác về Lăng, ngày ngày nhìn dòng người nối dài như bất tận vào Lăng viếng Bác, cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ làm nhiệm vụ giữ gìn giấc ngủ của Người rất xúc động. Ai ai cũng thầm hứa với Bác sẽ quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, giữ gìn tuyệt đối an toàn lâu dài thi hài Bác để muôn đời con cháu mai sau được đến thăm viếng, chiêm ngưỡng và nguyện đi theo con đường mà Người đã lựa chọn.

Là một cán bộ kỹ thuật, nhiều năm được giao nhiệm vụ bảo đảm vật tư cho nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Bác và hoạt động công trình Lăng của Người, tôi nhớ mãi kỷ niệm về việc lựa chọn vải và màu sắc áo của Bác. Đây là một việc có ý nghĩa hết sức quan trọng và nhạy cảm phải đảm bảo cả màu sắc, nhưng quan trọng nhất là chất liệu vải phải phù hợp với công tác gìn giữ thi hài và tổ chức lễ viếng. Vải phải đảm bảo không bị phân hủy, ố vàng khi tiếp xúc với dung dịch làm thuốc, phải ăn ly, không bị nhầu, bị ẩm.

Về màu sắc, sinh thời Bác thường mặc bộ quần áo ka ki màu vàng nhạt trong những ngày lễ lớn, lúc tiếp nguyên thủ các nước hay đi thăm các công trường, xí nghiệp, trường học, đơn vị quân đội… Hình ảnh đó rất đỗi thân quen đối với nhân dân ta. Đó cũng là màu áo mà Bộ Chính trị đã chọn để Bác mặc lúc tiễn Người đi xa. Có thể nói màu áo của Bác là một trong những nét đặc trưng về hình ảnh Bác kính yêu trong lòng nhân dân ta và bạn bè quốc tế, cần được tôn trọng giữ gìn.

Vậy là phải tìm cho được chất liệu vải bảo đảm màu áo của Bác. Tuy số lượng không lớn song thị trường bấy giờ rất hiếm loại vải đó. Trong các cửa hàng bách hoá thời bao cấp mặt hàng vải rất khan hiến, chủng loại, màu sắc rất ít. Còn thị trường bên ngoài, ở các chợ có chăng cũng nhỏ lẻ và không rõ xuất xứ, nếu tìm được liệu có bảo đảm an toàn và cung cấp thường xuyên được không ?

Trong lúc đang lúng túng tìm nguồn hàng tin cậy, cán bộ vật tư đã đề xuất nhờ Tổng Công ty dệt may giúp đỡ. Ngay sau đó, Bộ Tư lệnh đã trực tiếp làm việc với đồng chí Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nhẹ kiêm Tổng Giám đốc Tổng Công ty dệt may Việt Nam. Kết quả buổi làm việc rất nhanh gọn. Ngay sau đó, Tổng Công ty dệt may yêu cầu Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng cung cấp chất liệu, màu vải để Viện Kỹ thuật dệt phân tích, đo đếm chính xác số lượng, chất lượng sợi vải, lập quy trình sản xuất. Tổng Công ty giao cho Nhà máy dệt Thành Công dệt loại vải đó.

Sau 2 tháng khẩn trương nghiên cứu, những bàn tay kheo léo của người thợ Nhà máy dệt Thành Công đã sản xuất xong số lượng vải mà đơn vị yêu cầu. Trước khi tiếp nhận, đơn vị đã giao cho Viện 69 kiểm tra kỹ và gửi mẫu đi Liên Xô để kiểm nghiệm. Kết quả thử nghiệm của cả ta và Bạn đều rất tốt. Toàn bộ số vải đã được giao nhận đưa về đơn vị để may áo cho Bác.

Ngắm nhìn những cuộn vải được kiểm tra bảo đảm đầy đủ các yêu cầu đặt ra trong một thời gian ngắn, tôi thầm biết ơn tình cảm, trí tuệ của cán bộ, công nhân Nhà máy dệt Thành Công, cũng như đồng bào, chiến sĩ cả nước đã tích cực đóng góp, thể hiện tình cảm biết ơn đối với Bác Hồ muôn vàn kính yêu.

Đại tá Trần Quang Châu
Nguyên Phó Tham mưu trưởng – Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Kỷ niệm về Trường “C 100”

Sau thất bại thảm hại trong cuộc tập kích chiến lược bằng không quân vào Hà Nội, Hải Phòng và nhiều địa phương trên miền Bắc cuối năm 1972, đế quốc Mỹ buộc phải tuyên bố chấm dứt ném bom toàn miền Bắc và chấp nhận trở lại hội nghị ở Pa-ri. Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định về “Chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam” được ký chính thức giữa các bên, đồng thời cũng chấm dứt vai trò của quân viễn chinh Mỹ trên chiến trường miền Nam. Tuy vậy, chúng vẫn không từ bỏ âm mưu chiếm đóng lâu dài miền Nam Việt Nam. Mỹ tăng viện trợ, gấp rút củng cố ngụy quân, ngụy quyền miền Nam trong quỹ đạo của đế quốc Mỹ. Được Mỹ tiếp sức, quân ngụy ra sức phá hoại Hiệp định Pa-ri, liên tiếp mở những cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng. Cuộc chiến ở miền Nam vẫn diễn ra rất ác liệt.

“…Việt Nam trên đường chúng ta đi, nghe gió thổi đồng xanh quê ta đó, nghe sóng biển ầm vang xa tận tới chân trời…Ta còn đến nơi đâu còn giặc, ta chưa về khi Tổ quốc chưa yên…”. Lời bài hát cứ vang mãi, vang mãi, thôi thúc trong tim chúng tôi, những người lính trẻ nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc tiếp bước cha anh cầm súng đi đánh giặc.

Sau 3 tháng huấn luyện chiến sĩ mới tại Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 144 – Bộ Tổng Tham mưu, đơn vị đóng quân gần sân bay Gia Lâm, Hà Nội, một số chiến sĩ mới của huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Thái và huyện Kim Bôi, tỉnh Hoà Bình được tuyển chọn đi làm “nhiệm vụ đặc biệt”. Điểm tập kết đầu tiên là ở Nhổn thuộc xã Tây Tựu, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Đến đây chúng tôi được biết còn có cả những anh lính mới “tò te” của các Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 144 thuộc các địa phương khác như: huyện Yên Lập, huyện Thanh Sơn tỉnh Vĩnh Phú; huyện Định Hoá, huyện Phú Lương tỉnh Bắc thái.

Sau 1 tuần học tập về tình hình nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, đơn vị lại tiếp tục tuyển chọn trong số khoảng gần 900 chiến sĩ mới. Phụ trách tuyển chọn là đồng chí Trung tá Đỗ Hải – Chính uỷ Trung đoàn 144 và một số đồng chí cán bộ. Tiêu chuẩn đầu tiên là chiều cao. Những ai không đủ 1m65 trở lên là bị loại; ngoại hình phải cân đối; quân dung sáng sủa; toàn thân, nhất là các vùng ở mặt, đầu, cổ, chân tay không có khuyết tật, dị tật và không nói lắp. Mặc dù được giữ bí mật và không được thông báo, nhưng chúng tôi cũng nghe phong phanh là được tuyển chọn đi đào tạo làm nhiệm vụ bảo vệ Lăng Bác Hồ, nên ai cũng cũng háo hức, chờ đợi và ước ao mình được trúng tuyển.

Sau lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22 tháng 12 năm 1974, chúng tôi được lệnh hành quân lên trường huấn luyện.

Trung tâm huấn luyện thuộc huyện Tam Nông, tỉnh Vĩnh Phú. Doanh trại nằm giữa những quả đồi với bạt ngàn cây sơn, một loại cây đã gắn liền với câu tục ngữ “Sơn ăn tuỳ mặt, ma bắt tuỳ người”. Đón chúng tôi là những đồng chí chuẩn uý, hạ sĩ, trung sĩ mới toe nhưng với một thân hình rắn chắc, đen sạm nắng gió và với những cái tên đầy ấn tượng: Nào là “Mỹ ục”, “Sơn lắp”, “Ba Gãi”… Đây là những cán bộ vừa tốt nghiệp lớp đào tạo hạ sỹ quan chỉ huy và sẽ là trung đội trưởng, tiểu đội trưởng làm nhiệm vụ huấn luyện. Chúng tôi được biên chế thành 3 trung đội. Tôi thuộc Tiểu đội 6, Trung đội 2. Toàn đại đội được trang bị súng trường CKC với lưỡi lê sáng quắc. Mỗi người được cấp thêm một đôi giày da của Liên Xô (giày Kô-sư-ghin) và một bộ quân phục mới. Sau 2 ngày làm công tác chuẩn bị, lễ khai giảng khoá huấn luyện diễn ra ngắn gọn nhưng thật trang trọng. Trên lễ đài là các đồng chí chỉ huy Trung đoàn 144, đại diện của Bộ Tổng Tham mưu, Cục Bảo vệ Quân đội. Toàn đại đội đứng nghiêm như nuốt lấy từng lời của đồng chí Trung đoàn trưởng Vũ Ngạch. Đồng chí nói: “Với tấm lòng kính yêu vô hạn và đời đời nhớ ơn Bác Hồ vĩ đại, thể theo ý nguyện rất thiết tha của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đặc biệt là đồng bào miền Nam, Đảng và Nhà nước đã quyết định giữ gìn lâu dài thi hài Bác và xây dựng Lăng của Người. Ngày 2 tháng 9 năm 1973, Lăng Bác đã được khởi công xây dựng tại Quảng trường Ba Đình lịch sử. Hiện nay công trình xây dựng Lăng Bác đang được thi công rất khẩn trương, các đồng chí có một vinh dự là được tuyển chọn để huấn luyện làm nhiệm vụ đặc biệt, đó là nhiệm vụ bảo vệ Lăng Bác. Vinh dự cho bản thân, cho gia đình, quê hương, vinh dự to lớn nhưng trách nhiệm cũng hết sức nặng nề, các đồng chí phải ra sức tu dưỡng, học tập và rèn luyên để trở thành những chiến sĩ cận vệ ưu tú đại diện cho Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng canh giữ giấc ngủ của Người. Quân đội ta đã có các Trường 200, Trường 300, Trường 400…và hôm nay Trường 100 được thành lập để đào tạo những chiến sĩ cận vệ trung thành”. Trong không khí trang nghiêm, đại đội trưởng của chúng tôi đã lên đọc lời tuyên thệ và tất cả hô vang lời thề danh dự nguyện học tập và tu dưỡng rèn luyện thật tốt, nguyện sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại.

Bảo vệ Lăng Bác, là một nhiệm vụ hoàn toàn mới mẻ. Trên cơ sở tham khảo, nghiên cứu những kinh nghiệm của Lăng Lê-nin, Ban Chỉ đạo huấn luyện đã xây dựng một chương trình đào tạo rất cơ bản, phù hợp với thực tế của Việt Nam. Trong các nội dung tập luyện có lẽ môn tập tiêu binh đứng nghiêm là vất vả nhất, nó đòi hỏi cả sức khoẻ và cả ý chí quyết tâm. Mỗi tuần chúng tôi có hai buổi tập đứng nghiêm, bắt đầu là đứng nghiêm 30 phút, sau nâng dần lên 45 phút, 1 giờ, 2 giờ, 4 giờ và kỷ lục đứng nghiêm của chúng tôi là 5 giờ. Trước buổi tập, chúng tôi được phép khởi động và làm mọi công tác chuẩn bị, vệ sinh cá nhân và vào vị trí chữ T đứng nghiêm. Sau khi kiểm tra tư thế động tác thật chuẩn “đầu ngay, cổ thẳng, miệng ngậm, cằm thu, ngực nở, bụng thót, quân dung tươi tỉnh, mắt hạn chế chớp” là khẩu lệnh “Nghiêm, bắt đầu”, 20 phút đầu thật đơn giản. Sau những buổi tập võ thuật, tập vác súng, đi đều, đi nghiêm, giương lê, gập lê, thì đứng nghiêm thế này thật nhàn hạ như là được nghỉ ngơi, mới đầu ai cũng nghĩ như vậy, nhưng sau 30 phút trở đi, đứng nghiêm là cả một sự thử thách gian nan chỉ có những ai đã từng đứng nghiêm mới cảm nhận được. Để rèn luyện ý chí và quyết tâm, đại đội quy định trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không được rời vị trí khi chưa hết thời gian của buổi tập. Thế là từ khoảng hơn 1 giờ trở đi thỉnh thoảng lại nghe tiếng rơi khô khốc của khẩu súng trường và tiếng đổ vật của thân thể người bị ngã, chúng tôi gọi là bị “đổ ”. Một tổ quân y luôn túc trực để sẵn sàng cấp cứu. Để có được sức khoẻ thực hiện các bài huấn luyện, vấn đề rèn luyện thể lực được đại đội quan tâm. Môn rèn luyện thường xuyên của chúng tôi là chạy dài, sáng nào cũng vậy, sau tiếng còi báo thức là chạy dài 30 km.

Tháng Tám – mùa thu lịch sử, những ngày ấy, khắp nơi trên mọi miền đất nước đều hướng về Quảng trường Ba Đình. Ai cũng mong chờ Lăng Bác được khánh thành. Ngày 20 tháng 8 năm 1975, chúng tôi được lệnh hành quân về Hà Nội. Trước đó đã có 2 lần về Ba Đình để tập làm quen với địa hình thực tế. Ngồi trên xe “Páp”, chúng tôi hát đến khản cả giọng những khúc quân hành và bài hát “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”. Tập kết tại Ba Đình, Đại đội 100 được chia thành 3 đội: Tiêu binh danh dự, Cảnh vệ đặc biệt và Cảnh vệ vũ trang, tôi được biên chế về đội Tiêu binh danh dự. Từ đây kết thúc C100 – trường đào tạo đầu tiên của tôi trong đời binh nghiệp.

Phiên gác tiêu binh đầu tiên tại Lăng Bác thật nhiều cảm xúc, đến bây giờ tôi vẫn nhớ như in buổi sáng mùa thu năm ấy. Tôi được đảm nhiệm đứng tiêu binh số 2 túc trực bên thi hài Bác, số 1 là Hà Văn Tặng, số 3 là Bùi Thanh Vững quê ở Kim Bôi – Hoà Bình (nay đã xuất ngũ) và số 4 là Nguyễn Trọng Nghĩa (nay là Đội trưởng Đội di tích – Đoàn 285). Phòng Bác nằm có cảm giác thật ấm cúng và yên tĩnh. Bác đang yên nghỉ. Phía trên đầu Bác nằm có 2 lá cờ – cờ Đảng và cờ Tổ quốc được ghép bởi hơn 4.000 miếng đá hồng ngọc. Búa liềm và ngôi sao năm cánh ghép bằng đá cẩm vân sáng vàng. Sau lễ viếng của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước là lễ viếng của các đơn vị quân đội, công an, dân quân, tự vệ tham gia lễ duyệt binh được phép ưu tiên vào viếng Bác trước để sẵn sàng làm nhiệm vụ trong ngày lễ kỷ niệm Quốc khánh 2-9.

Thấm thoắt đã hơn 30 năm kể từ ngày những người chiến sĩ cận vệ qua trường C100 đứng gác phiên đầu tiên ấy. Trong số họ có những người đã trưởng thành là những sỹ quan cao cấp trong quân đội, có người đã xuất ngũ và trở thành bác sĩ, giáo viên, luật sư, doanh nhân; có người đã trở về với cuộc sống của người dân bình thường. Nhưng ở đâu, với cương vị nào, họ vẫn xứng đáng với sự tin cậy, yêu mến của Đảng, quân đội và nhân dân đã dành cho “Bộ đội Lăng Bác Hồ”. Riêng với tôi, sau này còn nhiều những lần vào học ở các nhà trường trong quân đội, nhưng trường C100 vẫn là một kỷ niệm sâu sắc trong đời người lính mà tôi không bao giờ quên.

Đại tá Nguyễn Phúc Trị
Phó Tham mưu trưởng – Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Đón những chuyến hàng đặc biệt

Đã là tháng 2 năm 1975, công trường xây dựng Lăng Bác đang tiếp tục đợt thi đua mới, đẩy mạnh tiến độ xây dựng và lắp máy, sao cho kịp khánh thành Lăng vào tháng 9 năm nay. Vui, hào hứng, sôi nổi, mọi người ở đây làm việc không quản ngày đêm, không nghỉ ngày chủ nhật và ngày lễ. Nhưng trong tâm tư của mỗi người vẫn thấp thỏm chờ đợi, lo âu: Tại sao đến bây giờ hệ thống máy điều hòa nhiệt độ, được ví như lá phổi lớn của Lăng vẫn biệt vô âm tín và toàn bộ thiết bị quan tài kính cũng đang mỏi mong chờ đợi?

Mãi đến cuối tháng, tin vui từ Hải Phòng về: Tàu chở máy điều hòa đã đến phao số “O” làm nức lòng cả công trường, nhất là anh chị em lắp máy thuộc Trung đoàn 259 Công binh.

Phó Thủ tướng Đỗ Mười, đồng thời là Trưởng ban xây dựng Lăng giao nhiệm vụ: Trong vòng 5 ngày, thiết bị phải về đến Lăng (thông thường phải hàng tháng).

Tình hình hết sức khẩn trương. Gần tối, chiếc xe com – măng – ca chở chúng tôi đến giao lệnh chở hàng cho Tổng cục Đường sắt xong, rồi phóng một mạch xuống Hải Phòng giao lệnh cho Giám đốc Cảng. Trời đã về đêm, sau một thoáng suy nghĩ, Giám đốc Cảng nói với chúng tôi: Giờ thì đã khuya, sáng sớm mai, các đồng chí cùng tôi ra phao số “O” gặp chủ tàu. Chúng tôi thầm nghĩ: Ngày đầu như vậy là hết sức thuận lợi.

Đúng 6 giờ sáng hôm sau, chiếc ca nô chở tất cả chúng tôi rời cảng, nhẹ nhàng lướt trong sương mù lãng đãng, khoảng gần một tiếng đồng hồ thì đến phao số “O” cặp mạn tàu của Bạn. Đây là chiếc tàu vượt đại dương mới tinh vừa đóng xong ở Ba lan, được Liên Xô thuê chở hàng cho ta.

Giám đốc Cảng báo cho chủ tàu: Ngay chiều nay, chờ con nước, tàu các anh sẽ vào cảng để bốc hàng. Khỏi phải nói, chủ tàu và thủy thủ xiết bao mừng rỡ. Lập tức rượu sâm panh nổ bốp bốp, đồ nhắm được bày ra, phần nhiều là thức ăn khô và lạnh nhưng khá thịnh soạn.

Tàu ở phao số “O” còn cả chục chiếc, sẽ vào cảng theo thứ tự trước sau, như vậy ít ra phải 15 ngày sau tàu này mới được vào cảng. Cán bộ, thuỷ thủ trên tàu không ngờ chiều nay được vào Cảng. Họ rất vui mừng, mặt mày ai nấy nở hoa phấn khởi.

Lại nói về Tổng cục Đường sắt, trong một, hai ngày phải có 9 toa xe lửa võng có mặt ở cảng Hải Phòng. Bởi vì thiết bị to, cao quá khổ, nếu chở trên toa thường sẽ không qua được cầu Long Biên. Trong khi miền Bắc lúc đó có khoảng chục toa võng nằm rải rác ở các ga từ Lạng Sơn vào đến Thanh Hóa. Để kịp thời gian, ga nào có toa xe lửa võng được sử dụng 1 đầu máy kéo ngay về Hà Nội, ghép thành đoàn xuôi Hải Phòng. Một cuộc chạy đua ngoạn mục với thời gian.

Trở lại Cảng, ngay đêm hôm đó, tàu chở thiết bị đã được dẫn vào. Sáng hôm sau bốc hàng thì đoàn tàu trong đó chủ yếu là toa võng đã có mặt kịp thời.

Nếu như Cảng cử đội bốc xếp giỏi nhất, an toàn nhất để dỡ hàng, thì Đoàn tàu cũng được một Anh hùng Lao động lái, với kíp phục vụ tiên tiến nhiều năm.

Bốc xếp xong, sau khi thiết bị được cố định chắc chắn, đoàn tàu khởi hành ngay về Hà Nội. Đầu máy được trang hoàng rực rỡ cờ, khẩu hiệu rất khí thế. Các đồng chí công an đã lập phương án bảo vệ đoàn tàu rất cụ thể, tỉ mỉ, bảo đảm tuyệt đối an toàn. Toa nào cũng có các đồng chí công an canh giữ. Tàu chạy suốt không dừng ở các ga. Dù vậy nhân viên nhà ga ra hướng dẫn tàu đều mặc đồng phục, tỏ lòng tôn kính. Những chỗ Quốc lộ 5 chạy sát đường tàu đều được các đồng chí công an canh chừng, đề phòng xe ô tô mất tay lái va phải tàu. Các cầu lớn như Lai Vu, Phú Lương, Long Biên đều được bảo vệ cẩn mật cả trên đường lẫn dưới lòng sông. Xung quanh các cột cầu đều có ca nô của công an tuần tiễu bảo đảm an toàn.

Tàu về đến ga Giáp Bát, trời vừa tối. Tính ra đã bốn ngày trôi qua. Lực lượng công an cũng như những thiết bị hiện đại được điều đến bảo vệ đoàn tàu nghỉ đêm tại đây.

Sáng hôm sau đoàn ô tô của công trường đã có mặt ở ga, sẵn sàng tiếp nhận hàng. Vì hàng thuộc loại cao quá khổ, lại quan trọng nên mỗi ô tô có một đồng chí công an bảo vệ, một đồng chí thợ điện với cây sào cách điện sẵn sàng nâng dây điện cho ô tô đi qua. Ô tô công an dẫn đường và khóa đuôi, đoàn xe vận chuyển khí thế an toàn về đến Lăng đúng 5 ngày kể từ khi hàng còn ở phao số “O”.

Khi về đến công trình, lập tức chuyên gia Bạn và ta mở thùng hàng kiểm kê: Thật tuyệt vời. Thiết bị hệ điều hòa nặng hơn 160 tấn do Liên Xô thiết kế với hàng trăm phụ tùng máy móc mua của nhiều nước: Nhật, Mỹ, Đan Mạch… vận chuyển hàng vạn cây số như vậy mà không mảy may suy chuyển. Nếu có xảy ra dù chỉ một hư hỏng nhỏ phải thay thế thì không thể nào kịp tiến độ.

Máy về đến nơi, chưa kịp nghỉ, ngày hôm sau Bộ chỉ huy lắp máy đã phát động đợt thi đua: “40 ngày lắp xong hệ điều hòa”.

*
* *

Một buổi sáng cuối xuân năm 1975, đoàn tiếp nhận của công trường xây dựng Lăng Bác với những chiếc ô tô chuyên dụng đã chờ sẵn ở sân bay Gia Lâm. Khoảng 10 giờ, trời nắng đẹp, tiếng ầm ì từ xa vọng lại ngày càng rõ, chiếc máy bay mang số hiệu 42988 nhẹ nhàng hạ cánh xuống sân bay giữa sự vui mừng khôn xiết của những người ra đón. Tổ lái cùng anh em đoàn tiếp nhận sau khi chụp ảnh chung, đã nhanh chóng bắt tay vào việc bốc dỡ hàng từ máy bay lên xe ô tô chuyên dụng. Cửa hậu máy bay được mở, từng chiếc ô tô lần lượt vào nhận hàng.

Đây là toàn bộ thiết bị quan tài kính được tháo rời, đóng gói chắc chắn để vận chuyển. Thiết bị này do Liên Xô thiết kế, chế tạo ở nhiều cơ sở có trình độ chuyên môn cao rất hiện đại và chính xác. Đó là những tấm kính dày cỡ vài chục ly trong suốt, ánh sáng xuyên qua không bị khúc xạ, được chế tạo đơn chiếc với công nghệ đặc biệt. Thiết bị nâng hạ được chế tạo theo nguyên lý trục vít, bảo đảm chính xác và an toàn tuyệt đối. Hàng chục bộ đèn nhiều tia được chiếu qua một hệ kính lọc, bảo đảm ánh sáng có thể điều chỉnh màu sắc và hạn chế gia nhiệt.

Do tính chất quan trọng như vậy nên phía Bạn đã quyết định vận chuyển những thiết bị này bằng máy bay, cho dù tốn kém hơn nhiều so với đi đường biển.

Đoàn xe sau khi cố định xong, từ từ thận trọng chuyển bánh về công trình Lăng, với sự bảo vệ nghiêm ngặt của các đồng chí công an Hà Nội. Anh em tiếp nhận chưa kịp phấn khởi thì nỗi lo lại đến. Đây là những thiết bị có độ chính xác cao, nếu khí hậu thay đổi thất thường, dễ cong vênh, lắp ráp sẽ không đảm bảo độ kín theo yêu cầu. Vậy nên, Bạn đề nghị phải để trong phòng có điều hòa nhiệt độ và khống chế độ ẩm. Lúc bấy giờ tìm được vài máy điều hòa cỡ trung bình thật không dễ chút nào. Nhưng tất cả vì Bác kính yêu nên ở đâu có máy là họ sẵn sàng cho mượn. Đồng chí Đỗ Mười, Phó Thủ tướng kiêm Trưởng ban phụ trách xây dựng Lăng cho phép sử dụng Câu lạc bộ Ba Đình là nơi tập luyện thể thao của cán bộ cao cấp để cất giữ thiết bị tạm thời.

Lập tức phòng bóng bàn của Câu lạc bộ được cải tạo, đục tường, lắp những cánh cửa lớn, lắp 4 máy điều hòa cỡ trung bình. Sau khi chạy thử, bảo đảm thông số, thiết bị được mở ra bảo quản theo quy định, sẵn sàng chuyển vào lắp ráp trong Lăng khi điều kiện cho phép.

Công việc lắp ráp thiết bị quan tài kính trong Lăng chủ yếu do chuyên gia Bạn làm, cán bộ, nhân viên kỹ thuật Việt Nam làm việc phụ và theo dõi học tập.

Vậy là, nếu hệ điều hòa là “lá phổi đặc biệt của Lăng”, thì thiết bị quan tài kính là “quả tim lớn”, đã được Bạn và ta lắp ráp bảo đảm chất lượng, đúng tiến độ.

Nhiều năm sau, thiết bị vẫn làm việc liên tục, an toàn, góp phần quan trọng giữ gìn lâu dài thi hài Bác. Đó chính là phần thưởng vô giá đối với cán bộ, chiến sĩ lắp máy và vận hành trên công trình xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đại tá Nguyễn Quế
Nguyên Đoàn trưởng Đoàn 195 – Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Đi Liên Xô tham gia thiết kế Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Năm 1971, tôi được tham gia phục vụ đoàn cán bộ Việt Nam làm việc với đoàn chuyên gia Liên Xô thiết kế Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nếu Mỹ không mở rộng chiến tranh không quân đánh phá miền Bắc, thì theo kế hoạch năm 1972 chúng ta sẽ tiến hành khởi công xây dựng Lăng. Tháng 12 năm 1972, Mỹ dùng máy bay B52 đánh phá Hà Nội và một số thành phố khác nên việc khởi công xây dựng Lăng phải dừng lại. Đến tháng 1 năm 1973, do bị thất bại nặng nề nên Mỹ buộc phải ký Hiệp định Pa-ri về Việt Nam, rút quân về nước và chấm dứt đánh phá bằng không quân đối với miền Bắc.

Tháng 3 năm 1973, ta đặt vấn đề lại với Liên Xô sẽ khởi công xây dựng Lăng vào tháng 9 năm 1973, Bạn trả lời lại rằng: “Do tạm hoãn nên chúng tôi không thể cung cấp bản thiết kế kỹ thuật hoàn chỉnh kịp”. Khi đó, ta đề nghị sẽ cử một số cán bộ kỹ thuật giỏi trong các ngành sang Liên Xô để cùng tham gia thiết kế kỹ thuật và Bạn đã chấp thuận.

Tháng 8 năm 1973, đoàn Việt Nam gồm 12 đồng chí. Trong đó, Bộ Kiến trúc 4 đồng chí: Anh Nguyễn Đình Phúng – Kiến trúc sư; anh Nguyễn Tấn Vạn – Kiến trúc sư và anh Ngô Thanh Cẩn, anh Lư – Kỹ sư xây dựng. Bộ Tư lệnh Công binh 8 đồng chí: Anh Nguyễn Trung Thành, anh Nguyễn Đức Nghị – Kỹ sư điện, anh Hoàng Quang Bá – Kỹ sư nước, anh Bùi Danh Chiêu – Kỹ sư điều hòa, anh Đặng Thành Trung – Kỹ sư cơ khí, anh Phạm Văn Quang và anh Nguyễn Văn Tẩy – Cán bộ phiên dịch và tôi – Trần Quốc Dân – Kỹ sư công trình quốc phòng. Riêng tôi được cấp hộ chiếu đỏ để mang theo các tài liệu mật làm việc với các chuyên gia.
Do được chuẩn bị kỹ, khi sang đến Mát-xcơ-va, người nào việc ấy, chúng tôi cùng với các chuyên gia bắt tay vào thiết kế luôn. Ở nhà, các đồng chí Đỗ Mười, Bùi Quang Tạo, Phùng Thế Tài rất sốt ruột, điện hỏi thăm luôn. Chúng tôi hứa sẽ có thiết kế vào tháng 9 năm 1973. Việc thiết kế được tiến hành theo kiểu cuốn chiếu từ dưới lên trên, vừa thiết kế vừa thi công. Theo quy định, hàng tuần, tôi phải đến Đại sứ quán Việt Nam tại Liên Xô để báo cáo tình hình thiết kế và làm việc với chuyên gia cho đồng chí Võ Thúc Đồng, Đại sứ được Trung ương giao theo dõi việc này.

Trong thời gian ở Mát-xcơ-va, mỗi ngày chúng tôi cùng làm việc 7 giờ với cán bộ Viện thiết kế Liên Xô, tối về họp tổ để trao đổi công việc trong ngày, bàn kế hoạch cho ngày hôm sau và sắp đến. Trong quá trình làm việc, cũng có lúc hai bên chưa nhất trí, chúng tôi phải tìm mọi cách để thuyết phục Bạn.

Ngày ấy, tổ chúng tôi luôn ý thức được trách nhiệm nặng nề nên ai cũng hăng say với công việc, làm ngày làm đêm cho kịp thiết kế để gửi về nước. Mới có 2 tháng mà ai cũng gầy đi, mặc dù bơ sữa, bánh mỳ không thiếu.

Trước khi đi, mỗi người chúng tôi được trang bị hai bộ comple, hai bộ đồ ngủ, hai đôi giày, một áo khoác, một mũ phớt. Sang Mát-xcơ-va mới được ba tháng, do đi lại nhiều nên tất bị rách, giày do Việt Nam đóng không chịu nổi băng tuyết ở Nga nên đã hỏng, anh em chúng tôi phải tự khâu vá lại để dùng. Một hôm, tôi đến đại sứ quán để báo cáo với đồng chí Võ Thúc Đồng. Sau khi nghe báo cáo, đồng chí hỏi: “Đời sống anh em như thế nào, có vất vả lắm không ?”. Tôi trả lời: “Báo cáo đồng chí, về cuộc sống vật chất, so với anh em trong nước chúng tôi còn sướng hơn nhiều, chỉ có mấy ngày vừa rồi tuyết rơi nhiều mà giày anh em đều đã hỏng, tuyết ngấm vào chân, đi làm về ai cũng bị buốt chân”. Ngay lập tức, đồng chí cho gọi chị Trưởng ban Tài vụ của Đại sứ quán lên và bảo: “Chị xuất cho đồng chí này 450 rúp để mua 9 đôi giày và 9 đôi tất”. Sau đấy, tôi về nói lại với anh em trong tổ, ai cũng cảm động, tuy rằng đấy chỉ là một việc nhỏ nhưng đã động viên chúng tôi rất nhiều. Ngày chủ nhật sau đó, tất cả anh em chúng tôi cùng đi mua giày và tất.

Đến tháng 9 năm 1973, thông qua Đại sứ quán, chúng tôi đã có bản thiết kế nền móng để gửi về Việt Nam. Hôm tôi lên Đại sứ quán, đồng chí Võ Thúc Đồng nói: “Ở nhà đã nhận được thiết kế nền móng rồi, đồng chí Đỗ Mười gửi lời khen các cậu”. Biết tin ấy, anh em chúng tôi càng thêm phấn khởi, quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ. Theo kế hoạch thống nhất giữa ta và Bạn thì khoảng đến tháng 10 năm 1974, những thiết kế kỹ thuật cơ bản sẽ hoàn thành. Đầu tháng 12 năm 1973, nhận được điện của Ban Chỉ đạo xây dựng Lăng, tôi và anh Ngô Thanh Cẩn phải thu xếp đem thiết kế đã làm được về ngay để giải quyết sự chênh lệch giữa công trình kiến trúc và công trình bảo vệ. Vì hai công trình là một tổng thể, nhưng hai bộ phận thiết kế khác nhau và tính chất bí mật cũng khác nhau.

Việc chuẩn bị lên đường trở về nước đã được đồng chí Võ Thúc Đồng chỉ thị cho anh Đoàn, lúc bấy giờ là Thương vụ sứ quán lo liệu mọi mặt. Tối ngày mồng 8 tháng 12 năm 1973, tôi, anh Cẩn và một số cán bộ bảo vệ của đại sứ quán lên tàu hỏa trở về nước trong một buồng riêng. Buồng có bốn giường, nhưng một giường giành riêng chỉ để tài liệu, tất cả có bảy kiện, khoảng chừng 200 cân và tôi là người được giao nhiệm vụ phụ trách chính. Năm ngày sau, chúng tôi đến Bắc Kinh, khi tàu vừa đến ga đã có xe của Đại sứ quán Việt Nam ở Trung Quốc ra đón và đưa tất cả tài liệu, tư trang của chúng tôi về đại sứ quán chứ không về nghỉ ở khách sạn.

Tối ngày 18 tháng 12 năm 1973, chúng tôi về đến ga Hà Nội, Ban chỉ huy công trường 75808 đưa xe ra đón. Ban chỉ huy công trường, lúc đó có anh Mỹ, anh Nhi, anh Đặng, anh Soạn và rất nhiều anh em nữa đón và ôm hôn chúng tôi thắm thiết như đón những người thân ruột thịt từ nơi xa trở về.

Tài liệu được đưa ngay vào phòng bảo mật niêm cất. Nhìn tài liệu nhiều quá, ai cũng yên tâm vấn đề cơ bản là thiết kế phần xây dựng đã được giải quyết. Còn lại phần thiết kế kỹ thuật, đặc biệt về thiết bị: điện, nước, điều hoà, lạnh, thông tin… do các đồng chí Nguyễn Tấn Vạn, đồng chí Lư (Bộ Kiến trúc); đồng chí Nguyễn Trung Thành, đồng chí Nguyễn Đức Nghị, đồng chí Bùi Danh Chiêu, đồng chí Hoàng Quang Bá, đồng chí Nguyễn Văn Tẩy (Bộ Tư lệnh Công binh) tiếp tục làm việc ở Liên Xô tới ngày 1 tháng 5 năm 1974 mới về nước. Đến lúc này phần thiết kế kỹ thuật có bản đã được giải quyết. Còn các thiết kế chi tiết khi thi công thì cán bộ kỹ thuật Việt Nam và chuyên gia Liên Xô cùng giải quyết trực tiếp tại hiện trường. Do có sự tham gia thiết kế của các cán bộ kỹ thuật Việt Nam ngay từ đầu nên bản thiết kế đã đáp ứng được với thực tiễn của Việt Nam.

Sáng ngày 19 tháng 12 năm 1973, tôi đã bàn giao tài liệu cho công trường 75808, gồm các đồng chí: Nguyễn Đức – Trưởng phòng Kỹ thuật, Nguyễn Ngọc Định – cán bộ bảo mật và đồng chí Ngô Thanh Cẩn – người làm chứng. Trong biên bản xác nhận: Các tài liệu còn nguyên cặp chì và toàn bộ tài liệu còn nguyên gói, đủ số lượng kê trong bản kê số 236/TM73 của Thương vụ Việt Nam tại Liên Xô.

Mười ngày đêm lo lắng, vất vả đã qua, khi đã bàn giao xong tài liệu, tôi mừng đến rơi nước mắt vì đã hoàn thành một nhiệm vụ quan trọng. Anh Đặng bảo với tôi rằng: “Thưởng cho cậu 2 ngày phép, ngày kia đến sớm để giải quyết công việc”.

Tôi viết lại kỷ niệm này để mọi người có thể hiểu thêm về một phần công việc có liên quan đến công trình lịch sử Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngày nay, giữa Ba Đình lịch sử, hiển hiện một công trình văn hóa của thế kỷ, in đậm tình hữu nghị Việt – Xô, niềm tự hào của dân tộc, để mọi người dân Việt Nam và bầu bạn quốc tế luôn hướng về đó, tìm ra chân lý và những suy nghĩ trong sáng tốt đẹp.

Đại tá Trần Quốc Dân
Nguyên Trưởng ban Quản lý công trình xây dựng cơ bản – Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Kỷ niệm của những người phục vụ Bác ở Đá chông

Tôi đã có mặt trong buổi gặp mặt các nhân chứng lịch sử đã từng được phục vụ Bác Hồ và Trung ương tại Đá Chông. Tháng 5, tuy cái nắng hè oi ả nhưng thời tiết ở nơi đây thật là dễ chịu với bao cảm xúc. Đã gần nửa thế kỷ trôi qua, hôm nay người còn, người mất nhưng trong tiềm thức của mỗi nhân chứng lịch sử đều gợi nên những kỷ niệm sâu sắc, tình cảm kính yêu Bác vô hạn. Xin được ghi lại một vài kỷ niệm của các bác, các anh, những thế hệ đi trước đã vinh dự được phục vụ Bác và Trung ương tại Đá Chông.

Sau những cái bắt tay thân thiết, là những câu chuyện cảm động, hỏi thăm sức khoẻ, hoàn cảnh gia đình của nhau, mọi người chậm bước hướng vào ngôi nhà nơi Bác đã từng sống và làm việc để làm lễ dâng hương tưởng niệm Người. Biết bao những kỷ niệm đầy ắp cứ trào dâng trong lòng. Những hiện vật một thời từng gắn liền với Bác; những nơi Bác và các đồng chí Trung ương đã từng làm việc, nghỉ ngơi, tiếp khách, những cuộc họp quan trọng bàn quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước trong những năm chiến tranh. Các ông lần giở cuốn sổ vàng ghi lưu niệm của khách tới tham quan, có nhiều đoàn, nhiều người viết rất cảm động. Đây là lời ghi cảm tưởng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nguyên Tổng Tư lệnh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông nhiều năm được sống và làm việc bên cạnh Bác Hồ: “Ngày 1 tháng 1 năm 1998 lên thăm Khu di tích K9, cũng thường gọi là khu Đá Chông, nhìn lại bức tượng khá giống Bác, ngồi lại cái bàn trước đây Bác đã họp cùng các anh trong Bộ Chính trị, càng nhớ Bác vô cùng, cảm thấy như ngày nào lên đây làm việc với Bác”. Đọc xong những dòng lưu niệm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, mọi người nhìn nhau lặng đi trong giây lát, cùng chung một cảm xúc: Tuy Bác đã đi xa nhưng ngôi nhà, chiếc bàn, chiếc ghế làm việc, chiếc giường như còn ấm hơi Người, ngày nào còn được phục vụ bên Bác, được Bác ân cần chỉ bảo, thế mà đã thấm thoát một phần hai thế kỷ. Ông Nguyễn Văn Rự – 86 tuổi, nguyên Phó Chánh Văn phòng Uỷ ban Hành chính tỉnh Sơn Tây những năm 1957 đến năm 1959, tuy tuổi đã cao, sức đã yếu nhưng còn minh mẫn; ông chậm rãi kể lại: “Tháng 2 năm 1958, tôi cùng với ông Phương – Chủ tịch Uỷ ban Hành chính tỉnh vinh dự được đón Bác lên thăm khu vực đồn điền cà phê cũ (công trường 5 sau này). Hôm đó, Bác và đoàn công tác nghỉ ăn trưa tại đây. Buổi chiều Bác nói chuyện với gần 500 cán bộ chủ chốt của tỉnh ở thị xã Sơn Tây. Sau này Bác Hồ và Trung ương quyết định chọn nơi đây làm căn cứ, tôi lại vinh dự được cử tham gia Ban chỉ huy công trường, đồng thời tham gia Đảng uỷ công trường. Ông say sưa kể tiếp: “Thú thực lúc đó tôi vừa mừng vừa lo, mừng rỡ cấp trên tin tưởng giao nhiệm vụ, một nhiệm vụ rất quan trọng, rồi đây trên quê hương mình có Bác Hồ, có các đồng chí Trung ương ở và làm việc, không mừng sao được”, nét mặt ông rạng lên: “Nhưng cũng rất lo vì nhiệm vụ nặng nề, yêu cầu khẩn trương, công trình phải đảm bảo chất lượng và tiến độ quy định. Vì vậy tôi phải luôn bám sát công trình. Mấy lần được đi cùng Bác lên thăm và kiểm tra, còn lại tôi thường dùng chiếc xe máy cơ động lúc ở Sơn Tây, lúc ở Công trường 5”.

Nghe ông Rự nói, tôi chợt nhớ đến ông Vũ Kỳ – Thư ký riêng của Bác những năm trước đây đã kể lại: “Vào một ngày tháng 5 năm 1957, khi Bác đến thăm cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 308 diễn tập ở thượng nguồn Sông Đà, Bác nghỉ ăn cơm nắm cùng các đồng chí bên cạnh “Ba ngọn núi” Đá Chông, chỗ đó đất phẳng, có một cây phượng vĩ, sau đó Người nằm nghỉ một lát ngay dưới gốc cây”. Bác Hồ đến Đá Chông không chỉ một lần, nhưng buổi trưa tháng 5 năm 1957 đó, cũng theo ông Kỳ: Người đã đứng ở vị trí “3 ngọn núi” Đá Chông nhìn Sông Đà trước mặt, thấy nơi đây sơn thuỷ hữu tình, dòng sông uốn khúc, cảnh vật tươi đẹp, gần dân, xa đường quốc lộ. Với tầm nhìn của nhà chiến lược thiên tài, Người đã tính đến việc lập một căn cứ, khi cần thiết có thể đưa Bộ tham mưu của cách mạng đến đây để tiếp tục chỉ đạo cuộc đọ sức quyết liệt với kẻ thù.

Theo ý kiến của Bác, khu vực Đá Chông được xây dựng gồm nơi làm việc của Trung ương, nơi nghỉ ngơi và khu vực dành cho lực lượng phục vụ. Ngay sau đó, Tổng cục Hậu cần được giao nhiệm vụ xây dựng một số ngôi nhà cấp 4. Đến tháng 5 năm 1959, trước nguy cơ của một cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ ra miền Bắc, Trung ương đã chỉ đạo các lực lượng của quân đội và địa phương khẩn trương xây dựng các công trình của khu căn cứ. Sau khi hoàn thành, khu căn cứ mang mật danh K9.

Kể về những ngày đầu xây dựng khu căn cứ, ông Cù Văn Chước – nguyên Trưởng phòng Văn thư Văn phòng Chủ tịch nước, nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh, là người vinh dự được phục vụ Bác Hồ nhiều năm chậm rãi tâm sự: “Trong thời gian xây dựng khu nhà này, Bác Hồ đã lên kiểm tra 3 lần. Ngôi nhà chính được xây dựng mô phỏng theo kiểu nhà sàn và chính Bác là người cắm cọc nhắm huớng cho ngôi nhà. Để giữ bí mật, khi xây dựng, cây trong khu vực không được phép tuỳ tiện chặt phá. Nhiều cây lâu năm cạnh nhà sàn (ngôi nhà 2 tầng) đến nay vẫn còn: cây gạo, cây vải, cây long não, bồ hòn, cà phê….Nhiều cây được trồng thêm sau này như: cây hoa lan, cây bạch quế… trồng ở đây vừa thêm bóng mát lại có hương thơm bảo vệ cho môi trường. Cây vú sữa miền Nam trồng trong vườn Bác cũng được chiết cành đem trồng trên công trường 5 và một số nơi nghỉ khác như: Nhà nghỉ Hồ Tây, khu vườn ươm trong Phủ Chủ tịch…”.

Ông Lê Văn Năm, chiến sĩ Trung đội 1, Đại đội 1, Trung đoàn 600 đã từng làm nhiệm vụ bảo vệ khu Đá Chông từ năm 1960 đã bồi hồi nhớ lại: trong đời quân ngũ của ông đã vinh dự được gặp Bác Hồ nhiều lần, nhưng lần đầu tiên được gặp Bác là sâu sắc nhất mà đến nay, buổi gặp đó vẫn in đậm trong tâm trí của ông. Đó là sáng ngày 28 tháng 1 năm 1960 (tức ngày mồng 1 Tết Canh tý) Bác Hồ lên Đá Chông (Công trường 5) thăm và chúc Tết cán bộ, chiến sĩ bảo vệ và công nhân làm việc trên công trường. Biết một số anh em công nhân là người miền Nam rất nhớ nhà, Bác căn dặn: “Các cô, các chú nhớ miền Nam thì phải làm việc bằng hai để xây dựng miền Bắc tiến lên xã hội chủ nghĩa, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc”. Kế đó Bác đến chúc Tết hai gia đình cụ Tô, cụ Cẩm ở chân đồi. Bác mặc bộ quần áo nâu, đội mũ len, đi đôi dép cao su đen. Khi Bác đến gần mọi người đều ngạc nhiên, vui mừng và luống cuống. Cụ Tô, cụ Cẩm chắp tay và nói: “Lạy cụ, lạy cụ”. Bác tươi cười giơ tay vẫy và nói: “Các cụ đừng làm thế. Nhân dịp năm mới chúc các cụ, các chú mạnh khỏe, ăn tết vui vẻ và tiến bộ”. Sau đó Bác chúc Tết và chia quà cho mọi người. Tất cả mọi người vỗ tay và cảm ơn Bác. Bác chào và đi lên nhà sàn.

Còn nhiều câu chuyện khác hết sức cảm động, đó là vào các dịp lễ, tết, và kỷ niệm ngày sinh của Bác, Người không muốn tổ chức chúc tụng nhiều và Người đã chủ động bố trí những chuyến đi công tác xa. Đá Chông là địa điểm được Người đến nhiều nhất.

Mỗi người bổ sung thêm một câu chuyện, một kỷ niệm với Bác, tưởng chừng như không dứt. Các ông đứng lặng người ngắm nhìn ngôi nhà, mọi đồ vật vẫn nguyên vẹn như xưa, đây là nơi tiếp khách, là phòng họp của Bộ Chính trị, có kê một dãy bàn dài, ghế ngồi và quạt trần. Hệ thống cửa được thiết kế đẩy ra vào cơ động trên ray, tạo thông thoáng, bệ cửa dùng làm ghế ngồi khi có số lượng người dự họp đông, hoặc lúc nghỉ giải lao. Những năm sau khi Bác mất, vào những ngày Tết Nguyên Đán, ngày giỗ Bác, cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ tại đây đều đến thắp hương tưởng nhớ Bác. Ngày 17 tháng 4 năm 1995 (tức ngày 18 tháng 3 năm Ất Hợi) đơn vị đã lập bàn thờ Bác. Lúc đầu bàn thờ đặt ảnh chân dung, đến ngày 8 tháng 5 năm 1997 (tức ngày 2 tháng 4 năm Đinh Sửu) đã thay ảnh Bác bằng pho tượng đồng. Đây là tác phẩm của hoạ sĩ Minh Đỉnh công tác tại Bảo tàng Quân đội (nay là Bảo tàng Lịch sử Quân sự) đã dựng lại chân dung Bác ngồi trên chiếc ghế trúc (một đồ dùng quen thuộc của đồng bào Cao Bằng tặng Người). Bác vừa dừng đọc báo Nhân dân, dường như để đón khách với ánh mắt hiền từ nhân hậu. Mọi người dừng lại ngắm kỹ pho tượng Bác, rồi lần bước cầu thang lên tầng 2 ngôi nhà. Tại đây ông Cù Văn Chước, ông Nguyễn Văn Mùi – lái xe phục vụ Bác còn nhớ rất rõ năm 1961 Bác đã tiếp bà Đặng Dĩnh Siêu (phu nhân cố Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai) và năm 1962 Bác Hồ đã đón tiếp Anh hùng vũ trụ Liên Xô Giéc – man Ti – tốp. Sự kiện Bác Hồ tiếp hai vị khách quốc tế tại K9 có ý nghĩa rất lớn. Đây là một cử chỉ rất thân tình của Bác đối với nhân dân Liên Xô và nhân dân Trung Quốc anh em. Hiện nay những cây ngọc lan và vàng anh do Bác và các vị khách quý trồng bốn mùa vẫn xanh lá, trổ hoa thơm ngát, tượng trưng cho tình bạn, tình đồng chí thuỷ chung của nhân dân Việt Nam.

Cạnh hai phòng khách là phòng họp nhỏ. Căn phòng này đã diễn ra buổi họp của Bác với các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước để bàn bạc và quyết định những việc có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc.

Phòng Bác nghỉ được bố trí những đồ dùng rất giản dị, những thứ rất cần thiết. Ông Cù Văn Chước kể: “Đây là chiếc đệm cỏ của đồng bào Sơn La tặng Bác, chiếc đèn ngủ, tấm thảm len là quà tặng khi Bác đi sang Trung Quốc”. Bác vẫn nói với anh em phục vụ: “Những thứ tốt, đồ dùng khá hơn nên dành cho khách quý, Việt Nam ta vốn có truyền thống hiếu khách, quý trọng bạn bè”. Trong phòng này những khi Bác lên làm việc và nghỉ, trên bàn làm việc thường có lọ hoa huệ – thứ hoa mà Bác rất thích.

Trước cửa ngôi nhà có một bể tròn, ở giữa có hòn non bộ tự nhiên, phía trước bên phải, đầu cầu thang xuống có xây hầm trú ẩn nhỏ cho 3 – 4 người sử dụng. Phía trước bên phải ngôi nhà có một con đường xây gạch, rải sỏi, từ nhà xuống sông Đà gồm 81 bậc, mọi người gọi là “Con đường rèn luyện sức khoẻ” của Bác và hôm nay ai cũng nhìn thấy những cây bông bụt khá to được trồng từ khi xây dựng khu căn cứ để gợi nhớ những cây trồng trong vườn nhà ở quê hương Kim Liên, Nam Đàn.

Rời ngôi nhà sàn thân quen, mọi người trở về thăm khu nhà kính, khu nhà đã bảo vệ, che chở an toàn cho thi hài Bác trong 6 năm chiến tranh. Đứng trước tấm biển “Nơi đây đã giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1969 – 1975” do Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh trực tiếp gắn vào ngày 16 tháng 5 năm 2001, các ông đã kể nhiều câu chuyện cảm động về tinh thần khắc phục khó khăn gian khổ, âm thầm chịu đựng, những sáng kiến cải tiến kỹ thuật của các kỹ sư, bác sĩ, cán bộ, công nhân viên, kỹ thuật viên của Việt Nam sát cánh cùng chuyên gia Liên Xô trong quá trình giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác trong những năm tháng chiến tranh ác liệt.

Kết thúc phần tham quan, các ông bước vào phòng khách. Mặc dù trước đó đã dốc tâm sự, nhưng lúc này các nhân chứng lịch sử còn đầy ắp những kỷ niệm đẹp. Sau này, mỗi người được phân công một nhiệm vụ khác nhau, nhưng luôn luôn theo dõi từng bước đi của Đoàn 69 trước đây, cũng như Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày nay. Trong điều kiện khó khăn, gian khổ, thiếu thốn và giai đoạn bước ngoặt sau khi Liên Xô sụp đổ, đơn vị đã vững vàng từng bước vươn lên làm chủ nhiệm vụ giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác. Riêng khu di tích Đá Chông, nhiều năm các ông mới trở lại, nhưng vẫn được bảo vệ giữ gìn nguyên vẹn, các khu vực lân cận nhà sàn, nhà kính được tôn tạo khang trang, đẹp đẽ.

Đứng ngắm nhìn các bác, các ông – những người đã một thời có vinh dự được làm nhiệm vụ đặc biệt, giờ tuổi đã cao, sức đã yếu, nhưng vẫn minh mẫn kể lại cho lớp con cháu những kỷ niệm thiêng liêng của mình đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, trong tôi trào dâng niềm kính phục và biết ơn vô hạn.

Đại tá Lê Hồng Đường
Phó Chủ nhiệm Chính trị – Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn